Luận văn: Thực tiễn quy định về lập vi bằng của Thừa phát lại

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Thực tiễn quy định về lập vi bằng của Thừa phát lại hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Thực tiễn thực hiện các quy định về lập vi bằng của Thừa phát lại tại một số tỉnh/thành phố và kiến nghị dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

3.1. Thực tiễn thực hiện các quy định về lập vi bằng của Thừa phát lại

3.1.1. Thực tiễn lập vi bằng tại một số tỉnh/thành phố

Lập vi bằng của TPL là một trong 04 công việc của TPL được làm. Có thể thấy, việc lập vi bằng mang lại hiệu quả tốt nhất, đã đáp ứng được nhu cầu rất lớn, phong phú, đa dạng trên nhiều lĩnh vực khác nhau của người dân và đã dần trở thành một nhu cầu trong các hoạt động dân sự, sản xuất, kinh doanh, thương mại với nhiều chủng loại như:

  • Vi bằng công ty: Ghi nhận cuộc họp công ty; ghi nhận cuộc đình công trái pháp luật; ghi nhận thỏa thuận với nhân viên; ghi nhận tài sản công ty; ghi nhận kiểm kê tài sản;…
  • Vi bằng internet: Ghi nhận bài viết không đúng sự thật; ghi nhận vi phạm bản quyền trên mạng; ghi nhận thông tin của trang website; ghi nhận việc nói xấu trên blog, mạng xã hội; ghi nhận thông tin trên email;…
  • Vi bằng hiện trạng: Hiện trạng nhà bị nứt; hiện trạng nhà trước và sau khi thi công; hiện trạng nhà bàn giao; hiện trạng công trình xây dựng dang dở; hiện trạng chiếm giữ trái pháp luật;…
  • Vi bằng thông báo: Thông báo đòi nhà; thông báo mời họp; thông báo đòi nợ; thông báo hủy bỏ, chấm dứt hợp đồng; thông báo xác nhận sự việc xảy ra trong quá khứ; giao văn bản tố tụng từ nước ngoài về cho đương sự;…
  • Vi bằng giao nhận: Giao nhận tiền; giao nhận nhà; giao nhận sổ sách; giao nhận giấy tờ; giao nhận con dấu;…
  • Vi bằng nhà đất: Vi bằng đòi nhà cho thuê; vi bằng đặt cọc; vi bằng bàn giao nhà; vi bằng hiện trạng nhà đất; vi bằng kiểm kê tài sản trong nhà;…

Tại các địa phương, loại vi bằng được lập chủ yếu về ghi nhận hiện trạng nhà, đất, ghi nhận về giao nhận tiền để thực hiện hoạt động mua bán tài sản,… Ngoài ra, còn một số vi bằng được lập trong các lĩnh vực khác như: Xác nhận tài sản vợ chồng; xác nhận ô nhiễm môi trường; xác nhận tình trạng thiệt hại do người khác gây ra; xác nhận từ chối thực hiện nghĩa vụ;… trong phạm vi tỉnh/thành phố nơi đặt VP TPL. Theo đánh giá, hoạt động lập vi bằng được người dân ủng hộ, đón nhận nhanh và tích cực, thể hiện qua các mặt: Luận văn: Thực tiễn quy định về lập vi bằng của Thừa phát lại.

  • Doanh thu từ hoạt động lập vi bằng là nguồn thu chủ yếu của các VP TPL

Trong thời gian qua, hoạt động của các VP TPL đã chứng tỏ được tính đúng đắn của chế định TPL và được xã hội chấp nhận. Thể hiện qua bảng số liệu kết quả hoạt động của các VP TPL sau:

  • Bảng 3.1: Kết quả hoạt động của các Văn phòng Thừa phát lại trên phạm vi cả nước

Theo đó, hoạt động lập vi bằng là hoạt động chính của các VP TPL, doanh thu từ này chiếm tỷ lệ lớn tổng doanh thu từ các hoạt động của TPL (bao gồm: Thực hiện việc tống đạt, lập vi bằng, xác minh điều kiện thi hành án, trực tiếp tổ chức thi hành án dân sự), cụ thể: Doanh thu từ hoạt động lập vi bằng của TPL chiếm 54,32% tổng doanh thu của các VP TPL (trong đó: doanh thu từ hoạt động tống đạt chiếm 43,2%; doanh thu từ hoạt động xác minh điều kiện thi hành án chiếm 0,76%; doanh thu từ hoạt động tổ chức thi hành án dân sự chiếm 1,72%).

Hoạt động lập vi bằng với vai trò là dịch vụ pháp lý giúp người dân chủ động tạo lập chứng cứ trước tòa, chủ động trong việc bảo vệ quyền và lợi ích của mình khi tham gia các giao dịch hợp pháp khác đã được người dân đón nhận và tin tưởng sử dụng dịch vụ này, thể hiện qua tỷ lệ phần trăm doanh thu từ hoạt động lập vi bằng. Qua đó, góp phần không nhỏ trong quá trình giải quyết tranh chấp tại cơ quan Tòa án và góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, đồng thời, phòng ngừa rủi ro trong giao dịch, bảo vệ quyền lợi của cá nhân, tổ chức.

  • Số lượng doanh thu từ hoạt động lập vi bằng tăng qua từng năm Thứ nhất, số lượng và doanh thu từ hoạt động lập vi bằng trên phạm vi cả nước tăng qua từng năm

Đến nay, sau gần 10 năm thực hiện chế định TPL, hoạt động lập vi bằng của TPL từ giai đoạn thí điểm (2010 – 30/9/2015) đến giai đoạn tổ chức thực hiện trên phạm vi cả nước (01/01/2016 – 30/9/2018) ngày càng đạt được nhiều con số ấn tượng, số lượng vi bằng và doanh thu từ hoạt động lập vi bằng luôn tăng, năm sau nhiều hơn năm trước, giai đoạn sau nhiều hơn giai đoạn trước. Cụ thể:

Trên cơ sở Đề án “Thực hiện thí điểm chế định Thừa phát lại tại Thành phố Hồ Chí Minh” và Đề án “Tiếp tục thực hiện thí điểm chế định Thừa phát lại”. Từ năm 2010 đến ngày 30/9/2015, tại 13 tỉnh/thành phố thực hiện thí điểm đã thành lập 53 VP TPL lập 42.911 vi bằng, đạt doanh thu 58 tỷ 828 triệu 768 nghìn đồng (nguồn: Sở Tư pháp các tỉnh/thành phố).

Sau khi chấm dứt việc thí điểm và cho thực hiện chế định TPL trên phạm vi cả nước theo Nghị quyết số 107/2015/QH12 đã có 21 tỉnh/thành phố trực thuộc Trung ương xây dựng Đề án thực hiện chế định TPL gửi BTP phê duyệt theo quy định. Trong khoảng 03 năm từ ngày 01/01/2016 đến ngày 30/9/2018, số lượng vi bằng được lập có sự gia tăng tích cực, các VP TPL đã lập 188.085 vi bằng, đạt doanh thu 162 tỷ 291 triệu 611 ngàn đồng. Gấp khoảng 4,4 lần số lượng vi bằng được lập và gấp khoảng 2,7 lần doanh thu đạt được từ việc lập vi bằng so với thời gian tổ chức thực hiện thí điểm chế định TPL (nguồn: Sở Tư pháp các tỉnh/thành phố). Luận văn: Thực tiễn quy định về lập vi bằng của Thừa phát lại.

Theo Biểu đồ 3.2, kết quả hoạt động lập vi bằng của các VP TPL trên phạm vi cả nước có sự tăng mạnh sau khi chấm dứt việc thí điểm chế định TPL và tổ chức thực hiện trên phạm vi cả nước, bởi lẽ, sau khi Quốc hội quyết định tổ chức thực hiện chế định TPL trên phạm vi cả nước đã tạo cơ sở vững chắc để người dân thêm tin tưởng vào hoạt động của TPL nói chung và lập vi bằng nói riêng, đồng thời các VP TPL cũng tự tin để mở rộng quy mô hoạt động của mình, đầu tư trang thiết bị, cơ sở vật chất nhằm phục vụ tốt nhu cầu lập vi bằng của người dân. Theo đó, từng năm sau khi tổ chức thực hiện chế định TPL trên phạm vi cả nước cũng có sự gia tăng về số lượng vi bằng, doanh thu từ hoạt động lập vi bằng và quy mô, số lượng VP TPL.

Kết quả lập vi bằng tại các địa bàn tỉnh/thành phố trực thuộc Trung ương qua từng năm sau khi tổ chức thực hiện chính thức chế định TPL được tính từ ngày 01/01/2016 đến ngày 30/9/2018, bởi lẽ, năm 2019 chưa thực hiện tổng kết, đánh giá hoạt động của TPL nên kết quả hoạt động lập vi bằng của TPL trong năm 2019 chưa được thống kê đầy đủ. Cụ thể:

  • Bảng 3.2: Kết quả lập vi bằng tại các địa bàn tỉnh/thành phố qua từng năm sau khi tổ chức thực hiện chính thức chế định Thừa phát lại

Từ ngày 01/01/2016 đến ngày 30/9/2016, 53 VP TPL tại 13 tỉnh/thành phố đã lập 25.488 vi bằng, đạt doanh thu 26 tỷ 945 triệu 5 nghìn đồng. Từ ngày 01/10/2016 đến ngày 30/9/2017, đã có 67.043 vi bằng được lập, đạt doanh thu 54 tỷ 713 triệu 832 nghìn đồng. So với cùng kỳ năm 2016, số lượng và doanh thu đạt được từ vi bằng của 53 VP TPL có sự gia tăng đáng kể (tăng 41.555 vi bằng và 27 tỷ 768 triệu 827 nghìn đồng).

Từ ngày 01/10/2017 đến ngày 30/9/2018, ngoài 13 tỉnh/thành phố đã thực hiện chế định TPL từ thời kỳ thí điểm, BTP phê duyệt thêm 18 Đề án tại các địa phương khác, như vậy, đã có 31 Đề án/63 địa phương được phê duyệt và có 68 VP TPL đang hoạt động (tăng 15 VP TPL). Theo đó, kết quả hoạt động lập vi bằng của các VP TPL như sau: 95.554 vi bằng, đạt doanh thu 80 tỷ 632 triệu 774 nghìn đồng. So với cùng kỳ năm 2017, tăng 28.511 vi bằng và 25 tỷ 918 triệu 943 nghìn đồng.

  • Thứ hai, số lượng và doanh thu từ hoạt động lập vi bằng tập trung tại các tỉnh/thành phố lớn, có điều kiện kinh tế – xã hội phát triển Luận văn: Thực tiễn quy định về lập vi bằng của Thừa phát lại.

Vi bằng của TPL được lập dựa trên cơ sở yêu cầu của đương sự khi có nhu cầu tạo lập chứng cứ trong xét xử và căn cứ khi tham gia các quan hệ pháp lý khác. Theo đó, tại những địa bàn tỉnh/thành phố lớn, nơi có hoạt động thương mại, dân sự, kinh tế,… diễn ra thường xuyên và hiệu quả hoạt động tuyên truyền, phổ biến của cơ quan, tổ chức, cá nhân về chức năng, nhiệm vụ, vai trò của vi bằng đã giúp người dân nhận thức được sự cần thiết của vi bằng trong việc tự chủ động bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình và tin tưởng yêu cầu TPL lập vi bằng khi tham gia các quan hệ trên. Ví dụ từ Bảng 3.2 có thể thấy tại Thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội: Từ ngày 01/01/2016 đến ngày 30/9/2018, các VP TPL tại Thành phố Hồ Chí Minh đã lập 141.692 vi bằng (chiếm tỷ lệ 75,33% so với cả nước) và đạt doanh thu 87 tỷ 126 triệu 811 nghìn đồng (chiếm tỷ lệ 53,69% so với cả nước); tại Hà Nội đã lập 15.599 vi bằng (chiếm tỷ lệ 8,29% so với cả nước) và đạt doanh thu 36 tỷ 697 triệu 471 nghìn đồng (chiếm tỷ lệ 22,61% so với cả nước).

Riêng tại Thành phố Hồ Chí Minh có số lượng vi bằng được lập nhiều và gia tăng nhanh hơn so với các địa phương khác bởi đây là địa phương được tổ chức thực hiện thí điểm đầu tiên tại Việt Nam, có thời gian thực hiện công tác tuyên truyền, phổ biến về vai trò của vi bằng hơn so với các địa phương khác. Theo Sở Tư pháp Thành phố Hồ Chí Minh, từ ngày 01/01/2016 đến 30/9/2016 có 20.250 vi bằng được lập thì đến ngày 30/9/2017, số lượng vi bằng là 49.631 (tăng khoảng 2,45 lần). Đến ngày 30/9/2018, số lượng vi bằng được lập đạt 71.811 (tăng khoảng 1,45 lần so với năm 2017 và khoảng 3,35 lần so với năm 2016). Bên cạnh sự gia tăng về số lượng vi bằng được lập, doanh thu từ hoạt động lập vi bằng theo đó cũng tăng mạnh mẽ.

  • Những tác động thực tiễn của hoạt động lập vi bằng

Kết quả của hoạt động lập vi bằng tại không chỉ thể hiện ở sự tăng mạnh về mặt hình thức như số lượng vi bằng và doanh thu từ hoạt động lập vi bằng mà còn thể hiện qua sự quan tâm, đón nhận của người dân, được dư luận ủng hộ với những tác động thực tiễn cụ thể trong đời sống. Những tác động thực tiễn của hoạt động lập vi bằng có thể kể đến như:

  • Hoạt động lập vi bằng của Thừa phát lại là công cụ pháp lý cần thiết giúp người dân chủ động bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình

Hoạt động lập vi bằng của TPL đã thạo thêm công cụ pháp lý và là một cơ chế hữu hiệu, đáng tin cậy giúp người dân tạo lập nguồn chứng cứ cần thiết, tăng cường tính chủ động, tích cực bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân trong các quan hệ dân sự, tố tụng dân sự.v.v… Qua đó, giúp người dân thực hiện các quyền con người, quyền công dân của mình theo quy định của pháp luật.

Với số lượng, chất lượng và tính chất đa dạng của vi bằng đã lập trong thời gian vừa qua, có thể thấy hoạt động lập vi bằng của TPL đã đáp ứng một nhu cầu lớn của xã hội mà trước đó chưa có cơ quan, tổ chức nào cung cấp. Sau khi được giải thích rõ về hoạt động vi bằng, người dân cho rằng đây là dịch vụ pháp lý rất cần thiết. Ở các địa phương, có 60 – 70% những người chưa hiểu và sau đó được giải thích về dịch vụ lập vi bằng cho rằng cần và rất cần sử dụng dịch vụ. Đối với những người đã sử dụng dịch vụ này thì tỷ lệ lên đến 90 – 95% [29]. Luận văn: Thực tiễn quy định về lập vi bằng của Thừa phát lại.

  • Hoạt động lập vi bằng có tác động phòng ngừa tranh chấp, hòa giải tranh chấp nếu đã xảy ra

Vi bằng là nguồn chứng cứ có độ tin cậy cao khi được sử dụng, các bên đương sự không thể phủ nhận giá trị của vi bằng khi đã được lập. Trong nhiều trường hợp sau khi đương sự yêu cầu TPL lập vi bằng hoặc vi bằng vừa được lập, các bên đương sự có những phân tích về điểm có lợi, bất lợi đối với mình, qua đó chủ động, tự nguyện hòa giải tranh chấp, góp phần ổn định trật tự xã hội. Ví dụ:

Vi bằng số 33/VB-TPL ngày 10/01/2015: ghi nhận buổi làm việc giữa ông Đoàn Tiến Hưng (đại diên gia đình bà Hoàng Thị Hồng Hà) với bà Hoàng Thị Ánh Hồng (đại diện cơ sở Hoàng Gia Phúc) về việc bà Hoàng Thị Hồng Hà đã đến Công ty TNHH Thiên Ngọc Minh Uy – hệ thống Hoàng Gia Phúc để yêu cầu hoàn trả số tiền hơn 3,3 tỷ đồng do bị lừa gia nhập mạng lưới bán hàng đa cấp. Sau khi vi bằng được lập vài ngày, gia đình bà Hoàng Thị Hồng Hà nhận được số tiền trên 3 tỷ đã nộp do Công ty TNHH Thiên Ngọc Minh Uy hoàn trả.

  • Hoạt động lập vi bằng hỗ trợ các cơ quan nhà nước trong quá trình thực hiện công vụ

Đối với các cơ quan nhà nước, vi bằng của TPL cung cấp chứng cứ, thông tin chính xác về những sự kiện, hành vi đã xảy ra giúp các cơ quan có thẩm quyền giảm thời gian, công sức, tài chính trong việc thu thập, xác minh, tìm kiếm thông tin, tài liệu khi giải quyết tranh chấp, xem xét yêu cầu của các chủ thể khác nhau trong xã hội. Trong thực tiễn, trong nhiều mối quan hệ pháp lý giữa cơ quan nhà nước với người dân, tổ chức, việc không có cơ chế tạo lập chứng cứ độc lập có thể dẫn đến những khiếu nại, khiếu kiện khi giải quyết các vụ việc.

Ví dụ: Khi nhà nước cần thu hồi đất để phục vụ cho các mục đích quốc phòng an ninh, lợi ích công cộng hay phát triển kinh tế. Trong nhiều trường hợp, khi có thông tin về dự án, người dân cố ý xây dựng những công trình hoặc tiến hành trồng cây để với mục đích nhận tiền đền bù, giải tỏa,… Trong những trường hợp này, cơ quan nhà nước có thể yêu cầu lập vi bằng ghi nhận hiện trạng trước khi tiến hành dự án, đồng thời công khai thông tin về việc xác nhận hiện trạng khu đất dự kiến thu hồi, từ đó, người dân sẽ không thể trục lợi từ việc xây dựng, trồng cây để nhận tiền đền bù.

Theo VP TPL Hai Bà Trưng, tính từ năm 2014, số lượng vi bằng mà cơ quan hành chính nhà nước sử dụng như: UBND xã Tả Thanh Oai, huyện Thanh Trì, Thành phố Hà Nội (là cơ quan yêu cầu lập vi bằng) sử dụng 55 vi bằng liên quan đến việc giải phóng mặt bằng; UBND xã Liên Châu, huyện Thanh Oai, Thành phố Hà Nội yêu cầu lập 24 vi bằng liên quan đến việc tự nguyện hiến đất của người dân [46].

Như vậy, việc các cơ quan nhà nước sử dụng dịch vụ lập vi bằng của TPL cho thấy vi bằng không chỉ là nhu cầu của người dân, doanh nghiệp mà còn là nhu cầu của cơ quan nhà nước trong việc bảo vệ quyền, lợi ích của nhà nước và đảm bảo tính đúng đắn, hợp pháp khi thực hiện công vụ.

3.1.2. Hạn chế và nguyên nhân từ thực tiễn lập vi bằng ở một số tỉnh/thành phố Luận văn: Thực tiễn quy định về lập vi bằng của Thừa phát lại.

  • Hạn chế, bất cập về thể chế
  • Bất cập, hạn chế liên quan đến giá trị pháp lý của vi bằng

Theo quy định của BLTTDS năm 2015, chứng cứ được thu thập từ nhiều nguồn khác nhau, trong đó có quy định chứng cứ được thu thập từ nguồn “Văn bản ghi nhận sự kiện, hành vi pháp lý do người có chức năng lập” [40; Đ94], với sự ghi nhận nguồn chứng cứ như trên, có thể hiểu đây là sự gián tiếp quy định vi bằng của TPL là một nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, với quy định này, vi bằng chưa thể được coi là chính thức ghi nhận trong Bộ luật.

Bên cạnh đó, BLTTDS năm 2015 quy định về những tình tiết, sự kiện không cần phải chứng minh, trong đó, ghi nhận sự kiện, hành vi được ghi nhận trong văn bản công chứng, chứng thực được coi là có giá trị chứng cứ đương nhiên và không phải chứng minh. Chỉ trường hợp có dấu hiệu nghi ngờ tính khách quan của những tình tiết, sự kiện này hoặc tính khách quan của văn bản công chứng, chứng thực thì Thẩm phán có thể yêu cầu đương sự, cơ quan, tổ chức công chứng, chứng thực xuất trình bản gốc, bản chính [40; Đ92]. Trong khi đó, văn bản ghi nhận sự kiện, hành vi pháp lý do người có chức năng lập thì không thuộc phạm vi những tình tiết, sự kiện không phải chứng minh.

  • Về thẩm quyền lập vi bằng của Thừa phát lại

Một là, thẩm quyền lập vi bằng đối với các trường hợp TPL không trực tiếp chứng kiến nội dung sự kiện, hành vi

Tương tự các quốc gia có quy định về thẩm quyền lập vi bằng của TPL, nhằm mục đích đảm bảo tính khách quan, tính xác thực của hành vi, sự kiện được ghi nhận trong vi bằng, tại khoản 2 Điều 26 Nghị định số 61/2009/NĐ-CP “Vi bằng chỉ ghi nhận những sự kiện, hành vi mà Thừa phát lại trực tiếp chứng kiến; việc ghi nhận phải trung thực, khách quan”; Công văn số 415/BTP-TCTHA ngày 28/01/2011 về việc hướng dẫn một số nội dung lập vi bằng quy định “Thừa phát lại không được lập vi bằng để ghi nhận sự kiện, hành vi mà mình không trực tiếp chứng kiến hoặc những sự kiện, hành vi chỉ thông qua lời kể của người khác” và Công văn số 201/BTP-TPL ngày 15/3/2017 về việc lập vi bằng cũng hướng dẫn quy định này theo hướng không cho phép Thừa phát lại lập vi bằng để ghi nhận những sự kiện, hành vi mà mình không trực tiếp chứng kiến hoặc những sự kiện, hành vi mà chỉ thông qua lời kể của người khác. Luận văn: Thực tiễn quy định về lập vi bằng của Thừa phát lại.

Tuy nhiên, cách hiểu về những trường hợp này cũng không có sự thống nhất dẫn đến phát sinh những vướng mắc trong quá trình lập vi bằng. Ví dụ:

Vi bằng số 719/VB-TPLBH ngày 30/11/2015: “Chứng kiến ghi nhận ông Hoàng Ngọc T với ông Trần Xuân H1, bà Nguyễn Thị H xác nhận về việc cùng nhau chuyển nhượng các thửa đất 84, 87, 89, 168, tờ bản đồ số 5; diện tích 1858,3m2 tọa lạc tại phường Q, thành phố B, tỉnh Đồng Nai theo trích đo vẽ hiện trạng khu đất số 1178/2015; tỷ lệ: 1/1000 do Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đồng Nai – chi nhánh B lập ngày 10/4/2015”.

Nội dung của vi bằng trên được TPL lập nhằm ghi nhận lời trình bày của đương sự đối với việc xác nhận sẽ cùng nhau góp tiền chuyển nhượng các thửa đất, mặc dù, TPL không trực tiếp chứng kiến việc các bên cùng nhau góp tiền để mua đất. Như vậy, vi bằng số 719/VB-TPLBH ngày 30/11/2015 ghi nhận sự kiện, hành vi thông qua lời kể của đương sự về việc góp tiền chuyển nhượng và không có giá trị về việc các bên đã góp tiền chuyển nhượng hay chưa mà chỉ có giá trị về việc các bên đã thỏa thuận như vậy.

Vi bằng số 719/VB-TPLBH ngày 30/11/2015 đã bị hủy bằng Bản án số 67/2018/DS-PT ngày 13/4/2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai vì vi phạm quy định tại khoản 2 Điều 26 Nghị định 61/2009/NĐ-CP ngày 24/7/2009 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của Thừa phát lại. Theo đó, nhận định của Tòa án cho rằng trong trường hợp này TPL chỉ ghi nhận trình bày của đương sự chứ không trực tiếp chứng kiến việc hai bên cùng nhau góp tiền để mua đất là chưa phù hợp quy định nêu trên.

Với những trường hợp TPL không trực tiếp chứng kiến sự kiện, hành vi nhưng trực tiếp chứng kiến và ghi nhận sự kiện, hành vi thông qua lời kể lại, tường thuật lại của một cá nhân về nội dung sự kiện, hành vi đã xảy ra trên thực tế, thì việc ghi nhận này của TPL sẽ đảm bảo tính trung thực, khách quan rằng cá nhân đó đã kể, tường thuật lại, còn về nội dung sự kiện, hành vi trong lời kể, lời tường thuật thì do chính cá nhân đó tự chịu trách nhiệm. Việc thừa nhận vi bằng về hành vi, sự kiện do người khác kể lại có thể được sử dụng trong công tác thu thập lời khai, lời trình bày,… của các đương sự. Luận văn: Thực tiễn quy định về lập vi bằng của Thừa phát lại.

Hai là, về việc lập vi bằng đối với sự kiện, hành vi của cán bộ, công chức đang thi hành công vụ

Về việc lập vi bằng đối với sự kiện, hành vi của cán bộ, công chức đang thi hành công vụ, các TPL cho rằng việc lập vi bằng đối với hành vi cán bộ, công chức đang thi hành công vụ góp phần giúp người dân, tổ chức giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, lực lượng vũ trang, nâng cao ý thức trách nhiệm của người thi hành công vụ. Vi bằng được lập trong các trường hợp này có ý nghĩa trong việc làm cơ sở thực hiện các quyền khiếu nại, tố cáo hay bảo vệ quyền lợi người yêu cầu lập vi bằng. Ví dụ các trường hợp: lập vi bằng ghi nhận việc từ chối đơn khiếu nại công dân, lập vi bằng ghi nhận hành vi cưỡng chế của cơ quan nhà nước đối với vi phạm của cá nhân, tổ chức,… Trong khi đó, các cơ quan nhà nước cho rằng việc lập vi bằng đối với sự kiện, hành vi của cán bộ công chức đang thi hành công vụ cần phải xem xét lại.

Công văn số 4003/BTP-TCTHADS ngày 19/9/2014 giải quyết vấn đề trên bằng quy định không cho phép Thừa phát lại lập Vi bằng ghi nhận các sự kiện, hành vi của cán bộ, công chức đang thi hành công vụ, trừ trường hợp sự kiện, hành vi đó rõ ràng trái pháp luật, xâm phạm đến quyền và lợi ích của người yêu cầu lập vi bằng.

Như vậy, TPL vẫn có thể lập vi bằng ghi nhận các sự kiện, hành vi của cán bộ, công chức đang thi hành công vụ khi sự kiện, hành vi đó rõ ràng trái pháp luật, xâm phạm đến quyền và lợi ích của người yêu cầu lập vi bằng. Tuy nhiên, việc nhận định hành vi, sự kiện đó rõ ràng trái pháp luật, xâm phạm đến quyền và lợi ích của người yêu cầu lập vi bằng hay không chỉ là đánh giá mang tính chủ quan của TPL, để xác định chính xác sự kiện, hành vi đó trái pháp luật, xâm phạm đến quyền và lợi ích của người yêu cầu lập vi bằng là thẩm quyền của cơ quan giải quyết khiếu nại, tố cáo hoặc Tòa hành chính các cấp. Do vậy, hiện nay TPL không thể lập vi bằng khi có sự xuất hiện của cán bộ, công chức thi hành công vụ.

  • Ba là, về việc TPL không lập vi bằng các trường hợp vi phạm bí mật đời tư

Công văn số 4003/BTP-TCTHADS ngày 19/9/2014 không cho phép TPL lập vi bằng các trường hợp vi phạm bí mật đời tư theo quy định tại Điều 38 của BLDS. Tuy nhiên, những quy định về bí mật đời tư không chỉ quy định trong BLDS mà còn đề cập ở Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền năm 1948 (UDHR), Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (ICCPR), đặc biệt được ghi nhận tại Điều 21 Hiến pháp năm 2013 và các văn bản pháp luật chuyên ngành khác. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng trong việc đảm bảo quyền bí mật đời tư của cá nhân, việc quy định phạm vi bí mật đời tư chỉ quy định theo BLDS là chưa đầy đủ.

  • Trình tự, thủ tục lập vi bằng

Một là, trình tự thủ tục lập vi bằng đối với những trường hợp đột xuất, bất ngờ

Theo Nghị định 61/2009/NĐ-CP thì TPL lập vi bằng sau khi có thỏa thuận bằng văn bản giữa Trưởng VP TPL với cá nhân, tổ chức muốn lập vi bằng. Trong điều kiện bình thường thì quy định thỏa thuận bằng văn bản là phù hợp, tạo căn cứ vững chắc để các bên tham gia thỏa thuận thực hiện. Tuy nhiên, đối với việc lập vi bằng về những sự kiện, hành vi xảy ra đột xuất, bất ngờ mà các dấu vết chỉ tồn tại trong thời gian ngắn (ví dụ: hiện trạng trong nhà ở có khói do hàng xóm đốt rác và cố tình quạt khói sang, gây ô nhiễm và ảnh hưởng đến sức khỏe), trong trường hợp này, việc thỏa thuận bằng văn bản trước khi tiến hành lập vi bằng có thể dẫn đến chậm trễ trong việc ghi nhận hiện trạng, các bên có thể xóa dấu vết dẫn đến việc lập vi bằng không còn ý nghĩa.

Hai là, về việc hỗ trợ TPL trong hoạt động lập vi bằng

Theo Điều 4 Nghị định 61/2009/NĐ-CP về đảm bảo hiệu lực hoạt động của Thừa phát lại, theo đó, để góp phần hỗ trợ, nâng cao hiệu quả hoạt động của TPL các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp, tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang nhân dân trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm thực hiện yêu cầu của TPL theo quy định. Luận văn: Thực tiễn quy định về lập vi bằng của Thừa phát lại.

Tuy nhiên, hiện chưa có cơ chế phối hợp cụ thể nên trong hoạt động của TPL nói chung và lập vi bằng nói riêng còn gặp nhiều vướng mắc, gây khó khăn trong quá trình TPL thực hiện nhiệm vụ như trong việc lập vi bằng liên quan đến những tranh chấp có thể dẫn đến xung đột giữa các bên (chiếm giữ trái phép tài sản, đòi tài sản,…). Trong những trường hợp như vậy rất cần sự hỗ trợ của chính quyền địa phương và các lực lượng chức năng nhằm đảm bảo an ninh, trật tự trong quá trình lập vi bằng, tạo điều kiện giúp TPL thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của mình.

Thứ ba, về số lượng bản chính vi bằng được lập

Tại khoản 4 Điều 26 Nghị định 61/2009/NĐ-CP vi bằng được lập thành 03 bản chính, trong đó giao người yêu cầu 01 bản. Tuy nhiên, trong một số trường hợp việc tham gia lập vi bằng có thể có nhiều tổ chức, cá nhân tham gia và mỗi bên đều có yêu cầu cung cấp bản chính để làm cơ sở bảo vệ quyền và lợi ích của mình. Đối với trường hợp như vậy, theo Công văn số 247/BTTP-TPL ngày 28/3/2017 của Cục Bổ trợ tư pháp – BTP, TPL sẽ thực hiện việc cấp bản sao khi đương sự có yêu cầu, tuy nhiên, nếu các đương sự vẫn yêu cầu có bản chính thì TPL sẽ ký kết thỏa thuận lập với từng đương sự có yêu cầu để có đủ số lượng bản chính. Điều này dẫn đến việc tốn kém chi phí hơn cho các đương sự khi có yêu cầu.

  • Hoạt động đăng ký vi bằng

Theo quy định tại khoản 9 Điều 2 Nghị định 135/2013/NĐ-CP sửa đổi khoản 5 Điều 26 Nghị định 61/2009/NĐ-CP, theo đó Sở Tư pháp có quyền từ chối đăng ký nếu phát hiện thấy việc lập vi bằng không đúng thẩm quyền, không thuộc phạm vi lập vi bằng theo quy định; vi bằng không được gửi đúng thời hạn để đăng ký. Việc từ chối phải được thông báo ngay bằng văn bản cho VP TPL và người yêu cầu lập vi bằng trong đó nêu rõ lý do từ chối đăng ký.

Việc vi bằng được coi là hợp lệ khi được đăng ký tại Sở Tư pháp giúp nhà nước kiểm soát chặt chẽ chất lượng của vi bằng, góp phần hạn chế những tác động do vi bằng vi phạm những quy định của pháp luật được sử dụng làm chứng cứ và căn chứ giao dịch khác có chứa tiềm ẩn rủi ro pháp lý đối với người sử dụng và người lập vi bằng. Tuy nhiên, về mặt lý luận còn một số vấn đề sau: Luận văn: Thực tiễn quy định về lập vi bằng của Thừa phát lại.

Thứ nhất, vi bằng là văn bản do TPL lập, ghi nhận về sự kiện, hành vi khách quan, có thật theo đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục, hình thức pháp lý theo luật định và TPL phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc thực hiện công việc của mình. Việc đăng ký tại Sở Tư pháp không làm thay đổi bản chất, nội dung sự kiện, hành vi được ghi nhận của vi bằng, đồng thời, nếu có tranh chấp trong việc lập vi bằng của TPL thì cơ quan có quyền phán quyết là Tòa án [28]. TPL cần được tôn trọng chức năng và trách nhiệm nghề nghiệp của mình, việc quản lý Nhà nước trong hoạt động lập vi bằng cần thực hiện thông qua thanh tra, kiểm tra tổng thể hoạt động lập vi bằng chứ không nên kiểm soát cụ thể về mặt phạm vi, nội dung, hình thức của từng vi bằng cụ thể.

Thứ hai, việc quy định đăng ký vi bằng tại Sở Tư pháp sẽ làm phát sinh trách nhiệm liên đới khi vi bằng dược coi là hợp lệ khi được sử dụng làm chứng cứ trong xét xử và trong các quan hệ pháp lý khác. Hiện nay, nếu vi bằng đã đăng ký nhưng bị Tòa án bác bỏ vì vi bằng đó lập không đúng quy định pháp luật thì trách nhiệm chủ yếu phát sinh đối với TPL, vấn đề trách nhiệm liên đới của Sở Tư pháp hiện vẫn chưa rõ ràng [27].

Thứ ba, thực hiện việc đăng ký vi bằng tại Sở Tư pháp sẽ phát sinh thêm công việc, phải đầu tư nhân lực và nguồn lực để thực hiện công việc này. Như vậy, không phù hợp với chủ trương xã hội hóa hoạt động bổ trợ tư pháp và tinh giản biên chế hiện nay.

Như vậy, để khắc phục được một số vấn đề lý luận về hoạt động đăng ký vi bằng kể trên, đồng thời, đảm bảo sự quản lý của Nhà nước đối với hoạt động lập vi bằng cần có một cơ chế phù hợp nhằm đảm bảo trách nhiệm trong hoạt động nghề nghiệp của TPL và phù hợp với chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách phát triển kinh tế – xã hội, chính sách pháp luật của Nhà nước hiện nay.

  • Về phí lập vi bằng

Theo quy định, VP TPL quy định và niêm yết công khai khung giá về chi phí lập vi bằng, trong đó xác định rõ mức tối đa, mức tối thiểu và nguyên tắc tính. Trên cơ sở khung giá đã niêm yết, người yêu cầu và VP TPL thỏa thuận về chi phí thực hiện theo công việc hoặc theo giờ làm việc và các khoản chi phí thực tế phát sinh gồm: chi phí đi lại; phí dịch vụ cho các cơ quan cung cấp thông tin; chi phí cho người làm chứng, người tham gia hoặc chi phí khác, nếu có [8; Đ16].

Tuy nhiên, việc quy định khung giá về chi phí lập vi bằng của các VP TPL có sự chênh lệch, khác nhau theo từng địa phương, dao động khoảng từ 1 – 4 triệu đồng. Theo Sở Tư pháp các tỉnh/thành phố mức phí trung bình tại một số địa phương như sau: Vĩnh Phúc khoảng 1,5 triệu đồng/1 vi bằng; Hà Nội, Đồng Nai, Thành phố Hồ Chí Minh khoảng 2,5 triệu đồng – 3,5 triệu đồng/1 vi bằng. Như vậy, việc không thống nhất như trên dẫn đến sự chênh lệch về chi phí trong việc lập vi bằng tại các VP TPL khác nhau. Luận văn: Thực tiễn quy định về lập vi bằng của Thừa phát lại.

  • Về chế tài xử lý vi phạm đối với Thừa phát lại trong hoạt động lập vi bằng

Trong thời gian vừa qua, hoạt động lập vi bằng của TPL đã xuất hiện một số sai phạm liên quan đến phạm vi, thẩm quyền lập vi bằng và vi phạm những việc TPL không được làm như: TPL lập vi bằng liên quan đến lợi ích những người thân thích của mình (vợ, chồng, con đẻ, con nuôi; cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi;…); lập vi bằng ghi nhận giao dịch bất động sản hoặc các giao dịch khác, lập vi bằng xác nhận bản sao hợp đồng hoặc giấy tờ,… Các vi phạm này hiện chưa có biện pháp chế tài để xử lý. Quy định về xử phạt hành chính trong lĩnh vực tư pháp còn bỏ trống các hành vi vi phạm của hoạt động lập vi bằng.

  • Hạn chế, bất cập trong tổ chức thi hành

Trên cơ sở quy định của pháp luật và các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, các điều kiện đảm bảo thực hiện chế định TPL đã nhận được nhiều sự quan tâm của các địa phương. Tuy nhiên, chính sách hỗ trợ và tạo điều kiện chủ yếu ở việc hỗ trợ về thể chế và tuyên truyền, vận động, chưa có cơ chế hỗ trợ cụ thể, thiết thực về vật chất cho hoạt động của các Văn phòng như: hỗ trợ thuê trụ sở, trang thiết bị làm việc,…

Về chế độ trách nhiệm nghề nghiệp, theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 18 của Nghị định số 61/2009/NĐ-CP thì một trong những điều kiện để đăng ký hoạt động VP TPL là “phải ký quỹ 100 triệu đồng cho mỗi Thừa phát lại hoặc có bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp”. Như vậy, Trưởng VP TPL có thể hoặc ký quỹ hoặc mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp cho mỗi TPL. Tuy nhiên, trên thực tế hiện nay, việc mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp cho TPL còn gặp vướng mắc do TPL là một nghề mới trong xã hội nên ngoài trách nhiệm cá nhân các tổ chức bảo hiểm chưa cung cấp dịch vụ này.

Đây cũng là một vấn đề dẫn đến tâm lý không yên tâm khi thực hiện các công việc nghề nghiệp của TPL so với các hoạt động nghề nghiệp trong lĩnh vực pháp lý khác, bởi khi TPL thực hiện nhiệm vụ được quy định nếu gây ra thiệt hại thì có thể bị xử lý hành chính, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường thiệt hại.

3.2. Một số kiến nghị từ thực tiễn thực hiện pháp luật về lập vi bằng của Thừa phát lại Luận văn: Thực tiễn quy định về lập vi bằng của Thừa phát lại.

3.2.1. Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về hoạt động lập vi bằng của Thừa phát lại

  • Lập vi bằng đối với các trường hợp Thừa phát lại không trực tiếp chứng kiến nội dung sự kiện, hành vi

Nhằm thống nhất cách hiểu về những trường hợp TPL không trực tiếp chứng kiến sự kiện, hành vi mà lập vi bằng thông qua lời kể người khác. Đồng thời, đảm bảo việc tạo nguồn chứng cứ trong công tác thu thập lời khai, lời trình bày,… của các đương sự. Đề nghị sửa đổi, bổ sung quy định “Thừa phát lại không được lập vi bằng để ghi nhận sự kiện, hành vi mà mình không trực tiếp chứng kiến hoặc những sự kiện, hành vi chỉ thông qua lời kể của người khác” theo hướng đối với những hành vi, sự kiện chỉ thông qua lời kể của người khác về một sự kiện, hành vi mà TPL không trực tiếp chứng kiến, TPL được phép lập vi bằng đối với hành vi kể lại. Tuy nhiên, trong vi bằng cần phải nêu rõ phạm vi trách nhiệm của TPL trong việc lập vi bằng. Nội dung sự kiện, hành vi trong lời kể, lời tường thuật thì do cá nhân kể lại chịu trách nhiệm.

  • Lập vi bằng đối với sự kiện, hành vi của cán bộ, công chức khi thi hành công vụ

Về vấn đề phạm vi thẩm quyền lập vi bằng đối với sự kiện, hành vi của cán bộ, công chức khi thi hành công vụ, cần nhận thức rõ hoạt động thi hành công vụ của cán bộ, công chức có tính chất đặc biệt, nhằm thực thi quyền lực nhà nước, đòi hỏi mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân tôn trọng và tuân thủ yêu cầu của người thi hành công vụ. Việc cho phép TPL lập vi bằng sẽ dẫn đến việc gây cản trở, ảnh hưởng đến hoạt động bình thường của cơ quan nhà nước, cán bộ công chức, thậm chí có thể gây ra tình trạng phức tạp tại các địa điểm cơ quan nhà nước hay địa điểm đang được thực thi công vụ.

Bên cạnh đó, chế định TPL được tạo ra với mục tiêu xã hội hóa hoạt động bổ trợ tư pháp, giúp giảm tải công việc cho Tòa án, cơ quan thi hành án dân sự và tạo cơ chế để người dân, tổ chức tạo lập chứng cứ, chủ động bảo vệ quyền và lợi ích của mình khi tham gia quan hệ tố tụng và các quan hệ pháp luật khác. Nếu cho phép TPL lập vi bằng đối với sự kiện, hành vi của cán bộ công chức khi thực thi công vụ tức đã chuyển từ chế định hỗ trợ người dân và cơ quan nhà nước thành chế định mang chức năng giúp người dân giám sát cơ quan nhà nước. Việc giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước hiện đã có nhiều cơ chế và được pháp luật quy định như hoạt động theo dõi, giám sát của Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên của Mặt trận và nhân dân thông qua hoạt động thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo,…

Đồng thời, qua nghiên cứu kinh nghiệm của một số nước có hoạt động TPL, việc kiểm soát hoạt động của cán bộ, công chức khi thi hành công vụ cũng được thực hiện theo những cơ chế khác nhau mà không trao quyền này cho TPL.

Vì vậy, đề nghị không nên quy định thẩm quyền lập vi bằng của TPL đối với sự kiện, hành vi của cán bộ, công chức khi thực thi công vụ. Luận văn: Thực tiễn quy định về lập vi bằng của Thừa phát lại.

  • Về phạm vi bí mật đời tư thuộc phạm vi cấm trong hoạt động lập vi bằng của Thừa phát lại

Đời tư và bí mật đời tư của cá nhân là quyền nhân thân gắn liền với mỗi công dân, được pháp luật bảo vệ và bất khả xâm phạm. Được ghi nhận trong các công ước quốc tế và được pháp luật Việt Nam bảo vệ bằng Hiến pháp và các văn bản pháp luật chuyên ngành khác. Vì vậy, trong hoạt động lập vi bằng, TPL không chỉ tuân thủ theo quy định của BLDS mà còn phải tuân thủ đầy đủ quy định của Hiến pháp và các văn bản liên quan.

Theo quy định của Nghị định 61/2009/NĐ-CP được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 135/2013/NĐ-CP, TPL khi lập vi bằng phải tuân thủ theo quy định tại Điều 38 của BLDS về quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình. Về quy định trên, đề nghị mở rộng phạm vi bí mật đời tư TPL phải tuân thủ theo tinh thần của Hiến pháp 2013, và các văn bản liên quan.

  • Về phạm vi địa hạt lập vi bằng của Thừa phát lại

Việc quy định TPL được thực hiện các công việc của mình trong phạm vi tỉnh/thành phố nơi đặt VP TPL như hiện nay xuất phát từ mục đích tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động của TPL và hoạt động quản lý, hướng dẫn hoạt động TPL của các cơ quan nhà nước. Đồng thời, theo kinh nghiệm các nước đang tổ chức thực hiện chế định TPL, hoạt động của TPL gắn chặt với việc hỗ trợ hoạt động của Tòa án nên nhiều nước quy định thẩm quyền địa hạt TPL theo thẩm quyền của tòa án nơi TPL đăng ký hoạt động.

Đối với hoạt động tống đạt, thi hành án dân sự, việc quy định như hiện nay là hợp lý, bởi hoạt động trên gắn chặt với hoạt động của Tòa án và hiện thẩm quyền của Tòa án cũng được tổ chức theo địa hạt. Đối với hoạt động lập vi bằng, với tính chất là văn bản ghi nhận tính xác thực của sự kiện, hành vi do người có năng lực, trình độ được nhà nước bổ nhiệm thì trong thời gian tới, cân nhắc quy định theo hướng mở rộng thẩm quyền hoạt động lập vi bằng ra ngoài phạm vi tỉnh/thành phố nơi đặt VP TPL. Tuy nhiên, việc mở rộng phạm vi cũng phải tính đến các yếu tố quy hoạch tổ chức hành nghề TPL tại các địa phương, tránh tình trạng cạnh tranh không lành mạnh giữa các TPL tại các địa bàn khác nhau.

  • Trình tự thủ tục đối với trường hợp lập vi bằng trong những tình huống đột xuất, khẩn cấp

Một số trường hợp có hành vi, sự kiện có các dấu vết dễ biến mất, cần đòi hỏi phải tiến hành việc lập vi bằng ngay lập tức để kịp thời ghi nhận chính xác sự kiện, hành vi đề nghị pháp luật cho phép và công nhận hình thức “thỏa thuận miệng” giữa các bên. Tức là khi phát sinh tình huống khẩn cấp cần lập vi bằng, đương sự có thể đề nghị TPL đến lập vi bằng ngay mà chưa cần phải ký biên bản thỏa thuận. Việc ký biên bản thỏa thuận (hợp đồng) sẽ được hoàn tất ngay sau khi lập vi bằng. Nếu sau đó hai bên không thống nhất được các điều khoản cơ bản của hợp đồng thì TPL có thể hủy kết quả lập vi bằng.

  • Về quy định đăng ký vi bằng tại Sở Tư pháp Luận văn: Thực tiễn quy định về lập vi bằng của Thừa phát lại.

Theo quy định tại khoản 9 Điều 2 Nghị định 135/2013/NĐ-CP sửa đổi khoản 5 Điều 26 Nghị định 61/2009/NĐ-CP, theo đó Sở Tư pháp có quyền từ chối đăng ký nếu phát hiện thấy việc lập vi bằng không đúng thẩm quyền, không thuộc phạm vi lập vi bằng theo quy định; vi bằng không được gửi đúng thời hạn để đăng ký. Việc từ chối phải được thông báo ngay bằng văn bản cho VP TPL và người yêu cầu lập vi bằng trong đó nêu rõ lý do từ chối đăng ký.

Tuy nhiên, bởi còn nhiều vấn đề về lý luận và thực tiễn của việc đăng ký vi bằng tại Sở Tư pháp, vì vậy, để góp phần nâng cao hiệu quả và đảm bảo sự quản lý của nhà nước đối với hoạt động này, đề nghị áp dụng hình thức đăng ký vi bằng sẽ chỉ đăng ký về mặt thủ tục. Vi bằng sau khi được lập thì VP TPL có trách nhiệm đăng ký 01 bản chính tại Sở Tư pháp để lưu trữ, Sở Tư pháp không có quyền từ chối đăng ký vi bằng. Đồng thời, bổ sung trách nhiệm công khai thông tin đăng ký vi bằng trên cổng thông tin đăng ký vi bằng của Sở Tư pháp và trang thông tin điện tử của VP TPL.

Việc đăng ký vi bằng về mặt thủ tục sẽ giúp Nhà nước thực hiện việc thống nhất theo dõi tình hình hoạt động của các VP TPL và quản lý hoạt động lập vi bằng TPL thông qua hoạt động thanh tra, kiểm tra khi phát hiện quá trình lập vi bằng của TPL có nhiều sai sót về phạm vi, thẩm quyền. Tăng tính chủ động trong hoạt động lập vi bằng và nâng cao trách nhiệm của TPL trong hoạt động chuyên môn này. Đồng thời, vi bằng có giá trị ngay sẽ phục vụ người có yêu cầu lập vi bằng nhanh chóng, kịp thời.

  • Thành lập quỹ bảo hiểm nghề nghiệp Thừa phát lại

Để đảm bảo tâm lý cho TPL khi thực hiện các công việc nghề nghiệp của mình. Cần nghiên cứu hình thành quỹ bảo hiểm nghề nghiệp đối với các TPL nhằm đảm bảo phòng rủi ro cho khách hàng và bản thân TPL trong trường hợp gây ra thiệt hại lớn.

Theo kinh nghiệm của Cộng hòa Pháp, quỹ bảo hiểm trách nhiệm của TPL do Hội đồng TPL Quốc gia lập ra và quản lý, được hình thành bởi đóng góp của chính các TPL, dùng để bảo đảm trách nhiệm về mặt tài chính của TPL đối với các sai sót gây thiệt hại cho khách hàng trong quá trình thực hiện cung cấp dịch vụ. Nếu có thiệt hại xảy ra quỹ này sẽ trả trực tiếp cho đối tượng chịu thiệt hại và mua bảo hiểm cho khoản bồi thường lớn. Mức đóng góp cho quỹ này được tính theo doanh thu của các TPL. [54]

  • Nghiên cứu ban hành Luật về Thừa phát lại tạo cơ sở pháp lý cần thiết cho hoạt động lập vi bằng và các hoạt động khác của Thừa phát lại Luận văn: Thực tiễn quy định về lập vi bằng của Thừa phát lại.

Với những tác động tích cực đối với kinh tế – xã hội trong thời gian qua, chế định TPL đã được khẳng định là một chủ trương đúng đắn, phù hợp với bối cảnh cải cách tư pháp, cải cách hành chính ở nước ta hiện nay. Tuy nhiên, trong thời gian qua, đã có những bất cập xuất phát từ sự không đồng bộ, chưa hoàn thiện của thể chế về TPL. Cụ thể là tổ chức và hoạt động của TPL chỉ được điều chỉnh bằng Nghị định của Chính phủ, trong khi đó, các lĩnh vực hoạt động chính của TPL liên quan đến quyền con người, quyền công dân đều được điều chỉnh bằng Luật (Luật Thi hành án dân sự, BLTTDS,…). Chính bất cập về thể chế này ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của TPL, chưa phù hợp với quy định của Hiến pháp và tạo ra sự xung đột về pháp luật.

Những bất cập này đòi hỏi cần ban hành Luật về TPL nhằm đảm bảo sự đồng bộ của pháp luật, giải quyết những bất cập, đảm bảo sự phát triển ổn định, lâu dài của TPL trong bối cảnh cải cách tư pháp, cải cách hành chính hiện nay.

  • Bổ sung các hành vi vi phạm trong hoạt động của Thừa phát lại và lập vi bằng trong Nghị định của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp

Nghị định 110/2013/ NĐ-CP và Nghị định 67/2015/NĐ-CP về xử phạt hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp, thi hành án dân sự, hôn nhân gia đình,… hiện còn bỏ trống những hành vi vi phạm trong lĩnh vực TPL. Trên cơ sở nghiên cứu đề tài, để đảm bảo trật tự quản lý nhà nước đề nghị bổ sung những nội dung cơ bản về vi phạm trong việc lập vi bằng vào trong Nghị định 110/2013/ NĐ-CP và Nghị định 67/2015/NĐ-CP về xử phạt hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp, thi hành án dân sự, hôn nhân gia đình,… Cụ thể:

Bổ sung đối tượng bị xử phạt vi phạm hành chính:

  • Cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính trong lĩnh vực lập vi bằng;
  • TPL, Thư ký TPL, VP TPL vi phạm hành chính trong hoạt động lập vi bằng.

Bổ sung các hành vi bị xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động lập vi bằng, bao gồm các nhóm hành vi chính như: gian dối, không trung thực khi cung cấp thông tin yêu cầu lập vi bằng; ngụy tạo hiện trường, bằng chứng để yêu cầu lập vi bằng; sửa chữa, tẩy xóa vi bằng,…

Đối với hành vi vi phạm của VP TPL, TPL, Thư ký TPL, tập trung vào các nhóm hành vi sau: vi phạm về thẩm quyền, phạm vi lập vi bằng; vi phạm về trình tự, thủ tục lập vi bằng; vi phạm về công tác lưu trữ, sửa chữa, tẩy xóa làm sai lệch nội dung vi bằng; lập vi bằng khi không trực tiếp chứng kiến sự việc, hành vi; lừa dối khách hàng trong quá trình lập vi bằng; không thực hiện chế độ báo cáo, thống kê theo quy định của nhà nước; cung cấp thông tin sai lệch cho khách hàng về giá trị vi bằng…

Ngoài xử phạt vi phạm hành chính, các chủ thể có hành vi vi phạm phải khắc phục thiệt hại, bồi thường thiệt hại (nếu có), bị truy cứu trách nhiệm hình sự nếu hành vi vi phạm đủ cấu thành tội phạm.

3.2.2. Một số kiến nghị thực hiện pháp luật về lập vi bằng của Thừa phát lại Luận văn: Thực tiễn quy định về lập vi bằng của Thừa phát lại.

  • Tăng cường công tác tuyên truyền về vi bằng và giá trị pháp lý của vi bằng

Trong thời gian qua, chế định TPL đã có những tác động tích cực đối với kinh tế – xã hội, thể hiện đây là chế định tiến bộ, phù hợp với chủ trương cải cách tư pháp, cải cách hành chính hiện nay. Tuy nhiên, công tác tuyên truyền, phổ biến về công việc của TPL nói chung, vi bằng nói riêng còn nhiều hạn chế dẫn đến việc đại đa số người dân chưa hiểu được ý nghĩa của việc lập vi bằng, quyền của họ trong việc yêu được lập vi bằng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

Cần triển khai việc tuyên truyền, giới thiệu chế định TPL đến với người dân thông qua các hình thức đa dạng, nhằm giúp người dân dễ dàng tiếp cận và hiểu về vai trò của các VP TPL, trong đó nhấn mạnh vai trò của TPL khi thực hiện công việc của mình, đặc biệt chú ý tuyên truyền về chế định lập vi bằng bởi chế định này còn khá mới mẻ đối với người dân.

  • Quy định cụ thể về cơ chế hỗ trợ của các cơ quan tổ chức đối với hoạt động lập vi bằng

VP TPL được thành lập với mục tiêu giảm tải công việc cho cơ quan nhà nước, giúp người dân, doanh nghiệp, cơ quan nhà nước tạo lập chứng cứ khi tham gia quan hệ tố tụng, bảo vệ các quyền và lợi ích của mình khi tham gia các giao dịch khác. Tuy nhiên, hiện các VP TPL đang được tổ chức hoạt động dưới hình thức pháp lý doanh nghiệp tư nhân hoặc công ty hợp danh (mục tiêu chung là hoạt động vì lợi nhuận), mặc dù VP TPL được phép có nguồn thu từ hoạt động nhằm đảm bảo chi phí, hoạt động của bộ máy tổ chức, nhưng không mang bản chất của một doanh nghiệp nên VP TPL không được thực hiện các công việc mà pháp luật không quy định thẩm quyền.

Do đó, còn tồn tại những hiểu biết sai lệch về bản chất về công việc và hoạt động của VP TPL, nhiều ý kiến cho rằng đây là “công ty đòi nợ thuê”, “dịch vụ chuyển phát tư nhân”,…Từ hiểu biết sai lệch về bản chất của TPL nên nhiều cơ quan, tổ chức, cá nhân trong mối quan hệ phối hợp, giúp đỡ TPL thực hiện nhiệm vụ chưa tạo điều kiện thuận lợi, thậm chí gây khó khăn cho hoạt động của TPL khi có công việc liên quan. [54] Luận văn: Thực tiễn quy định về lập vi bằng của Thừa phát lại.

Theo đó, cần quán triệt, xác định đây là tổ chức hành nghề độc lập, chuyên nghiệp, là các chức danh tư pháp do Nhà nước bổ nhiệm hoạt động trong lĩnh vực thi hành án và hỗ trợ cơ quan tư pháp, không sử dụng chi phí từ ngân sách nhà nước mà ngược lại còn đóng thuế cho nhà nước, cung cấp các dịch vụ pháp lý theo yêu cầu của cá nhân, tổ chức theo quy định của pháp luật, góp phần tạo công ăn việc làm trong xã hội. Tạo môi trường pháp lý đảm bảo tính độc lập trong hoạt động của TPL nói riêng và hoạt động tư pháp nói chung. Các cơ quan, tổ chức và cá nhân, đặc biệt là chính quyền địa phương, lực lượng cảnh sát cần tạo điều kiện thuận lợi, thực hiện các yêu cầu của TPL trong việc đảm bảo an ninh trật tự trong quá trình thực hiện nhiệm vụ của TPL. Tránh tình trạng cho rằng TPL là hoạt động dịch vụ của tư nhân nên các cơ quan công quyền không có trách nhiệm phối hợp hoặc phải trả tiền để hỗ trợ, đảm bảo an ninh trật trong quá trình thực hiện nhiệm vụ.

  • Nâng cao chất lượng chuyên môn nghiệp vụ, phẩm chất đạo đức của Thừa phát lại

Theo quy định hiện hành, về mặt chuyên môn cần đáp ứng đủ một số tiêu chuẩn như: Có bằng cử nhân luật; Đã công tác trong ngành pháp luật trên 05 năm hoặc đã từng là Thẩm phán, Kiểm sát viên, Luật sư; Chấp hành viên, Công chứng viên, Điều tra viên từ Trung cấp trở lên; Có chứng chỉ hoàn thành lớp tập huấn về nghề TPL do BTP tổ chức;…Những tiêu chuẩn này phù hợp với thời gian đầu thực hiện chế định TPL và góp phần đáp ứng số lượng TPL cần thiết để thực hiện chế định. Tuy nhiên, nhiều trường hợp TPL được bổ nhiệm còn lúng túng trong việc triển khai thực hiện các nhiệm vụ được giao vì chưa được đào tạo, bồi dưỡng một cách bài bản.

Vì vậy, cần bổ sung tiêu chuẩn để được bổ nhiệm TPL theo hướng tăng tiêu chuẩn về mặt chuyên môn, nghiệp vụ. Theo đó, người muốn được bổ nhiệm TPL ngoài các điều kiện nêu trên thì phải qua lớp đào tạo nghề TPL (kéo dài ít nhất 06 tháng đến 01 năm), trong đó, chú trọng đào tạo chuyên sâu về nghiệp vụ thi hành án, lập vi bằng; đồng thời, sau khi đã trải qua lớp đào tạo nghề cần phải thực tập một thời gian tại VP TPL.

Bên cạnh nâng cao yêu cầu về chuyên môn, nghiệp vụ, cần có quy chế đạo đức nghề nghiệp đối với TPL. Việc ban hành quy chế, tiêu chuẩn đạo đức nghề nghiệp đảm bảo người được bổ nhiệm, hành nghề TPL phải có uy tín, đạo đức tốt, nghiêm chỉnh chấp hành đường lối chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước.

  • Tăng cường quản lý nhà nước đối với hoạt động lập vi bằng

Các cơ quan quản lý nhà nước cần tăng cường vai trò lãnh đạo, đặc biệt vai trò của Tỉnh ủy/Thành ủy trong việc quán triệt, chỉ đạo các ngành hữu quan tổ chức thực hiện tốt hoạt động TPL tại địa phương, có thêm chính sách hỗ trợ giúp các VP TPL đảm bảo về mặt cơ sở vật chất như: tạo điều kiện thuê trụ sở, trang thiết bị làm việc,…

Đồng thời, các cơ quan tư pháp địa phương cần tăng cường việc thẩm định hồ sơ, nâng cao chất lượng khi bổ nhiệm TPL; theo dõi chặt chẽ tình hình lập vi bằng tại địa phương, chú trọng công tác kiểm tra, thanh tra để kịp thời phát hiện, chấn chỉnh, xử lý các vi phạm của TPL trong hoạt động lập vi bằng. Luận văn: Thực tiễn quy định về lập vi bằng của Thừa phát lại.

Đề xuất trong thời gian tới nghiên cứu thành lập tổ chức xã hội – nghề nghiệp của TPL (Hội TPL, Hiệp hội TPL), nhằm phát huy vai trò và tính tự quản của tổ chức này. Góp phần kiện toàn, củng cố và phát triển các tổ chức hành nghề TPL; giúp các cơ quan có thẩm quyền trong quản lý tổ chức và hoạt động TPL thực hiện tốt chức năng làm đầu mối thống nhất đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho TPL; tăng cường trao đổi nghiệp vụ chuyên môn TPL.

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3

Sau thời gian thực hiện chế định TPL ở nước ta, chế định TPL đã chứng tỏ được tính đúng đắn và được xã hội chấp nhận, đặc biệt là ở các địa bàn có điều kiện kinh tế – xã hội phát triển. Thể hiện như sau:

  • Đối với người dân và xã hội, chế định lập vi bằng của TPL đã tạo một công cụ pháp lý để tăng cường tính chủ động, tích cực giúp người dân tự bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình trong thực hiện các giao dịch dân sự và tố tụng.
  • Đối với hoạt động tư pháp và liên quan, hoạt động lập vi bằng của TPL giúp tạo lập nguồn chứng cứ góp phần bảo đảm cho việc xét xử khách quan, kịp thời và chính xác, hỗ trợ hoạt động tư pháp nhanh chóng, hiệu quả, góp phần giảm tải công việc của các cơ quan tư pháp.

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, còn tồn tại những hạn chế, bất cập xuất phát từ sự không đồng bộ, chưa hoàn thiện thể chế về TPL, nhận thức về chế định TPL của một số cơ quan, tổ chức, cá nhân còn chưa đúng đắn, chính xác gây ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của TPL.

Theo đó, để khắc phục những hạn chế, bất cập trên, cần có những giải pháp cụ thể, chú trọng vào giải quyết những nguyên nhân căn bản về mặt thể chế, nhận thức về chế định của cơ quan, tổ chức, cá nhân. Góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động lập vi bằng của TPL trong thời gian tới.

KẾT LUẬN Luận văn: Thực tiễn quy định về lập vi bằng của Thừa phát lại.

Chế định lập vi bằng (chứng thư) của TPL là một công việc gắn liền với hoạt động của chế định TPL ở Việt Nam, sự xuất hiện và tồn tại của chế định này bắt đầu và tồn tại từ thời kỳ Pháp thuộc cho đến năm 1950 ở miền Bắc và năm 1975 ở miền Nam. Trong những năm vừa qua, Việt Nam đã hội nhập kinh tế quốc tế mạnh mẽ, sự phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, dân chủ hóa đời sống xã hội và các mối quan hệ cơ bản được pháp luật dân sự điều chỉnh theo đó phát triển đa chiều và phức tạp, tuy nhiên, dễ nảy sinh những mâu thuẫn, tranh chấp về lợi ích của các chủ thể tham gia quan hệ, điều này dẫn đến nhu cầu tất yếu đó là các dịch vụ pháp lý có cơ hội phát triển mạnh mẽ.

Với bối cảnh như vậy, Nghị quyết 49-NQ/TW định hướng: “Tiếp tục hoàn thiện thủ tục tố tụng dân sự. Nghiên cứu thực hiện và phát triển các loại hình dịch vụ từ Nhà nước để tạo điều kiện cho các đương sự chủ động thu thập chứng cứ chứng minh, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình…”. Thể chế hóa chủ trương trên, ngày 14/11/2008 Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 24/2008/QH12 về thi hành Luật Thi hành án dân sự, trong đó có quy định: “để triển khai thực hiện chủ trương xã hội hóa một số công việc có liên quan đến thi hành án dân sự, giao Chính phủ quy định và tổ chức thực hiện thí điểm chế định Thừa phát lại (Thừa hành viên) tại một số địa phương”. Theo đó, chế định TPL chính thức được tổ chức thí điểm và một trong những loại hình dịch vụ hỗ trợ các cá nhân, tổ chức tạo lập, thu thập chứng cứ chính là hoạt động lập vi bằng của TPL.

Trải qua thời gian thí điểm, mở rộng phạm vi thí điểm và hiện đang được tổ chức thực hiện trên phạm vi cả nước, chế định lập vi bằng của TPL đã thể hiện vai trò của mình qua những tác động cụ thể trên phương diện kinh tế – xã hội, cụ thể: Tạo công cụ pháp lý giúp tăng cường tính chủ động, tích cực giúp người dân tự bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình trong thực hiện các giao dịch; tạo lập nguồn chứng cứ góp phần bảo đảm cho việc xét xử khách quan, kịp thời và chính xác, hỗ trợ hoạt động tư pháp nhanh chóng, hiệu quả, góp phần giảm tải công việc của các cơ quan tư pháp…

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, còn tồn tại những hạn chế, bất cập xuất phát từ sự không đồng bộ, chưa hoàn thiện thể chế về TPL. Bên cạnh đó, nhận thức về chế định TPL của một số cơ quan, tổ chức, cá nhân còn chưa đúng đắn, chính xác gây ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của TPL.

Từ kết quả nghiên cứu các vấn đề thực tiễn và lý luận về chế định lập vi bằng của TPL, Luận văn đã đưa ra một số đề xuất, kiến nghị nhằm góp phần khắc phục những bất cập của pháp luật hiện hành, đảm bảo tính thống nhất, đồng bộ giữa các quy định về TPL và những văn bản pháp luật có liên quan; từ đó hình thành nên cơ chế phù hợp để chế định lập vi bằng của TPL hoạt động hiệu quả. Đồng thời, pháp luật về TPL sẽ ngày càng toàn diện, hợp lý, tiến bộ và những người thực hiện công việc này sẽ được hoạt động và phát triển nghề nghiệp trong một hành lang pháp lý an toàn, tin cậy, yên tâm đóng góp mọi năng lực, công sức cho việc nâng cao chất lượng và hiệu quả con đường cải cách của Đảng, Nhà nước vì mục tiêu ích nước, lợi dân. Luận văn: Thực tiễn quy định về lập vi bằng của Thừa phát lại.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:  

===>>> Luận văn: Chế định lập vi bằng của Thừa phát lại theo pháp luật

One thought on “Luận văn: Thực tiễn quy định về lập vi bằng của Thừa phát lại

  1. Pingback: Luận văn: Thực trạng pháp luật về lập vi bằng của Thừa phát lại

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464