Luận văn: Thực trạng pháp luật về lập vi bằng của Thừa phát lại

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Thực trạng pháp luật về lập vi bằng của Thừa phát lại hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Thực trạng pháp luật về lập vi bằng của Thừa phát lại ở Việt Nam hiện nay dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

2.1. Chủ thể lập vi bằng

Theo khoản 1 Điều 2 Nghị định số 61/2009/NĐ-CP, “Vi bằng là văn bản do Thừa phát lại lập”, tức chủ thể có quyền lập vi bằng theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành chỉ có thể là TPL.

TPL ở Việt Nam cũng tương tự ở hầu hết các nước, đều thực hiện chức năng bổ trợ cho hoạt động tư pháp và hỗ trợ người dân tiếp cận pháp luật, tư pháp, gọi chung là chức năng bổ trợ tư pháp. Để thực hiện chức năng này, TPL có hai nhóm nhiệm vụ: Các nhiệm vụ độc quyền chỉ do TPL thực hiện và các nhiệm vụ không phải là độc quyền của TPL. [34]

Các nhiệm vụ độc quyền của TPL bao gồm 2 nhiệm vụ mang tính chất truyền thống là dịch vụ về tống đạt văn bản và thi hành các bản án, quyết định theo yêu cầu của Tòa án. Đây là các nhiệm vụ mà TPL được nhà nước ủy quyền đại diện cho quyền lực công khi thi hành.

Các nhiệm vụ không độc quyền của TPL bao gồm các nhiệm vụ khác không mang tính chất độc quyền trên cơ sở thỏa thuận giữa TPL với tổ chức, cá nhân. Các hoạt động này khá đa dạng, trong đó, phổ biến là lập vi bằng và một số nhiệm vụ khác (đảm nhận việc đại diện cho các bên ở một số Tòa án hoặc thực hiện tư vấn pháp lý; thực hiện một số hoạt động mang tính chất phụ trợ khác nhằm đảm bảo nguồn thu cho hoạt động của VP TPL, chẳng hạn thu hồi các khoản nợ theo thỏa thuận cá nhân; soạn thảo các văn bản, tài liệu; quản lý bất động sản; làm đại lý bảo hiểm; dịch vụ hòa giải theo yêu cầu;…).

Để đảm bảo vi bằng được lập theo đúng thẩm quyền và thủ tục quy định, một trong các vấn đề mà các quốc gia có áp dụng chế định TPL nói chung và Việt Nam nói riêng quan tâm đó là quy định tiêu chuẩn đối với TPL – chủ thể có thẩm quyền lập vi bằng. Về tiêu chuẩn đối với người hành nghề TPL, nhìn chung các quốc gia được nghiên cứu quy định theo 03 nhóm tiêu chuẩn: Tiêu chuẩn chung (về tư cách công dân, độ tuổi, lý lịch và khả năng phù hợp nghề nghiệp), tiêu chuẩn về chuyên môn (trình độ chuyên môn nghề nghiệp, đào tạo, bằng cấp, chứng chỉ) và tiêu chuẩn về đạo đức (tiền sử không có các vi phạm pháp luật và đạo đức..). Những tiêu chuẩn này nhằm đảm bảo các hoạt động của TPL đáp ứng được mục tiêu hỗ trợ hoạt động tư pháp và tuân thủ các quy định của luật pháp.

Ở Pháp, quốc gia có lịch sử phát triển lâu đời nghề TPL quy định, người nào muốn trở thành TPL phải đáp ứng các tiêu chuẩn chung và tiêu chuẩn về chuyên môn. [54] Luận văn: Thực trạng pháp luật về lập vi bằng của Thừa phát lại.

  1. Các tiêu chuẩn chung: Là công dân Pháp theo Bộ luật quốc tịch; chưa từng bị kết án hình sự hoặc bị áp dụng biện pháp kỷ luật; chưa từng thực hiện hành vi trái danh dự, vi phạm nguyên tắc trung thực hoặc thuần phong mỹ tục và chưa từng bị phá sản cá nhân.
  2. Các tiêu chuẩn về chuyên môn: Người muốn hành nghề TPL đã đáp ứng các điều kiện chung còn phải có bằng đại học theo quy định, tiến hành thực tập và thi đỗ kỳ thi sát hạch chuyên môn, trừ các trường hợp được miễn toàn bộ hoặc một phần các điều kiện này. Cụ thể:

Có bằng Master 1 về luật hoặc bằng tương đương và phải có bằng này trước khi bắt đầu thực tập. Thời gian thực tập hành nghề TPL là 02 năm và ít nhất một nửa thời gian thực tập được tiến hành tại một VP TPL và nửa còn lại tại một văn phòng công chứng, nhân viên bán đấu giá, luật sư tại Tòa án phúc thẩm, luật sư, kế toán, cơ quan hành chính nhà nước, bộ phận pháp chế và thuế của doanh nghiệp, có thể ở nước ngoài hoặc bên cạnh một tổ chức hành nghề pháp luật hoặc tư pháp chịu sự quản lý của Nhà nước. Khóa thực tập bao gồm hoạt động thực hành nghề nghiệp và các buổi học do Hội đồng TPL quốc gia tổ chức.

Thi đỗ kỳ thi sát hạch chuyên môn. Chỉ được tham gia kỳ thi sát hạch chuyên môn này nhiều nhất là 04 lần và nếu không thi đỗ ở lần thứ tư thì không được tiếp tục nộp hồ sơ nữa.

Quy chế nghề TPL quy định một số trường hợp được miễn một phần hoặc toàn bộ thời gian thực tập và kỳ thi sát hạch chuyên môn, thậm chí được miễn cả điều kiện về bằng cấp.

Ở Hoa Kỳ, để trở thành một TPL thì phải đáp ứng đầy đủ những điều kiện về tiêu chuẩn chung, tiêu chuẩn về chuyên môn và tiêu chuẩn về đạo đức. [54]

  1. Tiêu chuẩn chung: Là công dân Hoa Kỳ, trên 21 tuổi (tùy từng bang)
  2. Tiêu chuẩn về chuyên môn: Phải có ít nhất một bằng tốt nghiệp trung học hoặc tương đương. Được đào tao chuyên môn tại trường cao đẳng từ 02 đến 04 năm, trường dạy nghề hoặc học viện cảnh sát. Các môn học trong quá trình đào tạo liên quan đến các lĩnh vực như công lý, hình sự, thực thi pháp luật hoặc quyền công dân; các kỹ năng trong thực thi pháp luật và quản lý. Nếu làm việc làm ở cấp liên bang đòi hỏi bằng cử nhân cũng như kinh nghiệm làm việc liên quan.

Bên cạnh đó, vì làm việc liên quan đến hoạt động giữ an toàn trong phòng xử án, các TPL phải yêu cầu đào tạo kỹ năng sơ cứu, kỹ năng sử dụng súng và một số công cụ hỗ trợ an ninh. Luận văn: Thực trạng pháp luật về lập vi bằng của Thừa phát lại.

Tiêu chuẩn về đạo đức: Có tinh thần và thể chất phù hợp với người làm nghề thực thi pháp luật. Không có tiền án, tiền sự. TPL phải duy trì các chuẩn mực cao nhất về sự liêm chính cá nhân và không bao giờ nói dối người khác về khả năng của mình. TPL phải vượt qua một bài kiểm tra sát hạch theo quy định của liên bang và từng bang.

Ở Việt Nam, chế định TPL được nghiên cứu dựa trên cơ sở kế thừa, học hỏi kinh nghiệm quốc tế về TPL. Theo đó, tiêu chuẩn của TPL cũng có sự học hỏi nhất định đồng thời có sự điều chỉnh cho phù hợp với thực tiễn Việt Nam, cụ thể về tiêu chuẩn đối với TPL phải đáp ứng đủ những điều kiện về tiêu chuẩn chung và tiêu chuẩn về chuyên môn [15; Đ10]:

  1. Tiêu chuẩn chung: Là công dân Việt Nam, có sức khỏe, có phẩm chất đạo đức tốt; không có tiền án;
  2. Tiêu chuẩn về chuyên môn: Có bằng cử nhân luật; đã công tác trong ngành pháp luật trên 05 năm hoặc đã từng làm Thẩm phán, Kiểm sát viên, Luật sư, Chấp hành viên, Công chứng viên, Điều tra viên từ Trung cấp trở lên; có chứng chỉ hoàn thành lớp tập huấn về nghề TPL do BTP tổ chức; không kiêm nhiệm hành nghề Công chứng, Luật sư và những công việc khác theo quy định của pháp luật.

TPL ở Việt Nam được Bộ trưởng BTP bổ nhiệm dựa trên cơ sở đề nghị của Giám đốc Sở Tư pháp khi thấy người muốn được bổ nhiệm làm TPL có đầy đủ hồ sơ và điều kiện yêu cầu.

2.2. Thẩm quyền lập vi bằng Luận văn: Thực trạng pháp luật về lập vi bằng của Thừa phát lại.

Theo quy định tại Nghị định số 61/2009/NĐ-CP, thẩm quyền lập vi bằng của TPL được quy định như sau:

2.2.1. Thẩm quyền về mặt nội dung

Lập vi bằng là một lĩnh vực rất quan trọng, cho phép TPL tạo lập chứng cứ về một sự việc thực tế đã xảy ra theo yêu cầu trực tiếp của một cá nhân hoặc được Tòa án chỉ định tiến hành lập vi bằng nhằm cung cấp chứng cứ về một sự việc thực tế. Về nội dung của vi bằng, nhiều nước quy định theo hướng gợi mở, tức TPL được ghi nhận tất cả những nội dung mà không thuộc phạm vi cấm của pháp luật và đạo đức xã hội.

Theo khoản 1 Điều 25 Nghị định số 61/2009/NĐ-CP, TPL có quyền lập vi bằng đối với các sự kiện, hành vi theo yêu cầu của đương sự, trừ những trường hợp sau: i) các trường hợp quy định những việc TPL không được làm (Điều 6 Nghị định 61/2009/NĐ-CP); ii) các trường hợp vi phạm quy định về bảo đảm an ninh, quốc phòng, đời tư, đạo đức xã hội; iii) các trường hợp thuộc thẩm quyền công chứng của tổ chức hành nghề công chứng hoặc thuộc thẩm quyền chứng thực của UBND các cấp và iv) các trường hợp khác theo quy định của pháp luật.

Như vậy, việc lập vi bằng của TPL có phạm vi về mặt nội dung rất rộng. Bao gồm tất cả các sự kiện, hành vi đều có thể được lập vi bằng. Trừ các trường hợp cụ thể sau:

Một là, TPL không được nhận làm những việc liên quan đến quyền, lợi ích của bản thân và những người là người thân thích của mình, bao gồm: Vợ, chồng, con đẻ, con nuôi; cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, bác, chú, cậu, cô, dì và anh, chị, em ruột của TPL, của vợ hoặc chồng của TPL; cháu ruột mà TPL là ông, bà, bác, chú, cậu, cô, dì.

Việc pháp luật quy định trường hợp trên nhằm đảm bảo sự chính xác, trung thực và khách quan của TPL khi lập vi bằng, tránh trường hợp TPL vì có quyền, lợi ích liên quan đến bản thân và những người thân thích mà lập vi bằng ghi nhận sự kiện, hành vi sai sự thật, thiếu khách quan và trung thực. Luận văn: Thực trạng pháp luật về lập vi bằng của Thừa phát lại.

Hai là, các trường hợp vi phạm quy định về bảo đảm an ninh, quốc phòng

An ninh, quốc phòng được hiểu là sự ổn định, phát triển bền vững của chế độ xã hội chủ nghĩa và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, sự bất khả xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. Bảo vệ an ninh, quốc phòng là sự nghiệp của toàn dân. Cơ quan, tổ chức, công dân có trách nhiệm, nghĩa vụ bảo vệ an ninh, quốc phòng theo quy định của pháp luật.

Để hướng dẫn TPL thực hiện quy định trên, BTP đã ban hành Công văn số 4003/BTP-TCTHADS ngày 19/9/2014 hướng dẫn một số nội dung liên quan đến hoạt động lập vi bằng của TPL. Theo đó, khi lập vi bằng TPL lưu ý:

Không lập vi bằng các trường hợp vi phạm các quy định về bảo đảm an ninh, quốc phòng theo quy định của pháp luật về an ninh, quốc phòng, như: Việc lập vi bằng xâm phạm mục tiêu về an ninh, quốc phòng; làm lộ bí mật nhà nước, phát tán tin tức, tài liệu, vật phẩm thuộc bí mật nhà nước; vi phạm quy định ra, vào, đi lại trong khu vực cấm, khu vực bảo vệ, vành đai an toàn của công trình quốc phòng và khu vực quân sự; vi phạm quy định về bảo vệ bí mật, bảo vệ công trình quốc phòng và khu quân sự.

Các nội dung trên được các văn bản luật chuyên ngành quy định cụ thể về việc các tổ chức và cá nhân phải có trách nhiệm thực hiện, việc vi phạm các quy định trong các lĩnh vực này sẽ phải chịu các chế tài theo quy định của pháp luật.

Ba là, việc lập vi phạm của Thừa phát lại phải đảm bảo nguyên tắc tôn trọng bí mật đời tư của cá nhân theo quy định của Bộ luật Dân sự

Về quyền đối với bí đời tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình được tôn trọng và pháp luật bảo vệ. Theo quy định tại Điều 38 BLDS năm 2015 Quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình đã khẳng định “Đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình là bất khả xâm phạm và được pháp luật bảo vệ”, “Thư tín, điện thoại, điện tín, cơ sở dữ liệu điện tử và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác của cá nhân được bảo đảm an toàn và bí mật” “Các bên trong hợp đồng không được tiết lộ thông tin về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình của nhau mà mình đã biết được trong quá trình xác lập, thực hiện hợp đồng”. Luận văn: Thực trạng pháp luật về lập vi bằng của Thừa phát lại.

Căn cứ quy định của BLDS, TPL trong khi thực hiện việc lập vi bằng phải tôn trọng và bảo đảm quyền đối với đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình của cá nhân theo quy định. Cụ thể được chia thành 06 nhóm cơ bản sau:

  • Nhóm 1: Các hành vi tự ý bóc, mở, đọc, nghe trộm các thông tin bí mật đời tư của người khác như: thư tín, điện tín, điện thoại, nhật ký, cuộc hẹn, di chúc…
  • Nhóm 2: Các hành vi sử dụng các phương tiện điện tử để quay phim, chụp ảnh, ghi âm… nhằm khai thác thông tin cá nhân của người khác khi không được họ đồng ý.
  • Nhóm 3: Các hành vi tiết lộ thông tin của người khác trên các phương tiện thông tin đại chúng như: tivi, báo, mạng internet…
  • Nhóm 4: Các hành vi tự ý lưu giữ, sao chép các thông tin bí mật đời tư của người khác.
  • Nhóm 5: Các hành vi mua bán, trao đổi những thông tin, tư liệu đời tư của người khác.
  • Nhóm 6: Các hành vi xâm nhập và lấy cắp những thông tin cá nhân của người khác. [53]

Việc vi phạm quy định về bảo vệ bí mật đời tư trong lập vi bằng khi chưa được cá nhân cho phép có thể gây tổn hại về mặt tinh thần hay vật chất của người khác trong hiện tại hoặc tương lai. Do đó, pháp luật đã quy định đây là một trong những trường hợp TPL không được lập vi bằng, nhằm bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của cá nhân. Nếu TPL lập vi bằng đối với những sự kiện, hành vi vi phạm bí mật dời tư sẽ dẫn đến hậu quả vi bằng không có hiệu lực pháp lý và người lập vi bằng sẽ phải chịu trách nhiệm trước pháp luật.

Ngoài được quy định tại BLDS, bảo đảm bí mật đời tư hay quyền riêng tư của cá nhân còn được các công ước quốc tế và pháp luật của nhiều một số quốc gia quy định. Trong Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền năm 1948 (UDHR), Điều 12 ghi nhận: “Không ai phải chịu sự can thiệp một cách tùy tiện vào cuộc sống riêng tư, gia đình, nơi ở hoặc thư tín, cũng như bị xúc phạm danh dự hoặc uy tín cá nhân; mọi người đều có quyền được pháp luật bảo vệ chống lại sự can thiệp và xâm phạm như vậy”.

Trong Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (ICCPR), Điều 17 nêu rằng: “Không ai bị can thiệp một cách tùy tiện hoặc bất hợp pháp vào đời sống riêng tư, gia đình, nhà ở, thư tín, hoặc bị xâm phạm bất hợp pháp đến danh dự và uy tín. Mọi người đều có quyền được pháp luật bảo vệ chống lại những can thiệp hoặc xâm phạm như vậy”.

Như vậy, về cơ bản, Tuyên ngôn UDHR và Công ước ICCPR đều ghi nhận mỗi người đều được bảo vệ về những điều riêng tư trong đời sống cá nhân, gia đình, nơi ở và thư tín. Cả hai văn bản này đều có hiệu lực trên lãnh thổ Việt Nam, mỗi cá nhân đều được Nhà nước Việt Nam bảo vệ quyền riêng tư này. Luận văn: Thực trạng pháp luật về lập vi bằng của Thừa phát lại.

Nội luật hóa Tuyên ngôn UDHR và Công ước ICCPR, tại Điều 21 Hiến pháp 2013 ghi nhận “1. Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân và bí mật gia đình; có quyền bảo vệ danh dự, uy tín của mình” “2. Mọi người có quyền bí mật thư tín, điện thoại, điện tín và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác”.

Bốn là, các trường hợp thuộc thẩm quyền công chứng của tổ chức hành nghề công chứng hoặc thuộc thẩm quyền chứng thực của UBND các cấp Nghị định 135/2013/NĐ-CP ngày 18/10/2013 có nhiều nội dung thay đổi quan trọng liên quan đến hoạt động lập vi bằng, đáng chú ý là phạm vi thẩm quyền lập vi bằng bị thu hẹp hơn so với Nghị định 61/2009/NĐ-CP, tức là bổ sung quy định TPL không được lập vi bằng “các trường hợp thuộc thẩm quyền công chứng của tổ chức hành nghề công chứng hoặc thuộc thẩm quyền chứng thực của Ủy ban nhân dân các cấp”.

Để hướng dẫn TPL thực hiện quy định trên, BTP đã ban hành Công văn số 1128/BTP-TCTHADS ngày 18/01/2014 và Công văn số 4003/BTP-TCTHADS ngày 19/9/2014 hướng dẫn một số nội dung liên quan đến hoạt động lập vi bằng của TPL. Theo đó, để việc lập vi bằng không chồng chéo với hoạt động công chứng chứng thực, lợi dụng việc lập vi bằng để thực hiện các giao dịch mà pháp luật không cho phép, TPL cần chú ý:

  • Không lập vi bằng để chứng nhận tính xác thực, tính hợp pháp của hợp đồng, giao dịch; không xác nhận chữ ký, bản sao từ bản chính (là những việc thuộc thẩm quyền công chứng của tổ chức hành nghề công chứng hoặc thuộc thẩm quyền chứng thực của UBND các cấp).
  • Không lập vi bằng các sự kiện, hành vi nhằm thực hiện các giao dịch trái pháp luật của người yêu cầu lập vi bằng trừ trường hợp sự kiện, hành vi trái pháp luật do người khác thực hiện ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của người yêu cầu lập vi bằng.

2.2.2. Thẩm quyền lập vi bằng theo địa bàn Luận văn: Thực trạng pháp luật về lập vi bằng của Thừa phát lại.

Trên thế giới hiện tổ chức thẩm quyền lập vi bằng về mặt không gian theo 03 mô hình chủ yếu [54], gồm:

Thứ nhất, mô hình quy định hoạt động Thừa phát lại chỉ trong một phạm vi địa hạt nhất định. TPL chỉ được phép tiến hành hoạt động trong phạm vi địa hạt là nơi đăng ký và đặt trụ sở của TPL. Địa hạt của TPL thường được tính theo thẩm quyền xét xử của Tòa án. Theo mô hình này có nhiều nước như: Ba lan, Estonia, Latvia, Tây Ban Nha, Pháp, Hungary, Hy Lạp. Ở các nước này, thẩm quyền của tổ chức TPL được tính theo thẩm quyền của Tòa án nơi đăng ký hoạt động của TPL nhằm hỗ trợ hoạt động của cơ quan Tòa án.

Thứ hai, mô hình quy định hoạt động Thừa phát lại có hiệu lực trên phạm vi toàn quốc. TPL có thẩm quyền tiến hành các hoạt động của mình trên phạm vi toàn lãnh thổ quốc gia mà không phụ thuộc vào nơi đăng ký hành nghề hay thẩm quyền của cơ quan Tòa án. Theo mô hình này có một số quốc gia như: Cộng hòa Séc, Slovakia, Hà lan.

Thứ ba, mô hình hỗn hợp. Có 02 loại TPL với 02 loại thẩm quyền khác nhau. TPL của Tòa án cấp cao thì có thẩm quyền hoạt động trên phạm vi lãnh thổ cả nước. Còn TPL của Tòa án cấp quận thì theo thẩm quyền địa hạt của Tòa án. Theo mô hình này có các nước như: Anh Quốc và Xứ Wales. Ví dụ như Vương quốc Anh, các TPL của Tòa cấp cao (High court enforcement officers) có thẩm quyền trên phạm vi toàn quốc còn các TPL thuộc Tòa án quận (County court bailiff) thì hạn chế theo thẩm quyền của Tòa án quận (County Court) chủ quản.

Tương tự như mô hình thứ nhất, TPL ở Việt Nam được tổ chức theo mô hình trong một phạm vi địa hạt nhất định, theo đó, TPL được lập vi bằng các sự kiện, hành vi xảy ra trên địa bàn tỉnh/thành phố trực thuộc Trung ương nơi đặt VP TPL. Việc quy định về phạm vi lập vi bằng tại tỉnh/thành phố trực thuộc Trung ương, nơi đặt VP TPL với những lý do sau:

Một là, trong thời gian thí điểm TPL, đội ngũ TPL còn mỏng, trình độ chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp còn hạn chế. Trong khi đó, việc tập huấn, đào tạo kỹ năng nghề nghiệp còn chưa đầy đủ do vậy, việc mở rộng phạm vi lập vi bằng ra ngoài địa bàn tỉnh/thành phố chưa được tính đến với mong muốn các TPL dần dần hoàn thiện kỹ năng và hiểu biết, vận dụng đúng đắn các quy định về thẩm quyền.

Hai là, kinh nghiệm nhiều nước cho thấy hoạt động của TPL thường được quy định theo địa hạt thẩm quyền nhất định do TPL ở hầu hết các nước gắn với việc hỗ trợ hoạt động của Tòa án nên thường được quy định theo thẩm quyền địa hạt của Tòa án.

2.3. Trình tự thủ tục lập vi bằng Luận văn: Thực trạng pháp luật về lập vi bằng của Thừa phát lại.

Việc lập vi bằng của TPL được tiến hành thông qua các bước cơ bản sau đây [54]:

  • Bước 1. Tiếp nhận yêu cầu lập vi bằng

Thông thường khi có nhu cầu lập vi bằng, khách hàng sẽ phải đến VP TPL. Tại đây họ trình bày các yêu cầu của mình và có thể được TPL hoặc thư ký nghiệp vụ TPL tư vấn về một số quy định pháp luật có liên quan đến vi bằng mà khách hàng muốn lập. Sau đó, khách hàng điền nội dung yêu cầu lập vi bằng vào Phiếu yêu cầu lập vi bằng (theo mẫu). Thư ký nghiệp vụ có trách nhiệm kiểm tra tính hợp pháp của nội dung yêu cầu lập Vi bằng và trình TPL được phân công theo dõi vụ việc quyết định.

Thư ký nghiệp vụ đề nghị khách hàng điền vào Phiếu cung cấp thông tin (theo mẫu) những thông tin cần thiết liên quan đến việc lập vi bằng.

Trường hợp khách hàng yêu cầu lập vi bằng thông qua các phương tiện thông tin khác thì Phiếu yêu cầu lập vi bằng, Phiếu cung cấp thông tin sẽ được thực hiện tại nơi khách hàng yêu cầu.

Trường hợp có nhiều tổ chức, cá nhân yêu cầu một VP TPL lập vi bằng về một sự kiện hoặc hành vi (Ví dụ: Các thành viên Hội đồng quản trị đều có yêu cầu lập vi bằng xác nhận việc tổ chức cuộc họp của Đại hội cổ đông công ty cổ phần) thì theo tinh thần chung, VP TPL làm các thủ tục tiếp nhận yêu cầu, ký hợp đồng với từng tổ chức, cá nhân có yêu cầu đồng thời thực hiện việc lập và cung cấp vi bằng theo quy trình chung.

  • Bước 2. Thỏa thuận về việc lập vi bằng

Cá nhân, tổ chức muốn lập vi bằng về các sự kiện, hành vi phải thỏa thuận với Trưởng VP TPL về việc lập vi bằng. Thỏa thuận được lập thành biên bản với các nội dung chủ yếu sau:

  • Nội dung cần lập vi bằng: Đó là các sự kiện, hành vi hay chuỗi hành vi liên quan đến sự kiện nào đó mà TPL phải tiến hành lập vi bằng.
  • Địa điểm, thời gian lập vi bằng: Là không gian, địa điểm, thời gian nơi xảy ra sự kiện, hành vi mà TPL thực hiện việc lập vi bằng. Luận văn: Thực trạng pháp luật về lập vi bằng của Thừa phát lại.

Hiện pháp luật không có quy định cụ thể về việc TPL được lập vi bằng trong một số trường hợp đặc biệt như: lập vào ban đêm, lập tại nhà của người khác,… quá trình hoàn thiện chế định TPL có thể sẽ cho phép việc lập vi bằng trong một số trường hợp đặc biệt nếu như không lập vi bằng thì có thể bị xóa chứng cứ, dấu vết làm mất chứng cứ,… tuy nhiên, nên hạn chế tối đa việc lập vi bằng trong một số trường hợp trên.

Chi phí lập vi bằng: Là phần kinh phí mà người đề nghị lập vi bằng phải thanh toán cho Mức kinh phí này theo thỏa thuận giữa TPL và người đề nghị nhưng không vượt quá mức mà pháp luật quy định đối với từng công việc cụ thể. Ngoài ra thì TPL có thể thỏa thuận với người đề nghị hỗ trợ một số chi phí hợp lý khác như chi phí vận chuyển, chi phí đi lại, chi phí bồi dưỡng cho người làm chứng,…

Theo quy định tại khoản 1 điều 16 Thông tư liên tịch số 09/2014/TTLT-BTP-TANDTC-VKSNDTC-BTC ngày 28/02/2014 hướng dẫn thực hiện thí điểm chế định TPL theo Nghi quyết số 36/2012/QH13 ngày 23/11/2012 của Quốc hội thì: VP TPL quy định và niêm yết công khai khung giá về chi phí lập vi bằng và xác minh điều kiện thi hành án, trong đó xác định rõ mức tối đa, mức tối thiểu, nguyên tắc tính. Trên cơ sở khung giá đã niêm yết, người yêu cầu và VP TPL thỏa thuận về chi phí thực hiện theo công việc hoặc theo giờ làm việc và các khoản chi phí thực tế phát sinh gồm: chi phí đi lại; phí dịch vụ cho các cơ quan cung cấp thông tin; chi phí cho người làm chứng, người tham gia hoặc chi phí khác (nếu có).

  • Các thỏa thuận khác (nếu có): Các bên có thể thỏa thuận thêm về một số nội dung như trường hợp đơn phương chấm dứt hợp đồng, tình trạng bất khả kháng, quyền lợi của người thứ ba có liên quan,…

Văn bản về việc thỏa thuận lập vi bằng được lập thành 02 bản, mỗi bên giữ 01 bản. Người yêu cầu phải cung cấp các thông tin và các tài liệu liên quan đến việc lập vi bằng (nếu có) để đảm bảo việc lập vi bằng được khách quan, chính xác. Nếu thông tin và tài liệu cung cấp không đầy đủ, không chính xác (như xác định sai ranh giới đất), dẫn đến việc lập vi bằng của TPL không đúng thì người yêu cầu phải hoàn toàn chịu trách nhiệm về những sai sót đó.

Hiện nay trên thực tế có một vấn đề phát sinh đó là việc lập vi bằng đối với những sự kiện, hành vi xảy ra “đột xuất, bất ngờ”. Theo quy định thì quyền lập vi bằng phát sinh khi VP TPL và đương sự có thỏa thuận về việc lập vi bằng. Hình thức thỏa thuận được thể hiện bằng văn bản dưới dạng hợp đồng ký kết giữa Trưởng VP TPL và đương sự. Tuy nhiên, nếu quy định cứng như vậy thì việc lập vi bằng đối với những sự kiện, hành vi “đột xuất, bất ngờ” gặp khó khăn. Khi đó nếu cứ phải đợi thống nhất về các điều khoản hợp đồng thì việc lập vi bằng sẽ khó đáp ứng được tính kịp thời. Ví dụ như lập vi bằng về hành vi vi phạm luật giao thông; lập vi bằng về một vụ tai nạn giao thông. [54]

Trong trường hợp trên pháp luật nên cho phép và công nhận “thỏa thuận miệng” giữa hai bên. Tức là khi phát sinh tình huống khẩn cấp cần lập vi bằng, đương sự có thể đề nghị TPL đến lập vi bằng ngay mà chưa cần phải ký biên bản thỏa thuận. Việc ký biên bản thỏa thuận (hợp đồng) sẽ được hoàn tất ngay sau khi lập vi bằng. Nếu sau đó hai bên không thống nhất được các điều khoản cơ bản của hợp đồng thì TPL có thể hủy kết quả lập vi bằng.

  • Bước 3. Tiến hành lập vi bằng Luận văn: Thực trạng pháp luật về lập vi bằng của Thừa phát lại.

Vi bằng (theo mẫu) có thể được lập tại VP TPL hoặc tại nơi mà khách hàng yêu cầu đối với các sự kiện, hành vi mà TPL trực tiếp chứng kiến. Trong trường hợp cần thiết hoặc theo yêu cầu của khách hàng, TPL có quyền mời người làm chứng, chứng kiến việc lập vi bằng hoặc yêu cầu nhà chuyên môn tham gia vào việc lập vi bằng.

TPL sẽ mô tả cụ thể sự kiện, hành vi cần ghi nhận; tiến hành đo đạc, chụp ảnh, quay phim,… trung thực, khách quan trong vi bằng.

Do vi bằng chỉ ghi nhận những sự kiện, hành vi mà TPL trực tiếp chứng kiến. Do vậy, việc lập vi bằng phải do chính TPL thực hiện. Thư ký nghiệp vụ TPL có thể giúp TPL thực hiện việc lập vi bằng, nhưng TPL phải chịu trách nhiệm về vi bằng do mình thực hiện.

Ở đây cũng cần lưu ý là trong trường hợp Thư ký nghiệp vụ giúp TPL lập vi bằng phải được hiểu đây là sự hỗ trợ TPL trong một số việc như lập biên bản về sự việc dưới sự chứng kiến của TPL, in sao, thu thập tài liệu liên quan đến việc lập vi bằng. TPL chỉ được lập và ký vào vi bằng về những sự kiện, hành vi mà họ chứng kiến chứ không phải những sự kiện, hành vi mà chỉ có Thư ký nghiệp vụ chứng kiến, TPL chỉ nghe kể lại hoặc mô tả lại.

Vi bằng lập thành 03 bản chính: 01 bản giao người yêu cầu; 01 bản gửi Sở Tư pháp tỉnh/thành phố trực thuộc Trung ương để đăng ký trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày lập vi bằng; 01 bản lưu trữ tại VP TPL theo quy định của pháp luật về chế độ lưu trữ đối với văn bản công chứng. Trong trường hợp có sai sót về kỹ thuật trong khi ghi chép, đánh máy, in ấn vi bằng mà việc sửa chữa không làm ảnh hưởng đến tính xác thực của vi bằng thì TPL được sửa lỗi đó. Việc sửa chữa lỗi kỹ thuật của vi bằng phải được thực hiện bằng văn bản, do TPL lập, ký và đóng dấu của VP TPL.

Trong trường hợp vi bằng đã được giao cho người yêu cầu và đăng ký tại Sở Tư pháp thì TPL phải thông báo bằng văn bản việc sửa chữa lỗi kỹ thuật cho người yêu cầu và Sở Tư pháp biết. Sở Tư pháp phải có văn bản thông báo việc chấp nhận hoặc không chấp nhận việc sửa đổi, bổ sung cho TPL và người yêu cầu biết.

Trước khi ký vào vi bằng, TPL tự mình kiểm tra lại giấy tờ tùy thân của khách hàng, người tham gia trong vi bằng, người làm chứng,… và yêu cầu những người tham gia, chứng kiến, người yêu cầu lập vi bằng ký tên vào vi bằng.

Vi bằng được cấp số theo thứ tự thời gian, ghi vào sổ theo dõi vi bằng và được lập thành 03 bản chính. Trong thời hạn không quá 02 ngày làm việc kể từ ngày nhận được vi bằng, Sở Tư pháp phải vào sổ đăng ký vi bằng TPL. Vi bằng phải đảm bảo các yêu cầu sau: Luận văn: Thực trạng pháp luật về lập vi bằng của Thừa phát lại.

Vi bằng lập thành văn bản viết bằng tiếng Việt và có các nội dung chủ yếu như: Tên, địa chỉ VP TPL; Họ, tên TPL lập vi bằng; Địa điểm, giờ, ngày, tháng, năm lập vi bằng; Người tham gia khác (nếu có); Họ, tên, địa chỉ người yêu cầu lập vi bằng và nội dung yêu cầu lập vi bằng; Nội dung cụ thể của sự kiện, hành vi được ghi nhận; Lời cam đoan của TPL về tính trung thực và khách quan trong việc lập vi bằng; Chữ ký của TPL lập vi bằng và đóng dấu VP TPL; Chữ ký của những người tham gia, chứng kiến (nếu có) và có thể có chữ ký của những người có hành vi bị lập vi bằng.

Kèm theo vi bằng có thể có hình ảnh, băng hình và các tài liệu chứng minh khác. Những tài liệu này về nguyên tắc cũng phải được thu thập một cách hợp pháp và đảm bảo các yêu cầu về mặt nội dung, hình thức. Việc lưu trữ, bảo quản các tài liệu này do VP TPL thực hiện theo các quy định hiện hành về lưu trữ hồ sơ, tài liệu và chứng cứ.

  • Bước 4. Đăng ký vi bằng

Theo quy định hiện hành, vi bằng của TPL sau khi lập xong phải thực hiện thủ tục đăng ký tại Sở Tư pháp trong thời hạn 02 ngày làm việc kể từ ngày lập. Trước đây, khi chế định TPL chỉ mới đang thực hiện thí điểm tại Thành phố Hồ Chí minh trên cơ sở Nghị định số 61/2009/NĐ-CP thì thủ tục đăng ký vi bằng khá đơn giản. Các VP TPL khi đã lập vi bằng xong thì chỉ cần nộp 01 bản chính vi bằng lên Sở Tư pháp để xác nhận đã đăng ký đúng hạn. Tuy nhiên, khi mà Chính phủ quyết định mở rộng phạm vi thí điểm ra thêm 12 tỉnh/thành phố trực thuộc Trung ương khác trên cả nước và ban hành Nghị định 135/2013/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung Nghị định 61/2009/NĐ-CP về TPL thì việc đăng ký vi bằng có sự thay đổi theo hướng chặt chẽ hơn. Theo đó, Sở Tư pháp có quyền từ chối đăng ký vi bằng của TPL nếu phát hiện thấy việc lập vi bằng không đúng thẩm quyền, không thuộc phạm vi lập vi bằng theo quy định hoặc vi bằng đăng ký không đúng hạn.

  • Nghị định 135/2013/NĐ-CP ngày 18/10/2013 sửa đổi Nghị định 61/2009/NĐ-CP quy định rõ hơn:

“Trong thời hạn không quá 02 ngày làm việc kể từ ngày nhận được vi bằng, Sở Tư pháp phải vào sổ đăng ký vi bằng Thừa phát lại. Sở Tư pháp có quyền từ chối đăng ký nếu phát hiện thấy việc lập vi bằng không đúng thẩm quyền, không thuộc phạm vi lập vi bằng theo quy định tại Điều 25 của Nghị định này; vi bằng không được gửi đúng thời hạn để đăng ký theo quy định tại khoản 4, Điều 26 của Nghị định này. Việc từ chối phải được thông báo ngay bằng văn bản cho Văn phòng Thừa phát lại và người yêu cầu lập vi bằng trong đó nêu rõ lý do từ chối đăng ký.

Vi bằng được coi là hợp lệ khi được đăng ký tại Sở Tư pháp”.

  • Bước 5. Thanh lý thỏa thuận lập vi bằng, cấp bản sao vi bằng

Sau khi hoàn thành việc lập vi bằng, TPL phải giao cho người yêu cầu 01 bản chính. Khi giao vi bằng, TPL hoặc thư ký nghiệp vụ đề nghị khách hàng ký vào sổ bàn giao vi bằng và thanh lý thỏa thuận lập vi bằng.

Trường hợp VP TPL giải thể thì VP TPL phải thanh lý các hợp đồng đã ký kết. Đối với những vi bằng đã được lập thì VP TPL phải tiếp tục hoàn thành việc đăng ký với Sở Tư pháp trước khi hoàn tất hồ sơ về việc giải thể.

Theo công văn số 247/BTTP-TPL ngày 28/3/2017 của Cục Bổ trợ tư pháp, BTP gửi Sở Tư pháp Thành phố Hồ Chí Minh hướng dẫn về việc cấp bản sao vi bằng thì trong thời gian chờ Nghị định thay thế Nghị định số 61/2009/NĐ-CP và Nghị định số 135/2013/NĐ-CP, trước mắt, để đáp ứng yêu cầu của cá nhân, tổ chức, việc cấp bản sao vi bằng của VP TPL sẽ được thực hiện theo quy định của Nghị định số 23/2015/NĐ-CP ngày 16/02/2015 của Chính phủ về cấp bản sao từ sổ gốc, chức thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký và chứng thực hợp đồng giao dịch. Theo đó, việc cấp bản sao vi bằng do VP TPL đang lưu trữ bản chính vi bằng đó có thẩm quyền và trách nhiệm cấp bản sao từ sổ gốc. Việc cấp bản sao từ sổ gốc được thực hiện đồng thời với việc cấp bản chính hoặc sau thời điểm cấp bản chính.

2.4. Vấn đề quản lý nhà nước về lập vi bằng Luận văn: Thực trạng pháp luật về lập vi bằng của Thừa phát lại.

Theo quy định, Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về TPL. BTP giúp Chính phủ quản lý nhà nước về TPL và có các nhiệm vụ, quyền hạn sau đây [15; Đ8]:

  • Ban hành theo thẩm quyền và đề nghị cơ quan có thẩm quyền ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về TPL;
  • Hướng dẫn nghiệp vụ, kiểm tra, thanh tra hoạt động TPL;
  • Bồi dưỡng, đào tạo TPL;
  • Bổ nhiệm, miễn nhiệm TPL; cấp, thu hồi thẻ TPL;
  • Giải quyết khiếu nại, tố cáo về hoạt động của TPL theo quy định của pháp luật.

Ở địa phương, UBND tỉnh/thành phố trực thuộc Trung ương quản lý nhà nước về TPL tại địa phương và có các nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:

  • Quy hoạch, phát triển nghề TPL ở địa phương; tuyên truyền, phổ biến pháp luật về TPL;
  • Cho phép thành lập, giải thể VP TPL;
  • Chỉ đạo kiểm tra, thanh tra, xử lý vi phạm và giải quyết khiếu nại, tố cáo đối với hoạt động của TPL.

Sở Tư pháp giúp UBND tỉnh/thành phố trực thuộc Trung ương quản lý nhà nước về TPL tại địa phương và có các nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:

  • Tiếp nhận hồ sơ, thực hiện các thủ tục trình Bộ trưởng BTP bổ nhiệm, miễn nhiệm TPL;
  • Tiếp nhận hồ sơ, thực hiện thủ tục trình UBND tỉnh/thành phố trực thuộc Trung ương cho phép thành lập, giải thể VP TPL;
  • Cấp, thu hồi giấy đăng ký hoạt động của VP TPL;
  • Kiểm tra, thanh tra hoạt động của TPL;
  • Giải quyết khiếu nại, tố cáo đối với hoạt động của TPL theo quy định của pháp luật.

Để đảm bảo chất lượng của vi bằng và trật tự quản lý nhà nước đối với hoạt động lập vi bằng, vai trò quản lý của Nhà nước thể hiện rõ nét ở việc kiểm soát thông qua hoạt động đăng ký vi bằng tại Sở Tư pháp.

2.5. Trách nhiệm pháp lý của Thừa phát lại trong việc lập và sử dụng vi bằng

Theo quy định tại Điều 28 của Nghị định số 61/2009/NĐ-CP quy định về hoạt động tổ chức Thừa phát lại, vi bằng có giá trị chứng cứ để Tòa án xem xét khi giải quyết vụ án và vi bằng là căn cứ để thực hiện các giao dịch hợp pháp khác theo quy định của pháp luật. Luận văn: Thực trạng pháp luật về lập vi bằng của Thừa phát lại.

Theo quy định này, vi bằng của TPL ghi nhận hành vi trao đổi, giao dịch tiền, giao nhận giấy tờ, đồng thời, vi bằng có giá trị là nguồn chứng cứ trong giải quyết các vụ án dân sự khi có tranh chấp xảy ra hoặc là căn cứ để thực hiện các giao dịch hợp pháp khác. Vi bằng không có giá trị thay thế cho công chứng hoặc chứng thực.

Trong thời gian vừa qua, có một số trường hợp người dân hiểu nhầm về giá trị của vi bằng do TPL lập dẫn đến tình trạng sử dụng vi bằng để thực hiện các giao dịch pháp lý không đúng theo trình tự, thủ tục do quy định của pháp luật đối với các giao dịch đó (như: mua bán nhà, chuyển nhượng quyền sử dụng đất…). Do vậy, trong những trường hợp này, trách nhiệm của TPL là phải giải thích đầy đủ cho các đương sự khi đến lập vi bằng để họ hiểu rõ được giá trị pháp lý của vi bằng.

Thực tế, việc lập vi bằng ở một số địa phương cũng còn có những bất cập, trong đó tại một số địa phương có tình trạng lập vi bằng không đúng phạm vi, thẩm quyền, vi phạm hoạt động công chứng, chứng thực, còn có trường hợp chạy theo lợi nhuận. Đây cũng là lý do trong thời gian thí điểm tổ chức TPL, khiến Sở Tư pháp ở một số địa phương phải từ chối đăng ký đối với một số vi bằng khi phát hiện vi bằng được lập có nội dung thuộc phạm vi công chứng, chứng thực hoặc những trường hợp lập vi bằng nhưng TPL không trực tiếp chứng kiến vụ việc hay hành vi [29].

Trong trường hợp vi bằng do TPL lập không đúng sự thật khách quan, không đúng trình tự, thủ tục do pháp luật quy định, kể cả do lỗi chủ quan hoặc khách quan thì vi bằng đó không có giá trị pháp lý. Khi có sự tranh chấp, kiện tụng đối với vi bằng do TPL lập thì Tòa án có thẩm quyền xem xét, nếu phát hiện thấy nội dung vi bằng có vi phạm pháp luật, hoặc không đúng sự thật khách quan thì Tòa án có quyền tuyên bố bác bỏ một phần hoặc toàn bộ nội dung vi bằng mà TPL đã lập. Việc lập vi bằng vi phạm thẩm quyền và gây thiệt hại cho nhà nước hoặc khách hàng thì TPL phải chịu trách nhiệm trước pháp luật và phải bồi thường thiệt hại (nếu có) theo quy định tại khoản 2 Điều 20 Nghị định 61/2009/NĐ-CP.

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2

Theo pháp luật Việt Nam hiện hành, căn cứ Nghị định số 61/2009/NĐ-CP ngày 24/7/2009 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của Thừa phát lại thực hiện thí điểm tại Thành phố Hồ Chí Minh được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 135/2013/NĐ-CP ngày 18/10/2013, chủ thể có thẩm quyền lập vi bằng hiện nay duy nhất chỉ có TPL – người có đủ tiêu chuẩn, kỹ năng nghiệp vụ được Nhà nước bổ nhiệm.

Khi thực hiện công việc lập vi bằng, TPL phải tuân thủ đúng quy định về phạm vi thẩm quyền, cụ thể phải đảm bảo các yêu cầu về mặt nội dung và theo địa bàn hoạt động của TPL. Để đảm bảo chất lượng của vi bằng, TPL phải có trách nhiệm tuân thủ trách nhiệm nghề nghiệp, không lập các vi bằng vi phạm quy định của pháp luật, đồng thời, có nhiệm vụ giải thích, hướng dẫn người dân nói chung và khách hàng của mình nói riêng để họ hiểu rõ được giá trị pháp lý của vi bằng, góp phần nâng cao nhận thức, đưa chế định vi bằng gần với người dân. Luận văn: Thực trạng pháp luật về lập vi bằng của Thừa phát lại.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:  

===>>> Luận văn: Thực tiễn quy định về lập vi bằng của Thừa phát lại

One thought on “Luận văn: Thực trạng pháp luật về lập vi bằng của Thừa phát lại

  1. Pingback: Luận văn: Chế định lập vi bằng của Thừa phát lại theo pháp luật

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464