Luận văn: Chế định lập vi bằng của Thừa phát lại theo pháp luật

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Chế định lập vi bằng của Thừa phát lại theo pháp luật hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Chế định lập vi bằng của Thừa phát lại theo pháp luật Việt Nam hiện hành dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài và tình hình nghiên cứu

Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế mạnh mẽ, sự phát triển của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, dân chủ hóa đời sống xã hội và các mối quan hệ cơ bản được pháp luật dân sự điều chỉnh (dân sự, thương mại, lao động, hôn nhân và gia đình,…) theo đó phát triển đa chiều và phức tạp, tuy nhiên, dễ nảy sinh những mâu thuẫn, tranh chấp về lợi ích của các chủ thể tham gia quan hệ, điều này dẫn đến nhu cầu tất yếu đó là các dịch vụ pháp lý như Luật sư, Công chứng, Trọng tài thương mại, Giám định tư pháp,… có cơ hội phát triển mạnh mẽ.

Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị “Về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới” và Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị “Về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020” đặt ra nhiều nhiệm vụ quan trọng nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật, trong đó, nhấn mạnh: “… hoàn thiện các thủ tục tố tụng tư pháp, bảo đảm tính đồng bộ, dân chủ, công khai, minh bạch, tôn trọng và bảo vệ quyền con người”, đặc biệt “Tiếp tục hoàn thiện thủ tục tố tụng dân sự. Nghiên cứu thực hiện và phát triển các loại hình dịch vụ từ phía nhà nước để tạo điều kiện cho các đương sự chủ động thu thập chứng cứ chứng minh, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình”.

Tại kỳ họp thứ 6 Quốc hội khóa XIII, Hiến pháp năm 2013 đã được thông qua, trong đó, lần đầu tiên trong lịch sử lập Hiến có sự ghi nhận “nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được đảm bảo” (khoản 5 Điều 103 Hiến pháp 2013), cho thấy hoạt động tranh tụng đã được nhận thức dưới góc độ mở rộng, không chỉ là những hoạt động diễn ra tại phiên tòa mà còn bao gồm tại các giai đoạn tố tụng khác. Mặc dù vậy, pháp luật hiện hành vẫn chưa có một cơ chế hữu hiệu, cụ thể để cá nhân, tổ chức thu thập, xác lập được các chứng cứ nhằm chủ động bảo vệ quyền lợi của mình, góp phần đảm bảo nguyên tắc tranh tụng trong xét xử. Việc các cá nhân tổ chức tự mình thu thập chứng cứ còn gặp nhiều khó khăn, ngoài ra, văn bản ghi nhận giữa các cá nhân, tổ chức tự xác lập đôi khi không đủ giá trị pháp lý và độ tin cậy. Sự tái thiết lập cơ chế, tổ chức hoạt động của Thừa phát lại (TPL) với chức năng lập vi bằng có giá trị là nguồn chứng cứ là nhu cầu cần thiết của xã hội, giúp các bên đương sự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, tránh xảy ra các tranh chấp trong tương lai, trong trường hợp có xảy ra tranh chấp thì vi bằng của TPL sẽ là căn cứ để các cơ quan tài phán xem xét, giải quyết vụ việc một cách khách quan, đúng pháp luật, từ đó góp phần tạo môi trường pháp lý lành mạnh, đảm bảo các giao dịch dân sự, kinh tế đúng pháp luật, thúc đẩy kinh tế – xã hội phát triển.

Thể chế hóa chủ trương Nghị quyết 49-NQ/TW, ngày 14/11/2008 Quốc hội khóa XII đã ban hành Nghị quyết số 24/2008/QH12 về thi hành Luật Thi hành án dân sự, trong đó quy định: “Để triển khai thực hiện chủ trương xã hội hóa một số công việc có liên quan đến thi hành án dân sự, giao Chính phủ quy định và tổ chức thực hiện thí điểm chế định Thừa phát lại (Thừa hành viên) tại một số địa phương…”. Luận văn: Chế định lập vi bằng của Thừa phát lại theo pháp luật.

Thực hiện Nghị quyết số 24/2008/QH12 về thi hành Luật Thi hành án dân sự, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án “Thực hiện thí điểm chế định Thừa phát lại tại Thành phố Hồ Chí Minh” tại Quyết định số 224/QĐ-TTg ngày 19/02/2009. Trên cơ sở Nghị quyết của Quốc hội và Đề án đã được phê duyệt, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 61/2009/NĐ-CP ngày 24/7/2009 về tổ chức và hoạt động của Thừa phát lại tại Thành phố Hồ Chí Minh. Nghị định quy định cụ thể về chức năng, nhiệm vụ, mô hình tổ chức, trình tự, thủ tục thực hiện công việc của TPL đồng thời xác định các quy định của Nghị định này cũng được áp dụng khi thực hiện thí điểm tại các tỉnh/thành phố khác. Qua đánh giá kết quả thực hiện thí điểm chế định TPL tại Thành phố Hồ Chí Minh, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án “Tiếp tục thực hiện thí điểm chế định Thừa phát lại” tại Quyết định số 510/QĐ-TTg ngày 25/3/2013, chọn 12 tỉnh/thành phố trực thuộc Trung ương thực hiện thí điểm TPL, gồm: Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh, Vĩnh Phúc, Thanh Hóa, Nghệ An, Bình Định, Đồng Nai, Bình Dương, Tiền Giang, An Giang, Vĩnh Long.

Nghị quyết số 107/2015/QH13 về Thực hiện chế định Thừa phát lại đã “Ghi nhận kết quả đạt được trong việc thực hiện thí điểm chế định Thừa phát lại theo Nghị quyết số 24/2008/QH12 và Nghị quyết số 36/2012/QH13 của Quốc hội. Chấm dứt việc thí điểm và cho thực hiện chế định Thừa phát lại trong phạm vi cả nước”. Từ khi chế định TPL được thừa nhận và tổ chức rộng rãi trong phạm vi cả nước cho đến nay vẫn đang được điều chỉnh bằng các Nghị định liên quan, chưa ban hành Luật Thừa phát lại để đảm bảo hiệu lực pháp lý cao, đồng bộ với các bộ luật, luật có liên quan. Theo đó, trong Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) năm 2015 có thể hiểu vi bằng là một loại nguồn chứng cứ dưới dạng “Văn bản ghi nhận sự kiện, hành vi pháp lý do người có chức năng lập” [40; Đ94] khi được tiến hành xác lập theo đúng thủ tục do pháp luật quy định [40; Đ95], nhưng để hiểu rõ ràng và cụ thể hơn về vi bằng thì Nghị định số 61/2009/NĐ-CP có quy định “Vi bằng là văn bản do Thừa phát lại lập, ghi nhận sự kiện, hành vi được dùng làm chứng cứ trong xét xử và trong các quan hệ pháp lý khác” (khoản 2 Điều 2 Nghị định số 61/2009/NĐ-CP); “Vi bằng có giá trị chứng cứ để Tòa án xem xét khi giải quyết vụ án”, “Vi bằng là căn cứ để thực hiện các giao dịch hợp pháp khác theo quy định của pháp luật” (Điều 28 Nghị định số 61/2009/NĐ-CP);…

Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng những quy định của pháp luật về việc lập vi bằng của TPL còn một số hạn chế, sai sót nhất định như: i) còn tồn tại nhiều cách hiểu khác nhau về nội dung vi bằng; ii) trình tự, thủ tục lập vi bằng của TPL chưa thống nhất; iii) nhận định của TPL trong vi bằng còn thiếu căn cứ, sai thẩm quyền.v.v… Từ thực tiễn như vậy, việc nghiên cứu những vấn đề thuộc bản chất pháp lý của vi bằng với ý nghĩa là một nguồn chứng cứ chứng minh trong tố tụng và căn cứ trong các giao dịch khác có ý nghĩa rất quan trọng để đưa ra được những giải pháp hoàn thiện cơ sở pháp lý với hoạt động lập vi bằng, khắc phục những bất cập, góp phần thực hiện các quy định của Hiến pháp năm 2013 và các bộ luật, luật về bảo vệ quyền con người, đảm bảo nguyên tắc tranh tụng trong hoạt động xét xử của Tòa án phù hợp với chủ trương cải cách tư pháp trong tình hình mới. Luận văn: Chế định lập vi bằng của Thừa phát lại theo pháp luật.

Với điểm khá đặc biệt, vi bằng đã được sử dụng với vai trò là nguồn chứng cứ và căn cứ trong các giao dịch ở miền Nam từ trước giải phóng Việt Nam năm 1975, được tổ chức thực hiện thí điểm lại mô hình TPL tại Thành phố Hồ Chí Minh năm 2010, mới được tổ chức thực hiện trong phạm vi cả nước từ năm 2016 do đó chế định lập vi bằng của TPL còn khá mới mẻ. Những công trình nghiên cứu, tài liệu về hoạt động lập vi bằng của TPL một cách đầy đủ và toàn diện còn khá khiêm tốn, tuy nhiên, qua tìm hiểu đã có một số công trình nghiên cứu trực tiếp hoặc lồng ghép về vi bằng có thể kể đến như: Phan Thông Anh (2002), “Suy nghĩ về chế định Thừa phát lại”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, (4), tr. 17 – 20; Bộ Tư pháp (2009), Thực hiện thí điểm chế định Thừa phát lại tại Thành phố Hồ Chí Minh, Đề án, Bộ Tư pháp, Hà Nội; Bộ Tư pháp (2013), Tiếp tục thực hiện thí điểm chế định Thừa phát lại, Đề án, Bộ Tư pháp, Hà Nội; Nguyễn Đức Chính (1995), Những cơ sở lý luận và thực tiễn về Chế định Thừa phát lại, Đề tài khoa học cấp Bộ, Bộ Tư pháp, Hà Nội; Nguyễn Đức Chính (chủ biên) (2006), Tổ chức Thừa phát lại, NXB Tư pháp, Hà Nội; Hà Hùng Cường (2012), “Thừa phát lại bước đầu đã đi vào lòng dân và xã hội, là người trợ thủ đắc lực cho công tác thi hành án dân sự và công tác tư pháp”, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, (10), tr. 2 – 6; Bùi Thị Hà (2016), “Những khó khăn vướng mắc trong triển khai thực hiện chế định Thừa phát lại tại Việt Nam, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, (Số chuyên đề 2), tr. 29 – 32; Lê Thu Hà (2011), “Đào tạo Thừa phát lại – nhu cầu khách quan của công cuộc cải cách tư pháp ở Việt Nam”, Tạp chí Nghề luật, (6), tr. 15 – 17; Võ Trung Hậu (2017), “Đăng ký vi bằng tại Sở Tư pháp – Một trong những thủ tục lập vi bằng của Thừa phát lại”, Tạp chí Nghề Luật, (3), tr. 76 – 80; Nguyễn Văn Hiển (2016), Khảo sát, đánh giá tác động kinh tế – xã hội của việc thí điểm chế định Thừa phát lại tại một số tỉnh/thành phố, Đề án, Viện Khoa học pháp lý, Hà Nội; Lê Xuân Hồng (2015), “Những khó khăn vướng mắc trong thực hiện thí điểm chế định Thừa phát lại và hướng giải quyết”, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, (1), tr.60 – 64; Bùi Thị Huyền (2011), “Thí điểm mô hình Thừa phát lại Thành phố Hồ Chí Minh – Những vấn đề đặt ra”, Tạp chí Luật học, (7), tr. 32 – 37; Nguyễn Vinh Hưng (2018), “Cần nghiên cứu, đổi mới cơ chế hoạt động của Thừa phát lại ở nước ta hiện nay”, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, (1), tr.24-30; Nguyễn Vinh Hưng (2019), “Lịch sử chế định pháp luật về Thừa phát lại tại Việt Nam”, Tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam, (4), tr. 31 – 35; Nguyễn Vinh Hưng (2019), “Một số bất cập trong hoạt động lập vi bằng của thừa phát lại”, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, (3), tr. 48 – 52; Dương Thị Thanh Mai (2018), Xác định những định hướng chính sách lớn phục vụ cho việc xây dựng Luật Thừa phát lại, Đề tài khoa học cấp Bộ, Viện Khoa học pháp lý, Hà Nội; Vũ Hoài Nam (chủ biên) (2013), Tổ chức và hoạt động của Thừa phát lại, Nxb Tư pháp, Hà Nội; Vũ Hoài Nam (2012), “Một số vấn đề về tổ chức và hoạt động của Thừa phát lại ở Việt Nam hiện nay”, Tạp chí Nghề luật, (6), tr. 26 – 28; Nguyễn Văn Nghĩa (2006), “Chế định “Thừa phát lại”: Lịch sử ra đời và yêu cầu đổi mới theo tinh thần cải cách tư pháp”, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, (5), tr.39 –43; Đinh Công Tuấn (2017), Vi bằng – Những vấn đề lý luận và thực tiễn trong tiến trình cải cách tư pháp ở Việt Nam, Đề tài khoa học cấp cơ sở, Viện Khoa học pháp lý, Hà Nội; Nguyễn Thị Tuyền (2017), “Chế định Thừa phát lại ở Việt Nam và kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới”, Tạp chí Tòa án nhân dân, (20), tr.42-47; Nguyễn Tiến Pháp (2014), “Thẩm quyền lập vi bằng của Thừa phát lại và thủ tục đăng ký vi bằng”, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, (Số chuyên đề 2), tr.5-13; Tạp chí Dân chủ và Pháp luật (11/2014), Số chuyên đề về Thừa phát lại, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, Hà Nội; Thông tin khoa học pháp lý (10/2014), Thí điểm Thừa phát lại ở Việt Nam, những thuận lợi và khó khăn, Viện Khoa học pháp lý, Hà Nội; Thông tin khoa học pháp lý (7/2015), Kết quả khảo sát, đánh giá việc thí điểm Thừa phát lại tại một số tỉnh, thành phố, Viện Khoa học pháp lý, Hà Nội;…

Các công trình nghiên cứu kể trên chủ yếu nghiên cứu về chế định vi bằng và lập vi bằng với góc độ là một trong bốn công việc TPL được làm, bởi vậy, kết quả nghiên cứu về chế định này của các công trình còn mờ nhạt, chưa thực sự chi tiết và đầy đủ. Ngoài ra, một số công trình nghiên cứu riêng biệt về vi bằng và hoạt động lập vi bằng của TPL nhưng chỉ tập trung vào một số khía cạnh cụ thể như: cơ sở lý luận, thực tiễn thi hành, bất cập của hoạt động,… do đó, kết quả nghiên cứu của các công trình trên chưa đặt trong góc nhìn tổng thể, toàn diện về chế định vi bằng và hoạt động lập vi bằng.

Tiếp thu những kết quả nghiên cứu của các công trình trên, đồng thời, với mong muốn đóng góp thêm những cơ sở lý luận về vi bằng và lập vi bằng của TPL, qua đó làm cơ sở để đưa ra những kiến nghị nhằm hoàn thiện hơn nữa các quy định của pháp luật hiện hành và các biện pháp đảm bảo thực hiện đối với vi bằng và việc lập vi bằng trong bối cảnh cải cách tư pháp và bảo đảm quyền con người ở Việt Nam hiện nay. Do đó tôi lựa chọn đề tài “Chế định lập vi bằng của Thừa phát lại theo pháp luật Việt Nam hiện hành” làm đề tài nghiên cứu Luận văn thạc sĩ luật học.

2. Mục tiêu và phạm vi nghiên cứu của Luận văn Luận văn: Chế định lập vi bằng của Thừa phát lại theo pháp luật.

2.1. Mục tiêu nghiên cứu của Luận văn

2.1.1 Mục tiêu tổng quát

Nghiên cứu làm rõ một số vấn đề về lý luận, thực tiễn về vi bằng và lập vi bằng của TPL. Từ đó đưa ra những kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về vi bằng và việc lập vi bằng trong bối cảnh cải cách tư pháp và bảo đảm quyền con người ở Việt Nam hiện nay.

2.1.2 Mục tiêu cụ thể

  1. Làm rõ một số vấn đề lý luận về nguồn gốc, khái niệm, bản chất, giá trị pháp lý của vi bằng; nghiên cứu việc lập và sử dụng vi bằng ở Việt Nam; kinh nghiệm một số quốc gia trong việc quy định việc xác lập vi bằng của TPL;
  2. Đánh giá thực trạng pháp luật về vi bằng và việc lập vi bằng của TPL trong thời gian thí điểm và áp dụng chính thức ở Việt Nam;

Kiến nghị những giải pháp hoàn thiện thể chế và biện pháp bảo đảm thực hiện đối với vi bằng và việc lập vi bằng trong bối cảnh cải cách tư pháp và bảo vệ quyền con người trong giai đoạn hiện nay.

2.2. Phạm vi nghiên cứu của Luận văn

  • Phạm vi đối tượng

Đối tượng nghiên cứu của Luận văn: nghiên cứu lý luận, quy định của pháp luật về lập vi bằng và thực tiễn thực hiện các quy định về lập vi bằng của TPL.

  • Phạm vi không gian

Tập trung nghiên cứu thực tiễn tại 02 thành phố lớn: Thành phố Hồ Chí Minh và thành phố Hà Nội.

Ngoài ra Luận văn kết hợp nghiên cứu kinh nghiệm, lý luận cũng như thực tiễn hoạt động lập vi bằng của TPL tại một số quốc gia trên thế giới như: Cộng hòa Pháp, Liên bang Đức, Hoa Kỳ…

  • Phạm vi thời gian

Luận văn tập trung nghiên cứu về chế định lập vi bằng của TPL từ thời điểm Chính phủ phê duyệt Đề án “Thực hiện thí điểm chế định Thừa phát lại tại Thành phố Hồ Chí Minh” đến nay đã được tổ chức thực hiện chính thức trên phạm vi cả nước và chia làm 02 giai đoạn chính:

  • Giai đoạn tổ chức thí điểm: từ năm 2010 – 2015;
  • Giai đoạn tổ chức thực hiện chính thức: từ năm 2016 – nay.

3. Nhiệm vụ nghiên cứu Luận văn

Nhằm đạt được mục đích đặt ra khi lựa chọn nghiên cứu Đề tài, đòi hỏi Luận văn phải giải quyết một số vấn đề cơ bản sau:

Thứ nhất, làm rõ được một số vấn đề lý luận về vi bằng: (1) khái niệm; (2) đặc điểm; (3) vai trò của vi bằng; (4) phân biệt vi bằng với các loại văn bản khác (văn bản công chứng, chứng thực và các loại giấy tờ khác) và (5) khái quát sự phát triển của chế định vi bằng. Luận văn: Chế định lập vi bằng của Thừa phát lại theo pháp luật.

Thứ hai, thực trạng pháp luật về lập vi bằng: (1) trình tự, thủ tục lập vi bằng; (2) chủ thể; (3) hình thức lập vi bằng; (4) phạm vi thẩm quyền và (5) nội dung của vi bằng.

Thứ ba, thực tiễn hoạt động lập vi bằng, hoạt động đăng ký nhà nước có thẩm quyền tại một số tỉnh/thành phố ở Việt Nam hiện nay (kết quả đạt được, tồn tại, nguyên nhân).

Thứ tư, đề xuất kiến nghị hoàn thiện pháp luật và nâng cao chất lượng, hiệu quả việc lập vi bằng.

4. Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu tại chỗ: Nghiên cứu, phân tích các tài liệu khoa học, đánh giá hệ thống văn bản pháp luật hiện hành quy định về chế định lập vi bằng của TPL; nghiên cứu lý luận và thực tiễn về nguồn chứng cứ trong tố tụng, lịch sử hình thành và giá trị pháp lý của vi bằng do TPL lập ở Việt Nam trước năm 1975, những kết quả đạt được trong thực tiễn hoạt động TPL thời gian qua và kinh nghiệm ở một số nước trên thế giới.

  • Phương pháp so sánh: Nghiên cứu so sánh điểm tương đồng/khác biệt/đối lập của pháp luật Việt Nam và pháp luật quốc tế về chế định lập vi bằng của TPL; vi bằng do TPL lập hiện nay và các loại văn bản, giấy tờ có giá trị pháp lý khác.
  • Phân tích, tổng hợp: Phân tích, tổng hợp đánh giá thông tin thu được từ hoạt động nghiên cứu để đưa ra các đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật và nâng cao chất lượng, hiệu quả việc lập vi bằng.

5. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của Luận văn

Thứ nhất, tiếp tục làm rõ những cơ sở lý luận về vi bằng và lập vi bằng của TPL (như khái niệm, đặc điểm, vai trò của vi bằng, khái quát sự phát triển của lập vi bằng)… góp phần thống nhất trong nhận thức và áp dụng thực tiễn.

Thứ hai, làm rõ, phân tích quy định pháp luật về lập vi bằng (trình tự, thủ tục, chủ thể, hình thức lập vi bằng; phạm vi thẩm quyền và nội dung của vi bằng…).

Thứ ba, đánh giá thực trạng lập vi bằng trong thời gian qua, trong đó, làm rõ kết quả đạt được, cũng như những hạn chế, vướng mắc còn tồn tại, từ đó, đề xuất những giải pháp có tính khả thi hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả hoạt động này.

Với những đóng góp trên hy vọng Luận văn sẽ là cơ sở quan trọng để các cơ quan chức năng trong phạm vi, thẩm quyền của mình sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện pháp luật trong lĩnh vực tương ứng. Bên cạnh đó, Luận văn sẽ là tài liệu tham khảo hữu ích không chỉ với đội ngũ giảng viên, sinh viên mà còn có giá trị đối với các cán bộ đang làm công tác hoạch định chính sách và xây dựng pháp luật trong bối cảnh cải cách tư pháp và bảo đảm quyền con người như hiện nay.

6. Cấu trúc của Luận văn Luận văn: Chế định lập vi bằng của Thừa phát lại theo pháp luật.

Ngoài phần mở đầu, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chính của Luận văn gồm 03 chương, cụ thể:

  • Chương 1: Một số vấn đề lý luận về vi bằng và lập vi bằng của Thừa phát lại
  • Chương 2: Thực trạng pháp luật về lập vi bằng của Thừa phát lại ở Việt Nam hiện nay
  • Chương 3: Thực tiễn thực hiện các quy định về lập vi bằng của Thừa phát lại tại một số tỉnh/thành phố và kiến nghị

Chương 1 Một số vấn đề lý luận về vi bằng và lập vi bằng của thừa phát lại

1.1. Khái niệm, đặc điểm và vai trò vi bằng của Thừa phát lại

1.1.1. Khái niệm vi bằng của Thừa phát lại

Qua nghiên cứu, tìm kiếm tại các từ điển tiếng Việt [61] và từ điển chuyên môn về pháp luật [25],[56],[62] được xuất bản những năm gần đây đều không thấy đề cập đến thuật ngữ “vi bằng”. Bởi vậy, để hiểu thế nào là vi bằng buộc phải tra cứu các từ điển ngoại ngữ khác. Theo Từ điển Hán Nôm [30] thì thuật ngữ “vi bằng” có gốc là từ chữ Trung Quốc (爲憑) trong đó (爲) có nghĩa là hành vi và (憑) có nghĩa là bằng chứng, ghép 2 từ trên có nghĩa là làm chứng cứ để tin.

Tuy trong các từ điển tiếng Việt và từ điển chuyên môn về pháp luật không có sự giải thích thế nào là “vi bằng”, nhưng trong quá trình tái lập hoạt động của TPL thì thuật ngữ này đã được sử dụng rộng rãi ở miền Nam trước năm 1975 với tên gọi là “chứng thư” và có cùng nội hàm với thuật ngữ “vi bằng”. Theo đó được hiểu là các giấy tờ văn bản, biên bản do TPL lập ra trong khi thực hiện nhiệm vụ của mình theo thể thức luật định, nhằm ghi nhận những sự kiện xảy ra trong đời sống xã hội và có giá trị chứng cứ, công chứng thư (nghĩa là có giá trị về tất cả những sự kiện nêu trong đó như về ngày tháng, chứng thư không thể bị bác bỏ bằng một chứng thư khác mà chỉ có thể bị coi là giả mạo sau khi cơ quan có thẩm quyền điều tra và kết luận theo thủ tục do luật định).

Như vậy, trước năm 1975, thuật ngữ “vi bằng” xuất hiện cùng với thuật ngữ “Thừa phát lại” và được ghi nhận trong: “Bộ dân sự tố tụng Nam Việt”, ban hành kèm Nghị định ngày 16/3/1910 (Nam Kỳ); “Bộ dân luật Trung năm 1936 – 1939”, ban hành kèm Bộ hộ sự, thương sự tố tụng Trung Việt năm 1942 (Trung Kỳ); “Bộ dân luật Bắc năm 1931”, ban hành kèm Bộ dân sự tố tụng Bắc năm 1917 (Bắc Kỳ); Nghị định 111/BTP-NĐ ngày 04/02/1950 của Bộ Tư pháp; Bộ luật Dân sự và thương sự tố tụng năm 1972 (thay thế Bộ dân sự tố tụng Nam Việt ngày 16/3/1972) [4]. Với ý nghĩa là một trong những công việc được giao cho TPL thực hiện theo yêu cầu của Tòa án (lục tống về tư pháp) hoặc theo yêu cầu của cá nhân, tổ chức xã hội, công ty hoặc đơn vị hành chính (lục tống không thuộc tư pháp nhằm thông báo, đốc thúc, sưu tầm, lập vi bằng) công chứng các hành vi xâm phạm đến quyền lợi để xác định các sự kiện thực tế, các sự biểu lộ ý chí của đương tụng hoặc cá nhân trong các mối quan hệ xã hội để xác lập các chứng cứ dùng làm cơ sở để giải quyết các tranh chấp… Theo nội dung các văn bản trên, vi bằng được lập có thể do yêu cầu của Tòa án nhằm giải quyết các vụ việc hoặc được lập theo yêu cầu của các tổ chức và cá nhân nhằm phòng ngừa, hoặc dùng để giải quyết các tranh chấp trong tương lai (nếu xảy ra). Như vậy phạm vi lập vi bằng rất đa dạng và có tầm quan trọng đặc biệt trong việc cung cấp chứng cứ. Ví dụ: Luận văn: Chế định lập vi bằng của Thừa phát lại theo pháp luật.

Trong trường hợp vi bằng được lập theo yêu cầu của tổ chức, cá nhân: trường hợp hai chủ nhà lân cận đang sử dụng bức tường chung mà một bên đã tự ý đập phá bức tường thì vi bằng công chứng (biên bản) của TPL lập theo yêu cầu của phía bên kia sẽ xác định mức độ đập phá và thiệt hại đã được công chứng ngay vào ngày xảy ra sự kiện, thì khi vụ việc được đưa ra Tòa án để xét xử, bên có lỗi sẽ không thể phủ nhận được mức độ thiệt hại đã được vi chứng.

Trong trường hợp vi bằng được lập theo yêu cầu của Tòa án, phổ biến là yêu cầu lập vi bằng để thực hiện các yêu cầu liên quan đến thi hành các bản án của Tòa án như TPL giao việc trông giữ các tài sản thi hành án cho con nợ, hay nếu người này vắng mặt hoặc từ chối, cho một người nào khác do TPL lại lựa chọn. Người giữ đồ sẽ ký tên vào bản chính và bản sao; nếu không biết ký, sự kiện này sẽ được ghi trong vi bằng.

Tiếp tục kế thừa những quy định về “vi bằng” trong những văn bản pháp lý trước năm 1975, Nghị định số 61/2009/NĐ-CP ngày 24/7/2009 (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 135/2013/NĐ-CP ngày 18/10/2013 của Chính phủ) về tổ chức và hoạt động của Thừa phát lại thực hiện thí điểm tại một số tỉnh/thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi chung là Nghị định số 61/2009/NĐ-CP), tại khoản 1 Điều 2 quy định: “Vi bằng là văn bản do Thừa phát lại lập, ghi nhận sự kiện, hành vi được dùng làm chứng cứ trong xét xử và trong các quan hệ pháp lý khác”.

Như vậy, có thể hiểu vi bằng là tài liệu bằng văn bản [15; Đ27] (kèm theo vi bằng có thể có hình ảnh, bằng hình và các tài liệu chứng minh khác [15; Đ27]). Trong đó, TPL sẽ mô tả, ghi nhận lại những hành vi, sự kiện mà do chính TPL chứng kiến một cách trung thực, khách quan. Đồng thời, có giá trị nguồn chứng cứ trước Tòa án nếu các bên có phát sinh tranh chấp liên quan đến sự kiện, hành vi đã được lập vi bằng hoặc làm bằng chứng cho các quan hệ pháp lý khác.

Có thể đưa ra định nghĩa vi bằng như sau: Vi bằng là văn bản do Thừa phát lại lập theo thẩm quyền, trình tự, thủ tục và hình thức pháp luật quy định để ghi nhận những sự kiện, hành vi có thật nhằm tạo lập chứng cứ dùng trong hoạt động xét xử của Tòa án và trong các quan hệ pháp lý khác của tổ chức và cá nhân.

1.1.2. Đặc điểm vi bằng của Thừa phát lại Luận văn: Chế định lập vi bằng của Thừa phát lại theo pháp luật.

Từ định nghĩa về vi bằng nêu trên, có thể đưa ra một số đặc điểm chính như sau:

  • Thứ nhất, vi bằng do Thừa phát lại lập

Qua rà soát, tìm hiểu quy định của pháp luật hiện hành, chủ thể có thẩm quyền lập vi bằng duy nhất chỉ có Thừa phát lại – người có các tiêu chuẩn, được Nhà nước bổ nhiệm và trao quyền để làm các công việc theo quy định của pháp luật.

Hiện nay, tồn tại một số văn bản mang bản chất là một loại biên bản ghi nhận sự kiện, hành vi như: văn bản chứng thực của tư pháp xã, phường; văn bản công chứng của công chứng viên; biên bản ghi nhận hành vi vi phạm của cơ quan, cá nhân có thẩm quyển xử lý vi phạm hành chính;… Tuy nhiên, mục đích của việc lập các loại văn bản trên khác nhau và được giao cho các chủ thể khác nhau để thực hiện nên không thể coi đó là vi bằng mà có những tên gọi cụ thể riêng biệt.

Đặc điểm về chủ thể có thẩm quyền lập vi bằng là đặc điểm quan trọng giúp phân biệt vi bằng với các loại văn bản, giấy tờ pháp lý khác. TPL là người được Nhà nước bổ nhiệm theo những điều kiện, tiêu chuẩn chặt chẽ liên quan đến trình độ chuyên môn và đạo đức nghề nghiệp nhằm đảm bảo khả năng ghi nhận các sự kiện, hành vi một cách khách quan và trung thực. Nếu loại bỏ dấu hiệu chủ thể thì vi bằng về bản chất là một loại biên bản ghi nhận sự kiện, hành vi giống như nhiều loại biên bản khác.

  • Thứ hai, vi bằng có giá trị chứng cứ

Vi bằng là văn bản do TPL lập, ghi nhận sự kiện, hành vi được dùng làm chứng cứ trong xét xử và trong các quan hệ pháp lý khác. Với mục đích sử dụng vi bằng làm chứng cứ trong xét xử và các quan hệ pháp lý khác thì vi bằng cũng phải thỏa mãn các thuộc tính của chứng cứ theo quy định của pháp luật tố tụng.

  • Theo quy định tại Điều 93, BLTTDS năm 2015:

“Chứng cứ trong vụ việc dân sự là những gì có thật được đương sự và cơ quan, tổ chức cá nhân khác giao nộp, xuất trình cho Tòa án trong quá trình tố tụng hoặc do Tòa án thu thập được theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định và được Tòa án sử dụng làm căn cứ để xác định các tình tiết khách quan của vụ án cũng như xác định yêu cầu hay sự phản đối của đương sự là có căn cứ và hợp pháp”. Luận văn: Chế định lập vi bằng của Thừa phát lại theo pháp luật.

Theo đó, để được coi là chứng cứ, vi bằng phải bao gồm các thuộc tính bao gồm: tính khách quan, tính liên quan và tính hợp pháp [57]. Cụ thể:

Tính khách quan, được thể hiện trong nội dung của vi bằng ghi nhận sự kiện, hành vi phải có thật, tồn tại ngoài ý muốn của những người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng. Các chủ thể tiến hành tố tụng và tham gia tố tụng có thể thu thập, nghiên cứu, đánh giá và sử dụng chứng cứ nhưng không thể tạo ra chứng cứ. Việc nghiên cứu, xem xét tính khách quan của vi bằng dưới góc độ là chứng cứ giúp quá trình giải quyết vụ việc được nhanh chóng, chính xác dựa trên phân tích đúng đắn về bản chất sự của thật khách quan đã diễn ra.

Về tính liên quan, vi bằng được coi là chứng cứ khi vi bằng và vụ việc có mối liên hệ nhất định. Qua đó, Tòa án có thể xác định được những thông tin, tình tiết, sự kiện liên quan, có ý nghĩa đối với việc giải quyết vụ việc đồng thời sàng lọc, loại bỏ những thông tin, tình tiết, sự kiện không liên quan, không có ý nghĩa. Việc xem xét tính liên quan của chứng cứ sẽ hạn chế việc tốn thời gian khi xem chứng cứ, đánh giá không có giá trị, đảm bảo việc giải quyết vụ việc được nhanh chóng và đúng đắn.

Về tính hợp pháp, vi bằng chỉ được coi là chứng cứ khi đảm bảo được tính hợp pháp của chứng cứ, tức được lập và thu thập một cách hợp pháp. Theo đó, quá trình nhận định, ghi nhận các sự kiện, hành vi của TPL phải đảm bảo theo đúng thẩm quyền, nội dung, trình tự thủ tục và hình thức do pháp luật quy định. Trường hợp vi phạm các yêu cầu nói trên của pháp luật thì vi bằng sẽ không đảm bảo tính hợp pháp và không được coi là chứng cứ để giải quyết các vụ việc tại Tòa án và làm bằng chứng cho các quan hệ pháp lý khác. Trường hợp vi bằng ngụy tạo, không hợp pháp sẽ tạo ra những hậu quả pháp lý bất lợi cho người lập và TPL phải chịu trách nhiệm trước pháp luật và trước cá nhân, cơ quan, tổ chức yêu cầu lập vi bằng.

Theo quy định của Nghị định số 61/2009/NĐ-CP thì vi bằng “là văn bản do Thừa phát lại lập, ghi nhận sự kiện, hành vi được dùng làm chứng cứ trong xét xử và trong các quan hệ pháp lý khác”. Điều 7 Thông tư liên tịch số 09/2014/TTLT-BTP-TANDTC-VKSNDTC-BTC ngày 28/02/2014 của Bộ Tư pháp, Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện thí điểm chế định TPL theo Nghị quyết số 36/2012/QH13 ngày 23/11/2012 của Quốc hội về giá trị pháp lý của vi bằng như sau: “Vi bằng do Thừa phát lại lập là nguồn chứng cứ để Tòa án xem xét khi giải quyết vụ án và là căn cứ để thực hiện các giao dịch hợp pháp theo quy định của pháp luật”. Luận văn: Chế định lập vi bằng của Thừa phát lại theo pháp luật.

TPL là người được Nhà nước bổ nhiệm theo một trình tự, thủ tục luật định khi đã hội đủ các yếu tố về chuyên môn, đạo đức nghề nghiệp, đồng thời, có trách nhiệm đảm bảo tính trung thực, khách quan khi thực hiện công việc của mình nên nội dung của vi bằng do TPL lập và ghi nhận đương nhiên được Tòa án tin tưởng đó là những sự kiện, hành vi có thật, được sử dụng như là một nguồn chứng cứ trong xét xử (trừ trường hợp bị cơ quan có thẩm quyền điều tra và kết luận theo thủ tục do luật định). Trong quá trình đánh giá, xem xét giá trị chứng cứ của vi bằng, nếu xét thấy cần thiết, Tòa án, Viện Kiểm sát nhân dân có thể triệu tập TPL để làm rõ tính xác thực của vi bằng. Ngoài giá trị sử dụng làm chứng cứ trong xét xử, vi bằng còn có thể được sử dụng làm căn cứ để thực hiện các giao dịch hợp pháp khác theo quy định của pháp luật. Việc sử dụng làm căn cứ trong các quan hệ pháp lý khác của vi bằng không có giá trị thay thế đối với các giấy tờ hay thủ tục pháp lý khác do pháp luật quy định (công chứng, chứng thực, giấy phép,…).

  • Thứ ba, vi bằng được lập dưới dạng văn bản tiếng Việt

Theo Điều 27 Nghị định 61/2009/NĐ-CP quy định về hình thức và nội dung chủ yếu của vi bằng thì vi bằng phải lập thành văn bản viết bằng tiếng Việt trong đó nội dung vi bằng ghi nhận những sự kiện, hành vi đã xảy ra mà TPL trực tiếp chứng kiến. Kèm theo vi bằng có thể là hình ảnh, băng ghi hình và các tài liệu chứng minh khác để giúp mô tả rõ ràng, chân thực những sự kiện, hành vi mà TPL đã chứng kiến.

  • Thứ tư, vi bằng được lập theo thủ tục do pháp luật quy định và phải đăng ký tại cơ quan nhà nước

Theo quy định hiện hành, vi bằng được lập thành 03 bản chính, trong đó có 01 bản giao cho người yêu cầu, 01 bản lưu trữ tại Văn phòng Thừa phát lại (VP TPL) và 01 bản gửi Sở Tư pháp tỉnh/thành phố trực thuộc Trung ương quản lý VP TPL để đăng ký trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày lập vi bằng.

Trong thời 02 ngày làm việc kể từ ngày nhận được vi bằng, Sở Tư pháp vào sổ đăng ký vi bằng TPL, chính thức vi bằng được coi là hợp lệ. Đồng thời, Sở Tư pháp có quyền từ chối đăng ký vi bằng nếu phát hiện việc lập vi bằng không đúng thẩm quyền, không đúng phạm vi lập vi bằng hoặc không được gửi đúng thời hạn để đăng ký theo quy định.

Việc quy định vi bằng phải được lập theo trình tự, thủ tục và đăng ký tại cơ quan tư pháp nhằm đảm bảo vai trò quản lý, kiểm soát của nhà nước đối với việc lập vi bằng, đảm bảo tính đúng đắn và hợp pháp của vi bằng.

1.1.3. Phân biệt bản chất, giá trị pháp lý của vi bằng và văn bản công chứng, chứng thực và các loại biên bản Luận văn: Chế định lập vi bằng của Thừa phát lại theo pháp luật.

Vi bằng là một loại văn bản pháp lý dùng để ghi nhận sự kiện, hành vi có một số dấu hiệu dễ gây nhầm lẫn với một số loại văn bản, giấy tờ pháp lý khác đã tồn tại trong quy định của pháp luật hiện nay. Việc phân biệt vi bằng với một số loại văn bản có giá trị pháp lý của một số chức danh tư pháp khác có ý nghĩa trong việc giúp cơ quan nhà nước, tổ chức và cá nhân có thể quản lý, sử dụng vi bằng hiệu quả quả và thiết thực, tránh những hậu quả pháp lý bất lợi khi sử dụng vi bằng nhầm lẫn, sai mục đích.

  • Phân biệt vi bằng và văn bản công chứng

Công chứng là việc công chứng viên của một tổ chức hành nghề công chứng chứng nhận tính xác thực, hợp pháp của hợp đồng, giao dịch dân sự khác bằng văn bản (sau đây gọi là hợp đồng, giao dịch), tính chính xác, hợp pháp, không trái đạo đức xã hội của bản dịch giấy tờ, văn bản từ tiếng Việt sang tiếng nước ngoài hoặc từ tiếng nước ngoài sang tiếng Việt mà theo quy định của pháp luật phải công chứng hoặc cá nhân, tổ chức tự nguyện yêu cầu công chứng [38; Đ2].

Như vậy, vi bằng và công chứng đều là loại văn bản pháp lý được lập bởi chức danh tư pháp cụ thể, thực hiện công việc mang tính chất bổ trợ hoạt động tư pháp khi có yêu cầu của tổ chức, cá nhân nhằm mục đích chủ động đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của mình theo trình tự, thủ tục chặt chẽ do pháp luật quy định. Tuy nhiên, vi bằng của TPL chỉ ghi nhận hành vi trao đổi, giao dịch tiền, giao nhận giấy tờ chứ không chứng nhận tính xác thực, hợp pháp của hợp đồng, giao dịch khác như các văn bản công chứng của công chứng viên.

Vi bằng và công chứng đều là loại văn bản pháp lý mang tính chất bổ trợ hoạt động tư pháp liên quan đến hợp đồng, giao dịch dân sự nên còn tồn tại nhầm lẫn bản chất của hai loại văn bản này. Do đó, việc nhận biết và phân biệt vi bằng và văn bản công chứng dựa trên các tiêu chí cụ thể là vô cùng cần thiết.

Bảng 1: Phân biệt vi bằng và văn bản công chứng

  • Phân biệt vi bằng và văn bản chứng thực

Tại Điều 2 Nghị định số 23/2015/NĐ-CP ngày 16/02/2015, về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký và chứng thực hợp đồng, giao dịch, văn bản chứng thực hiện nay có 03 loại:

  • “Chứng thực bản sao từ bản chính” là việc cơ quan, tổ chức có thẩm quyền theo quy định tại Nghị định này căn cứ vào bản chính để chứng thực bản sao là đúng với bản chính.
  • “Chứng thực chữ ký” là việc cơ quan, tổ chức có thẩm quyền theo quy định tại Nghị định này chứng thực chữ ký trong giấy tờ, văn bản là chữ ký của người yêu cầu chứng thực.
  • “Chứng thực hợp đồng, giao dịch” là việc cơ quan có thẩm quyền theo quy định tại Nghị định này chứng thực về thời gian, địa điểm giao kết hợp đồng, giao dịch; năng lực hành vi dân sự, ý chí tự nguyện, chữ ký hoặc dấu điểm chỉ của các bên tham gia hợp đồng, giao dịch. Luận văn: Chế định lập vi bằng của Thừa phát lại theo pháp luật.

Như vậy, bản chất của vi bằng và văn bản chứng thực có sự khác nhau ở một số đặc điểm sau:

Về chủ thể có thẩm quyền chứng thực: Phòng Tư pháp; UBND xã, phường; cơ quan đại diện ngoại giao, Cơ quan đại diện lãnh sự và Cơ quan khác được ủy quyền thực hiện chức năng lãnh sự của Việt Nam ở nước ngoài; công chứng viên.

Về nội dung của văn bản chứng thực: Chứng nhận sự việc, bảo đảm, xác nhận về tính chính xác, giống nhau giữa bản sao – bản chính; bảo đảm, xác nhận cá nhân đúng chữ ký trong văn bản; xác nhận năng lực hành vi dân sự, ý chí và sự tự nguyện… khi tham gia một số giao dịch luật định.

Về giá trị pháp lý của văn bản chứng thực: Bản sao được chứng thực từ bản chính có giá trị sử dụng thay cho bản chính đã dùng để đối chiếu chứng thực trong các giao dịch, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác; chữ ký được chứng thực có giá trị chứng minh người yêu cầu chứng thực đã ký chữ ký đó, là căn cứ để xác định trách nhiệm của người ký về nội dung của giấy tờ, văn bản; hợp đồng, giao dịch được chứng thực có giá trị chứng cứ chứng minh về thời gian, địa điểm các bên đã ký kết hợp đồng, giao dịch; năng lực hành vi dân sự, ý chí tự nguyện, chữ ký hoặc dấu điểm chỉ của các bên tham gia hợp đồng, giao dịch.

  • Phân biệt vi bằng và các loại biên bản

Biên bản là một loại giấy tờ có giá trị pháp lý mô tả lại các sự việc hiện tượng một cách kịp thời, tại chỗ với đầy đủ, chi tiết mọi tình tiết khách quan, các ý kiến của các bên liên quan có vai trò cung cấp thông tin để làm cơ sở cho các quyết định xử lý, hoặc minh chứng cho các nhận định kết luận khác. Biên bản được dùng phổ biến trong hoạt động của cơ quan nhà nước, hoạt động thực thi công vụ của cán bộ, công chức nhà nước và cũng được các tổ chức, cá nhân sử dụng cho mục đích quản lý nhà nước và nhiều mục đích khác nhau.

Về bản chất, vi bằng và các loại biên bản khác đều là giấy tờ ghi nhận trung thực sự kiện, hành vi đã xảy ra trên thực tế do người lập chứng kiến và được người lập đảm bảo nội dung biên bản đúng với thực tế về mặt nội dung sự kiện, hành vi, thời gian, địa điểm và nội dung ghi nhận. Tuy nhiên, có sự khác nhau ở một số đặc điểm sau:

Về chủ thể có thẩm quyền lập: Biên bản là văn bản do tổ chức, cá nhân được nhà nước trao quyền lập ra nhằm sử dụng cho mục đích quản lý nhà nước và nhiều mục đích khác nhau. Như vậy, chủ thể lập biên bản có phạm vi rộng hơn so với vi bằng, có thể là bất kỳ tổ chức, cá nhân nào được nhà nước trao quyền.

Về giá trị pháp lý: Biên bản không có hiệu lực pháp lý để thi hành mà chủ yếu được dùng làm chứng cứ minh chứng các sự kiện thực tế đã xảy ra, có vai trò cung cấp thông tin để làm cơ sở cho các quyết định xử lý, hoặc minh chứng cho các nhận định kết luận khác. Luận văn: Chế định lập vi bằng của Thừa phát lại theo pháp luật.

Về trình tự, thủ tục lập và đăng ký tại cơ quan quản lý nhà nước: Bởi biên bản là văn bản được lập ra nhằm mục đích phục vụ cho chính hoạt động của của tổ chức, cá nhân lập ra nên có trình tự, thủ tục đơn giản hơn so với vi bằng. Theo đó, không phải trải qua các bước tiếp nhận yêu cầu, thỏa thuận về việc lập văn bản và đăng ký tại cơ quan quản lý nhà nước.

Như vậy, việc Nhà nước quy định chặt chẽ, cụ thể về chủ thể, trình tự, thủ tục lập vi bằng và việc đăng ký tại cơ quan quản lý nhà nước,… là căn cứ tạo trách nhiệm của TPL trong việc đảm bảo tính khách quan, chính xác khi lập vi bằng. Qua đó, vi bằng có giá trị chứng minh cao hơn so với các loại biên bản khác, được sử dụng trực tiếp để làm nguồn chứng cứ trước Tòa án và trong các quan hệ pháp luật khác.

1.1.4. Vai trò của vi bằng của Thừa phát lại

Điều 28 Nghị định số 61/2009/NĐ-CP ngày 24/7/2009 quy định:

  1. Vi bằng có giá trị chứng cứ để Tòa án xem xét khi giải quyết vụ án.
  2. Vi bằng là căn cứ để thực hiện các giao dịch hợp pháp khác theo quy định của pháp luật.”

Việc lập vi bằng của TPL không chỉ có vai trò quan trọng khi Tòa án giải quyết vụ án và để thực hiện các giao dịch hợp pháp khác theo quy định của pháp luật, ngoài ra, hoạt động lập vi bằng còn có giá trị đa dạng hóa nguồn cung cấp dịch vụ pháp lý, giúp tổ chức, cá nhân chủ động tạo lập chứng cứ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp. Cụ thể:

  • Vi bằng có giá trị chứng cứ trong xét xử

Trong hoạt động tố tụng dân sự chứng cứ là cơ sở để Tòa án quyết định việc áp dụng pháp luật trong một quan hệ pháp luật cụ thể nhằm xác định trách nhiệm pháp lý của bên tham gia tố tụng, từ đó xác định hậu quả pháp lý, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên.

Vi bằng là văn bản do TPL lập ra bắt buộc phải tuân thủ các quy định chặt chẽ của pháp luật về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, hình thức pháp lý và phải cam kết chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính chính xác, khách quan của sự kiện, hành vi được ghi nhận. Do đó, vi bằng có độ tin cậy cao hơn những chứng cứ khác do đương sự tự lập ra hoặc lời khai của đương sự và những người làm chứng.

Vi bằng khi được lập theo yêu cầu của cá nhân, tổ chức là nguồn chứng cứ quan trọng, giúp các bên đương sự thu thập, củng cố chứng cứ để cung cấp cho Tòa án, giúp Tòa án thu thập được những chứng cứ quan trọng có giá trị chứng minh, bổ sung cho nguồn chứng cứ hiện hành, phục vụ công tác xét xử của Tòa án và các cơ quan trong giai đoạn điều tra.

  • Vi bằng là căn cứ thực hiện các giao dịch hợp pháp khác Luận văn: Chế định lập vi bằng của Thừa phát lại theo pháp luật.

Vi bằng do TPL lập có vai trò là căn cứ chứng minh yêu cầu thực hiện nghĩa vụ của một bên trong giao dịch hợp pháp, ví dụ:

Đối với các quy định về nghĩa vụ phải thông báo: Trong Bộ luật Dân sự (BLDS), Bộ luật Lao động, Luật Doanh nghiệp, Luật Thương mại,… có rất nhiều điều, khoản quy định về trách nhiệm phải thông báo khi tham gia quan hệ pháp luật cụ thể (ví dụ: thông báo về địa điểm thực hiện nghĩa vụ; thông báo về thời gian thực hiện nghĩa vụ; thông báo về đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng;…). Khi lập vi bằng về việc thông báo thì bên thông báo có cơ sở pháp lý chứng minh đã thực hiện nghĩa vụ và không phải chịu hậu quả pháp lý về việc không thông báo, đồng thời, sẽ có căn cứ yêu cầu bên còn lại thực hiện nghĩa vụ mà không thể viện lý do không nhận được thông báo để trốn trách thực hiện nghĩa vụ phải thực hiện.

Đối với việc yêu cầu bồi thường thiệt hại: Trong các hình thức trách nhiệm dân sự, bồi thường thiệt hại là một hình thức trách nhiệm thông dụng, nhằm buộc bên có hành vi gây ra thiệt hại phải khắc phục hậu quả bằng cách bù đắp, đền bù tổn thất về vật chất và tổn thất về tinh thần cho bên bị thiệt hại.

Mặc dù BLDS đã có những quy định khá cụ thể, tuy nhiên, trong thực tế việc xác định thiệt hại và thống nhất về giá trị thiệt hại giữa các bên trong quan hệ bồi thường thiệt hại là không dễ dàng. Chính vì vậy việc có một bên thứ ba khách quan, có nghiệp vụ và trách nhiệm pháp lý tham gia xác nhận tình trạng thiệt hại có ý nghĩa rất lớn giúp các bên dễ dàng đạt được sự đồng thuận trong quan hệ bồi thường thiệt hại. Vi bằng trong trường hợp này giúp cho việc giải quyết các vụ việc liên quan đến bồi thường thiệt hại được đảm bảo giải quyết nhanh chóng, chính xác, khách quan và có tính khả thi cao.

Như vậy, vi bằng có vai trò là căn cứ thực hiện các giao dịch hợp pháp khác, góp phần hạn chế tranh chấp giữa các bên liên quan, giúp ổn định và phát triển các quan hệ pháp luật như: thương mại, dân sự, kinh tế, lao động,…

  • Vi bằng có giá trị đa dạng hóa nguồn cung cấp dịch vụ pháp lý

Trong ngành Tư pháp hiện nay, các dịch vụ sự nghiệp công chủ yếu là các dịch vụ bổ trợ tư pháp như: luật sư, tư vấn pháp luật, giám định tư pháp, công chứng, bán đấu giá,… với những chức năng cụ thể nhằm trợ giúp, tạo điều kiện cho hoạt động tư pháp tiến hành thuận lợi, nhanh chóng, chính xác. Tuy nhiên, trước khi chế định lập vi bằng của TPL ra đời, chưa tồn tại cơ chế nào giúp người dân chủ động tạo lập chứng cứ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Sự ra đời của chế định lập vi bằng đã góp phần đa dạng hóa nguồn cung cấp dịch vụ pháp lý, bổ sung thêm sự lựa chọn cho người dân khi có nhu cầu tạo lập chứng cứ để Tòa án xem xét khi giải quyết vụ án và căn cứ để thực hiện các giao dịch hợp pháp khác theo quy định của pháp luật.

Việc các chủ thể trong xã hội chủ động yêu cầu lập vi bằng chính là biện pháp pháp lý đảm bảo an toàn, hạn chế tối đa những tranh chấp có thể phát sinh trong tương lai. Trên thực tế, nhiều trường hợp, không có một hệ thống cơ quan, tổ chức có thẩm quyền nào giúp người dân, tổ chức có thể xác lập chứng cứ theo yêu cầu của họ một cách kịp thời và thuận lợi, đơn giản, nhanh chóng và không hạn chế về thời gian như TPL. Việc lập vi bằng trong những trường hợp này của TPL giúp đảm bảo các quyền và lợi ích chính đáng của người dân, doanh nghiệp, góp phần hạn chế các tranh chấp pháp lý nảy sinh.

1.2. Khái niệm, đặc điểm và yêu cầu hoạt động lập vi bằng của Thừa phát lại Luận văn: Chế định lập vi bằng của Thừa phát lại theo pháp luật.

1.2.1. Khái niệm hoạt động lập vi bằng của Thừa phát lại

Từ khái niệm vi bằng của TPL và các nội hàm của khái niệm, có thể xây dựng khái niệm về lập vi bằng của TPL như sau: Lập vi bằng là hoạt động của VP TPL, được TPL thực hiện theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định nhằm tạo lập chứng cứ dùng trong hoạt động xét xử của Tòa án và trong các quan hệ pháp lý khác của tổ chức và cá nhân. Hoạt động lập vi bằng của TPL phải đảm bảo tuân theo các quy định của pháp luật về phạm vi, hình thức, nội dung và tuyệt đối tuân thủ những việc TPL không được làm.

Như vậy, pháp luật đã quy định rõ trách nhiệm của TPL khi lập vi bằng là phải trực tiếp chứng kiến sự kiện, hành vi và phải tự chịu trách nhiệm về việc đó. Trách nhiệm trực tiếp chứng kiến sự kiện, hành vi của TPL trong trường hợp này cũng tương tự như trách nhiệm của công chứng viên là phải chứng kiến người yêu cầu công chứng ký vào hợp đồng, giao dịch. Trong quá trình thực hiện quản lý nhà nước về TPL tại địa phương, nếu có căn cứ cho rằng TPL đã không trực tiếp thực hiện chứng kiến sự kiện, hành vi lập vi bằng thì Sở Tư pháp căn cứ theo quy định của pháp luật để xem xét, xử lý theo thẩm quyền [11].

1.2.2. Đặc điểm hoạt động lập vi bằng của Thừa phát lại Luận văn: Chế định lập vi bằng của Thừa phát lại theo pháp luật.

  • Thứ nhất, chủ thể của hoạt động lập vi bằng

Lập vi bằng là hoạt động của VP TPL, được thực hiện trực tiếp bởi TPL. Ngoài TPL là chủ thể trực tiếp thực hiện hoạt động này thì pháp luật cũng quy định một chủ thể khác tham gia hoạt động lập vi bằng đó là thư ký nghiệp vụ TPL.

Các thư ký nghiệp vụ TPL có trách nhiệm giúp TPL trong thực hiện nghiệp vụ như tư vấn về một số quy định pháp luật có liên quan đến vi bằng cho đương sự có nhu cầu lập vi bằng; trách nhiệm kiểm tra tính hợp pháp của nội dung yêu cầu lập Vi bằng và trình TPL được phân công theo dõi vụ việc quyết định; hỗ trợ TPL trong một số việc như lập biên bản về sự việc dưới sự chứng kiến của TPL; in sao, thu thập tài liệu liên quan đến việc lập vi bằng;… Mặc dù công việc chính của thư ký nghiệp vụ TPL là hỗ trợ TPL lập vi bằng tuy nhiên TPL phải chịu trách nhiệm về vi bằng do mình thực hiện.

  • Thứ hai, thẩm quyền lập vi bằng

Thẩm quyền lập vi bằng của TPL hiện nay được quy định tại Nghị định số 61/2009/NĐ-CP, nhìn chung, thẩm quyền lập vi bằng tương đối rộng (đối với các sự kiện, hành vi theo yêu cầu của đương sự) và chỉ bị giới hạn trong một số trường hợp cụ thể liên quan đến mặt nội dung như:

  • Các trường hợp quy định những việc TPL không được làm (Điều 6 Nghị định 61/2009/NĐ-CP);
  • Các trường hợp vi phạm quy định về bảo đảm an ninh, quốc phòng, đời tư, đạo đức xã hội;
  • Các trường hợp thuộc thẩm quyền công chứng của tổ chức hành nghề công chứng hoặc thuộc thẩm quyền chứng thực của UBND các cấp
  • Các trường hợp khác theo quy định của pháp luật.

Ngoài giới hạn về mặt nội dung thì thẩm quyền lập vi bằng về mặt không gian hiện cũng đang được giới hạn trong phạm vi địa bàn tỉnh/thành phố trực thuộc Trung ương nơi đặt VP TPL

1.2.3. Yêu cầu của hoạt động lập vi bằng

Lập vi bằng của TPL quá trình tạo lập vi bằng theo quy trình, cách thức cụ thể để ghi nhận sự kiện, hành vi xảy ra trên thực tế một cách trung thực, khách quan và có một số yêu cầu cơ bản sau:

  • Thứ nhất, hoạt động lập vi bằng của Thừa phát lại phải đảm bảo sự chính xác, trung thực và khách quan

Vi bằng là nguồn chứng cứ để Tòa án xem xét khi giải quyết vụ án và căn cứ để thực hiện các giao dịch hợp pháp theo quy định của pháp luật, do TPL lập – người có các tiêu chuẩn, được Nhà nước bổ nhiệm và trao quyền để làm các công việc theo quy định của pháp luật. Do đó nội dung của vi bằng phải đảm bảo sự chính xác, trung thực và khách quan.

Nhằm đảm bảo tính sự chính xác, trung thực và khách quan trong quá trình tạo lập vi bằng, hệ thống pháp luật đã có quy định và kiểm soát chặt chẽ quá trình lập vi bằng như: quy định về trình tự, thủ tục; các trường hợp pháp luật cấm lập vi bằng; đăng ký vi bằng tại Sở Tư pháp; công khai khung giá về chi phí lập vi bằng;… Tuy nhiên, ý thức và đạo đức nghề nghiệp của TPL là yếu tố quan trọng trong việc đảm bảo sự chính xác, trung thực, khách quan. Nếu ý thức và đạo đức nghề nghiệp của TPL bị xem nhẹ sẽ dễ dẫn đến việc phá vỡ các quy tắc, không đảm bảo sự chính xác, trung thực và khách quan để tranh thủ đoạt lợi trong hoạt động lập vi bằng và dẫn đến những hậu quả pháp lý bất lợi khi sử dụng vi bằng.

  • Thứ hai, hoạt động lập vi bằng phải tuân thủ phạm vi về mặt nội dung

Với tính chất là văn bản do TPL lập, nhằm ghi nhận những sự kiện, hành vi làm chứng cứ, căn cứ thực hiện các giao dịch dân sự khác, theo đó, phạm vi nội dung vi bằng rất đa dạng, trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Nhằm mục đích tạo cơ chế để đảm bảo sự chính xác, trung thực và khách quan khi TPL lập vi bằng đối với các sự kiện, hành vi liên quan đến quyền, lợi ích của bản thân và những người thân thích; thống nhất giữa việc lập vi bằng và các nội dung cấm, hạn chế khác theo quy định của pháp luật và tránh việc ghi nhận sai nội dung dẫn đến sử dụng vi bằng không chính xác pháp luật đã quy định một số trường hợp không được lập vi bằng buộc TPL phải tuân thủ như:

  • TPL không được nhận làm những việc liên quan đến quyền, lợi ích của bản thân và những người là người thân thích của mình;
  • Các trường hợp vi phạm quy định về bảo đảm an ninh, quốc phòng;
  • Vi phạm bí mật đời tư theo quy định của BLDS;
  • Các trường hợp thuộc thẩm quyền công chứng của tổ chức hành nghề công chứng hoặc thuộc thẩm quyền chứng thực của UBND các cấp.

1.3. Khái quát sự phát triển chế định lập vi bằng của Thừa phát lại Luận văn: Chế định lập vi bằng của Thừa phát lại theo pháp luật.

1.3.1. Giai đoạn trước năm 1975

TPL với tính chất là một nghề chuyên môn pháp lý để thực hiện các công việc hành chính – pháp lý liên quan đến hoạt động xét xử của Tòa án, bắt đầu xuất hiện ở Việt Nam từ khi Vua Tự Đức ký Hòa ước ngày 05/6/1862 dựa trên cơ sở kế thừa, học hỏi kinh nghiệm về TPL của Pháp và có những nhiệm vụ cơ bản sau:

  • Thông báo tòa khai mạc và bế mạc, gọi các đương sự, nhân chứng, thi hành lệnh giữ trật tự tại tòa;
  • Tống đạt các giấy tờ theo yêu cầu của Tòa án;
  • Lập các vi bằng theo quy định của pháp luật;
  • Phát mại động sản hay bất động sản và trực tiếp thi hành các bản án, quyết định của tòa án. [4]

Như vậy, trong giai đoạn này, lập vi bằng là một nhiệm của TPL và được ghi nhận cụ thể trong: “Bộ dân sự tố tụng Nam Việt”, ban hành kèm Nghị định ngày 16/3/1910 (Nam Kỳ); “Bộ dân luật Trung năm 1936 -1939”, ban hành kèm Bộ hộ sự, thương sự tố tụng Trung Việt năm 1942 (Trung Kỳ); “Bộ dân luật Bắc năm 1931”, ban hành kèm Bộ dân sự tố tụng Bắc năm 1917 (Bắc Kỳ); Nghị định 111/BTP-NĐ ngày 04/02/1950 của Bộ Tư pháp; Bộ luật Dân sự và thương sự tố tụng năm 1972 (thay thế Bộ dân sự tố tụng Nam Việt ngày 16/3/1972) [6]. TPL tồn tại ở Việt Nam từ thời kỳ Pháp thuộc cho đến năm 1950 ở miền Bắc và năm 1975 ở miền Nam. Cụ thể: Luận văn: Chế định lập vi bằng của Thừa phát lại theo pháp luật.

Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời, theo Sắc lệnh 130/SL ngày 19/7/1946, chế định lập vi bằng của TPL tồn tại cùng với chế định TPL và do Bộ Tư pháp (BTP) quản lý. Điều 1 của Sắc lệnh trên quy định:

Các bản sao hoặc trích lục bản án do các phòng lục sự phát cho các đương sự để thi hành các án, hoặc mệnh lệnh các tòa án hộ đều phải có thể thức thi hành, ấn định như sau: “Vậy, Chủ tịch Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa truyền cho các Thừa phát lại theo yêu cầu của đương sự thi hành bản án này, các ông chưởng lý và biện lý kiểm sát việc thi hành án, cai trị chỉ huy binh lực giúp đỡ mỗi khi đương sự chiếu luật yêu cầu…”.

Như vậy, Sắc lệnh 130/SL ngày 19/7/1946 chính là văn bản pháp lý đầu tiên đánh dấu sự ra đời (thừa nhận) về tổ chức của TPL và hoạt động lập vi bằng trong chế độ mới.

Cho đến năm 1950, ở miền Bắc chấm dứt sự tồn tại của chế định TPL thông qua việc Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 85/SL ngày 22/5/1950 về “Cải cách bộ máy tư pháp và luật tố tụng”, theo đó, chế định lập vi bằng của TPL cũng chấm dứt [22; Đ19].

Ở miền Nam, chế định lập vi bằng của TPL tiếp tục được duy trì dưới chính quyền Sài Gòn dựa trên Nghị định 111 ngày 08/3/1949, Bộ luật Dân sự, Thương sự tố tụng và Bộ luật Hình sự tố tụng năm 1972, cho đến năm 1975, sau khi cuộc kháng chiến chống Mỹ giải phóng miền Nam thành công, thống nhất đất nước.

Trước năm 1975, một trong những chức năng quan trọng của TPL là lập vi bằng. Về việc lập vi bằng của TPL thời gian này, Điều 86 Bộ Dân luật năm 1972 “Người được doãn chấp phải xin chức dịch xã hoặc nhờ Thừa phát lại hay chưởng khế làm bản kê khai và trị giá những động sản và bất động sản được doãn chấp, trước khi bắt đầu chấp hữu”. Đây là công việc TPL làm theo yêu cầu của Tòa án hoặc theo yêu cầu của các cá nhân, tổ chức. Công việc này rất đa dạng và có tầm quan trọng đặc biệt đối với việc cung cấp chứng cứ, có thể phân tích tổng thể làm 03 loại công việc như sau:

Thứ nhất, cáo tri (thông cáo) các ý định và các hành vi đã được thực hiện đối với một đối tượng như thông báo cho người thuê nhà biết ý định chấm dứt hợp đồng khi hết hạn, thông báo cho người thuê biết ý định của chủ nhà để người thuê sử dụng quyền tiên mãi (ưu tiên) hoặc đốc thúc con nợ phải trả nợ.

Thứ hai, sưu tầm xác định các sự kiện, bằng chứng để đối chứng trước tòa, như sưu tầm tài liệu tại các cơ quan, chất vấn lấy lời khai của nhân chứng,…

Thứ ba, vi chứng các sự kiện thực tế như làm vi bằng công chứng về các thiệt hại về tài sản, vi bằng công chứng về việc lấn chiếm đất đai, vi bằng công chứng về tình trạng ngoại tình,… [29]

Tuy nhiên, trong các công việc này, có việc chỉ thi hành khi có lệnh của Tòa án cho phép, chẳng hạn như sưu tầm tài liệu tại các cơ quan, nhưng cũng có những công việc mà TPL được làm theo triệu dụng của cá nhân như lập vi bằng công chứng các thiệt hại về hiện trạng tài sản,…

1.3.2. Giai đoạn từ năm 1975 đến năm 2009 Luận văn: Chế định lập vi bằng của Thừa phát lại theo pháp luật.

Từ năm 1975, chế định TPL chấm dứt thi hành ở Việt Nam, cụ thể, ở miền Bắc thông qua việc Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 85/SL ngày 22/5/1950 về “Cải cách bộ máy tư pháp và luật tố tụng” và chấm dứt hoàn toàn ở miền Nam vào năm 1975, sau khi cuộc kháng chiến chống Mỹ giải phóng miền Nam thành công, thống nhất đất nước.

Cho đến những năm đầu của thế kỷ XXI, theo quan điểm truyền thống trong lĩnh vực luật công (Luật Hiến pháp, Luật Hình sự,…) để bảo vệ lợi ích công, Nhà nước phải dùng các nguồn lực công (công chức nhà nước, ngân sách nhà nước,…) còn trong lĩnh vực luật tư (Luật Dân sự, Luật Hôn nhân và gia đình) thì cá nhân, tổ chức phải dùng các nguồn lực của mình để tự mình hoặc thuê những người có hiểu biết, kỹ năng bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Nhà nước có trách nhiệm tạo điều kiện phát triển đội ngũ và các tổ chức nghề nghiệp chuyên cung cấp các dịch vụ pháp lý để hỗ trợ cá nhân, tổ chức trong việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình.

Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 xác định Tòa án với nhiệm vụ xét xử là trọng tâm của công cuộc cải cách tư pháp và tranh tụng dân chủ, bình đẳng là khâu đột phá của cải cách tư pháp. Thực tiễn xét xử theo tinh thần cải cách tư pháp trong thời gian vừa qua cho thấy việc áp dụng mô hình tố tụng tại phiên tòa theo hướng thẩm vấn kết hợp với tranh tụng, đã bước đầu có những tác động tích cực: Những người tham gia tố tụng – các đương sự và luật sư, người đại diện, bảo vệ của các đương sự – đã thu thập các chứng cứ, tình tiết của vụ án và đã sử dụng chúng để tranh tụng tại phiên tòa; trên cơ sở đó, Hội đồng xét xử đã ra các phán quyết chính xác, khách quan hơn. Vì vậy, chất lượng xét xử của Tòa án các cấp đã được nâng lên một bước, giảm các vụ, việc oan, sai.

Thể chế hóa Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, Quốc hội đã ban hành BLDS năm 2005, BLTTDS năm 2004 và các văn bản pháp luật khác đã quy định những nguyên tắc cơ bản trong việc điều chỉnh các quan hệ dân sự. Một trong những nguyên tắc đó là việc đương sự có quyền và trách nhiệm cung cấp chứng cứ, chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Luận văn: Chế định lập vi bằng của Thừa phát lại theo pháp luật.

Tuy nhiên, pháp luật lại chưa quy định cơ chế hữu hiệu để các cá nhân, tổ chức thực hiện việc tạo lập, thu thập các chứng cứ nhằm chủ động bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Việc thu thập chứng cứ đòi hỏi những kỹ năng và sự tuân thủ các trình tự, thủ tục nhất định nên trong nhiều trường hợp các tổ chức, cá nhân rất khó tự mình thu thập chứng cứ hoặc nếu có, thu thập được nhưng không theo đúng quy định của pháp luật thì vẫn không được coi là có giá trị pháp lý.

Do đó, Nghị quyết 49-NQ/TW đã định hướng: “Tiếp tục hoàn thiện thủ tục tố tụng dân sự. Nghiên cứu thực hiện và phát triển các loại hình dịch vụ từ Nhà nước để tạo điều kiện cho các đương sự chủ động thu thập chứng cứ chứng minh, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình…”. Một trong những loại hình dịch vụ hỗ trợ các cá nhân, tổ chức tạo lập, thu thập chứng cứ chính là hoạt động lập vi bằng (chứng thư) do TPL – người có thẩm quyền, có đủ tiêu chuẩn, kỹ năng nghiệp vụ được Nhà nước bổ nhiệm – thực hiện theo yêu cầu của cá nhân, tổ chức. Các chứng cứ này sẽ giúp cho các đương sự, kể cả giúp cho luật sư của họ, có cơ sở bảo vệ quyền và lợi ích của mình, giúp cho Tòa án, cơ quan nhà nước khác giải quyết những việc liên quan đến người dân được khách quan, chính xác, kịp thời, phù hợp với pháp luật. Đồng thời, TPL ra đời còn góp phần giảm thiểu việc Thẩm phán phải tự mình xác minh, thu thập chứng cứ theo yêu cầu của đương sự, hạn chế việc tiếp xúc của Thẩm phán với đương sự ngoài Tòa án. Khi cần xác minh một vụ việc, một sự kiện nào đó Tòa có thể triệu tập TPL để làm việc và có thể yên tâm về độ chính xác của vi bằng do TPL lập theo quy định của pháp luật tố tụng.

Thể chế hóa chủ trương của Đảng, ngày 14/11/2008 Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 24/2008/QH12 về thi hành Luật Thi hành án dân sự, trong đó có quy định:

“Để triển khai thực hiện chủ trương xã hội hóa một số công việc có liên quan đến thi hành án dân sự, giao Chính phủ quy định và tổ chức thực hiện thí điểm chế định Thừa phát lại (Thừa hành viên) tại một số địa phương. Việc thí điểm được thực hiện từ ngày Luật này có hiệu lực thi hành (01/7/2009) đến ngày 01/7/2012. Chính phủ tổng kết, đánh giá kết quả thực hiện thí điểm và báo cáo Quốc hội xem xét, quyết định”.

Thực hiện Nghị quyết số 24/2008/QH12 về Thi hành Luật Thi hành án dân sự, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 224/QĐ-TTg ngày 19/02/2009 phê duyệt Đề án “Thực hiện thí điểm chế định Thừa phát lại tại Thành phố Hồ Chí Minh”. Đề án được xây dựng dựa trên việc nghiên cứu tiếp thu các yếu tố hợp lý của chế định TPL đã từng tồn tại ở Việt Nam thời kỳ trước năm 1950 và tiếp tục ở miền Nam cho đến năm 1975, đồng thời có sự điều chỉnh, bổ sung các nội dung mới phù hợp với tình hình kinh tế – xã hội và yêu cầu cải cách tư pháp, cải cách hành chính. Theo đó, TPL là người có đủ các tiêu chuẩn do pháp luật quy định, được Nhà nước bổ nhiệm để làm các công việc về: i) Xác minh điều kiện thi hành án và trực tiếp thi hành bản án, quyết định theo yêu cầu của đương sự; ii) Tống đạt giấy tờ của Tòa án và của cơ quan thi hành án dân sự cho đương sự; iii) Lập vi bằng có giá trị chứng cứ chứng minh trong xét xử và iv) Các công việc khác theo quy định của pháp luật. Chế định TPL được nghiên cứu, tổ chức thực hiện với mục tiêu tạo lập một cơ chế hỗ trợ, giảm tải công việc cho Tòa án và các cơ quan thi hành án dân sự nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động xét xử và thi hành án dân sự phù hợp với chủ trương cải cách tư pháp và cải cách hành chính. Hỗ trợ người dân chủ động thực hiện đúng đắn các quyền, nghĩa vụ vả bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của mình trong quá trình tố tụng nói riêng và trong quan hệ với các cơ quan nhà nước và các quan hệ dân sự khác nói chung, đồng thời tạo ra một nghề mới trong xã hội, mở rộng khả năng lựa chọn dịch vụ pháp lý trong lĩnh vực tư pháp nhằm đảm bảo tốt nhất quyền, lợi ích hợp pháp của mình.

Trên cơ sở Nghị quyết của Quốc hội và Đề án đã được phê duyệt, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 61/2009/NĐ-CP ngày 24/7/2009 về tổ chức và hoạt động của Thừa phát lại tại Thành phố Hồ Chí Minh. Nghị định này quy định về TPL, VP TPL; phạm vi, thủ tục thực hiện công việc của TPL; giải quyết khiếu nại, tố cáo và kiểm sát đối với hoạt động của TPL thực hiện thí điểm tại Thành phố Hồ Chí Minh.

1.3.3. Giai đoạn từ năm 2009 đến nay Luận văn: Chế định lập vi bằng của Thừa phát lại theo pháp luật.

Sau gần 3 năm thực hiện thí điểm chế định TPL tại Thành phố Hồ Chí Minh, trên cơ sở xem xét báo cáo của Chính Phủ về tổng kết thực hiện thí điểm chế định TPL theo Nghị quyết số 24/2008/QH12 ngày 14/11/2008 của Quốc hội về thi hành Luật Thi hành án dân sự và Tờ trình số 298/TTr-CP ngày 23/10/2012 của Chính phủ về việc tiếp tục thực hiện thí điểm chế định Thừa phát lại; Báo cáo thẩm tra số 928/BC-UBTP13 ngày 24/10/2012 của Ủy ban Tư pháp của Quốc hội và ý kiến của các vị Đại biểu, Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 36/2012/QH13 ngày 23/11/2012 giao Chính phủ tiếp tục tổ chức thực hiện thí điểm chế định TPL tại một số tỉnh/thành phố trực thuộc Trung ương theo Nghị quyết số 24/2008/QH12 đến hết ngày 31/12/2015 và tiến hành tổng kết, đánh giá kết quả thực hiện thí điểm để báo cáo Quốc hội tại kỳ họp cuối năm 2015.

Thực hiện Nghị quyết của Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án “Tiếp tục thực hiện thí điểm chế định Thừa phát lại” tại Quyết định số 510/QĐ-TTg ngày 25/3/2013, trên cơ sở Đề án, Bộ trưởng BTP đã ban hành Quyết định 1531/QĐ-BTP ngày 24/6/2013 sau khi thống nhất ý kiến với Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tài chính, chọn 12 tỉnh/thành phố trực thuộc Trung ương thực hiện thí điểm TPL bao gồm: Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh, Vĩnh Phúc, Thanh Hóa, Nghệ An, Bình Định, Đồng Nai, Bình Dương, Tiền Giang, An Giang, Vĩnh Long. Riêng đối với Thành phố Hồ Chí Minh, mở rộng thực hiện thí điểm chế định TPL tại một số quận, huyện trên địa bàn Thành phố có nhu cầu nhưng chưa thực hiện thí điểm ở giai đoạn 2009 – 2012.

Nhằm đảm bảo chuẩn bị các điều kiện cần thiết để thực hiện Đề án “Tiếp tục thực hiện thí điểm chế định Thừa phát lại”, BTP đã ban hành nhiều văn bản nhằm hướng dẫn, đôn đốc và đề nghị các tỉnh ủy/thành ủy, UBND và Sở Tư pháp các địa phương quan tâm, tăng cường chỉ đạo các cơ quan, tổ chức tại địa phương có giải pháp thực hiện hiệu quả việc triển khai thực hiện mở rộng thí điểm chế định TPL. Đồng thời, chỉ đạo Sở Tư pháp, các cơ quan thi hành án tại các địa phương có tổ chức thực hiện thí điểm chế định TPL thường xuyên làm việc với các văn phòng trên địa bàn để cùng quán triệt nhận thức, thống nhất hành động nhằm đẩy mạnh toàn diện kết quả hoạt động của các VP TPL, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho các VP TPL …

Cùng với việc quán triệt triển khai thực hiện các chủ trương, quy định về chế định TPL, BTP và UBND Thành phố Hồ Chí Minh đã mở nhiều đợt tuyên truyền, phổ biến rộng rãi với nhiều hình thức đa dạng khác nhau, nâng cao nhận thức của người dân, xã hội đối với chế định TPL. Đặc biệt, giúp cá nhân, tổ chức tiếp cận, hiểu rõ hơn về công việc lập vi bằng của TPL, thông qua đó tạo cơ chế tăng cường tính chủ động, tích cực của các đương sự trong các quan hệ dân sự, tố tụng dân sự, tạo thêm một công cụ pháp lý để người dân tự bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình trong thực hiện các giao dịch dân sự và trong các quá trình tố tụng.

Trên cơ sở xem xét Báo cáo số 538/BC-CP ngày 19/10/2015 của Chính phủ về tổng kết việc tiếp tục thực hiện thí điểm chế định Thừa phát lại theo Nghị quyết số 36/2012/QH13 của Quốc hội và Tờ trình số 584/TTr-CP ngày 27/10/ 2015 của Chính phủ về dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về thực hiện chế định Thừa phát lại, Báo cáo thẩm tra số 2974/BC-UBTP13 ngày 14/9/2015, Báo cáo thẩm tra số 3085/BC-UBTP13 ngày 08/11/2015 của Ủy ban tư pháp của Quốc hội và ý kiến của các vị đại biểu Quốc hội, Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 107/2015/QH13 ngày 26/11/2015 về thực hiện chế định Thừa phát lại, theo đó ghi nhận kết quả đạt được trong việc thực hiện thí điểm chế định TPL về tổ chức, hoạt động của TPL và những tác động đối với kinh tế – xã hội, qua đó khẳng định việc thí điểm chế định TPL là một chủ trương đúng đắn, phù hợp với bối cảnh cải cách tư pháp, cải cách hành chính hiện nay, chính thức chấm dứt việc thí điểm và cho thực hiện chế định TPL trong phạm vi cả nước kể từ ngày 01/01/2016. Giao cho Chính phủ căn cứ căn cứ tình hình thực tế ở địa phương tổ chức thực hiện chế định TPL trong phạm vi nghề nghiệp theo quy định hiện hành, có sự sửa đổi, bổ sung cần thiết để khắc phục những tồn tại, hạn chế trong hoạt động TPL và chịu trách nhiệm tổ chức đào tạo nghề TPL, đồng thời, phối hợp với Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao triển khai thực hiện Nghị quyết và chuẩn bị dự án Luật Thừa phát lại, báo cáo Quốc hội xem xét đưa vào chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của Quốc hội khóa XIV. Luận văn: Chế định lập vi bằng của Thừa phát lại theo pháp luật.

Thời gian qua, triển khai thực hiện chính thức chế định TPL theo Nghị quyết số 107/2015/QH12, đã có 21 tỉnh/thành phố trực thuộc Trung ương xây dựng Đề án thực hiện chế định Thừa phát lại gửi BTP phê duyệt theo quy định (trong đó có 5 địa phương đã thực hiện chế định TPL đề nghị phát triển thêm các Văn phòng). Ngày 25/8/2017, Bộ Tư pháp đã thực hiện phê duyệt Đề án/Đề án mở rộng thực hiện chế định TPL của 8 địa phương, cho phép thành lập thêm tổng cộng 21 VP TPL tại Bắc Ninh, Bình Dương, Bình Thuận, Cần Thơ, Đà Nẵng, Đồng Tháp, Long An và Thành phố Hồ Chí Minh. Còn lại 10 địa phương đã được phê duyệt Đề án hiện đang triển khai thành lập các VP TPL.

Tuy nhiên, trong giai đoạn thực hiện thí điểm tại một số tỉnh/thành phố và thực hiện chế định TPL trên phạm vi cả nước cho đến nay, hoạt động và tổ chức của TPL vẫn đang được điều chỉnh bởi Nghị định số 61/2009/NĐ-CP mà chưa có Luật Thừa phát lại, dẫn đến những bất cập nhất định về mặt thể chế, băn khoăn, lo ngại về tính pháp lý trong hoạt động của TPL nói chung và hoạt động lập vi bằng nói riêng.

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

TPL với tính chất là một nghề chuyên môn pháp lý, thực hiện các công việc hành chính – pháp lý liên quan đến hoạt động xét xử của Tòa án, bắt đầu xuất hiện và tồn tại ở Việt Nam từ thời kỳ Pháp thuộc cho đến năm 1950 ở miền Bắc và năm 1975 ở miền Nam.

Một trong những nhiệm vụ quan trọng của TPL trong thời gian này là lập vi bằng theo yêu cầu của Tòa án hoặc theo yêu cầu của các cá nhân, tổ chức. Công việc lập vi bằng của TPL rất đa dạng và có tầm quan trọng đặc biệt đối với việc cung cấp chứng cứ.

Theo tiến trình lịch sử, sự cần thiết tái lập chế định TPL phù hợp với bối cảnh cải cách tư pháp và cải cách hành chính, đòi đòi hỏi một thiết chế có thể hỗ trợ người dân chủ động thực hiện đúng đắn các quyền, nghĩa vụ và bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của mình, qua đó hỗ trợ, giảm tải công việc cho Tòa án và các cơ quan thi hành án dân sự nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động xét xử, Thi hành án dân sự.

Với chức năng lập vi bằng vi bằng của TPL không chỉ có vai trò là chứng cứ để Tòa án xem xét khi giải quyết vụ án và là căn cứ để thực hiện các giao dịch hợp pháp khác theo quy định của pháp luật, mà còn có giá trị đa dạng hóa nguồn cung cấp dịch vụ pháp lý, giúp các chủ thể chủ động bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Luận văn: Chế định lập vi bằng của Thừa phát lại theo pháp luật.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:   

===>>> Luận văn: Thực trạng pháp luật về lập vi bằng của Thừa phát lại

One thought on “Luận văn: Chế định lập vi bằng của Thừa phát lại theo pháp luật

  1. Pingback: Luận văn: Thực tiễn quy định về lập vi bằng của Thừa phát lại

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464