Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Hoàn thiện về người không có quyền hưởng di sản hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Thực trạng áp dụng pháp luật và hướng hoàn thiện những qui định về người không có quyền hưởng di sản dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
3.1 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ NGƯỜI KHÔNG CÓ QUYỀN HƯỞNG DI SẢN
Trong những năm gần dưới sự tác động của cơ chế thị trường số lượng những tranh chấp về thừa kế có phần tăng nhanh, đa số các tranh chấp về thừa kế đều có những tình tiết phức tạp, trong khi đó qui định của pháp luật trong việc điều chỉnh quan hệ trên chưa thật sự đầy đủ và mang tính cụ thể nên quá trình áp dụng pháp luật về thừa kế để giải quyết các tranh chấp còn gặp nhiều khó khăn Trên thực tế có nhiều vụ việc tranh chấp về thừa kế đã được giải quyết nhưng giải quyết không triệt để và không giải quyết dứt điểm được những mâu thuẫn về lợi ích của nguyên đơn và bị đơn trong vụ kiện đó, ngoài ra khi giải quyết những vụ án tranh chấp về thừa kế thì quyết định của cơ quan có thẩm quyền lại gây hoang mang cho người dân bởi cùng một vụ việc nhưng mỗi một cấp xét xử lại đưa ra những phán quyết khác nhau, điều này không những gây phiền hà, tốn kém cho người dân cũng như khó khăn gặp phải trong giai đoạn thi hành án mà còn gây rạ những ảnh hưởng tiêu cực, sự nghi ngờ của người dân về năng lực xét xử cũng như sự công tâm của thẩm phán trong quá trình xét xử đối với những tranh chấp về thừa kế … Xem xét một số vụ án giải quyết tranh chấp về thừa kế sau sẽ rõ hơn về vấn đề này.
Cụ Trương Văn Chỉ và cụ Trần Thị Ba có 7 người con chung là bà Trương Thị Nga Hoàng. (đã chết, có 8 con Ở M), bà Trương Thị Ngọc Hương, bà Trương Thu Thủy, bà Trương Thu Hà, bà Trương Thị Kim Loan, ông Trương Minh Hải và bà Trương Thị Ngọc Huệ. Ngày 2-12-1993, bà Huệ đã khởi kiện yêu cầu Tòa án chia thừa kế di sản của bố mẹ là cụ Chỉ và cụ Ba theo tờ di chúc cụ Ba lập vào ngày 07-01-1991. Trong quá trình chung sống cụ Chỉ và cụ Ba đã tạo lập được nhiều tài sản như ruộng đất, lò gạch và một số đồ dùng sinh hoạt khác.
- Ngày 1-7-1976 hai cụ đã lập “Tờ cho đứt ruộng đất cho các con cháu các con của hai cụ đã ký nhận phần đất ruộng, lò gạch được chia đến nay không có tranh chấp gì. Riêng căn nhà số 95 đường 30/4 các cụ chỉ tạm giao cho con trai trưởng là ông Hải quản lý, sử dụng. Cụ Chỉ và cụ Ba vẫn quản lý sử dụng căn nhà nên năm 1983 sở xây dựng Đồng Nai cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà cho vợ chồng cụ Ba. Năm 1986 cụ Chỉ mất không để lại di chúc, cụ Ba và bà Huệ quản lý sử dụng căn nhà. Luận văn: Hoàn thiện về người không có quyền hưởng di sản.
- Ngày 9/5/1990 cụ Ba lập di chúc giao cho ông Hải quản lý căn nhà trên để thờ cúng và không được bán.
- Ngày 7/1/1991 cụ Ba lại lập di chúc cho bà Huệ được hưởng một nửa căn nhà và 1/2 đồ dùng sinh hoạt nhưng bà Huệ phải phụng dưỡng cụ Ba và thờ cúng tổ tiên. 1/2 căn nhà còn lại cụ Ba yêu cầu phân chia theo luật. Bản di chúc này đã dược ủy ban nhân dân thành phố Biên Hòa xác nhận.
Sau khi cụ Ba chết, bà Huệ tiếp tục quản lý toàn bộ căn nhà. Năm 1993 ông Hải bỏ tiền tu sửa phía trước căn nhà nên phát sinh tranh chấp. Bà Huệ yêu cầu hưởng thừa kế theo di chúc cụ ba đã lập vào ngày 7/1/1991. Bị đơn là ông Hải và người có quyền và lợi ích liên quan là bà Thủy, bà Hương, bà Hà, bà Loan đều cho rằng tài sản của cha mẹ đã được phân chia xong từ ngày 1/7/1976 tại “Tờ cho đứt ruộng đất cho các con cháu và theo nội dung của tờ phân chia trên thì căn nhà số 95 đường 30/4 cha mẹ đã cho đút ông Hải nên bà Huệ không có quyền tranh chấp với ông Hải. Phía ông Hải cho rằng di chúc do bà Huệ xuất trình là di chúc giả mạo.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 5/DSST ngày 29/3/1994 Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai đã quyết định công nhận di chúc lập ngày 7/1/1991 của cụ Trần Thị Ba là di chúc hợp pháp và được tôn trọng. Ngoài ra Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí và tuyên quyền kháng cáo của các đương sự.
Sau khi xét xử sơ thẩm ông Hải kháng cáo cho rằng di chúc do bà Huệ xuất trình là di chúc giả nên không đồng ý với quyết định của Tòa sơ thẩm.
Bản án dân sự phúc thẩm số 109/DSPT ngày 25/7/1994, Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định sửa án sơ thẩm, bác yêu cầu khởi kiện của bà Trương Thị Ngọc Huệ đòi chia một nửa căn nhà số 95 đường 30/4 phường Thanh Bình, thành phố Biên Hòa và đồ dùng trong nhà thuộc phần tài sản của cụ Ba vì các tờ di chúc mang tên cụ Ba do bà Huệ xuất trình là không hợp pháp. Lý do mà Tòa phúc thẩm đưa ra là ủy ban nhân dân thành phố Biên Hòa không có thẩm quyền xác nhận di chúc từ đó không công nhận di chúc của cụ Ba. Sau khi xét xử phúc thẩm, bà Huệ khiếu nại không đồng ý với bản án phúc thẩm trên. Tại quyết định số 18/KNDS ngày 7/5/1997, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao đã kháng nghị bản án phúc thẩm trên với nhận định. Ngày 1/7/1976 cụ Chỉ và cụ Ba có lập “tờ cho đứt ruộng đất cho các con, cháu, tại văn tự trên hai cụ đã cho ông Hải căn nhà số 95 đường 30/4 nhưng ông Hải chưa làm thủ tục sang tên sở hữu hợp pháp căn nhà. Hơn nữa trên thực tế cụ Chỉ và cụ Ba vẫn tiếp tục quản lý sử dụng và kê khai nhà đất và được sở xây dựng Đồng Nai cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Về mặt pháp lý cũng như trên thực tế cụ Chỉ và cụ Ba vẫn là chủ sở hữu đối với căn nhà trên. Năm 1986 cụ Chỉ chết, không để lại di chúc các đồng thừa kế không tranh chấp về di sản của cụ nên Tòa sơ thẩm và Tòa phúc thẩm không chia thừa kế di sản của ông mà giao cho ông Hải quản lý là đúng. Đối với tranh chấp di sản của cụ Ba tại căn nhà số 95 đường 30/4, khi còn sống cụ đã 3 lần lập di chúc về căn nhà này. Luận văn: Hoàn thiện về người không có quyền hưởng di sản.
Lần thứ nhất di chúc ngày 9/5/1950, cụ Ba chỉ giao cho cho ông Hải quản lý căn nhà đó để tất cả các con cháu đều được ở, được hưởng quyền lợi và được sử dụng đồ đặc hương hỏa như nhau. Như vậy cụ Ba không giao quyền sở hữu căn nhà cho ai.
Lần thứ hai, di chúc ngày 6/12/1990 cụ Ba lại viết di chúc cho bà Huệ, ông Hải mối người một nửa căn nhà.
Lần thứ ba, ngày 7/1/1991 cụ Ba đã lập di chúc để cho bà Huệ 1/2 căn nhà số 95 và toàn bộ đồ dùng trong nhà thuộc giá trị phần tài sản của bà trong khối tài sản chung của vợ chồng. Để chứng minh yêu cầu của bị đơn là ông Hải cho rằng bản di chúc mà bà Huệ xuất trình là di chúc giả, công an tỉnh Đồng Nai và Viện khoa học hình sự Bộ Nội Vụ đã khẳng định dấu vân tay trên bản di chúc trên là của cụ Ba. Do đó đã có cơ sở để xác định di chúc do cụ Ba lập vào ngày 7/1/1991 là di chúc hợp pháp. Bà Huệ có quyền được hưởng thừa kế toàn bộ di sản của cụ Ba gồm 1/2 căn nhà số 95 đường 30/4 và 1/2 số đồ dùng sinh hoạt theo di chúc do cụ Ba lập ngày 7/11/1991 như Tòa án cấp sơ thẩm nhận định. Chánh án Tòa án nhân dân tối cao đề nghị ủy ban thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xét xử giám đốc thẩm hủy bản án phúc thẩm nêu trên và giữ nguyên hiệu lực của bản án dân sự sơ thẩm số 05 ngày 19/4/1994 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai. Tại phiên tòa giám đốc thẩm, ủy ban thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao nhận định. Đối với phần di sản của cụ Chỉ tại tờ “cho đứt ruộng đất cho các con, cháu cụ Chỉ đã thể hiện ý chí cho ông Hải và cho đến khi chết cụ Chỉ cũng không thay đổi ý chí nên phải tôn trọng ý chí của cụ Chỉ. Như vậy, tại phiên tòa sơ thẩm Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xác định cụ Chỉ chết không để lại di chúc nên phần di sản đó được chia theo pháp luật cho vợ và các con là chưa đúng pháp luật. Vì vậy phải xác định 1/2 căn nhà số 95 đường 3 0/4 thuộc quyền sở hữu của ông Hả. Đối với phần tài sản của cụ Ba (112 căn nhà số 95) mặc dù trong tờ “cho đứt ruộng đất cho con, cháu thể hiện phần tài sản của cụ Ba đã cho ông Hải phần tài sản của cụ nhưng hợp đồng tặng cho mới chỉ được ủy ban nhân dân phường Thanh Bình chứng thực, ông Hải chưa làm thủ tục sang tên sở hữu căn nhà. Sau đó cụ Chỉ và cụ Ba vẫn quản lý sử dụng và kê khai căn nhà trên với nhà nước, nên năm 1983 hai cụ được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà. Về mặt pháp lý cũng như trên thực tế, ông Hải chưa phải là chủ sở hữu tài sản của cụ Ba tại nhà 95 nên cụ Ba có quyền thay đổi ý chí của mình. Bản di chúc cuối cùng mà cụ Ba lập ngày 7-1-1991, cụ Ba đã để lại cho bà Huệ 1/2 căn nhà số 95 và toàn bộ tài sản trong nhà thuộc phần giá trị tài sản của cụ trong khối tài sản chung của vợ, chồng. Di chúc trên đã được ủy ban nhân dân thành phố Biên Hòa xác nhận. Kết luận của công an tỉnh Đồng Nai và Viện Khoa học hình sự Bộ Nội vụ đã khẳng định dấu vân tay trên bản di chúc là của cụ Ba. Do vậy, bản di chúc do cụ Ba lập trong bản di chúc ngày 7-1-1991 là di chúc hợp pháp. Tòa án cấp sơ thẩm công nhận di chúc và chia thừa kế theo di chúc ngày 7-1-1991 là có cơ sở. Tòa phúc thẩm cho rằng ủy ban nhân dân thành phố Biên Hòa không có thẩm quyền xác nhận di chúc, từ đó không công nhận di chúc của cụ Ba và xử bác yêu cầu hưởng thừa kế theo di chúc của bà Huệ là không đúng, Tòa tuyên hủy bản án dân sự sơ thẩm số 05/DSST ngày 29/3/1994 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai và án dân sự phúc thẩm số l09!DSPT ngày 25/7/1994 của tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh về việc giải quyết tranh chấp thừa kế tài sản giữa bà Huệ và ông ám cùng những người có quyền và nghĩa vụ liên quan trong vụ án này. Hồ sơ vụ án được giao cho Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm lại theo đúng qui định của pháp luật.
Như vậy trong vụ án tranh chấp về thừa kế trên chúng tôi nhận thấy nguyên nhân dẫn tới việc hủy các án sơ thẩm và phúc thẩm là do Tòa đã thiếu sót trong việc xem xét đánh giá chứng cứ, cũng như việc xác định sai thẩm quyền chứng thực di chúc và thời gian xảy ra tranh chấp kéo dài trong thời gian khá dài cho nên phán quyết của Tòa án trong phiên Tòa sơ thẩm và phúc thẩm đã có quyết định trái ngược nhau. Vụ án trên được giao lại cho Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm lại là đúng qui định của pháp luật. Luận văn: Hoàn thiện về người không có quyền hưởng di sản.
Ngoài ra, để bảo vệ quyền và lợi ích của nguyên đơn và bị đơn trong một vụ án tranh chấp về thừa kế, quá trình thu thập chứng cứ, lấy lời khai, xác minh lời khai của đương sự… kết hợp với việc hiểu đúng và áp dụng đúng tinh thần của điều luật là rất quan trọng. Tuy nhiên trên thực tế, có những vụ án đã được xét xử nhưng vẫn có nhiều quan điểm khác nhau, cách hiểu khác nhau trong việc nhìn nhận và đánh giá trong cùng một vụ việc có thể gây ra nhiều tranh cãi. Đa số những vụ việc gây tranh cãi đều xuất phát từ nguyên nhân đó là qui định của pháp luật về những trường hợp đó lại chưa đầy đủ, hoặc chưa rõ ràng nhưng lại không có văn bản hướng dẫn áp dụng, dẫn tới phán quyết của Tòa án trong nhiều vụ việc còn gây tranh cãi điều này gây ra những ảnh hưởng tiêu cực đến quan hệ thừa kế đôi khi còn xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của người dân trong lĩnh vực thừa kế.
Bản án sơ thẩm số 62/DSST ngày 20/6/2001 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Khê và bản án phúc thẩm số 01/DSPT của Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng về việc tước quyền hưởng di sản của bà Võ Thị Xuân do đã có hành vi giả mạo di chúc, vi phạm điểm d khoản 1 Điều 643 Bộ luật Dân sự năm 2005.
Ông Nguyễn văn Khôi xây dựng gia đình với bà Bùi Thị út năm 1935 và có hai người con là bà Xuân và bà Hương. Năm 1950 ông Khôi chung sống với bà Liễu và có ba người con là bà Thu, ông Nghĩa, ông Thanh. Sau khi bà Liễu chết, ông Khôi đón tất cả các con về nuôi. Năm 1999 ông Khôi, bà út tháo dỡ xây dựng lại nhà, năm 1993 ủy ban nhân dân thành phố Đà Nẵng công nhận ngôi nhà ấy đứng tên sở hữu của hai ông bà. Tháng 9 năm 1999, bà Xuân yêu cấu Tòa án chia thừa kế theo di chúc của bà út để lại ngày 22/5/1974, bản di chúc trên được đánh máy và có chữ ký của bà út. Bản di chúc này được phường trưởng kiêm hộ tịch (chế độ cũ xác nhận và đóng dấu).
Bị đơn và những người có quyền và lợi ích liên quan lại cho rằng bản di chúc do bà Xuân xuất trình là di chúc giả mạo và từ trước cho đến thời điểm xảy ra tranh chấp họ đều không thấy bà Xuân có nhắc đến bản di chúc này. Yêu cầu của bị đơn và những người có quyền và nghĩa vụ liên quan là chia di sản thừa kế theo pháp luật. Để xác minh bản di chúc mà bà Xuân xuất trình có đúng là di chúc của bà út hay không, Tòa án quận Thanh Khê thành phố Đà Nẵng đã có công văn đề nghị Phòng khoa học hình sự Công an TP Đà Nẵng giám định bản di chúc trên là thật hay giả. Tổ chức giám định Công an Thành phố Đà Nẵng đã xác định chữ ký và con dấu của người xác nhận di chúc là giả. Bản án số 62/DSST của Tòa án nhân dân huyện Thanh Khê đã xử và quyết định đối với di sản tranh chấp là ngôi nhà ở 1 89 Trần Cao Vân- Đà Năng được chia theo qui định của pháp luật. Tước quyền thừa kế theo luật của bà Xuân ở ngôi nhà ở 189 Trần Cao Vân – Đà Nẵng vì hành vi làm giả chữ ký và con dấu của người xác nhận di chúc. Bà Xuân không đồng ý với quyết định trên nên đã. kháng cáo. Tại bản án phúc thẩm số 01/DSPT ngày 5-10-2001 Tòa án nhân dân thành phố Đà Nàng đã quyết định giữ y án sơ thẩm số 62 ngày 20-6-2000 của Tòa án quận Thanh Khê. Luận văn: Hoàn thiện về người không có quyền hưởng di sản.
Liên quan đến việc tước quyền hưởng di sản của bà Xuân, có nhiều ý kiến tranh luận về vấn đề này. Tác giả Liên Hương với bài viết đăng trên tạp chí Tòa án nhân dân số 4 (tháng 2/2004), tác giả cho rằng cả án sơ thẩm và phúc thẩm đã nêu trên đều căn cứ vào điểm d khoản 1 Điều 643 Bộ luật Dân sự để giải quyết đối với vụ kiện trên. Tòa án chỉ có thể truất quyền hưởng di sản của bà Xuân thì phải chứng minh được ba vấn đề sau:
Thứ nhất: Nếu cho rằng bản di chúc mà bà Xuân xuất trình là di chúc giả mạo thì phải chứng minh được là bản di chúc đó không phải do người để lại di sản lập ra, nếu chỉ căn cứ vào kết quả giám định chữ ký và con dấu của người xác nhận thị thực là giả thì mới chỉ đủ căn cứ xác định bản di chúc của bà út là không hợp pháp để bác yêu cầu chia thừa kế theo di chúc của bà Xuân Cần phải xác định chữ ký của bà út tại bản di chúc là giả thì mới có thể khẳng định di chúc đó là di chúc thật hay giả. Cho nên nếu chỉ căn cứ vào kết quả giám định chữ ký con dấu của người xác nhận di chúc là giả mà khẳng định di chúc giả là không có căn cứ pháp luật.
Thứ hai: Nếu đủ cơ sở xác định di chúc của bà út là giả thì cần phải xác định ai là người có hành vi giả mạo di chúc đó, tác giả của di chúc cũng có thể là bà Xuân cũng có thể do những người có quyền lợi liên quan khác lập ra. Trong trường hợp này cần phải chứng minh là bà Xuân đúng là tác giả của bản di chúc do bà cung cấp.
Thứ ba: Cần xác định được mục đích của người có hành vi giả mạo di chúc nhằm để hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản trái với ý chí của người để lại di sản. Như vậy nếu chứng minh được bà Xuân là người có hành vi giả mạo di chúc nhưng không chứng minh được hành vi đó trái với ý chí của người để lại di sản thì không thể tước quyền thừa kế di sản của bà Xuân.
Cũng theo tác giả, trong vụ kiện thừa kế trên thì hoàn toàn không đủ căn cứ để chứng minh ba điều kiện trên theo qui định tại khoản d khoản 1 Điều 643 Bộ luật Dân sự. Cho nên quyết định của hai bản án trên về việc tước quyền hưởng di sản của bà Xuân đối với di sản của bà út là không đúng pháp luật.
Sau khi bài viết của tác giả Liên Hương được đăng trên tạp chí đã có nhiều phản hồi xung quanh quan điểm của tác giả này. Tác giả Lê Minh Hiếu Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp đã có ý kiến về ba điểm cần phải chứng minh để tước quyền hưởng di sản của bà Võ Thị Xuân. Luận văn: Hoàn thiện về người không có quyền hưởng di sản.
Thứ nhất: Để chứng minh di chúc của bà Bùi thị út mà bà Xuân xuất trình là giả mạo thì phải xác định được chữ ký của bà út tại bản di chúc này là giả. Nếu dự vào kết quả giám định chữ ký, con dấu của người xác nhận di chúc là giả mà khẳng định đi chúc giả là không có căn cứ pháp luật. Lập luận như vậy là không đúng, bởi kết quả giám định của cơ quan công an về chữ ký, con dấu của Phường trưởng kiêm hộ tịch (chế độ cũ) là giả là đủ căn cứ để xác định đó là bản di chúc giả. Mặt khác, trong di chúc có đoạn viết “Di chúc này sau khi tôi lập xong ở ủy ban hành chính phường và tôi giao lại cho người con mà tôi tin tưởng nhất là Võ Thị Xuân… “điều này cho thấy việc lập di chúc và ký vào di chúc đều được bà út lập tại ủy ban hành chính phường và được người có trách nhiệm ký xác nhận. đóng dấu. Chữ ký của phường trưởng là giả thì chữ ký của bà út đương nhiên cũng là chữ ký giả.
Thứ hai: Khi đã có đủ cơ sở để xác định di chúc của bà út là di chúc giả thì cần phải xác định ai là người có hành vi giả mạo. Người có hành vi giả mạo ở đây không nhất thiết phải đúng tác giả mà người đó có biết, đồng ý hoặc tham gia vào việc giả mạo này không. Trong trường hợp này bà Xuân là nguyên đơn, là người giữ và xuất trình di chúc để yêu cầu chia thừa kế như vậy bà Xuân là người biết về tính trung thực của bản di chúc. Hay nói cách khác bà Xuân là người trực tiếp đồng phạm của việc giả mạo di chúc. Vì vậy tước quyền thừa kế của bà Xuân là hoàn toàn hợp lý.
Thứ ba: Tác giả Liên Hương cho rằng, nếu xác định bà Xuân là người có hành vi giả mạo di chúc nhưng không chứng minh được hành vi đó trái với ý chí của người để lại di sản thì không thể tước quyền thừa kế di sản của bà Xuân là không chính xác. Bởi nếu di chúc mà bà Xuân làm giả, có nghĩa là bà út chết đã không để lại di chúc thì di sản sẽ được chia đều cho những người thừa kế. Hành vi bà Xuân giả mạo di chúc nhằm không cho ông Võ Ngọc Khôi (chồng bà út) hưởng di sản như vậy có trái với ý kiến của bà út không? Cũng theo tác giả, để tước quyền thừa kế theo qui định tại điểm d khoản 1 Điều 643 Bộ luật Dân sự thì chỉ cần đủ chứng cứ để chứng minh người đó có hành vi giả mạo chứ không nhất thiết phải chứng minh đủ ba yếu tố như tác giả đưa ra. Quyết định của Tòa Dân sự sơ thẩm và Tòa Phúc thẩm đã tước quyền thừa kế theo luật của bà Võ Thị Xuân là đúng. Liên hệ đến bản di chúc do bà Xuân xuất trình có đặc điểm bản di chúc được đánh máy, có chữ ký của người lập di chúc, được chính quyền địa phương xác nhận và đóng dấu. Tuy nhiên những người trong hàng thừa kế không chấp nhận vì trong suốt 22 năm qua họ chưa thấy và cũng không nghe bà Xuân có nhắc tới bản di chúc này. Cho nên những người thừa kế này cho rằng đây là di chúc giả mạo và yêu cầu giám định lại bản di chúc đó. Tuy nhiên việc giám định chữ ký của bà út không thực hiện được vì bà út đã mất quá lâu và không để lại bút tích gì, do vậy chỉ còn phương pháp giám định chữ ký và con dấu của người xác nhận di chúc. Kết quả cho thấy chữ ký và con dấu đều là giả, như vậy yêu cầu của bị đơn là đúng. Ngoài ra với yêu cầu của của tác giả Liên Hương để tước quyền hưởng di sản của bà Xuân thì phải chứng minh bà Xuân là người có hành vi lập di chúc giả mạo, tuy nhiên trong một vụ việc”dân Sự thì việc Xác định hành V; giả mạo là không thực hiện được.
Sau khi có kết quả giám định về chữ ký và con dấu của người xác nhận di chúc là giả mạo bà Xuân không xin giám định lại bản di chúc đó ở cấp có thẩm quyền cao hơn. Bà cương quyết từ chối và vẫn cho rằng đây là bản di chúc thật nhưng không có gì để chứng minh. Mặc dù để bảo đảm quyền lợi của bà Xuân Tòa hỏi bà có thay đổi yêu cầu khởi kiện không? Có yêu cầu chia thừa kế theo pháp luật không? Nhưng bà Xuân không có yêu cầu, cho nên Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao đã có công văn số 1955 ngày 7/8/2003 trả lời khiếu nại của bà Xuân với nội dung hai bản án cấp dưới xử đúng và bà Xuân phải có nghĩa vụ chấp hành. Luận văn: Hoàn thiện về người không có quyền hưởng di sản.
Mặc dù vụ án này các cấp Tòa án đã ra quyết định hoàn toàn hợp lý và có cơ sở nhưng với những cách hiểu khác nhau trên thực tế đã làm phát sinh nhiều tranh cãi. Với cách hiểu như của tác giả Liên Hương thì sẽ không đảm bảo được quyền và lợi ích hợp pháp của người dân. Nghiên cứu vụ án có thể nhận thấy, để đánh giá một vụ việc cần phải đánh giá toàn diện một vụ án cũng như xem xét toàn bộ chống cứ có trong vụ án như lời khai, biên bản phiên tòa, các chứng cứ cũng như tình tiết của vụ án để đánh giá tính đúng sai của vụ án. Với những cách hiểu khác nhau trên thực tế có thể làm phát sinh nhiều tranh cãi, cần hiểu đúng chính xác tinh thần của điều luật kết hợp với mối liên hệ tổng thể của những tình tiết có trong vụ án để có kết luận chính xác và hợp lý, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Bản án dân sự sơ thẩm ngày 31/8/2008 của Tòa án nhân dân tỉnh Long An đã xử vụ tranh chấp thừa kế giữa nguyên đơn là bà Nguyễn Thị Lụa trú tại ấp Trại Lòn Nam, xã Nhơn Ninh, huyện Tân Thành, Tỉnh Long An và bà Nguyễn Thị Chinh trú tại Cộng hòa Liên bang Đức (ủy quyền cho bà Nguyễn Thị Lài) với bị đơn là ông Nguyễn Văn Chính ngụ tại ấp Trại Lòn Nam, xã Nhơn Ninh, huyện Tân Thành, Tỉnh Long An.
Theo bản án sơ thẩm vụ án có nội dung như sau: Nguyên đơn là bà Nguyễn Thị Lụa và bà Nguyễn Thị Chinh thống nhất trình bày: Bố mẹ đẻ của các bà là ông Nguyễn Văn Tám và bà Nguyễn Thị Lài sinh được 3 người con là ông Nguyễn Văn Chính (có vợ là Nguyễn Thị Tươi), bà Nguyễn Thị Lụa, bà Nguyễn Thị Chinh. Trong thời gian chung sống cha mẹ bà có tạo lập một ngôi nhà cấp 4 nằm trên khu vườn khoảng 700m2 tại ấp Trại Lòn Nam, xã Nhơn Ninh, huyện Tân Thành, Tỉnh Long An, ngoài ra không còn tài sản gì khác có giá trị. Ông Chính là con trai cả nên được sống chung với cha mẹ, năm 1997 do tuổi cao sức yếu do cần tiền trị bệnh nên ông bà Tám cắt một phần đất để nhượng lại cho một người bà con để lấy tiền chữa bệnh. Vợ chồng Chính phản đối cho rằng cha mẹ không có quyền bán, từ đây vợ chồng Chính nhiều lần dùng lời lẽ thô tục để chửi mắng cha mẹ, đập phá tài sản của ông bà. Không chịu nổi tình cảnh trên ông bà Tám đã bỏ nhà đến sống với bà Lụa. Hai tháng sau ông bà quay trở về, Chính và Tươi không cho ông bà vào nhà và đối xử ngày càng tàn tệ hơn. Quá khiếp sợ trước sự ngược đãi, bức bách tinh thần của vợ chồng Chính, Tươi. Vợ chồng ông Tám một lần nữa bỏ nhà ra đi, với hành vi ngược đãi cha mẹ trong một thời gian dài được nhiều người biết, chính quyền đoàn thể tại địa phương cảnh cáo, giáo dục, phạt hành chính nhưng vợ chồng Chính Tươi vẫn không ăn năn hối cải mà tiếp tục vi phạm ở mức độ nghiêm trọng hơn. Chính quyền và nhân dân địa phương đã bức xúc gửi đơn yêu cầu pháp luật xử lý nghiêm khắc đối với vợ chồng Chính Tươi. Cơ quan pháp luật đã khởi tố vụ án hình sự về hành vi ngược đãi cha mẹ của vợ chồng Chính, Tươi. Tại phiên tòa sơ thẩm Tòa sơ thẩm đã tuyên phạt Chính 1 năm tù, Tươi 1 năm 3 tháng tù giam về tội ngược đãi cha mẹ. Luận văn: Hoàn thiện về người không có quyền hưởng di sản.
Năm 2006 ông Tám mất không để lại di chúc, năm 2007 bà Lài mất cũng không để lại di chúc. Sau khi ông bà Tám mất, ngôi nhà và mảnh vườn của ông bà Tám đã bị vợ chồng ông Chính chiếm giữ. Bà Lụa và bà Chinh cho rằng ông Chính không có quyến hưởng tài sản của cha mẹ để lại nên nộp đơn yêu cầu Tòa giải quyết. Bản án dân sự sơ thẩm ngày 31/8/2008 của Tòa án nhân dân tỉnh Long An đã xử, công nhận ý kiến của nguyên đơn là hợp pháp và được tôn trọng, Tòa tuyên bố truất quyền hưởng di sản thừa kế của ông Nguyễn Văn Chính ngụ tại ấp Trại Lòn Nam, xã Nhơn Ninh, huyện Tân Thành, Tỉnh Long An do đã có hành vi vi phạm tại điểm a khoản 1 Điều 643 Bộ luật Dân sự. Di sản thừa kế của ông Tám, bà Lài là ngôi nhà cấp 4 nằm trên khu vườn khoảng 700m2 tại ấp Trại Lòn Nam, xã Nhơn Ninh, huyện Tân Thành,Tỉnh Long An được chia theo qui định của pháp luật cho hai người thừa kế là bà Nguyễn Thị Lụa và bà Nguyễn Thị Chinh.
Như vậy, qua vụ tranh chấp trên chúng tôi thấy rằng quyết định truất quyền hưởng di sản của bị đơn, di sản thừa kế được chia theo qui định của pháp luật Tòa sơ thẩm trong vụ án trên là chính xác.
Ngoài ra trên thực tế, rất nhiều tranh chấp phát sinh giữa những người thừa kế bởi họ cho rằng có người thừa kế không được quyền hưởng di sản do đã có hành vi qui định tại Điều 643 Bộ luật Dân sự. Tuy nhiên, do cách hiểu chưa thấu đáo về nội dung của điều luật cho nên dẫn tới những cách hiểu sai.
Chẳng hạn như người thừa kế đã vi phạm nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng người để lại di sản nhưng chưa nghiêm trọng đến mức bị tước quyền hưởng di sản nhưng những người thừa kế khác lại cho rằng cứ không chăm sóc nuôi dưỡng cha mẹ là không có quyền được hưởng tài sản của cha mẹ để lại. Hoặc khi người thừa kế có hành vi giả mạo di chúc thì họ không có quyền hưởng thừa kế, tuy nhiên họ chỉ bị mất quyền hưởng di sản của người đã bị họ giả mạo di chúc còn đối với di sản của người khác họ vẫn có quyền được hưởng. Ví dụ như cụ A và cụ B có 4 người con là C, D, E, H. Năm 1957 cụ A chết không để lại di chúc, năm 1 985 cụ B chết cũng không để lại di chúc. Sau khi cụ B chết, con gái của các cụ là bà H đã xuất trình một bản di chúc đứng tên cụ B với nội dung là cho bà H hưởng toàn bộ nhà đất và tài sản do cụ B để lại. Bản di chúc mà bà H xuất trình là di chúc giả, những người thừa kế còn lại đều cho rằng bà H có hành vi làm giả di chúc nên không được hưởng di sản của cha mẹ để lại. Đây là cách hiểu không chính xác bởi bà H làm giả di chúc của cụ B nên chỉ không được hưởng di sản của cụ B để lại còn di sản của cụ A để lại thì bà H vẫn có quyền được hưởng.
3.2 KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH VỀ NGƯỜI THỪA KẾ KHÔNG CÓ QUYỂN HƯỞNG DI SẢN Luận văn: Hoàn thiện về người không có quyền hưởng di sản.
Trên cơ sở qui định của pháp luật về người không có quyền hưởng di sản tại Điều 643 Bộ luật Dân sự năm 2005 cho thấy bên cạnh sự nghiêm minh, tính răn đe, sự nghiêm khắc của pháp luật đối với những hành vi vi phạm đạo đức, vi phạm đạo lý làm người thì điều luật trên còn thể hiện sự nhân đạo giá trị nhân văn sâu sắc mà điều luật hướng tới mang ý nghĩa giáo dục sâu sắc.
Tuy nhiên điều luật được xây dựng dựa trên cách liệt kê bốn trường hợp người thừa kế có thể bị tước quyền hưởng di sản nếu thuộc một trong bốn trường hợp đó. Sự liệt kê này tạo điều kiện thuận lợi để Toà án giải quyết các trường chấp về thừa kế và trên cơ sở đó bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của người thừa kế. Tuy nhiên cách liệt kê này có thể dẫn tới việc không không khái quát hết được những trường hợp người thừa kế có thể bị tước quyền hưởng di sản. Ví dụ: ông A có vợ là bà B nhưng khi còn sống ông A đã có quan hệ tình cảm với chị C và khi chị C đang mang thai thì ông A bị mắc bệnh hiểm nghèo và qua đời. Trước khi chết ông A đã lập di chúc cho thai nhi còn trong bụng chị C được hưởng di sản thừa kế. Do không muốn đứa trẻ đó được nhận di sản của ông A để lại sau khi đứa trẻ được sinh ra, bà B đã lừa dối chị C uống thuốc dưỡng thai nhưng thực chất là thuốc phá thai. Trong trường hợp này nếu xét về các trường hợp được qui định tại Điều 643 Bộ luật Dân sự thì không thể tước quyền thừa kế của bà B được, mặc dù hành vi này lẽ ra phải bị tước quyền hưởng di sản thừa kế do ông A để lại. Như vậy, để hoàn thiện các qui định liên quan đến người thừa kế không có quyền hưởng di sản điều 643 Bộ luật Dân sự cần thiết phải có sự bổ sung những hành vi gây nguy hại không kém như hành vi xâm phạm đến sức khỏe của người thừa kế khác nhằm làm cho họ bị mất năng lực hành vi dân sự, hành vi không tố giác kẻ giết người để lại di sản nhằm mục đích thúc đẩy vụ án diễn biến để có lợi về di sản cho bản thân mình, hành vi cố tình phá hoại tài sản để không mong muốn được hưởng di sản, hành vi xâm phạm sức khỏe của người thừa kế khác nhằm làm họ bị mất năng lực hành vi dân sự để họ không thể đảm đương được việc quản lý tài sản hoặc người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ biết một trong những hành vi qui định tại Điều 643 mà không tố cáo thì có vi phạm pháp luật không và có xứng đáng nhận di sản không … Qua nghiên cứu và tìm hiểu, xin đưa ra một sồ đề xuất hoàn thiện qui định của pháp luật về vấn đề này như sau: Luận văn: Hoàn thiện về người không có quyền hưởng di sản.
Thứ nhất: Điểm a, điểm b khoản 1 Điều 643 vi như ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản, xâm phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm của người đó hoặc người có hành vi vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại ới sản… Một hành vi vi phạm ở mức độ như thế nào thì bị coi là nghiêm trọng? Điều này chưa được qui định cụ thể trong luật cũng như chưa được giải thích cụ thể bằng các văn bản pháp luật khác. Thông thường một hành vi khi thỏa mãn đầy đủ các dấu hiệu của cấu thành tội phạm và đã bị kết án bằng một bản án hình sự về hành vi ngược đãi, hành hạ, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người để lại di sản tự nó đã xác định tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi và bản án đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án chính là căn cứ để cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết việc thừa kế tuyên bố những người có hành vi đó không được quyền hưởng di sản. Tuy nhiên, nếu hành vi đó chỉ xâm phạm đến quan hệ pháp luật Hôn nhân và gia đình thì cơ quan giải quyết tranh chấp phải đứng trên bình diện khách quan nhìn nhận từng hoàn cảnh cụ thể, đặc biệt là đối với người bị xâm phạm, ảnh hưởng về thể chất và tinh thần của hành vi xâm phạm đối với họ, hậu quả để lại đối với họ ra sao … Tùy từng trường hợp cụ thể để đánh giá mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi.
Thứ hai: Điểm d khoản 1 Điều 643 qui định: “Người có hành vi lừa dối, cưỡng ép hoặc ngăn cản người để lại di sản trong việc lập di chúc; giả mạo di chúc, sửa chữa di chúc, hủy di chúc nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản trái với ý chí của người để lại di sản”. Người được hưởng di sản trong trường hợp trên đã có hành vi xâm phạm đến quyền tự định đoạt của người lập di chúc, nhưng nếu người có hành vi tại điểm d khoản 1 mặc dù có hành vi lừa dối. sửa chữa, hủy bỏ di chúc có nội dung trái pháp luật và đạo đức xã hội thì có nên truất quyền hưởng thừa kế của họ không?
Theo tôi cho dù hành vi của người thừa kế trong trường hợp trên mặc dù đã xâm phạm đến quyền định đoạt của người thừa kế nhưng để ngăn chặn một hành vi trái pháp luật và trái đạo đức xã hội thì vẫn nên cho họ có quyền được hưởng di sản thừa kế.
Điểm c, d khoản 1 Điều 643 đều qui định mục đích của người thừa kế đó là chiếm đoạt một phần hoặc toàn bộ phần di sản của người thừa kế khác hoặc của người để lại di sản. Vậy nếu trường hợp người thừa kế có hành vi xâm phạm tính mạng của những người thừa kế khác hoặc có hành vi lừa dối, sửa chữa, hủy bỏ di chúc của người để lại di sản không vì mục đích chiếm đoạt phần di sản cho mình mà cho một người khác được hưởng, vì vậy nên mở rộng mục đích chiếm đoạt của người để lại di sản tại điểm c, d của điều luật trên. Việc chiếm đoạt tài sản ấy có thể cho chính bản thân họ hoặc cho những người khác hưởng. Ví dụ: H được cha vợ là ông A lập di chúc cho hưởng một phần di sản thừa kế, phần lớn số di sản còn lại ông A để lại cho con gái chị B (vợ của Hi và con trai của ông đó là C. H đã giết em vợ với mục đích di sản của ông A sẽ được chia theo qui định của pháp luật; trong trường hợp này di sản của ông A đương nhiên sẽ thuộc về chị B. Cần phải tước quyền hưởng thừa kế của H trong trường hợp trên. Luận văn: Hoàn thiện về người không có quyền hưởng di sản.
Thứ ba: Cần bổ sung những trường hợp đã đủ căn cứ để kết tội nhưng 11 không thể kết án được trong một số trường hợp như chưa đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự, được miễn truy cứu trách nhiệm hình sự, hoặc hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự… Như hành vi giết người của một đứa trẻ là tuổi, không thể tước quyền hưởng di sản của đứa trẻ này do không thể đưa ra một bản án kết tội vì đứa trẻ đó chưa đủ tuổi để chịu trách nhiệm hình sự.
Nhưng cũng với chủ thể đó nếu có đủ căn cứ để chứng minh được hành vi lừa dối, cưỡng ép hoặc ngăn cản người để lại di sản trong việc lập di chúc, giả mạo di chúc, sửa chữa di chúc, hủy di chúc … nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ tài sản trái với ý chí của người để lại di sản thì đã đủ căn cứ để tước quyền hưởng di sản mà không cần căn cứ vào độ tuổi hay phải có bản án kết tội của Tòa án về những hành vi đo. Mặc dù xét về tính chất nguy hiểm cho xã hội của hai hành vi trên, thì hành vi giết người của đứa trẻ chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự nguy hiểm hơn nhiều.
Thứ tư: Về việc hưởng thừa kế thế vị của con, cháu người thừa kế bị tuyên bố là không có quyền được hưởng di sản, pháp luật cần có qui định cụ thể về trường hợp này. Nếu hiểu và áp dụng pháp luật một cách máy móc thì nếu cha mẹ không có quyền hưởng di sản thì đương nhiên con, cháu cũng không có quyền dược hưởng thừa kế thế vị từ ông bà. Điều này chưa hợp lý bởi xét về bản chất của thừa kế thế vị là nhằm đảm bảo quyền thừa kế của cháu, chơi cùng như nghĩa vụ của ông bà với cháu. Để bảo vệ quyền lợi của cháu chắt khi bản thân họ không bị Tòa án tước quyền, họ không bị người để lại di sản truất quyền thừa kế thì nên cho họ hưởng thừa kế thế vị thay cho cha mẹ họ đã bị tước quyền thừa kế khi còn sống, đặc biệt là trong trường hợp cháu, chất chưa thành niên. Như vậy để bảo vệ quyền và lợi ích của cháu, chất của người để lại di sản, pháp luật nên qui định cho cháu, chặt được hưởng thừa kế thế vị trong trường hợp cha mẹ cháu còn sống nhưng đã bị kết án về một trong những hành vi theo qui định tại khoản 1 Điều 643 Bộ luật Dân sự. Cháu không có lỗi và không phải chịu trách nhiệm về hành vi của cha mẹ. Do vậy cần bổ sung trường hợp những người không có quyền hưởng di sản theo qui định tại Khoản 1 Điều 643 thì con, cháu họ vẫn được hưởng thừa kế thế vị trừ khi chính những người con, người cháu ấy cũng vi phạm khoản 1 Điều 643 Bộ luật Dân sự năm 2005 thì họ mới không được hưởng di sản. Luận văn: Hoàn thiện về người không có quyền hưởng di sản.
Thứ năm: Người được hưởng di sản thừa kế theo di chúc có thể là cá nhân cơ quan tổ chức, Nhà nước. Nhưng tại Điều 643 Bộ luật Dân sự qui định người không có quyền hưởng di sản chỉ là cá nhân. Vì vậy cần phải đặt ra vấn đề khi nào pháp nhân không có quyền hưởng di sản, trong trường hợp pháp nhân không thực hiện đúng mục đích mà người để lại di sản yêu cầu thì có nên tước quyền hưởng di sản của pháp nhân đó hay không. Ví dụ như trường hợp ông A di tặng phần lớn tài sản của mình cho một tổ chức từ thiện, khi người này chết dí, tổ chức này mới bị phát hiện đó là một tổ chức lừa đảo lợi dụng lòng tốt vả sự cả tin của một số người để chiếm đoạt tài sản của họ, ông A là một trong số những nạn nhân của tổ chức này. Khi sự việc bị phát hiện, di sản của ông A có được trả về cho những người thừa kế của ông A hay không? Pháp luật nên qui định bổ sung những trường hợp pháp nhân không có quyền hưởng di sản thừa kế để đảm bảo sự công bằng cho xã hội.
Thứ sáu: Khoản 1 Điều 643 được xây dựng dựa trên phương pháp liệt kê, với bốn trường hợp mà người thừa kế có thể bị tước quyền nếu thuộc một trong bốn trường hợp đó. ưu điểm của việc liệt kê này đó là tạo sự thuận lợi cho Tòa án trong việc áp dụng pháp luật để giải quyết tranh chấp về thừa kế. Tuy nhiên việc liệt kê như trên có thể sẽ dẫn tới việc đó là không khái quát được hết các trường hợp khác mà người thừa kế có thể bị tước quyền hưởng di sản. Do đó, cần bổ sung thêm vào khoản 1 Điều 643 Bộ luật Dân sự về “những trường hợp khác do pháp luật qui định”. Như vậy ngoài bốn trường hợp được liệt kê tại khoản 1 Điều 643, Tòa án có thể tước quyền thừa kế của người để lại di sản nếu xét thấy lý do chính đáng. Sau đó trong văn bản hướng dẫn, chúng ta có thể qui định rõ “Ngoài những trường hợp được liệt kê tại khoản 1 Điều 643 Bộ luật Dân sự thì Tòa án có thể tước quyền hưởng di sản thừa kế của người thừa kế nếu xét có lý do chính đáng “.
Ngoài ra lý do của việc tước quyền hưởng di sản phải được ghi rõ trong bản án của Tòa án.
KẾT LUẬN Luận văn: Hoàn thiện về người không có quyền hưởng di sản.
Quyền thừa kế là một trong những quyền dân sự cơ bản của công dân, kể từ khi nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời cho đến nay quyền thừa kế của công dân luôn được ghi nhận trong Hiến pháp, từ bản Hiến pháp đầu tiên Hiến pháp 1946 cho đến hiến pháp hiện hành Hiến pháp 1992. Một trong những nội dung của quyền thừa kế của công dân là quyền được hưởng di sản thừa kế theo di chúc cũng như quyền được hưởng di sản theo qui định của pháp luật được pháp luật qui định và bảo hộ. Với qui định tương đối hoàn thiện, pháp luật về thừa kế hiện hành đã góp phần củng cố và nâng cao hiệu quả công tác giải quyết tranh chấp thừa kế trên thực tế. song pháp luật về thừa kế không thể nào dự liệu trước được tất cả những trường hợp xảy ra trên thực tiễn. Vì thế sau thời gian ban hành một thời gian, các văn bản pháp luật liên quan đến thừa kế đều phát sinh những điểm thiếu sót và không phù hợp với thực tiễn. So với những văn bản pháp luật về thừa kế trước đây, Bộ luật Dân sự năm 2005 đã đánh dấu bước phát triển của ngành luật dân sự nói chung và pháp luật về thừa kế nói riêng. Bộ luật Dân sự năm 2005 được xem là kết quả của quả trình phát điển hóa những qui định của pháp luật thừa kế. Nó kế thừa và. phát triển những qui định phù hợp với thực tiễn, không ngừng hoàn thiện để bảo vệ quyền lợi của người dân một cách có hiệu quả nhất Trên thực tế, quan hệ về thừa kế bản chất là quan hệ sở hữu nên việc giải quyết các tranh chấp trên thực tế không thỏa đáng hoặc không đảm bảo quyền và lợi ích của đương sự sẽ gây ra nhiều hậu quả và gây bất bình trong lòng dân. Việc xác định đúng, chính xác người thừa kế có quyền hưởng di sản thừa kế sẽ giúp cho việc giải quyết các tranh chấp trên thực tế được dễ dàng, nâng cao hiệu quả công tác xét xử, tạo niềm tin vào Nhà nước và pháp luật.
Trong chế định về thừa kế bên cạnh những qui định của pháp luật cho phép công dân có quyền được hưởng di sản từ người để lại di sản và quyền để lại tài sản của mình cho những người thừa kế, thì Điều 643 Bộ luật Dân sự năm 2005 về người không có quyền hưởng di sản là một chế tài áp dụng đối với những hành vi xâm phạm quyền và lợi ích của người để lại di sản và của những người thừa kế khác. Tuy là một vấn đề nhỏ trong rất nhiều nội dung quan trọng của chế định thừa kế, nhưng nó ảnh hưởng rất lớn đến quyền lợi của các chủ thể khi xảy ra tranh chấp trong các vụ án. Mặt khác, mỗi vấn đề dù nhỏ nhưng nếu được giải quyết triệt để cũng đem lại hiệu quả cao cho công tác xét xử góp phần giải quyết vụ án. một cách nhanh chóng, hiệu quả và chính xác.
Những vấn đề mà luận văn đưa ra và phân tích là quan điểm của cá nhân và chưa thể toàn diện nhưng đó là tâm huyết mong muốn đóng góp một phần công sức trong việc nâng cao ý thức pháp luật trong đời sống, đưa pháp luật vào cuộc sống một cách hiệu quả nhất. Luận văn: Hoàn thiện về người không có quyền hưởng di sản.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Các trường hợp không được quyền hưởng di sản

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Luận văn: Người thừa kế không được quyền hưởng di sản