Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Người thừa kế không được quyền hưởng di sản hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Người thừa kế không được quyền hưởng di sản dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
2.1 NHỮNG TRƯỜNG HỢP NGƯỜI THỪA KẾ KHÔNG CÓ QUYỂN HƯỞNG DI SẢN
Theo qui định tại khoản 1 Điều 643 Bộ luật Dân sự năm 2005, người thừa kế sẽ bị tước quyền hưởng di sản khi thực hiện một trong những hành vi sau đây.
2.1.1. Người bị kết án ve hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe hoặc về hành vi ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ người đe lại di sản, xâm phạm nghiêm trọng danh dự nhân phẩm của người đó
Hành vi xâm phạm đến tính mạng người để lại di sản của người thừa kế mặc dù không vì động cơ trục lợi, không vì mục đích để hưởng di sản thì họ vẫn bị tước quyền hưởng di sản. Tuy nhiên hành vi đó phải mang lỗi cố ý, nếu người thừa kế vô ý làm thiệt hại đến tính mạng người để lại di sản và đã bị kết án bằng một bản án hình sự đã có hiệu lực thì họ vẫn không bị tước quyền hưởng di sản. Việc xem xét lỗi của người có hành vi xâm phạm đến tính mạng người để lại di sản có ý nghĩa quyết định đến việc người thừa kế có được quyền hưởng di sản không.
Theo Điều 9 Bộ luật Hình sự 1 999, cố ý phạm tội là phạm tội trong trường hợp sau:
- Người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó và mong muốn hậu quả xảy ra.
- Người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước được hậu quả của hành vi đó có thể xảy ra, tuy không mong muốn nhưng vẫn có ý thức để mặc cho hậu quả xảy ra.
Cố ý giết người là trường hợp trước khi có hành vi tước đoạt tính mạng của người khác, người phạm tội nhận thức rõ hành động của mình tất yếu hoặc có thể gây ra cái chết cho nạn nhân, mong muốn hoặc bỏ mặc cho nạn nhân chết. Sự hình thành ý thức của người có hành vi giết người được biểu hiện ở những trạng thái khác nhau.
Thứ nhất: Trước khi thực hiện hành vi nguy hiểm đến tính mạng của người khác, người phạm tội thấy trước được hậu quả chết người tất yếu xảy ra và mong muốn cho hậu quả đó phát sinh. Ý thức của người phạm tội trong trường hợp này biểu hiện rất rõ nét bằng những hành vi như chuẩn bị hung khí phương tiện, điều tra, theo dõi mọi hoạt động của người mà người phạm tội định giết… Tuy nhiên cũng có trường hợp trước khi hành động người phạm tội không có thời gian chuẩn bị nhưng họ vẫn thấy trước hậu quả tất yếu sẽ xảy ra và mong muốn cho hậu quả phát sinh.
Thứ hai: Trước khi thực hiện hành vi nguy hiểm đến tính mạng của người khác, người phạm tội chỉ nhận thức được hậu quả chết người có thể xảy ra mà không chắc chắn nhất định sẽ xảy ra vì người phạm tội chưa tin vào hành vi của mình sẽ gây ra hậu quả chết người. Luận văn: Người thừa kế không được quyền hưởng di sản.
Thứ ba: Dạng biểu hiện thứ ba đó là trước khi thực hiện hành vi nguy hiểm đến tính mạng của người khác, người phạm tội chỉ thấy trước hậu quả chết người có thể xảy ra tuy không mong muốn nhưng có ý thức để mặc cho hậu quả xảy ra.
Chủ thể của tội giết người là bất kỳ, nhưng phải là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Bộ luật Hình sự qui định người từ đủ 14 tuổi trở lên nhưng chưa đủ 1 6 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về những tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm mà họ đã gây ra như tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng tội phạm đặc biệt nghiêm trọng (Điều 12 Bộ luật Hình sự).
Ngoài việc thỏa mãn điều kiện về độ tuổi, theo khoản 1 Điều 13 Bộ luật Hình sự một người chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự khi có đủ tiêu chuẩn y học, có nghĩa họ là người có đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình. Như vậy chỉ khi nào một người mắc bệnh tâm thần tới mức làm mất khả năng nhận thức hành vi của mình và hậu quả do hành vi đó gây ra thì mới được coi là không có năng lực trách nhiệm hình sự. Hành vi của người mắc bệnh trong trường hợp trên không bị truy cứu trách nhiệm hình sự nhưng họ phải được áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh.
Hành vi cố ý giết người để lại di sản là hành vi có khả năng gây ra cái chết cho người để lại di sản, chấm dứt sự sống của người đó một cách trái pháp luật. Hành vi trái pháp luật phải là nguyên nhân gây ra hậu quả chết người, tức là có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả.
Trong trường hợp người thừa kế chỉ bị kết án về hành vi vô ý làm chết người để lại di sản thì người đó vẫn được hưởng thừa kế theo pháp luật nhận di sản của người bị chính người thừa kế đã vô ý gây ra cái chết cho người để lại di sản. Như vậy, chỉ có những người phạm tội cố ý xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của người để lại di sản mới bị tước quyền hưởng di sản, còn vô ý thì không thuộc trường hợp này. Hành vi xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của người khác được qui định tại chương XIV Bộ luật Hình sự năm 1999 “Các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của con người” và nạn nhân chính là người để lại di sản.
Đối với tội xâm phạm đến tính mạng, là tội xâm phạm đến quyền sống của con người. Có nhiều trường hợp xảy ra và có mức độ nguy hiểm cho xã hội ở mức độ khác nhau. Người thừa kế bị tòa án kết án về tội giết người theo Điều 93 Bộ luật hình sự; tội giết con mới đẻ Điều 94 Bộ luật hình sự; tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh Điều 95 Bộ luật Hình sự; tội giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng Điều 96 Bộ luật Hình sự hoặc cũng có thể xâm phạm một cách gián tiếp như tội bức tử Điều 100 Bộ luật Hình sự; tội xúi giục người khác tự sát Điều 101 Bộ luật Hình sự; tội không cứu giúp người ở trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng Điều 102 Bộ luật Hình sự và chính những hành vi này là nguyên nhân dẫn đến cái chết của người để lại di sản. Luận văn: Người thừa kế không được quyền hưởng di sản.
Với tội xâm phạm đến sức khỏe, người phạm tội đã có hành vi tác động đến thân thể của người khác làm cho người này bị thương, bị tổn hại đến sức khỏe. Hành vi này về hình thức cũng giống hành vi của tội giết người nhưng tính chất và mức độ nguy hiểm thấp hơn nên nó chỉ làm cho nạn nhân bị thương hoặc bị tổn hại về sức khỏe mà không làm cho nạn nhân bị chết. Hành vi của người phạm tội được thực hiện do cố ý, nhưng so với tội giết người thì sự cố ý trong trường hợp gây thương tích có mức độ nguy hiểm thấp hơn vì người phạm tội chỉ mong muốn hoặc để mặc cho nạn nhân bị thương, bị tổn hại về sức khỏe mà không mong muốn cho nạn nhân chết. Hành vi xâm phạm đến sức khỏe của người khác được qui định cụ thể: Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác tại Điều 104 Bộ luật Hình sự; Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh Điều 105 Bộ luật hình sự; Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng… Cũng như tội xâm phạm tính mạng, hành vi xâm phạm đến sức khỏe được thực hiện ở những mức độ khác nhau, trong mỗi trường hợp có những tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng, mức độ nguy hiểm chênh lệch nhưng điều này chỉ có ý nghĩa trong xét xử hình sự, còn để áp dụng tại Điều 643 thì không vì hành vi xâm phạm đến sức khỏe đều là cố ý nên người phạm tội chỉ cần bị kết án về một trong những hành vi trên thì họ đều bị tước quyền hưởng di sản.
Hành vi ngược đãi, vi phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm của người để lại di sản là những hành vi đối xử trái pháp luật và vô đạo đức thường được thực hiện thông qua hành động chửi mắng, nhục mạ, bỏ mặc, bắt ăn đói mặc rách làm cho người để lại di sản đau đớn về mặt tinh thần, danh dự bị xúc phạm, bị giày vò và khốn khổ về thể xác. Những hành vi trên được qui định tại Điều 110 tội hành hạ người khác; Điều 111, 112 tội hiếp dâm trẻ em; Điều 114 – tội cưỡng dâm trẻ em; Điều 115 tội giao cấu với trẻ em; Điều 116 tội dâm ô với trẻ em; Điều 119 tội mua bán phụ nữ; Điều 121 tội làm nhục người khác; Điều 122 tội vu khống…
Những hành vi nói trên vi phạm ở mức độ như thế nào thì bị coi là nghiêm trọng, điều này chưa được qui định và giải thích cụ thể bằng văn bản pháp luật. Tuy nhiên theo qui định của pháp luật, khi người được hưởng di sản có hành vi ngược đãi, hành hạ, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người để lại di sản chỉ bị tước quyền hưởng di sản khi hành vi đó đã bị kết án bằng một bản án đã có hiệu lực của Tòa án. Nghĩa là một hành vi khi thỏa mãn đầy đủ các dấu hiệu của cấu thành tội phạm và đã bị kết án bằng một bản án hình sự về hành vi ngược đãi, hành hạ, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người để lại di sản tự nó đã xác định tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi và bản án đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án chính là căn cứ để cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết việc thừa kế tuyên bố những người có hành vi đó không được quyền hưởng di sản. Tuy nhiên đối với những trường hợp một người mặc dù đã có đủ căn cứ chứng tỏ người đó có hành vi ngược đãi, vi phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm của người khác nhưng chưa bị kết án hoặc không thể kết án thì họ có được hưởng di sản của người chết để lại không? Về vấn đề này, tại Điều 9 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2004 đã khẳng định một nguyên tắc “Không ai bị coi là có tội khi chưa có bản án kết tội của Tòa án có hiệu lực pháp luật”. Nhưng theo qui định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2004, một vụ án hình sự phải trải qua nhiều giai đoạn khác nhau từ khởi tố điều tra, xét xử sơ thẩm, nếu có kháng cáo, kháng nghị còn có thể kéo dài đến phúc thẩm, giám đốc thẩm hoặc tái thẩm mới có được bản án cuối cùng đúng pháp luật. Và thời điểm mở thừa kế chính là thời điểm người có di sản chết, như vậy trong thời gian chưa bị kết án thì những người thừa kế đó vẫn được chia di sản thừa kế vì chưa có đủ/căn cứ chính xác xác nhân ho là người có tội. Luận văn: Người thừa kế không được quyền hưởng di sản.
Khi người phạm tội có hành vi làm trái với qui định của Bộ luật hình sự thì họ sẽ phải gánh chịu hình phạt nghiêm khắc mà Tòa án thay mặt Nhà nước áp dụng đối với hành vi của họ. Nhưng theo qui định tại Điều 12, Điều 13 Bộ luật hình sự năm 1999 không thể kết án đối với người ham tội cho dù họ đã thực hiện những hành vi đã liệt kê ở trên:
Thứ nhất: Tại Điều 12 Bộ luật hình sự năm 1999 “Người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 1 6 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng”, vậy trong trường hợp người phạm tội dưới 14 tuổi hoặc từ đủ 1 4 đến dưới 16 tuổi nhưng phạm tội ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng hoặc tội phạm rất nghiêm trọng với lỗi vô ý thì không bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Điều này nếu đánh giá một cách khách quan trên thừa tế thì không hợp lý, như hành vi giết người táo bạo và liều lĩnh với động cơ chiếm đoạt tài sản của một đứa trẻ chưa đủ 14 tuổi nhưng không thể kết án vì đứa trẻ đó chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, pháp luật dân sự cần có qui định về vấn đề này để không quá phụ thuộc vào tiêu chí phải có bản án đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án.
Điều 13 Bộ luật hình sự, về tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự của người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi đang mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc điều khiển hành vi của mình. Một người mắc bệnh tâm thần trong khi thực hiện hành vi phạm tội họ không bị truy cứu trách nhiệm hình sự, tuy nhiên việc mắc bệnh tâm thần hoặc một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức như bệnh tâm thần kinh niên, bệnh loạn thần, bệnh si ngốc, các bệnh gây rối loạn tinh thần tạm thời phải được Hội đồng giám định tâm thần xác định và kết luận. Tuy nhiên ở nước ta mặc dù ngành tâm thần học mới ra đời và đã có những kết quả nhất định nhưng vẫn còn bộc lộ những hạn chế về kiến thức tâm thần học trong đội ngũ cán bộ y tế về việc phòng và chữa bệnh tâm thần cũng như việc xác định năng lực trách nhiệm hình sự đối với người mắc bệnh tâm thần thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội. Có những trường hợp kết quả của việc xác định tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự giữa các hội đồng giám định tâm thần lại trái ngược nhau, làm cho việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội không chính xác, thậm chí có những kết luận của Hội đồng giám định vì thiếu cơ sở khoa học, không phù hợp với trạng thái của người phạm tội nên không được cơ quan tiến hành tố tụng chấp nhận kết quả giám định đó.
Thứ hai: Hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự, cụ thể là 5 năm với tội phạm ít nghiêm trọng, 10 năm với tội phạm nghiêm trọng, 15 năm với đối với tội phạm rất nghiêm trọng, 20 năm đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. Hết thời hạn trên mà người phạm tôi không bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Luận văn: Người thừa kế không được quyền hưởng di sản.
Thứ ba: Người phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự trong một số trường hợp (Điều 25 Bộ luật hình sự).
- Nếu khi tiến hành điều tra, truy tố hoặc xét xử do chuyển biến của tình hình mà hành vi phạm tội hoặc người phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa.
- Trong trường hợp trước khi thực hiện hành vi phạm tội bị phát giác, người phạm tội đã đầu thú, khai rõ sự việc, góp phần hiệu quả vào việc phát hiện và điều tra tội phạm, cố gắng hạn chế đến mức thấp nhất hậu quả của tội phạm thì cũng có thể được miễn trách nhiệm hình sự.
- Người phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự khi có quyết định đại xá.
Theo qui định tại Điều 25 Bộ luật Hình sự năm 1999, cả 3 trường hợp trên người phạm tội đã thực hiện hành vi trái với qui định của Bộ luật hình sự đã gây ra hoặc đe dọa gây ra hậu quả nguy hiểm cho xã hội, thông thường trong những trường hợp trên người phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự nhưng do chuyển biến của tình hình xã hội mà hành vi hoặc người phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa hoặc khi Nhà nước có quyết định đại xá đối với người phạm tội nên họ được miễn truy cứu trách nhiệm hình sự. Đối với trường hợp người phạm tội đầu thú, khai báo về hành vi phạm tội góp phần vào việc điều tra và hạn chế hậu quả xảy ra cho xã hội thì cũng có thể được miễn trách nhiệm hình sự, vì vậy khi khi xem xét miễn trách nhiệm hình sự cho người- ra tự thú thì phải căn cứ vào nhiều yếu tố như mức độ nguy hiểm của hành vi, hậu quả, thái độ khai báo của người tự thú, sự đóng góp của họ trong việc điều tra, việc hạn chế hậu quả của tội phạm để có quyết định chính xác miễn hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội.
Thứ tư: Nếu hành vi xâm phạm đến tính mạng người để lại di sản là hành vi khách quan của tội giết người phải là hành vi tước đoạt tính mạng của người khác một cách trái pháp luật, thì hành vi xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của người khác trong một số trường sau lại không bị coi là tội phạm và không phải chịu trách nhiệm hình sự:
Hành vi phòng vệ chính đáng qui định tại Điều 15 Bộ luật Hình sự năm 1999 “Phòng vệ chính đáng là hành vi của một người vì bảo vệ lợi ích của nhà nước, của tổ chức, bảo vệ lợi ích của nhà nước, của tổ chức, bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của mình hoặc của người khác, mà chống trả lại một cách cần thiết người đang có hành vi xâm phạm đến các lợi ích nói trên” [24]. Phòng vệ chính đáng là trường hợp một người buộc phải thực hiện một hành vi gây ra một thiệt hại để bảo vệ bản thân, bảo vệ người khác để chống lại một hành vi nguy hiểm của người khác và đã gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe cho chính bản thân người có hành vi nguy hiểm đó. Hành vi gây thiệt hại trong trường hợp này thường phát sinh trong những tình huống cụ thể như để chống lại tội phạm đang dùng bạo lực, ngăn chặn phạm nhân trốn trại, phòng vệ để chống lại sự tấn công của lâm tặc… Tuy nhiên, gây thiệt hại trong trường hợp được coi là phòng vệ chính đáng khi hành vi phòng vệ chính đáng gây ra những thiệt hại tương xứng với hành vi nguy hiểm của người bị gây thiệt hại, tức là không có sự chênh lệch quá đáng giữa hành vi phòng vệ với tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi xâm hại. Phòng vệ chính đáng không phải là tội phạm, nhưng nếu hành vi chống trả rõ ràng là quá mức cần thiết, không phù hợp với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi xâm hại thì là vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng. Người vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng phải chịu trách nhiệm hình sự, tuy nhiên trách nhiệm hình sự với họ được giảm nhẹ rất nhiều so với trường hợp phạm tội không thuộc trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng. Luận văn: Người thừa kế không được quyền hưởng di sản.
Sự kiện bất ngờ là người thực hiện hành vi nguy hại cho xã hội trong trường hợp không thể thấy trước hoặc không buộc phải thấy trước tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi của mình cũng như hậu quả của hành vi đó, tức là người có hành vi nguy hiểm không có lỗi trong việc gây ra hậu quả hoặc đe dọa gây ra hậu quả nguy hiểm cho xã hội. Không có lỗi tức là hành vi của họ không cấu thành tội phạm, sự kiện bất ngờ được qui định ở Điều 11 Bộ luật ánh sự năm 1999 “Người thực hiện hành vi gây hậu quả nguy hại cho xã hội do sự kiện bất ngờ, tức là trong trường hợp không thể thấy trước hoặc không buộc phải thấy trước hậu quả của hành vi đó thì không phải chịu trách nhiệm hình sự”. Ví dụ: A đẩy mạnh cửa sổ nhà mình ra để hóng mát, nhưng ở phía bên ngoài cửa sổ có một cậu bé đang đứng bắt tổ chim, hành động đẩy cửa sổ của A đã làm cho cậu bé bị ngã xuống đất đầu đập vào hòn gạch nên bị chết. Qua sự kiện trên, hành động của A không phải là hành vi trái pháp luật, nhưng đã xảy ra thiệt hại về tính mạng đối với cậu bé. Hành vi của A không có lỗi, do đó A không phải chịu trách nhiệm hình sự theo qui định tại Điều 11 Bộ luật Hình sự năm 1999.
Tuy nhiên, cần phân biệt giữa sự kiện bất ngờ và lỗi vô ý do quá cẩu thả, bởi giữa sự kiện bất ngờ và lỗi vô ý do quá cẩu thả có nhiều điểm giống và khác nhau. Người có hành vi trong sự kiện bất ngờ và lỗi vô ý do quả cẩu thả đều không thấy trước được hậu quả của hành vi của mình, nhưng khác nhau ở chỗ người có lỗi vô ý vì cẩu thả có đủ điều kiện để thấy trước hậu quả nhưng người gây thiệt hại trong sự kiện bất ngờ do hoàn cảnh khách quan hoặc do trình độ nhận thức nên không thấy trước được hậu quả.
2.1.2. Người vi phạm nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản Luận văn: Người thừa kế không được quyền hưởng di sản.
Quan hệ giữa các thành viên trong gia đình hình thành từ quan hệ hôn nhân, huyết thống và nuôi dưỡng. Xuất phát từ những quan hệ đó mà các thành viên trong gia đình có sự gắn bó với nhau về tình cảm và trách nhiệm với nhau, sự quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau giữa các thành viên trong gia đình tồn tại một cách tự nhiên như một nhu cầu tất yếu về mặt tình cảm và đạo đức Tuy vậy sự điều chỉnh của pháp luật đối với quan hệ của pháp luật liên quan tới các thành viên trong gia đình là rất cần thiết, nó không chỉ là nghĩa vụ về đạo đức mà còn là nghĩa vụ pháp lý được pháp luật qui định cụ thể.
Kế thừa các qui định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959, Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 cũng đã có các qui định tương tự về nghĩa vụ nuôi dưỡng nhau giữa cha mẹ và con, ông bà và cháu, giữa các anh chị em ruột thịt, nghĩa vụ cấp dưỡng khi vợ và chồng ly hôn, nghĩa vụ nuôi dưỡng con khi cha mẹ ly hôn… Như vậy, nghiã vụ nuôi dưỡng giữa các thành viên trong gia đình đã được đề cập từ rất lâu trong lịch sử, nó phản ánh tinh thần tương thân, tương ái, giúp đỡ, đùm bọc lẫn nhau giữa con người với nhau trong xã hội đây cũng chính là đạo lý, truyền thống tốt đẹp của gia đình Việt Nam. Tuy nhiên, với sự tác động của nền kinh tế thị trường đã ảnh hưởng ít nhiều đến quan hệ của các thành viên trong gia đình, sự xuống cấp về đạo đức thể hiện qua lối sống ích kỷ, thực dụng không quan tâm đến nhau … đòi hỏi phải có những qui định cụ thể đề đề cao trách nhiệm của các thành viên trong gia đình đối với nhau để bảo đảm sự ổn định, bền vững của gia đình.
- Điểm 11 Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 đã đưa ra khái niệm về cấp dưỡng như sau:
Cấp dưỡng là việc một người có nghĩa vụ đóng góp tiền hoặc tài sản khác để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của người không chung sống với mình mà có quan hệ hôn nhân, huyết thống hoặc nuôi dưỡng trong trường hợp người đó là người chưa thành niên, là người đã thành niên mà không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình, là người gặp khó khăn, túng thiếu theo qui định của luật này [26]. Luận văn: Người thừa kế không được quyền hưởng di sản.
Như vậy, nghĩa vụ cấp dưỡng chỉ phát sinh giữa các thành viên trong gia đình trên cơ sở quan hệ hôn nhân, huyết thống và nuôi dưỡng. Điều 50 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định “Nghĩa vụ cấp dưỡng được thực hiện giữa cha mẹ và con, giữa ông bà nội, ông bà ngoại và cháu, giữa vợ với chồng theo qui định của luật này” [26]. Như vậy nghĩa vụ cấp dưỡng chỉ phát sinh giữa những người được xác định tại điều 50 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000, chính vì đặc điểm này mà quan hệ cấp dưỡng thường hình thành một cách tự nhiên trên cơ sở đạo đức và tình cảm ruột thịt, người cấp dưỡng thường thực hiện một cách tự giác, tự nguyện. Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 có đưa ra hai khái niệm là cấp dưỡng và nuôi dưỡng, tiêu chí quan trọng để phân biệt khái niệm cấp dưỡng và nuôi dưỡng trong quan hệ hôn nhân và gia đình đó là trong quan hệ nuôi dưỡng, các bên cùng chung sống trong một gia đình, ngược lại trong quan hệ cấp dưỡng các bên không sống chung với nhau. Tuy vậy, giữa nuôi dưỡng và cấp dưỡng vẫn có mối quan hệ với nhau, nuôi dưỡng không chỉ bao hàm cả việc chi phí tiền bạc, tài sản mà còn chứa đựng cả hành vi chăm sóc nuôi nấng trực tiếp nuôi dưỡng là cơ sở của việc cấp dưỡng, nuôi dưỡng có thể thực hiện một cách trực tiếp hoặc gián tiếp qua việc cấp dưỡng. Tuy nhiên, trong trường hợp người có nghĩa vụ nuôi dưỡng nhau mà trốn tránh nghĩa vụ này thì việc đặt ra nghiã vụ cấp dưỡng là rất cần thiết. Điều 50 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 qui định “Trong trường hợp người có nghĩa vụ nuôi dưỡng mà trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ đó thì buộc phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng theo qui định của luật này” [26]. Như vậy từ sự trốn tránh nghĩa vụ nuôi dưỡng đã được pháp luật chuyển hóa thành việc phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng khi người có nghĩa vụ nuôi dưỡng không thực hiện nghĩa vụ nuôi dưỡng của mình như cha mẹ không thực hiện nghĩa vụ nuôi dưỡng với con chưa thành niên của mình, con đã thành niên sống cùng cha mẹ đã già yếu không có khả năng lao động nhưng không thực hiện nghĩa vụ nuôi dưỡng đối với cha mẹ … Nghĩa vụ cấp dưỡng phát sinh chính là do người có nghĩa vụ nuôi dưỡng đã không thực hiện nghĩa vụ của mình, họ đã bỏ bê không thực hiện việc chăm sóc nuôi dưỡng người mà mình có nghĩa vụ nuôi dưỡng. Theo qui định trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000, người thừa kế được xác định là người có nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại thừa kế trong những trường hợp sau:
- Nghĩa vụ nuôi dưỡng giữa con với cha mẹ:
Hiếu thảo là đạo lý truyền thống của con cái với cha mẹ, trong Nho giáo và Phật giáo chữ Hiếu được đề cao đó là tấm lòng của người con đối với cha mẹ, đó là điều căn bản nhất trong đạo lý làm người. Trong “Tam Cương” của Nho Giáo, mối quan. hệ giữa cha mẹ và con cái được xác định ở vị trí thứ hai “Quân thần- Phụ tử- Phu phụ. Mạnh Tử có nói: “Không trọn đạo với cha mẹ, không đáng làm người”. “Mười bốn điều răn của Phật” viết: “Tội lỗi lớn nhất của đời người là bất hiếu”. Thiên chúa giáo cũng chú trọng giáo dục gia đình đề cao lòng hiếu thảo của con cái đối với cha mẹ. Điều răn thứ bốn trong “Mười điều răn” của Thiên chúa giáo cũng nêu rõ con cái phải thảo kính với cha mẹ. Ở góc độ pháp lý, những hành vi bất hiếu thì dù ở thời đại nào cũng bị xử lý bằng những chế tài nghiêm khắc. Trong xã hội phong kiến ở Việt Nam, nghĩa vụ chăm sóc, kính trọng, chăm sóc, phụng dưỡng ông bà, cha mẹ đã được qui định. Điều 506 Bộ luật Hồng Đức qui định: “Con cháu trái lời dạy bảo và không phụng dưỡng bề trên, mà bị ông bà, cha mẹ trình lên quan thì xử tội đồ làm khao đinh… “, “Làm người con phải kính nuôi cha mẹ, không được hiềm vì nỗi nghèo khó mà để đến nỗi bội nghĩa cha mẹ … Trái lệnh thì phải chiếu theo pháp luật mà luận tội” và “Con không hiếu thảo mà nuôi cha mẹ sẽ bị tội tám mươi trượng, biếm ba tư và đồ làm khao đinh”.
Theo Bộ luật Hồng Đức bất hiếu là một tội danh thuộc “Thập ác!’ cần trừng trị nghiêm khắc, không được khoan giảm. Điều 307 Bộ luật Gia Long cũng qui định nghĩa vụ của con cháu là phải phụng dưỡng ông bà, cha mẹ. Như vậy, việc qui định chặt chẽ nghĩa vụ của con với cha mẹ, cháu với ông bà trong xã hội phong kiến ở Việt Nam đã tạo ra nề nếp, tôn ti trật tự, tinh thần tương trợ, tương thân, tương ái trong gia đình dưới xã hội phong kiến. Kế thừa truyền thống đạo lý và pháp lý của dân tộc. Điều 35 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 qui định: Luận văn: Người thừa kế không được quyền hưởng di sản.
Con có bổn phận yêu quí, kính trọng, biết ơn, hiếu thảo với cha mẹ, lắng nghe những lời khuyên bảo đúng đắn của cha mẹ, giữ gìn danh dự, truyền thống tốt đẹp của gia đình. Con có nghĩa vụ và quyền chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ. Nghiêm cấm con có hành vi ngược đãi, hành hạ, xúc phạm cha mẹ [26].
Như vậy mặc dù luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 và Luật Hôn thân và gia đình năm 1986 chưa qui định cụ thể về nghĩa vụ cấp dưỡng của con đối với cha mẹ, nhưng qui định này đã được bổ sung trong Luật Hôn thân và gia đình năm 2000. Tuy nhiên nghĩa vụ nuôi dưỡng chỉ được đặt ra đối với con trong trường hợp cha mẹ không còn khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình. Không có khả năng lao động được hiểu là cha mẹ do những nguyên nhân như già yếu, ốm đau, bệnh tật nên không có đủ sức khỏe để làm việc có thu nhập nuôi sống bản thân. Còn không có tài sản để tự nuôi mình có nghĩa là cha mẹ hoàn toàn không có chút tài sản nào hoặc tuy có tài sản nhưng đó là những tài sản thiết yếu như đồ dùng tư trang, đồ thờ cúng… Nghĩa vụ cấp dưỡng cũng chỉ đặt ra với người con đã thành niên hiện đang sống chung với cha mẹ, trong quan hệ giữa người con với cha mẹ trong trường hợp này là nghĩa vụ nuôi dưỡng chăm sóc, chỉ khi người con này trốn tránh không thực hiện nghĩa vụ nuôi dưỡng thì nghĩa vụ cấp dưỡng mới đặt ra đối với họ như một chế tài bắt buộc do vi phạm nghĩa vụ nuôi dưỡng.
Tuy nhiên, chỉ có thể tước quyền hưởng di sản của con trong trường hợp con đã bị kết án về hành vi vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản là cha hoặc mẹ. Hành vi nguy hiểm này thường được xác định như con đã không thực hiện nghĩa vụ nuôi dưỡng cha mẹ, đã để cho cha mẹ bị đói rách, không có nơi sinh sống… Tuy nhiên, nếu trường hợp người con cũng sống trong cánh nghèo đói, không đủ cơm ăn, áo mặc và cha hoặc mẹ cùng chung sống với các con, cháu và cùng chịu thiếu thốn như con, cháu thì không thể kết luận là người con đã vi phạm về nghĩa vụ nuôi dưỡng. Người con vi phạm nghĩa vụ nuôi dưỡng phải là người có điều kiện nuôi dưỡng nhưng không thực hiện nghĩa vụ đó theo qui định của pháp luật. Có quan điểm cho rằng một người khi còn sống đã lâm vào cảnh bần hàn, không có đủ cơm ăn, áo mặc, thì khi họ chết không có di sản để chia thừa kế do đó sẽ không cần đặt ra vấn đề chia di sản thừa kế cho những người thừa kế của họ. Quan điểm này chưa chính xác, bởi một người có thể lâm vào hoàn cảnh khó khăn cần được nuôi dưỡng vẫn có thể để lại di sản thừa kế như nhà ở, quyền sử dụng đất… cho con cái của họ cho nên chế tài tại điểm b khoản 1 Điều 643 Bộ luật Dân sự năm 2005 vẫn có thể được áp dụng trong trường hợp này. Luận văn: Người thừa kế không được quyền hưởng di sản.
Nghĩa vụ nuôi dưỡng giữa cha mẹ và con cái: Nếu nghĩa vụ của con là phải chăm sóc nuôi dưỡng cha mẹ trong mọi trường hợp, mọi hoàn cảnh thì cha mẹ chỉ có nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng con khi con chưa thành niên hoặc con đã thành niên nhưng bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi sống bản thân mình. Cha mẹ luôn là người thừa kế theo luật đối với di sản do con để lại nhưng cha mẹ sẽ không được hưởng thừa kế theo luật đối với di sản của con nếu cha mẹ không thực hiện việc nuôi dưỡng con khi người con đó nằm trong tình trạng nói trên.
Tuy nhiên, theo qui định của pháp luật thì ngoài việc được hưởng di sản của con theo luật thì cha mẹ có thể trở thành người thừa kế theo di chúc của con trong ba trường hợp sau. Thứ nhất, con đã đủ tuổi thành niên và có năng lực hành vi dân sự; Thứ hai, người con đó đã tròn 15 tuổi; thứ ba người con đó đã thành niên nhưng bị tàn tật. Cha mẹ chỉ có nghĩa vụ nuôi dưỡng con (người để lại di sản) trong hai trường hợp sau, vì vậy chỉ có thể tước quyền hưởng di sản của cha, mẹ trong hai trường hợp này nếu họ không thực hiện nghĩa vụ nuôi dưỡng đối với con.
Trong trường hợp cha, mẹ ly hôn cũng làm phát sinh nghĩa vụ cấp dưỡng của cha mẹ với con chưa thành niên hoặc con đã thành niên nhưng bị tàn tật bị mất năng lực hành vi dân sự hoặc con đã thành niên nhưng không có khả năng để tự lao động, tự kiếm sống và không có tài sản để tự nuôi mình.
Khác với các loại nghĩa vụ cấp dưỡng khác, nghĩa vụ cấp dưỡng cho con là nghĩa vụ của cha mẹ nên không phân biệt người trực tiếp nuôi dưỡng con có khả năng kinh tế hay không thì người không trực tiếp nuôi con vẫn phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho đến khi con đủ 18 tuổi. Trường hợp cha mẹ người trực tiếp nuôi dưỡng với con mà trốn tránh nghĩa vụ đó thì bị buộc phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng, lúc này nghĩa vụ nuôi dưỡng chuyển hóa thành nghĩa vụ cấp dưỡng (khoản 2 Điều 50 Luật Hôn nhân và gia đình). Luận văn: Người thừa kế không được quyền hưởng di sản.
Cho nên nếu khi cha mẹ ly hôn với nhau mà các con đều đã thành niên và đều có khả năng lao động hoặc có tài sản để tự nuôi mình thì không làm phát sinh nghĩa vụ cấp dưỡng giữa cha mẹ và con.
Quan hệ nuôi dưỡng giữa bố dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng được qui định tại Điều 38 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 bố dượng, mẹ kế có nghĩa vụ và quyền trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con riêng sống chung với mình, con riêng có nghĩa vụ và quyền chăm sóc nuôi dưỡng bố mẹ kế cùng sống chung với mình. Như vậy con riêng và cha dượng, mẹ kế nếu có quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng nhau thì được hưởng tài sản của nhau theo luật. Tuy nhiên thế nào chăm sóc, nuôi dưỡng nhau như cha con, mẹ con dựa trên cơ sở nào để đánh giá, việc chăm sóc nuôi dưỡng phải thực hiện từ hai phía hay chỉ từ một phía? Khi xảy ra tranh chấp quyền lợi giữa bố dượng, mẹ kế khó có cơ sở pháp lý để đảm bảo quyền lợi vì xung quanh họ có rất nhiều người có quan hệ thân thuộc, gần gũi trong diện thừa kế. Tương tự như vậy, nếu con riêng chứng minh được con riêng và cha dượng, mẹ kế nếu có quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng nhau như cha con, mẹ con thì con riêng cũng không thuộc diện thừa kế theo luật của những người khác trong họ hàng, thân thuộc của cha dượng, mẹ kế. Quan hệ giữa cha mẹ nuôi với con nuôi theo pháp luật: “Con nuôi có quyền lợi và nghĩa vụ như con đẻ” giữa người nuôi con nuôi và con nuôi có những quyền và nghĩa vụ của cha mẹ với các con theo qui định tại Điều 74 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000″. Giữa cha, mẹ nuôi và con nuôi có các quyền và nghĩa vụ của cha mẹ và con theo qui định của luật này kể từ thời điểm đăng ký việc nuôi con nuôi” Như vậy, quyền và nghĩa vụ quyền và lợi ích của con nuôi trên thực tế với quyền và lợi ích của người là cha nuôi, mẹ nuôi trong quan hệ thừa kế tài sản tương tự như quan hệ cha con, mẹ con. Vì vậy theo qui định của pháp luật khi con nuôi hoặc cha mẹ nuôi vi phạm nghĩa vụ nuôi dưỡng với cha mẹ nuôi, con nuôi của họ thì họ sẽ không có quyền được hưởng thừa kế của cha, mẹ nuôi.
Truyền thống hiếu thảo, quyền lợi cũng như nghĩa vụ của cha mẹ với con cái không những được pháp luật thực định qui định mà vấn đề này cũng được ghi nhận trong luật tục của người êđê ở Tây Nguyên về quyền thừa kế của con, cháu cũng như hành vi của con, cháu không chăm sóc cha mẹ, ông bà. Nếu người con đẻ đã bỏ cha mẹ để cha mẹ sống cô đơn, không nơi nương tựa và không đoái hoài chăm sóc, khiến cha mẹ phải nhận con nuôi nhưng đã lợi dụng cha mẹ lúc ốm đau đã “cõng bế, cõng họ về nhà hắn, gánh luôn về nhà hắn những tất cả của cải của cha mẹ hắn”. Hành vi của người con đẻ là hành vi lừa dối bị coi là kẻ có tội và phải trả lại phần tài sản của người mẹ để lại làm thừa kế cho người con gái nuôi. Việc nhận nuôi con nuôi của người đàn bà không có con đã nhận cháu gái của họ làm con nuôi cũng được qui định khá cụ thể trong luật tục này, khi người mẹ nuôi qua đời người con nuôi được hưởng thừa kế toàn bộ phần di sản của của người mẹ nuôi: “Của cải của bà ấy có bao nhiêu thì đều để lại cho người con mà bà ấy đã nuôi, tất cả mọi thứ đều thuộc về người con ấy” (Điều 106 Luật tục êđê). Nhưng khi người con không chăm lo công việc gia đình, không chăm sóc mẹ nuôi khi ốm đau thì người con nuôi không được hưởng tài sản của mẹ nuôi khi: “Không chăm lo công việc nương rẫy, không chăm sóc cho mẹ nuôi thuốc men, cúng lễ khi ốm đau, chỉ lo cho bản thân mình về kinh tế, khi mẹ nuôi chết không lo mai táng và khi mẹ nuôi ốm cũng không chăm sóc”. Như vậy về quyền và nghĩa vụ của con với cha mẹ đẻ, con nuôi với cha mẹ nuôi trong luật tục êđê rất tiến bộ, nếu người con đẻ hoặc con nuôi vi phạm nghĩa vụ nuôi dưỡng cha mẹ thì họ không có quyền hưởng di sản của cha mẹ khi cha mẹ qua đời. Qui định này hoàn toàn phù hợp với chuẩn mực đạo đức của con người, dưới bất kỳ một xã hội nào các con, các cháu đều có nghĩa vụ, bổn phận kính trọng, chăm sóc thương yêu cha mẹ, ông bà, phụng dưỡng cha mẹ, ông bà khi cha mẹ, ông bà già yếu.
- Nghĩa vụ nuôi dưỡng giữa các anh, chị, em. Luận văn: Người thừa kế không được quyền hưởng di sản.
Theo qui định tại Điều 48 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 thì anh, chị, em có nghĩa vụ nuôi dưỡng nhau trong trường hợp không còn cha, mẹ hoặc cha mẹ không có khả năng lao động và không có tài sản để cấp dưỡng cho con thì anh, chị đã thành niên không sống chung với em có nghĩa vụ cấp dưỡng cho em chưa thành niên không có tài sản để tự nuôi mình hoặc em đã thành niên mà không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình. Nghĩa vụ cấp dưỡng cũng được đặt ra đối với em đã thành niên không chung sống với anh, chị không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.
- Nghĩa vụ nuôi dưỡng giữa ông bà với cháu:
Ông bà nội, ngoại có nghĩa vụ nuôi dưỡng cháu trong trường hợp cháu chưa thành niên hoặc đã thành niên nhưng bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình đồng thời cũng không có cha mẹ, anh chị em có thể nuôi dưỡng được. Như vậy, cháu chỉ có thể được nhận cấp dưỡng từ ông bà khi có đủ ba điều kiện sau:
Thứ nhất: Nếu cháu là người chưa thành niên hoặc đã thành niên mà không có khả năng lao động chẳng hạn như bị tàn tật, bị mất năng lực hành vi dân sự. Đối với trường hợp cháu là người đã thành niên mà có khả năng lao động thì dù túng thiếu cũng không có quyền được nhận cấp dưỡng từ phía ông bà của mình.
Thứ hai: Cháu không có tài sản để tự nuôi mình.
Thứ ba: Cháu phải là đối tượng không có người cấp dưỡng theo qui định tại Điều 58 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000, khi cháu không còn cha mẹ, anh chị em hoặc cha mẹ, anh chị em của cháu không có khả năng lao động và không có tài sản để cấp dưỡng cho con, em mình thì ông bà có nghĩa vụ cấp dưỡng cho cháu.
Cho nên nếu người để lại thừa kế là cháu nằm trong tình trạng trên mà ông, bà là người thừa kế nhưng không thực hiện nghĩa vụ nuôi dưỡng thì họ sẽ không được quyền hưởng di sản của cháu. Nếu người cháu có đủ năng lực hành vi để lập di chúc và trong di chúc đó ông bà được hưởng thừa kế theo di chúc nhưng sau đó người cháu lại lâm vào tình trạng cần được nuôi dưỡng và ông bà là người có nghĩa vụ đó nhưng không thực hiện nghĩa vụ thì ông bà cũng không được quyền hưởng di sản theo di chúc của người cháu. Luận văn: Người thừa kế không được quyền hưởng di sản.
- Nghĩa vụ nuôi dưỡng giữa vợ và chồng:
Luật Hôn nhân và gia đình không qui định nghĩa vụ nuôi dưỡng giữa vợ và chồng mà chỉ xác định nghĩa vụ cấp dưỡng khi họ ly hôn, tuy nhiên ngoài trường hợp ly hôn giữa vợ và chồng cũng có nghĩa vụ nuôi dưỡng nhau trong trường hợp một bên ốm đau, tàn tật không thể tự lao động và không có thu nhập Vì vậy nếu vợ hoặc chồng không thực hiện nghĩa vụ nuôi dưỡng với nhau thì sẽ không có quyền được hưởng di sản thừa kế của người kia.
Trường hợp vợ hoặc chồng đã ly hôn với nhau bằng một bản án có hiệu lực pháp luật mà một bên chết thì họ không còn là người thừa kế theo luật của nhau nữa. Tuy nhiên họ vẫn có thể được hưởng di sản của người đã chết theo di chúc. Nghĩa vụ nuôi dưỡng không những phát sinh khi một bên không có khả năng lao động mà cả khi vợ chồng đã ly hôn với nhau mà khi một bên túng thiếu hoặc không có khả năng lao động thì sẽ có quyền yêu cầu vợ hoặc chồng của mình thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng sau khi đã ly hôn. Tuy nhiên, việc cấp dưỡng sau khi vợ và chồng ly hôn mang tính mềm dẻo và ít cưỡng chế hơn các trường hợp cấp dưỡng khác bởi Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 không qui định về phương thức và mức cấp dưỡng mà người cấp dưỡng tự quyết định trong khả năng của mình. Đối với những người có nghĩa vụ nuôi dưỡng trong quan hệ với người để lại di sản, họ chỉ bị tước quyền hưởng di sản khi vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng đối với người để lại di sản cho dù hành vi đó không bị kết án. Hành vi vi phạm nghĩa vụ nuôi dưỡng của người thừa kế đối với người để lại di sản như thế nào là nghiêm trọng? Bộ luật Dân sự năm 2005 không qui định cụ thể và cũng chưa có văn bản hướng dẫn để xác định như thế nào là nghiêm trọng. Để có sự thống nhất trong việc xác định tính nghiêm trọng của sự vi phạm nghĩa vụ nuôi dưỡng, cần ban hành văn bản để hướng dẫn về vân đề này.
Như vậy, khi người thừa kế vi phạm nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản đã bị Tòa án kết án, hành vi của họ không những bị tước quyền thừa kế theo qui định tại điểm b khoản 1 Điều 643 Bộ luật Dân sự năm 2005, mà người thừa kế đó cỏn phải chịu trách nhiệm hình sự về những hành vi nguy hiểm cho xã hội mà họ đã gây ra. Điều 152 Bộ luật hình sự năm 1999 qui định:
Người nào có nghĩa vụ cấp dưỡng và có khả năng thực tế để thực hiện việc cấp dưỡng đối với người mà mình có nghĩa vụ cấp dưỡng theo qui định của pháp luật mà cố ý từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm thì bị phạt cảnh cáo cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc bị phạt tù từ 3 tháng đến 2 nắm [24].
Bản án hình sự của Tòa án trong trường hợp này chính là cơ sở để pháp luật tước quyền hưởng di sản của người thừa kế.
2.1.3. Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm đến tính mạng Luận văn: Người thừa kế không được quyền hưởng di sản.
Người thừa kế khác nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ phận di sản mà người thừa kế có quyển được hưởng
Khi người thừa kế có hành vi xâm phạm đến tính mạng của những người thừa kế khác nhằm chiếm đoạt một phần hoặc toàn bộ phần di sản mà những người thừa kế đó có quyền được hưởng, hành vi đó đã bị kết án bằng một bản án có hiệu lực của Tòa án. Đây chính là căn cứ để pháp luật tước quyền hưởng di sản của người thừa kế, tuy vậy chỉ có thể tước quyền hưởng di sản của những người thừa kế trong trường hợp này khi họ có hành vi xâm phạm đến tính mạng của những người thừa kế khác là hành vi cố ý và đã bị Tòa án kết án bằng một bản án có hiệu lực pháp luật. Tuy nhiên nếu tước bỏ quyền hưởng di sản của người thừa kế ở trường hợp một không cần đến động cơ, mục đích của hành vi vi phạm thì trong trường hợp này người thừa kế chỉ bị tước quyền hưởng di sản nếu hành vi của họ có chứa đựng động cơ là chiếm đoạt một phần hoặc toàn bộ phần di sản mà người thừa kế khác có quyền được hưởng. Việc xác định động cơ của người thừa kế có hành vi xâm phạm đến tính mạng của những người thừa kế khác trong trường hợp này rất quan trọng. Bởi trên thực tế có những trường hợp những người đồng thừa kế đã giết hại nhau có thể vì mâu thuẫn cá nhân, vì ghen tuông, hay xô xát nhau trong lúc phân chia di sản mà không có mục đích chiếm đoạt di sản của người khác. Ví dụ như trường hợp sau: Khi ông A bệnh nặng và khi qua đời ông không để lại di chúc, con trai của ông là B đã giết em trai mình là C. Nhưng hành vi giết người của B không phải vì động cơ chiếm đoạt phần di sản thừa kế của của C trong khối di sản của cha để lại, bởi C có con là cháu H và đương nhiên khi C chết, cháu H được hưởng thừa kế thế vị của C. Trường hợp này cũng có thể suy đoán B không có động cơ chiếm đoạt di sản. Tuy nhiên cũng cần đặt ra tình huống kẻ giết người do kém hiểu biết nên cho rằng nếu giết người cùng hưởng thừa kế với mình thì phần di sản đó sẽ thuộc về mình mà không biết thừa kế thế vị sẽ xảy ra trong trường hợp trên. Như vậy nếu người bị kết án về hành vi xâm phạm đến tính mạng của người thừa kế khác có động cơ nói trên thì Tòa án phải xác định động cơ trong bản án hình sự, đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự qui định tại khoản d Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 1999.
Ngoài ra, hành vi của người thừa kế có hành vi xâm phạm đến tính mạng của những người thừa kế khác phải là hành vi cố ý, nếu người thừa kế đó chỉ bị kết án về hành vi vô ý làm chết người thừa kế khác thì không bị tước quyền hưởng di sản của người để lại di sản thậm chí nếu họ là người thừa kế thuộc hàng thừa kế được hưởng di sản của người để lại di sản thì họ còn được hưởng thừa kế của người bị họ vô ý làm chết. Luận văn: Người thừa kế không được quyền hưởng di sản.
Người cô hành vi cố ý giết người thừa kế khác chỉ có thể là người thừa kế cùng hàng được hưởng di sản với người thừa kế bị giết. Người thừa kế bị giết trong trường hợp này là phải là người thừa kế theo pháp luật của người để lại di sản, loại trừ trường hợp họ là người thừa kế theo di chúc bởi người thừa kế được chỉ định thừa kế theo di chúc được hưởng di sản do ý chí của người lập di chúc khi họ còn sống và họ chỉ được hưởng phần di sản đã được định đoạt trong di chúc cho nên hành vi chiếm đoạt tài sản của người thừa kế khác trong di chúc trong trường hợp này không thực hiện được. Tuy nhiên vẫn có một trường hợp ngoại lệ đó là trường hợp hai người thừa kế cùng hàng theo pháp luật và họ cùng được chỉ định thừa kế theo di chúc, một người đã có hành vi giết người thừa kế kia với mục đích hưởng phần di sản của người thừa kế đó theo qui định của pháp luật, giả thiết cả trong trường hợp người thừa kế bị giết không có người thừa kế thế vị thì người thừa kế theo di chúc đó sẽ có cơ hội chiếm đoạt toàn bộ phần di sản của người thừa kế bị giết. So với trường hợp thứ nhất, trường hợp thứ hai này cũng có hành vi giết người và cũng là cố ý nhưng điểm khác biệt quan trọng là trong trường hợp thứ nhất, người thừa kế đã có lỗi với chính người để lại di sản không vì động cơ, mục đích gì thì họ cũng không có quyền được hưởng di sản. Còn trong trường hợp thứ hai này, có thể người thừa kế không có lỗi với người để lại di sản nhưng với hành vi xâm phạm đến tính mạng của những người thừa kế khác với động cơ chiếm đoạt phần di sản của người thừa kế đó chính là căn cứ để tước quyền hưởng di sản của những người thừa kế này.
Cũng giống như trường hợp thứ nhất, người thừa kế trong trường hợp này chỉ bị truất quyền hưởng di sản nếu như đã có một bản án kết tội đã có hiệu lực của Tòa án về hành vi mà họ đã thực hiện. Vì vậy vẫn có thể xảy ra trường hợp không thể có bản án như đã trình bày ở phần 2.1.1.
2.1.4. Người có hành vi lừa dối, cưỡng ép hoặc ngăn cản người để lại di sản trong việc lập di chúc; giả mạo di chúc, sửa chữa di chúc, hủy di chúc nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản trái với ý chí của người để lại di sản
Mọi cá nhân có tài sản đều có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình cho những người thừa kế sau khi qua đời. Việc lập di chúc thể hiện ý chí tự do, tự nguyện, quyền tự định đoạt của người để lại di sản. Tuy nhiên, theo qui định của pháp luật một bản di chúc chỉ có hiệu lực khi người lập di chúc có đủ điều kiện về độ tuổi và làm chủ được hành vi không bị ràng buộc bởi bất kỳ yếu tố khách quan nào Ngoài ra người lập di chúc phải ở trong tình trạng minh mẫn, sáng suốt khi định đoạt tài sản của mình cho người thừa kế. Luận văn: Người thừa kế không được quyền hưởng di sản.
Trên thực tế có những bản di chúc được lập ra mà không do ý chí của người lập di chúc, người lập di chúc bị ép buộc, bị đe dọa, bị lừa dối, hoặc di chúc bị làm giả… Điểm d khoản 1 Điều 643 đã liệt kê năm hành vi của người thừa kế đối với người để lại di sản. Bốn hành vi đầu tiên là hành vi lừa dối, cưỡng ép, ngăn cản và giả mạo di chúc sẽ làm phát sinh những trường hợp thừa kế theo pháp luật bởi di chúc sẽ không phát sinh hiệu lực khi vi phạm một trong những điều kiện có hiệu lực của di chúc. Hành vi sửa chữa và huỷ di chúc sẽ làm phát sinh tranh chấp trong một vụ án thừa kế theo di chúc.
Hành vi lừa dối người để lại di sản là việc cung cấp những thông tin sai sự thật làm cho người lập di chúc tin và lầm tưởng vào sự việc nên đã lập di chúc cho người này hưởng di sản. Trong trường hợp này người lập di chúc đã tin tưởng tuyệt đối vào hành vi của người thừa kế, mặc dù trong ý thức chủ quan người lập di chúc đã thể hiện ý chí của mình là lập di chúc định đoạt tài sản cho một người thừa kế nào đó nhưng do bị người thừa kế lừa dối cho nên người lập di chúc đã hủy bản di chúc đã lập hoặc lập một bản di chúc khác cho người có hành vi lừa dối được hưởng phần di sản đã định đoạt trước đây.
Ngoài ra, hành vi lừa dối của người thừa kế trong trường hợp trên phải chứa đựng động cơ là nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản trái với ý chí của người để lại di sản thì người có hành vi lừa dối mới bị tước quyền hưởng di sản.
Hành vi cưỡng ép là hành vi dùng thủ đoạn vật chất và tinh thần dồn người khác vào thế tiến thoái lưỡng nan buộc họ phải làm theo yêu cầu của mình đưa ra. Ngăn cản là việc không cho người có di sản lập di chúc, những hành vi này đã xâm phạm đến quyền tự do ý chí của người để lại di sản buộc họ phải lập một bản di chúc trái với ý nguyện của họ.
Đối với những hành vi như hành vi lừa dối, cưỡng ép, ngăn cản người để lại di sản trong việc lập di chúc của người thừa kế thì khi một bản di chúc được lập khi ý chí của người để lại di sản bị tác động bởi những hành vi trên thì di chúc sẽ bị tuyên bố là vô hiệu. Hay nói cách khác đây là bản di chúc không có hiệu lực pháp luật do không thỏa mãn điều kiện tại khoản 1 Điều 652 di chúc hợp pháp ” … không bị lừa dối, đe dọa hoặc cưỡng ép” nên trường hợp này luôn làm phát sinh việc thừa kế theo pháp luật. Nếu người thừa kế có hành vi lừa dối, cưỡng ép, ngăn cản là người thừa kế theo pháp luật của người để lại di sản thì Tòa án chỉ cần tuyên bố tước bỏ quyền thừa kế theo luật của người đó đối với di sản mà người chết để lại. Nếu người thừa kế đó là người ngoài diện thừa kế và có tên trong di chúc được lập do bị lừa dối, cưỡng ép hoặc ngăn cản thì Tòa án chỉ cần tuyên bố di chúc vô hiệu và di sản được chia cho những người thừa kế theo luật của người để lại di sản.
Hành vi sửa chữa di chúc là việc người thừa kế sửa chữa nội dung của di chức hoặc xóa bỏ nhiều từ trong di chúc, những từ này ảnh hưởng tới quyền lợi của người thừa kế hoặc người thừa kế viết thêm vào trong di chúc số người được hưởng, số tài sản được hưởng. Hay nói cách khác sửa chữa di chúc là hành vi của một người trong việc thay đổi một phần hoặc toàn bộ nội dung của di chúc mà người để lại di sản đã lập và làm cho nội dung của di chúc không đúng với ý chí của người lập di chúc. Hành vi này không những xâm phạm ý chí của người để lại di sản, mà còn xâm phạm đến quyền lợi của những người thừa kế khác cho nên người có hành vi này sẽ bị truất quyền hưởng di sản thừa kế.
Hành vi hủy di chúc mà người để lại di sản đã lập là hành vi của người thừa kế tiêu hủy nội dung của di chúc bằng nhiều hình thức khác nhau như xé bỏ, đốt di chúc, giấu đi, ngâm di chúc vào dung dịch hóa chất…làm cho người khác không thể đọc, hiểu được nội dung của di chúc. Luận văn: Người thừa kế không được quyền hưởng di sản.
Khi người có quyền và lợi ích liên quan đến di sản thừa kế cho rằng bản di chúc được công bố đã bị sửa chữa hoặc người có di sản đó đã bị một trong những người thừa kế huỷ bỏ với mục đích hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản trái với ý chí của người để lại di sản thì người khởi kiện và người có liên quan đến nội dung của di chúc có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ để chứng minh yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp. Bởi một trong những nguyên tắc về việc cung cấp chứng cứ và chứng minh trong tố tụng dân sự đó là “các đương sự có quyền và nghĩa vụ cung cấp chứng cứ cho Tòa án và chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp. Cá nhân, cơ quan tổ chức khởi kiện yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác có quyền và nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh như đương sự” (khoản 1 Điều 6 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004). Nghĩa vụ chứng minh của đương sự đã được cụ thê hóa tại Điều 79 Bộ luật Tố tụng dân sự như sau:
- Đương sự có yêu cầu tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình phải đưa ra chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp.
- Đương sự phản đối yêu cầu của người khác với mình phải chứng minh sự phản đối đó là có căn cứ và phải đưa ra chứng cứ để chứng minh.
- Cá nhân, cơ quan, tổ chức khởi kiện bảo vệ lợi ích của nhà nước hoặc lợi ích công cộng hoặc yêu cầu tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác thì phải đưa ra chúng cứ để chứng minh cho việc khởi kiện, yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp.
Như vậy việc cung cấp chứng cứ là quyền và nghĩa vụ của đương sự, ngay từ khi nộp đơn khởi kiện tại tòa án theo qui định tại Điều 165 Bộ luật Tố tụng dân sự “người khởi kiện phải nộp theo đơn khởi kiện tài liệu chứng minh cho những yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp”, việc cung cấp chứng cứ được thực hiện trong bất cứ giai đoạn nào, nếu không cung cấp hoặc cung cấp không đầy đủ sẽ phải chịu hậu quả về việc không nộp hoặc nộp không đầy đủ chứng cứ (khoản 1 Điều 84 Bộ luật Tố tụng dân sự). Việc qui định đương sự có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và thời điểm cung cấp mở rộng tại tất cả quá trình giải quyết là tạo điều kiện để đương sự phát huy hết khả năng của mình trong việc cung cấp chứng cứ. Trong quá trình cung cấp chứng cứ, đương sự là người thực hiện hầu hết công việc thu thập và cung cấp chứng cứ, trong trường hợp đương sự không thể tự mình thu thập chứng cứ thì có quyền yêu cầu Tòa án thu thập hộ khi có đủ điều kiện qui định tại khoản 2 Điều 85, Tòa án có thể tiến hành một số biện pháp để thư thập chứng cứ như lấy lời khai của người làm chứng, yêu cầu cơ quan, tổ chức cung cấp tài liệu đọc được nghe được, nhìn được hoặc hiện vật khác liên quan đến việc giải quyết vụ việc dân sự.
Tuy nhiên, để xác định một bản di chúc bị giả mạo, bị sửa chữa, bị hủy việc cung cấp chứng cứ để chứng minh trong một vụ việc dân sự tương đối khó khăn bởi vì trường hợp di chúc bị giả mạo hoặc bị sửa chữa có thể được xác định thông qua nhân chứng, giám định chữ viết, chữ ký và con dấu của người làm chứng hoặc mục đích của người đã có hành vi nêu trên thông qua việc thấy tài sản của người này tăng lên nhưng đối với trường hợp hủy di chúc thì chứng minh theo cách này không thể thực hiện được bởi tìm lại một bản di chúc bị hủy là không thể xảy ra nên chỉ có thể chia di sản của người chết theo qui định của pháp luật.
Tuy nhiên theo qui định tại khoản 2 Điều 643 Bộ luật Dân sự năm 2005, người thừa kế không có quyền hưởng di sản qui định tại khoản 1 điều này vẫn được hưởng di sản “nếu người để lại di sản đã biết hành vi của người đó nhưng vẫn cho họ hưởng di sản theo di chúc”. Có thể chia làm hai trường hợp sau: Luận văn: Người thừa kế không được quyền hưởng di sản.
Thứ nhất: Người để lại di sản đã biết về hành vi của người thừa kế:
Người lập di sản có thể lập di chúc cho những người đó được hưởng di sản theo di chúc, còn nếu không lập di chúc thì coi như người thừa kế đã bị tước quyền hưởng di sản. Hoặc khi đã biết hành vi đó, người để lại di sản có thể lập lại di chúc hoặc giữ nguyên bản di chúc để chia di sản cho người đó
Thứ hai: Người lập di sản không biết về hành vi của người hưởng di sản thì cho dù có di chúc hay không có di chúc thì người thừa kế đều bị tước quyền hưởng di sản.
Như vậy căn cứ để chứng minh là người để lại di sản trước khi chết đã biết hết sự thật và chấp nhận hoàn toàn tự nguyện là để lại cho người có hành vi sai trái được hưởng di sản. Tuy nhiên, trong trường hợp di chúc được lập do bị ép buộc thì dễ bị lầm tưởng vì người lập di chúc dù biết về hành vi sai trái của người thừa kế nhưng vẫn lập di chúc cho họ hưởng di sản nhưng việc lập di chúc này lại không tự nguyện, họ bị cưỡng ép bị bắt buộc lập di chúc theo ý chí của người đang cưỡng ép mình. Sự tự nguyện của người lập di chúc dễ bị lầm tưởng trong trường hợp trên, nếu không có chứng cứ mà chỉ nhìn vào di chúc thì sự thật của vụ án không thể làm sáng tỏ, quyền lợi của người thừa kế khác không được bảo vệ.
Tóm lại, tất cả những hành vi của người thừa kế được qui định tại khoản 1 Điều 643 Bộ luật Dân sự là những hành vi không chỉ vi phạm pháp luật mà còn là những hành vi trái đạo đức, hành vi của họ không những bị tước quyền hưởng di sản mà còn bị xã hội và cộng đồng lên án. Cách liệt kê tại khoản 1 Điều 643 Bộ luật Dân sự không thể hiện được tính toàn diện, bởi sẽ có những ý kiến cho rằng nên bổ sung thêm hành vi này hoặc không nên tước quyền hưởng di sản của người thừa kế khi họ có hành vi khác … Trước đây cũng về vấn đề này trong Bộ Dân luật Bắc Kỳ và Bộ Dân luật Trung Kỳ còn qui định các hành vi như ẩu thương cha mẹ người để lại di sản, không tố giác người giết người để lại di sản, vu cáo người để lại di sản mà không cần xác định mục đích của họ có nhằm chiếm đoạt di sản hay không. Điều này thể hiện pháp luật thừa kế thời kỳ này rất nghiêm khắc với những hành vi vi phạm đạo đức. Tuy nhiên có những hành vi không được phổ biến vào thời kỳ đó như sửa chữa, làm giả, hủy di chúc…nên trong Bộ Dân luật Bắc Kỳ và Bộ dân luật Trung Kỳ không qui định về những hành vi này. Về người thừa kế không có quyền hưởng di sản, pháp luật của một số nước trên thế giới như Bộ luật dân sự Pháp, Nhật Bản, Thái Lan… cũng có những qui định cụ thể phạm vi người thừa kế không có quyền hưởng di sản rộng hơn so với qui định của pháp luật Việt Nam nhưng tựu chung lại là khi người thừa kế có hành vi vi phạm pháp luật và trái đạo đức đối với người để lại di sản và người thừa kế khác thì cần thiết phải tước quyền hưởng di sản của những người thừa kế đó. Điều 272 Bộ luật Dân sự Cộng hoà Pháp qui định về những người không có quyền hưởng di sản bao gồm những người đã bị pháp luật trừng trị về các hành vi xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, nhân thân của người để lại thừa kế ngoài ra nếu chứng minh được các hành vi vi phạm đạo đức khác sẽ không được thừa kế như hành vi vu cáo người để lại thừa kế về các tội có thể bị phạt tử hình, hoặc về hành vi không tố cáo các tội giết người để lại thừa kế. Về vấn đề này, khoản 2 Điều 1 606 Bộ luật Dân sự Thái Lan và khoản 2 Điều 891 Bộ luật Dân sự Nhật Bản cũng qui định tương tự. Xét về mặt pháp lý, người thừa kế sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự khi họ thực hiện hành vi trái với qui định của bộ luật hình sự và họ có thể phải chịu trách nhiệm hình sự về những hành vi đó. Mặt khác, nếu người thừa kế đã thực hiện các hành vi như trên không những vi phạm pháp luật mà còn vi phạm đạo đức cho nên họ không xứng đáng nhận di sản của người thừa kế.
2.2 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN ĐIỀU 643 BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2005 Luận văn: Người thừa kế không được quyền hưởng di sản.
Đối với người thừa kế có quyền hưởng di sản theo khi thỏa mãn các điều kiện của người được hưởng di sản theo di chúc hoặc theo qui định của pháp luật và không nằm trong một số trường hợp như từ chối nhận di sản, nhường quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản, chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người để lại di sản, không có quyền hưởng di sản…thì người thừa kế hoàn toàn có đủ căn cứ pháp lý để được hưởng di sản. Khi người thừa kế có hành vi vi phạm khoản 1 và không thuộc khoản 2 Điều 643: “Những người qui định tại khoản 1 điều này vẫn được hưởng di sản, nếu người để lại di sản đã biết hành vi của những người đó nhưng vẫn cho họ hưởng di sản” thì bất kể người có quyền hưởng di sản nào trong đó có những người được hưởng thừa kế theo di chúc hay theo qui định của pháp luật cũng bị tước quyền thừa kế.
Tuy nhiên vẫn có một số trường hợp người được hưởng di sản khác nhưng chưa có qui định cụ thể:
- Trường hợp một:
Về vấn đề thừa kế thế vị theo qui định của Điều 677 Bộ luật Dân sự năm 2005, điều kiện để cháu được hưởng thừa kế thế vị phụ thuộc vào sự kiện cha hoặc mẹ cháu hoặc chất chết trước hoặc chết cùng thời điểm với ông, bà nội ngoại hoặc các cụ nội, ngoại là điều kiện để cháu được hưởng thừa kế thế vị. Điều 677 còn qui định cháu hoặc chặt được hưởng phần di sản mà cha mẹ cháu được hưởng nếu còn sống, như vậy theo qui định tại Điều 677 thì cháu hoặc chất không được hưởng thừa kế thế vị nếu cha hoặc mẹ chối khi còn sống mà không có quyền hưởng di sản, cho dù cha mẹ của cháu hoặc chất chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người để lại di sản là ông bà nội, ngoại, các cụ nội, ngoại.
Liên quan đến vấn đề thừa kế thế vị đối với con của người bị tuyên bố không có quyền hưởng di sản có ý kiến cho rằng nếu cha mẹ bị tuyên bố không có quyền hưởng di sản theo qui định tại Điều 643 Bộ luật Dân sự năm 2005 thì đương nhiên họ không có quyền hưởng phần di sản mà lẽ ra họ có quyền được hưởng nên không thể để cho con cháu thế vị của họ được hưởng thừa kế tài sản của người để lại di sản. Tuy nhiên ý kiến này chưa hợp lý bởi xét về bản chất của thừa kế thế vị là nhằm đảm bảo quyền thừa kế của cháu, chơi cùng như nghĩa vụ của ông bà với cháu. Để bảo vệ quyền lợi của cháu chắt khi bản thân họ không bị Tòa án tước quyền, họ không bị người để lại di sản truất quyền thừa kế thì nên cho họ hưởng thừa kế thế vị thay cho cha mẹ họ đã bị tước quyền thừa kế khi còn sống, đặc biệt là trong trường hợp cháu, chất chưa thành niên. Điều 47 Luật Hôn nhân gia đình năm 2000 qui định: ông bà nội, ngoại có nghĩa vụ và quyền trông nom, chăm sóc giáo dục cháu, sống mẫu mực và nêu gương tốt cho cháu. Luận văn: Người thừa kế không được quyền hưởng di sản.
Trong trường hợp cháu chưa thành niên hoặc cháu đã thành niên bị tàn tật mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình thì ông bà nội, ông bà ngoại có nghĩa vụ nuôi dưỡng cháu [26].
Như vậy qui định về người thừa kế không được quyền hưởng di sản chỉ nên áp dụng với bản thân của người đó, còn con cháu của những người đó quyền thừa kế một cách bình thường theo pháp luật bởi ngay tại khoản 2 Điều 643 khi người thừa kế phạm tội tày đình, bất xứng nhưng nếu như người để lại di sản bỏ qua, tha thứ cho lỗi lầm thì họ vẫn được hưởng thừa kế. Đây là một khoảng trống cần được bổ sung, tránh trường hợp con cháu phải gánh chịu hậu quả bất lợi về tài sản xuất phát từ hành vi sai trái của ông bà, cha mẹ, hơn nữa với một qui định chưa rõ ràng sẽ dẫn đến cách hiểu và áp dụng pháp luật một cách sai lầm trong việc phân chia di sản thừa kế thế vị cho các cháu trong trường hợp cha mẹ cháu bị kết án về một trong những hành vi qui định tại khoản 1 Điều 643 Bộ luật Dân sự năm 2005. Để tránh sự hiểu lầm và áp dụng sai pháp luật, theo tác giả Phùng Trung Tập trong “Luật thừa kế Việt Nam” Điều 677 nên bỏ cụm từ “thì cháu, chặt được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ cháu, chặt được hưởng nếu còn sống”. Theo ý kiến của tác giả thì Điều 677 nên được sửa như sau: “Trong trường hợp con của người để lại di sản chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người để lại di sản thì cháu thay thế vị trí của cha hoặc mẹ hưởng di sản của ông, bà; nếu cháu cũng chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người để lại di sản thì chất thay thế vị trí của cha hoặc mẹ hưởng di sản của các cự’ [30]. Quan điểm trên là hoàn toàn chính xác, phù hợp với phong tục tập quán, quan niệm của trong nhân dân và phù hợp với bản chất của pháp luật thừa kế đó là bảo vệ khối di sản của thế hệ trước cho thế hệ sau.
- Khác với pháp luật thừa kế ở Việt Nam, Điều 725-1 Bộ luật Dân sự Pháp qui định:
Các con của người không xứng đáng. hưởng thừa kế, đến lượt họ được hưởng thừa kế mà không dựa vào thừa kế thế vị, không bị truất quyền thừa kế do lỗi của người cha; trong bất cứ trường hợp nào người cha không thể đòi hỏi được quyền thu hoa lợi đối với sản phẩm, quyền thu hoa lợi mà pháp luật công nhận cho cha mẹ đối với tài sản của các con [6]. Đối với người thế vị theo qui định của Bộ luật Dân sự Pháp phải là người có đầy đủ khả năng thừa kế đối với người có di sản, họ phải là người có quyền hưởng di sản của người chết. Nếu họ ở trong tình trạng không có quyền hưởng di sản thì họ không thể thế vị người chết trước để nhận lấy phần mà người chết được hưởng khi còn sống. Như vậy người thế vị chỉ mượn thứ bậc của người được thế vị để thực hiện quyền thừa kế theo pháp luật của mình. Luận văn: Người thừa kế không được quyền hưởng di sản.
Người thừa kế thế vị trong Bộ luật Dân sự Pháp được hưởng các quyền lợi của họ từ pháp luật chứ không phải từ người được thế vị. Khi các điều kiện của thừa kế thế vị hội đủ họ sẽ thế vào chỗ của người được thế vị để nhận di sản với tư cách chính mình.
Điều 1607 Bộ luật Dân sự Thái Lan cũng qui định: Hiệu lực của việc loại trừ khỏi việc thừa kế là mang tính cá nhân. Nhưng con cháu của người thừa kế bị loại trừ vẫn được thừa kế như thể người thừa kế đó đã chết những đối với tài sản để lại như vậy thì người thừa kế bị loại trừ không có quyền quản lý và thu hoa lợi” [8].
Hay tại Điều 887 Bộ luật Dân sự Nhật Bản: “Nếu đứa trẻ hoặc những đứa trẻ của người để lại di sản chết hoặc mất quyền thừa kế theo qui định của Điều 891 hoặc qui định của Tòa án thì con cái của những người đó sẽ trở thành người thừa kế thế vị. Điều này không áp dụng đối với bất kỳ đứa trẻ nào không phải là con cháu trực hệ của người để lại thừa kế”.
Như vậy, theo qui định pháp luật của các nước trên cho thấy người được hưởng thừa kế thế vị không những được hưởng từ người đã chết, chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người để lại di sản mà cả trong trường hợp người không có quyền hưởng di sản hoặc bị truất quyền hưởng di sản thì con cháu của người bị loại trừ vẫn có quyền hưởng thừa kế thế vị.
Trường hợp thứ hai, đối với trường hợp người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di. chúc qui định tại Điều 669 Bộ luật Dân sự năm 2005 gồm cha mẹ, vợ chồng, con chưa thành niên và con đã thành niên nhưng không có khả năng lao động. Đây là những người thừa kế không thể bị người lập di chúc truất quyền hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn 2/3 của một suất theo luật, theo qui định của pháp luật những người được hưởng di sản không phụ thuộc vào nội dung của di chúc được hưởng phần di sản của mối người tối thiểu bằng 2/3 của một suất thừa kế nếu di sản được chia theo pháp luật. Tuy nhiên những người thừa kế theo qui định tại Điều 669 Bộ luật Dân sự không được hưởng di sản nếu từ chối nhận di sản (theo qui định tại Điều 642 Bộ luật Dân sự) hoặc họ là người không có quyền hưởng di sản (theo qui định tại khoản 1 Điều 643 Bộ luật Dân sự). Ví dụ: ông A có các con là C, D, E, trong đó E chưa thành niên. C, D đã kết hôn nên ông A chung sống cùng con út là E. E nghiện ma túy nên thường xuyên đánh đập, chửi mắng ông A để lấy tiền chích hút. Khi lập di chúc ông A đã truất quyền hưởng di sản của E và dành toàn bộ di sản cho hai con là C và D, theo Điều 669 thì E là con chưa thành niên E là người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc nên E được hưởng 2/3 của một suất thừa kế theo luật. Nhưng theo qui định tại khoản 1 Điều 643 Bộ luật Dân sự, E là người không có quyền hưởng di sản do đã có hành vi vi phạm điểm a của điều luật trên, kể cả 2/3 một suất thừa kế theo luật từ di sản để lại của ông A, E cũng không có quyền được hưởng. E không được hưởng di sản trong trường hợp trên không phải do di chúc quyết định mà do pháp luật qui định. Mặc dù không có qui định cụ thể nhưng đối với những người được hưởng di sản không phụ thuộc vào nội dung của di chúc tại Điều 669 Bộ luật Dân sự nhưng lại có hành vi vi phạm pháp luật qui định tại khoản 1 Điều 643 thì họ không có quyền được hưởng di sản của người chết để lại.
Trường hợp thứ ba, người được hưởng di sản thừa kế có thể là cơ quan tổ chức hoặc người được hưởng di sản là Nhà nước trong trường hợp người để lại di sản không có người thừa kế. Tuy nhiên Điều 643 chỉ áp dụng được với người thừa kế không có quyền hưởng di sản là cá nhân, còn đối với chủ thể có quyền hưởng di sản là cơ quan hoặc tổ chức thì điều luật chưa đề cập tới. Luận văn: Người thừa kế không được quyền hưởng di sản.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Hoàn thiện về người không có quyền hưởng di sản

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Luận văn: Các trường hợp không được quyền hưởng di sản