Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Giải pháp pháp luật về giáo dục và đào tạo tại Nam Định hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Quan điểm, định hướng và những kiến nghị, giải pháp hoàn thiện hoạt động áp dụng pháp luật về giáo dục và đào tạo dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
3.1. Những quan điểm, định hướng chung của việc áp dụng pháp luật về giáo dục, đào tạo
Cơ quan có thẩm quyền, người có thẩm quyền phải coi giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của toàn dân. Đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển, được ưu tiên đi trước trong các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội.
Các cấp chính quyền, người có thẩm quyền, nhất là cấp tỉnh khi áp dụng pháp luật giáo dục và đào tạo phải gắn với điều kiện và nhu cầu phát triển kinh tế-xã hội và bảo vệ Tổ quốc; với tiến bộ khoa học và công nghệ; phù hợp quy luật khách quan. Chuyển phát triển giáo dục và đào tạo từ chủ yếu theo số lượng sang chú trọng chất lượng và hiệu quả, đồng thời đáp ứng yêu cầu số lượng. Chuẩn hóa, hiện đại hóa giáo dục và đào tạo.
Chủ động phát huy mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cực của cơ chế thị trường, bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa trong phát triển giáo dục và đào tạo. Phát triển hài hòa, hỗ trợ giữa giáo dục công lập và ngoài công lập, giữa các vùng, miền. Ưu tiên đầu tư phát triển giáo dục và đào tạo đối với các vùng đặc biệt khó khăn, vùng dân tộc thiểu số, biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa và các đối tượng chính sách. Thực hiện dân chủ hóa, xã hội hóa giáo dục và đào tạo.
Chủ động, tích cực hội nhập quốc tế để phát triển giáo dục và đào tạo, đồng thời giáo dục và đào tạo phải đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế để phát triển đất nước. nhất là giáo dục chuyên nghiệp và giáo dục đại học, vì chất lượng nguồn nhân lực chưa đáp ứng được yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Đảng ta và Nhà nước ta xác định: một trong ba điểm thắt của đất nước trong giai đoạn hiện nay là nguồn nhân lực chứa có chất lượng, nhất là nhân lực kỹ thuật, nhân lực tay nghề cao có trình độ tương đương khu vực và thế giới.
3.2. Những đề xuất, kiến nghị chung Luận văn: Giải pháp pháp luật về giáo dục và đào tạo tại Nam Định.
3.2.1. Những đề xuất, kiến nghị chung hoàn thiện hoạt động áp dụng pháp luật trên phạm vi cả nước
Xây dựng hệ thống pháp luật về giáo dục và đào tạo mang tính thống nhất, đồng bộ giữa các cấp học, ngành học, từ cấp mầm non lên đến đào tạo nghề nghiệp, đồng thời phải mang tính giáo dục mở, học tập suốt đời, khuyến khích xã hội hóa đầu tư vào lĩnh vực giáo dục và đào tạo, đồng thời cũng phải gắn trách nhiệm của người học với chất lượng giáo dục đào tạo, không để tình trạng thành tích ảo trong giáo dục.
Có chính sách khuyến khích đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý để nâng cao trình độ, phẩm chất chính trị tư tưởng, yên tâm công tác, hết lòng với sự nghiệp trồng người, mỗi thầy cô giáo thực sự là tấm gương đạo đức, tự học, sáng tạo.
Hoạt động áp dụng pháp luật phải được chỉ đạo thống nhất từ trung ương đến địa phương, không để tình trạng mỗi địa phương áp dụng một cách dấn đến tình trạng “trăm hoa đua nở”. Mỗi địa phương có đặc điểm khác nhau, nhưng Bộ Giáo dục và đào tạo phải chỉ đạo cân đối đầu tư cho giáo dục phù hợp, đảm bảo mọi người được học tập, rút ngắn chênh lệch quá xa giữa thành thị, nông thôn, vùng sâu, vùng xa, biên giới hải đảo.
Đảm bảo quyền tự chủ của các cơ sở giáo dục đại học, dạy nghề, đồng thời tăng cường kiểm tra chất lượng đào tạo, định hướng cho các trường đào tạo những ngành nghề phù hợp với định hướng phát triển kinh tế và quy hoạch nguồn nhận lực. Đẩy mạnh việc xây dựng các trung tâm kiểm định chất lượng giáo dục đại học và cao đẳng.
3.2.2. Những đề xuất, kiến nghị chung hoàn thiện hoạt động áp dụng pháp luật trên phạm vi tỉnh Nam Định Luận văn: Giải pháp pháp luật về giáo dục và đào tạo tại Nam Định.
- Hoàn thiện hệ thống giáo dục quốc dân trên địa bàn
Thực hiện rà soát, điều chỉnh quy hoạch mạng lưới cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông; chú trọng phát triển cơ sở giáo dục mầm non công lập ở khu công nghiệp, chế xuất; đối với các phường trong thành phố, những khu đô thị mới, khu công nghiệp phải đảm bảo đủ chỗ học có chất lượng cho học sinh tiểu học theo đúng Điều lệ, không để tình trạng trẻ phải bỏ học vì không có chỗ học đảm bảo.
Đẩy mạnh giáo dục nghề nghiệp sau trung học phổ thông, liên thông giữa giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học. có chính sách phân luồng sau trung học cơ sở; làm tốt việc định hướng nghề nghiệp ở trung học phổ thông.
Hoàn thành thực hiện quy hoạch mạng lưới cơ sở giáo dục nghề nghiệp, gắn với quy hoạch phát triển kinh tế xã hội và quy hoạch phát triển nguồn nhân lực của tỉnh.
Sáp nhập trung tâm giáo dục thường xuyên, trung tâm giáo dục kỹ thuật tổng hợp – hướng nghiệp và trung tâm dạy nghề ở cấp huyện theo hướng dẫn của các Bộ, Ngành Trung ương. Xây dựng cơ chế phối hợp hoạt động của trung tâm học tập cộng đồng với trung tâm văn hóa, thể thao cấp xã.
- Đổi mới chương trình giáo dục của các cấp học và trình độ đào tạo
Các cơ sở giáo dục đào tạo thực hiện tốt chương trình giáo dục và đào tạo trên cơ sở chương trình khung của Bộ GD&ĐT và Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội đảm bảo thực hiện có hiệu quả nội dung chương trình nhằm phát triển năng lực và phẩm chất người học; phát triển hài hòa đức, trí, thể, mỹ; kết hợp tốt dạy người, dạy chữ và dạy nghề; phát triển khả năng sáng tạo và ý thức tự học. Trên cơ sở mục tiêu đổi mới giáo dục đào tạo, các cơ sở giáo dục đào tạo trong tỉnh phải xác định rõ và công khai mục tiêu, chuẩn đầu ra của từng cấp học, ngành và chuyên ngành đào tạo.
Rà soát, điều chỉnh chương trình giáo dục mầm non bảo đảm thực hiện mục tiêu giúp trẻ phát triển toàn diện về thể chất, tình cảm, hiểu biết, thẩm mỹ hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ vào lớp 1; xây dựng và ban hành chương trình hướng dẫn chăm sóc, giáo dục trẻ tại gia đình; rà soát, điều chỉnh, bổ sung tài liệu học tập, học liệu, đồ dùng, đồ chơi cho giáo dục mầm non. Luận văn: Giải pháp pháp luật về giáo dục và đào tạo tại Nam Định.
Các cơ sở giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học rà soát, điều chỉnh, xây dựng chương trình đào tạo bảo đảm thống nhất, liên thông theo từng ngành, nhóm ngành, nhóm nghề đào tạo, đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; nghiên cứu tiếp nhận, chuyển giao chương trình đào tạo từ các nước tiên tiến cho các cơ sở giáo dục nghề nghiệp. Kết hợp giữa dạy lí thuyết và dạy thực hành, chú trọng năng lực, chất lượng và hiệu quả thực tiễn, phù hợp với chuẩn đầu ra theo các chương trình đào tạo tiên tiến.
- Đổi mới hình thức, phương pháp thi, kiểm tra và đánh giá kết quả giáo dục, đào tạo
Thực hiện đổi mới hình thức, phương pháp thi, kiểm tra, đánh giá kết quả học tập, đạo đức của học sinh, sinh viên theo hướng phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của người học, kết hợp đánh giá cả quá trình với đánh giá cuối kỳ học, cuối năm học.
Chỉ đạo các cơ sở giáo dục và đào tạo đẩy mạnh đổi mới công tác thi, kiểm tra, đánh giá chất lượng giáo dục phổ thông cần theo hướng giảm áp lực và tốn kém cho xã hội, không phải dạy thêm, học thêm tràn lan, nhưng vẫn đảm bảo độ tin cậy, trung thực, khách quan, đúng năng lực của học sinh, làm cơ sở cho việc tuyển sinh giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học. Lấy sự đánh giá của thị trường lao động đối với người học làm tiêu chí quan trọng để đánh giá uy tín, chất lượng và là căn cứ để định hướng phát triển cơ sở giáo dục và đào tạo, ngành nghề đào tạo.
Chỉ đạo các cơ sở giáo dục và đào tạo đổi mới hình thức kiểm tra, thi và đánh giá chất lượng giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu phát triển năng lực, phẩm chất người học. Triển khai đổi mới phương pháp kiểm tra, thi, đánh giá người học ngay trong quá trình và kết quả từng giai đoạn giáo dục, đào tạo nhằm kịp thời điều chỉnh, nâng cao hiệu quả hoạt động dạy và học ở các cấp học và trình độ đào tạo.
Đổi mới công tác khảo thí, kiểm định và đánh giá chất lượng giáo dục theo hướng là công cụ để nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo. Luận văn: Giải pháp pháp luật về giáo dục và đào tạo tại Nam Định.
- Phát triển đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục
Rà soát quy hoạch nhân lực ngành giáo dục. Chuẩn hóa đội ngũ nhà giáo theo từng cấp học về năng lực và trình độ đào tạo; từng bước tiến tới việc giáo viên tiểu học, trung học cơ sở, giáo viên, giảng viên các cơ sở giáo dục nghề nghiệp phải có trình độ từ Đại học trở lên. Giảng viên các trường Cao đẳng, Đại học phải có trình độ từ Thạc sỹ trở lên.
Tổ chức bồi dưỡng cho đội ngũ giáo viên phổ thông, giáo viên mầm non đáp ứng yêu cầu triển khai chương trình, sách giáo khoa mới. Xây dựng và triển khai chương trình bồi dưỡng giáo viên, giảng viên, cán bộ quản lý các cơ sở giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục, đào tạo và dạy nghề; bảo đảm bình đẳng về cơ hội đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ và tôn vinh nhà giáo, không phân biệt công lập và ngoài công lập.
Tổ chức thực hiện các quy định cụ thể về sửa đổi, bổ sung quy định hệ thống chức danh nhà giáo và vị trí việc làm; chế độ làm việc của nhà giáo và cán bộ quản lý cơ sở giáo dục, đào tạo và dạy nghề phù hợp với yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo.
Xây dựng cơ chế chính sách của địa phương để khuyến khích đội ngũ nhà giáo và CBQL giáo dục học tập, nâng cao trình độ; có chế độ ưu đãi đối với nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục có năng lực, cống hiến và có trình độ cao để thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao trong ngành.
Xây dựng cơ chế để cán bộ nghiên cứu khoa học tham gia giảng dạy và giáo viên tham gia nghiên cứu khoa học. Nâng cao năng lực nghiên cứu khoa học của giảng viên, giáo viên và đội ngũ cán bộ nghiên cứu của các trường đại học, cao đẳng,
- Đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục, đào tạo và dạy nghề
Đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục, đào tạo và dạy nghề, đặc biệt đối với giáo dục mầm non, giáo dục nghề nghiệp. Huy động sự tham gia của toàn xã hội để tăng cường đầu tư cơ sở vật chất và hỗ trợ các hoạt động cho các cơ sở giáo dục, đào tạo và dạy nghề. Rà soát, ban hành bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật về chính sách xã hội hóa giáo dục; chính sách bảo đảm bình đẳng về quyền và nghĩa vụ của người học và nhà giáo trong các cơ sở giáo dục công lập và ngoài công lập.
Đa dạng hóa các loại hình trường lớp và loại hình đào tạo, khuyến khích hợp tác liên kết giữa các cơ sở giáo dục đào tạo và dạy nghề; phối hợp giữa các cơ sở giáo dục và dạy nghề với các cá nhân và doanh nghiệp có uy tín để nâng cao chất lượng giáo dục; phát huy hiệu quả hoạt động của các trung tâm học tập cộng đồng ở xã, phường, thị trấn, tạo điều kiện cho nhân dân được học tập, nâng cao kiến thức và hiểu biết xã hội. Luận văn: Giải pháp pháp luật về giáo dục và đào tạo tại Nam Định.
- Tăng cường cơ sở vật chất và ứng dụng công nghệ thông tin trong giáo dục, đào tạo và dạy nghề
Phân bổ ngân sách chi thường xuyên cho giáo dục và đào tạo dựa trên định mức kinh tế – kỹ thuật và các quy định về phương thức và tiêu chí phân bổ ngân sách hiện hành. Phân định rõ ngân sách chi cho giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp; giám sát chặt chẽ, công khai, minh bạch việc sử dụng ngân sách.
Ngân sách nhà nước ưu tiên đầu tư xây dựng, phát triển các cơ sở giáo dục công lập và có cơ chế hỗ trợ để bảo đảm từng bước hoàn thành mục tiêu phổ cập theo luật định. Khuyến khích phát triển các loại hình trường ngoài công lập đáp ứng nhu cầu xã hội về giáo dục chất lượng cao.
Đối với giáo dục dạy nghề, cần tập trung đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị theo hướng hiện đại, vì thiết bị dạy nghề rất đắt, vì vậy nên tập trung đầu tư những thiết bị của các nghề mà xã hội cần đào tạo ngay, nhưng phải có tính trước mắt và lâu dài
3.3. Một số kiến nghị, đề xuất cụ thể Luận văn: Giải pháp pháp luật về giáo dục và đào tạo tại Nam Định.
3.3.1. Những đề xuất kiến nghị cụ thể nhằm hoàn thiện hoạt động áp dụng pháp luật trên phạm vi cả nước
Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất cho các trường ở vùng sâu, vùng xa, biên giới hải đảo để học sinh có quyền được học tập và không bị thụt lùi quá xa so với thành thị.
Bồi dưỡng nâng cao chất lượng giáo viên cả về trình độ đào tạo và phẩm chất đạo đức nhà giáo, nhất là vùng khó khăn, có cơ chế đặc thù cho giáo viên ở vùng này. Đồng thời nâng cao năng lực cho cán bộ quản lý, người có thẩm quyền ra các quyết định áp dụng pháp luật về giáo dục và đào tạo cho tướng xứng với đòi hỏi xây dựng nhà nước pháp quyền
Thu hẹp quy mô giáo dục đào tạo ở bậc đại học, chỉ đào tạo những sinh viên có năng lực thực sự, còn lại là đào tạo ở bậc cao đẳng, trung cấp và chủ yếu là dạy nghề để tạo ra lực lượng thực sự tham gia trực tiếp vào quá trình sản xuất. Đồng thời đào tạo những ngành, nghề cho sát với nhu cầu của xã hội, không đào tạo tràn lan, đào tạo những ngành đang dư thừa, đào tạo theo năng lực sẵn có của cơ sở đào tạo, mà phải hướng về đào tạo theo nhu cầu của thị trường kể cả về trình độ, cả về cơ cấu ngành nghề.
Từ kinh nghiệm qua 4 năm triển khai 02 nghị quyết chuyên đề của Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh, trên phạm vi cả nước cần có chính sách tương ứng như các giải pháp, chính sách của 02 nghị quyết trên, cụ thể là:
Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất cho các vùng có điều kiện kinh tế xã hội khó khăn, để không để tình trạng học nhờ, học tạm. Thực hiện việc điều chuyển giáo viên có năng lực, trình độ đến những cơ sở giáo dục có chất lượng thấp là nhân tố để nâng chất lượng đồng đều cho cơ sở giáo dục đó
Xây dựng một số cơ sở giáo dục chất lượng cao cho mỗi tỉnh, mỗi huyện, để những cơ sở giáo dục phổ thông thực sự là nơi đào tạo nhân tài, trong đó quan tâm đến những giáo viên có trình độ cao, có những phòng chức năng đầy đủ thiết bị để học sinh được tiếp cận với những trình độ cao, có năng lực sáng tạo
Đầu tư xây dựng một số ngành, nghề chất lượng cao phù hợp với trình độ của khu vực và quốc tế. Trong đó chú trọng đến đào tạo chất lượng đội ngũ giảng viên, đầu tư trang thiết bị tương đương với khoa học công nghệ hiện tại
3.3.2. Những đề xuất, kiến nghị cụ thể nhằm hoàn thiện hoạt động áp dụng pháp luật trên phạm vi tỉnh Nam Định Luận văn: Giải pháp pháp luật về giáo dục và đào tạo tại Nam Định.
Nâng cao chất lượng, tính khả thi của việc quy hoạch hệ thống các trường trong giáo dục phổ thông và các trường chuyên nghiệp, như áp dụng đúng quy định của Luật Giáo dục là mỗi xã, phường, thị trấn có ít nhất 01 trường mầm non, 01 trường tiểu học; hoàn thiện chi tiết quy hoạch trường chuyên nghiệp và dạy nghề phù hợp với quy hoạch phát triển kinh tế xã hội của tỉnh, là trung tâm giáo dục, đào tạo vùng Nam đồng bằng sông Hồng; là cơ sở pháp lý cho việc áp dụng pháp luật trong lĩnh vực này đạt kết quả;
Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc áp dụng pháp luật của các cơ quan có thẩm quyền như: Ban Văn hóa, xã hội của HĐND tỉnh, thành lập các đoàn kiểm tra liên ngành của các sở, ngành để kiểm tra, đôn đốc UBND các huyện, thành phố để kịp thời chấn chỉnh công tác áp dụng pháp luật được kịp thời, thống nhất, hiệu quả (không chỉ là kiểm tra chất lượng giáo dục toàn diện, mà kiểm tra công tác áp dụng pháp luật về giáo dục đào tạo – hay nói cách khác là kiểm tra trách nhiệm quản lý nhà nước về giáo dục đào tạo);
Trong quá trình áp dụng pháp luật, các cơ quan, cá nhân có thẩm quyền cần thường xuyên lấy ý kiến, tiếp thu các ý kiến phản biện xã hội từ các tổ chức chính trị xã hội, Mặt trận tổ quốc các cấp và toàn thể nhân dân, để kịp thời điều chỉnh chính sách, pháp luật; nếu pháp luật chưa điều chỉnh thì phải áp dụng tương tự pháp luật, đảm bảo các nguyên tắc khi áp dụng tương tự pháp luật để kịp thời giải quyết các yêu cầu thực tiễn của đời sống xã hội trong lĩnh vực giáo dục đào tạo;
Tăng cường việc phối hợp giữa các cấp, các ngành trong việc thực hiện các quy định pháp luật về giáo dục đào tạo, đảm bảo tỉnh nghiêm minh, hiệu quả của công tác áp dụng pháp luật. Hiện nay, một số quy định của pháp luật về hạn chế tình trạng lạm thu trong trường học, tình trạng dạy thêm, học thêm tràn lan, gây bức xúc trong nhân dân, nhưng các cấp quản lý vẫn chưa vào cuộc để thực hiện. Đây là những quan hệ đã có quy phạm pháp luật điều chỉnh rồi, vì vậy các cấp chính quyền, nhất là ở cơ sở, thủ trưởng các cơ sở giáo dục phải triệt để tuân thủ. Luận văn: Giải pháp pháp luật về giáo dục và đào tạo tại Nam Định.
Trên cơ sở quy định của pháp luật, các cơ quan có thẩm quyền khi phân bổ kinh phí và vận động kinh phí để tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy và học để xây dựng trường xanh- sạch đẹp – an toàn ở các cấp học mầm non, tiểu học, trung học cơ sở, đảm bảo đến năm 2020, 100% các trường đạt chuẩn xanh – sạch – đẹp – an toàn; xây dựng trường THPT có chất lượng cao, đảm bảo đến năm 2020 có 50 trường đạt chất lượng Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất trang thiết bị dạy học nghề nghiệp phù hợp với trình độ công nghệ các nước trong khu vực và thế giới.
Thực hiện nghiêm các quy định của pháp luật về phân luồng học sinh sau THCS, đảm bảo học sinh hoàn thành THCS phải biết lựa chọn nghề nghiệp cho mình, những học sinh có học lực trung bình và trung bình khá sẽ chuyển sang học nghề; những học sinh có học lực khá trở lên tiếp tục học THPT và cao hơn nữa. Hiện tại tỉnh Nam Định có khoảng 80% học sinh tốt nghiệp THCS vào học THPT hoặc giáo dục thường xuyên cấp THPT, đây là tỷ lệ lớn, nên chỉ để khoảng 50% học sinh tốt nghiệp THCS vào học THPT, còn lại chuyển sang học nghề và giáo dục thường xuyên trong học nghề
Nâng cao chất lượng giáo viên cả về trình độ chuyên môn và đạo đức nhà giáo, phấn đấu 100% giáo viên Mầm non, tiểu học, THCS đạt trên chuẩn về trình độ vào năm 2020, giáo viên THPT có trình độ đào tạo trên chuẩn đạt 50% vào năm
Đổi mới phương pháp dạy học, không dạy theo kiểu truyền đạt thụ động mà phải lấy người học làm trung tâm để rèn luyện kỹ năng tự chủ, độc lập giải quyết công việc sau khi ra trường, tạo điều kiện cho doanh nghiệp sử dụng được luôn, không phải đào tạo lại.
Khuyến khích xã hội hóa giáo dục ở bậc chuyên nghiệp và dạy nghề, cho phép các tổ chức, cá nhân thành lập các trường dạy nghề và giáo dục chuyên nghiệp, giáo dục đại học tư thục và nhà nước sẽ áp dụng các hình thức ưu đãi về đất đai, thuế…
Kết luận chương 3
Qua đánh giá công tác áp dụng pháp luật tại tỉnh Nam Định, trên phạm vi cả nước cần có một số kiến nghị sau:
Hoàn thiện các quy định của pháp luật không còn phù hợp với nghị quyết của Đảng về đổi mới căn bản toàn diện giáo dục đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế; thực sự giáo dục đào tạo là quốc sách hàng đầu, đầu tư cho giáo dục là đầu tư chiều sâu.
Xây dựng đội ngũ làm công tác thực hiện pháp luật về giáo dục và đào tạo có trình độ chuyên môn, trình độ pháp luật để áp dụng một cách chính xác, đầy đủ, vận dụng sáng tạo trong quá trình áp dụng pháp luật, nhất là áp dụng tương tự pháp luật về giáo dục và đào tạo;
Xây dựng đội ngũ giáo viên các cấp từ bậc mầm non đến bậc đại học có trình độ, có năng lực, tâm huyết với nghề, có phương pháp dạy học lấy người học làm trung tâm, đủ cơ cấu môn học, nhất là có tính kế thừa về độ tuổi, vì nếu không khi giáo viên đến tuổi đồng loạt nghỉ hưu, thì không có tầng lớp kế cận, đủ kinh nghiệm, đủ phương pháp;
Xây dựng Quỹ khuyến học, khuyến tài ở cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã, từng dòng học, thu hút các doanh nghiệp, doanh nhân thành đạt, tâm huyết với sự nghiệp giáo dục đóng góp cho Quỹ.
Xây dựng và thực hiện chính sách để nâng cao chất lượng đồng đều trong giáo dục phổ thông và xây dựng một số cơ sở giáo dục đào tạo chất lượng cao.
KẾT LUẬN Luận văn: Giải pháp pháp luật về giáo dục và đào tạo tại Nam Định.
Có thể nói rằng, để giáo dục và đào tạo thực sự là quốc sách hàng đầu, tạo ra những sản phẩm cho chất lượng mà sau đó hàng thập kỷ mới đánh giá được là một vấn đề khó khăn, phức tạp, liên quan nhiều đến tất cả các lĩnh vực tài chính, xã hội…. Hoạt động xây dựng pháp luật đã phức tạp thì hoạt động áp dụng pháp luật còn phức tạp hơn nhiều vì nó đòi hỏi về trình độ pháp luật, ý thức pháp luật của người có thẩm quyền, điều kiện kinh phí của từng địa phương.
Bên cạnh những thành tựu của đất nước về giáo dục và đào tạo trong những năm qua, Quốc hội, Chính phủ, các Bộ, ngành trung ương đã tập trung quan tâm đến việc xây dựng, hoàn thiện hệ thống, chính sách về giáo dục và đào tạo, hình thành đầy đủ các cấp học; quy mô giáo dục tăng và dần ổn định ở các vùng, các ngành và các cấp học. Chất lượng giáo dục đào tạo và công bằng trong giáo dục được cải thiện đáng kể. công tác xã hội hóa giáo dục đã và đang phát huy tác dụng góp phần làm cho sự nghiệp giáo dục thực sự trở thành sự nghiệp của toàn dân, là quốc sách hàng đầu.
Tuy nhiên, chất lượng giáo dục hiện nay chưa thực sự đồng đều giữ các vùng, miền, chất lượng giáo dục còn có vấn đề, chưa thực sự ngang tầm với đầu tư của xã hội, nhất là chất lượng giáo dục chuyên nghiệp và giáo dục đại học, đang tồn tại mâu thuẫn giữa quy mô tăng nhanh với chất lượng và hiệu quả, bất cập giữa trình độ dân trí với nhu cầu đòi hỏi của nguồn nhân lực tham gia vào quá trình sản xuất mang tính hiện đại hóa, toàn cầu hóa phục vụ cho công cuộc xây dựng và phát triển đất nước trong tiến trình hội nhập quốc tế.
Một vấn đề đáng lưu tâm là tư duy quản lý giáo dục, năng lực của của cán bộ quản lý giáo dục về vấn đề pháp luật còn hạn chế, một số cán bộ quản lý không cập nhật kịp thời các văn bản pháp luật nên việc áp dụng còn chậm trễ.
Trước yêu cầu cấp thiết, thực hiện Kết luận số 51-KL/TW ngày 29/10/2012 của Ban chấp hành Trung ương về Đề án “Đổi mới căn bản toàn diện giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế”; Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 về “Đổi mới căn bản toàn diện giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế”; Nghị quyết số 44/NQ-CP ngày 09/6/2014 của Chính phủ ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 29. Hệ thống pháp luật về giáo dục và đào tạo tương đối hoàn chỉnh, vì vậy vấn đề áp dụng pháp luật cần phải được quán triệt và đề cao, tránh tình trạng mỗi nơi áp dụng một cách dẫn đến không đồng nhất (nhưng chất lượng giáo dục và sản phẩm của giáo dục là mang tính quốc gia).
Để hoạt động áp dụng pháp luật về giáo dục, đào tạo đạt hiệu quả, chúng ta cần: một là nâng cao năng lực pháp luật cho cán bộ làm công tác quản lý, để họ cập nhật kịp thời, hiểu đúng, đầy đủ các quy định pháp luật, tránh tình trạng hiểu phiến diện, một chiều; hai là tăng cường giao ban của ngành giáo dục giữa các vùng, miền để tạo sự hiểu biết pháp luật đồng đều của các vùng có dân trí thấp; ba là đầu tư kinh phí cho giáo dục đào tạo, để nó thực sự là quốc sách hàng đầu như kết luận số 51 là “…phải đi trước và được đầu tư trước”. Bốn là tăng cường phân cấp quản lý, nâng cao trách nhiệm, tự chủ tài chính và tự chịu trách nhiệm về chất lượng giáo dục, nhất là giáo dục đại học và nghề nghiệp, nhưng phải triệt để tuân thủ pháp luật và chịu sự quản lý nhà nước của cơ quan có thẩm quyền [1]. Luận văn: Giải pháp pháp luật về giáo dục và đào tạo tại Nam Định.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Áp dụng pháp luật về giáo dục và đào tạo tại Nam Định

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com
