Luận văn: Thực trạng pháp luật Bảo vệ rừng tại huyện Trà Bồng

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Thực trạng pháp luật Bảo vệ rừng tại huyện Trà Bồng hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Thực trạng thực hiện pháp luật Bảo vệ rừng tại huyện Trà Bồng dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

2.1. Đặc điểm liên quan đến thực hiện pháp luật bảo vệ rừng tại huyện Trà Bồng

2.1.1 Thực trạng quy định

Thực hiện pháp luật bảo vệ rừng đặc biệt luôn được Đảng, Nhà nước quan tâm xem đây là việc hàng đầu để phát triển đất nước. Để cụ thể hóa sự quyết tâm đó Đảng, Nhà nước đã đưa ra nhiều quy định nhằm bảo đảm việc thực hiện bảo vệ và phát triển rừng. Trên cơ sở các bản Hiến pháp của Nhà nước ta qua các thời kỳ, pháp luật bảo vệ rừng có nhiều văn bản quy phạm được ra đời (ban hành văn bản): Luật Đa dạng sinh học năm, Luật bảo vệ Môi trường, Luật Đất đai và Luật Bảo vệ và Phát triển rừng.

Ngoài các luật trên Đảng ta có nhiều chủ trương, đường lối quan trọng thể hiện qua Chỉ thị, Nghị quyết, Thông tư, Nghị định và các Quyết định.

Đối với phân cấp quản lý rừng: Đứng trước tình trạng tổ chức rừng và quản lý kinh doanh rừng không hợp lý, việc quản lý Nhà nước về rừng bị trì trệ, buông lỏng, rừng đã và đang suy thoái nghiêm trọng. Điều quan trọng bậc nhất là phải tổ chức lại toàn bộ rừng và đất lâm nghiệp đã giao cho ngành Lâm nghiệp kinh doanh, trên cơ sở ấy để phân định trách nhiệm quản lý cụ thể của 4 cấp quản lý Nhà nước là Trung ương, tỉnh, huyện, xã.

Nhà nước giao trách nhiệm các Bộ, Ngành quản lý chuyên môn hướng dẫn tiến giao toàn bộ diện tích các loại rừng và đất lâm nghiệp, trữ lượng của mỗi loại rừng cùng với bản đồ hiện trạng rừng để Uỷ ban nhân dân các tỉnh tiến hành việc tổ chức quản lý rừng tại địa phương mình theo chế độ, chính sách, quy hoạch, kế hoạch và pháp luật của Nhà nước.

Uỷ ban Nhân dân tỉnh phân cấp cho Uỷ ban Nhân dân huyện và giúp cho Uỷ ban Nhân dân huyện phân cấp cho Uỷ ban Nhân dân xã nơi có rừng để thực hiện việc quản lý rừng và đất lâm nghiệp theo quy định của Nhà nước. Hiện nay trên địa bàn huyện Trà Bồng đã được phân cấp quản lý, đồng thời đã phân cấp cho các xã có rừng quản lý theo quy định. Quyết định 54/QĐ-UBND ngày 5/12/2013 của Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ngãi phân cấp quản lý Nhà nước về rừng và đất lâm nghiệp cho Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố.

Sau khi được phân cấp quản lý rừng và đất lâm nghiệp các địa phương (tỉnh, huyện, xã) tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng.

Một số quy định về pháp luật bảo vệ rừng theo Điều 12 Luật Bảo vệ và phát triển rừng năm 2004, những hành vi bị nghiêm cấm:

Chặt phá rừng, khai thác rừng trái phép. Hiện nay có rất nhiều quan điểm về chặt phá rừng, khai thác rừng trái phép, tuy nhiên có thể hiểu một cách phổ biến nhất là quá trình chuyển đổi hay sự thay đổi của lớp phủ mặt đất từ rừng sang các trạng thái khác mà không được Nhà nước đồng ý. Các chủ thể vi phạm những hành vi được Luật Bảo vệ và phát triển rừng nghiêm cấm sẻ được xử lý theo quy định, tùy theo tính chất mức độ vi phạm mà xử lý theo quy định, đối với các trường hợp bị truy cứu trách nhiệm hình sự áp dụng theo Điều 243 Bộ Luật hình sự năm 2015 về tội hủy hoại rừng.

Trường hợp xử lý vi phạm hành chính áp dụng theo Nghị định số 157/2013/NĐ-CP ngày 11/11/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính về quản lý rừng, phát triển rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản.

Săn, bắn, bắt, bẫy, nuôi nhốt, giết mổ động vật rừng trái phép. Động vật rừng vô cùng quý giá, góp phần quan trọng trong việc tạo nên sự cân bằng sinh thái, bảo đảm môi trường sống trong lành cho con người.

Động vật rừng có vai trò quan trọng trong các ngành lĩnh vực như: góp phần đa dạng sinh học, các cá thể sống đều là một phần của mạng lưới phức tạp, cân bằng một cách tinh vi gọi là sinh quyển. Ngược lại, sinh quyển của trái đất của tạo nên bởi vô số các hệ sinh thái bao gồm các loài động thực vật và môi trường sống tự nhiên của chúng. Sự biến mất của một loài sẽ gây nên phản ứng dây chuyền, ảnh hưởng tới rất nhiều loài khác; cân bằng môi trường, nhiều động vật có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc đánh giá chất lượng môi trường. Những loài sinh vật có khả năng chỉ thị môi trường sẽ cảnh báo con người về tác động của biến đổi khí hậu và các chất gây ô nhiễm tới môi trường. Về giá trị kinh tế, như các nước trên thế giới đặc biệt nước Mỹ xem chim là hoạt động giải trí ngoài trời phát triển nhanh nhất, ước tính mỗi năm đóng góp khoảng 400 triệu đô la vào ngân sách của bang. Nghiên cứu của Cục Bảo vệ Động vật hoang dã và Thủy sản Hoa Kỳ cũng cho biết hoạt động quan sát môi trường tự nhiên – không chỉ tính riêng hoạt động ngắm chim – đã thu về 85 tỉ đô la cho Hoa Kỳ trong năm 2001; phục vụ về lợi ích nông nghiệp, nhiều loại động vật rừng có thể ăn các lọa côn trùng gây hại cho cây hoa màu của người dân…

Vì vậy, tật cả phải có trách nhiệm bảo vệ động vật rừng, tạo môi trường sống cho các loài động vật này được bảo tồn và phát triển. Luận văn: Thực trạng pháp luật Bảo vệ rừng tại huyện Trà Bồng.

Tuy nhiên, thực tế có một số đối tượng vì lợi ích cá nhân săn, bắn, bắt, bẫy, nuôi nhốt, giết mổ động vật rừng trái phép. Trước tình hình đó nhằm bảo vệ các loài động vật rừng Nhà nước có những quy định.

Các quy định quản lý: Luật Đa dạng sinh học 2008; Luật Bảo vệ và Phát triển rừng 2004; Luật Lâm nghiệp 2017 (hiện chưa có hiệu lực); Nghị định 160/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ về tiêu chí xác định loài và chế độ quản lý loài thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ; Nghị định 82/2006/NĐ-CP ngày 10/08/2006 của Chính phủ về quản lý hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, tái xuất, nhập nội từ biển, quá cảnh, nuôi sinh sản, nuôi sinh trưởng và trồng cấy nhân tạo các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp, quý, hiếm; Nghị định 32/2006/NĐ-CP ngày 30/03/2006 của Chính phủ về quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm; Thông tư 04/2017/TT-BNNPTNT ngày 24/02/2017 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Danh mục loài động vật, thực vật hoang dã quy định trong Phụ lục của Công ước về buôn bán quốc tế loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp; Thông tư 25/2016/TT-BTNMT ngày 22/09/2016 của Bộ Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn mẫu đơn đăng ký, giấy chứng nhận cơ sở bảo tồn đa dạng sinh học và mẫu báo cáo tình trạng bảo tồn loài thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ của cơ sở bảo tồn đa dạng sinh học; Thông tư 47/2012/TT-BNNPTNT ngày 25/09/2012 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn quy định về quản lý khai thác từ tự nhiên và nuôi động vật rừng thông thường; Thông tư 90/2008/TT-BNN ngày 28/08/2008 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn hướng dẫn xử lý tang vật là động vật rừng sau khi xử lý tịch thu; Quyết định 11/2013/QĐ-TTg ngày 24/01/2013 của Thủ tướng Chính phủ cấm xuất khẩu, nhập khẩu, mua bán mẫu vật một số loài động vật hoang dã thuộc các Phụ lục của Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp; Quyết định 95/2008/QĐ-BNN ngày 29/09/2008 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về quy chế quản lý gấu nuôi; Quyết định 82/2008/QĐ-BNN ngày 17/07/2008 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn công bố danh mục các loài thuỷ sinh quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng ở Việt Nam cần được bảo vệ, phục hồi và phát triển; Chỉ thị 28/CT-TTg ngày 17/09/2016 của Thủ tướng Chính phủ giải pháp cấp bách phòng ngừa, đấu tranh với hành vi xâm hại các loài ĐVHD trái pháp luật; Chỉ thị 03/CT-TTg ngày 20/02/2014 của Thủ tướng Chính phủ tăng cường chỉ đạo và thực hiện biện pháp kiểm soát, bảo tồn loài động vật hoang dã nguy cấp, quý, hiếm.

Các quy định xử lý vi phạm: Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Nghị định 155/2016/NĐ-CP ngày 18/11/2016 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường; Nghị định 157/2013/NĐ-CP ngày 11/11/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính về quản lý rừng, phát triển rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản (sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 41/2017/NĐ-CP); Nghị định 103/2013/NĐ-CP ngày 12/09/2013 quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thủy sản (sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 41/2017/NĐ-CP); Thông tư liên tịch 19/2007/TTLT-BNN-BTP-BCA-VKSNDTC-TANDTC ngày 08/03/2007 hướng dẫn áp dụng một số điều của Bộ luật hình sự về các tội phạm trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản; Công văn 2140/VKSTC-V3 ngày 08/06/2016 về việc phục hồi xử lý các vụ án, vụ việc tàng trữ, vận chuyển trái phép ngà voi, sừng tê giác. Luận văn: Thực trạng pháp luật Bảo vệ rừng tại huyện Trà Bồng.

Thu thập mẫu vật trái phép trong rừng. Là việc tự ý lấy các thực vật, động vật trong rừng dùng làm mẫu để nghiên cứu, thí nghiệm và các mục đích khác mà không được Nhà nước cho phép.

  • Quy định quản lý: Tại Khoảng 3, Điều 12 Luật Bảo vệ và phát triển rừng năm 2004.

Quy định xử lý vi phạm: Theo Khoản 2, Điều 15 Nghị định 157/2013/NĐ-CP ngày 11/11/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính về quản lý rừng, phát triển rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản.

  • Vi phạm các quy định về phòng cháy, chữa cháy rừng.

Cháy rừng là đám cháy được phát sinh trong rừng, có tác động xấu và làm tiêu huỷ sinh vật trong rừng. Hay nói cách khác cháy rừng là quá trình làm tiêu huỷ những vật liệu cháy của rừng mà sự hình thành và phát triển không diễn ra theo sự kiểm soát của chủ rừng.

Theo tài liệu về quản lý lửa rừng, FAO đưa ra khái niệm về cháy rừng và thường được sử dụng là: “Cháy rừng là sự xuất hiện và lan truyền của những đám cháy trong rừng mà không nằm trong sự kiểm soát của con người; gây lên những tổn thất nhiều mặt về tài nguyên, của cải và môi trường”

Những ảnh hưởng do cháy rừng: Cháy rừng gây chết hàng loạt hoặc làm chậm quá trình sinh trưởng và phát triển của rừng, ảnh hưởng đến diễn thế của rừng, tái sinh rừng; Gây biến động lớn trong trạng thái rừng, làm biến đổi các kiểu rừng, từ đó ảnh hưởng đến phương thức khai thác rừng; Làm thay đổi số lượng và thành phần sinh vật rừng; Ảnh hưởng đến hoạt động sống của Vi sinh vật rừng trong đất; Ảnh hưởng đến tình trạng vệ sinh rừng; Phá vỡ cấu tượng đất, gây xói mòn, rửa trôi, bạc màu làm mất khả năng giữ nước và điều tiết nguồn nước; Gây tổn thất nặng lề về kinh tế và ảnh hưởng đến môi trường, khí hậu.

Để ngăn chặn các hành vi vi phạm về phòng cháy, chữa cháy rừng. Nhà nước giao trách nhiệm các chủ thể quản lý rừng hằng năm xây dựng Kế hoạch, Chương trình, Dự án và phương án về phòng cháy, chữa cháy rừng theo quy định.

Phòng cháy rừng là việc thực hiện đầy đủ các biện pháp tổ chức, kinh tế, xã hội, pháp chế, khoa học công nghệ, tuyên truyền, giáo dục, cảnh báo, dự báo,… và điều tiết các hoạt động của con người trong và gần rừng; xây dựng các công trình phòng lửa nhằm ngăn chặn không để xảy ra cháy rừng. Luận văn: Thực trạng pháp luật Bảo vệ rừng tại huyện Trà Bồng.

Phòng cháy rừng được thực hiện triệt để những yêu cầu mang tính nguyên tắc: không để xảy ra sự kết hợp đồng thời của 3 yếu tố Ô xy, vật liệu cháy, và nguồn nhiệt gây cháy. Quản lý tốt nguồn lửa rừng, kiểm tra điều tiết các hoạt động của người dân trong mùa cháy rừng. Hạn chế đến mức thấp nhất khả năng bắt lửa của vật liệu cháy bằng việc xây dựng và áp dụng các biện pháp phòng cháy có hiệu quả. Đây chính là những nguyên tắc xây dựng những biện pháp phòng cháy rừng có hiệu quả.

Chữa cháy rừng là: Huy động nhanh chóng lực lượng, phương tiện dập tắt kịp thời không để lửa lan tràn, hạn chế và chấm dứt thiệt hại do cháy rừng gây ra.

Chữa cháy rừng là hoạt động không thể thiếu và phải bảo đảm 3 yếu tố: Dập tắt lửa khẩn trương, kịp thời và triệt để; Hạn chế thấp nhất thiệt hại về mọi mặt; Đảm bảo an toàn tuyệt đối về người, phương tiện, dụng cụ chữa cháy.

Các quy định quản lý phòng cháy, chữa cháy rừng: Luật Phòng cháy và chữa cháy ngày 29 tháng 06 năm 2001; Luật Bảo vệ và Phát triển rừng ngày 03 tháng 12 năm 2004; Nghị định 09/2006/NĐ-CP ngày 16/01/2006 của Chính phủ.

Các quy định xử lý vi phạm phòng cháy, chữa cháy rừng: Hiện nay có nhiều quy định về xử lý vi phạm phòng cháy, chữa cháy rừng. Tuy nhiên tùy theo tính chất và mức độ phạm tội được pháp luật quy định, có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc xử phạt hành chính.

Bộ luật Hình sự 2015; Bộ luật Hình sự 2017 sửa đổi một số điều Bộ luật Hình sự 2015 và Điều 15, 16 Nghị định Số: 157/2013/NĐ-CP ngày 11 tháng 11 năm 2013 của Chính phủ.

Vi phạm quy định về phòng, trừ sinh vật hại rừng. Các biện pháp để phòng, trừ sinh vật gây hại rừng được khuyến khích bao gồm: Gieo trồng các loại cây có khả năng chống chịu sinh vật gây hại. Diệt trừ hoặc ngăn chặn sinh vật hại rừng bằng việc sử dụng các nhân tố sinh vật như: Động vật ký sinh, động vật ăn thịt. Nhân hoặc thả những loài sâu hại đã bị diệt dục hoặc những loài sâu hại đã được tác động để làm mất khả năng di truyền. Diệt trừ hoặc ngăn chặn sự phát triển của các quần thể sinh vật hại bằng cách phối hợp, sử dụng một cách hợp lý hai hoặc nhiều biện pháp để duy trì mật độ sinh vật hại bằng hoặc dưới ngưỡng kinh tế. Luận văn: Thực trạng pháp luật Bảo vệ rừng tại huyện Trà Bồng.

Theo Điều 48 của Nghị định 23/2006/NĐ-CP về thi hành Luật Bảo vệ và phát triển rừng, qui định: Việc trồng cây rừng, nuôi hoặc chăn, thả động vật vào rừng phải thực hiện theo đúng pháp lệnh về bảo vệ và kiểm dịch thực vật và pháp lệnh về thú y; không được sử dụng thuốc phòng, trừ sinh vật hại rừng không đúng theo danh mục thuốc bảo vệ thực vật được phép sử dụng tại Việt Nam. Chủ rừng (tổ chức, cá nhân, hộ gia đình) phải chấp hành đầy đủ các biện pháp về phòng, trừ sinh vật hại rừng, chủ động thực hiện các biện pháp phòng, trừ sinh vật hại rừng và phải chịu trách nhiệm khi không thực hiện các biện pháp phòng, trừ theo hướng dẫn của cơ quan chức năng có thẩm quyền. Trường hợp vi phạm xử lý theo quy định theo Điều 18 Nghị định Số: 157/2013/NĐ-CP ngày 11 tháng 11 năm 2013 của Chính phủ.

Chuyển mục đích sử dụng rừng trái phép. Việc chuyển mục đích sử dụng từ loại rừng này sang loại rừng khác phải phù hợp với quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phê duyệt. Trường hợp hành vi vi phạm đối với rừng đã quy hoạch cho mục đích khác, nhưng chưa được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định chuyển mục đích sử dụng rừng, thì áp dụng xử lý theo quy định đối với loại rừng tương ứng trước khi quy hoạch cho mục đích khác.

Quy định chuyển mục đích sử dụng rừng: Luật đất đai 2013 số 45/2013/QH13 ngày 29/11/2013; điều 28 và 29 Nghị định 23/2006/NĐ-CP ngày 03/03/2006 của Chính phủ về hướng dẫn thi hành luật bảo vệ và phát triển rừng; Nghị định 05/2008/NĐ-CP ngày 14/01/2008 của Chính phủ về việc quỹ bảo vệ và phát triển rừng; Thông tư 35/2011/TT-BNNPTNT ngày 20/5/2011 của Bộ Nông nghiệp và PTNT V/v hướng dẫn thực hiện khai thác, tận thu gỗ và lâm sản ngoài gỗ.

Xử lý vi phạm: Theo Khoản 6, Điều 7 Nghị định Số 157/2013/NĐ-CP ngày 11 tháng 11 năm 2013 của Chính phủ.

  • Khai thác trái phép cảnh quan, môi trường và các dịch vụ lâm nghiệp.

Cảnh quan, môi trường nói chung và cảnh quan, môi trường rừng nói riêng có vai trò hết sức quan trọng trong việc phát triển kinh tế đất nước và an ninh-quốc phòng của Quốc gia. Nhà nước khuyến khích toàn dân bảo vệ cảnh quan, môi trường và ban hành chính sách bảo vệ cảnh quan, môi trường. Bảo vệ cảnh quan, môi trường được thực hiện theo Quy hoạch phát triển du lịch khu bảo vệ cảnh quan rừng.

Trên quy định quản lý: Luật Đa dạng sinh học ngày 13/11/2008; Luật Bảo vệ Môi trường ngày 23/6/2014; Nghị định số 65/2010/NĐ-CP ngày 11/6/2010 của Chính phủ Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Đa dạng sinh học; Quyết định số 46/QĐ-TTg ngày 08/01/2014 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch tổng thể bảo tồn đa dạng sinh học của cả nước đến năm 2020, định hướng đến năm 2030. Tỉnh Quảng Ngãi đã thực hiện Quy hoạch, tại Quyết định số 116/QĐ-UBND ngày 02 tháng 2 năm 2017 của Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ngãi.

  • Các dịch vụ lâm nghiệp là bao gồm nhiều hoạt động mang tính chuyên môn ngành, lĩnh vực, cụ thể:

Hoạt động tưới, tiêu nước phục vụ lâm nghiệp. Bao gồm máy móc, thiết bị chủ yếu như máy bơm, ô tô phục vụ lâm nghiệp, động cơ xăng, động cơ điện…; Hoạt động thầu khoán các công việc lâm nghiệp (đào hố, gieo trồng, chăm sóc, thu hoạch,…); Hoạt động bảo vệ rừng, phòng chống sâu bệnh cho cây lâm nghiệp; Đánh giá ước lượng số lượng cây trồng, sản lượng cây trồng; Hoạt động quản lý lâm nghiệp, phòng cháy, chữa cháy rừng; Hoạt động dịch vụ lâm nghiệp khác (cho thuê máy lâm nghiệp có cả người điều khiển,…); Vận chuyển gỗ và lâm sản khai thác đến cửa rừng.

Những dịch vụ trên được Nhà nước quy định, hướng dẫn cụ thể. Trường hợp vi phạm xử lý theo quy định tại Điều 9 Nghị định 157/2013/NĐ- CP quy định xử phạt vi phạm hành chính về quản lý rừng, phát triển rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản.

Vận chuyển, chế biến, quảng cáo, kinh doanh, sử dụng, tiêu thụ, tàng trữ, xuất khẩu, nhập khẩu thực vật rừng, động vật rừng trái với quy định của pháp luật. Luận văn: Thực trạng pháp luật Bảo vệ rừng tại huyện Trà Bồng.

Hiện nay loài thực vật rừng, động vật rừng có giá trị kinh tế, khoa học và môi trường, số lượng ít dần trong tự nhiên hoặc có nguy cơ bị tuyệt chủng, đặc biệt thuộc danh mục các loài thực vật, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm do Chính phủ quy định. Việc vận chuyển, chế biến, quảng cáo, kinh doanh, sử dụng, tiêu thụ, tàng trữ, xuất khẩu, nhập khẩu thực vật rừng, động vật rừng trái với quy định của pháp luật đã gây ra nhiều tác hại về môi trường, đối tựơng vi phạm chủ yếu vì lợi ích cá nhân. Nhà nước quy định quản lý và chính sách quản lý.

  • Lợi dụng chức vụ, quyền hạn làm trái quy định về quản lý, bảo vệ và phát triển rừng.

Thực trạng lợi dụng chức vụ, quyền hạn làm trái quy định về quản lý, bảo vệ và phát triển rừng là vấn đề được Nhà nước quan tâm nhất hiện nay. Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm đến cách phục vụ Nhân dân của cán bộ, công chức. Bác dạy, người cán bộ công chức không có phận sự nào khác ngoài phận sự phục vụ Nhân dân, vì dân mà làm việc. Lề lối làm việc của cán bộ, công chức được Bác nhắc nhở trong nhiều bài viết, lời nói, đặc biệt là trong tác phẩm Sửa đổi lối làm việc.

Trên cơ sở đó pháp luật đã quy định nhiều chuẩn mực, đạo đức của người cán bộ, công chức trong thực hiện công vụ. Cán bộ, công chức không được: Trốn tránh trách nhiệm, thoái thác nhiệm vụ được giao; gây bè phái, mất đoàn kết; tự ý bỏ việc hoặc tham gia đình công; Sử dụng tài sản của Nhà nước và của nhân dân trái pháp luật; Lợi dụng, lạm dụng nhiệm vụ, quyền hạn; sử dụng thông tin liên quan đến công vụ để vụ lợi; Phân biệt đối xử dân tộc, nam nữ, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo dưới mọi hình thức…

  • Đối với lĩnh vực quảng lý bảo vệ rừng việc lợi dụng chức vụ, quyền hạn làm trái các quy định cụ thể:

Giao rừng, thu hồi rừng trái pháp luật là hành vi giao rừng, thu hồi rừng, không đúng thẩm quyền, không đúng đối tượng, không phù hợp với quy hoạch, không đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật.

Cho phép chuyển mục đích sử dụng trái pháp luật là hành vi cho phép chuyển mục đích sử dụng rừng không đúng thẩm quyền, không đúng đối tượng, không phù hợp với quy hoạch, không đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật.

Cho phép khai thác, vận chuyển lâm sản trái pháp luật là hành vi cho phép khai thác, vận chuyển lâm sản không đúng thẩm quyền, không đúng đối tượng, không đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật.

Trường hợp vi phạm xử lý theo quy định tại khoản 1 Điều 233 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Chăn thả gia súc trong phân khu bảo vệ nghiêm ngặt của khu rừng đặc dụng, trong rừng mới trồng, rừng non.

Gia súc là tên dùng để chỉ một hoặc nhiều loài động vật có vú được thuần hóa và nuôi vì mục đích để sản xuất hàng hóa như lấy thực phẩm, chất xơ hoặc lao động. Ngày nay việc nuôi gia súc (Trâu, bò, heo…) đã góp phần rất lớn về phát triển kinh tế đất nước nhất là thực hiện các mô hình trang trại của các công ty, hộ gia đình, cá nhân. Để duy trì và phát triển Nhà nước khuyến khích Nhân dân phát triển sản xuất bằng hình thức hỗ trợ phát triển sản xuất nhiều chương trình, dự án.

Tuy nhiên chăn nuôi gia súc không chuồng trại, không quy hoạch vùng chăn nuôi gây nhiều ảnh hưởng nghiêm trọng như: Phá hoại hoa màu tài sản người khác, gây mất đoàn kết trong dân tác động đến xã hội, ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống chung của cộng đồng và phá hoại tài sản Nhà nước từ các dự án đầu tư trồng rừng.

Vì vậy, để làm thay đổi nhận thức này Nhà nước quy định xử lý tại Điều 17 Nghị định 157/2013/NĐ-CP của Chính phủ.

Nuôi, trồng, thả vào rừng đặc dụng các loài động vật, thực vật không có nguồn gốc bản địa khi chưa được phép của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Luận văn: Thực trạng pháp luật Bảo vệ rừng tại huyện Trà Bồng.

Trong nước và thế giới có rất nhiều cảnh báo loài xâm lấn, còn được gọi là loài ngoại lai xâm hại hoặc chỉ đơn giản là giống nhập ngoại. Loài ngoại lai là một cụm từ chỉ về những loài động vật, thực vật hệ được du nhập từ một nơi khác vào vùng bản địa và nhanh chóng sinh sôi, nảy nở một cách khó kiểm soát trở thành một hệ động thực vật thay thế đe dọa nghiêm trọng đến hệ động thực vật bản địa đe dọa đa dạng sinh học. Sự bành trướng của những sinh vật này là mối nguy hại cho sự tồn tại của môi trường hệ sinh thái bản địa. Mất mát đa dạng sinh học đã và đang là mối lo chung của nhân loại. Trong nhiều nguyên nhân gây tổn thất đa dạng sinh học, các loài sinh vật ngoại lai xâm hại được coi là một trong những mối đe doạ nguy hiểm nhất.

Sinh vật ngoại lai xâm hại trước hết là những loài không có nguồn gốc bản địa. Khi được đưa đến một môi trường mới, một loài ngoại lai có thể không thích nghi được với điều kiện sống và do đó không tồn tại được. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp khác, do thiếu vắng các đối thủ cạnh tranh và thiên địch như ở quê nhà cùng với điều kiện sống thuận lợi, các loài này có điều kiện sinh sôi nảy nở rất nhanh và đến một lúc nào đó phá vỡ cân bằng sinh thái bản địa và vượt khỏi tầm kiểm soát của con người. Lúc này nó trở thành loài ngoại lai xâm hại.

Và bảo đảm không để xảy ra hành vi này được Nhà nước ta quy định, xử lý tại Điều 15 Nghị định 157/2013/NĐ-CP của Chính phủ.

Khai thác trái phép tài nguyên sinh vật, tài nguyên khoáng sản và các tài nguyên thiên nhiên khác; làm thay đổi cảnh quan thiên nhiên, diễn biến tự nhiên của rừng; làm ảnh hưởng xấu đến đời sống tự nhiên của các loài sinh vật rừng; mang trái phép hoá chất độc hại, chất nổ, chất dễ cháy vào rừng.

Tài nguyên sinh vật là bao gồm động vật và thực vật, rất nhiều loài đa dạng và phong phú. Trong đó có nhiều loại quý hiếm được Nhà nước quy định (sách đỏ).

Tài nguyên khoáng sản là tích tụ vật chất dưới dạng hợp chất hoặc đơn chất trong vỏ trái đất, mà ở điều kiện hiện tại con người có đủ khả năng lấy ra các nguyên tố có ích hoặc sử dụng trực tiếp chúng trong đời sống hàng ngày.

Tài nguyên thiên nhiên là những của cải vật chất có sẵn trong tự nhiên mà con người có thể khai thác, chế biến, sử dụng, phục vụ cuộc sống của con người (rừng cây, các động vật, thực vật quý hiếm, các mỏ khoáng sản, các nguồn nước, dầu, khí…).

Tài nguyên thiên nhiên của nước ta rất đa dạng và phong phú đặc biệt là tài nguyên rừng. Tài nguyên rừng là một phần của tài nguyên thiên nhiên, thuộc loại tài nguyên tái tạo được. Nhưng nếu sử dụng không hợp lý, tài nguyên rừng có thể bị suy thoái không thể tái tạo lại. Tài nguyên rừng có vai trò rất quan trọng đối với khí quyển, đất đai, mùa màng, cung cấp các nguồn gen động thực vật quý hiếm cùng nhiều lợi ích khác. Rừng giúp điều hòa nhiệt độ, nguồn nước và không khí. Con người có thể sử dụng tài nguyên thiên nhiên này để khai thác, sử dụng hoặc chế biến ra những sản phẩm phục vụ cho nhu cầu đời sống.

Để bảo vệ các dạng tài nguyên trên Nhà nước có quy định nghiêm cấm khai thác trái phép tài nguyên sinh vật, tài nguyên khoáng sản và các tài nguyên thiên nhiên khác; làm thay đổi cảnh quan thiên nhiên, diễn biến tự nhiên của rừng; làm ảnh hưởng xấu đến đời sống tự nhiên của các loài sinh vật rừng; mang trái phép hoá chất độc hại, chất nổ, chất dễ cháy vào rừng. Tại khoản 13, điều 12 luật bảo vệ và phát triển rừng năm 2004. Trường hợp vi phạm xử lý theo Luật xử lý vi phạm hành chính ngày 20 tháng 6 năm 2012; Nghị định 157/2013/NĐ-CP của Chính phủ; Nghị định số 33/2017/NĐ-CP ngày 03/4/2017 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tài nguyên nước và khoán sả Giao rừng, cho thuê rừng, chuyển đổi, chuyển nhượng, thừa kế, tặng cho, thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng rừng, giá trị rừng sản xuất là rừng trồng trái pháp luật. Luận văn: Thực trạng pháp luật Bảo vệ rừng tại huyện Trà Bồng.

Giao rừng, cho thuê rừng: Để tổ chức quản lý, bảo vệ và phát triển bền vững tài nguyên rừng. Nhà nước tổ chức giao rừng, cho thuê rừng cho các đối tượng là tổ chức, cộng đồng dân cư. Theo điều 46 Luật bảo vệ và phát triển rừng năm 2004.

Những khu rừng phòng hộ đầu nguồn tập trung có diện tích từ năm nghìn hecta trở lên hoặc có diện tích dưới năm nghìn hecta nhưng có tầm quan trọng về chức năng phòng hộ hoặc rừng phòng hộ ven biển quan trọng phải có Ban quản lý. Ban quản lý khu rừng phòng hộ là tổ chức sự nghiệp do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thành lập theo quy chế quản lý rừng. Những khu rừng phòng hộ không thuộc quy định dưới năm nghìn hecta thì Nhà nước giao, cho thuê cho các tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang nhân dân, hộ gia đình, cá nhân tại chỗ quản lý, bảo vệ và sử dụng.

Qua đó, Nhà nước giao rừng đặc dụng không thu tiền sử dụng rừng đối với các Ban quản lý rừng đặc dụng, tổ chức nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, đào tạo, dạy nghề về lâm nghiệp để quản lý, bảo vệ và phát triển rừng đặc dụng theo quy hoạch, kế hoạch đã được phê duyệt, quyết định.

Nhà nước giao rừng phòng hộ không thu tiền sử dụng rừng đối với các Ban quản lý rừng phòng hộ, tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang nhân dân, hộ gia đình, cá nhân đang sinh sống tại đó để quản lý, bảo vệ và phát triển rừng phòng hộ theo quy hoạch, kế hoạch được phê duyệt, quyết định phù hợp với việc giao đất rừng phòng hộ theo quy định của Luật đất đai.

Đối với giao rừng sản xuất được quy định như sau: Nhà nước giao rừng sản xuất là rừng tự nhiên và rừng sản xuất là rừng trồng không thu tiền sử dụng rừng đối với hộ gia đình, cá nhân đang sinh sống tại đó trực tiếp lao động lâm nghiệp phù hợp với việc giao đất để phát triển rừng sản xuất theo quy định của Luật đất đai; tổ chức kinh tế sản xuất giống cây rừng; đơn vị vũ trang nhân dân sử dụng rừng sản xuất kết hợp với quốc phòng, an ninh; Ban quản lý rừng phòng hộ trong trường hợp có rừng sản xuất xen kẽ trong rừng phòng hộ đã giao cho Ban quản lý.

Nhà nước giao rừng sản xuất là rừng tự nhiên và rừng sản xuất là rừng trồng có thu tiền sử dụng rừng đối với các tổ chức kinh tế. Nhà nước giao rừng sản xuất là rừng trồng có thu tiền sử dụng rừng đối với người Việt Nam định cư ở nước ngoài đầu tư vào Việt Nam để thực hiện dự án đầu tư về lâm nghiệp theo quy định của pháp luật về đầu tư. Chính phủ quy định cụ thể việc giao rừng sản xuất.

Giao rừng cho Cộng đồng dân cư thôn có cùng phong tục, tập quán, có truyền thống gắn bó cộng đồng với rừng về sản xuất, đời sống, văn hoá, tín ngưỡng; có khả năng quản lý rừng; có nhu cầu và đơn xin giao rừng.

Việc giao rừng cho cộng đồng dân cư thôn phải phù hợp với quy hoạch, kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng đã được phê duyệt; phù hợp với khả năng quỹ rừng của địa phương. Các đối tượng được giao thực hiện quản lý và sử dụng theo quy định. Riêng cộng đồng dân cư được quyền và trách nhiệm theo Điều 30 Luật bảo vệ và phát triển rừng năm 2004.

Giao rừng, cho thuê rừng, thu hồi rừng, chuyển mục đích sử dụng rừng phải đúng thẩm quyền và giao rừng, cho thuê rừng, thu hồi rừng, chuyển mục đích sử dụng rừng phải đồng thời với việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Thời hạn, hạn mức giao rừng, cho thuê rừng phải phù hợp với thời hạn, hạn mức giao đất, cho thuê đất theo quy định của pháp luật về đất đai. Luận văn: Thực trạng pháp luật Bảo vệ rừng tại huyện Trà Bồng.

Theo Điều 32 Nghị định số 23/2006/NĐ-CP ngày 3/3/2006 của Chính phủ về thi hành Luật Bảo vệ và phát triển rừng quy định chuyển đổi, chuyển nhượng, thừa kế, tặng cho, thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng rừng, giá trị rừng sản xuất là rừng trồng:

Về chuyển đổi được chuyển đổi quyển sử dụng rừng phòng hộ Nhà nước giao. Trường hợp hộ gia đình, cá nhân đã nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho, nhận thừa kế quyền sử dụng rừng, quyền sở hữu rừng sản xuất là rừng trồng hợp pháp từ chủ rừng khác thì được chuyển đổi quyền sử dụng rừng, quyền sở hữu rừng sản xuất là rừng trồng đó; trường hợp nhận chuyển đổi thì chỉ được chuyển đổi cho hộ gia đình, cá nhân khác trong cùng xã, phường, thị trấn. Được chuyển nhượng rừng sản xuất là rừng trồng do Nhà nước giao và rừng trồng bằng vốn ngân sách Nhà nước đầu tư trên đất Nhà nước giao hoặc cho thuê để trồng rừng nhưng phải hoàn trả giá trị Nhà nước đã đầu tư. Được chuyển nhượng rừng trồng do chủ rừng tự bỏ vốn đầu tư trên đất được Nhà nước giao hoặc cho thuê để trồng rừng.

Được tặng cho Nhà nước, cộng đồng dân cư thôn rừng sản xuất là rừng trồng Nhà nước giao hoặc rừng sản xuất là rừng trồng trên đất Nhà nước giao đất hoặc cho thuê.

Về cho thuê, cho thuê lại rừng: Được cho thuê rừng sản xuất là rừng trồng Nhà nước giao hoặc Nhà nước cho thuê nhưng thời gian cho thuê, cho thuê lại rừng không vượt quá thời hạn quy định trong quyết định Nhà nước giao đất, cho thuê đất, thuê rừng.

  • Về thế chấp, bảo lãnh, góp vốn:

Được thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng giá trị rừng sản xuất là rừng trồng được Nhà nước giao. Được thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng giá trị tăng thêm của rừng sản xuất là rừng trồng Nhà nước cho thuê do chủ rừng đầu tư. Được thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng giá trị rừng sản xuất là rừng trồng do chủ rừng tự đầu tư trên đất Nhà nước giao hoặc cho thuê.

Đối với rừng sản xuất là rừng tự nhiên Nhà nước giao hoặc cho thuê thì chỉ được thế chấp, bảo lãnh, góp bằng giá trị quyền sử dụng rừng tăng thêm do chủ rừng tự đầu tư so với giá trị quyền sử dụng rừng được xác định tại thời điểm được giao rừng, cho thuê rừng.

Việc thế chấp, bảo lãnh chỉ được thực hiện tại tổ chức tín dụng hoạt động tại Việt Nam; được góp vốn đối với tổ chức, hộ gia đình, cá nhân trong nước, người Việt Nam định cư ở nước ngoài.

Về thừa kế: Được để thừa kế quyền sử dụng rừng phòng hộ, rừng sản xuất Nhà nước giao theo quy định của pháp luật về thừa kế và thừa kế rừng trồng do cá nhân tự đầu tư trên đất được Nhà nước giao, cho thuê theo quy định của pháp luật về thừa kế.

  • Phá hoại các công trình phục vụ việc bảo vệ và phát triển rừng.

Các công trình phục vụ việc bảo vệ và phát triển rừng được Nhà nước tổ chức xây dựng nhằm phục vụ bảo đảm công việc bảo vệ và phát triển rừng, hiện nay các công trình được xây dựng chủ yếu các khu vực rừng cần thiết bảo vệ như: Rừng phòng hộ, rừng đặc dụng và rừng tự nhiên sản xuất. Luận văn: Thực trạng pháp luật Bảo vệ rừng tại huyện Trà Bồng.

Gồm các Công trình: Công trình lâm sinh theo Khoản 1, Điều 3 Thông tư số 23/2016/TT-BNNPTNT ngày 30 tháng 6 năm 2016, là công trình xây dựng nông nghiệp và phát triển nông thôn, được tạo thành từ việc triển khai thực hiện các hoạt động đầu tư lâm sinh theo thiết kế, dự toán, gồm:

Trồng, chăm sóc, bảo vệ rừng; khoanh nuôi tái sinh tự nhiên, khoanh nuôi tái sinh có trồng bổ sung cây lâm nghiệp; cải tạo rừng và các hoạt động liên quan khác.

Công trình phòng cháy và chữa cháy rừng tại Khoản 3 Điều 3 Nghị định 09/2006/NĐ-CP về phòng cháy và chữa cháy rừng, theo đó: Công trình phòng cháy và chữa cháy rừng gồm đường băng cản lửa, kênh, mương ngăn lửa, suối, hồ, đập, kênh, mương, bể chứa nước được xây dựng hoặc cải tạo để phục vụ phòng cháy và chữa cháy rừng; chòi quan sát phát hiện cháy rừng; hệ thống biển cấm, biển báo, biển chỉ dẫn về phòng cháy và chữa cháy rừng; hệ thống thông tin liên lạc; trạm bơm, hệ thống cấp nước chữa cháy và các công trình khác phục vụ cho phòng cháy và chữa cháy rừng.

Và các công trình xây dựng các trụ sở quản lý bảo vệ rừng (Trạm bảo vệ rừng)…đây là những công trình cần thiết để phục vụ việc bảo vệ và phát triển rừng. Do đó, Nhà nước nghiêm cấm mọi hành vi phá hoại các công trình phục vụ việc bảo vệ và phát triển rừng tại Khoản 15, Điều 12 luật bảo vệ và phát triển rừng năm 2004.

Trường hợp xử lý vi phạm theo Điều 19 Nghị định số Nghị định 157/2013/NĐ-CP của Chính phủ.

  • Các hành vi khác xâm hại đến tài nguyên rừng, hệ sinh thái rừng.

Tài nguyên rừng, hệ sinh thái rừng nước ta rất đa dạng và phong phú, đặc biệt các loại động vật và thực vật có giá trị kinh tế rất cao. Do đó, thường xuyên xảy ra các vụ khai thác gỗ và săn bắn các loại động vật hoang dã trái phép. Tại Khoản 16, Điều 12 luật bảo vệ và phát triển rừng năm 2004 Nhà nước nghiêm cấm các hành vi khác xâm hại đến tài nguyên rừng, hệ sinh thái rừng.

Trường hợp xử lý vi phạm theo Nghị định số Nghị định 157/2013/NĐ-CP của Chính phủ. Xử lý tùy theo các hành vi xâm hại theo quy định.

2.1.2. Thực trạng vai trò pháp luật trong quản lý Nhà nước đối với cơ cấu hoạt động của các cơ quan quản lý Nhà nước trong bảo vệ rừng Luận văn: Thực trạng pháp luật Bảo vệ rừng tại huyện Trà Bồng.

  • Chính sách pháp luật đối với quy hoạch, kế hoạch bảo vệ rừng.

Tại Điều 10 Luật bảo vệ và phát triển rừng năm 2004, đối với chính sách của Nhà nước về bảo vệ và phát triển rừng.

Nhà nước có chính sách đầu tư cho việc bảo vệ và phát triển rừng gắn liền, đồng bộ với các chính sách kinh tế – xã hội khác, ưu tiên đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, phát triển nguồn nhân lực, định canh định cư, ổn định và cải thiện đời sống nhân dân miền núi. Quá trình phát triển kinh tế – xã hội là một vấn đề giảm phá rừng rất cao, khi các hộ dân trong vùng có đủ các yếu tố để ổn định cuộc sống sẻ hạn chế lấn chiếm đất rừng để canh tác. Tuy nhiên, để bảo đảm vấn đề đó thì việc đầu tư bảo vệ và phát triển rừng phải đi đôi với phát triển kinh tế – xã hội khác, đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, phát triển nguồn nhân lực, định canh định cư, ổn định và cải thiện đời sống nhân dân miền núi.

Nhà nước đầu tư cho các hoạt động bảo vệ và phát triển rừng đặc dụng, rừng phòng hộ, rừng giống quốc gia; bảo vệ và phát triển các loài thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm; nghiên cứu, ứng dụng kết quả nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và đào tạo nguồn nhân lực cho việc bảo vệ và phát triển rừng; xây dựng hệ thống quản lý rừng hiện đại, thống kê rừng, kiểm kê rừng và theo dõi diễn biến tài nguyên rừng; xây dựng lực lượng chữa cháy rừng chuyên ngành; đầu tư cơ sở vật chất, kỹ thuật và trang bị phương tiện phục vụ chữa cháy rừng, phòng trừ sinh vật gây hại rừng.

Trong thực hiện các hoạt động bảo vệ và phát triển rừng phải bảo đảm phát triển bền vững về kinh tế, xã hội, môi trường, quốc phòng, an ninh; phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế – xã hội, chiến lược phát triển lâm nghiệp; đúng quy hoạch, kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng của cả nước và địa phương; tuân theo quy chế quản lý rừng do Thủ tướng Chính phủ quy định.

Nhà nước có chính sách hỗ trợ việc bảo vệ và làm giàu rừng sản xuất là rừng tự nhiên nghèo, trồng rừng sản xuất gỗ lớn, gỗ quý, cây đặc sản; có chính sách hỗ trợ việc xây dựng cơ sở hạ tầng trong vùng rừng nguyên liệu; có chính sách khuyến lâm và hỗ trợ nhân dân ở nơi có nhiều khó khăn trong việc phát triển rừng, tổ chức sản xuất, chế biến và tiêu thụ lâm sản.

Nhà nước khuyến khích tổ chức, hộ gia đình, cá nhân nhận đất phát triển rừng ở những vùng đất trống, đồi núi trọc; ưu tiên phát triển trồng rừng nguyên liệu phục vụ các ngành kinh tế; mở rộng các hình thức cho thuê, đấu thầu đất để trồng rừng; có chính sách miễn, giảm thuế đối với người trồng rừng; có chính sách đối với tổ chức tín dụng cho vay vốn trồng rừng với lãi suất ưu đãi, ân hạn, thời gian vay phù hợp với loài cây và đặc điểm sinh thái từng vùng.

Nhà nước có chính sách phát triển thị trường lâm sản, khuyến khích tổ chức, hộ gia đình, cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế đầu tư để phát triển công nghiệp chế biến lâm sản, làng nghề truyền thống chế biến lâm sản và Nhà nước khuyến khích việc bảo hiểm rừng trồng và một số hoạt động sản xuất lâm nghiệp. Từ đó Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ban hành nhiều cơ chế chính sách hỗ trợ và tạo điều kiện thuận lợi cho người dân tham gia thực hiện quản lý bảo vệ và phát triển rừng nhằm xóa đói giảm nghèo và phát triển kinh tế, xã hội ở các địa phương có rừng.

  • Pháp luật đối với ba loại rừng. Luận văn: Thực trạng pháp luật Bảo vệ rừng tại huyện Trà Bồng.

Nhà nước thống nhất phân cấp, quy hoạch và quản lý ba loại rừng. Để góp phần thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả Luật Bảo vệ và phát triển rừng năm 2004, ngành lâm nghiệp cần phải thực hiện việc rà soát, quy hoạch lại, xác định rõ diện tích các loại rừng để làm cơ sở cho việc tổ chức sắp xếp lại sản xuất trong ngành lâm nghiệp, thực hiện các chủ trương chính sách về đầu tư, giao rừng, khoán bảo vệ rừng, sắp xếp, đổi mới và phát triển lâm trường quốc doanh theo Nghị định số 200/2004/NĐ-CP ngày 03 tháng 12 năm 2004 của Chính phủ, khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia đầu tư phát triển sản xuất trong ngành lâm nghiệp.

Sau khi ba loại rừng được rà soát, quy hoạch Nhà nước ban hành quy chế quản lý từng loại rừng: Quyết định 17/2015/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về Quy chế quản lý rừng phòng hộ do Thủ; Quyết định 49/2016/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về quy chế quản lý rừng sản xuất; Nghị định 117/2010/NĐ-CP của Chính phủ về tổ chức quản lý rừng đặt dụng. Đây là cơ sở cho việc tổ chức quản lý và thực hiện có hiệu quả.

  • Pháp luật đối với giao đất giao rừng, cho thuê rừng, thu hồi và chuyển mục đích sử dụng rừng.

Giao đất giao rừng, cho thuê rừng, thu hồi và chuyển mục đích sử dụng rừng. Là một trong những hoạt động trong quản lý bảo vệ và phát triển rừng, nhằm để đối tượng tham gia được hưởng lợi từ chính sách bảo vệ và phát triển rừng. Tuy nhiên việc thực hiện phải đảm bảo theo các quy định.

Hiện nay giao rừng, cho thuê rừng, thu hồi rừng thực hiện theo quy định tại Điều 22 Luật Bảo vệ và phát triển rừng. Các trường hợp Nhà nước không tổ chức giao, cho thuê những diện tích rừng đang có tranh chấp. Vì diện tích đang tranh chấp tổ chức đầu tư bảo vệ và phát triển không hiệu quả, do đó cần giải quyết triệt để mới tổ chức giao. Bên cạnh đó giao, cho thuê rừng, thu hồi rừng phải có sự tham gia của người dân địa phương và công bố công khai.

Giao rừng, cho thuê rừng, thu hồi rừng bảo đảm các điều kiện: Quy hoạch, kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phê duyệt, quyết định. Quỹ rừng sản xuất, rừng phòng hộ, rừng đặc dụng của địa phương. Đối với tổ chức phải có dự án được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phê duyệt nếu là dự án sử dụng nguồn vốn từ ngân sách Nhà nước; dự án và văn bản thẩm định của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đối với tổ chức không sử dụng vốn ngân sách Nhà nước; dự án có vốn đầu tư nước ngoài đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp giấy phép đầu tư. Đối với hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư thôn phải có đơn được Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có rừng xác nhận. Trường hợp hộ gia đình, cá nhân đề nghị thuê rừng thì hộ gia đình, cá nhân phải có dự án đầu tư và văn bản thẩm định của Phòng chức năng thuộc cấp huyện. Phương án giao rừng, cho thuê rừng do Ủy ban nhân dân cấp xã lập có sự tham gia của đại diện các đoàn thể và đại diện nhân dân các thôn trong cấp xã và phải được Ủy ban nhân dân cấp huyện phê duyệt.

Quy định thực hiện theo quy định tại Điều 19 của Nghị định số 23/2006/NĐ-CP ngày 30 tháng 03 năm 2006 của Chính phủ về thi hành Luật Bảo vệ và phát triển rừng (sau đây viết tắt là Nghị định 23/2006/NĐ-CP); trách nhiệm giao rừng, cho thuê rừng, thu hồi rừng quy định tại Điều 30, Nghị định số 23/2006/NĐ-CP. Luận văn: Thực trạng pháp luật Bảo vệ rừng tại huyện Trà Bồng.

Trường hợp chưa có quy hoạch, kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng được duyệt theo quy định thì phải có quy hoạch sử dụng đất lâm nghiệp và quy hoạch ba loại rừng được cấp có thẩm quyền xác lập.

Chuyển mục đích sử dụng rừng được Nhà nước quy định các loại rừng được chuyển mục đích sử dụng khác không phải là lâm nghiệp phải thực hiện theo quy định của pháp luật về đất đai, pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng và phải phù hợp với quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phê duyệt và theo các quy định sau:

Thẩm quyền chuyển mục đích sử dụng rừng thực hiện phải phù hợp với quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phê duyệt.

  • Chuyển mục đích sử dụng rừng phải theo đúng thẩm quyền và được quy định như sau:

Thủ tướng Chính phủ quyết định chuyển mục đích sử dụng toàn bộ hoặc một phần đối với khu rừng do Thủ tướng Chính phủ xác lập theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định chuyển mục đích sử dụng toàn bộ hoặc một phần khu rừng do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xác lập, cụ thể: Quyết định chuyển đổi mục đích sử dụng giữa 3 loại rừng với nhau đối với các khu rừng thuộc quyền xác lập của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Trường hợp người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức cá nhân nước ngoài sử dụng rừng để thực hiện dự án đầu tư mà phải chuyển mục đích sử dụng rừng do điều chỉnh dự án đầu tư đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xét duyệt thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh được quyết định việc chuyển mục đích sử dụng rừng đối với dự án đó.

Việc chuyển mục đích sử dụng từ loại rừng này sang loại rừng khác phải đạt các tiêu chí và chỉ số cho phép xác lập loại rừng đó.

Diện tích rừng đặc dụng, rừng sản xuất được chuyển sang rừng phòng hộ thì diện tích đó phải đạt tiêu chí và chỉ số cho phép công nhận rừng phòng hộ.

Diện tích rừng phòng hộ, rừng sản xuất được chuyển sang rừng đặc dụng thì diện tích đó phải đạt tiêu chí và chỉ số cho phép công nhận rừng đặc dụng.

Diện tích rừng đặc dụng, rừng phòng hộ được chuyển sang rừng sản xuất thì diện tích đó phải đạt tiêu chí và chỉ số cho phép công nhận rừng sản xuất. Có dự án đầu tư trên diện tích rừng chuyển đổi mục đích sử dụng đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phê duyệt. Có báo cáo đánh giá tác động môi trường do việc chuyển mục đích sử dụng rừng. Có phương án đền bù giải phóng mặt bằng khu rừng và được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phê duyệt. Đồng thời cơ quan cho phép chuyển mục đích sử dụng rừng sang mục đích khác phải đảm bảo việc đầu tư trồng rừng mới thay thế diện tích rừng sẽ chuyển sang mục đích sử dụng khác. Được quy định tại Thông tư 24/2013/TT-BNNPTNT của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn,

  • Pháp luật đối với thống kê, kiểm kê và theo dõi diễn biến rừng.

Theo Điều 2 Thông tư số 25/2009/TT-BNN của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Kiểm kê rừng là việc thực hiện điều tra, đánh giá, xác định các trạng thái rừng, trữ lượng rừng trong và ngoài đất quy hoạch lâm nghiệp trên thực tế và đối chiếu sự tăng, giảm số liệu diện tích rừng, trữ lượng rừng theo thống kê trong sổ sách, hồ sơ quản lý rừng; chu kỳ kiểm kê rừng 5 năm một lần trên lô quản lý được thực hiện luôn phiên tại các địa phương. Luận văn: Thực trạng pháp luật Bảo vệ rừng tại huyện Trà Bồng.

Thống kê rừng là việc ghi chép, tổng hợp, phân tích, diện tích rừng, trữ lượng rừng theo sổ sách và hồ sơ quản lý rừng; việc thống kê rừng được thực hiện trên toàn bộ diện tích rừng trong và ngoài quy hoạch 3 loại rừng và cây trồng phân tán. Thống kê rừng được thực hiện hàng năm trên phạm vi toàn quốc và công bố kết quả vào thời điểm ngày 31/12.

Theo dõi diễn biến tài nguyên rừng là Chương trình thực hiện trên phạm vi toàn quốc theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ có nội dung phục vụ cho việc kiểm kê rừng nhằm xác định diện tích, trữ lượng của lô rừng trên thực tế, cập nhật vào hồ sơ quản lý rừng và phục vụ cho thực hiện thống kê rừng tại những địa bàn được kiểm kê rừng trong năm.

Thống kê, kiểm kê và theo dõi diễn biến rừng là một trong những hoạt động phục vụ bảo vệ và phát triển rừng, được Nhà nước giao các cơ quản quản lý ngành tổ chức thường xuyên theo định kỳ (hằng năm). Để thực hiện bảo đảm cần thực hiện đúng theo nguyên tắc phản ánh khách quan hiện trạng rừng tại thời điểm kiểm kê, thống kê rừng. Phải thống nhất số liệu giữa bản đồ và số liệu kiểm kê, thống kê trên thực tế. Đơn vị nhỏ nhất để thực hiện việc kiểm kê rừng, thống kê rừng và lập hồ sơ quản lý rừng là lô quản lý. Trong trường hợp chưa có điều kiện điều tra rừng cụ thể đến lô quản lý và chưa thực sự có nhu cầu quản lý, sử dụng rừng đến lô quản lý nhất là các khu rừng đặc dụng, rừng phòng hộ thì đơn vị thực hiện kiểm kê, thống kê rừng có thể đến khoảnh hoặc tiểu khu. Việc thống kê, kiểm kê rừng và lập hồ sơ quản lý rừng được tổ chức thực hiện trên cơ sở ứng dụng công nghệ thông tin và ảnh viễn thám hoặc ảnh máy bay có độ phân giải cao thống nhất trong toàn quốc; số liệu thống kê, kiểm kê rừng và hồ sơ quản lý rừng phải phản ánh trung thực hiện trạng rừng tại thời điểm thống kê, kiểm kê rừng. Kết quả mỗi kỳ kiểm kê rừng, bao gồm: số liệu, phiếu mô tả lô, phiếu tính diện tích các trạng thái rừng trong lô quản lý và bản đồ hiện trạng rừng cấp xã là cơ sở cho việc lập hoặc điều chỉnh hồ sơ quản lý rừng.

Quy định thực hiện Điều 32 Luật bảo vệ và phát triển rừng 2004 và Thông tư số: 25/2009/TT-BNN của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.

  • Pháp luật đối với nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ.

Hiện nay có nhiều quan niệm về nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ. Tuy nhiên theo Điều 3 Luật khoa học và công nghệ năm 2013.

Khoa học là hệ thống tri thức về bản chất, quy luật tồn tại và phát triển của sự vật, hiện tượng tự nhiên, xã hội và tư duy. Công nghệ là giải pháp, quy trình, bí quyết kỹ thuật có kèm theo hoặc không kèm theo công cụ, phương tiện dùng để biến đổi nguồn lực thành sản phẩm.

Hoạt động khoa học và công nghệ là hoạt động nghiên cứu khoa học, nghiên cứu và triển khai thực nghiệm, phát triển công nghệ, ứng dụng công nghệ, dịch vụ khoa học và công nghệ, phát huy sáng kiến và hoạt động sáng tạo khác nhằm phát triển khoa học và công nghệ.

Nghiên cứu khoa học là hoạt động khám phá, phát hiện, tìm hiểu bản chất, quy luật của sự vật, hiện tượng tự nhiên, xã hội và tư duy; sáng tạo giải pháp nhằm ứng dụng vào thực tiễn. Luận văn: Thực trạng pháp luật Bảo vệ rừng tại huyện Trà Bồng.

Theo đó để duy trì bảo vệ và phát triển rừng, pháp luật về lĩnh vực bảo vệ rừng khẳng định nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ trong quản lý, bảo vệ và phát triển rừng là một trong những công việc cần thiết quản lý Nhà nước về bảo vệ và phát triển rừng; đưa ra chính sách bảo vệ và phát triển rừng. Quy định tại Khoản 8, Điều 7 và Khoản 2, Điều 10 Luật bảo vệ và phát triển rừng năm 2004. Với công cuộc đổi mới hiện nay, trên cơ sở pháp luật bảo vệ và phát triển rừng quy định. Nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ trong quản lý, bảo vệ và phát triển rừng đã có nhiều thay đổi bảo đảm trong thực hiện bảo vệ và phát triển rừng. Việt Nam đã có những hệ thống, thiết bị ứng dụng công nghệ thông minh trong việc bảo vệ rừng và phát triển rừng. Trong lĩnh vực bảo vệ rừng, hiện đang có công nghệ phòng cháy, chữa cháy rừng và phòng chống dịch bệnh cây rừng.

  • Pháp luật đối với nguồn nhân lực bảo vệ rừng.

Có nhiều quan niệm cho rằng nguồn nhân lực là tổng hòa của thể lực và trí lực tồn tại trong toàn bộ lực lượng lao động xã hội của một quốc gia, trong đó kết tinh truyền thống và kinh nghiệm lao động sáng tạo của một dân tộc trong lịch sử được vận dụng để sản xuất ra của cải vật chất và tinh thần phục vụ cho nhu cầu hiện tại và tương lai của đất nước. Nói đến nguồn nhân lực là nói đến con người và đang được hiểu theo nhiều cách khác nhau.

  • Chất lượng nguồn nhân lực được xem xét bằng các khía cạnh:

Trạng thái sức khỏe nguồn nhân lực, trong đó chú ý đề tuổi thọ bình quân; thể trạng của người lao động; phân loại sức khỏe; chỉ tiêu suy giảm sức khỏe hoặc không có khả năng lao động…

Chỉ tiêu trình độ văn hóa của nguồn nhân lực, đây là chỉ tiêu rất quan trọng phản ánh chất lượng nguồn nhân lực và có tác động mạnh mẽ tới quá trình phát triển kinh tế xã hội. Trình độ văn hóa cao sẽ tạo điều kiện và khả năng tiếp thu, vận dụng có hiệu quả những tiến bộ mới của khoa học công nghệ trong thực tiễn lao động sản xuất, trong các lĩnh vực khác của đời sống.

Chỉ tiêu đánh giá trình độ chuyên môn-kỹ thuật của nguồn nhân lực được thể hiện bằng tỉ lệ cán bộ, công nhân và người lao động nói chung có trình độ tay nghề, trình độ cao đẳng, đại học và sau đại học so với nguồn nhân lực lao động chung của cả nước.

Qua đó có thể nói rằng nguồn nhân lực bảo vệ rừng là tổng thể các chỉ tiêu của người tham gia bảo vệ và phát triển rừng, đáp ứng sự cần thiết bảo đảm thực hiện tốt bảo vệ và phát triển rừng như mong muống. Hiện nay nguồn nhân lực trong bảo vệ và phát triển rừng được Đảng, Nhà nước xem giữ vai trò quyết định thành công việc bảo vệ và phát triển rừng. Bên cạnh đó pháp luật bảo vệ rừng có nhiều chính sách đào tạo, bồi dưỡng nâng cao tay nghề trong hoạt động quản lý, bảo vệ và phát triển rừng nhằm phát triển nguồn nhân lực bảo vệ rừng. Cùng với sự phát triển nguồn nhân lực pháp luật cũng quy định rõ trách nhiệm, xử lý đối với nguồn nhân lực vi phạm, thực hiện không hiệu quả.

2.2. Thực trạng thực hiện pháp luật bảo vệ rừng ở huyện Trà Bồng, tỉnh Quảng Ngãi Luận văn: Thực trạng pháp luật Bảo vệ rừng tại huyện Trà Bồng.

2.2.1. Bộ máy quản lý Nhà nước trong bảo vệ rừng hiện nay

Thực hiện pháp luật quản lý, bảo vệ và phát triển rừng đã được tổ chức đảng, chính quyền địa phương huyện Trà Bồng quan tâm thực hiện và đạt được những kết quả quan trọng. Diện tích rừng và độ che phủ rừng liên tục tăng; việc sắp xếp lại ba loại rừng cơ bản phù hợp yêu cầu thực tiễn; thực hiện giao rừng, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất rừng được chú trọng, bảo đảm chặt chẽ, đúng pháp luật.

Theo Luật bảo vệ và phát triển rừng năm 2004 thì trách nhiệm bảo vệ rừng thuộc về các chủ thể sau: Cơ quan Nhà nước, tổ chức, cộng đồng dân cư thôn, hộ gia đình, cá nhân có trách nhiệm bảo vệ rừng, thực hiện nghiêm chỉnh các quy định về bảo vệ rừng theo quy định của Luật này, pháp luật về phòng cháy, chữa cháy, pháp luật về bảo vệ và kiểm dịch thực vật, pháp luật về thú y và các quy định khác của pháp luật có liên quan.

Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân hoạt động trong rừng, ven rừng có trách nhiệm thực hiện các quy định về bảo vệ rừng; thông báo kịp thời cho cơ quan Nhà nước có thẩm quyền hoặc chủ rừng về cháy rừng , sinh vật gây hại rừng và hành vi vi phạm quy định về quản lý, bảo vệ rừng; chấp hành sự huy động nhân lực, phương tiện của cơ quan nhà nước có thẩm quyền khi xảy ra cháy rừng.

Đồng thời tổ chức, cộng đồng dân cư thôn, hộ gia đình, cá nhân được tham gia các chính sách bảo vệ, phát triển rừng và được hưởng lợi từ chính sách đó.

Để cụ thể các quy định trên cũng như chấp hành pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng hiện nay các hộ dân đã tự nguyện đăng ký tham gia nhận khoán bảo vệ rừng theo chính sách với tổng số hộ gia đình tham gia nhận khoán bảo vệ rừng đến thời điểm hiện tại 914 hộ.

Qua điều tra phỏng vấn người dân huyện Trà Bồng, trước khi tham gia bảo vệ rừng được các cơ quan Nhà nước: Hạt Kiểm lâm, Ban quản lý rừng phòng hộ và Ủy ban nhân dân xã tổ chức tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật bảo vệ rừng và các chính sách hưởng lợi khi tham gia. Người dân nhận thức rõ trách nhiệm của mình đối với việc bảo vệ rừng, các cộng đồng dân cư tham gia thành lập các tổ, đội tuần tra rừng, nắm bắt được địa hình, đối tượng, trực tiếp ngăn chặn và hỗ trợ cho lực lượng Kiểm lâm làm nhiệm vụ bảo vệ rừng. Hơn nữa người dân tham gia bảo vệ rừng được hưởng tiền công lao động, mỗi cộng đồng còn được sử dụng một số lâm sản phụ để phục vụ đời sống cho bản thân và gia đình mà không làm ảnh hưởng đến tài nguyên rừng.

Tuy nhiên mức hỗ trợ cho người tham gia và nhận thức về pháp luật bảo vệ rừng còn thấp. Vì vậy mặc dù được tham gia bảo vệ rừng nhưng vẫn có một số hộ dân vẫn vi phạm các quy định pháp luật bảo vệ rừng.

2.2.2. Thực trạng thực hiện pháp luật bảo vệ rừng của các cơ quan chức năng ở huyện Luận văn: Thực trạng pháp luật Bảo vệ rừng tại huyện Trà Bồng.

Các cơ quan chức năng có nhiệm vụ quản lý, bảo vệ và phát triển rừng huyện Trà Bồng, gồm có:

Một là Ủy ban nhân dân huyện, Ủy ban nhân dân 09 xã và 01 Ủy ban nhân dân thị trấn. Tổ chức quản lý, bảo vệ và phát triển rừng theo quy định Luật Tổ chức chính quyền địa phương ngày 19 tháng 6 năm 2015 và Quyết định 54/2013/QĐ-UBND phân cấp quản lý nhà nước rừng đất lâm nghiệp Quảng Ngãi.

Hai là Hạt Kiểm lâm huyện, Tổ chức quản lý, bảo vệ và phát triển rừng theo quy định Nghị định 119/2006/NĐ-CP về tổ chức và hoạt động của kiểm lâm.

Ba là Ban quản lý rừng phòng hộ huyện Trà Bồng (Chủ rừng là tổ chức), Tổ chức quản lý, bảo vệ và phát triển rừng theo Quy chế hoạt động của Ban quản lý rừng phòng hộ và Điều 37 Luật bảo vệ và phát triển rừng năm 2004.

Thực hiện pháp luật bảo vệ rừng của các cơ quan chức năng ở huyện, được các cơ quan tổ chức kết hợp thực hiện và thường mang tính chất mệnh lệnh. Ủy ban nhân dân huyện giao trách nhiệm đối với các cơ quan cấp dưới Hạt Kiểm lâm, Ban quản lý rừng phòng hộ và Ủy ban nhân dân các xã, thị trấn tổ chức thực hiện theo kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng đồng thời chịu trách nhiệm thực hiện trước Ủy ban nhân dân huyện. Theo điều tra số liệu tại các cơ quan, đến thời điểm hiện tại các cơ quan đã thực hiện cụ thể:

  • Thực hiện pháp luật bảo vệ rừng bằng thực hiện tuyên truyền

Thực hiện tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật luôn có vị trí và vai trò vô cùng quan trọng trong quá trình xây dựng Nhà nước xã hội chủ nghĩa hiện nay, là một bộ phận của thực hiện giáo dục chính trị, tư tưởng, là trách nhiệm của toàn bộ hệ thống chính trị, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và sự điều phối, tổ chức thực hiện của các cơ quan Nhà nước và các tổ chức, đoàn thể; là khâu then chốt, quan trọng để chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước thực sự đi vào cuộc sống xã hội, đi vào ý thức, hành động của từng chủ thể trong xã hội.

Phổ biến giao dục pháp luật là cầu nối để chuyển tải pháp luật vào cuộc sống. Nói cách khác, quá trình đưa pháp luật vào cuộc sống được bắt đầu bằng hoạt động phổ biến giao dục pháp luật. Thực hiện pháp luật dù bằng hình thức nào đều phải có hiểu biết pháp luật. Nếu không nhận thức đầy đủ vị trí quan trọng và không thực hiện tốt phổ biến giao dục pháp luật thì dù thực hiện xây dựng pháp luật có làm tốt đến mấy cũng không đạt được hiệu quả thực thi pháp luật như mong muốn.

Để đạt được mục tiêu nhằm đưa chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước thực sự đi vào cuộc sống xã hội, đi vào ý thức, hành động của từng chủ thể trong xã hội các cơ quan hành chính được Nhà nước giao tổ chức quản lý, bảo vệ và phát triển rừng như Ủy ban nhân dân huyện Trà Bồng, Hạt Kiểm lâm huyện Trà Bồng và Ủy ban nhân dân 09 xã, 01 thị trấn (các đơn vị hành chính của huyện) cùng với các chủ rừng Ban quản lý rừng phòng hộ huyện, hộ gia đình, cá nhân được Nhà nước giao rừng, cho thuê rừng để quản lý bảo vệ. Hằng năm tổ chức tuyên truyền phổ biến giao dục pháp luật bảo vệ rừng, coi trọng việc nâng cao ý thức của mỗi người dân trong thực hiện quản lý bảo vệ rừng, bảo vệ rừng không phải là trách nhiệm của một cơ quan hay Đoàn thể mà là trách nhiệm của mỗi một cá nhân Ủy ban nhân dân huyện đã chỉ đạo (hướng dẫn cụ thể) Hạt Kiểm lâm phối hợp với các ngành, Hội đoàn thể của huyện, Ủy ban nhân dân các xã, thị trấn và chủ rừng tổ chức thực hiện tuyên truyền giáo dục pháp luật về bảo vệ rừng thường xuyên và liên tục. Luận văn: Thực trạng pháp luật Bảo vệ rừng tại huyện Trà Bồng.

Qua điều tra thu thập số liệu, năm 2016 và năm 2017 đã tổ chức được 377 buổi tuyên truyền Pháp luật ở các thôn, có 11. 329 lượt người dân tham dự; cấp phát 20 bản cấm đốt rừng, bảo vệ rừng cho các xã, thị trấn; phối hợp với Chi cục Kiểm lâm Quảng Ngãi tổ chức 04 đợt tuyên truyền lưu động tại tất cả các xã trên địa bàn huyện. Phát tờ rơi tuyên truyền cho 657 hộ gia đình và ký cam kết bảo vệ rừng và phòng cháy, chữa cháy rừng trên 700 người thực hiện ký cam kết.

Thực tế cho thấy các cơ quan chức năng trong huyện đã làm tốt về lĩnh vực tuyên truyền phổ biến pháp luật bảo vệ rừng. Tuy nhiên tình trạng phá rừng để lấn đất sản xuất canh tác vẫn tiếp diễn.

  • Thực hiện pháp luật bảo vệ rừng bằng kiểm tra, thanh tra

Kiểm tra là quá trình so sánh giữa mục tiêu và chỉ tiêu kế hoạch với kết quả thực tế đã đạt được trong từng khoảng thời gian bảo đảm cho họat động thực tế phù hợp với kế hoạch đã đề ra.

Với các cơ quan Nhà nước kiểm tra là hoạt động thường xuyên nhằm đảm bảo thực hiện nhiệm vụ của chính mình. Qua kiểm tra các cơ quan, tổ chức đánh giá đúng mực việc làm của mình, từ đó đề ra chủ trương, biện pháp, phương hướng hoạt động tiếp theo một cách hợp lý hơn. Trong trường hợp này, kiểm tra mang ý nghĩa xem xét, nhìn lại việc làm của chính mình để tự điều chỉnh, hay tìm biện pháp thực hiện nhiệm vụ tốt hơn hiệu quả hơn.

Đối với kiểm tra cơ quan Nhà nước nói chung và cơ quan quản lý bảo vệ rừng nói riêng được tổ chức kiểm tra hoạt động của cơ quan, tổ chức, thủ trưởng cấp trên với cấp dưới của mình nhằm đánh giá mọi mặt hoặc từng vấn đề do cấp dưới đã thực hiện. Trong trường hợp này, kiểm tra thực hiện trong quan hệ trực thuộc, vì thế cơ quan hoặc thủ trưởng cấp trên sau khi kiểm tra có quyền áp dụng các biện pháp như: biểu dương, khen thưởng khi cấp dưới làm tốt hoặc các biện pháp cưỡng chế để xử lý đối với cấp dưới khi họ có khuyết điểm hoặc vi phạm các quy định pháp luật.

Để bảo đảm thực hiện bảo vệ rừng các cơ quan Nhà nước, các tổ chức, hộ gia đình và cá nhân được giao nhiệm vụ quản lý, bảo vệ rừng cùng thực hiện kiểm tra (tuần tra, truy quét) thường xuyên và có kế hoạch thực hiện cụ thể. Trong năm 2016 đến nay trên 1.000 đợt tổ chức kiểm tra, nội dung kiểm tra: kiểm tra hoạt động quảng lý rừng.

Về thanh tra việc chấp hành pháp luật chuyên ngành về quản lý rừng, phát triển rừng, sử dụng rừng, bảo vệ rừng, bảo tồn thiên nhiên rừng, giống cây lâm nghiệp, dịch vụ môi trường rừng thuộc phạm vi quản lý của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; các nội dung khác theo quy định của pháp luật. Là thuộc thanh tra chuyên ngành (Điều 18 Nghị định 47/2015/NĐ-CP của Chính phủ).

Kế hoạch thanh tra là văn bản xác định nhiệm vụ chủ yếu về thanh tra của cơ quan thực hiện chức năng thanh tra trong 01 năm do Thủ trưởng cơ quan thực hiện chức năng thanh tra xây dựng để thực hiện Định hướng chương trình thanh tra và yêu cầu quản lý của Thủ trưởng cơ quan quản lý Nhà nước cùng cấp.

Cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành là cơ quan thực hiện nhiệm vụ quản lý Nhà nước theo ngành, lĩnh vực, bao gồm tổng cục, cục thuộc bộ, chi cục thuộc sở được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành. Người được giao thực hiện nhiệm vụ thanh tra chuyên ngành là công chức được phân công thực hiện nhiệm vụ thanh tra của cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành (Điều 3 Luật Thanh tra ngày 15 tháng 11 năm 2010). Việc tổ chức thanh tra lĩnh vực bảo vệ và phát triển rừng trên địa bàn huyện hiện nay do Phòng Thanh tra-pháp chế thuộc Chi cục Kiểm lâm tỉnh tổ chức hằng năm.

  • Xử lý vi phạm pháp luật bảo vệ rừng

Xử lý vi phạm pháp luật bảo vệ rừng là tổng thể các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong hoạt động vi phạm pháp luật bảo vệ rừng, tức là trong việc các cơ quan Nhà nước, người có thẩm quyền áp dụng theo tính chất mức độ vi phạm mà áp dụng các trường hợp xử lý:

Một là biện pháp cưỡng chế hành chính (gồm các hình thức xử phạt vi phạm hành chính, các biện pháp khắc phục hậu quả, các biện pháp ngăn chặn và đảm bảo việc xử phạt vi phạm hành chính, các biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính) đối với những cá nhân, tổ chức thực hiện vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ rừng nhằm đảm bảo trật tự và kỷ luật trong quản lý Nhà nước.

Hai là truy cứu trách nhiệm hình sự, đối với các trường hợp vi phạm tại các điều 232; 233; 234 Bộ Luật hình sự 2015 và Khoản 55; 56; 57 Điều 1 Luật sửa đổi bổ sung Bộ Luật hình sự 2015 năm 2017.

Trên cơ sở các quy định và thực trạng vi phạm lĩnh vực bảo vệ rừng huyện Trà Bồng đã tổ chức xử lý các vụ vi phạm cụ thể:

Kết quả xử lý: Tổng số tang vật, phương tiện tịch thu gồm: 8,459m3 gỗ không thuộc loài nguy cấp, quý, hiếm; 01 cây rựa, 01 cưa xăng cầm tay và 04 xe gắn máy vận chuyển gỗ. Tổng số tiền phạt tịch thu xung công quỹ Nhà nước: 56.000.000 đồng. Tổng số tiền bán đấu giá tang vật, phương tiện tịch thu sung công quỹ Nhà nước: 43.700.000 đồng.

Số vụ vi phạm tồn đọng năm 2016 chuyển sang năm 2017: 08 vụ phá rừng khởi tố hình sự: 08 vụ trên 126.427m2 (rừng phòng hộ 101.997m2, rừng sản xuất 24.430 m2), Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm Trà Bồng đã ra quyết định khởi tố vụ án về tội hủy hoại rừng theo Điều 189 Bộ luật hình sự chuyển hồ sơ cho cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện để tiếp tục điều tra xử lý theo quy định.

  • Bảng 2.1. Thống kê số vụ vi phạm trong lĩnh vực bảo vệ và phát triển rừng.

Qua thống kê thấy rằng số vụ vi phạm trong lĩnh vực bảo vệ rừng trên huyện Trà Bồng đáng được quang tâm. Các đối tựng vi phạm chủ yếu là rừng phòng hộ, có chức năng bảo vệ nguồn nước, bảo vệ đất, chống xói mòn, hạn chế thiên tai, điều hòa khí hậu, góp phần bảo vệ môi trường sinh thái và rừng sản xuất là rừng tự nhiên. Các đối tượng phá rừng để sử dụng mục đích lấn chím đất rừng để canh tác nương rẫy và trồng các loại cây nguyên liệu giấy (cây Keo).

2.2.3. Thực trạng pháp luật xã hội hóa nghề rừng tại huyện Trà Bồng. Luận văn: Thực trạng pháp luật Bảo vệ rừng tại huyện Trà Bồng.

Xã hội hóa nghề rừng là sự tham gia rộng rãi của cộng đồng xã hội vào các hoạt động có liên quan đến rừng. Các hoạt động như trồng, chăm sóc và bảo vệ.

Mục đích xã hội hóa nghề rừng là để bảo vệ rừng, đồng thời góp phần tạo việc làm, nâng cao thu nhập cho người làm nghề rừng từ việc tham gia các chính sách hỗ trợ nghề rừng, đặc biệt là đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa.

Theo Khoản 3, Điều 9 Luật bảo vệ và phát triển rừng năm 2004. Việc bảo vệ và phát triển rừng phải phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất. Việc giao, cho thuê, thu hồi, chuyển mục đích sử dụng rừng và đất phải tuân theo các quy định của Luật này, Luật đất đai và các quy định khác của pháp luật có liên quan, bảo đảm ổn định lâu dài theo hướng xã hội hoá nghề rừng.

Từ đó Nhà nước có nhiều chính sách thu hút các nguồn lực từ tổ chức, cá nhân và hộ gia đình nhằm thực hiện xã hội hóa nghề rừng. Hiện nay việc thực hiện chủ trương, chính sách về giao đất, giao rừng, khoán bảo vệ rừng rừng cho cộng đồng dân cư, hộ gia đình vùng dân tộc thiểu số, miền núi theo hướng xã hội hóa nghề rừng, chính sách đã phát huy được tính hiệu quả trong sử dụng đất vào bảo vệ rừng, góp phần quan trọng phục hồi rừng, nâng cao độ che phủ rừng, bảo vệ môi trường sinh thái. Nhiều hộ gia đình đã phát huy tính chủ động sau khi nhận đất, tiến hành thực hiện các hoạt động đầu tư trồng rừng, từ đó góp phần nâng cao thu nhập cho hộ, trực tiếp làm tăng độ che phủ rừng.

Cụ thể:

  • Thực hiện giao khoán bảo vệ rừng với tổng diện tích: 12. 571,22 het ta.
  • Rừng phòng hộ được thực hiện 07 xã có rừng của huyện Trà Bồng với diện tích là 8.099,63 het ta.

Trong đó:

Tổ chức là Ban quản lý rừng phòng hộ tự quản lý, bảo vệ: 119,615 het ta; Hộ gia đình.

Cá nhân, hộ gia đình bảo vệ: 7.980,015 het ta. Cụ thể diện tích khoán bảo vệ theo từng chương trình: Chương trình Bảo vệ và Phát triển rừng 2.865,0 ha; Chương trình mục tiêu Phát triển lâm nghiệp bền vững (Nghị định số 75/2015/NĐ-CP ngày 09/9/2015) là 1.285,655 ha; Chương trình mục tiêu quốc gia Giảm nghèo bền vững 3.060,77 ha; Chương trình chi trả dịch vụ môi trường rừng:

Tổng số hộ gia đình tham gia nhận khoán bảo vệ rừng đến thời điểm hiện tại 914 hộ trên 71 nhóm hộ tham gia, trong đó: xã Trà Giang: 112 hộ trên 6 nhóm hộ; xã Trà Thủy: 379 hộ trên 18 nhóm hộ tham gia; xã Trà Bùi: 192 hộ trên 9 nhóm hộ; xã Trà Sơn: 149 hộ trên 21 nhóm hộ; xã Trà Lâm: 9 hộ trên 01 nhóm hộ; xã Trà Tân: 43 hộ trên 13 nhóm hộ và xã Trà Hiệp: 30 hộ trên 3 nhóm hộ. Rừng sản xuất là rừng tự nhiên được tổ chức giao rừng, cho thuê rừng với diện tích 4.471,59 het ta.

  • Trong đó: Luận văn: Thực trạng pháp luật Bảo vệ rừng tại huyện Trà Bồng.

Giao theo Quyết định 1774/QĐ-UBND ngày 09/11/2012 là 1.106,5 het ta, tuy nhiên trong quá trình tổ chức rà soát chỉ giao được 916, 2649 het ta. Giao cho cộng đồng dân cư 21 cộng đồng, 08 hộ gia đình trên 05 xã. Tiếp tục duy trì quản lý, bảo vệ và sử dụng theo quy định.

Giao theo Quyết định số 264/QĐ-UBND ngày 11/4/2017 của UBND tỉnh Quảng ngãi là 3.555,335 het ta, đang lập các thủ tục để giao.

Nhìn chung các tổ chức, hộ gia đình và cá nhân sau khi được Nhà nước tổ chức giao rừng, cho thuê rừng để quản lý bảo vệ và sử dụng. Đều được hưởng lợi tăng thu nhập từ chính sách, hơn nữa các hộ dân tham gia chủ động thực hiện các hoạt động bảo vệ rừng và có tinh thần, trách nhiệm để quản lý. Như vậy xã hội hóa nghề rừng càng rộng rãi thì việc quản lý, bảo vệ và phát triển rừng càng tốt.

2.3. Các nguyên nhân làm hạn chế thực hiện pháp luật bảo vệ rừng trên địa bàn huyện Trà Bồng

Theo tình hình chung hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách về quản lý, bảo vệ và phát triển rừng từng bước được hoàn thiện, trong đó có nhiều cơ chế, chính sách về bảo vệ và phát triển rừng gắn với giảm nghèo đã giúp người dân làm nghề rừng, nhất là các hộ nghèo cải thiện đời sống, nâng cao thu nhập cuộc sống người dân từng bước ổn định.

Tuy nhiên, tại huyện Trà Bồng thực hiện quản lý, bảo vệ và phát triển rừng còn nhiều hạn chế, yếu kém. Tình trạng phá rừng, lấn chiếm đất rừng, khai thác lâm sản trái pháp luật, nhất là đối với rừng tự nhiên vẫn tiếp tục diễn ra phức tạp; diện tích rừng phòng hộ liên tục giảm qua các năm (diện tích rừng phòng hộ đủ điều kiện giao khoán bảo vệ năm 2016 là 8.307,192 het ta; năm 2017 là 8.099,63 het ta; giảm 207, 49 het ta). thực hiện quy hoạch, bảo vệ, phát triển rừng thiếu đồng bộ với quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch phát triển kinh tế – xã hội.

Nguyên nhân khách quan: Do nhu cầu sử dụng về gỗ và giá cả các loại cây nguyên liệu tăng cao nên đã kích thích người dân khai thác, phá rừng, lấn chiếm đất rừng phòng hộ để lấy gỗ, lấy đất trồng cây nguyên liệu hoặc mua, bán sang nhượng trái pháp luật.

Diện tích rừng có địa hình phức tạp, hiểm trở, khó khăn trong việc tuần tra, kiểm tra, truy quét bảo vệ rừng; kinh phí hoạt động cho việc tuần tra, kiểm tra, truy quét còn hạn chế; biên chế Kiểm lâm còn mỏng so với diện tích rừng hiện có.

Do phát sinh trong quá trình thực hiện Phương án giao rừng: thời điểm ký hợp đồng thực hiện phương án là mùa mưa nên việc thực hiện thực hiện ngoại nghiệp gặp khó khăn; do chồng lấn diện tích rừng tự nhiên giao với diện tích đất đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ gia đình trong dự án Rudep, WB3 nên việc thu hồi, chỉnh lý giấy mất nhiều thời gian.

Nguyên nhân chủ quan: Thực hiện tuyên truyền, vận động nhân dân tham gia bảo vệ rừng đã được tăng cường nhưng nội dung và hình thức tuyên truyền còn đơn điệu; mặt khác nhận thức của một số bộ phận người dân sống gần rừng còn nhiều hạn chế, điều kiện kinh tế thiếu thốn, khó khăn.

Chính quyền địa phương một số xã chưa thực hiện đầy đủ hết trách nhiệm quản lý Nhà nước về rừng và đất lâm nghiệp trên địa bàn được Nhà nước giao. Luận văn: Thực trạng pháp luật Bảo vệ rừng tại huyện Trà Bồng.

Chủ rừng chưa phối hợp chặt chẽ với chính quyền địa phương và các ngành chức năng để đề ra các giải pháp ngăn chặn kịp thời có hiệu quả; chưa đi sâu, sát thực hiện tốt tuyên truyền giáo dục ý thức bảo vệ rừng cho quần chúng nhân dân địa phương vùng dự án. Khoán bảo vệ không có hiệu quả, người dân nhận rừng bảo vệ nhưng thực hiện chưa hết trách nhiệm bảo vệ rừng của mình, thậm chí còn trực tiếp tham gia phá rừng hay tiếp tay cho một số đối tượng phá rừng, khái thác rừng trái phép.

Kiểm lâm địa bàn một số xã chưa làm tròn trách nhiệm, chưa thật sự bám địa bàn, chưa chủ động tham mưu cho cấp ủy, Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã các giải pháp kiểm tra, giám sát chủ rừng thực hiện tốt nhiệm vụ bảo vệ rừng tại gốc; việc tuần tra, kiểm tra, phát hiện, ngăn chăn, báo cáo các vụ vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng trên diện tích quản lý đôi lúc chưa kịp thời.

Tình trạng xâm lấn đất quy hoạch cho phát triển rừng phòng hộ của người dân ở những vùng lân cận để trồng rừng sản xuất trong khu vực đã thiết kế trồng rừng, nên làm ảnh hưởng không nhỏ đến tiến độ thực hiện kế hoạch được giao.

Tiểu kết Chương 2 Luận văn: Thực trạng pháp luật Bảo vệ rừng tại huyện Trà Bồng.

Trên cơ sở phân tích, đánh giá thực trạng thực hiện pháp luật bảo vệ rừng của các cơ quan chức năng ở huyện. Thực trạng vai trò pháp luật trong quản lý Nhà nước đối với cơ cấu hoạt động của các cơ quan quản lý Nhà nước trong bảo vệ rừng. Qua đó làm rõ các nguyên nhân làm hạn chế thực hiện pháp luật bảo vệ rừng trên địa bàn huyện Trà Bồng trong thời gia qua.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:  

===>>> Luận văn: Giải pháp pháp luật bảo vệ rừng trên huyện Trà Bồng

One thought on “Luận văn: Thực trạng pháp luật Bảo vệ rừng tại huyện Trà Bồng

  1. Pingback: Luận văn: Pháp luật Bảo vệ rừng tại huyện Trà Bồng

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464