Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Pháp luật về thuế thu nhập cá nhân của người lao động hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Pháp luật về thuế thu nhập cá nhân của người lao động trong doanh nghiệp tại Tp. Hồ Chí Minh dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
TÓM TẮT LUẬN VĂN
1. Tên đề tài: “Pháp luật về thuế thu nhập cá nhân của người lao động trong doanh nghiệp tại Tp. Hồ Chí Minh”
2. Nội dung: Luận văn thể hiện quan điểm, nhìn nhận cá nhân của tác giả về tình hình “Pháp Luật Về Thuế Thu Nhập Cá Nhân Của Người Lao Động Trong Doanh Nghiệp Tại TP. Hồ Chí Minh”. Trong bài luận sẽ hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về thuế TNCN, ngoài ra còn cập nhật thực trạng về việc thi hành pháp luật về thuế TNCN của người lao động hiện nay. Phân tích từ những quy định, phạm vi quy phạm của luật thuế TNCN, cách thức thi hành, áp dụng so với tình hình thực tế. Để từ đó đánh giá, nhìn nhận những bất cập còn tồn đọng của luật thuế TNCN. Tác giả diễn giải những yếu tố tác động đến việc dẫn ra những vướng mắc ở thực trạng của thuế TNCN đối với người lao động trong doanh nghiệp tại Việt Nam cũng như Tp. Hồ Chí Minh như: bất cập trong công tác quản lý; mức thu nhập, giảm trừ gia cảnh của người chịu thuế; phương thức thanh toán thuế cũng như cách xử lý các vi phạm của người lao động đối với luật thuế TNCN. Qua bài Luận văn này, đề xuất ý kiến cá nhân, đưa ra một số giải pháp nhằm sửa đổi, tiến đến hoàn thiện pháp luật về thuế TNCN.
3. Từ khóa: Luật thuế thu nhập cá nhân, thu nhập chịu thuế, người lao động trong doanh nghiệp.
ABTRACTS
- Subject title: Law on personal income tax of employees in enterprises in Ho Chi Minh City.
- Content: The thesis presents the author’s personal views on the situation “Law on Personal Income Tax of Employees in Enterprises in Ho Chi Minh City”. In the essay will systematize the basic theoretical issues of personal income tax, in addition, update the current status of the implementation of the law on personal income tax of employees today. Analysis from the provisions, the normative scope of the PIT law, the way of implementation and application compared to the actual situation. From there to evaluate and recognize the outstanding shortcomings of the PIT law. The author explains the factors that lead to problems in the current situation of PIT for employees in enterprises in Vietnam as well as in Ho Chi Minh City. Ho Chi Minh City such as: inadequacies in management; income level, deduction of the taxable family’s circumstances; methods of tax payment as well as how to handle violations of employees against the PIT law. Through this thesis, personal opinions are proposed, some solutions are proposed to amend and improve the law on personal income tax.
- Keywords: Law on personal income tax (PIT law), taxable income, employees in enterprises.
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Đặt vấn đề
Xét ở góc độ nhà nước, thuế nói chung trong đó có thuế thu nhập cá nhân là nguồn thu chủ yếu của quốc gia để xây dựng đất nước. Xét ở góc độ của người nộp thuế, thuế là sự cân bằng thu nhập của nhà nước dành cho các doanh nghiệp, người lao động do pháp luật quy định để góp phần xây dựng nguồn quỹ ngân sách nhà nước, đảm bảo công bằng xã hội. Việc đóng thuế Thu nhập cá nhân không chỉ là trách nhiệm mà còn là nghĩa vụ của người dân để góp phần xây dựng thúc đẩy thị trường kinh tế nước nhà. Ngoài ra việc đóng thuế Thu nhập cá nhân còn là một tín hiệu cho thấy nền kinh tế nước đó có đang hưng thịnh hay không. Luận văn: Pháp luật về thuế thu nhập cá nhân của người lao động.
Thuế Thu nhập cá nhân đối với người lao động là yếu tố quan trọng, phức tạp và thay đổi liên tục do các điều kiện phát triển của quốc gia và chịu ảnh hưởng không nhỏ của các yếu tố quốc tế.
Các chế độ, chính sách, quy định đặt ra đối với người lao động chịu thuế là rất cần thiết do đó nên xem xét cẩn trọng để tránh xảy ra các tình huống không mong muốn đem lại kết quả không khả quan đến tình hình kinh tế trong nước. Với tầm ảnh hưởng đặc biệt này mà pháp luật quy định về thuế thu nhập cá nhân của người lao động trong doanh nghiệp càng phải được chú trọng hơn, thường xuyên cập nhật tình hình chung để từ đó phát hiện những vướng mắt cũng như bất cập để kịp thời sửa đổi hoàn thiện hơn. Điều tiết thuế thu nhập cá nhân phải đảm bảo cho người lao động trong doanh nghiệp có thể phát triển và tiếp tục có đóng góp lớn hơn cho đất nước.
2. Mục tiêu của đề tài
2.1. Mục tiêu tổng quát
Nghiên cứu những vấn đề, cơ sở lý luận: Quy định pháp luật về thuế thu nhập cá nhân đối với người lao động trong doanh nghiệp và thực tiễn thực thi pháp luật thuế Thu nhập cá nhân ở Tp. Hồ Chí Minh trong nhiều năm qua; phân tích những bất cập và đưa ra nguyên nhân tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm nước ngoài; đề xuất ý kiến nhằm củng cố, hoàn thiện các quy định pháp luật Việt Nam về thuế Thu nhập cá nhân với đối tượng NLĐ trong doanh nghiệp.
2.2. Mục tiêu cụ thể
Để thực hiện được mục tiêu đã đưa ra, đề tài sẽ đặt các mục tiêu cụ thể như:
- Thứ nhất, trình bày và giải thích những vấn đề, cơ sở lý luận cơ bản về thuế Thu nhập cá nhân đối với người lao động trong doanh nghiệp.
- Thứ hai, tìm hiểu, thực trạng thực thi pháp luật thuế thu nhập cá nhân đối với người lao động trong doanh nghiệp ở Tp. Hồ Chí Minh trong những năm vừa qua, phân tích những bất cập và tìm ra nguyên nhân đồng thời nghiên cứu tiếp thu có lựa chọn kinh nghiệm pháp luật thuế Thu nhập cá nhân ở một số quốc gia.
- Thứ ba, kiến nghị và bàn thảo tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thiện của pháp luật ở khía cạnh thuế Thu nhập cá nhân đối với NLĐ trong doanh nghiệp của Việt Nam và đóng góp ý kiến với mục đích là đổi mới pháp luật về thuế Thu nhập cá nhân ở Việt Nam.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Luận văn: Pháp luật về thuế thu nhập cá nhân của người lao động.
3.1. Về đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu được đề cập Luận văn là: Pháp luật về thuế thu nhập cá nhân đối với người lao động trong doanh nghiệp ở Tp. Hồ Chí Minh. Ngoài ra đối tượng nghiên cứu của Luận văn có xem xét đến các quy định của pháp luật tại một số quốc gia trên thế giới về thuế thu nhập của người lao động làm căn cứ so sánh pháp luật.
3.2. Về phạm vi nghiên cứu
Luận văn phân tính rõ về tính pháp lý đối với người lao động chịu thuế Thu nhập cá nhân tại Tp. Hồ Chí Minh hiện nay, cụ thể:
Về nội dung: Nội dung nghiên cứu xoay quanh hệ thống pháp luật trong lĩnh vực thuế Thu nhập cá nhân cụ thể ở đối tượng là người lao động trong doanh nghiệp ở nước ta, tình hình thực tế áp dụng các quy định này và quá trình hoàn thiện các quy định pháp luật.
Về không gian: Luận văn nghiên cứu tài liệu, văn bản pháp luật áp dụng với người lao động trong doanh nghiệp về thuế Thu nhập cá nhân chủ yếu tại Thành phố Hồ Chí Minh và đặt trong mối tương quan so sánh với pháp luật của một số quốc gia khác trên thế giới về thuế Thu nhập cá nhân.
Về thời gian: Luận văn chủ yếu nghiên cứu các quy định từ khi Luật thuế thu nhập cá nhân số 04/2007/QH12 được ban hành và có hiệu lực ngày 21/11/2007 đến
4. Câu hỏi nghiên cứu
- Luận văn được triển khai với các câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu như sau:
Câu hỏi nghiên cứu số 1: Thuế thu nhập cá nhân đối với người lao động trong doanh nghiệp khác gì so với thuế thu nhập cá nhân ? Quá trình hình thành pháp luật thuế thu nhập cá nhân? Thuế thu nhập cá nhân đối với người lao động trong doanh nghiệp có những đặc điểm nào, có vai trò thế nào Luận văn: Pháp luật về thuế thu nhập cá nhân của người lao động.
Giả thuyết nghiên cứu: Hiện nay quan niệm về thuế thu nhập cá nhân với người lao động trong doanh nghiệp, đặc điểm, vai trò,… của thuế thu nhập cá nhân với người lao động chưa được nhận định một cách chuyên sâu và nhất quán. Kết quả nghiên cứu (dự kiến): Đưa ra quan điểm đúng và rõ ràng về những vấn đề trên.
Câu hỏi nghiên cứu số 2: Những nội dung điều chỉnh chủ yếu của pháp luật thuế thu nhập cá nhân đối với NLĐ trong doanh nghiệp là gì? Các yếu tố nào ảnh tác động việc thực thi pháp luật?
Giả thuyết nghiên cứu: Hiện nay những vấn đề về nội dung điều chỉnh chủ yếu của pháp luật thuế Thu nhập cá nhân đối với người lao động trong DN chưa được nghiên cứu một cách đầy đủ, chưa xác định các nhân tố tác động tới việc thực thi pháp luật thuế thu nhập cá nhân một cách có hệ thống. Do đó, kết quả nghiên cứu (dự kiến) là khẳng định đầy đủ những nội dung điều chỉnh là có cơ sở khoa học và thực tiễn, xác định các nhân tố cần và đủ để tổ chức thực thi pháp luật thuế Thu nhập cá nhân mang lại kết quả cao.
Câu hỏi nghiên cứu số 3: Các quy định hiện hành về thuế Thu nhập cá nhân đối với người lao động trong doanh nghiệp ở Việt Nam từ mức thuế đến đối tượng chịu thuế đã đầy đủ, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho chủ thể nộp thuế hay chưa ?
Giả thuyết nghiên cứu: Pháp luật thuế thu nhập cá nhân đối với NLĐ tại doanh nghiệp trong nước đã có nhiều quy định với thực tiễn Việt Nam qua từng thời kỳ. Song cũng còn một số quy định thiếu tính khả thi mà qua quá trình thực thi pháp luật thuế thu nhập cá nhân vẫn chưa mang tính phù hợp. Kết quả nghiên cứu (dự định): Tìm ra được những điểm hạn chế trong chính những quy định của pháp luật thuế thu nhập cá nhân và những tồn tại trong quá trình thực thi pháp luật, chỉ ra được những nguyên nhân của hạn chế, bất cập đó.
Câu hỏi nghiên cứu số 4: Các quy định hiện hành về thuế Thu nhập cá nhân đối với người lao động trong doanh nghiệp ở Việt Nam đã đầy đủ, hoàn thiện về quy trình, về quản lý tạo mọi điều kiện thuận lợi cho cơ quan thuế thực thi chưa ? Có những tồn tại, bất cập nêu trên thì cần phải có quan điểm, phương hướng và giải pháp gì để sữa chữa cũng như khắc phục nó?
Giả thuyết nghiên cứu: Hiện nay quy định của pháp luật về quản lý thuế Thu nhập cá nhân chưa đầy đủ, quan điểm, cách thức giải quyết và giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về thuế thu nhập cá nhân dành cho người lao động vẫn chưa “đúng hướng”, đầy đủ và phù hợp để khắc phục những thiếu sót của pháp luật thuế Thu nhập cá nhân hiện hành cũng như việc tổ chức thực thi ở Việt Nam. Kết quả nghiên cứu (dự kiến): Đưa ra được quan điểm, phương hướng và đề xuất cách giải quyết đúng đắn, đầy đủ và phù hợp cho việc hoàn thiện pháp luật thuế thu nhập cá nhân người lao động cũng như việc tổ chức thực thi ở Việt Nam.
5. Phương pháp nghiên cứu Luận văn: Pháp luật về thuế thu nhập cá nhân của người lao động.
Để mang lại cái nhìn khách quan và tổng quan nhất Luận văn phối hợp giữa nhiều phương pháp nghiên cứu với nhau. Từ đó làm rõ nét các vấn đề cần tập trung khai thác. Các phương pháp nghiên cứu trong bài Luận văn gồm:
- Phương pháp phân tích, tổng hợp: Đối với phương pháp này sẽ giúp các vấn đề được tách xẻ để có cái nhìn rõ nét hơn, sâu sắc hơn từ đó sẽ tổng quát lại được những điểm chính cần chú trọng hoàn thiện và phát triển.
- Phương pháp so sánh: Luận văn sử dụng phương pháp so sánh với mục tiêu tìm ra được những điểm sáng đồng thời những mặt chưa được khai thác, cải thiện của pháp luật về thuế Thu nhập cá nhân.
- Phương pháp thống kê: Việc sử dụng các dữ liệu, con số thống kê từ các trang báo uy tín, các thông báo số liệu hàng năm của các cơ quan ban ngành góp phần cho bài Luận văn thêm tính thực tế. Dựa vào đó, phân tích tổng quan, hiệu quả, công khai, rõ ràng thống nhất và bình đẳng trong các quy định về thuế Thu nhập cá nhân.
6. Ý nghĩa của đề tài
Thứ nhất: Luận văn sẽ khái quát và hệ thống hóa được quá trình sơ khai và phát triển của pháp luật về thuế Thu nhập cá nhân với người lao động và cập nhật tình hình nghiên cứu pháp luật thuế Thu nhập cá nhân với đối tượng trực tiếp nghiên cứu là người lao động trong doanh nghiệp ở một số nước trên thế giới và ở Việt Nam. Về cơ sở lý luận pháp luật thuế Thu nhập cá nhân, Luận văn sẽ phân tích làm rõ hơn những quan điểm, một số khía cạnh lý luận pháp luật cơ bản về thuế thu nhập cá nhân đối với người lao động trong doanh nghiệp như: Chủ thể nộp thuế, đối tượng chịu thuế, giảm trừ gia cảnh, thuế suất thuế Thu nhập cá nhân, cách thức tổ chức thực hiện pháp luật thuế Thu nhập cá nhân và các nhân tố tác động đến việc áp dụng pháp luật thuế Thu nhập cá nhân.
Thứ hai: Luận văn tiến hành phân tích, đánh giá một cách có hệ thống và toàn diện thực trạng thi hành pháp luật thuế Thu nhập cá nhân đối với đối tượng là người lao động trong doanh nghiệp của Việt Nam. Qua đó làm rõ những sai sót, bất cập và nguyên nhân của pháp luật thuế Thu nhập cá nhân có hợp lí trong giai đoạn hiện nay chưa.
Thứ ba: Luận giải và đề xuất cụ thể, toàn diện các giải pháp nhằm giải quyết được yêu cầu hoàn thiện pháp luật về cá nhân là NLĐ trong doanh nghiệp tại Việt Nam. Luận văn: Pháp luật về thuế thu nhập cá nhân của người lao động.
Thứ tư: Kết quả Luận văn mang lại giá trị ý nghĩa không chỉ đối với sự phát triển kinh tế – xã hội của Thành phố Hồ Chí Minh, mà còn làm phong phú hơn cơ sở lý luận của các vấn đề về thuế Thu nhập cá nhân đối với người lao động, là nguồn tài liệu tham khảo cho các nghiên cứu khoa học tương tự hoặc những ai quan tâm đến lĩnh vực luật thuế Thu nhập cá nhân đối với cá nhân là NLĐ trong doanh nghiệp.
7. Tổng quan về tình hình nghiên cứu
Thuế thu nhập cá nhân đối với người lao động có ảnh hưởng rất lớn đến các tầng lớp lao động, là một phần trong nguồn thu của Ngân sách nhà nước, ảnh hưởng đến sự thịnh vượng của nền kinh tế xã hội mỗi quốc gia, nên việc nghiên cứu chuyên sâu lĩnh vực thuế thu nhập cá nhân được nhiều nhà lập pháp cũng như các chuyên gia kinh tế, các nhà quản lý đặc biệt quan tâm, nghiên cứu.
Ở phần tổng quan tình hình nghiên cứu, Luận văn đề cập chính đến các công trình nghiên cứu khoa học trong nước và quốc tế đã nghiên cứu về những mặt có liên quan đến các nội dung mà Luận văn cần phải làm rõ.
- Về mặt lý luận của thuế và pháp luật về thuế Thu nhập cá nhân
Thuế là một trong những đề tài nóng thu hút nhiều sự chú ý nghiên cứu của các học giả, học viên và nghiên cứu sinh. Cho đến thời điểm hiện tại, có rất nhiều công trình nghiên cứu về thuế và pháp luật thuế thu nhập cá nhân nhất là sau tình hình dịch COVID vừa diễn ra trong thời gian qua. Những nội dung nghiên cứu có thể kể đến như:
Về bản chất của thuế, khái niệm, đặc điểm, vai trò của thuế thu nhập cá nhân theo như tài liệu “Bản chất của thuế – sự tiếp cận từ các học thuyết thuế cổ điển và hiện đại” của TS. Nguyễn Văn Tuyến ông cho rằng mặt bản chất của thuế vẫn còn là đề tài gây nhiều tranh luận. Tài liệu phân tích bản chất của thuế theo nhiều quan điểm khác nhau đi từ cổ điển đến các quan niệm hiện đại. Từ đó đưa ra góc nhìn đối lập nhưng cả hai đều có tác động quan trọng đến sự hình thành và phát triển của hệ thống thuế toàn cầu trong đó có Việt Nam. Luận văn: Pháp luật về thuế thu nhập cá nhân của người lao động.
Về đối tượng nộp thuế, đối tượng chịu thuế, giảm trừ gia cảnh và thuế suất, đăng ký, kê khai, khấu trừ, nộp thuế, quyết toán, hoàn thuế, xử lý vi phạm và giải quyết tranh chấp thuế thu nhập cá nhân cũng có chuyên đề thuộc tài liệu “Thuế thu nhập cá nhân – Những vấn đề cơ bản và kinh nghiệm ở một số nước” tập trung phân tích, chỉ ra một số vấn đề cơ bản của thuế Thu nhập cá nhân trong mạng lưới thuế của một số nước tiêu biểu như: Pháp, Mỹ, Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Thái Lan,… và khái quát một số kinh nghiệm của các nước trong việc hình thành pháp luật về thuế Thu nhập cá nhân.
- Về mặt thực trạng pháp luật của thuế Thu nhập cá nhân
Các tài liệu nghiên cứu về thuế không khó để tìm. Có rất nhiều tài liệu nói về vấn đề này như: “Thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao – thực trạng và giải pháp” của Nguyễn Trọng Hạnh. Mục tiêu của bài nghiên cứu nhằm hoàn thiện chính sách thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao ở thời điểm đó, hoàn thiện các biện pháp tổ chức, thu thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao. Đồng thời cũng đưa ra những đề xuất phương hướng xây dựng Luật thuế thu nhập cá nhân thay cho pháp lệnh thuế thu nhập cao tại thời điểm bấy giờ.
Hay “Hoàn thiện quản lý thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam” của Nguyễn Hoàng. Tác giả cho rằng việc quản lý nhà nước về thuế thu nhập cá nhân là một quá trình nhà nước tác động có chủ đích và có ý thức vào việc huy động nguồn thu từ thuế thu nhập cá nhân vào ngân sách quốc gia, thực hiện các mục tiêu kinh tế -xã hội thông qua các văn bản pháp luật, phương pháp tổ chức và quyền lực cơ quan. Tác giả cũng cho rằng cần phải hoàn thiện nội dung và các nhân tố ảnh hưởng của công tác quản lý nhà nước về thuế Thu nhập cá nhân, đánh giá tình trạng hiện tại và đề xuất ý kiến nhằm hoàn thiện công tác quản lý nhà nước về thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam.
Qua đó có thể thấy được cơ sở lý luận chính của các nghiên cứu về pháp luật thuế thu nhập cá nhân là đi từ lý thuyết, nguồn gốc bắt đầu của Luật thuế thu nhập cá nhân, từ đó đối chiếu với thực tiễn để tìm ra được những bất cập và đề xuất hướng đi, giải pháp cho vấn đề vừa nghiên cứu. Luận văn: Pháp luật về thuế thu nhập cá nhân của người lao động.
- Đánh giá tình hình nghiên cứu và định hướng của Luận văn
Thuế Thu nhập cá nhân có ảnh hưởng không nhỏ đến các giai cấp trong xã hội, là nguồn thu của ngân sách nhà nước, ảnh hưởng đến sự phát triển nền kinh tế của mỗi quốc gia, nên việc nghiên cứu thuế thu nhập cá nhân được nhiều nhà lập pháp, nhiều chuyên gia kinh tế, các nhà quản lý quan tâm nghiên cứu.Theo số liệu thống kê từ các niên giám thống kê ở Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2018 dân số trung bình 8843274 người trong đó 4726764 người thuộc lực lượng lao động ,năm 2019 dân số trung bình 9.038.566 người trong đó 4.842.407 người thuộc lực lượng lao động, năm 2020 dân số trung bình 9.227.598 người trong đó 4.915.176407 người thuộc lực lượng lao động, năm 2021 dân số trung bình 9.166.840 người trong đó 4.622.501407 người thuộc lực lượng lao động. Những con số này cho thấy được số người lao động luôn chiếm tỷ lệ cao trong tổng số dân tại TP.HCM. Đây là lực lượng tạo dựng, góp phần phát triển nên kinh tế nước nhà nên cần được chú trọng hơn trong các chính sách cho người lao động, nhất là trong thời điểm kinh tế đang cần thúc đẩy và phát triển. Đến nay các luận án, các bài nghiên cứu về thuế thu nhập cá nhân đã có rất nhiều đóng góp trong việc hoàn thiện luật thuế Thu nhập cá nhân. Tuy nhiên xét về khía cạnh học thuật thì theo như Triết học Mác cho rằng: “Sự phát triển về mặt chính trị, pháp luật, triết học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, v. v. là dựa trên sự phát triển kinh tế. Nhưng tất cả những sự phát triển đó đều tác động lẫn nhau và cũng tác động đến cơ sở kinh tế. Hoàn toàn không phải điều kiện kinh tế là nguyên nhân duy nhất chủ động, còn mọi thứ khác chỉ có tác dụng thụ động”. Tức là sự phát triển luôn là sự thăng hoa đỉnh cao nhất của một xã hội. Một xã hội phát triển là một xã hội có sự thay đổi theo hướng đi lên từ tiêu cực thành tích cực. Tất cả các khía cạnh từ chính trị, tôn giáo, pháp luật, kinh tế,v…v đều tương tác và chịu ảnh hưởng bởi nhau. Suy cho cùng muốn nền kinh tế phát triển phải có một hệ thống pháp luật chặt chẽ, hoàn thiện nhất ở từng thời điểm phù hợp.
Nhìn chung, các vấn đề được nghiên cứu nêu trên thể hiện những phạm vi, góc độ quan sát khác nhau với nhiều nội dung và những vấn đề quan trọng có liên quan đến pháp luật thuế Thu nhập cá nhân.Các bài nghiên cứu đa phần được khai thác theo các nhóm chung như: Nhóm thiên về mặt lý luận; nhóm khai thác vấn đề từ thực trạng; nhóm đi vào phân tích các vấn đề về tổ chức thực thi pháp luật.
Tuy vậy, với sự thay đổi và phát triển của nước ta hiện nay, các công trình nghiên cứu về thuế thu nhập cá nhân đối với người lao động trong doanh nghiệp vẫn còn khá hạn chế, cũng như chưa được khai thác sâu. Hơn thế, dù đã có một hệ thống luật quy phạm về thuế Thu nhập cá nhân nhưng cần phải xem xét đã phù hợp với tình hình, giai đoạn hiện tại hay chưa. Hiện nay, việc bắt đầu khôi phục vực dậy nền kinh tế giai đoạn sau dịch COVID đã làm nảy sinh thêm nhiều vấn đề mới. Vì thế, vận dụng từ các nguồn tư liệu tham khảo, các công trình nghiên cứu, tác giả chọn đề tài “Pháp Luật Về Thuế Thu Nhập Cá Nhân Của Người Lao Động Trong Doanh Nghiệp Tại Tp. Hồ Chí Minh ” làm đề tài Luận văn Thạc sĩ của mình với mục đích kế thừa, tiếp tục nghiên cứu nhằm tìm ra những khó khăn và lý do trong thực tiễn đối với thuế Thu nhập cá nhân của người lao động trong doanh nghiệp, từ đó đề xuất và kiến nghị một số giải pháp nhằm khắc phục và sửa đổi những bất cập còn tồn đọng.
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN PHÁP LUẬT THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN ĐỐI VỚI NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP
1.1. Quá trình hình thành pháp luật thuế thu nhập cá nhân
1.1.1. Quá trình hình thành pháp luật thuế thu nhập cá nhân trên thế giới
Thuế Thu nhập cá nhân là khoản thu đã xuất hiện rất lâu đời, cùng phát triển với sự xuất hiện của kinh tế xã hội đất nước, thứ thuế này lần đầu tiên được đề cập đến vào năm 1799 tại Vương Quốc Anh, thời đó loại thuế này được dùng để chi trả cho chiến dịch chống Pháp và được ban hành chính thức vào năm 1942. Nối theo sau đó, ở nhiều nước tư bản khác cũng tiếp thu và áp dụng loại thuế này vào đời sống xã hội của quốc gia: ở Nhật Bản năm 1877, ở Đức năm 1899, ở Mỹ năm 1903, ở Pháp năm 1916, ở Liên Xô năm 1922. Luận văn: Pháp luật về thuế thu nhập cá nhân của người lao động.
- Thuế Thu nhập cá nhân được áp dụng theo hai cách tính sau:
Cách tính theo từng hộ gia đình: được thực thi ở Pháp, Hà Lan. Với cách này, mang lại tính công bằng xã hội cao hơn nhưng rườm rà hơn bởi họ cần nhiều thời gian hơn để có thể dõi và cập nhật nguồn thu nhập của các thành viên trong gia đình.
Cách tính theo từng cá nhân: được thực thi rộng rãi ở Anh, Nhật Bản, Thụy Điển. Điểm mạnh của cách này là ít rườm rà hơn, dễ thực hiện, đảm bảo nguồn thu cho Ngân sách nhà nước. Tuy nhiên, điểm yếu là chưa thể đáp ứng tuyệt đối những yêu cầu về điều chỉnh lại nguồn thu của người dân qua thuế mà mang tới kết quả cao và đảm bảo sự ngang nhau ở các giai cấp trong tầng lớp, đặc biệt là các cá nhân có người phụ thuộc.
Pháp luật thuế Thu nhập cá nhân các nước thường đưa ra các vấn đề cơ bản như: Đối tượng nộp thuế; thu nhập tính thuế; nguồn thu không chịu thuế; cơ sở tính thuế; Thuế suất. Việc thu nộp thuế được tiến hành theo cách khấu trừ thuế tại nguồn phát sinh thu nhập. Theo cách này thì trước khi trả thu nhập cho người nhận, đối tượng chi trả thu nhập sẽ trích một phần tiền nhằm nộp vào Ngân sách nhà nước với mục đích là nộp thuế.
Pháp luật về thuế Thu nhập cá nhân là phần cốt lõi trong hệ thống pháp luật thuế của nhiều nước, điển hình là trong việc huy động nguồn thu Ngân sách nhà nước, điều chỉnh thu nhập, giảm sự phân biệt giai cấp trong xã hội. Dù vậy việc đặt ra mức thuế cao hay thấp, nhắm vào tổng thu nhập hay thu nhập từng phần khác của các chủ thể thường dựa vào quan điểm điều chỉnh thu nhập và yêu cầu đề ra trong chính sách kinh tế, xã hội của từng nước trong từng thời kỳ nhất định.
1.1.2. Quá trình hình thành và phát triển pháp luật thuế Thu nhập cá nhân ở Việt Nam
Trước năm 1975 ở miền Nam, chánh quyền Sài Gòn đã thi hành thuế Thu nhập cá nhân nhưng với tên gọi là thuế lợi tức lương bổng năm 1962 và sau đó được thay đổi vào năm 1972.
Đến ngày 27/12/1990, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã thông qua và công bố Pháp lệnh Thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao. Dựa vào thực tiễn của từng giai đoạn phát triển kinh tế – xã hội của đất nước, từ đó đến nay đã trải qua 05 lần chỉnh sửa, bổ sung quy định thuế thu nhập đối với đối tượng có thu nhập cao; Lần đầu vào ngày 10/03/1992, tiếp đến lần hai vào ngày 01/06/1994, lần thứ ba vào ngày 06/02/1997, lần thứ 4 vào ngày 30/06/1999 và lần thứ năm vào ngày 13/06/2001 (có hiệu lực từ ngày 01/07/2001). Nền kinh tế phát triển thì thu nhập của các tầng lớp dân cư cũng tăng lên thì sẽ xuất hiện khoảng cách chênh lệch càng lớn về thu nhập giữa nhóm người có thu nhập cao và nhóm người có thu nhập thấp. Từ đó việc áp dụng thuế Thu nhập cá nhân sẽ là cách tốt nhất góp phần đảm bảo tính hợp lý, công bằng, hiệu quả của hệ thống chính sách thuế và thu hẹp khoảng cách chênh lệch giàu nghèo giữa các tầng lớp tri thức, đồng thời từ đó Nhà nước sẽ xây dựng được kế hoạch quản lý phù hợp đối với thu nhập của cá nhân. Thông qua đó vừa thực hiện nguồn lực vừa góp phần chống tham nhũng, lãng phí.
Tuy nhiên, việc đánh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao trong quá trình áp dụng đã bộc lộ nhiều nhược điểm như: Phạm vi điều chỉnh tương đối hẹp do bỏ sót một số khoản thu nhập không thường xuyên, không đánh thuế đối với cá nhân kinh doanh; Chưa thật sự công bằng do không trừ đi các khoản chi phí cần thiết để duy trì cuộc sống; Biểu thuế lũy tiến từng phần có thuế suất tiến quá nhanh, lại không bình đẳng giữa công dân Việt Nam và người nước ngoài. Ngoài ra, thu nhập của cá nhân đồng thời được điều tiết bởi các văn bản như: Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao, Luật thuế Thu nhập doanh nghiệp và Luật thuế chuyển quyền sử dụng đất. Những nhược điểm nói trên cần được cải thiện khi ban hành Luật thuế Thu nhập cá nhân. Luận văn: Pháp luật về thuế thu nhập cá nhân của người lao động.
Trước bối cảnh kinh tế – xã hội đất nước và yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng, ngày 21/11/2007 Luật thuế Thu nhập cá nhân đã chính thức được ban hành, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2009 thay thế cho Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao.
Luật thuế Thu nhập cá nhân 2007 đã khắc phục được những nhược điểm của Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao. Từ khi thực hiện, Luật thuế Thu nhập cá nhân đã đạt được những thành tựu đáng kể như: cụ thể hóa được đối tượng nộp thuế, đối tượng chịu thế; Động viên hợp lý thu nhập của dân cư, góp phần đảm bảo công bằng xã hội, thống nhất các quy định về thuế áp dụng đối với cá nhân có thu nhập; Góp phần đảm bảo nguồn thu Ngân sách nhà nước; Từng bước hoàn thiện cơ chế kiểm soát thu nhập của người dân cả nước.
Tuy nhiên qua một thời gian thực hiện, với tình hình kinh tế – xã hội phát triển không ngừng, một số điều khoản của Luật thuế Thu nhập cá nhân đã không còn phù hợp. Chính vì vậy, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế Thu nhập cá nhân đã được ban hành vào ngày 21/12/2012, bắt đầu có hiệu lực thi hành từ 01/01/2014, trong đó một số điều khoản đã có hiệu lực từ 01/07/2013 được xây dựng, ban hành nhằm tập trung thay thế, bổ sung những nội dung bất cập so với thực tế, bảo đảm sự phù hợp và tính cân bằng của hệ thống pháp luật, việc sửa đổi đảm bảo áp dụng kịp thời các khoản thu không làm ảnh hưởng lớn đến số thu Ngân sách nhà nước. Việc sửa đổi, bổ sung Luật thuế Thu nhập cá nhân cũng góp phần tăng tính cạnh tranh so với các nước trong khu vực, các nước có điều kiện tương đồng với nước ta, phù hợp với xu thế cải cách thuế và thông lệ quốc tế.
Như vậy, mặc dù thuế Thu nhập cá nhân ở Việt Nam ra đời khá sớm nhưng pháp luật về thuế Thu nhập cá nhân vẫn còn chưa đồng bộ và hoàn thiện, dẫn đến nảy sinh nhiều điểm chưa hợp lý trong quá trình áp dụng.
1.2. Khái niệm, đặc điểm, vai trò của thuế thu nhập cá nhân với người lao động trong doanh nghiệp Luận văn: Pháp luật về thuế thu nhập cá nhân của người lao động.
1.2.1. Khái niệm thuế thu nhập cá nhân đối với người lao động
Lịch sử phát triển của xã hội loài người đã chứng minh rằng thuế ra đời là một điều kiện khách quan gắn liền với sự ra đời, tồn tại và phát triển của Nhà nước. Nhà nước là một bộ máy tổ chức chính trị, đại diện quyền lợi cho giai cấp thống trị, thi hành các chính sách do giai cấp thống trị đặt ra để cai trị xã hội. Để có nguồn lực vật chất bảo đảm cho sự tồn tại và thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của mình, Nhà nước phải dùng quyền lực vốn có để huy động một bộ phận của cải của xã hội. Việc huy động tập trung nguồn của cải xã hội vào trong tay Nhà nước có thể thực hiện bằng nhiều cách khác nhau: đóng góp bắt buộc, vận động dân đóng góp tự nguyện hoặc vay, trong đó, biện pháp huy động, tập trung của cải có tính bắt buộc đối với mọi thành viên trong xã hội được gọi là thuế.
Với phạm vi tác động rộng rãi lên hầu hết các lĩnh vực của đời sống xã hội, hệ thống thuế của các quốc gia được xây dựng linh hoạt với chức năng và đối tượng chịu tác động riêng biệt. Cách phân loại phổ biến nhất hiện nay đó là dựa trên căn cứ đối tượng bị đánh thuế hay đối tượng chịu thuế, theo đó các sắc thuế hiện nay được phân loại thành thuế thu nhập, thuế tiêu dùng và thuế tài sản.
Thuế thu nhập là tên gọi chỉ những sắc thuế mà nhà nước dùng để điều tiết một phần thu nhập của các tổ chức, cá nhân vào Ngân sách nhà nước với mục đích tạo nguồn thu cho Ngân sách nhà nước và thực hiện công bằng xã hội. Đối với người lao động trong doanh nghiệp, nguồn thu nhập chủ yếu của họ là từ tiền công và tiền lương. Do đó thuế thu nhập cá nhân đối với người lao động sẽ đánh trực tiếp chủ yếu vào thu nhập từ tiền lương, tiền công. Cũng chính vì nguồn thu của người lao động là tiền lương, tiền công nên Nhà nước nhận thấy rằng đây là nguồn trang trải gần như là duy nhất cho cuộc sống của họ. Từ đó dẫn đến việc ưu ái hơn cho các đối tượng người lao động bằng việc đánh thuế thu nhập theo từng tháng thay vì đánh thuế theo năm.
- Điều này giúp NLĐ dàn trải được khoản phí phải đóng trong năm, giảm bớt gánh nặng về thuế thu nhập cá nhân.
Trong hệ thống thuế ở các quốc gia, thuế thu nhập được coi là đóng vai trò quan trọng và được áp dụng phổ biến ở các nước có nền kinh tế thị trường phát triển. Do động viên trực tiếp vào thu nhập nên thuế thu nhập có các đặc điểm như: là thuế trực thu đánh vào thu nhập chịu thuế; có tính phức tạp và ổn định không cao; chịu sự điều chỉnh của luật quốc gia và luật quốc tế. Ở Việt Nam cũng như nhiều quốc gia, thuế thu nhập gồm hai loại đó là thuế Thu nhập doanh nghiệp và thuế Thu nhập cá nhân, mặc dù hai loại thuế này có thể ban hành trong cùng một văn bản luật hoặc ban hành riêng lẻ.
Thuế Thu nhập cá nhân đã được áp dụng từ lâu ở các quốc gia phát triển, đối tượng nộp thuế này là tất cả người dân không phân biệt quê quán có phát sinh nhu nhập bất kể nghề nghiệp và địa vị xã hội. Bất kỳ một quốc gia nào có nền kinh tế vận động phát triển mạnh mẽ đều coi thuế Thu nhập cá nhân là một thứ thuế có tầm trong việc huy động nguồn thu cho ngân sách và thực hiện công bằng xã hội. Sự ra đời của thuế Thu nhập cá nhân bắt nguồn từ các nguyên nhân sau:
Thứ nhất, xuất phát từ việc tái phân phối thu nhập nhằm đảm bảo sự công bằng giữa các tầng lớp lao động trong xã hội. Trong bối cảnh phát triển kinh tế thị trường, những cá nhân nào nắm giữ tư liệu sản xuất, tài sản, vốn… nhiều hơn sẽ có ưu thế chiếm phần thu nhập cao hơn. Từ sự phân phối mang tính phân cấp này sẽ là nguyên nhân dẫn đến sự phân hóa giàu nghèo trong xã hội. Hiển nhiên những người có thu nhập cao cũng nhờ vào xã hội mà họ mới có được, do đó thuế Thu nhập cá nhân là một trong những công cụ mà Nhà nước sử dụng để điều tiết lại thu nhập xã hội, bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ.
Thứ hai, sự ra đời của thuế Thu nhập cá nhân còn bắt nguồn từ nhu cầu tài chính của Nhà nước. Bất kỳ Nhà nước nào cũng cần có nguồn ngân sách để thỏa mãn nhu cầu chi trả, cùng với xu thế phát triển kinh tế – xã hội, khả năng mang lại thu nhập cho mỗi cá nhân ngày càng cao, Nhà nước tìm thấy khả năng huy động nguồn cung ứng ngân sách dồi dào cho mình thông qua thuế Thu nhập cá nhân. Luận văn: Pháp luật về thuế thu nhập cá nhân của người lao động.
Thứ ba, thuế Thu nhập cá nhân còn là phương thức hỗ trợ Nhà nước quản lý và kiểm soát các hoạt động kinh tế xã hội. Ở các quốc gia, Nhà nước đóng vai trò chủ chốt không thể thiếu trong quá trình điều chỉnh, tiết chế các cách thức hoạt động kinh tế, phát triển xã hội của cộng đồng và thuế Thu nhập cá nhân là công cụ thiết yếu góp phần thực hiện chức năng đó. Thu nhập của mỗi cá nhân, tổ chức hay một quốc gia là chỉ tiêu quyết định vấn đề tích lũy, đầu tư, tiết kiệm, tiêu dùng và vấn đề phân bổ nguồn lực trong xã hội. Thông qua việc đánh thuế vào thu nhập với những cách thực khác nhau, Nhà nước thực hiện vai trò điều tiết của mình.
Nhìn chung, việc phân định thuế Thu nhập cá nhân và thuế Thu nhập doanh nghiệp dựa trên cơ sở chủ thể đóng là cá nhân hay tổ chức có nguồn thu chịu thuế. Theo đó, thuế Thu nhập cá nhân là thứ thuế đánh trực tiếp vào thu nhập thực nhận của từng cá nhân trong một năm, hàng tháng hoặc từng lần. Dựa vào mức thu nhập hàng tháng và khả năng chi trả mà người lao động trong doanh nghiệp có thu nhập chủ yếu từ tiền lương, tiền công sẽ được yêu cầu đóng thuế theo từng tháng.
Như vậy, từ các phân tích trên, có thể hiểu Thuế Thu nhập cá nhân là sắc thuế mà Nhà nước sử dụng để điều tiết một phần thu nhập của các cá nhân vào Ngân sách nhà nước với mục đích tạo nguồn thu cho Ngân sách nhà nước và thực hiện công bằng xã hội.
Thuế Thu nhập cá nhân trên thế giới thường đánh vào các cá nhân có thu nhập không xác định là chủ thể này có kinh doanh hay không. Đây được xem là loại thuế đặc biệt vì còn có khoản xem xét giảm trừ chi phí theo hoàn cảnh của các cá nhân có thu nhập phải nộp thuế thông qua việc xác định miễn, giảm thuế hoặc khoản miễn trừ đặc biệt. Người lao động cũng là một chủ thể đặc biệt vì họ được xét các khoản giảm trừ gia cảnh.
Một điểm đặc biệt nữa thuế Thu nhập cá nhân đó là hầu hết các quốc gia trên thế giới hiện nay khi áp dụng thuế Thu nhập cá nhân đều thực hiện trên cơ sở kết hợp hai quyền thu thuế của Nhà nước, đó là thu thuế theo yếu tố lãnh thổ và thu thuế theo yếu tố quốc tịch. Theo đó, những cá nhân là đối tượng nộp thuế Thu nhập cá nhân không chỉ là chủ thể có quốc tịch của Nhà nước thu thuế mà còn bao gồm cả người nước ngoài, người không có quốc tịch có khoản thu chịu thuế phát sinh trong lãnh thổ quốc gia thu thuế. Đặc điểm này đã phát sinh tình trạng đánh thuế hai lần thường gặp khi thực hiện nghĩa vụ thuế thu nhập nói chung và thuế Thu nhập cá nhân nói riêng. Đánh thuế trùng ở thuế Thu nhập cá nhân xảy ra khi một cá nhân với một khoản thu nhập chịu thuế có thể vừa phải đóng thuế Thu nhập cá nhân cho quốc gia mà cá nhân đó mang quốc tịch, vừa phải nộp thuế Thu nhập cá nhân cho quốc gia mà thu nhập đó phát sinh. Để hạn chế tình trạng này, các quốc gia trên thế giới thường lựa chọn giải pháp ký kết các Hiệp định tránh đánh thuế hai lần hoặc quy định khấu trừ nghĩa vụ thuế đã thực hiện ở quốc gia khác trong Luật thuế Thu nhập cá nhân.
1.2.2. Đặc điểm thuế thu nhập cá nhân với người lao động Luận văn: Pháp luật về thuế thu nhập cá nhân của người lao động.
Thuế Thu nhập cá nhân là loại thuế đánh trực tiếp vào lượng tiền thu được (dưới cả hình thái tiền tệ và hiện vật) trong một khoảng thời gian nào đó của một cá nhân. Bởi vì được thu trực tiếp nên nó thể hiện tính tương đồng giữa Người nộp thuế theo luật và chủ thể chịu thuế theo ý nghĩa kinh tế. Người nộp thuế không thể ủy quyền, bàn giao trách nhiệm nộp thuế cho chủ thể nào khác. Việc đánh thuế này tạo cảm giác nặng nề khiến cho một bộ phận không nhỏ người dân nhạy cảm, có phản ứng tiêu cực đối với trách nhiệm nộp khoản thu này.
Thuế Thu nhập cá nhân được thu trên diện rộng. Đối tượng chịu thuế của thuế Thu nhập cá nhân là gần như toàn bộ các khoản thu trong tổng thu nhập của cá nhân mà không phân biệt nguồn gốc phát sinh, bao gồm: Thu nhập từ lương thưởng, tiền công; thu nhập từ lợi nhuận kinh doanh; từ đầu tư gián tiếp như cho vay, tham gia mua cổ phần, góp vốn liên doanh; thu nhập từ chuyển nhượng vốn; thu nhập về trúng thưởng, từ tiền bản quyền, thu nhập từ quà biếu, quà tặng, thừa kế, thu nhập khác… Trong các đối tượng trên thì tiền lương và tiền công sẽ là khoản thu nhập mà người lao động sẽ chịu thuế. Thuế này được áp dụng với người dân bất kể là người Việt Nam, người nước ngoài cư trú thường xuyên hay không thường xuyên mà có thu nhập, không phân biệt nguồn gốc phát sinh.
Thời gian tính thuế Thu nhập cá nhân thường là một năm dương lịch đối với thu nhập thường xuyên hoặc từng lần phát sinh đối với thu nhập không thường xuyên. Để có số thu vào Ngân sách nhà nước kịp thời, tùy từng nước quy định chế độ tạm thu hàng tháng, quý, hoặc 6 tháng một lần đối với thu nhập thường xuyên. Tại Việt Nam, đối với người lao động thu nhập chủ yếu được xác định là thu nhập từ tiền lương và tiền công nên theo quy định tại Điều 28 Nghị định 65/2013/NĐ-CP người lao động sẽ được tổ chức, doanh nghiệp trả thu nhập tạm tính trừ số thuế phải nộp vào thu nhập của họ hàng tháng.
Thông thường thuế Thu nhập cá nhân được tính theo biểu thuế suất lũy tiến từng phần. Đặc trưng này xuất phát từ vai trò chủ yếu của thuế Thu nhập cá nhân là xóa bỏ chênh lệch thu nhập, khoảng cách giàu nghèo, điều tiết các phân nhóm thu nhập từ cao, trung bình, thấp, góp phần thực hiện công bằng xã hội. Vì vậy, chỉ có biểu thuế lũy tiến từng phần mới đáp ứng được mục tiêu đó. Luận văn: Pháp luật về thuế thu nhập cá nhân của người lao động.
Điểm đặc biệt mà chỉ có thuế Thu nhập cá nhân mới có đó là tính đến khả năng nộp thuế của đối tượng nộp thuế bằng việc quy định một số khoản được khấu trừ có tính chất xã hội trước khi tính số thuế phải nộp. Các khoản này bao gồm: Thu nhập không chịu thuế, thu nhập miễn thuế, các khoản giảm trừ gia cảnh. Đặc điểm này xuất phát từ mục tiêu công bằng xã hội của thuế này, do đó, thuế Thu nhập cá nhân luôn gắn với chính sách xã hội của mỗi quốc gia, sự khác nhau chỉ ở chỗ mức độ đưa ra nhiều hay ít các chính sách xã hội khác vào chính sách thuế.
1.2.3. Vai trò của thuế thu nhập cá nhân
- Thuế thu nhập cá nhân là nguồn thu cho ngân sách nhà nước
Đây là nguồn thu quan trọng cho Ngân sách nhà nước, đảm bảo chi tiêu của bộ máy hành chính. Dựa trên tình hình phát triển của mỗi nước và tùy theo quan điểm thiên về đánh thuế trực thu hay gián thu mà tỉ trọng của thuế Thu nhập cá nhân ở mỗi nước cao thấp không giống nhau. Nhưng nhìn chung, thuế Thu nhập cá nhân ở các nước có nền kinh tế phát triển thường có tỉ trọng lớn và là khoản thu đáng kể của Ngân sách nhà nước.
- Thuế thu nhập cá nhân là công cụ quản lý và điều tiết vĩ mô nền kinh tế
Vai trò này được thể hiện ở chỗ thông qua việc tăng cường điều tiết hay giảm bớt điều tiết thu nhập của các tầng lớp dân cư, làm cho cung cầu xã hội giảm hoặc tăng, từ đó có tác dụng thu hẹp hay kích thích nền kinh tế. Thông qua cơ chế điều tiết trực tiếp thu nhập của cá nhân mà Nhà nước có thể chủ động điều chỉnh nền kinh tế. Khi nền kinh tế tăng trưởng quá nóng, có thể gây lạm phát cao, khó làm chủ được, Nhà nước có thể tăng thêm gánh nặng thuế khóa trực tiếp lên người dân, như việc tăng thuế suất, đồng nghĩa với việc thu nhập thực tế của người dân giảm, dẫn tới giảm sức mua của dân cư, thu hẹp sản xuất. Ngược lại, khi kinh tế suy thoái, Nhà nước có thể hạ thấp thuế, kích thích tăng sức mua của dân cư, kích thích phục hồi kinh tế.
Áp dụng lý thuyết căn bản của Keynes về tính hữu dụng giảm dần của thu nhập, thuyết này cho rằng mức thu nhập tỷ lệ nghịch với tính hữu dụng của nó. Do vậy, để tăng phúc lợi xã hội cần điều tiết bớt thu nhập của phân nhóm đối tượng có thu nhập cao và phân phối lại cho nhóm đối tượng có thu nhập thấp hơn. Từ phân tích trên nhận ra rằng, sử dụng thuế Thu nhập cá nhân Nhà nước đã phân bổ quan hệ giữa tích lũy và tiêu dùng một cách phù hợp nhất với chủ trương phát triển kinh tế của quốc gia. Tuy nhiên, mức độ ảnh hưởng của thuế Thu nhập cá nhân còn phụ thuộc độ co giãn của thu nhập đối với sự thay đổi của thuế suất. Nếu độ co giãn là nhạy cảm thì chỉ cần thay đổi thuế suất một tỉ lệ nhỏ cũng có thể làm thay đổi trọng cầu một lượng đáng kể, và ngược lại. Vì vậy, ở mỗi giai đoạn phát triển kinh tế khác nhau, tùy theo yêu cầu điều tiết vi mô hay vĩ mô của nền kinh tế mà chính sách thuế Thu nhập cá nhân ở mỗi nước được điều chỉnh một cách phù hợp.
- Thuế thu nhập cá nhân là công cụ điều tiết công bằng xã hội Luận văn: Pháp luật về thuế thu nhập cá nhân của người lao động.
Thuế Thu nhập cá nhân là công cụ thuế trực thu hữu hiệu để điều hành, phân phối lại thu nhập xã hội, thực hiện công bằng xã hội trong phân phối. Trong nền kinh tế thị trường, quá trình phân phối thu nhập luôn luôn không bình đẳng, người giàu thì giàu thêm, người nghèo lại càng nghèo, hình thành nên hai thái cực ngày càng xa, tạo ra sự đối lập giữa các tầng lớp dân cư, xã hội không ổn định. Mặt khác, thành quả phát triển kinh tế xã hội là sự cố gắng của cả cộng đồng, do đó Nhà nước hiện đại trong nền kinh tế thị trường với chức năng can thiệp, điều chỉnh kinh tế, thiết lập khuôn khổ pháp luật, buộc phải sử dụng thuế Thu nhập cá nhân với biểu thuế lũy tiến từng phần để lập lại trật tự trong phân phối thu nhập xã hội, ổn định kinh tế và xã hội. Thông qua thuế thu nhập thì người nhận thu nhập càng cao càng phải đóng thuế nhiều cả về số tuyệt đối và tỷ lệ thuế, người có thu nhập thấp sẽ đóng ít hơn hoặc không phải đóng thuế. Với hình thức thuế trực thu và biểu suất lũy tiến từng phần, thuế Thu nhập cá nhân sẽ đảm bảo về việc đánh trực tiếp vào thu nhập của người nộp thuế, theo khả năng đóng thuế của họ. Như vậy, đây là loại thuế đảm bảo sự công bằng theo chiều dọc, kết hợp với tác dụng thực hiện công bằng theo chiều ngang của các loại thuế gián thu khác (tức là tất cả mọi người đều phải nộp thuế như nhau, không phân biệt khả năng của họ) sự công bằng trong chính sách thuế khóa sẽ được thiết lập. Tác dụng điều chỉnh, phân phối thu nhập của thuế được thể hiện với phạm vi rộng lớn ở cả hai mặt: Thu và chi. Ở đây, nhà nước đóng vai trò trung tâm phân phối thu nhập của những người có thu nhập cao nhằm một mặt huy động thu nhập của nhóm người này, để chi cho các chương trình phúc lợi công cộng, phục vụ trở lại xã hội, mặt khác chuyển bớt một phần thu nhập của các tầng lớp giàu có sang các tầng lớp nghèo, mức sống thấp. Cụ thể là việc tăng thuế thu nhập sẽ tạo cho ngân sách một nguồn thu quan trọng để phân phối cho các nhu cầu chi tiêu mang tính chất xã hội cho trẻ em mồ côi, người già không nơi nương tựa, người tàn tật, gia đình có đời sống khó khăn,…
- Thuế thu nhập cá nhân là công cụ để Nhà nước thực hiện việc kiểm soát, thống kê thu nhập của các tầng lớp dân cư
Trong nền kinh tế thị trường, việc phân phối, tái phân phối chủ yếu được áp dụng thông qua thị trường dưới hình thái tiền tệ. Đó là tiền đề để Nhà nước nắm được tương đối chính xác thu nhập của các cá nhân thông qua cơ chế quản lý quỹ tiền lương và những quy định báo cáo bắt buộc khác như báo cáo kế toán, quyết toán kinh doanh, kê khai tình hình trả lãi cổ phần, lợi tức … Tuy nhiên, như vậy mới chỉ nắm được thu nhập về lương và một số khoản lợi tức khác từ lãi cổ phần, lãi tiết kiệm,… Còn lại, toàn bộ thu nhập từ các nguồn khác như từ những người làm nghe tự do, từ những hoạt động dịch vụ phục vụ đời sống hàng ngày thì không có cách gì để kiểm soát và thống kê được thu nhập của họ ngoài phiếu khai thuế thu nhập hàng năm. Tuy nội dung kê khai có thể chưa chuẩn xác nhưng đây là công cụ, căn cứ duy nhất, toàn diện nhất, đầy đủ nhất giúp cho việc thống kê thu nhập của các tầng lớp dân cư, để phục vụ các dự án, mục đích nghiên cứu khác… Và chỉ khi có tờ khai thuế Thu nhập cá nhân, cơ quan thuế mới dựa vào đó để kiểm tra, đánh giá mức độ kê khai và yêu cầu cho đối tượng nộp thuế kê khai bổ sung khi phát hiện việc kê khai chưa rõ ràng, chưa đầy đủ.
1.3. Các quy định về thuế thu nhập cá nhân đối với người lao động trong doanh nghiệp Luận văn: Pháp luật về thuế thu nhập cá nhân của người lao động.
1.3.1. Người lao động trong thuế thu nhập cá nhân
Người lao động trong doanh nghiệp được hiểu là những người có độ tuổi mà Luật lao động quy định và cho phép người đó được làm việc trong khoản thời gian nhất định. Người lao động dùng khả năng của mình để tạo ra các sản phẩm là hàng hóa hay cung cấp dịch vụ nào đó với mục đích chính là tạo ra thu nhập cho bản thân và gia đình.
Các yếu tố như độ tuổi, thời gian lao động, sản phẩm của lao động và mục đích là những yếu tố cần và đủ để xác định một cá nhân là người lao động. Trong môi trường doanh nghiệp người lao động có thể là nhân viên, học việc, tập sự,…Các đối tượng trong doanh nghiệp này chịu tác động của thuế thu nhập cá nhân dựa theo mức thu nhập từ tiền lương, tiền công,…
Theo Luật thuế Thu nhập cá nhân những khoản thu nhập thuộc tiền lương, tiền công được nêu cụ thể tại khoản 2 Điều 3 Luật thuế Thu nhập cá nhân 2007. Tuy nhiên có một thay đổi bổ sung năm 2012 so với 2007 ở điểm b cụ thể nếu trước đây quy định thu nhập tiền lương và tiền công có bao gồm các khoản trợ cấp khác do Bảo hiểm xã hội chi trả, trợ cấp giải quyết tệ nạn xã hội thì được bổ sung sửa đổi thành trợ cấp mang tính chất bảo trợ xã hội và các khoản phụ cấp, trợ cấp khác không mang tính chất tiền lương, tiền công theo quy định của Chính phủ. Điều này cho thấy các khoản trợ cấp được thay đổi mở rộng hơn so với trước nhằm linh động hơn trong việc xét các khoản trợ cấp không chỉ còn giới hạn ở Bảo hiểm hiểm xã hội hay trợ cấp giải quyết tệ nạn xã hội.
Ngoài ra người lao động trong thuế Thu nhập cá nhân còn được chia thành hai nhóm đối tượng là : cá nhân có cư trú và cá nhân không cư trú. Các đối tượng này được xác định dựa trên nơi cư trú trong và ngoài lãnh thổ Việt Nam và thời gian cư trú.
Luật thuế Thu nhập cá nhân năm 2007 quy định về cá nhân cư trú và không cư trú phải đáp ứng một trong các điều kiện: “a) Có mặt tại Việt Nam từ 183 ngày trở lên tính trong một năm dương lịch hoặc tính theo 12 tháng liên tục kể từ ngày đầu tiên có mặt tại Việt Nam; b) Có nơi ở thường xuyên tại Việt Nam, bao gồm có nơi ở đăng ký thường trú hoặc có nhà thuê để ở tại Việt Nam theo hợp đồng thuế có thời hạn; và Khoản 3: Cá nhân không cư trú nhà người không đáp ứng điều kiện … tại khoản 2 Điều này”1. Cá nhân cư trú phải nộp thuế Thu nhập cá nhân đối với tất cả các khoản thu nhập chịu thuế phát sinh không phân biệt trong hay ngoài lãnh thổ Việt Nam. Cá nhân không cư trú là người không đủ điều kiện của cá nhân cư trú nêu trên, họ chỉ phải nộp thuế Thu nhập cá nhân đối với khoản thu nhập chịu thuế phát sinh trong lãnh thổ Việt Nam. Nghị định số 100/2008/NĐ-CP ngày 08/09/2008 của Chính Phủ quy định chi tiết một số điều của Luật thuế thu nhập cá nhân đã nêu chi tiết các trường hợp đối tượng được xem là có nơi thường trú tại Việt Nam để xác định là cá nhân cư trú như sau: Có nơi ở thường trú tại Việt Nam là nơi ở được đăng ký thường trú, nhà ở theo pháp luật về cư trú hoặc nhà thuê theo pháp luật về nhà ở mà thời hạn thuê từ 90 trở lên trong năm tính thuế. Luận văn: Pháp luật về thuế thu nhập cá nhân của người lao động.
Qua thực tế thực hiện cho thấy nội dung quy định nêu trên tuy dựa trên quy định của Luật Nhà ở, Luật cư trú nhưng lại phát sinh bất cập trong nghĩa vụ thuế Thu nhập cá nhân đối với một số trường hợp như: Người Việt Nam đăng ký hộ khẩu thường trú tại Việt Nam khi đi công tác, học tập, lao động ở nước ngoài vượt quá 183 ngày hay người nước ngoài đến Việt Nam cư trú làm việc. có hợp đồng thuê nhà từ 90
ngày nhưng không quá 183 ngày đều là đối tượng cư trú của nước họ có quốc tịch và là đối tượng nộp thuế Thu nhập cá nhân tại Việt Nam trên thu nhập toàn cầu. Với quy định nêu trên đã làm tăng thêm thủ tục hành chính, gây phiền phức cho người nộp thuế và khó khăn trong quản lý thu thuế, chưa thật sự phù hợp với thông lệ quốc tế. Do vậy để cam kết quốc tế được thực hiện nghiêm túc, phù hợp với thông lệ quốc tế, giảm bớt các thủ tục hành chính thật sự không cần thiết đối với các chủ thể có mặt tại Việt Nam dưới 183 ngày, Nghị định số 65/2013/NĐ-CP ngày 27/06/2013 của Chính Phủ quy định chi tiết một số điều Luật thuế Thu nhập cá nhân, Luật sửa đổi, bổ sung Luật thuế thu nhập cá nhân đã sửa đổi tiêu chí về thời gian của cá nhân từ 90 ngày hiện hành lên thành 183 ngày, đồng thời quy định rõ trường hợp cá nhân có mặt tại Việt Nam dưới 183 ngày trong năm tính thuế mà không chứng minh được là đối tượng cư trú của quốc gia khác thì cá nhân đó mới là đối tượng cư trú tại Việt Nam và phải chịu thuế.
Trường hợp NLĐ làm trong các Công ty, theo quy định tại Nghị định số 65/2013/NĐ-CP ngày 27 tháng 6 năm 2013 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung và các văn bản hướng dẫn bổ sung cụ thể: Cá nhân ký hợp đồng làm việc với Ban quản lý Khu kinh tế, cơ quan quản lý Nhà nước tại Khu kinh tế và thực tế làm việc tại Khu kinh tế; cá nhân ký hợp đồng làm việc với tổ chức, cá nhân có trụ sở khinh doanh tại Khu kinh tế và thực tế làm việc tại Khu kinh tế; cá nhân ký hợp đồng làm việc với tổ chức, cá nhân ngoài Khu kinh tế, nhưng được cử đến làm việc tại Khu kinh tế để thực hiện các công việc do tổ chức, cá nhân ngoài Khu kinh tế ký kết với Ban quản lý khu kinh tế, cơ quan quản lý Nhà nước tại Khu kinh tế hoặc với tổ chức, cá nhân có hoạt động đầu tư và sản xuất kinh doanh tại Khu kinh tế; cá nhân, có trụ sở kinh doanh cố định tại Khu kinh tế, thực hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh theo giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh tại Khu kinh tế; cá nhân ký hợp đồng làm việc với tổ chức tại Khu kinh tế và thực tế làm việc tại Khu xử lý chất thải độc hại của Khu kinh tế mà theo quy định của Nhà nước về môi trường và quy hoạch Khu kinh tế được phê duyệt thì Khu xử lý chất thải độc hại này phải đặt ngoài Khu kinh tế. Những cá nhân trên sẽ được giảm 50% số thuế thu nhập cá nhân phải nộp trong năm đó. Ngoài ra việc sửa đổi, bổ sung các nội dung này đã khắc phục được những bất cập của quy định về thuế Thu nhập cá nhân hiện nay. Như vậy, đối tượng nộp thuế Thu nhập cá nhân quy định tại Luật thuế Thu nhập cá nhân năm 2007 sửa đổi, bổ sung năm 2012 có kế thừa Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao năm 1994, trong điều kiện kinh tế – xã hội của Việt Nam đã có những thay đổi và điều chỉnh phù hợp với thông lệ quốc tế.
1.3.2. Thuế suất thuế thu nhập cá nhân với người lao động trong doanh nghiệp Luận văn: Pháp luật về thuế thu nhập cá nhân của người lao động.
Theo quy định từ năm 2009 cho đến nay: Biểu thuế luỹ tiến đối với thu nhập quy định tính thuế từ hoạt động thương mại, tiền lương, tiền công có tổng cộng 07 bậc, với các mức phân cách nhau 5% từ 5%, 10%, 15%, 20%, 25%, 30% và 35%;
Để tính thuế suất người lao động tính thuế áp dụng bảng biểu thuế lũy tiến từng phần được quy định tại Điều 22, Luật Thuế Thu nhập cá nhân năm 2007 theo bảng sau:
- Bảng 1.1: Biểu thuế luỹ tiến từng phần
“Hầu hết tất cả các quốc gia đều áp dụng nguyên tắc những cá nhân có mức thu nhập tiền lương, tiền công cao hơn thì bị đánh thuế cao hơn, với khung thuế suất thuế Thu nhập cá nhân lũy tiến, như: Tại Myanmar có mức giao động từ 1% đến 25%; tại Singapore từ 0% đến 22%; tại Philippin từ 5% đến 32%; tại Malaysia từ 1% đến 28%; tại Hàn Quốc từ 6% đến 40% và tại Mỹ từ 10% (thu nhập dưới 9.325 USD) đến 39,6% (thu nhập từ 418.400 USD trở lên)…”
Mục tiêu chung của việc đưa ra chính sách về thuế Thu nhập cá nhân là để đảm bảo nguồn thu của Ngân sách nhà nước song còn thực hiện tái phân phối thu nhập, hạn chế tối đa các hành vi gian lận, trốn tránh thuế. Từ đó phần nào khuyến khích người dân gia tăng thu nhập, thúc đẩy tiêu thụ hàng hóa, đẩy mạnh tiêu dùng, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
1.3.3. Giảm trừ gia cảnh thuế thu nhập cá nhân ở người lao động
Từ năm 2007 cho đến nay, quy định mức chiết trừ gia cảnh có những thay đổi và điều chỉnh từng giai đoạn khác nhau trên cở sở tổng kết, tiếp thu ý kiến đóng góp của các bên liên quan và tham khảo kinh nghiệm quốc tế: từ mức người nộp thuế được giảm trừ 4.000.000vnđ/tháng, người phụ thuộc là 1.600.000vnđ/1 người/tháng, đến năm 2012 được sửa đổi, bổ sung mức giảm trừ cho bản thân người nộp thuế là 9.000.000vnđ/tháng và mức giảm trừ cho mỗi người phụ thuộc là 3.600.000vnđ/tháng kể từ tháng hình thành nghĩa vụ nuôi dưỡng. Đến năm 2020, theo nghị quyết 954/2020/UBTVQH14 quy định mức giảm trừ đối với người nộp thuế là 11.000.000vnđ/ tháng và người phụ thuộc là 4.400.000vnđ/tháng. Do vậy khi người lao động tính thuế Thu nhập cá nhân, lấy thu nhập chịu thuế của Người nộp thuế trừ đi các khoản chi phí liên quan đến việc tạo ra thu nhập của cá nhân và các khoản giảm trừ để xác định thu nhập tính thuế. Các khoản giảm trừ gồm giảm trừ gia cảnh và giảm trừ cho các khoản từ thiện…. Luận văn: Pháp luật về thuế thu nhập cá nhân của người lao động.
Về giảm trừ gia cảnh: Bao gồm giảm cho người nộp thuế và người phụ thuộc của người nộp thuế. Việc xác định mức giảm trừ được áp dụng theo nguyên tắc 01 người phụ thuộc/NNT/năm và người phụ thuộc phải là người mà Người nộp thuế có trách nhiệm nuôi dưỡng. Đồng thời người phụ thuộc đã đăng ký và cung cấp đầy đủ chứng từ theo yêu cầu của cơ quan thuế quản lý trực tiếp để được giảm trừ. Đến khi ban hành Nghị định 65/2013/NĐ-CP đã mở rộng hơn những đối tượng được xác định là người phụ thuộc của Người nộp thuế, cụ thể: con nuôi theo quy định pháp luật, con riêng của vợ hoặc chồng, cha dượng, mẹ kế, cha mẹ nuôi hợp pháp của Người nộp thuế. Mức thu nhập làm cơ sở xác định người phụ thuộc được điều chỉnh tăng lên so với trước đây, đó là mức thu nhập bình quân tháng trong năm từ tất cả các nguồn thu nhập không vượt quá 1.000.000 đồng.
Giảm trừ với các khoản từ thiện quyên góp vào các tổ chức, cơ sở, các quỹ được quyền thành lập hoặc công nhận, hoạt động vì mục đích từ thiện, nhân đạo, khuyến học, không nhằm mục đích sinh lời.
Có thể thấy, các quy định có nhiều thay đổi so với trước đây, đã có sự điều chỉnh khi nền kinh tế Việt Nam có những thay đổi và chú ý đến giá cả, thu nhập của từng đối tượng chịu thuế Thu nhập cá nhân. Luật thuế Thu nhập cá nhân đã thay đổi quy định giảm trừ gia cảnh trước khi tính thuế đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú tại Việt Nam. Như vậy, người có thu nhập thấp hơn mức giảm trừ gia cảnh theo quy định thì chưa phải đóng thuế thu nhập. Người có thu nhập cao hơn mức giảm trừ gia cảnh phải nộp thuế theo biểu thuế luỹ tiến. Quy định trên cho thấy sự công bằng và khả năng nộp thuế của người nộp thuế. Quy định thể hiện sự quan tâm đến nhu cầu sinh hoạt cơ bản của Người nộp thuế và tính thuế theo khả năng. phù hợp với chính sách điều tiết xã hội.
Tuy nhiên, hiện nay quy định mức giảm trừ gia cảnh bằng số tuyệt đối cụ thể, trong khi tiền lương được điều chỉnh theo lộ trình và giá cả thường biến động nhanh theo thị trường là không phù hợp với xu hướng tăng chi phí sinh hoạt, việc thay đổi, điều chỉnh pháp luật chậm, cho thấy sự bất cập, nên sớm thay đổi bổ sung quy định nêu trên.
1.3.4. Khấu trừ thuế và hoàn thuế đối với người lao động trong doanh nghiệp
- Khấu trừ thuế Luận văn: Pháp luật về thuế thu nhập cá nhân của người lao động.
Khấu trừ thuế là việc tổ chức, cá nhân thực hiện tính trừ số thuế phải nộp vào thu nhập của Người nộp thuế trước khi trả thu nhập. Tùy theo từng trường hợp và chủ thể khác nhau việc khấu trừ thuế được áp dụng cũng khác nhau.
Đối với các cá nhân không cư trú thì đơn vị trả các khoản thu nhập chịu thuế có trách nhiệm khấu trừ thuế thu nhập cá nhân trước khi trả thu nhập. Đối với tiền lương, tiền công: Cá nhân cư trú có hợp đồng lao động từ ba (03) tháng trở lên thì người sử dụng lao động trả thu nhập thực hiện khấu trừ thuế theo quy tắc lũy tiến , kể cả trường hợp cá nhân ký hợp đồng từ ba (03) tháng trở lên tại nhiều doanh nghiệp khác nhau; đối với người nước ngoài làm việc tại Việt Nam thì đơn vị căn cứ vào thời gian làm việc của người nước ngoài tại Việt Nam ghi trên Hợp đồng hoặc văn bản khác quy định để tạm khấu trừ thuế theo Biểu lũy tiến (đối với người nước ngoài là việc từ 183 ngày trong năm tính thuế) hoặc theo Biểu thuế toàn phần (đối với người nước ngoài làm việc tại Việt Nam dưới 183 ngày).
Khấu trừ thuế trong vài trường hợp như: Tổ chức, cá nhân trả thù lao, tiền chi khác cho cá nhân cư trú không ký hợp đồng lao động phải tuân thủ khấu trừ thuế theo mức 10%. Trường hợp cá nhân chỉ có duy nhất thu nhập thuộc đối tượng phải khấu trừ thuế theo tỷ lệ nêu trên nhưng ước tính tổng mức thu nhập chịu thuế của cá nhân sau khi trừ gia cảnh chưa đến mức phải nộp thuế thì cá nhân có thu nhập làm cam kết gửi tổ chức trả thu nhập để tổ chức trả thu nhập làm căn cứ tạm thời chưa khấu trừ thuế thu nhập cá nhân. Khi đã khấu trừ thuế thì tổ chức, cá nhân phải cung cấp được tài liệu đã trích thuế cho cá nhân bị trích theo yêu cầu, trường hợp cá nhân ủy quyền quyết toán thuế thì không cần cung cấp.
Đơn vị trả tiền công, tiền thù lao, tiền chi khác cho cá nhân cư trú không ký hợp đồng lao động hoặc ký hợp đồng lao động dưới ba (03) tháng có tổng mức trả thu nhập từ 2.000.000vnđ/lần trở lên thì phải khấu trừ thuế theo mức 10%. NLĐ vãng lai do chưa nắm rõ về việc thu nhập của bản thân có nằm trong phạm vi chịu thuế hay không, nhưng cứ với mỗi thu nhập 2 triệu đồng đều bị tạm trừ 10%. Cuối năm, nếu chưa đến ngưỡng phải nộp thuế, Người nộp thuế sẽ làm hồ sơ hoàn thuế để nhận lại tiền.
Một điều không hợp lý theo luật thuế Thu nhập cá nhân là: khi phải nuôi người thân, người nộp thuế được giảm trừ một khoản tương ứng với 3,6 triệu đồng/người/tháng, nhưng người nộp thuế trong trường hợp này không được tính phần này mà vẫn bị trừ 10% trong mỗi lần nhận thu nhập trên 2 triệu đồng.
- Quy định về hoàn thuế
Việc hoàn thuế thu nhập cá nhân áp dụng đối với những cá nhân đã đăng ký và có mã số thuế tại thời điểm nộp hồ sơ quyết toán thuế. Trong trường hợp cá nhân đã ủy quyền quyết toán thuế cho đơn vị, cá nhân trả thu nhập thực hiện quyết toán thay thì việc hoàn thuế của cá nhân được thực hiện thông qua tổ chức, cá nhân trả thu nhập. Đơn vị trả thu nhập thực hiện bù trừ số thuế nộp thừa, hay nộp thiếu của các cá nhân đã nộp thuế. Sau khi bù trừ, nếu còn số thuế nộp thừa thì cá nhân nộp thuế sẽ được tính toán để bù vào hoặc trừ đi ở kỳ sau và cũng có thể được hoàn thuế nếu có đề nghị hoàn trả. Trường hợp cá nhân thuộc diện khai trực tiếp với cơ quan thuế có thể lựa chọn hoàn thuế hoặc bù trừ vào kỳ sau tại cùng cơ quan thuế, các quy định của pháp luật hiện nay đã và đang tạo điều kiện thuận lợi cho người nộp thuế uỷ quyền cho đơn vị nộp thuế quyết toán và hoàn thuế để tạo thuận lợi cho cả hai bên. Luận văn: Pháp luật về thuế thu nhập cá nhân của người lao động.
Tuy nhiên hiện nay, còn tồn tại một số bất cập trong công tác quyết toán và hoàn thuế. Người được hoàn thuế bị phụ thuộc vào đơn vị làm thủ tục hoàn thuế, có nhiều trường hợp việc hoàn thuế diễn ra rất chậm, do vậy cần áp dụng công nghệ trong kê khai nộp thuế thu nhập, quyết toán và hoàn thuế sẽ thuận lợi hơn cho người nộp thuế.
1.3.5. Tính thuế thu nhập cá nhân cho người lao động trong doanh nghiệp
Ở nước ta hiện nay, cứ mỗi năm người lao động có khoản thu nhập từ tiền lương và tiền công trong ngưỡng phải nộp thuế Thu nhập cá nhân sẽ phải thao tác quyết toán thuế Thu nhập cá nhân cho cơ quan Thuế theo luật định. Theo những quy phạm đã đề cập ở các phần trên về thuế Thu nhập cá nhân cả người lao động thì Thuế thu nhập cá nhân từ tiền lương, tiền công được chia thành 02 đối tượng là cá nhân cư trú và không cư trú.
Đới với cá nhân cư trú thì căn cứ theo 2 trường cụ thể là có hợp đồng lao động trên 03 tháng và dưới 03 tháng hoặc không có hợp đồng lao động. Và đặc biệt chỉ áp dụng giảm trừ gia cảnh đối với cá nhân có cư trú.
Cách tính thuế Thu nhập cá nhân của người lao động như sau:
- Đối với người lao động cư trú có hợp đồng lao động từ 03 tháng trở lên có nguồn thu nhập từ tiền lương, tiền công.
Các công thức áp dụng tính thuế thu nhập cá nhân như sau:
Trong đó: Thu nhập tính thuế của người lao động = Thu nhập phải chịu thuế -các khoản giảm trừ.
Và thu nhập phải chịu thuế = Tổng tiền lương người lao động nhận được – Các khoản được miễn thuế.
Thuế suất được căn cứ theo như Bảng 1.2 Biểu thuế luỹ tiến từng phần Các khoản thu nhập được miễn thuế (nếu có) từ tiền lương tiền công gồm: Luận văn: Pháp luật về thuế thu nhập cá nhân của người lao động.
- Khoản tiền lương người lao động làm thêm giờ, làm việc ban đêm được trả cao hơn so với tiền lương làm việc trong thời gian hành chính.
- Thu nhập của người lao động thuyền viên là người Việt Nam làm việc cho hãng tàu Việt Nam vận tải quốc tế hoặc hãng tàu của nước ngoài.
Các khoản giảm trừ bao gồm:
- Giảm trừ gia cảnh đối với bản thân người lao động nộp thuế là 132 triệu đồng/năm tương đương 11 triệu/ tháng và đối với mỗi người phụ thuộc là 4,4 triệu đồng/tháng.
- Giảm trừ các khoản đóng bảo hiểm, đóng góp từ thiện, khuyến học, nhân đạo và quỹ hưu trí tự nguyện.
Như vậy khi đã biết được thu nhập tính thuế và thuế suất sẽ có 2 cách tính thuế Thu nhập cá nhân người lao động cần nộp như sau:
Phương pháp lũy tiến bằng cách tính số thuế phải đóng theo từng bậc thuế, sau đó nhân với thuế suất tương ứng của bậc thu nhập đó.
Hay thuận tiện hơn là áp dụng phương pháp rút gọn bằng cách tính theo mức thu nhập tính thuế và áp dụng bảng dưới đây để tính ra số thuế Thu nhập cá nhân phải nộp:
- Bảng 1.2: PHƯƠNG PHÁP TÍNH THUẾ THEO BIỂU THUẾ LŨY TIỀN TỪNG PHẦN
Đối với người lao động cư trú không ký hợp đồng lao động hoặc ký hợp đồng lao động dưới 03 tháng
- Theo điểm i khoản 1 Điều 25 Thông tư 111/2013/TT-BTC quy định như sau:
Người lao động cư trú ký hợp đồng lao động dưới 03 tháng hoặc không ký hợp đồng lao động mà có tổng mức trả thu nhập từ 02 triệu đồng/lần trở lên thì phải khấu trừ thuế theo mức 10% trên thu nhập (khấu trừ luôn trước khi trả tiền).
Lưu ý: Trừ các trường hợp làm cam kết theo Mẫu 08/CK-TNCN nếu đủ điều kiện trên.
- Công thức tính thuế Thu nhập cá nhân tạm nộp áp dụng như sau:
Đối với người lao động không cư trú sẽ được quy định như sau:
Theo quy định thì người lao động không cư trú sẽ không được tính khoản giảm trừ gia cảnh nên chỉ cần có thu nhập chịu thuế > 0 sẽ phải nộp thuế thu nhập với mức thuế suất 20%/thu nhập chịu thuế;
Các khoản được giảm trừ gồm: khoản đóng bảo hiểm, quỹ hưu trí tự nguyện, đóng góp khuyến học, nhân đạo, làm từ thiện.
Căn cứ theo Khoản 1 Điều 18 Thông tư 111/2013/TT-BTC quy định số thuế Thu nhập cá nhân phải nộp đối với người lao động không cư trú sẽ được tính theo công thức sau:
Trong đó, thu nhập chịu thuế bằng tổng tiền lương, tiền công và các khoản thu nhập khác mà người lao động đóng thuế nhận được trong kỳ tính thuế và được xác định như thu nhập chịu thuế của người lao động cư trú.
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Trong chương 1, tác giả đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về thuế thu nhập cá nhân, lịch sử hình thành, khái niệm đặc điểm, vai trò của thuế thu nhập cá nhân, đồng thời tập trung phân tích, khái quát pháp luật thuế thu nhập cá nhân của người lao động tại các doanh nghiệp ở Việt Nam trên các mặt chủ yếu về chính sách và quản lý thuế thu nhập cá nhân như: Đối tượng nộp thuế, thu nhập chịu thế, giảm trừ gia cảnh, thuế suất thuế thu nhập cá nhân, thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm, các nhân tố tác động tới việc thực thi pháp luật thuế thu nhập cá nhân đối với người lao động trong doanh nghiệp.
Đây là những nền tảng cơ bản, nền móng cho thi hành pháp luật về thuế Thu nhập cá nhân đối với người lao động trong doanh nghiệp tại nước ta nói chung và tại Tp. Hồ Chí Minh nói riêng trong chương tiếp theo. Luận văn: Pháp luật về thuế thu nhập cá nhân của người lao động.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Thực trạng thuế thu nhập cá nhân của người lao động

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Luận văn: Hoàn thiện thuế thu nhập cá nhân của người lao động