Luận văn: Giải pháp pháp luật quyền tự do kinh doanh của NH

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Giải pháp pháp luật quyền tự do kinh doanh của NH hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Giải pháp hoàn thiện pháp luật và tăng cường hiệu quả thực hiện quyền tự do kinh doanh của ngân hàng thương mại tại Việt Nam hiện nay dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

3.1. Định hướng hoàn thiện pháp luật về quyền tự do kinh doanh của ngân hàng thương mại tại Việt Nam

Hệ thống các ngân hàng thương mại giữ vai trò rất quan trọng trong mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội của một quốc gia. Với xu thế phát triển và cạnh tranh của thị trường, pháp luật ngày càng mở rộng và tạo điều kiện cho các chủ thể kinh doanh thực hiện Quyền tự do kinh doanh của mình. Tuy nhiên, thực tế cho thấy nhiều ngân hàng thương mại vẫn bị hạn chế trong việc hiện thực hóa Quyền tự do kinh doanh của mình. Vì thế, hoàn thiện pháp luật về Quyền tự do kinh doanh của ngân hàng thương mại không chỉ là cơ sở để điều chỉnh hành lang pháp lý mà còn bảo đảm môi trường Hoạt động kinh doanh lành mạnh và ổn định nền kinh tế đất nước. Định hướng xây dựng và hoàn thiện pháp luật về Quyền tự do kinh doanh của ngân hàng thương mại là việc làm cần thiết để đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội hiện nay.

Thứ nhất, đảm bảo sự đồng bộ, thống nhất giữa các văn bản pháp luật trong nước và sự phù hợp với pháp luật quốc tế. Sự phát triển của nền kinh tế thị trường kéo theo xu hướng toàn cầu hoá về thương mại; đầu tư tài chính và tiền tệ đang đi đầu một quốc gia. Các quy tắc, chuẩn mực quốc tế đóng vai trò quan trọng và chi phối đến sự vận động, phát triển nền kinh tế quốc gia. Bối cảnh đó đòi hỏi Nhà nước cần đẩy nhanh quá trình tái cơ cấu các ngân hàng thương mại, hoàn thiện pháp luật về xử lý nợ xấu và sở hữu chéo để ổn định hệ thống ngân hàng, nâng cao năng lực cạnh tranh… Ổn định thị trường tài chính tiền tệ nói chung và hệ thống ngân hàng nói riêng là nhiệm vụ trọng tâm trong công tác điều hành quản lý của Nhà nước giai đoạn tới đây. Trong đó, việc quản lý và tạo lập chính sách đối với các ngân hàng thương mại vừa phải đảm bảo được mục tiêu ổn định, an toàn kinh tế tài chính vừa phải thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội.

Mục tiêu ổn định Hoạt động kinh doanh hệ thống ngân hàng, Nhà nước cần tạo môi trường Hoạt động kinh doanh lành mạnh, đảm bảo sự đồng bộ, thống nhất giữa các quy định trong nước và thông lệ quốc tế. Môi trường pháp lý hiện còn nhiều chồng chéo, bất cập sẽ gây ra những khó khăn khó lường cho hệ thống ngân hàng thương mại. Vấn đề hiện nay là các ngân hàng thương mại phải tuân thủ quá nhiều quy định của pháp luật của các ngành khác, Hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại liên quan đến hầu hết các ngành nghề. Trong khi đó, hệ thống các văn bản pháp luật ngân hàng còn chưa thống nhất, mâu thuẫn, chậm được hướng dẫn cụ thể, do đó, Nhà nước cần ban hành những hướng dẫn cụ thể về thi hành Luật Ngân hàng Nhà nước và Luật các Tổ chức tín dụng; đảm bảo sự đồng bộ, thống nhất giữa các văn bản pháp luật trong nước và sự phù hợp với pháp luật quốc tế. Luận văn: Giải pháp pháp luật quyền tự do kinh doanh của NH.

Thứ hai, hoàn thiện pháp luật về Quyền tự do kinh doanh của ngân hàng thương mại phù hợp với Hiến pháp và các văn bản pháp luật liên quan. Hoàn thiện pháp luật về Quyền tự do kinh doanh của ngân hàng thương mại hiện nay vừa đảm bảo vấn đề TDKD để cho các ngân hàng thương mại tận dụng phát huy tối đa nguồn lực của mình trong nền kinh tế thị trường vừa đảm bảo phù hợp với tinh thần Hiến pháp và các văn bản pháp luật liên quan. Với quan điểm xây dựng một xã hội theo hướng dân chủ, nền kinh tế theo hướng tự do hóa, Nhà nước luôn ưu tiên và đảm bảo quyền tự do kinh doanh của các ngân hàng thương mại. Vì vậy, hoàn thiện pháp luật, khắc phục những khó khăn, bất cập đang còn tồn đọng trong thực tiễn thực hiện Quyền tự do kinh doanh của ngân hàng thương mại phải phù hợp với Hiến pháp và các văn bản pháp luật có liên quan. Để thực hiện được nội dung trên, cần sự phối hợp từ các nhà làm luật tới các cơ quan điều hành, quản lý Nhà nước và thực hiện chính sách. Nước ta đã chứng kiến sự thay đổi từng bước trong công cuộc đổi mới và phát triển, vì thế, đảm bảo quyền tự do kinh doanh của các ngân hàng thương mại là một trong những yêu cầu mang tính cấp thiết ở Việt Nam hiện nay.

Thứ ba, hoàn thiện pháp luật về Quyền tự do kinh doanh của ngân hàng thương mại gắn với mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội. Trong nền kinh tế hiện nay, các doanh nghiệp có vị trí đặc biệt quan trọng, là bộ phận chủ yếu tạo ra GDP quốc gia. Doanh nghiệp giúp phục hồi và tăng trưởng kinh tế, tăng thu ngân sách và tham gia giải quyết những vấn đề xã hội như: tạo việc làm, an sinh xã hội, nâng cao mức sống của người dân… Trong đó, ngân hàng thương mại đóng vai trò quan trọng đối với nền kinh tế – xã hội của mỗi quốc gia, vì thế, các ngân hàng thương mại được tự do, tự chủ trong nhiều hoạt động. Tuy nhiên, để đảm bảo ổn định nền kinh tế và Hoạt động kinh doanh của hệ thống các ngân hàng trong nước, Nhà nước có chính sách can thiệp làm hạn chế Quyền tự do kinh doanh của ngân hàng thương mại qua các văn bản pháp luật. Sự can thiệp của Nhà nước là cần thiết cho sự ổn định của nền kinh tế quốc gia. Như vậy, hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện Quyền tự do kinh doanh của ngân hàng thương mại phải gắn liền với mục tiêu đảm bảo phát triển kinh tế – xã hội đồng thời tôn trọng quyền tự do, tự chủ của ngân hàng thương mại, đảm bảo ngân hàng thương mại được TDKD một cách có hiệu quả.

Thứ tư, hoàn thiện pháp luật về Quyền tự do kinh doanh của ngân hàng thương mại đảm bảo tuân thủ nguyên tắc minh bạch hóa và chuẩn xác thông tin về hoạt động ngân hàng. Hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại ở nước ta có ảnh hưởng sâu sắc đến phát triển kinh tế và ổn định hệ thống tài chính quốc gia. Do vậy, hoàn thiện pháp luật về Quyền tự do kinh doanh của ngân hàng thương mại phải đảm bảo tuân thủ nguyên tắc minh bạch hóa và chuẩn xác thông tin. Tuy nhiên, đây là một trường hợp khó đối với Nhà nước, khi mà lĩnh vực tài chính ngân hàng bắt đầu phát triển trong thời gian ngắn lại chưa tương thích với các lĩnh vực khác trong xã hội, hơn nữa tăng trưởng quá nóng thiếu định hướng và không ổn định dẫn tới những hệ lụy xấu ảnh hưởng tới nền kinh tế. Có thể nói, Nhà nước luôn duy trì, ổn định hệ thống ngân hàng và để đảm bảo không để trường hợp xấu nhất với bất kỳ ngân hàng nào có thể xảy ra, đó là giải thể và phá sản ngân hàng.

3.2. Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật và tăng cường hiệu quả thực hiện quyền tự do kinh doanh của ngân hàng thương mại tại Việt Nam trong giai đoạn hiện nay Luận văn: Giải pháp pháp luật quyền tự do kinh doanh của NH.

3.2.1. Giải pháp hoàn thiện pháp luật về quyền tự do kinh doanh của ngân hàng thương mại tại Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

Thứ nhất, xây dựng hệ thống pháp luật điều chỉnh Quyền tự do kinh doanh của ngân hàng thương mại thống nhất, đồng bộ. Xây dựng và hoàn thiện pháp luật về Quyền tự do kinh doanh của ngân hàng thương mại có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển của ngành ngân hàng nói riêng và của nền kinh tế nói chung. Để nâng cao chất lượng, hiệu quả thực hiện trên thực tiễn thì chúng ta cần thiết phải hoàn thiện pháp luật về Quyền tự do kinh doanh của ngân hàng thương mại. Quyền tự do kinh doanh của ngân hàng thương mại hiện nay được điều chỉnh tại nhiều văn bản luật chuyên ngành và các ngành luật khác có liên quan. Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010 đã được sửa đổi bổ sung tại Luật số 17/2017/QH14 sửa đổi, bổ sung một số Điều của Luật các Tổ chức tín dụng có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15/01/2018. Tuy nhiên sau 5 năm thi hành, Luật này cũng đã bộc lộ một số hạn chế, khó khăn trong việc áp dụng thực hiện. Chính vì vậy, Nhà nước cần rà soát, hoàn thiện các quy định pháp luật để đảm bảo sự thống nhất giữa các luật chuyên ngành và các luật khác có liên quan, cụ thể, cần thống nhất về việc quy định mức vốn pháp định của ngân hàng thương mại tại Luật các Tổ chức tín dụng, hiện nay, đang có sự không đồng nhất giữa Luật Doanh nghiệp năm 2020, Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010, Luật sửa đổi, bổ sung một số Điều của Luật các Tổ chức tín dụng năm 2017, Nghị định 86/2019/NĐ-CP 86. Pháp luật trên các lĩnh vực có đầy đủ, thống nhất thì mới tạo điều kiện hoàn thiện, tăng cường Quyền tự do kinh doanh của ngân hàng thương mại. Hoàn thiện pháp luật phải đúng chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước, tuân thủ Hiến pháp và phù hợp với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất, khả thi, đồng bộ, hiệu quả. Luận văn: Giải pháp pháp luật quyền tự do kinh doanh của NH.

Thứ hai, hoàn thiện quy định pháp luật về mức vốn pháp định tại thời điểm thành lập của ngân hàng thương mại. Tại Điều 2, Nghị định số 86/2019/NĐ-CP quy định mức vốn pháp định như sau: “Ngân hàng thương mại: 3.000 tỷ đồng. Ngân hàng chính sách: 5.000 tỷ đồng. Ngân hàng hợp tác xã: 3.000 tỷ đồng. Chi nhánh ngân hàng nước ngoài: 15 triệu đô la Mỹ (USD). Công ty tài chính: 500 tỷ đồng. Công ty cho thuê tài chính: 150 tỷ đồng…”. Mức vốn pháp định đối với ngân hàng thương mại hiện nay là 3.000 tỷ đồng, hiện tại không còn phù hợp trong tiến trình thúc đẩy tự do hóa thị trường và phát triển kinh tế thị trường. Luật Doanh nghiệp năm 2020 cũng đã hủy bỏ quy định về mức vốn pháp định của doanh nghiệp, trong khi đó lĩnh vực ngân hàng vẫn duy trì mức vốn pháp định để áp dụng trong môi trường kinh doanh có tính đặc thù là cần thiết. Tuy nhiên, việc quy định mức vốn pháp định đối với loại hình ngân hàng thương mại là 3.000 tỷ đồng là quá cao, bất hợp lý đối với việc Tổ chức tín dụng phải huy động một khoản tiền vốn điều lệ không thấp hơn 3.000 tỷ đồng. Điều này thật sự gây khó khăn huy động vốn tối thiểu 6.000 tỷ đồng để đáp ứng yêu cầu hoạt động của Tổ chức tín dụng và vô hình chung đang cản trở Quyền tự do kinh doanh của ngân hàng thương mại. Tác giả kiến nghị cần giảm mức vốn này xuống 2.000 tỷ đồng để ngân hàng thương mại có thể tăng thêm nguồn vốn để mở rộng kinh doanh. Trong tương lai, khi hệ thống ngân hàng đã phát triển ổn định và lành mạnh, Nhà nước cần tiến đến việc xóa bỏ hoàn toàn quy định về mức vốn pháp định đối với các ngân hàng thương mại, hãy để cho những quy luật và đòi hỏi của thị trường về nhu cầu vốn và quyền tự quyết của nhà đầu tư quyết định. Việc của Nhà nước là phải xây dựng khung pháp lý và tổ chức thực hiện hiệu quả để những quy định nêu trên không bị lợi dụng, tác động xấu đến Hoạt động kinh doanh của hệ thống ngân hàng thương mại.

Thứ ba, Nhà nước cần quy định cụ thể các chế tài áp dụng đối với các tổ chức và cá nhân vi phạm làm ảnh hưởng đến Quyền tự do kinh doanh của ngân hàng thương mại. Thời gian trước đây, nhiều vụ đại án kinh tế của ngành ngân hàng đã được các cơ quan chức năng điều tra và xét xử. Việc lạm dụng chức vụ, quyền hạn cùng với lợi dụng kẻ hở của pháp luật của các tổ chức, cá nhân nhằm lừa đảo, chiếm đoạt tài sản của các Tổ chức tín dụng với giá trị lên tới hàng trăm nghìn tỷ đồng đã gây chấn động dư luận xã hội, làm mất niềm tin của người dân vào hệ thống ngân hàng. Mặt khác, trong văn bản dưới luật mà cụ thể là Nghị định xử phạt vi phạm hành chính lại không quy định cụ thể xử phạt hành vi vi phạm của các cá nhân có vị trí lãnh đạo các Tổ chức tín dụng nên việc thực hiện quyền tự do lựa chọn đối tác của ngân hàng thương mại chưa triệt để trong thực tiễn. Do vậy, Nhà nước cần quy định rõ các chế tài áp dụng trong trường hợp này vừa đảm bảo tính răn đe vừa bảo vệ tài sản của người dân và ngân hàng thương mại, cụ thể là: Bổ sung hành vi vi phạm, mức phạt tiền của cá nhân giữ vị trí quản lý trong các Tổ chức tín dụng trong Nghị định số 88/2019/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng.

Thứ tư, hoàn thiện quy định pháp luật về lãi suất cho vay của ngân hàng thương mại. Dựa trên pháp luật hiện hành, có thể thấy được các vấn đề như lãi suất, lãi suất nợ quá hạn và lãi suất quá hạn (phạt vi phạm) được quy định trong các luật khác nhau: BLDS năm 2015 quy định “trách nhiệm do chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền” (Điều 357), “thỏa thuận phạt vi phạm” (Điều 418), “nghĩa vụ trả nợ của bên vay” (Điều 466), “lãi suất” (Điều 468); Luật các Tổ chức tín dụng quy định “lãi suất, phí trong hoạt động kinh doanh của Tổ chức tín dụng” (Điều 91); Luật Thương mại năm 2005 quy định “phạt vi phạm” (Điều 300), “mức phạt vi phạm” (Điều 301). Như đã phân tích ở chương 2, sự không thống nhất về lãi suất cho vay giữa BLDS và Luật các Tổ chức tín dụng là vấn đề bất cập cần được giải quyết để hạn chế tranh chấp, tạo sự thống nhất trong hoạt động cho vay của ngân hàng và các Tổ chức tín dụng hiện nay. Trên thực tế giải quyết các tranh chấp, hoạt động xét xử về lãi suất tại hợp đồng tín dụng giữa ngân hàng thương mại và khách hàng, Tòa án nhân dân tối cao đã lựa chọn và công bố Án lệ số 08/2016/AL về xác định lãi suất, việc điều chỉnh lãi suất trong hợp đồng tín dụng kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm được công bố và áp dụng trong xét xử nhằm để thống nhất trong việc áp dụng pháp luật về lãi trong hợp đồng tín dụng của các ngân hàng thương mại. Như vậy, trong hợp đồng tín dụng, các bên có quyền thỏa thuận về lãi suất, gồm: lãi suất cho vay trong hạn, lãi suất nợ quá hạn, điều chỉnh lãi suất cho vay… Luận văn: Giải pháp pháp luật quyền tự do kinh doanh của NH.

Ngày 11/01/2019, Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15/3/2019 hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm. Theo đó, trên cơ sở kế thừa nội dung của án lệ số 08/2016/AL, Điều 13, Nghị quyết quy định: “Đối với trường hợp chậm thực hiện nghĩa vụ trong hợp đồng mà các bên có thỏa thuận về việc trả lãi thì quyết định kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật; nếu không có thỏa thuận về mức lãi suất thì quyết định theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015”.

Đối chiếu với quy định trên có thể thấy trong thực tiễn xét xử các tranh chấp về lãi suất trong hợp đồng tín dụng hiện nay, Toà án đã xem xét chấp nhận các ngân hàng thương mại và khách hàng có quyền thỏa thuận lãi suất. Chính vì vậy, cần bổ sung các nội dung về lãi trong hạn, lãi quá hạn và lãi chậm trả phạt vi phạm tại Luật các Tổ chức tín dụng. Đồng thời ban hành văn bản hướng dẫn cụ thể về: “trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác” đối với hoạt động cho vay của các ngân hàng thương mại đã được quy định tại Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010 do đã được luật chuyên ngành điều chỉnh.

Thứ năm, hoàn thiện quy định pháp luật về các biện pháp bảo đảm trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại. Các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ có tác dụng lớn đối với việc bảo đảm an toàn, thúc đẩy quá trình giao kết hợp đồng của ngân hàng thương mại. Nghiên cứu thực tiễn trong Hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại về các biện pháp bảo đảm cho thấy một số quy định pháp luật hiện nay chưa phù hợp, chưa thống nhất. Cần có những giải pháp cụ thể để hoàn thiện và nâng cao hiệu quả về các biện pháp bảo đảm trong Hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại hiện nay. Đầu tiên, để tránh cách hiểu khác nhau trong việc áp dụng quy định tại BLDS năm 2015, Nhà nước cần sửa đổi, bổ sung khái niệm về “cầm cố”, “thế chấp” trong đó quy định rõ bên thế chấp/bên cầm cố được dùng tài sản thuộc sở hữu của mình để bảo đảm nghĩa vụ của mình hoặc của người khác tại bên nhận bảo đảm. Tiếp theo, luật pháp cần điều chỉnh quy định tại điểm c khoản 5 Điều 9, Thông tư 24/2014/TT-BTNMT và các Thông tư sửa đổi bổ sung quy định về hồ sơ khi thực hiện thủ tục đăng ký biến động đất đai trong trường hợp xử lý nợ tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất; kê biên, đấu giá tài sản đó để thi hành án. Ngoài ra, biện pháp bảo đảm và việc xử lý tài sản bảo đảm được quy định tại nhiều văn bản khác nhau như: các vấn đề chung được quy định tại BLDS năm 2015, Nghị định số 21/2021/NĐ-CP, Nghị định 102/2017/NÐ-CP, Thông tư liên tịch số 16/2014/TTLT-BTP-BTNMT-NHNN. Nguyên tắc áp dụng pháp luật trong thực hiện biện pháp bảo đảm được quy định tại Điều 4, Nghị định số 21/2021/NĐ-CP nếu Nghị định này không quy định thì phải áp dụng theo các quy định pháp luật chuyên ngành có liên quan, như: tín dụng, đất đai, khoáng sản… Với tầm quan trọng và phạm vi điều chỉnh rộng, các cơ quan chức năng cần xây dựng riêng pháp luật về biện pháp bảo đảm và đăng ký giao dịch bảo đảm để tập trung các quy định, bảo đảm tính kịp thời, hiệu quả, thuận lợi trong quá trình thực hiện pháp luật.

3.2.2. Giải pháp tăng cường hiệu quả thực hiện quyền tự do kinh doanh của ngân hàng thương mại tại Việt Nam trong giai đoạn hiện nay Luận văn: Giải pháp pháp luật quyền tự do kinh doanh của NH.

Thứ nhất, nâng cao năng lực quản trị rủi ro và năng lực giám sát ngân hàng. Trong thời đại hiện nay, phạm vi hoạt động của các ngân hàng thương mại không chỉ trong nước mà ngày càng mở rộng ra nước ngoài. Cùng với đó là sự gia tăng số lượng các Tổ chức tín dụng nước ngoài hiện diện tại thị trường Việt Nam. Môi trường Hoạt động kinh doanh trong và ngoài nước đầy biến động có thể tác động đến tất cả các Hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại, điều này đòi hỏi các ngân hàng thương mại phải nâng cao năng lực quản trị rủi ro và năng lực giám sát Hoạt động kinh doanh của mình. Thực tiễn cho thấy, ngân hàng thương mại gặp rất nhiều khó khăn đối với công tác quản trị rủi ro hoạt động vì nó có thể xảy ra ở tất cả các hoạt động của ngân hàng thương mại do nhiều nguyên nhân khác nhau. Vì vậy, công tác quản trị rủi ro của ngân hàng thương mại cần phải xây dựng phù hợp với thị trường và tuân thủ theo quy định của pháp luật. Cần xây dựng văn hóa quản trị rủi ro, mọi ngân hàng thương mại cần nâng cao việc kiểm soát nội bộ, hệ thống giám sát rủi ro để kịp thời phát hiện những rủi ro tiềm ẩn. Cần đầu tư nguồn lực phù hợp về nhân sự, tài chính, hệ thống công cụ hỗ trợ cho bộ phận quản trị rủi ro và giám sát hoạt động để ngân hàng thương mại có đủ điều kiện triển khai các hoạt động quản trị rủi ro hiệu quả hơn.

Các ngân hàng thương mại nên thường xuyên đào tạo và nâng cao nhận thực cho nhân viên về quản trị rủi ro hoạt động. Ngoài ra, các ngân hàng thương mại phải thường xuyên trao đổi, cập nhật các sự kiện xảy ra tại tại tất cả các ngân hàng, phân tích nguyên nhân, các yếu tố dẫn tới rủi ro. Tuyên truyền, phổ biến, quán triệt về văn hóa doanh nghiệp và nâng cao đạo đức nghề nghiệp, nội quy lao động. Ngân hàng cần quán triệt và nghiêm cấm các hành vi gian lận hoặc cấu kết, tiếp tay, hỗ trợ đối tượng bên ngoài thực hiện hành vi gian lận. Luận văn: Giải pháp pháp luật quyền tự do kinh doanh của NH.

Thứ hai, xây dựng hệ thống thu thập dữ liệu đảm bảo các thông tin cung cấp là tin cậy. Đối với Hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại thì dữ liệu được coi là tài sản quý giá, đặc biệt trong bối cảnh hiện nay các ngân hàng thương mại luôn phải tìm kiếm các giải pháp công nghệ mới nhằm gia tăng doanh thu và giảm chi phí trước áp lực cạnh tranh ngày càng gay gắt. Thời gian qua, các ngân hàng thương mại tại Việt Nam đã chú trọng đầu tư xây dựng hệ thống dữ liệu, nâng cao hiệu quả khai thác dữ liệu và thông tin ngân hàng. Tuy nhiên, đầu tư cho hoạt động quản trị và khai thác dữ liệu còn nhiều bất cập do tồn tại nhiều kho dữ liệu, với các mục đích khác nhau sẽ có những báo cáo khác nhau dẫn đến kết quả đầu ra cũng không thống nhất mặc dù các báo cáo đều lấy dữ liệu từ nguồn chung. Đồng thời, việc tồn tại nhiều kho dữ liệu phân tán trong ngân hàng dẫn đến quản trị dữ liệu không hiệu quả, làm tăng nguy cơ rò rỉ dữ liệu ra bên ngoài. Nhà nước cần có những giải pháp cụ thể về quản lý dữ liệu và phải đảm bảo bí mật thông tin khách hàng nhằm bảo vệ quyền riêng tư của khách hàng, đảm bảo an ninh mạng.

Bên cạnh đó, các ngân hàng thương mại cần có bộ phận quản trị dữ liệu riêng biệt để đồng nhất với các phòng ban cùng tham gia vào quản trị dữ liệu. Bộ phận này có trách nhiệm quản trị dữ liệu gắn với trách nhiệm cung cấp dữ liệu chính xác, xây dựng hệ thống dữ liệu chuyên biệt có sự sắp xếp hợp lý, đảm bảo an toàn tuyệt đối, bảo mật thông tin tối đa. Xây dựng cơ sở hạ tầng về con người và công nghệ là giải pháp tối ưu để nâng cao hiệu quả quản trị dữ liệu thông tin tại các ngân hàng thương mại. Về nhân tố con người, quản trị dữ liệu đòi hỏi các ngân hàng thương mại xây dựng các vị trí việc làm mới gắn liền với nền tảng công nghệ cùng với chế độ đãi ngộ, nâng cao trình độ đào tạo, môi trường làm việc, cơ sở vật chất… Các ngân hàng thương mại cần đầu tư đúng lúc, đón đầu xu hướng và tăng cường công nghệ hiện đại mới nhất như áp dụng công nghệ điện toán đám mây (Cloud computing), hệ thống dữ liệu “Big data”, trí tuệ nhân tạo (AI), công nghệ chuỗi – khối (Blockchain), học máy (Machine learning)… để có thể tối ưu hóa quy trình quản trị dữ liệu.

Thứ ba, tập trung phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và thiết bị, công nghệ hiện đại. Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao được xem là yếu tố quan trọng nòng cốt bảo đảm cho nền kinh tế thị trường phát triển ổn định trong điều kiện hội nhập. Đây được xem là giải pháp quan trọng hiện nay. Thực tế, các ngân hàng thương mại Việt Nam luôn thiếu hụt nguồn nhân lực chất lượng cao, bên cạnh đó không ít các vụ án kinh tế, trong đó các cán bộ ngân hàng đã phải hầu tòa vì những sai sót nghiệp vụ, gây ảnh hưởng Hoạt động kinh doanh tại các ngân hàng thương mại. Chính vì vậy, để đảm bảo được Quyền tự do kinh doanh có hiệu quả mà vẫn an toàn trong Hoạt động kinh doanh thì bản thân mỗi ngân hàng thương mại phải nâng cao năng lực chuyên môn, trách nhiệm của đội ngũ cán bộ nhân viên, tập trung phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cần đi đôi với đầu tư thiết bị, công nghệ hiện đại. Luận văn: Giải pháp pháp luật quyền tự do kinh doanh của NH.

Thứ tư, hoàn thành mục tiêu tái cấu trúc hệ thống ngân hàng. Để hoàn thành mục tiêu này, Nhà nước cần có giải pháp yêu cầu các ngân hàng thương mại nâng cao chất lượng tài sản có; kiểm soát rủi ro tín dụng; giảm tỷ lệ nợ quá hạn, nợ xấu và quan trọng nhất là cần dứt điểm tái cơ cấu các ngân hàng yếu kém. Nhà nước cần thúc đẩy, tạo điều kiện cho các hoạt động mua bán, sáp nhập, hợp nhất, nâng cao năng lực tài chính của các ngân hàng thương mại. Ban hành quy định kiểm soát quản trị rủi ro của ngân hàng thương mại theo chuẩn mực quốc tế và các chế tài đủ mạnh để những ngân hàng thương mại quan tâm thực hiện. Theo đó việc nâng cao điều kiện về vốn và năng lực chủ thể trong khâu quản lý và kiểm soát thành lập mới các ngân hàng thương mại cũng rất quan trọng. Mục tiêu hướng đến của Nhà nước là ổn định lại hệ thống ngân hàng thương mại với những chủ thể thực sự khỏe mạnh, khắc phục lỗ hổng trong thời gian trước đây. Một hệ thống gồm những ngân hàng thương mại khỏe mạnh đồng nghĩa với một hệ thống ổn định, năng động, không còn những hiện tượng cạnh tranh không lành mạnh như trước đây nữa, các ngân hàng thương mại sẽ có môi trường tốt để TDKD và phát huy tối đa tiềm lực của mình.

Để thực hiện mục tiêu tái cơ cấu, Ngân hàng Nhà nước cần xóa bỏ trần lãi suất huy động tiền gửi trong thời gian tới. Khi đó, hệ thống ngân hàng thương mại chỉ tồn tại những chủ thể ngân hàng thương mại khỏe mạnh, có đủ năng lực để thực hiện kinh doanh trên thị trường. Nếu như các ngân hàng thương mại yếu kém là những rào cản duy nhất khiến việc bỏ trần lãi suất huy động tiền gửi không thể thực hiện được, thì sau khi tái cơ cấu Ngân hàng Nhà nước hoàn toàn có cơ sở để thực hiện điều đó. Việc bỏ trần lãi suất huy động tiền gửi sẽ đưa hệ thống ngân hàng nước ta tới việc tự do hóa hoàn toàn lãi suất, lãi suất sẽ tự được thị trường điều tiết theo cơ chế thị trường. Lúc này, trên thị trường chỉ còn những ngân hàng thương mại có khả năng thanh khoản tốt thì sẽ không bị dẫn tới việc tạo ra cạnh tranh lãi suất lành mạnh, không còn trường hợp “phá rào” như lúc trước nữa. Tuy nhiên, khi tiến hành tự do hóa lãi suất tiền gửi, Ngân hàng Nhà nước cần điều hành duy trì cho thị trường lãi suất ở mức thấp, để thực hiện kiềm chế lạm phát và giúp các doanh nghiệp trong nước cạnh tranh với thế giới.

Thứ năm, hoàn thiện, xây dựng định hướng hoạt động cho vay đối với ngân hàng thương mại. Hoạt động cho vay của các ngân hàng thương mại trong thời gian qua đã xảy ra nhiều bất cập nghiêm trọng. Nhà nước cần phải quản lý và điều chỉnh kịp thời hoạt động này. Tuy nhiên, việc can thiệp của Nhà nước nên được tiếp cận theo mức độ định hướng thay vì sự áp đặt mệnh lệnh hành chính như trước đây. Một mặt, vừa tạo cho các ngân hàng thương mại có sự phát triển đồng đều, một mặt vừa đảm bảo Quyền tự do kinh doanh cho các ngân hàng thương mại đó. ngân hàng thương mại cần nâng cao công tác quản trị rủi ro và tăng cường kiểm tra kiểm soát nội bộ trong hoạt động cho vay thông qua việc: Định kỳ hàng tháng, hàng tuần, hàng ngày kiểm tra các khoản nợ đến hạn, nợ quá hạn để kịp thời xử lý; Tuân thủ những quy định trong phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro; Chủ động phân loại nợ theo tính chất và khả năng thu hồi của khoản vay, có nguy cơ gây ra rủi ro tiềm ẩn cho ngân hàng; Thành lập bộ phận quản lý nợ quá hạn, cảnh báo rủi ro nhảy nhóm nợ. Bên cạnh đó, Nhà nước cần truyền thông rộng rãi các quy định pháp luật về giải quyết tranh chấp bằng phương thức Hòa giải và Trọng tài để các bên có thể lựa chọn và áp dụng, tránh quá tải cho hệ thống Tòa án. Luận văn: Giải pháp pháp luật quyền tự do kinh doanh của NH.

Thứ sáu, chấp nhận trường hợp ngân hàng giải thể và phá sản. Trong kinh doanh, mọi doanh nghiệp đều bình đẳng, vì vậy việc kinh doanh yếu kém dẫn thua lỗ dẫn đến chấm dứt hoạt động, giải thể, phá sản là quy luật tất yếu. Vì sự ổn định của nền kinh tế và hệ thống ngân hàng, Nhà nước đã tạo điều kiện cho các ngân hàng thương mại hoạt động ổn định, không rơi vào tình trạng giải thể và phá sản. Tuy nhiên, thực tế trong môi trường kinh doanh hiện nay cho thấy, có nhiều ngân hàng thương mại hoạt động ỷ lại, hoạt động yếu kém, thiếu hiệu quả vẫn được Nhà nước hỗ trợ. Pháp luật thừa nhận giải thể và phá sản ngân hàng là hoàn toàn hợp lý đối với các chủ thể yếu kém, không đủ sức kinh doanh. Cho nên, ngân hàng nào làm tốt thì tồn tại, nếu không tốt, không sáp nhập, thì mạnh dạn cho giải thể, phá sản. Để hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện Quyền tự do kinh doanh của ngân hàng thương mại hiện nay cần phải có biện pháp quy định hợp lý nhằm bảo đảm quyền lợi của các khách hàng và các đối tượng liên quan đến ngân hàng bị giải thể, phá sản.

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3

Nghiên cứu và hoàn thiện pháp luật về Quyền tự do kinh doanh của ngân hàng thương mại ở nước ta hiện nay có vai trò quan trọng trong tiến trình phát triển kinh tế, đảm bảo môi trường kinh doanh lành mạnh nhằm thu hút nguồn vốn đầu tư trong và ngoài nước. ngân hàng thương mại nói riêng và hệ thống ngân hàng nói chung giữ vị trí quan trọng đối với sự phát triển của đất nước. Trong đó, Luật Doanh nghiệp 2020 đã có nhiều điểm mới, khắc phục được những hạn chế, bất cập trong việc gia nhập thị trường của doanh nghiệp. Tuy nhiên, Luật các Tổ chức tín dụng và các ngành luật liên quan vẫn còn tồn tại một số bất cập cần được làm rõ và hoàn thiện để đáp ứng nhu cầu hoạt động của ngân hàng thương mại.

Trên cơ sở phân tích các định hướng hoàn thiện pháp luật về Quyền tự do kinh doanh của ngân hàng thương mại tại Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, chương 3 đã đưa ra những giải pháp nhằm hoàn thiện hơn hệ thống pháp luật về Quyền tự do kinh doanh của ngân hàng thương mại. Luận văn đã đưa ra 4 định hướng hoàn thiện pháp luật bao gồm: “Đảm bảo sự đồng bộ, thống nhất giữa các văn bản pháp luật và sự phù hợp với pháp luật quốc tế”; “Hoàn thiện pháp luật về Quyền tự do kinh doanh của ngân hàng thương mại phù hợp với Hiến pháp và các văn bản pháp luật liên quan”; “Hoàn thiện pháp luật về Quyền tự do kinh doanh của ngân hàng thương mại gắn với mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội”; “Hoàn thiện pháp luật về Quyền tự do kinh doanh của ngân hàng thương mại đảm bảo tuân thủ nguyên tắc minh bạch hóa và chuẩn xác thông tin về hoạt ngân hàng”. Từ thực tiễn thực hiện pháp luật và định hướng hoàn thiện về Quyền tự do kinh doanh của ngân hàng thương mại, luận văn đã đưa ra một số giải pháp trọng tâm nhằm hoàn thiện pháp luật và tăng cường hiệu quả thực hiện Quyền tự do kinh doanh của ngân hàng thương mại tại Việt Nam. Đây cũng là yếu tố quan trọng góp phần đảm bảo quyền tự do kinh doanh của ngân hàng thương mại tại Việt Nam hiện nay.

KẾT LUẬN Luận văn: Giải pháp pháp luật quyền tự do kinh doanh của NH.

Hội nhập quốc tế đã góp phần phát triển hệ thống tài chính trong nước và thế giới. Bên cạnh những cơ hội mà quá trình hội nhập mang lại, ngành ngân hàng còn phải đón nhận không ít rủi ro, đòi hỏi các ngân hàng thương mại không ngừng nâng cấp, cải tiến công nghệ, nâng cao trình độ quản lý và nâng cao năng lực cạnh tranh của mình trong khu vực và quốc tế. Mặt khác, những tác động từ cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 đã đặt ra nhiều thách thức đối với ngân hàng thương mại trong việc ứng dụng công nghệ để tối ưu hóa quy trình quản lý, phương thức kinh doanh, hệ thống quản trị rủi ro, nhận diện thương hiệu… đồng thời, đòi hỏi Nhà nước kịp thời thích ứng điều chỉnh các vấn đề phát sinh nhằm bảo đảm tốt nhất Quyền tự do kinh doanh của ngân hàng thương mại và đảm bảo an toàn cho hệ thống ngân hàng. Do đó, việc hoàn thiện pháp luật, nâng cao hiệu quả thực hiện về Quyền tự do kinh doanh của ngân hàng thương mại sẽ tạo nền móng cho sự phát triển bền vững của hệ thống ngân hàng thương mại tại Việt Nam.

Luận văn đã giải quyết vấn đề nghiên cứu được đặt ra, tổng hợp và đưa ra định nghĩa cụ thể về Quyền tự do kinh doanh của ngân hàng thương mại, đặc điểm, các nội dung cơ bản, yếu tố ảnh hưởng đến Quyền tự do kinh doanh của ngân hàng thương mại tại Việt Nam. Từ đó, khái niệm hóa cơ sở lý luận về Quyền tự do kinh doanh của ngân hàng thương mại dựa trên nhiều góc độ: “Dưới góc độ quyền chủ thể, Quyền tự do kinh doanh của ngân hàng thương mại là khả năng được tự do lựa chọn, tự do quyết định mọi vấn đề của ngân hàng thương mại khi thực hiện các hoạt động trong lĩnh vực tài chính ngân hàng nhằm mục đích tạo ra lợi nhuận dựa trên cơ sơ phù hợp với quy định của Nhà nước và pháp luật. Dưới góc độ là một chế định pháp luật, Quyền tự do kinh doanh của ngân hàng thương mại là tập hợp các quy phạm pháp luật và những đảm bảo của Nhà nước đưa ra nhằm tạo điều kiện cho ngân hàng thương mại thực hiện Quyền tự do kinh doanh của mình”.

ĐBQTDKD của ngân hàng thương mại có vai trò, ý nghĩa rất quan trọng đối với các ngân hàng thương mại. Việc đảm bảo quyền tự do kinh doanh cho ngân hàng thương mại là sơ sở để đảm bảo an toàn hoạt động, chóng độc quyền tạo điều kiện cho các tổ chức, cá nhân được hưởng các chính sách thông thoáng hơn, có lợi hơn. Xây dựng, đảm bảo quyền tự do kinh doanh của ngân hàng thương mại bằng pháp luật là cơ sở pháp lý vững chắc để các chủ thể kinh doanh yên tâm kinh doanh dịch vụ ngân hàng, mạnh dạn đầu tư vốn để kinh doanh tiền tệ và dịch vụ tín dụng trung gian.

Bên cạnh đó, nghiên cứu chỉ ra thực trạng Quyền tự do kinh doanh của ngân hàng thương mại thông qua các nội dung cơ bản: “Quyền tự do thành lập ngân hàng thương mại”; “Quyền tự do lựa chọn đối tác của ngân hàng thương mại”; “Quyền tự do hợp đồng của ngân hàng thương mại”; “Quyền tự do lựa chọn các biện pháp bảo đảm trong hợp đồng tín dụng”; “Quyền tự do lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp của ngân hàng thương mại”; “Quyền tự do tổ chức lại, giải thể ngân hàng thương mại”. Từ thực trạng về Quyền tự do kinh doanh của ngân hàng thương mại tại Việt Nam trong những năm gần đây cho thấy Nhà nước đã chú trọng việc quản lý, điều hành để đảm bảo phát triển an toàn và đúng định hướng. Hệ thống pháp luật điều chỉnh Quyền tự do kinh doanh của ngân hàng thương mại tại Việt Nam ngày càng được hoàn thiện và thống nhất. Tuy nhiên, qua phân tích thực tiễn thực hiện Quyền tự do kinh doanh của ngân hàng thương mại cho thấy vẫn còn nhiều quy định pháp luật không bám sát thực tiễn, không còn phù hợp với thực tế. Do đó, cần phải có những định hướng hoàn thiện, giải pháp thiết thực hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện Quyền tự do kinh doanh của ngân hàng thương mại tại Việt Nam hiện nay.

Từ những đánh giá thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện Quyền tự do kinh doanh của ngân hàng thương mại tại Việt Nam, luận văn đưa ra bốn định hướng hoàn thiện hoàn thiện pháp luật: “Đảm bảo sự đồng bộ, thống nhất giữa các văn bản pháp luật và sự phù hợp với pháp luật quốc tế”; “Hoàn thiện pháp luật về Quyền tự do kinh doanh của ngân hàng thương mại phù hợp với Hiến pháp và các văn bản pháp luật liên quan”; “Hoàn thiện pháp luật về Quyền tự do kinh doanh của ngân hàng thương mại gắn với mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội”; “Hoàn thiện pháp luật về Quyền tự do kinh doanh của ngân hàng thương mại đảm bảo tuân thủ nguyên tắc minh bạch hóa và chuẩn xác thông tin về hoạt ngân hàng”. Tác giả cũng đưa ra một số giải pháp trọng tâm nhằm hoàn thiện pháp luật và tăng cường hiệu quả thực hiện Quyền tự do kinh doanh của ngân hàng thương mại tại Việt Nam.

Luận văn đưa ra được lý thuyết tổng hợp về Quyền tự do kinh doanh của ngân hàng thương mại, khái niệm về Quyền tự do kinh doanh của ngân hàng thương mại, mở ra hướng nghiên cứu sâu hơn cho các luận văn, luận án về sau. Luận văn đã hoàn thành việc đánh giá Quyền tự do kinh doanh của ngân hàng thương mại trong nước, chưa mở rộng nghiên cứu đánh giá với ngân hàng nước ngoài. Luận văn mở ra hướng nghiên cứu mới cho các nghiên cứu sau này về việc so sánh, đánh giá Quyền tự do kinh doanh của ngân hàng thương mại tại Việt Nam với các nước phát triển trong khu vực và quốc tế, từ đó cải thiện và nâng cao được chất lượng luận văn, góp phần tạo tiền đề áp dụng nghiên cứu vào thực tiễn. Luận văn: Giải pháp pháp luật quyền tự do kinh doanh của NH.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:  

===>>> Luận văn: Quyền tự do kinh doanh của Ngân hàng thương mại

One thought on “Luận văn: Giải pháp pháp luật quyền tự do kinh doanh của NH

  1. Pingback: Luận văn: Thực trạng pháp luật quyền tự do kinh doanh của NH

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464