Luận văn: Thực tiễn về giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Thực tiễn về giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Thực tiễn áp dụng pháp luật và tình hình giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa tại Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

2.1. Một số quy định của pháp luật hiện hành về giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa tại Tòa án

2.1.1. Thẩm quyền giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa của Tòa án

  • Thẩm quyền của Tòa án theo loại việc

Thẩm quyền giải quyết tranh chấp theo loại việc là tổng hợp các loại vụ việc dân sự mà Tòa án có thẩm quyền thụ lý và giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự. Thẩm quyền về loại việc của Tòa án sẽ phân định với những vụ việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan khác.

Trong lĩnh vực mua bán hàng hóa, tranh chấp kinh doanh thương mại và tranh chấp dân sự thông thường đều giống nhau là: (i) có sự mua bán hàng hóa giữa bên bán và bên mua; (ii) các điều khoản cơ bản của hợp đồng đều phải đáp ứng các quy định chung của pháp luật về loại hợp đồng này. Tuy nhiên, trong tranh chấp thương mại, bên bán và bên mua đều là thương nhân (các cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh); các bên ký kết hợp đồng đều có mục đích sinh lợi. Còn trong tranh chấp dân sự thông thường, chủ thể tham gia không bắt buộc đăng ký kinh doanh, mục đích tham gia giao dịch không yêu cầu phải có mục đích lợi nhuận.

Vì vậy, việc xác định tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa thuộc tranh chấp dân sự hay kinh doanh thương mại có ý nghĩa quan trọng, tạo điều kiện cho việc giải quyết vụ án được chính xác, đúng quy định của pháp luật. Bởi lẽ, trong quá trình giải quyết tranh chấp, tùy thuộc vào loại tranh chấp mà thời hạn giải quyết, việc áp dụng pháp luật nội dung điều chỉnh có sự khác biệt như cách tính lãi suất chậm trả, hay mức phạt vi phạm hợp đồng.

Về thời hạn chuẩn bị xét xử, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định đối với tranh chấp dân sự là từ 04 tháng đến 06 tháng, còn tranh chấp kinh doanh thương mại là từ 02 tháng đến 03 tháng.

Về pháp luật điều chỉnh đối với tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa thuộc tranh chấp dân sự sẽ do Bộ luật Dân sự năm 2015 điều chỉnh; còn trường hợp thuộc tranh chấp kinh doanh thương mại thì do Luật Thương mại năm 2005 điều chỉnh.

Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đã quy định các tranh chấp về kinh doanh thương mại thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, đó là tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại giữa cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận. Luận văn: Thực tiễn về giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán.

Như vậy, theo Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, để xác định một vụ tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa là tranh chấp về kinh doanh thương mại cần phải đảm bảo các điều kiện: (i) phát sinh trong hoạt động kinh doanh thương mại; (ii) các bên tranh chấp là tổ chức, cá nhân có đăng ký kinh doanh; (iii) các bên đều có mục đích lợi nhuận.

Có thể lấy dẫn chứng, tại Bản án số 05/2019/KDTM-ST ngày 18/7/2019 về việc tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa giữa Transfar ZCo, ltd và Công ty TNHH Liên doanh NP T. Trong vụ tranh chấp này, Transfar ZCo, ltd và Công ty TNHH Liên doanh NP T đều có đăng ký kinh doanh, hai công ty ký kết hợp đồng HPCZ-0093 ngày 22/12/2016 để Transfar ZCo, ltd cung cấp các sản phẩm hóa học cho Công ty TNHH Liên doanh NP T làm nguyên liệu sản xuất là hoạt động phát sinh trong kinh doanh thương mại và đều có mục đích lợi nhuận. Do đó, đây là tranh chấp kinh doanh thương mại và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 30 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Tại Bản án số 58/2022/DS-PT ngày 31/3/2022 về việc tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa giữa bà Phạm Thị N và bà Nguyễn Thị S. Trong vụ tranh chấp này, bà N xác định bà là đại lý cấp 1 của Proconco, chức năng kinh doanh là phân phối thức ăn chăn nuôi nhãn hiệu cám con cò đến các đại lý cấp 2 (trong đó có bà S), giữa bà N và bà S có thỏa thuận miệng về việc mua bán hàng hóa là cám con cò. Mặc dù, bà N và bà S khi tham gia giao dịch mua bán đều có mục đích lợi nhuận, nhưng lại không có đăng ký kinh doanh nên đây là tranh chấp dân sự và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

  • Thẩm quyền của Tòa án theo cấp xét xử

Thẩm quyền theo cấp xét xử của Tòa án là giới hạn do pháp luật quy định để Tòa án các cấp thực hiện chức năng giải quyết các tranh chấp thương mại.

Tòa án nhân dân cấp huyện có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa thuộc tranh chấp kinh doanh thương mại quy định tại khoản 1 Điều 30 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 theo thủ tục sơ thẩm. Đó là các tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa phát sinh trong hoạt động kinh doanh thương mại giữa bên bán và bên mua có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận. Luận văn: Thực tiễn về giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán.

Trường hợp có đương sự hoặc tài sản ở nước ngoài hoặc cần ủy thác tư pháp cho cơ quan đại diện nước CHXHCN Việt Nam ở nước ngoài, cho Tòa án, cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài thì thuộc thẩm quyền của Tòa Kinh tế Tòa án nhân dân cấp tỉnh.

Có thể lấy dẫn chứng, tại Bản án số 05/2019/KDTM-ST ngày 18/7/2019 về việc tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa giữa Transfar ZCo, ltd và Công ty TNHH Liên doanh NPT. Trong vụ tranh chấp này, nguyên đơn Transfar ZCo, ltd là pháp nhân nước ngoài và bị đơn Công ty TNHH Liên doanh NP T là doanh nghiệp có địa chỉ trụ sở tại tỉnh Bình Dương nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Đồng thời, Tòa Kinh tế Tòa án nhân dân cấp tỉnh giải quyết theo thủ tục phúc thẩm những vụ việc mà bản án, quyết định giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa chưa có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân cấp huyện bị kháng cáo, kháng nghị.

  • Thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ

Thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ là xác định chức năng giải quyết các vụ việc kinh doanh thương mại của Tòa án theo đơn vị hành chính lãnh thổ.

Theo Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm các tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa trong thương mại là Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc hoặc nơi bị đơn có trụ sở.

Các đương sự cũng có quyền tự thỏa thuận với nhau bằng văn bản yêu cầu Tòa án nơi nguyên đơn cư trú, làm việc hoặc có trụ sở giải quyết tranh chấp thương mại. Quy định này thể hiện sự mềm dẻo, linh hoạt của pháp luật, nhưng thỏa thuận lựa chọn phải lập thành văn bản mới có hiệu lực. Luận văn: Thực tiễn về giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán.

Như vậy, việc bên bán và bên mua thỏa thuận trong hợp đồng mua bán hàng hóa lựa chọn Tòa án có thẩm quyền giải quyết chỉ có hiệu lực khi thỏa mãn các điều kiện sau:

  • Phải là Tòa án nơi cư trú, làm việc hoặc có trụ sở của nguyên đơn.
  • Việc lựa chọn Tòa án giải quyết không trái với quy định về thẩm quyền quy định tại Điều 35 và 37 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, tức là phải đúng quy định về cấp Tòa án có thẩm quyền.

Do đó, trường hợp các bên lựa chọn trước Tòa án giải quyết trong hợp đồng mua bán hàng hóa mà không thỏa mãn các điều kiện trên thì không đúng quy định tại điểm b khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và Tòa án có quyền không chấp nhận sự lựa chọn trước đó. Trừ trường hợp trước khi khởi kiện, các bên có văn bản thỏa thuận lại phù hợp với các điều kiện trên.

Trường hợp thỏa thuận lựa chọn trước một Tòa án cụ thể giải quyết mà không đúng thì Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ án được xác định là Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc hoặc có trụ sở, trừ trường hợp nguyên đơn có quyền lựa chọn Tòa án giải quyết theo Điều 40 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Có thể lấy dẫn chứng, tại Bản án số 13/2022/KDTM-ST ngày 09/6/2022 về việc tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa giữa Công ty TNHH MTV sắt thép K và Công ty TNHH xây dựng và kỹ thuật H. Theo thỏa thuận tại Điều VI hợp đồng nguyên tắc ngày 20/11/2020, Công ty K và Công ty H thỏa thuận lựa chọn Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương là nơi có trụ sở của nguyên đơn để giải quyết khi phát sinh tranh chấp. Căn cứ quy định tại điểm b khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một.

Cũng là thỏa thuận lựa chọn trước Tòa án có thẩm quyền giải quyết tranh chấp trong hợp đồng mua bán hàng hóa, nhưng thỏa thuận của các bên lại không đúng quy định về cấp Tòa án có thẩm quyền nên Tòa án nơi bị đơn có trụ sở có thẩm quyền giải quyết tranh chấp, chứ không phải Tòa án theo sự lựa chọn của các bên trong hợp đồng. Qua xem xét Bản án số 30/2022/KDTM-ST ngày 20/9/2022 về việc tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa giữa Công ty cổ phần Tân Tấn L và Công ty TNHH SX TM bao bì giấy Phương H. Tại Điều V của hợp đồng nguyên tắc số 30/2022/HĐNT ngày 28/02/2022, Công ty Tân Tấn L và Công ty Phương H thỏa thuận khi phát sinh tranh chấp sẽ do Tòa kinh tế thuộc Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương giải quyết. Tuy nhiên, thỏa thuận của các bên không phù hợp quy định tại các Điều 35, 37 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 về thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân. Do bị đơn có địa chỉ trụ sở chính tại thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương nên căn cứ quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một. Luận văn: Thực tiễn về giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán.

  • Thẩm quyền của Tòa án theo sự lựa chọn của nguyên đơn

Trong một số trường hợp việc xác định thẩm quyền theo lãnh thổ gặp khó khăn như trong vụ án có nhiều bị đơn mà nơi bị đơn cư trú, làm việc hoặc có trụ sở ở một nơi khác nhau hoặc trường hợp Tòa án có thẩm quyền theo lãnh thổ giải quyết sẽ không thuận lợi cho nguyên đơn. Vì vậy, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định nguyên đơn có quyền lựa chọn Tòa án có thẩm quyền để giải quyết tranh chấp. Có thể xem xét trong một số trường hợp sau:

Nếu nguyên đơn không biết nơi cư trú, làm việc, trụ sở của bị đơn thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc, có trụ sở cuối cùng hoặc nơi bị đơn có tài sản để giải quyết. Quy định này là hợp lý, bởi trên thực tế có rất nhiều trường hợp mà nguyên đơn không biết rõ địa chỉ của bị đơn, do bị đơn đã bỏ trốn hoặc trốn tránh nghĩa vụ. Địa chỉ cuối cùng có thể căn cứ vào địa chỉ thường trú, tạm trú, xác nhận địa chỉ của cơ quan công an quản lý khu vực đối với cá nhân, địa chỉ trụ sở hoạt động gần nhất được công bố trên Cổng thông tin đăng ký doanh nghiệp quốc gia đối với tổ chức.

Nếu các bị đơn cư trú, làm việc, có trụ sở ở nhiều nơi khác nhau thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi một trong các bị đơn cư trú, làm việc, có trụ sở giải quyết tranh chấp.

Nếu tranh chấp phát sinh từ quan hệ hợp đồng mua bán hàng hóa thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi hợp đồng được thực hiện giải quyết. Có nghĩa khi các bên có quan hệ hợp đồng và có tranh chấp về hợp đồng mà nơi cư trú, làm việc, trụ sở của bị đơn khác với nơi hợp đồng được thực hiện, nguyên đơn có thể lựa chọn khởi kiện bị đơn tại Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc, có trụ sở hoặc Tòa án nơi hợp đồng được thực hiện. Trường hợp nguyên đơn lựa chọn Tòa án nơi hợp đồng được thực hiện giải quyết tranh chấp thì phải tôn trọng và thực hiện theo quyền định đoạt của nguyên đơn.

Trường hợp như tại Bản án số 03/2019/KDTM-ST ngày 07/5/2019 về việc tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa giữa Hợp tác xã H và Công ty TNHH P. Theo nội dung hợp đồng kinh tế số 02/HĐKT/2006 ngày 02/5/2016, Hợp tác xã H cung cấp vật liệu xây dựng cho Công ty TNHH P tại công trình Doanh trại Đoàn tác chiến điện tử miền Nam. Do tranh chấp giữa các bên phát sinh từ quan hệ hợp đồng nên căn cứ quy định tại điểm g khoản 1 Điều 40 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân thành phố Thủ Dầu Một.

Nếu tranh chấp phát sinh từ hoạt động của chi nhánh tổ chức thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi tổ chức có trụ sở hoặc có chi nhánh giải quyết. Vì vậy, khi có tranh chấp phát sinh từ hợp đồng mua bán hàng hóa của chi nhánh, nguyên đơn có thể lựa chọn Tòa án nơi nguyên đơn có trụ sở hoặc Tòa án nơi đặt chi nhánh giải quyết. Quy định này nhằm tạo điều kiện thuận tiện hơn cho nguyên đơn, để nguyên đơn có thể lựa chọn Tòa án nơi thuận tiện nhất để khởi kiện trong trường hợp trụ sở chính và chi nhánh không nằm trong một tỉnh, thành phố.

2.1.2. Trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa tại Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương Luận văn: Thực tiễn về giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán.

  • Trình tự, thủ tục sơ thẩm
  • Bước 1: Nộp đơn khởi kiện

Hồ sơ khởi kiện của vụ án tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa gồm có:

Đơn khởi kiện: hình thức và nội dung của đơn khởi kiện phải phù hợp quy định tại Điều 189 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

  • Các tài liệu chứng minh chủ thể trong quan hệ mua bán có tranh chấp.
  • Tài liệu chứng minh tư cách hợp pháp của người ký đơn khởi kiện.
  • Hợp đồng mua bán hoặc các văn bản có giá trị như hợp đồng, phụ lục hợp đồng.
  • Các tài liệu chứng minh cho việc thực hiện nghĩa vụ của các bên như phiếu giao nhận hàng, chứng từ thanh toán, biên bản xác nhận công nợ, các biên bản làm việc về công nợ tồn đọng.
  • Các tài liệu chứng minh việc vi phạm nghĩa vụ của một/các bên.
  • Các tài liệu, chứng cứ khác có liên quan đến nội dung tranh chấp.
  • Bản kê các tài liệu nộp kèm theo đơn khởi kiện.

Các tài liệu là văn bản, tài liệu tiếng nước ngoài đều phải được dịch sang tiếng Việt do cơ quan, tổ chức có chức năng dịch thuật, kèm theo bản gốc. Các văn bản, tài liệu khác nếu nộp bản sao phải có xác nhận sao y bản chính.

Hồ sơ khởi kiện có thể nộp trực tiếp tại Tòa án, hoặc nộp hồ sơ đến Tòa án thông qua dịch vụ bưu chính, hoặc nộp hồ sơ trực tuyến bằng hình thức điện tử thông qua cổng thông tin điện tử của Tòa án.

  • Bước 2: Tiếp nhận hồ sơ khởi kiện và xử lý đơn Luận văn: Thực tiễn về giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán.

Sau khi nhận đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo, nếu thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án thì Thẩm phán được phân công xử lý đơn xem xét có yêu cầu sửa đổi bổ sung đơn khởi kiện, hay chuyển đơn đến Tòa án có thẩm quyền hay không. Nếu đơn khởi kiện đủ điều kiện thụ lý thì Thẩm phán ra thông báo nộp tạm ứng án phí sơ thẩm cho đương sự và thụ lý vụ án sau khi đương sự nộp lại biên lai tạm ứng án phí. Trường hợp được miễn nộp hoặc không phải nộp tạm ứng án phí thì Tòa án tiến hành thụ lý sau khi xem xét đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo.

  • Bước 3: Thụ lý vụ án

Trong thời hạn ba ngày làm việc, kể từ ngày thụ lý vụ án, Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án phải thông báo bằng văn bản cho nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và Viện kiểm sát cùng cấp về việc Tòa án thụ lý vụ án 31. Người được thông báo có quyền yêu cầu Tòa án cho xem, ghi chép, sao chụp đơn khởi kiện và tài liệu kèm theo theo quy định pháp luật.

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được thông báo, người được thông báo phải nộp cho Tòa án văn bản ý kiến đối với yêu cầu của nguyên đơn và tài liệu, chứng cứ kèm theo, yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập. Trường hợp cần gia hạn thì người được thông báo phải có đơn gửi Tòa án nêu rõ lý do, nếu có căn cứ thì Tòa án chấp nhận gia hạn nhưng không quá 15 ngày.

  • Bước 4: Hòa giải và chuẩn bị xét xử

Thời hạn chuẩn bị xét xử đối với vụ án phát sinh từ hợp đồng mua bán hàng hóa trong thương mại là 02 tháng; nếu có tính chất phức tạp thì vụ án sẽ được gia hạn thêm 01 tháng. Trong thời hạn chuẩn bị xét xử, Tòa án ra một trong các quyết định: quyết định công nhận sự thỏa thuận, quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án, quyết định đình chỉ giải quyết vụ án, quyết định đưa vụ án ra xét xử. Luận văn: Thực tiễn về giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán.

Quá trình giải quyết, Tòa án phải tiến hành hòa giải cho các đương sự thương lượng, thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án, trừ những vụ án không được hòa giải hoặc không tiến hành hòa giải được. Nếu các đương sự thống nhất thỏa thuận về việc giải quyết toàn bộ vụ án thì Tòa án lập biên bản hòa giải thành và sau 07 ngày mà các bên không thay đổi ý kiến thì Tòa án ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự. Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi ban hành, không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.

Trường hợp các bên không thỏa thuận được thì Tòa án lập biên bản hòa giải không thành, hoàn thiện hồ sơ và ra quyết định đưa vụ án ra xét xử.

  • Bước 5: Phiên tòa sơ thẩm

Kể từ ngày có quyết định đưa vụ án ra xét xử, Tòa án phải mở phiên tòa xét xử sơ thẩm trong thời hạn 01 tháng, trường hợp có lý do chính đáng là 02 tháng. Phiên tòa sơ thẩm phải được tiến hành theo đúng thời gian, địa điểm được ghi trong quyết định xét xử hay trong thông báo mở lại phiên tòa.

Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có 01 Thẩm phán và 02 Hội thẩm nhân dân, trường hợp đặc biệt có 02 Thẩm phán và 03 Hội thẩm nhân dân.

Tại phiên tòa, Tòa án phải trực tiếp xác định các tình tiết của vụ án bằng cách hỏi và nghe lời trình bày của các đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự và những người tham gia tố tụng khác; xem xét, đánh giá các tài liệu, chứng cứ do đương sự cung cấp và Tòa án thu thập, nghe ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên trường hợp các phiên tòa có sự tham gia của Viện kiểm sát. Bản án được ban hành căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, việc hỏi tại phiên tòa và các chứng cứ đã được xem xét, kiểm tra tại Tòa án.

Trình tự phiên tòa sơ thẩm được tiến hành với các thủ tục: thủ tục bắt đầu phiên tòa, thủ tục tranh tụng tại phiên tòa (hỏi và tranh luận), nghị án và tuyên án.

Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày tuyên án, Tòa án phải gửi bản án cho đương sự và Viện kiểm sát cùng cấp.

1.3.2.2. Trình tự, thủ tục xét xử phúc thẩm

  • Bước 1: Kháng cáo, kháng nghị: Luận văn: Thực tiễn về giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán.

Đương sự có quyền làm đơn kháng cáo bản án, quyết định tạm đình chỉ, quyết định đình chỉ của Tòa án cấp sơ thẩm để yêu cầu Tòa án cấp trên xem xét lại theo thủ tục phúc thẩm.

Thời hạn kháng cáo bản án là 15 ngày; quyết định đình chỉ, tạm đình chỉ là 07 kể từ ngày tuyên án nếu đương sự có mặt tại phiên tòa; trường hợp đương sự vắng mặt thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án, quyết định hoặc từ ngày bản án, quyết định được niêm yết theo luật định.

Sau khi nhận đơn kháng cáo, Tòa án cấp sơ thẩm xem xét đơn hợp lệ thì ra thông báo nộp tạm ứng án phí phúc thẩm cho đương sự, nếu đương sự thuộc trường hợp được miễn hoặc không phải nộp thì Tòa án ra thông báo miễn nộp tạm ứng án phí phúc thẩm. Sau khi nhận được biên lai tạm ứng án phí phúc thẩm, Tòa án cấp sơ thẩm ra thông báo kháng cáo cho đương sự có liên quan và Viện kiểm sát biết.

Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp và cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị bản án, quyết định tạm đình chỉ, quyết định đình chỉ của Tòa án cấp sơ thẩm để yêu cầu Tòa án cấp trên xem xét lại theo thủ tục phúc thẩm.

Thời hạn kháng nghị bản án của Viện kiểm sát cùng cấp là 15 ngày; của Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp là 01 tháng kể từ ngày tuyên án. Nếu Kiểm sát viên không tham gia phiên tòa thì thời hạn kháng nghị tính từ ngày Viện kiểm sát cùng cấp nhận được bản án. Thời hạn kháng nghị quyết định đình chỉ, tạm đình chỉ của Viện kiểm sát cùng cấp là 07 ngày; của Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp là 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định.

Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị, Tòa án cấp sơ thẩm phải gửi hồ sơ vụ án, đơn kháng cáo, quyết định kháng nghị và tài liệu, chứng cứ kèm theo đến Tòa án cấp phúc thẩm.

  • Bước 2: Thụ lý vụ án Luận văn: Thực tiễn về giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán.

Sau khi nhận được hồ sơ vụ án bị kháng cáo, kháng nghị, Tòa án cấp phúc thẩm tiến hành thụ lý vụ án và thành lập Hội đồng xét xử phúc thẩm. Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có 03 Thẩm phán.

  • Bước 3: Chuẩn bị xét xử phúc thẩm:

Thời hạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm là 02 tháng kể từ ngày thụ lý vụ án.

Đối với vụ án có tính chất phức tạp hoặc do trở ngại khách quan, sự kiện bất khả kháng thì được gia hạn 01 tháng. Trong thời hạn chuẩn bị xét xử, Tòa án cấp phúc thẩm ra một trong các quyết định: quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án, quyết định đình chỉ giải quyết vụ án, quyết định đưa vụ án ra xét xử.

Tòa án cấp phúc thẩm chỉ xem xét lại phần của bản án sơ thẩm, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị hoặc có liên quan đến nội dung của kháng cáo, kháng nghị.

Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét quyết định như sau: (i) giữ nguyên bản án sơ thẩm; (ii) sửa một phần hoặc toàn bộ bản án sơ thẩm; (iii) hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ giải quyết vụ án; (iv) hủy bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ về cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết.

2.2. Tình hình giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa tại Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương Luận văn: Thực tiễn về giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán.

Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương thụ lý và giải quyết theo thủ tục sơ thẩm các tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa có yếu tố nước ngoài, giải quyết theo thủ tục phúc thẩm các vụ án tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa của cấp sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị.

Từ năm 2017 đến năm 2022, tổng số lượng án tranh chấp kinh doanh thương mại mà Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương đã giải quyết là 290/338 vụ việc, đạt tỷ lệ 85,80% (phụ lục 1).

Trong đó:

  • Án sơ thẩm: 96/124 vụ việc, đạt tỷ lệ 77,42%;
  • Án phúc thẩm: 194/214 vụ việc, đạt tỷ lệ 90,65%.

Trong số các vụ án kinh doanh thương mại, số lượng án tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa mà Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương đã giải quyết là 82/92 vụ việc, đạt tỷ lệ 89,13% (Phụ lục 2).

Trong đó:

  • Án sơ thẩm: 14/14 vụ việc, đạt tỷ lệ 100%;
  • Án phúc thẩm: 68/78 vụ việc, đạt tỷ lệ 87,18%

Từ các số liệu nêu trên, chúng ta thấy rằng số lượng án tranh chấp về hợp đồng mua bán hàng hóa chiếm 27,22% trong tổng số án kinh doanh thương mại mà Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương đã thụ lý, giải quyết. Như vậy, tranh chấp về hợp đồng mua bán hàng hóa cũng là một trong những tranh chấp khá phổ biến của các doanh nghiệp.

Đồng thời, với số liệu các vụ việc tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa được Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương giải quyết cho thấy hiệu quả giải quyết các tranh chấp này tại Tòa án rất cao, đạt tỷ lệ 89,13% (trong đó: án sơ thẩm đạt tỷ lệ 100% và án phúc thẩm đạt tỷ lệ 87,18%). Số lượng vụ án còn tồn khi tổng kết năm công tác và chuyển sang năm công tác mới không nhiều, chủ yếu là các vụ án được thụ lý mới và không có án quá hạn luật định.

Tuy nhiên, từ thực tiễn quá trình nhận đơn và giải quyết các vụ việc kinh doanh thương mại nói chung và tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa nói riêng tại Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương, có một số vướng mắc phát sinh như sau:

Khi nộp đơn khởi kiện, đương sự không cung cấp hồ sơ pháp lý của doanh nghiệp nên không xác định được người ký đơn khởi kiện có phải là đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp không; người đại diện theo ủy quyền nộp hồ sơ khởi kiện tại Tòa án nhưng không có văn bản ủy quyền nên Tòa án không nhận đơn hoặc phải ra thông báo sửa chữa, bổ sung đơn khởi kiện. Điều này dẫn đến mất một khoảng thời gian để đương sự bổ sung hồ sơ khởi kiện thì Tòa án mới thụ lý được.

Một số trường hợp là do cán bộ nhận đơn không xem xét kỹ thỏa thuận của các bên về Tòa án có thẩm quyền giải quyết tranh chấp nên sau khi nhận đơn phải tiến hành chuyển đơn đến Tòa án có thẩm quyền giải quyết.

Hay trong quá trình giải quyết, một bên đương sự cố tình vắng mặt, không cung cấp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án nhằm kéo dài thời gian giải quyết vụ án, Tòa án phải mất nhiều thời gian để xác minh, thu thập chứng cứ.

Có trường hợp là do Thẩm phán giải quyết xác định sai tư cách tố tụng, không tiến hành xác minh, đối chất nên bản án của cấp sơ thẩm bị Tòa án cấp trên hủy, sửa. Luận văn: Thực tiễn về giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán.

2.3. Thực tiễn giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa tại Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương

Qua thực tiễn công tác xét xử tại Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương, có thể thấy rằng các tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa thường gặp là tranh chấp do bên bán giao hàng không đúng chủng loại, số lượng, chất lượng, giao hàng không đúng thời gian thỏa thuận trong hợp đồng. Vi phạm nghĩa vụ của bên mua là vi phạm nghĩa vụ nhận hàng, thanh toán cho bên bán. Tuy nhiên, tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa chiếm số lượng nhiều nhất là tranh chấp việc bên mua vi phạm nghĩa vụ thanh toán đối với bên bán. Qua đó, cho thấy ý thức tuân thủ các điều khoản trong hợp đồng của các doanh nghiệp chưa cao. Vì lợi ích của doanh nghiệp mình mà một bên chấp nhận vi phạm hợp đồng, gây thiệt hại cho bên kia.

Sau đây là một số tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa được xét xử tại Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương:

Vụ án thứ nhất: Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 02/2022/KDTM- ST ngày 16/3/2022 về việc tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa giữa nguyên đơn Công ty W và bị đơn Công ty TNHH SX và TM S (phụ lục kèm theo).

  • Vụ án cho thấy:

Trong vụ án này, lỗi là do bên mua vi phạm nghĩa vụ thanh toán cho bên bán nên phát sinh tranh chấp.

Vụ án mang tính đơn giản, vì nguyên đơn đã cung cấp được những chứng cứ quan trọng để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình là hợp đồng mua bán, tờ khai hàng hóa nhập khẩu, hóa đơn thương mại, vận đơn, thư xác nhận thanh toán của bị đơn. Quá trình giải quyết, giữa nguyên đơn và bị đơn đều thừa nhận có giao dịch mua bán với nhau thông qua việc ký kết hợp đồng mua bán đã cung cấp tại Tòa án. Hai bên thống nhất số tiền hàng bị đơn còn nợ chưa thanh toán cho nguyên đơn. Nhưng bị đơn cho rằng hiện đang gặp khó khăn, yêu cầu chỉ trả cho nguyên đơn 50% khoản nợ gốc và yêu cầu không trả lãi nên hai bên không thỏa thuận được với nhau. Luận văn: Thực tiễn về giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán.

Tuy nhiên, điểm cần lưu ý trong vụ án này là về việc các bên lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp trong hợp đồng mua bán. Theo đó, trong hợp đồng, hai bên thỏa thuận chỉ định Trung tâm Trọng tài quốc tế Việt Nam tại Phòng Thương mại và Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh để giải quyết tranh chấp, nhưng tổ chức trọng tài này lại không tồn tại trên thực tế nên thuộc trường hợp “thỏa thuận trọng tài không thể thực hiện được”. Đối chiếu quy định tại Điều 6 Luật Trọng tài Thương mại năm 2010, Công ty W tiến hành khởi kiện Công ty S tại Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương là phù hợp quy định của pháp luật về trọng tài thương mại và các Điều 30, 35, và 37 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Qua đây, chúng ta thấy rằng mặc dù, khi giao kết hợp đồng mua bán, bên bán và bên mua đã thống nhất lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp phát sinh bằng trọng tài thương mại, chứ không phải bằng Tòa án. Trong trường hợp này, nếu một bên khởi kiện tại Tòa án thì Tòa án phải từ chối thụ lý. Tuy nhiên, do các bên không tìm hiểu về tổ chức trọng tài mình lựa chọn, dẫn đến tổ chức này không tồn tại trên thực tế và thỏa thuận của các bên về phương thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài không thể thực hiện được. Khi đó, để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, nguyên đơn phải tiến hành khởi kiện tại Tòa án nơi bị đơn có trụ sở. Từ đó, các doanh nghiệp khi đàm phán, giao kết hợp đồng, cần rút kinh nghiệm trong việc lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp phải đảm bảo đúng quy định pháp luật thì mới được chấp nhận.

Vụ án thứ hai: Bản án phúc thẩm số 21/2019/KDTM-PT ngày 30/8/2019 về việc tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa giữa nguyên đơn Công ty Cổ phần Sản xuất Thương mại B và bị đơn Công ty TNHH Sản xuất và Kinh doanh Inox. Do Bản án sơ thẩm số 05/2019/KDTM-ST ngày 25/4/2019 của Tòa án nhân dân thị xã A, tỉnh Bình Dương bị kháng cáo (phụ lục kèm theo).

  • Vụ án cho thấy: Luận văn: Thực tiễn về giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán.

Trong vụ án này, lỗi là do bên bán giao thiếu số lượng hàng hóa cho bên mua nên xảy ra tranh chấp.

Theo đó, bị đơn là bên bán đã vi phạm nghĩa vụ giao hàng về số lượng cho nguyên đơn là bên mua nên nguyên đơn khởi kiện yêu cầu hủy hợp đồng mua bán hai bên đã ký kết, buộc bị đơn trả lại số tiền cọc đã nhận của nguyên đơn và bồi thường thiệt hại. Tòa án cấp sơ thẩm nhận định tuy bị đơn không xuất trình được chứng cứ chứng minh việc nguyên đơn đồng ý cho bị đơn giao tiếp 01 bồn Inox còn lại vào 01 tuần sau đó, nhưng thực tế nguyên đơn đã đồng ý việc giao hàng thiếu này nên mới nhận 01 bồn Inox vào ngày 03/5/2018, mặc dù nguyên đơn được quyền từ chối nhận hàng và xác định nguyên đơn đã lựa chọn nhận phần đã giao, định thời hạn để bị đơn giao tiếp phần còn thiếu mà không lựa chọn quyền hủy bỏ hợp đồng tại thời điểm nhận hàng. Chính việc nhận phần đã giao thể hiện mục đích giao kết hợp đồng đã đạt được để bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là không hợp lý. Vì lời trình bày của bị đơn không được nguyên đơn thừa nhận, bị đơn không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh nên phải chịu trách nhiệm về việc không cung cấp được chứng cứ và yêu cầu của nguyên đơn là có cơ sở.

Tuy nhiên, Luật Thương mại năm 2005 lại không quy định về trách nhiệm của bên giao hàng không đúng số lượng trong trường hợp hai bên không thỏa thuận được về việc gia hạn thực hiện hợp đồng. Căn cứ quy định tại khoản 3 Điều 4 Luật Thương mại năm 2005, những trường hợp mà Luật Thương mại năm 2005 chưa có quy định điều chỉnh thì Bộ luật Dân sự sẽ được áp dụng. Từ đó, HĐXX cấp phúc thẩm đã áp dụng điểm c khoản 2 Điều 437 Bộ luật Dân sự năm 2015, sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc hủy hợp đồng mua bán do bị đơn giao thiếu số lượng hàng hóa cho nguyên đơn và buộc bị đơn hoàn trả tiền cọc cho nguyên đơn.

Đối với việc nguyên đơn đưa ra yêu cầu buộc bị đơn phải bồi thường thiệt hại, nhưng lại không cung cấp được tài liệu, chứng cứ để chứng minh nguyên đơn có thiệt hại từ hành vi giao thiếu số lượng hàng hóa của bị đơn nên căn cứ Điều 302 Luật Thương mại năm 2005, HĐXX cấp phúc thẩm đã bác yêu cầu bồi thường thiệt hại của nguyên đơn.

Việc bị đơn đưa ra ý kiến phản đối nguyên đơn về việc có gia hạn thời gian giao bồn Inox thứ hai, nhưng chỉ là trao đổi, thỏa thuận miệng, không có văn bản ghi nhận. Quá trình giải quyết, nguyên đơn không thừa nhận có việc gia hạn thực hiện hợp đồng nên ý kiến của bị đơn không được Tòa án chấp nhận. Vì vậy, các bên cần lưu ý, trong quá trình giao kết, thực hiện hợp đồng, các bên hạn chế việc thỏa thuận bằng lời nói, vì khi xảy ra tranh chấp sẽ không có giá trị chứng minh nếu bên kia không thừa nhận. Luận văn: Thực tiễn về giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán.

Vụ án thứ ba: Bản án phúc thẩm số 20/2020/KDTM-PT ngày 16/9/2020 về việc tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa giữa nguyên đơn Công ty N và bị đơn Công ty D. Do Bản án sơ thẩm số 01/2020/KDTM-ST ngày 04/01/2020 của Tòa án nhân dân thị xã C, tỉnh Bình Dương bị kháng cáo (phụ lục kèm theo).

  • Vụ án cho thấy:

Trong vụ án này, lỗi do bên mua vi phạm nghĩa vụ thanh toán cho bên bán nên bên bán khởi kiện yêu cầu bên mua thanh toán tiền hàng còn nợ. Quá trình giải quyết, bên mua xác định do bên bán vi phạm về việc không giao hàng cho bên mua theo thỏa thuận trong hợp đồng mua bán nên có yêu cầu phản tố buộc bên bán chịu phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại.

Về mức phạt vi phạm hợp đồng, bị đơn yêu cầu nguyên đơn phải chịu mức phạt 8% của toàn bộ giá trị hợp đồng số 775, vì cho rằng nguyên đơn đã vi phạm thực hiện hợp đồng, đơn phương chấm dứt hợp đồng số 775 mà không có sự đồng ý của bị đơn. Tuy nhiên, thực tế, nguyên đơn đã giao hàng hóa theo hợp đồng số 775 cho bị đơn, còn thiếu số lượng là 68,8 tấn bột mì chưa giao. Do đó, phần nghĩa vụ hợp đồng nguyên đơn vi phạm là đối với 68,8 tấn bột mì, chứ không phải số lượng 2.000 tấn như hợp đồng nguyên tắc hai bên đã ký.

Tại Điều 301 Luật Thương mại năm 2005 quy định mức phạt đối với vi phạm nghĩa vụ hợp đồng không quá 8% giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm. Vì vậy, việc bị đơn căn cứ theo số lượng hàng hóa trên hợp đồng số 775 đã ký với nguyên đơn để buộc nguyên đơn chịu phạt vi phạm là không có căn cứ. HĐXX cấp phúc thẩm đã không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn. Qua đây, các doanh nghiệp lưu ý rằng việc yêu cầu phạt vi phạm là hợp lý, nhưng yêu cầu này phải phù hợp với quy định của pháp luật, nếu các bên yêu cầu mức phạt vượt quá quy định sẽ không được Tòa án chấp nhận đối với phần yêu cầu vượt quá quy định.

Về yêu cầu bồi thường thiệt hại, tại Điều 302 Luật Thương mại năm 2005 quy định giá trị bồi thường thiệt hại bao gồm giá trị tổn thất thực tế, trực tiếp mà bên bị vi phạm phải chịu do bên vi phạm gây ra và khoản lợi trực tiếp mà bên bị vi phạm đáng lẽ được hưởng nếu không có hành vi vi phạm. Phía bị đơn cho rằng do hành vi không giao hàng của nguyên đơn, bị đơn phải mua hàng của các đơn vị khác chênh lệch giá cao hơn với số tiền là 3.011.215.000đồng nên yêu cầu nguyên đơn phải bồi thường số tiền nêu trên. Luận văn: Thực tiễn về giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán.

Tuy nhiên, bị đơn lại không chứng minh được có thiệt hại thực tế xảy ra từ hành vi vi phạm hợp đồng của nguyên đơn và chính hành vi vi phạm hợp đồng là nguyên nhân trực tiếp gây ra thiệt hại cho bị đơn. Do đó, yêu cầu bồi thường thiệt hại của bị đơn không được Tòa án chấp nhận.

Vụ án thứ tư: Bản án phúc thẩm số 05/2021/KDTM-PT ngày 29/01/2021 về việc tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa giữa nguyên đơn Công ty TNHH DV gỗ A và bị đơn Công ty TNHH SX TM DV B. Do Bản án sơ thẩm số 06/2020/KDTM-ST ngày 04/9/2020 của Tòa án nhân dân thị xã T, tỉnh Bình Dương bị kháng cáo (phụ lục kèm theo).

  • Vụ án cho thấy:

Trong vụ án này, bên bán khởi kiện yêu cầu bên mua thực hiện nghĩa vụ thanh toán. Tuy nhiên, quá trình thực hiện hợp đồng, bên bán giao hàng nhưng không yêu cầu bên mua ký nhận phiếu giao hàng, không đối chiếu số lượng hàng hóa, số tiền công nợ; còn bên mua tự ghi chép vào sổ theo dõi của mình số hàng hóa đã nhận của mỗi lần bên bán giao, dẫn đến số liệu của mỗi bên khác nhau, bên mua không thừa nhận số lượng hàng hóa như bên bán đưa ra, dẫn đến phát sinh tranh chấp.

Điểm lưu ý trong vụ án là về việc lựa chọn Tòa án có thẩm quyền giải quyết tranh chấp. Tại điểm 3.3 Điều 3 của Hợp đồng kinh tế năm 2018 và năm 2019, nguyên đơn và bị đơn thỏa thuận lựa chọn Tòa án nhân dân thành phố M nơi có trụ sở của nguyên đơn giải quyết tranh chấp phát sinh là phù hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Tuy nhiên, khi xảy ra tranh chấp, nguyên đơn đã khởi kiện bị đơn tại Tòa án nhân dân thị xã U là nơi có trụ sở của bị đơn. Trong trường hợp này, Tòa án nhân dân thị xã U phải chuyển hồ sơ vụ án đến Tòa án nhân dân thành phố M để giải quyết theo đúng thẩm quyền, nếu bị đơn không có ý kiến bằng văn bản thống nhất để Tòa án nhân dân thị xã U tiếp tục giải quyết tranh chấp. Do đó, việc Tòa án nhân dân thị xã U chỉ căn cứ duy nhất vào sự lựa chọn của nguyên đơn để thụ lý, giải quyết tranh chấp, mà không quan tâm gì đến ý kiến của bị đơn là không phù hợp, dẫn đến kháng cáo của bị đơn về việc yêu cầu hủy án sơ thẩm do vi phạm quy định về thẩm quyền đã được HĐXX cấp phúc thẩm chấp nhận.

Đồng thời, giữa nguyên đơn và bị đơn cũng không thống nhất về giá trị đơn hàng từng tháng, hai bên không đối chiếu, thống nhất số lượng hàng hóa. Mỗi bên đều cung cấp tài liệu, chứng cứ như biên bản xác nhận số lượng, sổ ghi chép nhận hàng nhưng không có chữ ký xác nhận của phía bên kia. Quá trình giải quyết, nguyên đơn không thừa nhận chứng cứ bị đơn cung cấp, bị đơn cũng không thừa nhận những chứng cứ nguyên đơn cung cấp. Do lời trình bày cũng như chứng cứ các bên cung cấp cần phải được làm rõ, đối chất để xác định giá trị từng đợt hàng để có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn hay không, nhưng Tòa án cấp sơ thẩm đã không thực hiện, dẫn đến cấp phúc thẩm không thể khắc phục, phải hủy án sơ thẩm để giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm.

Vì vậy, các bên cần lưu ý trong quá trình thực hiện hợp đồng mua bán, khi bên bán tiến hành giao nhận hàng hóa cần có biên bản giao nhận có xác nhận của bên mua, hàng tháng hai bên cần có đối chiếu số lượng hàng hóa, số tiền công nợ với nhau để bảo vệ quyền lợi cho các bên khi xảy ra tranh chấp.

2.4. Những vướng mắc, bất cập trong quá trình giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa tại Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương Luận văn: Thực tiễn về giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán.

2.4.1. Những vướng mắc, bất cập trong việc áp dụng các quy định pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa tại Tòa án

Mặc dù đã xây dựng được một hệ thống pháp luật đồng bộ và hoàn chỉnh, kể cả pháp luật về nội dung và pháp luật về tố tụng để giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại nói chung và tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa nói riêng, tuy nhiên, vẫn còn tồn tại một số vướng mắc, bất cập như sau:

Thứ nhất, là những khó khăn, vướng mắc trong việc áp dụng các quy định pháp luật về chủ thể tranh chấp kinh doanh, thương mại thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Bởi việc xác định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp có ý nghĩa quan trọng đối với việc xác định thẩm quyền của Tòa án, cũng như việc áp dụng pháp luật nội dung để giải quyết yêu cầu của các đương sự trong vụ án. Nếu xác định không đúng quan hệ pháp luật tranh chấp sẽ dẫn đến việc giải quyết và áp dụng pháp luật thiếu thống nhất và bất cập.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 30 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án là các tranh chấp giữa các cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận. Căn cứ vào quy định của pháp luật tố tụng dân sự, để được coi là tranh chấp kinh doanh, thương mại thì phải đáp ứng ba điều kiện: (i) phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại; (ii) giữa các cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh; (iii) đều có mục đích lợi nhuận.

Tuy nhiên, tại Điều 7 Luật Thương mại năm 2005 quy định Thương nhân có nghĩa vụ đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật. Trường hợp chưa đăng ký kinh doanh, thương nhân vẫn phải chịu trách nhiệm về mọi hoạt động của mình theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật. Có thể thấy việc có đăng ký kinh doanh, được cấp giấy chứng nhận đăng ký không nhất thiết là điều kiện bắt buộc, mà chỉ cần có hoạt động kinh doanh, thương mại trên thực tế. Khi phát sinh tranh chấp của các hoạt động trước khi đăng ký kinh doanh, pháp luật nội dung điều chỉnh quan hệ này là pháp luật kinh doanh, thương mại và quy định khác của pháp luật. Luận văn: Thực tiễn về giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán.

Đồng thời, khi xác định phạm vi điều chỉnh, Luật Thương mại năm 2005 đã quy định “Hoạt động không nhằm mục đích sinh lợi của một bên trong giao dịch với thương nhân thực hiện trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong trường hợp bên thực hiện hoạt động không nhằm mục đích sinh lợi đó chọn áp dụng luật này”. Theo quy định này có thể hiểu, Luật Thương mại không chỉ được áp dụng cho các hoạt động vì mục đích sinh lợi của các thương nhân, mà còn áp dụng cho cả những hoạt động không sinh lợi giữa một bên là thương nhân và một bên không phải là thương nhân. Trong trường hợp một bên hoạt động không nhằm mục đích lợi nhuận, giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa với một bên là thương nhân và chọn áp dụng Luật Thương mại thì khi xảy ra tranh chấp các bên có quyền khởi kiện đến Tòa án và được xác định là vụ án kinh doanh thương mại dù không phải hai bên đều có mục đích lợi nhuận.

Từ các quy định nêu trên, chúng ta có thể thấy rằng giữa pháp luật nội dung và pháp luật tố tụng có sự “chênh” nhau, cụ thể pháp luật nội dung áp dụng để giải quyết các tranh chấp là pháp luật kinh doanh, thương mại, nhưng tranh chấp giữa các bên theo pháp luật tố tụng có thể được xác định là tranh chấp dân sự. Như vậy, các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 về chủ thể tranh chấp kinh doanh, thương mại đã tạo ra sự mâu thuẫn với quy định tương ứng của pháp luật nội dung cụ thể là Luật Thương mại năm 2005.

Ngoài ra, Luật Thương mại năm 2005 còn quy định “Hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác”. Nhưng để xác định các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác là hoạt động cụ thể nào thì đến nay chưa có văn bản giải thích. Do đó, các tranh chấp trong lĩnh vực xây dựng, bảo hiểm có được xem là những hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác và có phải là đối tượng điều chỉnh của Luật Thương mại không thì cần được quy định cụ thể để tránh trường hợp khi giải quyết tranh chấp thương mại, các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền áp dụng pháp luật lúng túng khi giải quyết vấn đề này.

Thứ hai, đó là bất cập trong quy định về hình thức của hợp đồng mua bán hàng hóa. Hình thức của hợp đồng không chỉ là một trong những giá trị chứng cứ mà còn liên quan đến việc xác định thời điểm có hiệu lực của hợp đồng, vấn đề hợp đồng vô hiệu, hậu quả pháp lý khi hợp đồng vô hiệu về hình thức. Mặc dù, Luật Thương mại quy định về hình thức của hợp đồng mua bán hàng hóa có thể bằng lời nói, bằng hành vi cụ thể hay bằng văn bản, nhưng nhìn chung các quy định liên quan về hình thức hợp đồng chưa thể hiện được quan điểm pháp lý mang tính toàn diện và hệ thống.

Theo đó, hình thức hợp đồng bằng lời nói là có nhiều bất cập nhất. Bởi đối với những hợp đồng giao kết bằng lời nói khi có phát sinh tranh chấp các bên muốn khởi kiện tại Tòa án thì lại không cung cấp được tài liệu, chứng cứ nào chứng minh về việc có giao kết hợp đồng cũng như có việc vi phạm phạm hợp đồng. Nếu được Tòa án thụ lý thì quá trình giải quyết, các bên sẽ rất khó để chứng minh là đã có thỏa thuận giao kết hợp đồng mua bán với nhau cũng như các nội dung thỏa thuận khác, nếu một trong các bên không thừa nhận. Khi Tòa án yêu cầu cung cấp tài liệu, chứng cứ thì đương sự cũng không có để cung cấp. Điều này sẽ tạo rất nhiều khó khăn cho Thẩm phán trong quá trình xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ để giải quyết tranh chấp.

Thứ ba, quy định về chế tài phạt vi phạm, bồi thường thiệt hại trong hợp đồng mua bán hàng hóa chưa rõ chưa cụ thể, rõ ràng, gây khó khăn cho quá trình giải quyết tranh chấp giữa các bên. Luật Thương mại năm 2005 quy định phạt vi phạm là việc bên bị vi phạm yêu cầu bên vi phạm trả một khoản tiền phạt do vi phạm hợp đồng nếu trong hợp đồng có thỏa thuận. Bồi thường thiệt hại là việc bên vi phạm bồi thường những tổn thất do hành vi vi phạm hợp đồng gây ra cho bên bị vi phạm. Như vậy, phạt vi phạm chỉ có thể xảy ra trong trường hợp các bên đã có thỏa thuận cụ thể trong hợp đồng. Điều này có nghĩa phạt vi phạm là sự thỏa thuận giữa các bên nên một bên không thể yêu cầu bên kia phải chịu phạt vi phạm nếu các bên không có thỏa thuận trong hợp đồng vấn đề này. Luận văn: Thực tiễn về giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán.

Nếu các bên không thỏa thuận về điều khoản phạt hợp đồng thì khi xảy ra tranh chấp, bên bị vi phạm không được yêu cầu khoản tiền phạt mà chỉ có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại. Và, để được bồi thường thiệt hại, bên bị vi phạm phải chứng minh được những tổn thất, mức độ tổn thất do hành vi vi phạm hợp đồng gây ra. Nếu có vi phạm hợp đồng nhưng không có thiệt hại phát sinh thì cũng không thể yêu cầu bên vi phạm bồi thường thiệt hại. Đối với trường hợp các bên có thỏa thuận phạt vi phạm thì bên bị vi phạm có quyền áp dụng cả chế tài phạt vi phạm và buộc bồi thường thiệt hại.

Về giới hạn của mức phạt vi phạm, Luật Thương mại đã quy định tối đa không quá 8% giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm. Mục đích của việc quy định mức trần trong phạt vi phạm là nhằm giúp Nhà nước kiểm soát được các thỏa thuận phạt “trá hình” để thu lợi bất chính từ phía các chủ thể ký kết hợp đồng. Tuy nhiên, trong thực tiễn giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa, có một số trường hợp các bên thỏa thuận mức phạt vi phạm hợp đồng vượt quá quy định pháp luật, nhưng Luật Thương mại lại không quy định việc xử lý đối với trường hợp này. Hiện nay, vẫn tồn tại hai quan điểm: quan điểm thứ nhất cho rằng phần vượt quá sẽ không được tính và mức phạt được xác định là 8% giá trị phần nghĩa vụ bị vi phạm, điều khoản phạt vi phạm vẫn có hiệu lực; quan điểm thứ hai cho rằng điều khoản phạt vi phạm sẽ bị vô hiệu, không được áp dụng và bên bị vi phạm không có căn cứ để yêu cầu phạt vi phạm. Do đó, cần có quy định cụ thể để giải quyết trong trường hợp các bên thỏa thuận mức phạt vi phạm lớn hơn 8% giá trị phần nghĩa vụ bị vi phạm để việc áp dụng được thống nhất.

Thứ tư, không ít trường hợp các bên tham gia hợp đồng mua bán hàng hóa thỏa thuận không đúng về Tòa án có thẩm quyền giải quyết tranh chấp. Đối với tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa dù có giá trị từ hàng chục tỷ đồng trở lên thì theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đều thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện. Nhưng theo thói quen, các bên thường lựa chọn Tòa án nhân dân cấp tỉnh hoặc Tòa kinh tế Tòa án nhân dân cấp tỉnh để giải quyết tranh chấp là không đúng quy định. Hậu quả là nếu các bên không thỏa thuận đúng pháp luật về Tòa án có thẩm quyền giải quyết tranh chấp, thì sẽ căn cứ vào các quy định của pháp luật để xác định đúng Tòa án có thẩm quyền giải quyết tranh chấp, lúc đó các bên dễ bị động, lúng túng, bên nguyên đơn mất nhiều thời gian, công sức cho việc theo đuổi vụ kiện.

Thứ năm, hòa giải tranh chấp tại Tòa án chưa được thực hiện thống nhất. Pháp luật tố tụng chưa quy định cụ thể về số lần Thẩm phán phải tiến hành hòa giải vụ án trước khi đưa ra xét xử theo quy định, cũng như khoảng cách giữa các lần hòa giải là bao lâu, mà phụ thuộc vào Thẩm phán được phân công trực tiếp giải quyết vụ án. Qua thực tiễn xét xử tại Tòa án hai cấp tỉnh Bình Dương, các Thẩm phán đã vận dụng tương đối linh hoạt và hiệu quả các biện pháp hòa giải trong tố tụng để giải quyết các tranh chấp về hợp đồng mua bán hàng hóa. Nhưng vẫn còn tình trạng một số ít Thẩm phán ngại xét xử các vụ án có tính chất phức tạp, tiến hành hòa giải nhiều lần, làm kéo dài thời gian giải quyết vụ án, ảnh hưởng quyền lợi của đương sự. Nhiều trường hợp do đương sự không muốn thực hiện nghĩa vụ, cố tình vắng mặt trong các lần hòa giải, gây bức xúc, khó chịu cho phía bên kia, làm cho vụ án chuyển biến phức tạp, khó giải quyết. Luận văn: Thực tiễn về giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán.

Đồng thời, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định trong vụ án có nhiều đương sự mà có đương sự vắng mặt, nhưng các đương sự có mặt vẫn đồng ý tiến hành phiên họp và việc tiến hành phiên họp đó không ảnh hưởng đến quyền, nghĩa vụ của đương sự vắng mặt thì Thẩm phán tiến hành phiên họp giữa các đương sự có mặt. Tuy nhiên, hiện vẫn chưa có văn bản quy định cụ thể như thế nào là “không ảnh hưởng đến quyền, nghĩa vụ của đương sự vắng mặt”, việc đánh giá đương sự vắng mặt có bị ảnh hưởng và ảnh hưởng như thế nào đến quyền, nghĩa vụ của họ phụ thuộc vào đánh giá chủ quan của Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án.

Mặt khác, tại khoản 3 Điều 212 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định trong trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 210 của Bộ luật này mà các đương sự có mặt thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án thì thỏa thuận đó chỉ có giá trị đối với những người có mặt và được Thẩm phán ra quyết định công nhận thỏa thuận nếu không ảnh hưởng đến quyền, nghĩa vụ của đương sự vắng mặt. Trường hợp thỏa thuận của họ ảnh hưởng đến quyền, nghĩa vụ của đương sự vắng mặt thì thỏa thuận này chỉ có giá trị và được Thẩm phán ra quyết định công nhận nếu được đương sự vắng mặt tại phiên hòa giải đồng ý bằng văn bản. Có thể thấy quy định này rõ ràng có mâu thuẫn với quy định tại khoản 3 Điều 209 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 về việc Thẩm phán chỉ tiến hành phiên họp nếu không ảnh hưởng đến quyền, nghĩa vụ của đương sự vắng mặt.

Bên cạnh đó, dù có quy định việc ra quyết định công nhận sự thỏa thuận trong trường hợp đương sự vắng mặt đồng ý bằng văn bản, nhưng lại không quy định cách thức lấy ý kiến của đương sự vắng mặt, thời hạn ra quyết định tính từ thời gian nào, thời hạn 07 ngày để thay đổi ý kiến tính từ ngày các đương sự có mặt hòa giải thành hay từ ngày đương sự vắng mặt đồng ý bằng văn bản, dẫn đến nhiều cách hiểu khác nhau, cần có sự hướng dẫn để áp dụng thống nhất.

Thứ sáu, đó là những khó khăn trong việc tuân thủ thời hạn xét xử. Tại Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định về thời hạn chuẩn bị xét xử các loại án, trừ các vụ án được xét xử theo thủ tục rút gọn hoặc vụ án có yếu tố nước ngoài, thời hạn chuẩn bị xét xử vụ án về tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa trong thương mại là 02 tháng, kể từ ngày thụ lý vụ án. Đối với vụ án có tính chất phức tạp, hoặc do sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan thì Chánh án Tòa án có thể quyết định gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử nhưng không quá 01 tháng. Trong thời hạn 01 tháng kể từ có quyết định đưa vụ án ra xét xử, Tòa án phải mở phiên tòa, trường hợp có lý do chính đáng thì thời hạn này là 02 tháng.

Với quy định như trên thì thời giải quyết một vụ tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa quá ngắn so với thời hạn chuẩn bị xét xử một vụ án dân sự hay hôn nhân gia đình. Nếu trong vụ án, đương sự không hợp tác, không có mặt để tham gia tố tụng khi được triệu tập. Ngoài lý do không nhận được văn bản triệu tập của Tòa án, còn rất nhiều trường hợp là đương sự không còn ở địa phương hoặc đương sự cố tình lẩn tránh không hợp tác, không cung cấp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án. Hay xuất phát từ sự hiểu biết pháp luật của các chủ thể khi tham gia giao kết hợp đồng còn hạn chế nên khi xảy ra tranh chấp không tự cung cấp được chứng cứ, phải yêu cầu Tòa án thu thập từ các cơ quan, tổ chức khác. Và, tính phức tạp trong nội dung tranh chấp cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến việc giải quyết vụ án bị kéo dài, quá hạn luật định. Trong các trường hợp này, Tòa án cần có nhiều thời gian để tống đạt hoặc niêm yết các văn bản tố tụng cho đương sự, thời gian để xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ, chờ các cơ quan, tổ chức đang lưu giữ tài liệu, chứng cứ cung cấp. Như vậy, việc quy định về thời hạn chuẩn bị xét xử ngắn cũng cho thấy sự bất cập, gây khó khăn cho Tòa án khi giải quyết tranh chấp.

Thứ bảy, khó khăn trong việc thu thập, đánh giá chứng cứ. Xuất phát từ nguyên tắc đương sự có nghĩa vụ chứng minh, việc cung cấp tài liệu, chứng cứ vừa là quyền vừa là nghĩa vụ của đương sự. Tòa án chỉ tiến hành thu thập tài liệu, chứng cứ khi đương sự không thể thu thập được và có đơn yêu cầu Tòa án thu thập. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy dù phần lớn các đương sự trong vụ án nhận thức được tầm quan trọng, ý nghĩa của việc cần và nên cung cấp tài liệu, chứng cứ để Tòa án xem xét trong quá trình giải quyết thì vẫn còn không ít trường hợp đương sự cho rằng việc cung cấp tài liệu, chứng cứ là nghĩa vụ của đương sự bên kia khi đưa ra yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập hay ý kiến phản đối mà không phải nghĩa vụ của mình. Có trường hợp là do một bên không muốn thực hiện nghĩa vụ nên cố tình không cung cấp tài liệu, chứng cứ, gây khó khăn cho quá trình giải quyết vụ án. Từ đó, dẫn đến nhiều trường hợp đương sự đang nắm giữ các tài liệu, chứng cứ quan trọng, có ý nghĩa quyết định nhưng lại không cung cấp cho Tòa án. Chỉ đến khi nhận thấy phán quyết của Tòa ảnh hưởng đến quyền lợi của mình thì mới kháng cáo và xuất trình chứng cứ tại Tòa án cấp trên. Trong nhiều vụ án, chính việc xuất trình chứng cứ mới ở giai đoạn tố tụng sau làm cho bản án, quyết định trước đó bị hủy, sửa, nên vụ án bị kéo dài, gây lãng phí về thời gian, công sức của đương sự và cả cơ quan nhà nước. Luận văn: Thực tiễn về giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán.

Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đã quy định cơ quan, tổ chức, cá nhân trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm cung cấp đầy đủ và đúng thời hạn các tài liệu, chứng cứ mà họ đang lưu giữ, quản lý khi có yêu cầu của đương sự, Tòa án, Viện kiểm sát và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc cung cấp tài liệu, chứng cứ đó. Trường hợp không cung cấp được phải thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do. Cơ quan, tổ chức, cá nhân không thực hiện yêu cầu của Tòa án mà không có lý do chính đáng thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm có thể bị xử phạt hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.

Tuy nhiên, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 không quy định chế tài xử phạt cụ thể mà chỉ ghi nhận chịu theo quy định của pháp luật. Thực tế có rất nhiều trường hợp, Tòa án ban hành quyết định yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu, chứng cứ để Tòa án giải quyết vụ án đúng thời hạn luật định, nhưng các chủ thể này không cung cấp, cung cấp không đầy đủ hay cung cấp quá thời hạn luật định. Từ đó, làm cho vụ án kéo dài, ảnh hưởng đến trình tự tố tụng. Hơn nữa, pháp luật cũng không quy định cụ thể “lý do chính đáng” là trường hợp nào dẫn đến có thể áp dụng tùy nghi và Thẩm phán thiếu cơ sở để xử lý hành vi trên.

2.4.2. Vấn đề năng lực của Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân còn hạn chế

  • Vấn đề năng lực của Thẩm phán

Thẩm phán là chức danh trong hệ thống Tòa án do cá nhân được bổ nhiệm theo quy định nhằm thực hiện nhiệm vụ xét xử vụ án và giải quyết những công việc khác thuộc thẩm quyền của Tòa án. Chức danh Thẩm phán ở Việt Nam hiện nay được bổ nhiệm chung và chưa phân biệt Thẩm phán xét xử hình sự, dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh thương mại hay hành chính. Do Thẩm phán được phân công giải quyết tất cả các loại án nên không có điều kiện đi sâu nghiên cứu, nâng cao trình độ chuyên môn, nhất là các vụ án tranh chấp về kinh doanh thương mại thường rất khó và phức tạp.

Tại Tòa án nhân dân hai cấp tỉnh Bình Dương dù được thành lập các Tòa chuyên trách, nhưng tùy từng thời điểm các Thẩm phán có sự luân chuyển từ Tòa này qua Tòa khác trong một thời gian nhất định làm ảnh hưởng đến công tác chuyên môn của Thẩm phán. Luận văn: Thực tiễn về giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán.

Với nhiệm kỳ đầu tiên được bổ nhiệm của Thẩm phán có thời hạn là 05 năm. Khi hết nhiệm kỳ, Thẩm phán phải làm hồ sơ để được xem xét tái bổ nhiệm nhiệm kỳ thứ hai. Việc có nhiều bản án bị hủy, sửa sẽ kéo theo thời gian tái bổ nhiệm bị chậm lại. Điều này làm cho các Thẩm phán mới được bổ nhiệm cảm thấy e ngại, không dám kiên quyết, mạnh dạn khi xét xử, vì sợ không được tái bổ nhiệm lại, dẫn đến tình trạng vụ án giải quyết bị kéo dài hoặc án bị quá hạn.

Đồng thời, số lượng và chất lượng của Thẩm phán được xem là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến hiệu quả xét xử của Tòa án. Một số Tòa án cấp huyện của tỉnh Bình Dương do thiếu Thẩm phán nên bị quá tải về công việc, số lượng án tồn đọng tăng lên. Do khối lượng công việc quá nhiều nên xảy ra nhiều sai sót không đáng có về nghiệp vụ. Việc thiếu Thẩm phán cũng gây ra các khó khăn cho công tác quy hoạch, đào tạo của ngành, công việc nhiều, người ít nên nhiều nơi không thể cử cán bộ đi đào tạo, bồi dưỡng theo kế hoạch, quy hoạch.

Tại Tòa án nhân dân hai cấp tỉnh Bình Dương, về tình hình biên chế Thẩm phán hiện nay đã tương đối ổn định hơn so với thời gian trước đây. Trình độ và năng lực của Thẩm phán đảm bảo được mặt bằng chung về yêu cầu cơ bản đối với công tác trong lĩnh vực tư pháp. Về nhân sự, tính đến thời điểm hiện nay, số lượng Thẩm phán lại nhiều hơn số lượng Thư ký rất nhiều. Đây là tình hình chung của cả hệ thống ngành Tòa án. Vì thực hiện theo chủ trương tinh giản biên chế của Trung ương, Tòa án không tuyển thêm cán bộ công chức và người lao động. Số lượng Thư ký hiện có sau khi đi học lớp nghiệp vụ xét xử được xem xét bổ nhiệm Thẩm phán, dẫn đến số lượng Thư ký giảm thêm. Trung bình mỗi Thư ký phải giúp việc cho 03 đến 04 Thẩm phán nên Thư ký chỉ có thể hỗ trợ Thẩm phán trong công tác đo đạc, định giá, ghi biên bản phiên tòa. Thẩm phán phải làm những công việc của Thư ký trong quá trình xây dựng hồ sơ, chuẩn bị xét xử như trực tiếp đi xác minh, tự soạn thảo, phát hành các văn bản tố tụng và tống đạt đến đương sự. Do đó, Thẩm phán bị ảnh hưởng rất lớn đến thời gian nghiên cứu hồ sơ vụ án, các văn bản pháp luật chuyên ngành để giải quyết án. Luận văn: Thực tiễn về giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán.

Đối với các tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa, việc giải quyết nhanh chóng, kịp thời vụ án sẽ tạo được niềm tin nơi doanh nghiệp. Muốn vậy, Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án phải có trình độ chuyên môn cao, am hiểu sâu sắc về hợp đồng. Đối với các hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế đòi hỏi về trình độ ngoại ngữ. Nhưng trên thực tế, rất ít Thẩm phán có thể tự mình độc lập giao tiếp và nghiên cứu các văn bản bằng tiếng nước ngoài. Cho nên, khi giải quyết vụ án đòi hỏi phải nghiên cứu, xem xét các tài liệu bằng tiếng nước ngoài thì Thẩm phán thường tỏ ra lúng túng, lo lắng.

Mặt khác, chế độ đãi ngộ về vật chất và tinh thần đối với Thẩm phán còn thấp, chưa tương xứng với tính chất đặc thù công việc và phải chịu trách nhiệm cao của Thẩm phán. Nhìn chung đời sống của các Thẩm phán vẫn còn rất nhiều khó khăn. Với mức lương thực tế lãnh hàng tháng chưa đủ để nuôi sống bản thân và gia đình. Điều này dễ làm phát sinh tiêu cực đối với những người không vững vàng. Sự bất cập trong chính sách tiền lương và chế độ đãi ngộ khác cũng khiến cho việc điều động, biệt phái Thẩm phán về những vùng sâu, vùng xa gặp không ít khó khăn. Nhiều Thẩm phán không chịu nổi áp lực nên xin nghỉ việc để tìm kiếm công việc khác có thu nhập cao hơn và không phải chịu trách nhiệm nhiều.

  • Vấn đề năng lực của Hội thẩm nhân dân

Trong Hội đồng xét xử, ngoài Thẩm phán thì phải kể đến vai trò của Hội thẩm nhân dân. Pháp luật quy định Hội thẩm nhân dân phải có mặt trong các phiên xét xử của Tòa án nhằm đảm bảo vụ án được xét xử công bằng, nhân dân được thể hiện ý kiến của mình trong các phiên xét xử.

Theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự, Hội thẩm nhân dân chiếm đa số (2/3) trong Hội đồng xét xử, ngang quyền với Thẩm phán khi biểu quyết những vấn đề thuộc thẩm quyền của Hội đồng xét xử.

Tuy nhiên, không phải Hội thẩm nhân dân nào cũng được đào tạo bài bản về pháp luật, lại thiếu kỹ năng, nghiệp vụ xét xử và không đủ thời gian nghiên cứu hồ sơ như Thẩm phán. Do đó, có một số Hội thẩm nhân dân tỏ ra bị động, lúng túng khi tham gia xét xử. Và tình trạng một số Hội thẩm nhân dân có tư tưởng lệ thuộc vào ý kiến, quyết định của Thẩm phán, nhất là việc đánh giá, nhận định và đưa ra phán quyết.

Hầu hết các vụ án tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa có tính chất phức tạp, đòi hỏi người giải quyết phải có kiến thức, sự am hiểu về các quy định pháp luật liên quan đến mua bán hàng hóa. Trong khi thành phần Hội thẩm nhân dân chủ yếu là cán bộ, công chức, viên chức đang công tác, cán bộ hưu trí. Khi tham gia xét xử, Hội thẩm xem xét các vấn đề chủ yếu bằng kinh nghiệm sống là chính, chứ không hoàn toàn dựa trên cơ sở pháp luật thực định nên khó có đủ điều kiện để đánh giá hết các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ để có quyết định đúng đắn về vụ án. Chính điều này làm ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả và chất lượng xét xử.

Hơn nữa, một số chế độ, chính sách đối với Hội thẩm nhân dân chưa phù hợp, chưa tương xứng với vị trí, vai trò của Hội thẩm nhân dân.

2.4.3. Về cơ sở vật chất tại Tòa án Luận văn: Thực tiễn về giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán.

Trụ sở Tòa án xây dựng đã lâu năm, thời điểm xây dựng là so với lượng công việc và lượng người làm việc ít. Hiện nay, số lượng án mỗi năm càng tăng, biên chế cũng tăng rất nhiều so với thời điểm xây dựng, dẫn đến thiếu chỗ ngồi và phòng làm việc. Vào những thời điểm cao điểm như tháng 9 là tổng kết của ngành Tòa án thì hội trường xét xử luôn trong tình trạng quá tải nên phiên tòa không thể tiến hành đúng như thông báo, các đương sự phải chờ đợi lâu.

Hầu hết các trang thiết bị được trang bị cho cán bộ, công chức đã từ lâu và có tần suất sử dụng cao do lượng án thụ lý, xét xử lớn; nhiều tài sản đã hết khấu hao, hư hỏng, xuống cấp, gây khó khăn cho Tòa án trong việc thực hiện nhiệm vụ được giao.

Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của Tòa án chưa đáp ứng yêu cầu công tác của Tòa án. Về nguồn nhân lực về công nghệ thông tin còn thiếu, chủ yếu là kiêm nhiệm, không ổn định nên ảnh hưởng rất lớn đến công tác triển khai ứng dụng công nghệ thông tin.

Có thể thấy qua các phiên tòa trực tuyến, đôi lúc chất lượng đường truyền, âm thanh, hình ảnh tại phiên tòa xét xử trực tuyến còn hạn chế, dẫn đến mất nhiều thời gian cho việc xét xử.

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2

Trong chương 2 của luận văn, tác giả đã tìm hiểu, phân tích về thẩm quyền xét xử và trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa tại Tòa án.

Từ thực trạng áp dụng pháp luật trong quá trình giải quyết tranh chấp tại Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương, chúng ta thấy rằng hiện nay, số lượng các vụ án tranh chấp kinh doanh thương mại nói chung và tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa nói riêng ngày càng gia tăng. Nhiều vụ án có tính chất phức tạp, đương sự không hợp tác, gây khó khăn cho quá trình giải quyết. Nhất là đối với các vụ án tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế yêu cầu trình độ chuyên môn của Thẩm phán rất cao.

Đồng thời, những vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật làm cho người áp dụng pháp luật còn lúng túng, hiểu sai, dẫn đến áp dụng không đúng quy định pháp luật, ảnh hưởng quyền và lợi ích của các bên.

Tuy nhiên, với sự cố gắng, nỗ lực của các Thẩm phán Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương thì các vụ án vẫn được giải quyết đúng thời hạn, đảm bảo công bằng, khách quan, đúng pháp luật. Luận văn: Thực tiễn về giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:  

===>>> Luận văn: Giải pháp về giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464