Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Thực tiễn bảo vệ quyền phụ nữ bằng pháp luật hình sự hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Thực tiễn bảo vệ quyền phụ nữ bằng pháp luật hình sự ở Việt Nam dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
Nghiên cứu về thực tiễn bảo vệ quyền phụ nữ bằng pháp luật hình sự ở Việt Nam đòi hỏi những đánh giá đồng bộ cả trên phương diện thực tiễn pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật. Do đó, nhiệm vụ đặt ra đối với Chương 3 của luận án là phân tích, đánh giá những quy định nhằm bảo vệ quyền phụ nữ trong pháp luật hình sự thực định ở Việt Nam cũng như việc áp dụng các quy định này để bảo vệ quyền phụ nữ trên thực tế.
3.1. Bảo vệ quyền phụ nữ bằng pháp luật hình sự ở Việt Nam trong lịch sử lập pháp
Các quy định bảo vệ quyền phụ nữ trong pháp luật hình sự Việt Nam hiện nay không phải là những ý tưởng lập pháp hoàn toàn mới mẻ mà là sự kế thừa, rút kinh nghiệm từ cả quá trình phát triển lâu dài trong lịch sử pháp luật hình sự nước ta. Do đó, nghiên cứu sự phát triển của vấn đề nữ quyền trong các giai đoạn dưới đây của lịch sử pháp luật hình sự Việt Nam là một cơ sở quan trọng cho việc đánh giá các quy định pháp luật hình sự hiện hành về vấn đề này.
3.1.1. Giai đoạn trước năm 1945
Nghiên cứu pháp luật hình sự Việt Nam giai đoạn trước năm 1945 về lý thuyết là đề cập đến pháp luật hình sự nước ta từ thế kỷ thứ X khi Ngô Quyền đánh tan quân Nam Hán, giành độc lập dân tộc cho đến trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Tuy nhiên, trong suốt thời kỳ từ thế kỷ thứ X đến thế kỷ thứ XV, mặc dù sử sách có ghi nhận về sự hiện diện của các quy định pháp luật hình sự thành văn ở nước ta nhưng thực tế là nội dung các quy định đó đến nay đã thất truyền. Hơn nữa, theo các nghiên cứu lịch sử, pháp luật hình sự giai đoạn này chủ yếu tập trung bảo vệ triều đình phong kiến, nền sản xuất nông nghiệp và chế độ bóc lột tô thuế [78, tr.12-24].
Từ thế kỷ XV đến trước năm 1945, ngoài quy định pháp luật của nhà nước phong kiến Việt Nam, ở nước ta còn có giai đoạn tồn tại các quy định pháp luật được ban hành dưới chế độ cai trị của thực dân Pháp. Xét về mặt khoa học, các quy định này cũng có những giá trị hợp lý nhất định, cần nghiên cứu để phục vụ công tác lập pháp hiện nay. Tuy nhiên, “nó thực sự là công cụ để thực dân Pháp và bọn tay sai duy trì chế độ thực dân xâm lược và đàn áp dã man nhân dân ta” [78, tr.79] nên không có nhiều giá trị trên phương diện nữ quyền. Do đó, thực tiễn bảo vệ quyền phụ nữ bằng pháp luật hình sự ở Việt Nam trước năm 1945 sẽ được đánh giá tập trung trên hai thành tựu lập pháp quan trọng nhất của các nhà nước phong kiến Việt Nam là: Quốc triều hình luật của nhà Lê và Hoàng Việt luật lệ của nhà Nguyễn.
3.1.1.1. Các quy định bảo vệ quyền phụ nữ trong Quốc triều hình luật
Quốc triều hình luật (hay Bộ luật Hồng Đức) là bộ luật hình sự chính thống và quan trọng nhất của triều đại nhà Lê ở nước ta (1428 -1789) [104, tr.5]. Bảo vệ quyền phụ nữ được các nhà nghiên cứu cho là một trong những điểm đặc sắc nhất của Bộ luật này, “là chính sách pháp luật rất tiến bộ, đậm tính nhân văn, tân kỳ vượt lên trên những quan niệm, trật tự xã hội đương thời, vượt xa các bộ luật phong kiến trước đó, cùng thời và kể cả sau này” [62, tr.199].
Để bảo vệ quyền con người đặc thù của phụ nữ – quyền thực hiện thiên chức làm mẹ, Bộ luật Hồng Đức trừng trị đặc biệt nghiêm khắc hành vi gây tổn hại đến cơ quan sinh sản hoặc việc thực hiện chức năng sinh sản: Điều 2 của Chương thứ 9 “Đấu tụng” trong Bộ luật quy định việc đánh người gây sảy thai hay làm hỏng cơ quan sinh sản của người khác là tình tiết tăng nặng định khung hình phạt khiến người phạm tội phải chịu những khung hình phạt nghiêm khắc nhất của tội đánh người [104, tr.205]. Theo đó, đánh người làm “đọa thai” (sảy thai) thì người phạm tội phải chịu hình phạt là đánh 90 trượng, thích chữ vào mặt, bắt đeo xiềng xích, đi lưu đày [104, tr.40]. Trường hợp hủy hoại dương vật, âm vật của người khác thì phải chịu khung hình phạt cao nhất của tội này là “giảo” – tức là tử hình bằng cách thắt cổ [104, tr.40]. Đối với cả hai trường hợp này người phạm tội đều phải bồi thường thiệt hại cho nạn nhân với mức bồi thường cao hơn hẳn các loại thương tật khác. Bên cạnh đó, Điều 23 Chương “Đoán ngục” cũng loại trừ việc thi hành hình phạt tử hình hoặc hình phạt roi (xuy hình) đối với phụ nữ mang thai, phụ nữ sinh con chưa đủ 100 ngày, đồng thời tội phạm hóa hành vi của quan lại thi hành những hình phạt này trong các điều kiện trên [104, tr.281]. Tất nhiên, quy định này chủ yếu bảo vệ tính mạng, sự an toàn của thai nhi, trẻ sơ sinh mà người phụ nữ bị kết án đang mang thai hoặc mới sinh ra nhưng nó cũng gián tiếp bảo vệ thiên chức làm mẹ. Luận văn: Thực tiễn bảo vệ quyền phụ nữ bằng pháp luật hình sự.
Để bảo vệ quyền tự do và an toàn tình dục của phụ nữ, Bộ luật Hồng Đức quy định tội hiếp dâm với hai loại hình phạt nghiêm khắc nhất là lưu đày hoặc tử hình ở Điều 3 trong Chương “Thông gian”. Người phạm tội hiếp dâm còn phải chịu hình phạt bổ sung là “tiền tạ”. Đặc biệt là Bộ luật quy định hành vi gian dâm với con gái dưới 12 tuổi dù người con gái có thuận tình thì vẫn xử như tội hiếp dâm [104, tr.183]. Đây là quy định tiến bộ mà các đạo luật hình sự về sau vẫn kế thừa.
Để bảo vệ quyền tự do hôn nhân của phụ nữ, Chương “Hộ hôn” của Bộ luật này tội phạm hóa một số hành vi như: người chồng đã bỏ vợ mà lại ngăn cản người khác lấy vợ cũ (Điều 25); người không phải là ông bà cha mẹ mà ép gả phụ nữ góa chồng cho người khác (Điều 37); người quyền thế mà ức hiếp để lấy con gái của dân thường (Điều 55) [104, tr.146, 150 và 155]. Mặc dù những chống lại một số hành vi xâm phạm quyền tự do hôn nhân của phụ nữ nhưng những quy định này lại ngầm thừa nhận việc ông bà, cha mẹ cưỡng ép con gái, cháu gái kết hôn là hợp pháp bởi theo quan niệm của thời phong kiến, quyền định đoạt hôn nhân không thuộc về cá nhân kết hôn mà là “cha mẹ đặt đâu con nằm đấy”.
Tuy có nhiều quy định tiến bộ nhằm bảo vệ quyền phụ nữ chống lại sự xâm hại của tội phạm nhưng Bộ luật Hồng Đức vẫn không thể tránh khỏi những hạn chế do thời đại. Ngay trong khi tội phạm hóa một số hành vi bạo lực gia đình vốn chủ yếu nhằm vào phụ nữ Bộ luật này lại thể hiện sự đối xử bất bình đẳng giữa nam giới với phụ nữ hay phân biệt đối xử giữa những phụ nữ ở địa vị khác nhau. Chẳng hạn như quy định người vợ đánh chồng gây thương tích hoặc thiệt hại tính mạng phải chịu những hình phạt hà khắc như lưu đày, thắt cổ nhưng ngược lại, chồng đánh vợ thương tích hoặc đánh chết vợ lại được xử nhẹ hơn đánh người thường ba bậc; đánh vợ lẽ thì được xử nhẹ hơn đánh vợ cả hai bậc (Điều 17, 18 Chương “Đấu tụng”) [104, tr.213-214]. Sở dĩ đạo luật giàu tính nhân văn này còn tồn tại những bất công sâu sắc đối với phụ nữ như vậy là bởi vì nó ra đời dưới chế độ phong kiến, nơi ngự trị của tư tưởng “nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô” và chế độ đa thê, quan hệ thứ bậc bất bình đẳng giữa người với người.
3.1.1.2. Các quy định bảo vệ quyền phụ nữ trong Hoàng Việt luật lệ
Hoàng Việt luật lệ được ban hành năm 1812 dưới triều đại vua Gia Long của vương triều nhà Nguyễn là một bộ luật khá đồ sộ với 22 quyển, 398 điều. Mặc dù bị cho là sao chép cứng nhắc pháp luật Trung Quốc [78, tr.64] nhưng Bộ luật này cũng kế thừa và phát triển một số quy định tốt đẹp trong việc bảo vệ quyền phụ nữ của pháp luật hình sự Việt Nam các thời kỳ trước đó.
Để bảo vệ thiên chức làm mẹ của người phụ nữ, Hoàng Việt luật lệ cũng quy định trường hợp đánh người đến trụy thai (sảy thai) hoặc hủy hoại cơ quan sinh sản của người khác là những trường hợp tăng nặng định khung hình phạt của tội “đấu ẩu” (đánh nhau) tại Điều 1 Chương “Ẩu đả” (phần thượng). Nếu hủy hoại âm hộ của đàn bà dẫn đến mất khả năng sinh sản thì người phạm tội không những chịu mức hình phạt cao nhất của tội này là lưu đày mà còn bị đánh 100 trượng và phải chia nửa tài sản cho nạn nhân [103, tr.735]. Luận văn: Thực tiễn bảo vệ quyền phụ nữ bằng pháp luật hình sự.
Hoàng Việt luật lệ cũng kế thừa quy định của Bộ luật Hồng Đức trong việc quy định là tội phạm hành vi của quan lại thi hành hình phạt tử hình đối với phụ nữ mang thai, phụ nữ sinh con chưa đủ 100 ngày. Thêm vào đó, Bộ luật này còn tội phạm hóa cả hành vi dùng hình tra khảo đối với những người phụ nữ phạm tội đang trong tình trạng kể trên. Việc dùng hình cho dù không gây hậu quả vẫn cấu thành tội phạm, nếu gây hậu quả làm người phụ nữ trụy thai thì phải chịu hình phạt giảm hơn so với tội người thường đánh nhau ba mức, làm người phụ nữ bị tra khảo chết thì chịu hình phạt 100 trượng, đồ (lao dịch) 3 năm [103, tr.976-977].
Nhằm bảo vệ quyền tự do và an toàn tình dục của phụ nữ, Hoàng Việt luật lệ có quy định khá tương đồng với Bộ luật Hồng Đức nhưng cụ thể hơn. Hành vi hiếp dâm bị Bộ luật tội phạm hóa dưới tên là “cưỡng gian” ở Điều 1 Chương “Phạm gian” với mô tả hành vi khách quan rõ ràng. Yếu tố sử dụng bạo lực được quy định là cấu thành bắt buộc: “tội cưỡng gian tất phải có hành trạng cường bạo…”. Riêng trường hợp thông gian với con gái dưới 12 tuổi thì dù nạn nhân thuận tình vẫn bị coi là cưỡng gian. Hình phạt đối với tội cưỡng gian được chia thành nhiều mức hình phạt khác nhau: cưỡng gian chưa thành thì người phạm tội bị phạt 100 trượng và đi lưu đày 3000 dặm; cưỡng gian đã thành thì người phạm tội bị xử giảo (tử hình bằng cách thắt cổ); các trường hợp cưỡng gian mà dùng hung khí sắc nhọn gây thương tích cho nạn nhân, cưỡng gian con gái dưới 12 tuổi đến chết, cưỡng gian con gái dưới 10 tuổi, nhiều người thay nhau cưỡng gian một người đều bị xử trảm (tử hình bằng cách chém đầu) [103, tr.869-872]. Bên cạnh hiếp dâm, Điều 2 Chương “Phạm gian” còn tội phạm hóa hành vi cưỡng dâm đối với vợ, con, cháu gái: người chồng, người cha ép buộc vợ, con gái của mình hay vợ, con gái của con, cháu mình thông dâm với người khác đều bị phạt đánh 100 trượng [103, tr.873]. Đây là điểm mới chưa được ghi nhận ở Bộ luật Hồng Đức.
Cũng giống như Bộ luật Hồng Đức, Hoàng Việt luật lệ có bảo vệ an ninh cá nhân của người phụ nữ trước bạo lực gia đình nhưng lại bảo vệ ở mức đặc biệt bất công so với bảo vệ nam giới. Điều 2 Chương “Ẩu đả” (phần hạ) quy định: Người chồng đánh vợ không đến mức bị thương thì không phạm tội; đánh bị thương thì xử nhẹ hơn đánh người thường bị thương hai mức; đánh đến chết hoặc cố ý sát hại thì đều xử tử hình bằng cách thắt cổ; đánh thiếp (vợ lẽ) thì xử phạt nhẹ hơn đánh vợ hai mức. Trong khi chính điều này lại quy định: người vợ chỉ cần đánh chồng, không cần gây thương tích đã phạm tội và bị phạt 100 trượng; nếu đánh bị thương thì xử nặng hơn đánh người thường bị thương ba mức; đánh thành cố tật thì tử hình bằng cách thắt cổ; đánh đến chết thì tử hình bằng cách chém đầu; cố ý sát hại thì tử hình bằng cách lăng trì (xẻo thịt đến chết); vợ lẽ đánh chồng xử nặng hơn vợ đánh chồng một mức [103, tr.766-767]. Luận văn: Thực tiễn bảo vệ quyền phụ nữ bằng pháp luật hình sự.
Trong việc bảo vệ quyền tự do hôn nhân, Hoàng Việt luật lệ có nhiều điểm mới so với Bộ luật Hồng Đức. Điều 1 Chương “Hôn nhân” của Bộ luật này tội phạm hóa hành vi lừa gạt, giả mạo để kết hôn, trong đó nếu bên nhà trai lừa gạt, giả mạo thì bị trừng phạt nặng hơn một mức so với bên nhà gái lừa gạt, giả mạo với lí do là con gái chịu thiệt hại nhiều hơn trong tình huống này [103, tr.427] (vì lễ giáo phong kiến đặc biệt đòi hỏi trinh tiết, danh tiếng của phụ nữ). Trong Chương “Hôn nhân”, Bộ luật còn quy định là tội phạm đối với một số hành vi tước đoạt tự do hôn nhân khác như: chồng, cha mà cầm cố vợ, con gái cho người khác làm vợ (Điều 2); ông bà, cha mẹ mà ép phụ nữ góa chồng tái giá (Điều 5); cường hào cưỡng chiếm vợ, con gái dân thường làm vợ (Điều 12). Mặc dù vẫn chưa thừa nhận, bảo vệ quyền tự do quyết định kết hôn, người hôn phối của phụ nữ nhưng Hoàng việt luật lệ đã phù hợp với thực tiễn hơn Bộ luật Hồng Đức khi quy định hành vi của ông bà, cha mẹ ép buộc con, cháu gái góa chồng tái giá là phạm tội. Bộ luật Hồng Đức quy định chỉ những người không phải là ông bà, cha mẹ mà có hành vi này mới phạm tội trong khi thực tế hầu như ông bà, cha mẹ mới thường là người thực hiện việc ép buộc đó.
Tựu chung lại, mặc dù ra đời dưới chế độ phong kiến nơi tồn tại bất bình đẳng xã hội sâu sắc, nhất là về khía cạnh giới nhưng Bộ luật Hồng Đức và Hoàng Việt luật lệ vẫn có những đóng góp nhất định đối với quá trình hình thành các quy định nhằm bảo vệ quyền phụ nữ trong pháp pháp luật hình sự Việt Nam.
3.1.2. Giai đoạn từ năm 1945 đến trước năm 1985
Sau khi Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, chính quyền nhân dân non trẻ phải đối mặt với những khó khăn chồng chất, tình trạng thù trong giặc ngoài nên Đảng ta xác định giữ vững chính quyền là nhiệm vụ hàng đầu. Chính vì vậy, ngay từ khi mới thành lập, pháp luật hình sự của chính quyền nhân dân đã tập trung thực hiện nhiệm vụ đó [78, tr.82]. Bởi thế, trong giai đoạn tập trung cho cuộc kháng chiến chống Pháp từ năm 1946 đến 1954, vấn đề bảo vệ quyền con người nói chung, quyền phụ nữ nói riêng chưa được chú trọng nhiều trong pháp luật hình. Từ sau năm 1954, trong công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, vấn đề này đã được quan tâm hơn nhưng do chưa pháp điển hóa nên các quy định đó cũng chỉ xuất hiện rải rác trong một số văn bản dưới luật hoặc văn bản hướng dẫn áp dụng pháp luật chứ chưa tạo thành hệ thống thống nhất.
Để bảo vệ thiên chức làm mẹ, Nghị định số 965-TTg ngày 11/7/1956 của Chính phủ ban hành Điều lệ tạm thời về việc làm các nghề chữa bệnh đã hình sự hóa hành vi vi phạm quy định về hành nghề chăm sóc sức khỏe sinh sản. Theo đó, người làm nghề chữa bệnh ở hộ sinh mà không tuân theo Điều lệ này (về điều kiện hành nghề, giấy phép hành nghề) “thì tùy theo lỗi nhẹ hay nặng mà bị phê bình, cảnh cáo, truy tố trước Tòa án và xử theo luật trừng phạt các vi phạm vào thể lệ, bị can có thể bị thu hồi giấy phép có thời hạn hoặc vĩnh viễn” [85, tr.494]. Luận văn: Thực tiễn bảo vệ quyền phụ nữ bằng pháp luật hình sự.
Thể hiện chế độ bảo hộ đặc biệt đối với quyền con người đặc thù của phụ nữ, tình tiết “giết phụ nữ mà biết là có mang” bị Bản chuyên đề tổng kết thực tiễn xét xử loại tội giết người (Công văn số 452-HS2 ngày 10/8/1970) của Tòa án nhân dân tối cao coi là tình tiết tăng nặng đặc biệt đối với tội giết người. Văn bản này nhận định: “Tình tiết này không những nói lên mức độ tàn ác rất cao của can phạm mà tác hại gây ra cũng lớn hơn nhiều hoặc đã xâm phạm đến những người cần được đặc biệt bảo vệ” [85, tr. 345]. Theo đó, phụ nữ mang thai được xác định là người cần được bảo vệ đặc biệt và phạm tội giết phụ nữ mà biết là đang mang thai cần phải bị trừng phạt nghiêm khắc hơn hẳn. Đây chính là tiền đề của việc ghi nhận tình tiết tăng nặng TNHS phạm tội với phụ nữ có thai trong các BLHS sau này. Bên cạnh tình tiết giết phụ nữ mà biết là có mang, các tình tiết: hiếp dâm “làm trụy thai” của nạn nhân, giao cấu với người dưới 16 tuổi mà “gây thai nghén” bị Bản tổng kết và hướng dẫn đường lối xét xử tội hiếp dâm và một số tội phạm khác về mặt tình dục (Công văn số 329- HS2 ngày 11/5/1967) coi là tình tiết tăng nặng định khung hình phạt đối những tội này [85, tr.392]. Quy định rất hợp lý bởi hiếp dâm phụ nữ có thai vốn đã thể hiện tính nguy hiểm cao của hành vi phạm tội mà còn làm nạn nhân sảy thai thì hành vi phạm tội đó đã gây ra hậu quả đặc biệt nghiêm trọng. Sảy thai có thể không để lại thương tích cho cơ thể nhưng nó gây tổn hại sâu sắc về tinh thần cho nạn nhân, nó còn có thể làm mất hoặc giảm khả năng thực hiện chức năng sinh sản của nạn nhân. Đối với phụ nữ, hậu quả đó thậm chí gây đau khổ hơn là mất bộ phận cơ thể. Đáng tiếc, tình tiết tăng nặng này không còn được ghi nhận trong các quy định pháp luật hình sự sau pháp điển hóa. Còn tình tiết làm nạn nhân có thai vẫn được kế thừa làm tình tiết định khung tăng nặng hình phạt trong quy định về các tội phạm tình dục hiện nay.
Để bảo vệ quyền tự do và an toàn tình dục của phụ nữ, pháp luật hình sự giai đoạn này coi các hành vi hiếp dâm, cưỡng dâm, giao cấu với người dưới 16 tuổi là những hành vi rất nguy hiểm cho xã hội, phải nghiêm trị. Mặc dù thực tế, nạn nhân của những hành vi xâm hại tình dục kể trên không nhất thiết phải là phụ nữ nhưng cơ quan áp dụng pháp luật thời kỳ này nhận định đó là những tội phạm chống lại phụ nữ. Bản tổng kết và hướng dẫn đường lối xét xử tội hiếp dâm và một số tội phạm khác về mặt tình dục năm 1967 định nghĩa: “Hiếp dâm là hành động bắt buộc người phụ nữ phải chịu sự giao cấu trái ý muốn hoặc không có ý muốn của người đó bằng cách dùng bạo lực về thể chất hoặc uy hiếp về tinh thần hay là lợi dụng hoặc gây ra tình trạng không thể tự vệ hoặc biểu lộ ý chí của người đó”; “Cưỡng dâm là lợi dụng tình trạng người phụ nữ bị lệ thuộc vào mình để cưỡng bách họ phải miễn cưỡng giao cấu” [85, tr.390, 394]. Còn tội giao cấu với người dưới 16 tuổi được nhận định “nạn nhân không kể là nam hay nữ” nhưng thông thường là “những em thiếu nữ còn ít tuổi” [85, tr.390, 394].
Đồng thời với việc tội phạm hóa những hành vi xâm hại tự do, an toàn tình dục kể trên, văn bản của Tòa án nhân dân tối cao cũng thống nhất nhận thức về các phương diện khách quan, chủ quan và khung hình phạt áp dụng đối với các tội này. Về chủ quan, các tội phạm tình dục được xác định đều là các tội có hình thức lỗi cố trực tiếp. Về khách quan, tội hiếp dâm, cưỡng dâm, giao cấu với người dưới 16 tuổi đều được cấu thành bởi hành vi giao cấu là hành vi quan hệ tình dục giữa nam và nữ bằng cách đưa bộ phận sinh dục nam vào trong bộ phận sinh dục nữ. Thủ đoạn để thực hiện được việc giao cấu đó được mô tả cụ thể khác nhau ở mỗi tội như đã dẫn ra ở trên. Việc giao cấu với trẻ em dưới 13 tuổi bất kể có trái ý muốn của các em hay không đều coi là phạm tội hiếp dâm. Riêng tội dâm ô, mặt khách quan được biểu hiện bằng “hành vi bỉ ổi đối với người khác, tuy không phải là hành vi giao cấu nhưng cũng nhằm thỏa mãn thình dục của mình hoặc khêu gợi bản năng tình dục của người đó” [85, tr.397]. Những nhận thức này vẫn được các BLHS về sau kế thừa hoặc vẫn là cơ sở định hướng thống nhất áp dụng pháp luật hình sự các giai đoạn sau này. Về khung hình phạt, Bản tổng kết và hướng dẫn đường lối xét xử năm 1967 đều có phân hóa các mức khung hình phạt khác nhau đối với các tội phạm tình dục, có khung cơ bản và khung tăng nặng với những tình tiết cụ thể. Trong đó có những tình tiết định khung tăng nặng phản ánh quan điểm vị nữ quyền sâu sắc như đã dẫn ra ở trên là: phạm tội làm nạn nhân sảy thai, làm nạn nhân mang tha. Luận văn: Thực tiễn bảo vệ quyền phụ nữ bằng pháp luật hình sự.
Để bảo vệ tự do và an ninh cá nhân của phụ nữ trước nguy cơ bạo lực gia đình, Thông tư số 332-NCPL năm 1966 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn xử lý về hình sự những hành vi vi phạm Luật hôn nhân và gia đình quy định đánh đập hoặc ngược đãi vợ là một tội phạm, biểu hiện bằng các hành vi khách quan của người chồng như: “không đối xử bình đẳng, dân chủ với người vợ; xâm hại đến sức khỏe, nhân cách, quyền tự do của người vợ”. Đường lối xử lý về hình sự đối với tội phạm này chủ yếu là nhằm giáo dục. Do đó hình phạt chủ yếu được khuyến nghị là cảnh cáo, tù treo, hạn chế tù giam, nếu tù giam không nên quá 3 năm trừ trường hợp bức tử, gây thương tích nghiêm trọng…
Chống lại hành vi xâm phạm quyền tự do hôn nhân chủ yếu nhằm vào phụ nữ, Thông tư số 332-NCPL năm 1966 của Tòa án nhân dân tối cao nêu trên đã tội phạm hóa và quy định hình phạt đối với các hành vi: tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, cản trở hôn nhân tự do và tiến bộ. Phương châm đấu tranh với các tội phạm này được xác định là cần kiên quyết để bài trừ những tàn dư lạc hậu, bất bình đẳng trong quan niệm về hôn nhân và gia đình của chế độ cũ, bảo vệ chế độ hôn nhân xã hội chủ nghĩa tự do và tiến bộ. Tuy nhiên, do đặc thù của quan hệ hôn nhân và gia đình nên đường lối xử lý về hình sự đối với các tội phạm trên giống như tội đánh đập, ngược đãi vợ, chủ yếu là nhằm giáo dục. Đường lối xử lý này được các BLHS năm 1985, 1999 cũng như BLHS năm 2015 tiếp tục kế thừa.
Như vậy, mặc dù nằm rải rác trong các văn bản dưới luật, chưa có tính khái quát cao nhưng các quy định nhằm bảo vệ quyền phụ nữ trong pháp luật hình sự nước ta thời kỳ trước pháp điển hóa cũng đã tạo nền tảng ban đầu cho việc xây dựng những quy định này trong các BLHS về sau.
3.1.3. Giai đoạn từ năm 1985 đến trước năm 1999 Luận văn: Thực tiễn bảo vệ quyền phụ nữ bằng pháp luật hình sự.
Năm 1985 diễn ra sự kiện pháp điển hóa lần thứ nhất luật hình sự của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Kể từ đây, các quy định pháp luật hình sự của Nhà nước ta được hệ thống hóa và ghi nhận tập trung trong một đạo luật hình sự chính thức – Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1985 (sau đây gọi là BLHS năm 1985). Được ban hành năm 1985, sửa đổi, bổ sung bốn lần vào các năm: 1989, 1991, 1992, 1997, Bộ luật này ghi nhận các quyền phụ nữ với tư cách quyền công dân là khách thể được luật hình sự bảo vệ thông qua quy định một trong các nhiệm vụ của BLHS là “bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân” của BLHS (Điều 1). Logic với nó, một trong các loại khách thể của tội phạm được xác định trong định nghĩa tội phạm tại Điều 8 của BLHS năm 1985 là: “tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân”. Có nghĩa là các quyền, lợi ích hợp pháp của mọi công dân, trong đó có nữ công dân là khách thể của tội phạm – là “quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ, bị tội phạm xâm hại bằng cách gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại” [77, tr.140]. Do vậy, các nhân quyền, lợi ích hợp pháp của phụ nữ cũng được BLHS bảo vệ như mọi cá nhân.
Trên nền sự bảo vệ chung đó, BLHS năm 1985 còn có những quy định thể hiện chế độ bảo vệ đặc biệt đối với quyền con người đặc thù của phụ nữ và một số quyền con người dễ bị tổn thương ở phụ nữ.
Để bảo vệ thiên chức làm mẹ của phụ nữ, BLHS năm 1985 chính thức ghi nhận “phạm tội với phụ nữ có thai” là tình tiết tăng nặng TNHS chung tại điểm đ, khoản 1 Điều 39, áp dụng đối với mọi tội phạm. Riêng đối với tội giết người thì tình tiết giết phụ nữ mà biết là có thai sẽ khiến người phạm tội bị trừng phạt đặc biệt nghiêm khắc với mức hình phạt có thể lên đến tù chung thân hoặc tử hình (điểm d khoản 1 Điều 101). Những quy định này thể hiện thái độ kịch liệt lên án của Nhà nước đối với những hành vi phạm tội chống lại người phụ nữ khi họ đang thực hiện thiên chức làm mẹ. Bên cạnh đó, việc áp dụng, thi hành hình phạt tử hình cũng được giới hạn để bảo vệ thiên chức làm mẹ của phụ nữ. Theo quy định tại Điều 29 của Bộ luật, hình phạt tử hình không được áp dụng đối với phụ nữ có thai kể cả việc có thai diễn ra khi phạm tội hoặc khi xét xử; hình phạt tử hình đã áp dụng thì trì hoãn việc thi hành đối với phụ nữ có thai hoặc nuôi con dưới 12 tháng tuổi. Quy định này đã loại trừ hẳn việc áp dụng và trì hoãn việc thi hành hình phạt tử hình đối với phụ nữ mang thai, nuôi con nhỏ trong khoảng thời gian dài hơn so với pháp luật phong kiến.
Để bảo vệ quyền bình đẳng giới của phụ nữ, lần đầu tiên trong pháp luật hình sự Việt Nam, hành vi xâm phạm quyền này bị tội phạm hóa tại Điều 125 của BLHS năm 1985. Mặc dù bình đẳng giới là quyền của mọi người nhưng do ảnh hưởng sâu sắc từ tư tưởng phụ quyền gia trưởng dưới chế độ phong kiến ở nước ta nên trong thực tế đối tượng bị phân biệt đối xử vì lý do giới tính hầu như luôn là phụ nữ. Bởi vậy, BLHS năm 1985 đã quy định tội danh tại Điều 125 là tội xâm phạm quyền bình đẳng của phụ nữ. Theo đó, người “dùng vũ lực hoặc có hành vi nghiêm trọng khác cản trở phụ nữ tham gia hoạt động chính trị, kinh tế, khoa học, văn hoá, xã hội” sẽ bị “cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm”. Mặc dù chỉ bị coi là loại tội phạm ít nghiêm trọng nhưng việc tội phạm hóa hành vi xâm phạm quyền bình đẳng của phụ nữ đã có ý nghĩa rất quan trọng trong việc ngăn ngừa hành vi này. Luận văn: Thực tiễn bảo vệ quyền phụ nữ bằng pháp luật hình sự.
Bảo vệ quyền tự do và an toàn về tình dục của phụ nữ, BLHS năm 1985 quy định là tội phạm các hành vi hiếp dâm, cưỡng dâm và giao cấu với người dưới 16 tuổi các Điều 112, 113 và 114. Trong các tội hiếp dâm, cưỡng dâm, mặc dù dấu hiệu nạn nhân của tội phạm không được khẳng định rõ là phụ nữ như giai đoạn trước pháp điển hóa nhưng hành vi thuộc mặt khách quan của các tội này đều được xác định là hành vi giao cấu – hành vi quan hệ tình dục “theo cách hiểu truyền thống” nên thực tế nạn nhân hầu như luôn là nữ giới. “Cách hiểu truyền thống” ở đây chính là cách hiểu mà các cơ quan áp dụng pháp luật từ lâu đã thống nhất theo giải thích tại Bản tổng kết và hướng dẫn đường lối xét xử tội hiếp dâm và một số tội phạm khác về mặt tình dục năm 1967 của Tòa án nhân dân tối cao. Theo đó, giao cấu là “có sự cọ sát trực tiếp dương vật vào bộ phận sinh dục của người phụ nữ với ý thức định ấn vào trong, không kể sự xâm nhập của dương vật là sâu hay cạn, không kể có xuất tinh hay không” [84, mục A, phần I]. Do đặc điểm sinh lý, cơ thể con người nên hành vi giao cấu như trên hầu như khó thể thực hiện trái với ý muốn của nam giới. Bởi vậy, thực chất các quy định về tội hiếp dâm, cưỡng dâm ở đây chủ yếu hướng tới bảo vệ tự do và an toàn tình dục của phụ nữ.
Về cấu thành của các tội phạm về tình dục, BLHS năm 1985 kế thừa nhận thức thống nhất trong thực tiễn áp dụng pháp luật thời kỳ trước. Theo đó, Điều 112 mô tả tội hiếp dâm là hành vi “dùng vũ lực hoặc thủ đoạn khác giao cấu với người khác trái ý muốn của họ”, riêng trường hợp giao cấu với người “dưới 13 tuổi” thì dù việc giao cấu được thực hiện bằng bất cứ thủ đoạn này, có trái ý muốn nạn nhân hay không vẫn bị coi là phạm tội hiếp dâm (quy định tương tự như vậy đã được ghi nhận từ lâu trong pháp luật hình sự của nhà nước phong kiến và của chính quyền cách mạng giai đoạn trước pháp điển hóa ở nước ta). Tội cưỡng dâm được Điều 113 BLHS năm 1985 mô tả là hành vi “dùng mọi thủ đoạn khiến người lệ thuộc mình hoặc người đang ở trong tình trạng quẫn bách buộc phải miễn cưỡng giao cấu”. Theo đó, ý chí phản kháng của nạn nhân ở tội cưỡng dâm không bị vô hiệu hóa hoàn toàn như tội hiếp dâm mà chỉ là bị khống chế, chi phối. Còn tội giao cấu với người dưới 16 tuổi ở Điều 114 cấu thành bởi hành vi giao cấu với người từ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi bất kể bằng thủ đoạn nào.
Về hình phạt, tội hiếp dâm bị coi là nghiêm trọng nhất trong các tội phạm tình dục với khung hình phạt cao nhất lên đến 20 năm tù, tù chung thân hoặc tử hình trong trường hợp làm nạn nhân chết hoặc tự sát. Khung hình phạt cơ bản đối với tội hiếp dâm là phạt từ từ 01 đến 05 năm. Các trường hợp hiếp dâm người chưa thành niên, hiếp dâm nhiều người, nhiều người hiếp dâm một người, gây tổn hại nghiêm trọng cho sức khỏe của nạn nhân, tái phạm… đều phải chịu các khung hình phạt tăng nặng của tội này. Tội cưỡng dâm có hình phạt ở khung cao nhất lên đến 15 năm tù nếu làm nạn nhân tự sát. Các khung hình phạt còn lại từ cải tạo không giam giữ cho đến phạt tù bảy năm. Tội giao cấu với người dưới 16 tuổi chịu một khung hình phạt chung, cao nhất đến 03 năm tù. Tương ứng với quy định tại Điều 8 của Bộ luật thì hiếp dâm và cưỡng dâm bị coi là tội phạm nghiêm trọng còn giao cấu với người dưới 16 tuổi là tội phạm ít nghiêm trọng. Luận văn: Thực tiễn bảo vệ quyền phụ nữ bằng pháp luật hình sự.
Bên cạnh các hành vi trực tiếp tước đoạt quyền tự do và an toàn về tình dục, BLHS năm 1985 cũng tội phạm hóa một số hành vi khác gián tiếp tổn hại đến quyền này như: chứa mại dâm, môi giới mại dâm (Điều 202). Mặc dù trong hoạt động mại dâm có thể người bán dâm (chủ yếu là phụ nữ) không bị bắt ép quan hệ tình dục trái ý muốn nhưng việc quan hệ tình dục của họ vẫn là bất đắc dĩ chứ không xuất phát từ nhu cầu chính đáng của con người. Hơn nữa, mại dâm là coi cơ thể con người như hàng hóa, chà đạp nhân phẩm của họ. Bởi vậy, BLHS năm 1985 quy định hình phạt đối với tội chứa mại dâm và môi giới mại dâm có thể lên đến 10 năm tù nếu gây hậu quả nghiêm trọng hoặc tái phạm nguy hiểm.
Bảo vệ quyền tự do và an ninh cá nhân của phụ nữ trước những hành vi nguy hiểm nhằm vào (hoặc chủ yếu nhằm vào) phụ nữ, BLHS năm 1985 tội phạm hóa các hành vi: mua bán phụ nữ; ngược đãi, hành hạ thành viên trong gia đình. Điều 115 không mô tả cấu thành mà chỉ quy định hình phạt đối với tội mua bán phụ nữ là từ 02 đến 07 năm tù, khung hình phạt tăng nặng là 05 đến 20 năm tù nếu có các tình tiết: phạm tội có tổ chức, mua bán nhiều người, để đưa ra nước ngoài, tái phạm nguy hiểm. Điều 147 quy định về tội ngược đãi nghiêm trọng hoặc hành hạ cha, mẹ, vợ, chồng, con cái với một khung hình phạt là cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 03 năm.
Bảo vệ quyền tự do hôn nhân của phụ nữ, BLHS năm 1985 tội phạm hóa các hành vi có nạn nhân chủ yếu là phụ nữ như: cưỡng ép kết hôn hoặc cản trở hôn nhân tiến bộ, tự nguyện; tổ chức tảo hôn; tảo hôn tại Điều 143 và 145. Những hành vi này có thể tước đoạt quyền kết hôn tự nguyện, tự do lựa chọn người kết hôn, duy trì hôn nhân hợp pháp của cả nam giới và phụ nữ. Kế thừa chính sách xử lý của pháp luật hình sự ở giai đoạn trước đối với loại tội phạm này, BLHS năm 1985 coi đây là các tội phạm ít nghiêm trọng với mức hình phạt cao nhất là 02 đến 03 năm tù.
Tựu chung lại, ngay từ lần đầu được pháp điển hóa, pháp luật hình sự Việt Nam đã ghi nhận các quyền phụ nữ (nằm trong quyền công dân) là một khách thể được luật hình sự bảo vệ. Trên cơ sở đó, BLHS năm 1985 đã có nhiều quy định thể hiện sự bảo hộ đặc biệt đối với các quyền con người đặc thù của phụ nữ cũng như các quyền con người dễ bị tổn thương do chủ thể của quyền là phụ nữ. Những quy định này đã tạo nền tảng quan trọng cho hệ thống quy định bảo vệ quyền phụ nữ trong pháp luật hình sự hiện hành.
3.2. Bảo vệ quyền phụ nữ bằng pháp luật hình sự ở Việt Nam trong thực tiễn pháp luật Luận văn: Thực tiễn bảo vệ quyền phụ nữ bằng pháp luật hình sự.
3.2.1. Nội dung các quy định bảo vệ quyền phụ nữ trong Bộ luật hình sự năm 1999
Những quy định nhằm bảo vệ quyền phụ nữ trong BLHS Việt Nam năm 1999 là sự kế thừa có phát triển những quy định tương ứng trong BLHS năm 1985. Giống như Bộ luật năm 1985, BLHS năm 1999 thừa nhận quyền phụ nữ là một trong những khách thể được luật hình sự bảo vệ thông qua quy định về nhiệm vụ của đạo luật và định nghĩa tội phạm (Điều 1, Điều 8). Tuy nhiên quyền phụ nữ ở đây vẫn được ghi nhận dưới danh nghĩa quyền, lợi ích hợp pháp của công dân (bao gồm nữ công dân). Theo quy định này, với tư cách cá nhân công dân, các quyền, tự do của phụ nữ đều được BLHS năm 1999 bảo vệ như quyền, tự do của mọi người khác. Bên cạnh đó, Bộ luật có nhiều quy định nhằm chú trọng bảo vệ quyền con người đặc thù của nữ giới và các quyền dễ bị tổn thương ở phụ nữ như: quyền bình đẳng giới, quyền tự do và an toàn tình dục, quyền tự do và an ninh cá nhân, quyền tự do hôn nhân.
Bảo vệ quyền con người đặc thù của phụ nữ, BLHS năm 1999 tội phạm hóa hành vi xâm hại quyền này; đe dọa trừng phạt nghiêm khắc hơn hẳn đối với hành vi phạm tội xâm hại đến thiên chức làm mẹ; thể hiện chế độ bảo hộ đặc biệt đối với thiên chức làm mẹ thông qua việc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, loại trừ hoặc trì hoãn thi hành một số hình phạt.
Hành vi xâm hại quyền con người đặc thù của phụ nữ bị BLHS năm 1999 tội phạm hóa là phá thai trái phép gây tổn hại tính mạng, sức khỏe, sức khỏe sinh sản và khả năng làm mẹ của người phụ nữ tại Điều 243. Tội phá thai trái phép cấu thành bởi hành vi: “thực hiện việc phá thai trái phép cho người khác gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khoẻ của người đó hoặc đã bị xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm”. Luận văn: Thực tiễn bảo vệ quyền phụ nữ bằng pháp luật hình sự.
Pháp luật Việt Nam không ngăn cấm việc phá thai, tuy nhiên, đây là việc làm ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe, khả năng sinh sản, thậm chí tính mạng người mang thai nên điều kiện tiến hành được quy định rất chặt chẽ. Chỉ những cán bộ y tế có thẩm quyền mới được thực hiện việc phá thai bằng một quy trình chuyên môn theo quy định của Nhà nước, tại những cơ sở y tế có thẩm quyền. Hành vi cố ý vi phạm những quy định chặt chẽ này đã phá vỡ sự bảo vệ mà pháp luật đã thiết lập, gây nguy hiểm cho sức khỏe, khả năng làm mẹ, tính mạng của người phá thai – là hành vi cần phải lên án, trừng trị. Thực chất, nếu không có quy định ở Điều 243 thì hành vi phá thai trái phép cũng có thể xử lý được theo tội vi phạm quy định về khám bệnh, chữa bệnh, sản xuất, pha chế thuốc, cấp phát thuốc, bán thuốc hoặc dịch vụ y tế khác ở Điều 242 và áp dụng thêm tình tiết tăng nặng TNHS là phạm tội với phụ nữ có thai. Tuy nhiên, việc BLHS quy định riêng về tội danh phá thai trái phép cho thấy sự nhấn mạnh về chính sách bảo hộ đặc biệt đối với thiên chức làm mẹ của người phụ nữ.
Cùng với việc tội phạm hóa hành vi phá thai trái phép, BLHS năm 1999 kế thừa BLHS năm 1985 trong việc đe dọa trừng phạt nghiêm khắc hơn hẳn đối với những hành vi phạm tội khác mà xâm hại đến thiên chức làm mẹ. Điểm h khoản 1 Điều 48 của Bộ luật này tiếp tục quy định “phạm tội đối với phụ nữ có thai” là một tình tiết tăng nặng TNHS chung áp dụng đối với mọi tội phạm mà không phân biệt đó là tội phạm do cố ý hay vô ý, không xác định người phạm tội có nhận thức được tình tiết này khi thực hiện tội phạm hay không. Tuy nhiên, sau đó Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành Nghị quyết số 01/2006/NQ-HĐTP, thống nhất chỉ áp dụng tình tiết này đối với những trường hợp phạm tội do lỗi cố ý, không phụ thuộc vào việc người phạm tội có nhận biết được tình tiết này hay không.
Cùng với tiếp tục ghi nhận tình tiết tăng nặng TNHS chung, BLHS năm 1999 mở rộng phạm vi áp dụng tình tiết phạm tội đối với phụ nữ có thai định để khung tăng nặng hình phạt ở nhiều tội phạm hơn. BLHS năm 1985 chỉ áp dụng đối với tội giết người còn Bộ luật năm 1999 ngoài trường hợp giết phụ nữ mà biết là đang có thai (điểm b khoản 1 Điều 93) còn có các tình tiết tăng nặng định khung hình phạt trong các tội tương ứng là: cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe của phụ nữ đang có thai (điểm d khoản 1 Điều 104); hành hạ phụ nữ có thai (điểm a khoản Điều 2 110); tổ chức cho phụ nữ mà biết là đang có thai sử dụng trái phép chất ma túy (điểm d khoản 2 Điều 197); cưỡng bức, lôi kéo phụ nữ mà biết là đang có thai sử dụng trái phép chất ma túy (điểm đ khoản 2 Điều 200). Đây đều được coi là căn cứ để áp dụng mức hình phạt thuộc khung hình phạt cao nhất hoặc khung hình phạt tăng nặng ở những tội danh này. Sở dĩ nhà làm luật quy định như vậy là bởi vì những tội phạm có tính chất bạo lực hoặc đe dọa tính mạng, sức khỏe con người khi thực hiện với phụ nữ đang có thai vừa gây ra hậu quả đặc biệt nghiêm trọng hơn so với nạn nhân bình thường, vừa thể hiện tính chất tàn bạo, dã man của hành vi phạm tội bởi người phụ nữ đang trong trạng thái dễ tổn thương, không có khả năng kháng cự, hơn nữa lại là lúc mà họ xứng đáng được xã hội nâng niu, trân trọng.
Về phương diện TNHS và hình phạt, BLHS năm 1999 quy định việc giảm nhẹ TNHS, loại trừ hoặc trì hoãn thi hành một số hình phạt để thể hiện sự chế độ bảo hộ đặc biệt đối với thiên chức làm mẹ. Đặc điểm tâm sinh lý của người phụ nữ khi thực hiện thiên chức làm mẹ được xem xét để áp dụng chính sách khoan hồng đối với người phụ nữ phạm tội thông qua quy định tình tiết “người phạm tội là phụ nữ có thai” là tình tiết giảm nhẹ TNHS áp dụng chung đối với mọi loại tội phạm tại điểm l khoản 1 Điều 46. Đặc điểm này cũng được xem xét để thay đổi tội danh cho người phụ nữ phạm tội từ đặc biệt nghiêm trọng (tội giết người) sang ít nghiêm trọng bởi tội giết con mới đẻ được quy định tại Điều 94 như sau: “Người mẹ nào do ảnh hưởng nặng nề của tư tưởng lạc hậu hoặc trong hoàn cảnh khách quan đặc biệt mà giết con mới đẻ hoặc vứt bỏ đứa trẻ đó dẫn đến hậu quả đứa trẻ chết, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.” Luận văn: Thực tiễn bảo vệ quyền phụ nữ bằng pháp luật hình sự.
Bản chất của hành vi giết con mới đẻ là hành vi giết người, nếu áp dụng quy định về tội giết người ở Điều 93 thì đây là tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, với tình tiết tăng nặng định khung là giết trẻ em, người phạm tội sẽ phải chịu khung hình phạt cao nhất của tội giết người có thể lên đến mức tử hình. Vậy nhưng Điều 94 BLHS lại quy định mức hình phạt cao nhất chỉ đến 02 năm tù – mức hình phạt đối với loại tội phạm ít nghiêm trọng. Sở dĩ như vậy là bởi vì người phụ nữ mới sinh nở thường có những bất ổn về tâm lý, hành vi dễ lệch lạc, cộng thêm áp lực do “ảnh hưởng nặng nề của tư tưởng lạc hậu hoặc trong hoàn cảnh khách quan đặc biệt” nên hành vi phạm tội này diễn ra trong trạng thái tinh thần kém minh mẫn và do hoàn cảnh bức bách, đáng được khoan hồng. Tuy nhiên, giết người dù sao vẫn là hành vi đặc biệt nghiêm trọng nên sự khoan hồng không thể tùy tiện. Bởi vậy, điều kiện thỏa mãn cấu thành của tội giết con mới đẻ được quy định chặt chẽ. Để xác định hành vi phạm tội giết người hay giết con mới đẻ, trong thực tiễn xét xử, các Tòa án vẫn tuân thủ Hướng dẫn từ năm 1986 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Theo đó, được cho là hành vi giết con mới đẻ khi hành vi đó là của chính người mẹ trong vòng 07 ngày kể từ khi sinh ra đứa trẻ; ảnh hưởng nặng nề của tư tưởng lạc hậu là những trường hợp như: khiếp sợ trước dư luận chê bai về việc mang thai và đẻ con ngoài giá thú hoặc trước dư luận khắc nghiệt của nhà chồng do đẻ nhiều con gái …; hoàn cảnh khách quan đặc biệt chi phối chẳng hạn như: đứa trẻ sinh ra có dị dạng… [32].
Bên cạnh chính sách khoan hồng khi xem xét TNHS, BLHS năm 1999 còn cho phép trì hoãn, đình chỉ hoặc hủy bỏ áp dụng một số chế tài để tạo điều kiện cho việc thực hiện thiên chức làm mẹ của người phụ nữ phạm tội. Quy định về hoãn chấp hành hình phạt tù tại Điều 61 cho phép người bị xử phạt tù là phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi, thì được hoãn cho đến khi con đủ 36 tháng tuổi. Tương tự, theo Điều 62, nếu trường hợp này xảy ra khi người phạm tội đang chấp hành hình phạt tù thì sẽ được tạm đình chỉ việc chấp hành cho đến khi con đủ 36 tháng tuổi. Đặc biệt, hình phạt tử hình được loại trừ một cách triệt để cả việc áp dụng lẫn thi hành đối với phụ nữ mang thai và nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi theo quy định của Điều 35. Tính triệt để thể hiện ở chỗ hình phạt tử hình không được áp dụng, nếu đã áp dụng thì không thi hành và không bao giờ thi hành nữa chứ không phải là trì hoãn thi hành đến khi không còn mang thai, nuôi con nhỏ. Hình phạt tử hình đã bị loại trừ sẽ được chuyển thành hình phạt tù chung thân. Phạm vi loại trừ hình phạt rất rộng bởi tình tiết có thai hoặc nuôi con nhỏ xuất hiện vào lúc người phụ nữ thực hiện tội phạm, lúc bị xét xử hay đã bị tuyên án nhưng chưa thi hành thì cũng đều khiến cho người ấy được loại trừ hoàn toàn khỏi án tử hình. Khoảng thời gian nuôi con nhỏ được quy định là đến khi đứa trẻ đủ 36 tháng tuổi và không có bất kỳ ngoại lệ nào cho phép xem xét rút ngắn khoảng thời gian này.
So với BLHS năm 1985 thì các quy định BLHS năm 1999 đã thể hiện chính sách hình sự “ưu đãi” hơn đối với thiên chức làm mẹ. Bộ luật năm 1985 chưa có quy định cho phép người phụ nữ mang thai, nuôi con nhỏ được hoãn chấp hành, tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù. Bộ luật năm 1985 chỉ loại trừ việc áp dụng và trì hoãn việc thi hành hình phạt tử hình đối với phụ nữ mang thai, nuôi con nhỏ còn Bộ luật năm 1999 loại trừ cả việc áp dụng lẫn thi hành, thời gian tính là nuôi con nhỏ cũng dài hơn gấp ba lần. Luận văn: Thực tiễn bảo vệ quyền phụ nữ bằng pháp luật hình sự.
Để bảo vệ quyền bình đẳng giới của phụ nữ, BLHS năm 1999 tiếp tục quy định hành vi xâm phạm quyền bình đẳng giới của phụ nữ là tội phạm với tội danh tại Điều 130 là tội xâm phạm quyền bình đẳng của phụ nữ. Mô tả tội phạm và khung hình phạt này được giữ nguyên như Điều 125 của BLHS năm 1985. Theo đó, tội xâm phạm quyền bình đẳng của phụ nữ cấu thành bởi hành vi dùng vũ lực hoặc hành vi nghiêm trọng khác cản trở phụ nữ tham gia hoạt động chính trị, kinh tế, khoa học, văn hoá, xã hội. Khung hình phạt áp dụng đối với tội này cao nhất là 01 năm tù. Như đã đề cập ở trên, tuy hình phạt không quá nghiêm khắc nhưng chỉ riêng việc bị tội phạm hóa và đe dọa trừng phạt đã đủ thể hiện thái độ lên án gay gắt của Nhà nước đối với hành vi xâm phạm quyền bình đẳng giới.
Để bảo vệ quyền tự do và an toàn về tình dục của phụ nữ, BLHS năm 1999 quy định là tội phạm và trừng phạt nghiêm khắc với khung hình phạt có thể đến mức tử hình các hành vi: hiếp dâm (Điều 111), hiếp dâm trẻ em (Điều 112), cưỡng dâm (Điều 113), cưỡng dâm trẻ em (Điều 114), giao cấu với trẻ em (Điều 115). Vẫn duy trì mô tả hành vi duy nhất thuộc mặt khách quan của các tội này là hành vi quan hệ tình dục “truyền thống” (giao cấu – với những thủ đoạn khác nhau) như Bộ luật cũ nên thực chất các quy định về hiếp dâm, cưỡng dâm trong BLHS năm 1999 vẫn hướng tới việc bảo vệ quyền tự do, an toàn về tình dục của phụ nữ là chủ yếu mặc dù không khẳng định nạn nhân nhất thiết phải là phụ nữ.
Tuy kế thừa tinh thần của BLHS năm 1985 nhưng BLHS năm 1999 mô tả cấu thành tội phạm cụ thể hơn và phân hóa TNHS giữa các tội xâm phạm quyền tự do, an toàn tình dục sâu sắc hơn. Ví dụ như đối với hiếp dâm, bên cạnh thủ đoạn phổ biến là dùng vũ lực để giao cấu trái ý muốn của nạn nhân, nhà làm luật còn mô tả các thủ đoạn khác bao gồm: đe dọa dùng vũ lực, lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân hoặc thủ đoạn khác. Nếu như ở BLHS năm 1985, hành vi hiếp dâm, cưỡng dâm người đủ 13 đến dưới 16 tuổi chỉ bị coi là tình tiết tăng nặng trách nhiệm định khung của các tội này thì BLHS năm 1999 coi đây là các tội phạm độc lập với các khung hình phạt nghiêm khắc hơn hẳn. Mức hình phạt cao nhất dành cho tội hiếp dâm là tù chung thân (khoản 3 Điều 111) trong khi mức cao nhất của hình phạt đối với tội hiếp dâm trẻ em là tử hình (khoản 3 Điều 112); mức hình phạt cao nhất dành cho tội cưỡng dâm là 18 năm tù (khoản 3 Điều 113), còn đối với cưỡng dâm trẻ em là tù chung thân (khoản 3 Điều 114). Luận văn: Thực tiễn bảo vệ quyền phụ nữ bằng pháp luật hình sự.
Để phân hóa TNHS sâu sắc hơn, BLHS năm 1999 còn bổ sung mới hoặc quy định chi tiết hơn một số tình tiết tăng nặng định khung hình phạt đối với các tội hiếp dâm, cưỡng dâm như: gây tổn hại nghiêm trọng cho sức khỏe của nạn nhân (với tỉ lệ thương tật từ 31% trở lên, tùy theo khung hình phạt); có tính chất loạn luân, làm nạn nhân có thai, biết mình bị nhiễm HIV mà vẫn phạm tội. Trong đó, việc ghi nhận tình tiết tăng nặng “làm nạn nhân có thai” thể hiện sự quan tâm bảo vệ đặc biệt đối với sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của phụ nữ.
Nhìn chung, việc quy định là tội phạm và trừng phạt nghiêm khắc các hành vi hiếp dâm, cưỡng dâm, giao cấu với trẻ em là chính sách đúng đắn trong việc bảo vệ quyền tự do và an toàn về tình dục vì những hành vi này đã tước đoạt ý chí tự do định đoạt việc quan hệ tình dục của nạn nhân, xâm phạm tới sự tự do, toàn vẹn thân thể và danh dự, nhân phẩm của họ. Trường hợp cưỡng dâm, hiếp dâm đương nhiên là tước đoạt tự do ý chí vì việc giao cấu là trái ý muốn của nạn nhân hoặc nạn nhân miễn cưỡng phải giao cấu. Trường hợp giao cấu với trẻ em thì cho dù có sự ưng thuận của nạn nhân cũng không thể hiện sự tự do ý chí hoặc không đảm bảo hoàn toàn tự do ý chí. Đối với nạn nhân chưa đủ 13 tuổi thì sự ưng thuận của họ không thể hiện được tính tự do ý chí vì độ tuổi đó nhận thức xã hội chưa đầy đủ, dễ bị người lớn lợi dụng, chi phối, điều khiển. Hơn nữa, đó là độ tuổi mà cơ thể chưa phát triển hoàn thiện và về cơ bản chưa có nhu cầu tình dục, việc quan hệ tình dục ở tuổi này cũng để lại nhiều hậu quả nguy hại về sức khỏe, nhất là sức khỏe sinh sản.
Chính bởi vậy, nhà làm luật coi mọi trường hợp giao cấu với người chưa đủ 13 tuổi đều là phạm tội hiếp dâm trẻ em. Đối với nạn nhân đủ 13 tuổi nhưng chưa đủ 16 tuổi thì việc ưng thuận giao cấu của họ phần nào có thể hiện ý chí tự định đoạt của nạn nhân nhưng cũng không đảm bảo tự do ý chí hoàn toàn. Ở độ tuổi này trẻ em đã có nhận thức, mức độ phát triển tâm sinh lý gần hoàn thiện như người thành niên, có thể đã có nhu cầu quan hệ tình dục. Tuy nhiên, nhận thức xã hội của họ cũng chưa hoàn toàn đầy đủ và việc quan hệ tình dục ít nhiều cũng ảnh hưởng tiêu cực đến sự trưởng thành, nhân cách, sức khỏe của họ sau này. Do đó, giao cấu với trẻ em từ đủ 13 tuổi đến chưa đủ 16 tuổi mà có sự ưng thuận của nạn nhân vẫn bị nhà làm luật vẫn coi là một tội phạm xâm hại quyền tự do và an toàn về tình dục. Tuy nhiên, tính chất nguy hiểm của hành vi này không cao bằng hiếp dâm, cưỡng dâm nên nhà làm luật quy định một tội danh độc lập với khung hình phạt ít nghiêm khắc hơn là tội giao cấu với trẻ em (Điều 115).
Bên cạnh hành vi trực tiếp xâm hại về tình dục, những hành vi khác dẫn đến tổn hại quyền tự do và an toàn tình dục cũng bị BLHS năm 1999 quy định là tội phạm và trừng phạt nghiêm khắc với khung hình phạt có thể lên đến tù 20 năm hoặc tù chung thân như: mua bán người vì mục đích mại dâm (điểm a khoản 2 Điều 119); mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em để đưa vào hoạt động mại dâm (điểm h khoản 2 Điều 120), chứa mại dâm (Điều 254), môi giới mại dâm (Điều 255). Như đã đề cập, các hành vi này có thể không trực tiếp tước đoạt quyền tự do, an toàn về tình dục vì có sự đồng thuận của người bán dâm (trừ hành vi cưỡng bức mại dâm). Luận văn: Thực tiễn bảo vệ quyền phụ nữ bằng pháp luật hình sự.
Tuy nhiên, bản thân việc coi cơ thể con người như hàng hóa vốn đã chà đạp nghiêm trọng nhân phẩm và mang tính bóc lột họ [141, p.153]. Do vậy, mại dâm chính là một hình thức bóc lột tình dục, chà đạp nhân phẩm con người.
Bảo vệ quyền tự do và an ninh cá nhân của phụ nữ, BLHS tiếp tục ghi nhận là tội phạm một số hành vi xâm hại tự do, an ninh cá nhân có nạn nhân chủ yếu là phụ nữ hoặc thành viên các nhóm xã hội dễ bị tổn thương khác như: mua bán người và bạo lực gia đình.
Nạn nhân của tội mua bán người vốn chủ yếu là phụ nữ nên trong BLHS năm 1985 và ở Điều 119 BLHS năm 1999 trước khi được sửa đổi (năm 2009), tội danh được quy định là tội mua bán phụ nữ. Kế thừa BLHS cũ, BLHS năm 1999 không mô tả cấu thành mà chỉ quy định khung hình phạt cơ bản đối với tội này là 02 đến 07 năm tù, hình phạt cao nhất có thể lên đến 20 năm tù nếu có những tình tiết tăng nặng như: phạm tội vì mục đích mại dâm, phạm tội có tổ chức, có tính chất chuyên nghiệp, phạm tội với nhiều người, phạm tội để lấy bộ phận cơ thể nạn nhân (khoản 2 Điều 119). So với Bộ luật cũ, BLHS năm 1999 bổ sung một tình tiết tăng nặng định khung mới là phạm tội vì mục đích mại dâm. Chính mục đích phạm tội này khiến cho tội mua bán người chủ yếu nhằm các nạn nhân là phụ nữ. Do vậy, việc bổ sung tình tiết tăng nặng kể trên đã củng cố thêm sự bảo vệ đối với tự do và an ninh cá nhân của phụ nữ.
Tội ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu, người có công nuôi dưỡng mình ở Điều 151 BLHS năm 1999 là tội phạm về bạo lực gia đình có nạn nhân chủ yếu là phụ nữ, trẻ em – những người yếu thế trong gia đình. Chống lại dạng bạo lực này, Điều 151 quy định người ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu, người có công nuôi dưỡng mình gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm thì bị phạt “cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 03 năm”.
Bên cạnh việc quy định là tội phạm các hành vi xâm phạm tự do và an ninh cá nhân chủ yếu nhằm vào phụ nữ, BLHS năm 1999 còn trừng phạt nghiêm khắc hơn đối với trường hợp phạm tội gây tổn thương nghiêm trọng cho phụ nữ trong quy định về tội xâm phạm tự do, an ninh cá nhân nói chung. Cụ thể là trong quy định về tội cố ý gây thương tích hay tổn hại cho sức khỏe của người khác ở Điều 104 của Bộ luật, trường hợp gây ra loại thương tích làm mất thẩm mỹ của nạn nhân bị coi là tình tiết định tội nếu hành vi không gây thương tật đến ngưỡng đủ để định tội (11%) hoặc bị coi là tình tiết định khung tăng nặng hình phạt nếu hành vi đã gây thương tật đến ngưỡng định tội. Điểm b khoản 1 Điều 104 không trực tiếp quy định tình tiết gây mất thẩm mỹ của nạn nhân mà quy định tình tiết gây cố tật nhẹ cho nạn nhân. Tuy nhiên, việc làm mất thẩm mỹ của nạn nhân được Nghị quyết số 02/2003/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao giải thích là một trong những trường hợp gây cố tật nhẹ [33, mục 1, phần I]. Đối với phụ nữ, nhan sắc đặc biệt có ý nghĩa quan trọng nên những thương tích gây ảnh hưởng thẩm mỹ mặc dù có thể không làm tổn hại sức khỏe, khả năng lao động nhưng lại gây hậu quả đặc biệt đối với đời sống tinh thần của họ. Bởi vậy, quy định ở Điều 104 BLHS đã thể hiện sự chú trọng yếu tố nữ tính trong khi bảo vệ tự do và an ninh cá nhân của con người nói chung. Luận văn: Thực tiễn bảo vệ quyền phụ nữ bằng pháp luật hình sự.
Bảo vệ quyền tự do hôn nhân của phụ nữ, BLHS năm 1999 tiếp tục quy định là tội phạm đối với các hành vi: cưỡng ép kết hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ (Điều 146), tổ chức tảo hôn, tảo hôn (Điều 148) cũng là những hành vi có nạn nhân chủ yếu là phụ nữ và trẻ em gái.
Cách hành vi phạm tội cưỡng ép kết hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ được Điều 146 quy định bao gồm: “cưỡng ép người khác kết hôn trái với sự tự nguyện của họ, cản trở người khác kết hôn hoặc duy trì quan hệ hôn nhân tự nguyện, tiến bộ bằng cách hành hạ, ngược đãi, uy hiếp tinh thần, yêu sách của cải hoặc bằng thủ đoạn khác”. Đây là những hành vi trực tiếp tước đoạt quyền tự do lựa chọn người hôn phối, kết hôn, duy trì quan hệ hôn nhân hợp pháp của người khác bằng những thủ đoạn nguy hiểm. Hành vi tổ chức tảo hôn, tảo hôn được quy định ở Điều 148 tuy không trực tiếp tước đoạt quyền tự do kết hôn do nạn nhân có thể mong muốn hoặc ưng thuận ở mức độ nhất định nhưng sự ưng thuận của họ cũng không đảm bảo tự do thực sự. Sở dĩ như vậy là vì người bị tảo hôn là người tức là chưa đủ tuổi kết hôn theo quy định pháp luật, đối với nữ giới là người chưa thành niên (theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình thì nữ phải từ 18 tuổi – Luật năm 1986 và năm 2000, hoặc đủ 18 tuổi trở lên mới được kết hôn – Luật năm 2014).
Pháp luật dân sự đánh giá người chưa đủ 18 tuổi là chưa có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của họ còn hạn chế. Do đó, sự ưng thuận kết hôn của nạn nhân ở độ tuổi này chưa thể hiện được chính xác mong muốn của họ, thậm chí chịu sự ảnh hưởng, chi phối của người khác. Ngoài ra, người chưa đủ tuổi kết hôn cũng chưa có sự phát triển thể chất, tinh thần cần thiết để tạo lập hôn nhân hạnh phúc. Vậy nên tổ chức tảo hôn, tảo hôn cũng là những hành vi xâm hại quyền tự do hôn nhân và quyền sống hạnh phúc của con người.
Bên cạnh đó, để đảm bảo tính tự nguyện hoàn toàn của quyết định kết hôn, Điều 149 về tội đăng ký kết hôn trái pháp luật của BLHS năm 1999 còn tội phạm hóa hành vi cho phép đăng ký kết hôn đối với cuộc hôn nhân không đảm bảo các điều kiện kết hôn, trong đó bao gồm điều kiện về tính tự nguyện và tuổi kết hôn. Đây là quy định mới so với BLHS năm 1985.
Về chính sách xử lý các tội xâm phạm quyền tự do hôn nhân, BLHS năm 1999 kế thừa hoàn toàn BLHS năm 1985, coi đây là các tội phạm ít nghiêm trọng với mức hình phạt cao nhất là 02 đến 03 năm tù. Giống như luật hôn nhân và gia đình, các quy định về tội phạm trong lĩnh vực này cũng chú trọng mục đích giáo dục, răn đe, phòng ngừa. Việc bị tội phạm hóa và đe dọa áp dụng hình phạt đã đủ thể hiện thái độ lên án của Nhà nước đối với những hành vi này.
Tựu chung lại, để bảo vệ quyền phụ nữ, BLHS năm 1999 đã khẳng định những quyền này là khách thể được luật hình sự bảo vệ thông qua nhiệm vụ bảo vệ quyền công dân của đạo luật hình sự; tội phạm hóa và đe dọa trừng phạt những hành vi xâm hại quyền phụ nữ; có chính sách xử lý nghiêm khắc hơn hẳn đối với những trường hợp phạm tội xâm hại quyền con người đặc thù của phụ nữ. Bên cạnh đó, trong trường hợp người phụ nữ bị thiệt hại về tinh thần do quyền con người của họ bị tội phạm xâm hại thì BLHS có quy định về việc bồi thường thiệt hại để bù đắp, phục hồi phần nào những tổn thất đó. Việc bồi thường thiệt hại được áp dụng theo quy định chung tại Điều 42.
3.2.2. Hạn chế của các quy định bảo vệ quyền phụ nữ trong Bộ luật hình sự năm 1999
Những phân tích ở trên cho thấy: BLHS năm 1999 đã có một hệ thống các quy định từ Phần chung cho đến Phần các tội phạm nhằm bảo vệ cả quyền con người đặc thù của phụ nữ và những quyền con người dễ bị tổn thương do chủ thể là phụ nữ. Tuy nhiên, xem xét các phương diện: quan điểm và kỹ thuật lập pháp; tính tương thích với pháp luật quốc tế và các đạo luật khác của quốc gia; tính phù hợp với thực tiễn tội phạm thì các quy định này vẫn còn một số hạn chế.
3.2.2.1. Về phương diện quan điểm và kỹ thuật lập pháp Luận văn: Thực tiễn bảo vệ quyền phụ nữ bằng pháp luật hình sự.
Như đã nêu, các quy định của BLHS Việt Nam năm 1999 thể hiện rõ ràng quan điểm chú trọng bảo vệ quyền phụ nữ. Quan điểm này thể hiện xuyên suốt từ Phần chung tới Phần các tội phạm của BLHS, ngoài những quy định thể hiện chế độ bảo hộ đặc biệt đối với các quyền phụ nữ thì BLHS không hề có quy định nào khác cho thấy sự phân biệt đối xử hay xem nhẹ quyền phụ nữ. Tuy nhiên, ở một số góc độ liên quan đến bảo vệ quyền phụ nữ thì Bộ luật này vẫn còn thể hiện sự hạn chế về quan điểm và kỹ thuật lập pháp.
Thứ nhất, quan điểm của BLHS về các quyền phụ nữ được bảo vệ chưa đảm bảo tính phổ quát của những quyền này. BLHS năm 1999 tuyên bố nhiệm vụ bảo vệ quyền phụ nữ qua nhiệm vụ bảo vệ quyền công dân chứ không phải quyền con người (Điều 1). Theo cách như vậy có thể hiểu rằng chỉ quyền của nữ công dân Việt Nam mới được BLHS nước ta bảo vệ. Trong khi đó, các nhân quyền có giá trị phổ quát và là thuộc tính vốn có của mọi cá nhân như thể hiện trong yêu cầu của pháp luật quốc tế: “Nghĩa vụ của các quốc gia hội viên theo Hiến chương Liên Hợp Quốc là phát huy sự tôn trọng và thực thi trên toàn cầu những nhân quyền và những quyền tự do của con người” [44, đoạn 4]. Hiến pháp Việt Nam năm 2013 cũng ghi nhận nhiệm vụ bảo vệ quyền con người của Nhà nước tại Điều 3. Đồng thời Hiến pháp trực tiếp khẳng định: “Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật”. Theo đó, pháp luật hình sự cũng phải công nhận, tôn trọng, bảo vệ các quyền con người với tính chất là giá trị phổ quát ở mọi cá nhân. Vậy nên, cách ghi nhận của BLHS năm 1999 là chưa đảm bảo tính phổ quát ấy. Điều này vừa không tương thích với yêu cầu của pháp luật quốc tế cũng như quy định của Hiến pháp Việt Nam, vừa mắc lỗi về kỹ thuật lập pháp và mâu thuẫn với thực tiễn áp dụng pháp luật. Sở dĩ nói như vậy vì ngay ở Chương XII của Bộ luật này các giá trị tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của cá nhân (trong đó có phụ nữ) được ghi nhận với tư cách là các quyền của con người bởi tên Chương là “Các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người”. Hơn nữa, trong thực tiễn ở nước ta các quy định của BLHS vẫn được áp dụng để xử lý hành vi phạm tội xâm hại quyền của những người phụ nữ không phải nữ công dân Việt Nam.
Thứ hai, một số quy định nhằm bảo vệ quyền phụ nữ của Bộ luật lại chưa thể hiện được quan điểm phù hợp với nữ tính. Điều này trước tiên thể hiện quy định về cấu thành của các tội phạm tình dục. Khẳng định như vậy có vẻ phi lý bởi trong suy nghĩ của hầu hết mọi người thì quy định về những tội phạm tình dục nói chung, hiếp dâm nói riêng là để cung cấp một sự bảo vệ đặc biệt cho phụ nữ [116, pp. 606 – 626]. Vậy nhưng thực tế quy định về các tội phạm tình dục trong BLHS năm 1999 lại phản ánh một lập trường thiếu phù hợp với nữ tính. Hành vi cấu thành các tội hiếp dâm, cưỡng dâm (Điều 111, 112, 113, 114) đều được quy định phải là hành vi giao cấu trong khi việc cưỡng bức thực hiện những hành vi tương tự giao cấu (với những công cụ khác hoặc bộ phận khác bộ phận sinh dục) cũng gây tổn hại không khác gì giao cấu, thậm chí gây sỉ nhục nhân phẩm nghiêm trọng hơn. Theo đó, cách quy định của BLHS năm 1999 dường như chỉ chú trọng vào việc chống lại hành vi tổn thương về mặt thể xác hơn là bảo vệ sự toàn vẹn thể xác, tinh thần và sự tự chủ về tình dục của phụ nữ. Mà với đặc tính giàu cảm xúc của nữ giới thì tổn thương tinh thần, nhân phẩm nhiều khi nghiêm trọng hơn thể xác. Chính vì lẽ đó, việc ghi nhận duy nhất hành vi giao cấu là hành vi thuộc mặt khách quan của các tội cưỡng dâm, hiếp dâm thường bị các nhà phê bình nữ quyền chỉ trích là có cách nhìn về phụ nữ giống như một cỗ máy sinh học [118, p.5]. Luận văn: Thực tiễn bảo vệ quyền phụ nữ bằng pháp luật hình sự.
Một mặt khác chưa thể hiện được quan điểm vị nữ quyền sâu sắc trong các quy định về tội phạm tình dục của BLHS năm 1999 là chưa ghi nhận tình tiết làm nạn nhân sảy thai là tình tiết tăng nặng TNHS đối với những tội phạm này. Bạo lực tình dục đối với phụ nữ có thai chứa đựng nguy cơ gây sảy thai một cách rõ rệt. Sảy thai đối với phụ nữ có thể không để lại thương tật cho cơ thể nhưng nó gây ra thiệt hại tinh thần nghiêm trọng cho người phụ nữ và thân nhân của họ, nó cũng có thể gây suy giảm hoặc mất khả năng sinh sản về sau. Đối với người phụ nữ, nhất là những người chưa được làm mẹ, loại tổn hại này thậm chí còn gây đau khổ hơn mất bộ phận cơ thể. Vậy trong khi ghi nhận tình tiết làm nạn nhân có thai là tình tiết tăng nặng định khung hình phạt đối với các tội phạm tình dục mà không thừa nhận vị trí tương tự của tình tiết làm nạn nhân sảy thai là không hợp lý.
Tình trạng thiếu phù hợp với nữ tính còn thể hiện trong quy định về tội cố ý gây thương tích hay tổn hại cho sức khỏe của người khác ở Điều 104 của Bộ luật.
Mặc dù Điều này quy định trừng phạt nghiêm khắc đối với trường hợp gây ra thương tích làm mất thẩm mỹ của nạn nhân đã thể hiện chính sách bảo vệ phù hợp với nữ tính. Tuy nhiên, quy định này vẫn thiếu sót khi bỏ qua một trường hợp phạm tội cố ý gây thương tích diễn ra phổ biến trong thực tế mà thủ đoạn thực hiện tội phạm có khả năng tàn phá nặng nề thẩm mỹ của nạn nhân là dùng a-xít để phạm tội. Chính vì phụ nữ đặc biệt coi trọng nhan sắc nên trong thực tế hành vi dùng a-xít để gây thương tích lại thường nhằm vào phụ nữ. Những thương tích mặt ngoài cơ thể do a-xít để lại đối với nữ nạn nhân không chỉ là tổn hại sức khỏe mà còn khiến họ tổn thương tinh thần nghiêm trọng, thậm chí dẫn đến tự sát. Vậy nhưng việc dùng a-xít để phạm tội cố ý gây thương tích không bị BLHS năm 1999 coi là một tình tiết thể hiện tính nguy hiểm hơn hẳn của hành vi phạm tội này.
Thứ ba, nhiều quy định nhằm bảo vệ quyền phụ nữ còn mắc lỗi kỹ thuật khiến cho Bộ luật không nhất quán, khó áp dụng hoặc có kẽ hở cho tội phạm.
- Đơn cử một số trường hợp như sau: Luận văn: Thực tiễn bảo vệ quyền phụ nữ bằng pháp luật hình sự.
Một là: tình trạng đang mang thai của người phụ nữ được BLHS mô tả bất nhất. Cụm từ “có thai” được sử dụng ở Điều 35, điểm l khoản 1 Điều 46, điểm h khoản 1 Điều 48, điểm b khoản 1 Điều 61, Điều 93, điểm a khoản 2 Điều 110. Còn điểm d khoản 1 Điều 104, điểm d khoản 2 Điều 197, điểm đ khoản 2 Điều 200 lại sử dụng cụm từ “đang có thai”. Mặc dù trong thực tiễn áp dụng, sự khác biệt ngôn từ này không gây ra cách hiểu bất nhất. Tuy nhiên, để mô tả cùng một sự việc mà trong một văn bản luật lại sử dụng thuật ngữ không thống nhất rõ ràng là lỗi không nên có về mặt kỹ thuật.
Hai là: việc quy định tình tiết phạm tội đối với phụ nữ có thai làm tình tiết tăng nặng định khung hình phạt chưa tương xứng giữa một số tội. Sự không tương xứng thứ nhất liên quan đến việc yêu cầu dấu hiệu dấu hiệu nhận thức chủ quan của người phạm tội đối với tình tiết nạn nhân là phụ nữ đang có thai. Với tội giết người (Điều 93), tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (Điều 197), tội cưỡng bức, lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy, luật yêu cầu người phạm tội phải nhận thức được tình tiết ấy thì mới áp dụng là tình tiết tăng nặng định khung. Còn đối với tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (Điều 104) và tội hành hạ người khác (Điều 110) thì kể cả người phạm tội không biết rằng nạn nhân là phụ nữ có thai thì tình tiết vẫn được áp dụng để tăng nặng khung hình phạt.
Sự không tương xứng thứ hai là ở chỗ tình tiết định khung tăng nặng này không được quy định đối với rất nhiều tội phạm khác cũng thuộc loại có tính bạo lực, có khả năng gây nguy hiểm hoặc có tính chất dã man hơn hẳn khi thực hiện đối với phụ nữ mang thai. Ví dụ như hiếp dâm, cưỡng dâm phụ nữ có thai chứa đựng khả năng tổn thương đối với thai phụ và thai nhi một cách chắc chắn. Biết rõ nạn nhân đang mang thai mà vẫn hiếp dâm, cưỡng dâm lại càng thể hiện sự tàn bạo, mất nhân tính của người phạm tội. Ngoài hiếp dâm, nhiều tội phạm có tính bạo lực hoặc có khả năng đe dọa tính mạng, sức khỏe khác cũng không bị áp dụng tình tiết định khung tăng nặng này như: bức tử; lây truyền HIV; bắt, giam, giữ người trái pháp luật; cướp tài sản; bức cung; dùng nhục hình… So với các tội đã bị áp dụng thì những trường hợp này thể hiện sự không tương xứng một cách rõ rệt.
Ba là: mô tả tội xâm phạm quyền bình đẳng của phụ nữ ở Điều 130 không làm rõ động cơ phạm tội là vì lý do giới tính nên không phản ánh đúng bản chất của tội phạm. Vì thế, trong thực tế có những hành vi y hệt như được mô tả ở Điều 130 nhưng không phải là hành vi xâm phạm quyền bình đẳng của phụ nữ. Ví dụ như trường hợp ai đó cản trở một người phụ nữ tham gia ứng cử vào cơ quan quyền lực nhà nước vì người đó sẽ là đối thủ cạnh tranh với mình (chứ không phải vì người đó là phụ nữ). Mặc dù hoàn toàn chính xác với mô tả ở Điều 130 nhưng do không có động cơ kỳ thị giới nên hành vi này phải cấu thành của tội xâm phạm quyền bầu cử, quyền ứng cử của công dân tại Điều 126 BLHS chứ không phải tội xâm phạm quyền bình đẳng của phụ nữ. Bởi vậy, Điều 130 phản ánh chưa đúng bản chất của hành vi xâm phạm quyền bình đẳng giới.
Bốn là: Tội danh mua bán người không rõ ràng gây khó khăn cho việc xác định cấu thành tội phạm. Điều 119 chỉ nêu tội danh là “tội mua bán người”, bên trong điều luật không có mô tả cụ thể về hành vi khách quan cấu thành tội này. Cơ bản có thể hiểu được tư tưởng của các nhà lập pháp và trong thực tiễn áp dụng cũng nhất quán là chỉ cần mua hoặc bán người là đã phạm vào tội này. Tuy nhiên, về mặt hình thức văn bản, giữa từ “mua” và từ “bán” không có dấu phảy (,) nên cũng có thể suy diễn rằng phải có cả hành vi mua và bán người mới thỏa mãn cấu thành tội phạm. Việc thiếu mô tả cụ thể còn dẫn đến Điều luật bỏ sót nhiều dạng hành vi mua, bán người mà các văn kiện pháp lý quốc tế và đạo luật khác của nước ta đã xác định (sẽ làm rõ ở mục dưới đây). Luận văn: Thực tiễn bảo vệ quyền phụ nữ bằng pháp luật hình sự.
Năm là: mô tả tội phá thai trái phép ở Điều 243 còn chung chung, thiếu chặt chẽ. Điều này mô tả hành vi phạm tội là thực hiện việc phá thai trái phép. Theo đó có thể hiểu là thực hiện việc phá thai mà không được phép, tức là thực hiện bởi người không có thẩm quyền hoặc ở cơ sở y tế không có thẩm quyền phá thai. Theo đúng nghĩa đó thì việc phá thai không đảm bảo quy trình, kỹ thuật chuyên môn gây thiệt hại tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khoẻ của thai phụ cũng không phạm tội này.
3.2.2.2. Về tính tương thích với pháp luật quốc tế và các đạo luật khác của quốc gia
Mặc dù đã đáp ứng hầu hết các yêu cầu của pháp luật quốc tế cũng như pháp luật quốc gia trong việc bảo vệ quyền phụ nữ nhưng BLHS năm 1999 vẫn còn những điểm chưa tương thích với quy định pháp luật quốc tế và các đạo luật khác của quốc gia:
Thứ nhất, BLHS năm 1999 bỏ lọt nhiều dạng hành vi mua bán người mà các văn kiện pháp lý quốc tế và quốc gia ngăn cấm. Điều 119 chỉ quy định tội danh mua bán người mà không có mô tả cụ thể. Do đó, chỉ có thể hiểu rằng mặt khách quan của tội mua bán người biểu hiện bằng hai loại hành vi: mua người hoặc bán người. Tức là đưa tiền hay bất cứ giá trị vật chất nào để đổi lấy sự quản lý đối với một người – người bị mua, hoặc nhận tiền hay bất cứ giá trị vật chất để đổi lấy sự quản lý đối với một người – người bị bán.
Theo nghĩa như vậy, BLHS đã bỏ lọt rất nhiều dạng hành vi mua bán người được mô tả ở Điều 3 (a) của Nghị định thư về ngăn ngừa, trấn áp và trừng trị hành vi buôn bán người, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em bổ sung cho Công ước của Liên Hợp Quốc về chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia năm 2000:
Việc buôn bán người nghĩa là việc mua, vận chuyển, chuyển giao, chứa chấp và nhận người nhằm mục đích bóc lột bằng cách sử dụng hoặc đe doạ sử dụng vũ lực hoặc bằng các hình thức ép buộc, bắt cóc, lừa gạt, man trá hay lạm dụng quyền lực hoặc vị thế dễ bị tổn thương hoặc bằng việc đưa, nhận tiền hay lợi nhuận để đạt được sự đồng ý của một người nhằm kiểm soát những người khác.
Tương tự, các hành vi được coi là mua bán người trong Luật Phòng chống mua bán người năm 2011 của Việt Nam bao gồm: mua bán người, chuyển giao, tiếp nhận, tuyển mộ, vận chuyển, chứa chấp người để bóc lột tình dục, cưỡng bức lao động, lấy các bộ phận cơ thể hoặc vì mục đích vô nhân đạo khác… [68, Điều 7, khoản 1, 2 và 3].
Như vậy, so sánh với định nghĩa của Nghị định thư nêu trên và quy định của Luật Phòng chống mua bán người năm 2011 thì quy định của BLHS năm 1999 về tội mua bán người rõ ràng phải được sửa đổi, bổ sung, làm rõ cho tương thích với pháp luật quốc tế, quốc gia và tránh bỏ lọt tội phạm. Luận văn: Thực tiễn bảo vệ quyền phụ nữ bằng pháp luật hình sự.
Thứ hai, BLHS chưa đáp ứng được yêu cầu của pháp luật quốc tế và quốc gia về chế độ bảo hộ đặc biệt đối với thiên chức làm mẹ trong lĩnh vực lao động, việc làm. Việc làm, thu nhập, chế độ thai sản đối với người lao động nữ mang thai, sinh nở là một trong những yếu tố đảm bảo điều kiện sống, sức khỏe và việc thực hiện thiên chức làm mẹ. Vì vậy, pháp luật quốc tế và Việt Nam đều có những yêu cầu rất cao về đảm bảo việc làm, tiền lương, chế độ thai sản cho người lao động nữ, đặc biệt là vấn đề đảm bảo việc làm. Công ước CEDAW đã nhấn mạnh: “Cấm những hành động kỷ luật, sa thải phụ nữ với lý do có thai hay nghỉ đẻ” (điểm a khoản 2 Điều 11). Bộ luật Lao động Việt Nam năm 2012 cũng cấm người sử dụng lao động sa thải, đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động đối với lao động nữ mang thai, nghỉ thai sản, nuôi con dưới 12 tháng tuổi (Khoản 3 Điều 155).
BLHS năm 1999 tuy đã có quy định để bảo vệ thiên chức làm mẹ trong trường hợp những bảo đảm trên bị vi phạm nhưng quy định đó chưa đáp ứng được yêu cầu về một chế độ bảo hộ đặc biệt. Hành động sa thai lao động nữ vì lý do thai sản có thể bị xử lý theo quy định tại Điều 128 về tội buộc người lao động, cán bộ, công chức thôi việc trái pháp luật, đồng thời áp dụng tình tiết tăng nặng TNHS là phạm tội đối với phụ nữ có thai. Tuy nhiên, nếu việc sa thải không diễn ra trong thời gian mang thai mà diễn ra trong thời gian sinh nở, nuôi con nhỏ thì tình tiết tăng nặng TNHS sẽ không được áp dụng. Trong khi mất việc làm, thu nhập đối với người phụ nữ trong thời gian mang thai hay nuôi con nhỏ đều gây ảnh hưởng nghiêm trọng đối với việc thực hiện thiên chức làm mẹ của họ. Bởi vậy, quy định của Điều 128 BLHS năm 1999 là chưa đủ để đáp ứng yêu cầu của pháp luật quốc tế và quốc gia về chế độ bảo hộ đặc biệt đối với thiên chức làm mẹ của phụ nữ trong quan hệ lao động, việc làm.
Thứ ba, BLHS mô tả hành vi cấu thành tội xâm phạm quyền bình đẳng của phụ nữ chưa tương thích với hành vi tương ứng được mô tả ở các văn kiện pháp lý quốc tế và quốc gia. Hành vi xâm phạm quyền bình đẳng của phụ nữ chính là biểu hiện của việc phân biệt đối xử với phụ nữ vì lý do giới tính của họ mà Điều 26 Hiến pháp Việt Nam năm 2013 đã quy định: “nghiêm cấm phân biệt đối xử về giới”. Phân biệt đối xử về giới được Luật Bình đẳng giới định nghĩa: “là việc hạn chế, loại trừ, không công nhận hoặc không coi trọng vai trò, vị trí của nam và nữ, gây bất bình đẳng giữa nam và nữ trong các lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình” (khoản 5 Điều 5). Hay cụ thể hơn, phân biệt đối xử với phụ nữ theo Điều 1 Công ước của Liên Hợp Quốc về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử chống lại phụ nữ năm 1979 (CEDAW) được hiểu là:
Bất kỳ sự phân biệt, loại trừ hay hạn chế nào được đề ra dựa trên cơ sở giới tính mà có tác dụng hoặc nhằm mục đích làm tổn hại hoặc vô hiệu hóa việc phụ nữ được công nhận, hưởng thụ hay thực hiện các quyền con người và tự do cơ bản trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa, dân sự hay bất kể lĩnh vực nào khác, trên cơ sở bình đẳng giữa nam giới và phụ nữ.
Theo đó, phân biệt đối xử chống lại phụ nữ hay xâm phạm quyền bình đẳng của phụ nữ bao gồm bất kỳ hành vi đối xử một cách tồi tệ, loại trừ hay hạn chế các quyền, do cơ bản của phụ nữ vì động cơ kỳ thị giới tính. Vậy nhưng hành vi phạm tội xâm phạm quyền bình đẳng của phụ nữ ở Điều 130 BLHS được miêu tả chỉ bao gồm hành vi “cản trở phụ nữ tham gia hoạt động chính trị, kinh tế, khoa học, văn hoá, xã hội” (với thủ đoạn dùng vũ lực hoặc hành vi nghiêm trọng khác). Tức là, chỉ gồm hành vi loại trừ quyền tham gia các hoạt động kể trên của phụ nữ mà không gồm dạng hành vi hạn chế các quyền này hay dạng phân biệt đối xử. Theo đó, những hành vi kiểu như áp dụng pháp luật, tiêu chuẩn, chế độ… không công bằng với phụ nữ; đối xử tồi tệ; kỳ thị hoặc truyền bá tư tưởng kỳ thị nữ giới cho dù gây hậu quả nghiêm trọng cũng không phải là hành vi khách quan của tội xâm phạm quyền bình đẳng của phụ nữ. Luận văn: Thực tiễn bảo vệ quyền phụ nữ bằng pháp luật hình sự.
Thứ tư, BLHS chưa tội phạm hóa hành vi quấy rối tình dục – một dạng hành vi xâm phạm tự do, an toàn tình dục diễn ra phổ biến đã bị pháp luật quốc tế và quốc gia ngăn cấm. “Quấy rối và hăm dọa tình dục ở nơi làm việc, trong các cơ sở giáo dục và những nơi khác” là hành vi đã bị Điều 2 Tuyên bố về xóa bỏ bạo lực với phụ nữ năm 1993 của Liên Hợp Quốc nhìn nhận là một loại bạo lực tình dục cần lên án [47]. Bộ luật Lao động nước ta cũng xác định “quấy rối tình dục tại nơi làm việc” là một trong những hành vi bị nghiêm cấm (Điều 8) [69]. Nạn nhân của hành vi quấy rối tình dục có thể là bất kỳ ai, tuy nhiên nạn nhân phổ biến vẫn là phụ nữ và trẻ em gái. Tính chất, mức độ nguy hiểm có thể không bằng hành vi hiếp dâm, cưỡng dâm nhưng quấy rối tình dục cũng làm khủng hoảng tinh thần, xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm con người, cần phải bị ngăn cấm. Hành vi quấy rối tình dục có biểu hiện tương tự hành vi dâm ô nhưng chỉ bị xử lý về hình sự nếu hành vi đó được thực hiện với nạn nhân là trẻ em theo quy định của Điều 116 về tội dâm ô đối với trẻ em. Trường hợp quấy rối tình dục người lớn thì không bị xử lý về hình sự. Việc không tội phạm hóa hành vi này một mặt là chưa tương thích với yêu cầu của pháp luật quốc tế, mặt khác lại thể hiện thái độ dung túng, dễ dãi của pháp luật đối với quấy rối tình dục, khiến cho diễn biến thực tế của nó dễ gia tăng, nghiêm trọng hơn.
Tựu chung lại, tuy cơ bản đã đáp ứng tốt nhưng BLHS năm 1999 vẫn còn một số điểm cần tiếp tục bổ sung, hoàn thiện để tương thích với pháp luật quốc tế và các đạo luật khác của quốc gia trong việc bảo vệ quyền phụ nữ.
3.2.2.3. Về tính phù hợp với thực tiễn tội phạm
Sự phù hợp với thực tiễn tội phạm đương nhiên là yêu cầu cơ bản đối với các quy định pháp luật hình sự bởi đây là ngành luật về tội phạm. Để phù hợp với thực tiễn tội phạm, quy định của luật hình sự phải phản ánh đầy đủ biểu hiện khách quan của tội phạm trong thực tế, theo kịp diễn biến của tội phạm, kịp thời tội phạm hóa những hành vi nguy hiểm cho xã hội diễn ra một cách phổ biến.
Thực hiện nhiệm vụ bảo vệ quyền phụ nữ, BLHS năm 1999 đã tội phạm hóa hầu hết các hành vi xâm hại nghiêm trọng quyền phụ nữ, bao gồm cả những quyền đặc thù giới cũng như những quyền con người dễ bị tổn thương do chủ thể của quyền là phụ nữ… Những quy định này cơ bản theo sát và phù hợp với tình hình thực tiễn của tội phạm, kịp thời trấn áp những hành vi nguy hiểm chống lại phụ nữ. Tuy nhiên, ở một số điểm quy định của BLHS này vẫn chưa phản ánh đầy đủ biểu hiện khách quan của hành vi phạm tội trong thực tiễn, bỏ lọt tội phạm hoặc chưa theo kịp diễn biến của chúng trong đời sống xã hội dẫn đến tình trạng có hành vi xâm hại nghiêm trọng nhân quyền của phụ nữ chỉ bị Bộ luật xử lý ở mức độ chưa đủ nghiêm khắc hoặc thậm chí, không bị xử lý về hình sự. Luận văn: Thực tiễn bảo vệ quyền phụ nữ bằng pháp luật hình sự.
Về tình trạng chưa phản ánh đầy đủ biểu hiện khách quan của hành vi phạm tội trong thực tiễn có thể thấy rõ nhất ở quy định về các tội phạm về tình dục như hiếp dâm, cưỡng dâm. Trước những khuynh hướng biến thái của hành vi tình dục trong xã hội hiện đại thì việc quy định chỉ giao cấu mới là hành vi khách quan của hiếp dâm, cưỡng dâm rõ ràng chưa đầy đủ. Với quy định như vậy thì cưỡng bức quan hệ đồng giới hoặc cưỡng bức thực hiện hành vi tương tự giao cấu bằng công cụ khác hoặc thông qua bộ phận khác (không phải bộ phận sinh dục) sẽ không bị xử lý về các tội hiếp dâm hay cưỡng dâm. Nếu xử lý những hành vi này về tội làm nhục người khác (Điều 121) – một loại tội ít nghiêm trọng hoặc tội dâm ô dâm với trẻ em (nếu nạn nhân chưa đủ 16 tuổi) thì vừa không đủ nghiêm khắc vừa không phản ánh đúng bản chất của tội phạm.
Bên cạnh quy định về các tội hiếp dâm, cưỡng dâm thì quy định về tội xâm phạm quyền bình đẳng của phụ nữ ở Điều 130 cũng là một thiếu sót trong phản ánh biểu hiện khách quan của tội phạm. Như đã phân tích, mô tả của Điều 130 chỉ đề cập đến dạng hành vi cản trở quyền tham gia hoạt động chính trị, kinh tế, khoa học, văn hoá, xã hội của phụ nữ. Đó không phải là dạng phổ biến của hành vi xâm phạm quyền bình đẳng giới. Trong thực tế, hành vi phân biệt đối xử với phụ nữ trong hoạt động chính trị, kinh tế, khoa học, văn hoá, xã hội phổ biến hơn nhiều so với việc trực tiếp tước đoạt quyền tham gia các hoạt động này. Theo quy định của Bộ luật thì hành vi như tuyên truyền tư tưởng kỳ thị giới, kỳ thị giới trong áp dụng tiêu chuẩn, chế độ, pháp luật đối với phụ nữ… cũng gây ra hậu quả nghiêm trọng nhưng sẽ không phạm vào tội này. Do vậy, có thể nói rằng mô tả cấu thành tội phạm ở Điều 130 là không sát với thực tiễn tội phạm.
Về hiện tượng bỏ lọt tội phạm, BLHS năm 1999 bỏ qua hành vi đặc biệt nghiêm trọng xâm hại tới sự bình đẳng về quyền sống, cơ hội được sống của trẻ em gái. Do ảnh hưởng sâu sắc của tư tưởng trọng nam khinh nữ, dòng tộc phụ quyền nên hành vi phá thai vì lý do giới tính ở nước ta không phải là hiếm gặp mặc dù Pháp lệnh dân số năm 2003 (khoản 2 Điều 7), Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 (điểm g, khoản 2 Điều 5) đều nghiêm cấm việc lựa chọn giới tính thai nhi dưới mọi hình thức. Quyền sống cũng như những nhân quyền tối thiểu khác vốn dĩ bình đẳng mọi cá nhân nên việc bị khước từ cơ hội sống chỉ vì lí do mang giới tính nữ là một sự bất bình đẳng rõ ràng đối với phụ nữ. Chưa tính đến hệ lụy của việc mất cân bằng giới tính đối với xã hội thì việc phá bỏ thai nhi chỉ vì mang giới tính nữ là việc làm tàn ác, vô nhân đạo và coi thường giá trị của phụ nữ. Sở dĩ nói điều đó tàn ác, vô nhân đạo vì một thai nhi phát triển đến mức có thể xác định được giới tính thì đã là một bào thai có cơ thể tương đối hoàn chỉnh gần như con người thực sự. Phá thai khi đó cũng độc ác như giết một con người yếu ớt, không có khả năng kháng cự. Luận văn: Thực tiễn bảo vệ quyền phụ nữ bằng pháp luật hình sự.
Mặc dù hành vi phá bỏ thai nhi mang giới tính nữ tàn ác và đem lại nhiều hậu quả nguy hại cho xã hội như vậy nhưng BLHS hiện hành chưa có quy định xử lý hoặc xử lý chưa thỏa đáng. BLHS hiện chỉ coi hành vi phá thai của người không có thẩm quyền, tại cơ sở không được phép phá thai mà gây tổn hại đến sức khỏe, tính mạng của thai phụ mới là tội phạm và bị xử lý về hình sự (Điều 242). Mọi hành vi phá thai khác nếu được tiến hành bởi người có thẩm quyền, tại cơ sở chuyên môn có thẩm quyền thì dù vì lý do gì cũng không bị coi là tội phạm, người tiến hành phá thai, thai phụ và những người có liên quan không phải chịu bất cứ một loại trách nhiệm nào.
Một hành vi xâm hại nghiêm trọng quyền phụ nữ khác đã diễn ra phổ biến mà BLHS năm 1999 chưa ghi nhận là tội phạm là hành vi tổ chức mang thai hộ vì mục đích thương mại. Thực hiện thiên chức làm mẹ là quyền của người phụ nữ nhưng bản thân việc mang thai, sinh nở cũng tiềm ẩn nhiều nguy cơ rủi ro về tính mạng, sức khỏe cho chính họ nên Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định điều kiện tiên quyết của việc mang thai hộ là sự tự nguyện của các bên và việc mang thai hộ chỉ được tiến hành vì mục đích nhân đạo trong trường hợp người nhờ mang thai không thể mang thai được [71, Điều 3, 95, khoản 22]. Điều đó là đúng đắn bởi việc cưỡng bức mang thai hộ nghĩa là đã đẩy phụ nữ vào một nguy cơ rủi ro tính mạng, sức khỏe mà họ không tự nguyện chấp nhận; tổ chức mang thai hộ vì mục đích thương mại thì không khác nào kinh doanh cơ thể phụ nữ, coi họ như máy móc, hàng hóa, rẻ rúng nhân phẩm của họ. Kể cả trước khi có Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 lẫn sau khi luật này ra đời, chính thức cấm mang thai hộ vì mục đích thương mại thì hành vi tổ chức mang thai vì mục đích thương mại vẫn diễn ra phổ biến trong xã hội nhất là trong bối cảnh xã hội hiện nay tình trạng vô sinh và nhu cầu nhờ mang thai hộ đang ngày càng gia tăng. Về bản chất, hành vi này cũng là kinh doanh cơ thể phụ nữ nên nó phải bị tội phạm hóa.
3.3. Bảo vệ quyền phụ nữ bằng pháp luật hình sự ở Việt Nam trong thực tiễn áp dụng pháp luật Luận văn: Thực tiễn bảo vệ quyền phụ nữ bằng pháp luật hình sự.
3.3.1. Kết quả áp dụng các quy định bảo vệ quyền phụ nữ của Bộ luật hình sự năm 1999
Kể từ ngày 01/7/2000 khi BLHS năm 1999 bắt đầu có hiệu lực thi hành đến nay, các cơ quan thi hành pháp luật ở nước ta đã có nhiều nỗ lực trong việc áp dụng đúng đắn các quy định của Bộ luật để bảo vệ quyền con người, quyền công dân nói chung và quyền phụ nữ nói riêng. Khảo sát các tư liệu thực tiễn, số liệu thống kê xét xử trong vòng 10 năm gần đây cho thấy việc áp dụng các quy định nhằm bảo vệ quyền phụ nữ đã đạt được những kết quả đáng kể.
3.3.1.1. Áp dụng các quy định bảo vệ quyền con người đặc thù của phụ nữ
Để bảo vệ thiên chức làm mẹ của phụ nữ chống lại các hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng TNHS “phạm tội đối với phụ nữ có thai” tại điểm h khoản 1 Điều 48 BLHS và tình tiết định khung tăng nặng hình phạt tương ứng tại các quy định về tội giết người, tội cố ý gây thương tích, tội hành hạ người khác… được các cơ quan áp dụng pháp luật thực thi triệt để nhằm thể hiện thái độ kịch liệt lên án của Nhà nước đối với hành vi làm tổn hại quyền đặc thù của phụ nữ. Tuy nhiên, trước năm 2006 quan điểm áp dụng tình tiết tăng nặng TNHS chung phạm tội với phụ nữ có thai còn có sự bất nhất giữa các Tòa án: có Tòa chỉ áp dụng trong trường hợp phạm tội do cố ý, có Tòa áp dụng cả đối với trường hợp phạm tội do vô ý; có Tòa chỉ áp dụng tình tiết này khi bị cáo biết nạn nhân đang mang thai, có Tòa áp dụng bất kể bị cáo có biết được điều này hay không [4, tr.4-6]. Kể từ khi Hội đồng thẩm phán TANDTC ban hành Nghị quyết số 01/2006/NQ-HĐTP, việc áp dụng đã được thống nhất chỉ đối với những trường hợp phạm tội do lỗi cố ý, không phụ thuộc vào ý thức chủ quan của bị cáo có nhận biết được hay không việc nạn nhân là phụ nữ có thai.
Đồng thời với việc áp dụng tình tiết tăng nặng TNHS phạm tội đối với phụ nữ có thai, theo thống kê của TANDTC trong 10 năm gần đây Tòa án nhân dân các cấp đã xét xử sơ thẩm 28 vụ án với 50 bị cáo về tội phá thai trái phép [87].
Bảng 3.1. Số liệu thống kê xét xử sơ thẩm vụ án về tội phá thai trái phép ở các Tòa án cấp tỉnh và huyện trên toàn quốc
Tuy số lượng vụ án phá thai trái phép đã xét xử không nhiều nhưng diễn biến theo hướng giảm dần cả về số vụ và số bị cáo cho thấy việc thực thi quy định này đạt hiệu quả cao trong việc răn đe, trấn áp tội phạm.
Bên cạnh việc áp dụng các quy định của BLHS để xử lý các hành vi phạm tội xâm hại thiên chức làm mẹ, những quy định thể hiện chính sách bảo hộ đặc biệt đối với thiên chức làm mẹ trong khi xem xét mức độ nghiêm khắc của TNHS và hình phạt cũng được áp dụng nghiêm túc. Mọi trường hợp nữ bị cáo chứng minh được về tình trạng mang thai khi thực hiện tội phạm đều được xem xét để giảm nhẹ TNHS đối với họ theo quy định ở điểm l khoản 1 Điều 46 BLHS. Mức độ giảm nhẹ TNHS tương ứng với thời kỳ mang thai, ảnh hưởng của tình trạng thai nhi đến việc thực hiện tội phạm của bị cáo. Thậm chí, trong nhiều vụ án, các Tòa án còn vận dụng khoản 2 Điều 46 BLHS năm 1999 để thừa nhận việc nữ bị cáo mang thai khi xét xử (chứ không phải khi phạm tội) là tình tiết giảm nhẹ TNHS. Đồng thời với việc áp dụng tình tiết giảm nhẹ TNHS chung, trong 10 năm qua, quy định về tội giết con mới đẻ thay vì tội giết người đã được áp dụng trên cơ sở thông cảm với đặc điểm tâm sinh lý của người phụ nữ khi mới sinh nở ở các nữ bị cáo trong 45 vụ án [87]. Luận văn: Thực tiễn bảo vệ quyền phụ nữ bằng pháp luật hình sự.
Bảng 3.2. Số liệu thống kê xét xử sơ thẩm vụ án về tội giết con mới đẻ ở các Tòa án cấp tỉnh và huyện trên toàn quốc
Cùng với chính sách khoan hồng khi xem xét TNHS, quy định về trì hoãn, tạm đình chỉ thi hành hình phạt tù; hủy bỏ việc áp dụng, thi hành hình phạt tử hình đối với phụ nữ mang thai, nuôi con dưới 36 tháng tuổi cũng được thực thi triệt để. Ngay cả khi nữ bị cáo, nữ phạm nhân có dấu hiệu cố ý lợi dụng chính sách hình sự nhân đạo thì quy định vẫn được thực thi nhằm đảm bảo chế độ bảo hộ đặc biệt đối với thiên chức làm mẹ. Có những trường hợp hình phạt tù được hoãn thi hành liên tục từ 04 đến 05 lần do người bị kết án mang thai, nuôi con nhỏ. Thậm chí, hình phạt tử hình được hủy bỏ vì bị cáo, người bị kết án mang thai ngay trong điều kiện biệt giam ở các vụ việc nổi tiếng như: Nguyễn Thị Oanh tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hòa Bình năm 2006; Trần Thị Hương tại Trại giam Chí Hòa năm 2006;
Nguyễn Thị Huệ tại Trại tạm giam Công an tỉnh Quảng Ninh năm 2015. Những trường hợp như vậy khiến cho việc thực thi chính sách bảo hộ toàn diện đối với thiên chức làm mẹ của người phụ nữ trong luật hình sự Việt Nam được các nhà nghiên cứu nước ngoài đặc biệt đề cao [136, p.165].
3.3.1.2. Áp dụng các quy định bảo vệ các quyền con người dễ bị tổn thương do chủ thể của quyền là phụ nữ
Để bảo vệ các quyền: bình đẳng giới, tự do và an ninh cá nhân, tự do và an toàn tình dục, tự do hôn nhân của phụ nữ, trong vòng 10 năm từ 2007 đến 2016, các tòa án trên toàn quốc đã xét xử sơ thẩm đối với 23730 vụ án về các loại tội phạm có nạn nhân là phụ nữ hoặc chủ yếu là phụ nữ [87, Phụ lục 1].
Bảng 3.3. Số liệu thống kê xét xử sơ thẩm vụ án về các tội có nạn nhân là phụ nữ hoặc chủ yếu là phụ nữ ở các Tòa án cấp tỉnh và huyện trên toàn quốc
Cụ thể trong đó, để chống lại hành vi xâm hại nghiêm trọng quyền bình đẳng giới của phụ nữ, trong 10 năm qua TAND các cấp đã xét xử 14 bị cáo trong 10 vụ án về tội xâm phạm quyền bình đẳng của phụ nữ [87, Phụ lục 1].
Bảng 3.4. Số liệu thống kê xét xử sơ thẩm vụ án về tội xâm phạm quyền bình đẳng của phụ nữ ở các Tòa án cấp tỉnh và huyện trên toàn quốc Luận văn: Thực tiễn bảo vệ quyền phụ nữ bằng pháp luật hình sự.
Chống lại những hành vi xâm phạm nghiêm trọng quyền tự do và an toàn tình dục, từ năm 2007 đến 2016, các tòa án trên toàn quốc đã xét xử sơ thẩm 14056 vụ án với 16710 bị cáo về các tội phạm tình dục [87, Phụ lục 1]. Mặc dù không phải toàn bộ nhưng sự thật hiển nhiên là đại đa số các vụ xâm hại tình dục đều hướng tới nạn nhân là phụ nữ và trẻ em gái.
Bảng 3.5. Số liệu thống kê xét xử sơ thẩm các tội xâm phạm quyền tự do và an toàn về tình dục ở các Tòa án cấp tỉnh và huyện trên toàn quốc
Bên cạnh những tội phạm trực tiếp xâm hại về tình dục, những hành vi khác dẫn đến tổn hại quyền tự do và an toàn tình dục như: chứa mại dâm, môi giới mại dâm cũng bị xử lý về hình sự nghiêm khắc. Trung bình mỗi năm Tòa án nhân dân các cấp đã xét xử trên 800 vụ án về các tội phạm này [87, Phụ lục 1]:
Bảng 3.6. Số liệu thống kê xét xử sơ thẩm các tội liên quan đến mại dâm ở các Tòa án cấp tỉnh và huyện trên toàn quốc
Cũng giống như các tội trực tiếp xâm hại về tình dục, đối tượng bị mua dâm, bị coi như hàng hóa, đại đa số là phụ nữ và trẻ em gái. Xử lý về hình sự những hành vi mua dâm, chứa chấp và môi giới mại dâm thể hiện thái độ kiên quyết của Nhà nước trong việc chống lại sự chà đạp đối với nhân phẩm, quyền tự do và an toàn về tình dục của phụ nữ.
Để bảo vệ quyền tự do và an ninh cá nhân của phụ nữ, Bên cạnh việc xử lý các hành vi xâm phạm quyền tự do và an ninh cá nhân của con người nói chung, trong vòng 10 năm gần đây Tòa án các cấp đã xét xử và nghiêm trị 2652 bị cáo trong 1371 vụ mua bán phụ nữ (mua bán người) [87, Phụ lục 1].
Bảng 3.7. Số liệu thống kê xét xử sơ thẩm vụ án về tội mua bán phụ nữ (mua bán người) ở các Tòa án cấp tỉnh và huyện trên toàn quốc
Cùng với đó, mỗi năm các Tòa án trên toàn quốc đưa ra xét xử trung bình khoảng 10 vụ án về tội ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu, người có công nuôi dưỡng mình [87, Phụ lục 1]. Tuy rằng không phải tất cả nạn nhân trong các vụ án đó là phụ nữ nhưng thực tế, phụ nữ, trẻ em thường là nạn nhân chủ yếu của dạng bạo lực gia đình này.
Tương tự như vậy, người bị tước đoạt tự do trong các tội xâm phạm quyền tự do hôn nhân cũng chủ yếu là phụ nữ, trẻ em gái. Xử lý nghiêm những hành vi này, từ năm 2007 đến năm 2016 có 59 vụ án về các tội: tội cưỡng ép kết hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, tội tổ chức tảo hôn, tảo hôn, tội đăng ký kết hôn trái pháp luật đã bị đưa ra xét xử [87, Phụ lục 1].
Bảng 3.8. Số liệu thống kê xét xử sơ thẩm vụ án về một số tội xâm phạm quyền tự do hôn nhân ở các Tòa án cấp tỉnh và huyện trên toàn quốc
Tuy số lượng vụ án đã xét xử không nhiều nhưng việc bị xử lý về hình sự đối với những hành vi xâm phạm quyền tự do hôn nhân đã thể hiện tính nghiêm khắc của pháp luật đối với những hành vi này.
3.3.2. Tồn tại, hạn chế trong áp dụng các quy định bảo vệ quyền phụ nữ của Bộ luật hình sự năm 1999 Luận văn: Thực tiễn bảo vệ quyền phụ nữ bằng pháp luật hình sự.
Phân tích trên cho thấy, về cơ bản các quy định bảo vệ quyền phụ nữ trong BLHS được áp dụng nghiêm túc nhằm xử lý nghiêm minh những hành vi phạm tội xâm phạm quyền phụ nữ. Tuy nhiên, việc thực thi các quy định này thực tế vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế, vướng mắc:
Thứ nhất, hiệu quả áp dụng của các quy định bảo vệ quyền phụ nữ trong BLHS chưa cao. Sở dĩ khẳng định như vậy là vì việc thực thi những quy định này chưa đem đến tác dụng tốt về phương diện răn đe, phòng ngừa tội phạm. Số lượng vụ án về các tội xâm phạm quyền phụ nữ đã xét xử như phân tích ở mục (3.3.1) trên vẫn diễn biến theo hướng gia tăng. Chiều hướng đó có thể thấy rõ thông qua biểu đồ hóa số liệu xét xử (số liệu tại Phụ lục 1) các loại tội phạm này:
Mặc dù có giai đoạn (2009 – 2011) các loại tội phạm này diễn biến giảm nhưng khuynh hướng diễn biến cơ bản từ năm 2006 đến nay vẫn là gia tăng: từ khoảng 2000 vụ đến sấp xỉ 3000 vụ án được đưa ra xét xử sơ thẩm mỗi năm. Điều đó chứng tỏ những chế tài đã được thực thi của BLHS chưa đủ sức răn đe, trấn áp đối với các loại tội phạm xâm hại quyền phụ nữ.
Thứ hai, các quy định bảo vệ quyền phụ nữ trong BLHS chưa được thực thi triệt để, tình trạng bỏ lọt tội phạm diễn ra đối với nhiều loại tội xâm phạm quyền phụ nữ. Có những tội phạm bị xử lý về hình sự với số lượng rất nhỏ so với thực tế, thậm chí là không bị phát hiện, xử lý. Ví dụ: trong vòng 10 năm qua các Tòa án trên toàn quốc chỉ xét xử 86 vụ án về tội ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu, người có công nuôi dưỡng mình [87, Phụ lục 1].
Bảng 3.9. Số liệu thống kê xét xử sơ thẩm vụ án về tội ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng… ở các Tòa án cấp tỉnh và huyện trên toàn quốc
So sánh với thực tế bạo lực gia đình ở Việt Nam thì số liệu xét xử này khá cách biệt. Theo thống kê năm 2014 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du Lịch, mỗi năm ở nước ta có khoảng 50.000 vụ bạo lực gia đình mà trên 60% số vụ trong đó diễn ra với nạn nhân là phụ nữ [10]. Theo kết quả từ Nghiên cứu quốc gia về bạo lực gia đình với phụ nữ ở Việt Nam năm 2010 thì có 58% phụ nữ từng kết hôn đã từng bị ít nhất một trong ba loại bạo lực: thể xác, tinh thần hoặc tình dục bởi chồng; 35% phụ nữ Việt Nam đã từng bị bạo lực bởi chồng, bạn tình hoặc người trong gia đình [89, tr.51, 67]. So sánh tỉ lệ này với con số vụ án hình sự sơ thẩm đã thống kê có thể thấy rằng tội phạm về bạo lực gia đình đối với phụ nữ rõ ràng còn bị bỏ lọt.
Nếu như bạo lực gia đình đối với phụ nữ chỉ bị xử lý về hình sự ở tỉ lệ thấp thì bạo lực tình dục đối với phụ nữ diễn ra ở một số lĩnh vực hầu như chưa từng bị xử lý về hình sự. Điển hình đó là bạo lực tình dục diễn ra giữa vợ chồng hoặc bạo lực tình dục đối với phụ nữ hành nghề mại dâm. Khảo sát 150 bản án sơ thẩm ngẫu nhiên trên toàn quốc về các tội hiếp dâm, cưỡng dâm cho thấy không có vụ án nào mà quan hệ giữa nạn nhân với thủ phạm là quan hệ vợ chồng hoặc quan hệ giữa người mua dâm – bán dâm (danh mục vụ án khảo sát tại Phụ lục 3) Luận văn: Thực tiễn bảo vệ quyền phụ nữ bằng pháp luật hình sự.
Biểu đồ 3.2. Kết quả khảo sát mối quan hệ giữa thủ phạm và nạn nhân trong các vụ án hiếp dâm, cưỡng dâm theo tỉ lệ
Mặc dù khảo sát các bản án ngẫu nhiên cho thấy không xảy ra tội phạm hiếp dâm, cưỡng dâm giữa vợ – chồng nhưng Nghiên cứu quốc gia về bạo lực gia đình với phụ nữ ở Việt Nam năm 2010 lại cho kết quả là: 10% phụ nữ đã kết hôn từng bị bạo lực tình dục bởi chồng, trong đó 5,4% từng bị chồng ép quan hệ tình dục (con số này thực tế có thể cao hơn do tâm lý e ngại thổ lộ chuyện riêng của phụ nữ) [89, tr.56]. Tương tự như vậy, theo kết quả của một nghiên cứu từ Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội dưới sự tài trợ của Tổ chức Di cư quốc tế (IMO) thì: 30% phụ nữ mại dâm ở Việt Nam thừa nhận từng bị bạo lực tình dục khi hành nghề, 22% từng bị ép quan hệ tình dục ngoài thỏa thuận mua dâm. Ước tính ở Việt Nam có khoảng 300.000 phụ nữ hành nghề mại dâm thì tỉ lệ này là một con số không nhỏ [6, tr.45]. Điều tra xã hội học đối với 350 thẩm phán, kiểm sát viên và luật sư cũng cho kết quả là chưa từng ai trong số đó từng biết về việc đưa ra xử lý về hình sự đối với bất kỳ vụ hiếp dâm giữa chồng và vợ, giữa khách hàng và phụ nữ mại dâm nào (Phụ lục 2). Như vậy, thực tiễn xét xử không có án hiếp dâm, cưỡng dâm giữa chồng với vợ hay giữa khách mua dâm với phụ nữ mại dâm cho thấy tình trạng bỏ lọt tội phạm rõ rệt. Hơn nữa, việc những hành vi bạo lực tình dục diễn ra đối với phụ nữ mại dâm không bị xử lý còn thể hiện sự không bình đẳng với nhóm phụ nữ này trong áp dụng pháp luật hình sự.
Thứ ba, nhiều hành vi xâm hại nghiêm trọng quyền phụ nữ và có thể nguy hiểm đến mức đe dọa an ninh xã hội, diễn ra phổ biến trong thực tế nhưng không bị áp dụng TNHS. Đầu tiên phải kể đến là hành vi tước đoạt quyền bình đẳng về cơ hội được sinh ra, được sống của trẻ em gái – hành vi phá thai vì lý do giới tính của thai nhi. Mỗi năm ở Việt Nam có trung bình khoảng 1,3 triệu ca phá thai [34, tr. 208-212]. Tuy không xác định được chính xác tỉ lệ phá thai vì giới tính trong đó nhưng theo Tổng cục Thống kê, tình trạng mất cân bằng giới tính hiện nay ở nước ta chủ yếu là do việc lựa chọn giới tính trước khi sinh [90, tr.5]. Tỷ lệ trẻ sơ sinh chia theo giới tính ở nước ta năm 2013 sấp xỉ 114 bé trai trên 100 bé gái [91, tr. 81]. Theo dự tính của Tổng cục Dân số và kế hoạch hóa gia đình, đến năm 2050 Việt Nam sẽ phải đối mặt với tình trạng dư thừa từ 2,3 – 4,3 triệu nam giới không tìm được vợ để kết hôn [88]. Tình trạng thiếu phụ nữ sẽ làm gia tăng áp lực buộc các em gái phải kết hôn sớm hơn, gia tăng nạn mại dâm, buôn bán phụ nữ. Như vậy, hành vi phá thai vì lý do giới tính không chỉ nguy hiểm bởi nó tước đoạt quyền sống của những sinh mệnh đã hình thành rõ rệt mà còn bởi vì nó đe dọa an ninh, sự ổn định và phát triển của xã hội. Tuy nhiên, hiện nay hành vi phá thai lý do giới tính nếu không gây tổn hại nghiêm trọng đến sức khỏe, tính mạng của người mang thai thì vẫn không bị xử lý về hình sự. Luận văn: Thực tiễn bảo vệ quyền phụ nữ bằng pháp luật hình sự.
Quấy rối tình dục cũng là một hành vi diễn ra khá phổ biến, đặc biệt trong những môi trường tập thể như trường học, cơ quan, công sở, chủ yếu nhằm vào nạn nhân là phụ nữ và trẻ em gái. Đơn cử, theo Báo cáo nghiên cứu về quấy rối tình dục tại nơi làm việc ở Việt Nam do Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội thực hiện thì nữ giới chiếm 78,2% nạn nhân bị quấy rối tình dục tại nơi làm việc [7, tr.18]. Một khảo sát khác được tiến hành bởi tổ chức ActionAid Quốc tế tại Việt Nam và Trung tâm Nghiên cứu Giới – Gia đình (CGFED) cho thấy 87 % phụ nữ, trẻ em gái ở thành phố từng bị quấy rối tình dục [79, tr.27]. Quấy rối tình dục không tổn hại nghiêm trọng tới thân thể, quyền tự chủ về tình dục nhưng là sự lăng nhục đối với nhân phẩm, phủ nhận quyền được sống trong môi trường an toàn, lành mạnh của con người. Đối với phụ nữ, và trẻ em gái, quấy rối tình dục đặc biệt để lại nhiều hậu quả bất lợi về tâm lý, thần kinh. Vậy nhưng hành vi diễn ra phổ biến trong thực tế này lại chưa bị xử lý về hình sự.
Bên cạnh quấy rối tình dục, nhiều dạng hành vi phân biệt đối xử với phụ nữ cũng diễn ra phổ biến trong thực tế mà không bị xử lý về hình sự. Đơn cử trong tuyển dụng lao động có một thực tế là hầu hết đơn vị sử dụng lao động, người sử dụng lao động phổ thông khi tuyển công nhân nữ chỉ tuyển người chưa lập gia đình hoặc người đã sinh hai con vì quan ngại việc những lao động này sẽ có gây ảnh hưởng sản xuất khi mang thai, nghỉ thai sản theo chế độ [16, tr.69]. Trong khi Nhà nước đặt ra chế độ bảo hộ đặc biệt đối với thiên chức làm mẹ của phụ nữ thì những hành vi phân biệt đối xử với phụ nữ vì chính lý do họ thực hiện thiên chức này lại diễn ra phổ biến mà không bị xử lý.
Thứ tư, quan điểm cứng nhắc trong việc áp dụng quy định về các tội xâm phạm tình dục dẫn đến việc xử lý tội phạm không thỏa đáng với tính chất, hậu quả của hành vi hoặc vướng mắc trước sự biến đổi của tội phạm trong tình hình mới. Trong thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự, hành vi giao cấu thuộc mặt khách quan của các tội hiếp dâm, cưỡng dâm vẫn được nhìn nhận theo cách truyền thống cứng nhắc nên có nhiều trường hợp cưỡng ép thực hiện các hành vi tương tự giao cấu vốn có tác động, hậu quả không khác biệt so với giao cấu nhưng không bị truy cứu trách nhiệm về tội hiếp dâm hay cưỡng dâm mà xử lý theo tội danh khác ít nghiêm trọng hơn. Ví dụ như trong vụ án Y Wôl Kbuôr ở Buôn Ma Thuột bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 116 BLHS về Tội dâm ô với trẻ em trong khi hành vi của bị cáo hoàn toàn có tính chất, hậu quả như hiếp dâm trẻ em. Nội dung vụ án như sau: ngày 22/3/2009 Y Wôl Kbuôr uống rượu say nên về nhà bà nội ở buôn Krông A, xã Ea Tu, thành phố Buôn Ma Thuột ngủ. Đêm thức dậy uống nước, Y Wôl Kbuôr thấy cháu H (sinh năm 1997) nằm ngủ một mình dưới sàn nhà, Y Wôl Kbuôr cởi quần cháu H ra và dùng ngón tay sờ, ngoáy sâu vào bộ phận sinh dục của nhiều lần. Khi y nằm đè lên người cháu H để tiếp tục hành vi đồi bại thì cháu tỉnh giấc nên nên y bỏ ra ngoài. Sáng ngày 23/3/2009 gia đình cháu H đã tố giác Y Wôl Kbuôr. Kết quả giám định pháp y cho thấy cháu H bị chấn thương bộ phận sinh dục ngoài, rách mới màng trinh. Tại bản án số 313/2009/HSST, Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột đã tuyên phạt Y Wôl Kbuôr 06 tháng tù về tội dâm ô với trẻ em [82, tr.2-3]. Tội danh và mức hình phạt đó là quá nhẹ so với hành vi phạm tội của bị cáo. Mặc dù không thực hiện việc giao cấu bằng bộ phận sinh dục của mình nhưng tính chất và hậu quả từ hành vi của bị cáo đối với cơ thể, tinh thần của nạn nhân hoàn toàn không khác biệt với giao cấu. Vậy nhưng do quan điểm chỉ thừa nhận hành vi xâm nhập bộ phận sinh dục bằng bộ phận sinh dục mới thỏa mãn cấu thành tội hiếp dâm nên cơ quan áp dụng pháp luật đã kết tội bị cáo về tội dâm ô với trẻ em với hình phạt chỉ 06 tháng tù thay vì tội hiếp dâm trẻ em với mức hình phạt thấp nhất là 12 năm tù (nạn nhân chưa đủ 13 tuổi).
Tương tự như vậy, hành vi buộc nạn nhân quan hệ bằng miệng trong vụ án Lê Xuân Quý ở Quảng Bình cũng bị kết án về tội dâm ô với trẻ em. Tối ngày 05/4/2014 Lê Xuân Quý cho Cao Thị T (sinh năm 1999) đi nhờ xe máy. Đến chỗ vắng xe bị hỏng, Quý đẩy T nằm ra bãi cỏ, nắn bóp bộ phận sinh dục của T, buộc T dùng miệng bú mút bộ phận sinh dục của mình. Tại bản án số 51/2014/HSST, Tòa án nhân dân huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình tuyên Lê Xuân Quý 06 tháng tù về tội dâm ô với trẻ em [81, tr.3-4]. Xét về mặt biểu hiện, hành vi của Lê Xuân Quý trong vụ án này cũng là một dạng quan hệ tình dục, có tính chất tương tự giao cấu, thậm chí sự tổn hại đối với nhân phẩm còn nghiêm trọng hơn giao cấu. Tuy nhiên, do hành vi này không được thừa nhận là hành vi khách quan của tội hiếp dâm nên tội danh và hình phạt được xác định đối với bị cáo là quá nhẹ.
Bên cạnh việc việc không thừa nhận những hành vi tương tự giao cấu, trong thực tiễn áp dụng quy định về tội phạm tình dục còn tồn tại quan điểm cứng nhắc rằng hành vi quan hệ tình dục nhất định phải diễn ra giữa nam giới và nữ giới. Điều đó dẫn đến tình trạng lúng túng, vướng mắc trước những trường hợp hành vi cưỡng bức giao cấu diễn ra giữa những người chuyển giới, đồng giới. Ví dụ như vụ án sau đây đã bị bỏ ngỏ nhiều năm chưa được giải quyết: Tối ngày 07/4/2010, tại Thành phố Đồng Hới, Quảng Bình, Nguyễn Văn Tình cùng hai người bạn chở nhau bằng xe máy về nhà sau khi đã uống rượu say. Trên đường nhóm của Tình nhìn thấy một cô gái đi bộ một mình nên dừng xe tán tỉnh cô gái và bắt cô gái lên xe, chở đến bãi đất trống rồi thay nhau hãm hiếp. Ngay sau đó, nạn nhân đã đến Cơ quan điều tra tố cáo hành vi hiếp dâm của Nguyễn Văn Tình và đồng bọn. Sau khi bị bắt giữ, Tình và đồng bọn đã khai nhận toàn bộ hành vi đã thực hiện. Nhưng sau đó các điều tra viên phát hiện cô gái – nạn nhân là nam giới trên hộ tịch nhưng đã ra nước ngoài phẫu thuật chuyển đổi giới tính. Xác định đây là vụ án chưa từng xảy ra trong thực tế, nên Công an thành phố Đồng Hới đã chuyển vụ án lên cho Cơ quan điều tra công an tỉnh Quảng Bình. Ban đầu cơ quan điều tra và Viện kiểm sát tỉnh đều thống nhất khởi tố các bị can về Tội hiếp dâm theo Điều 111 BLHS.
Thế nhưng sau giai đoạn điều tra, trong nội bộ các cơ quan tố tụng của tỉnh lại có những ý kiến không đồng thuận nên chưa thể ra cáo trạng truy tố [52, tr.1, 5]. Cho đến nay vụ án bị kéo dài nhiều năm vẫn chưa được đưa ra xét xử [105, tr.3]. Thực chất, trong vụ án này hoàn toàn có thể xử lý các bị can về tội hiếp dâm vì hành vi của chúng là “dùng vũ lực để giao cấu với nạn nhân trái ý muốn của họ” – hành vi thỏa mãn cấu thành được mô tả tại Điều 111 BLHS năm 1999. Tuy nhiên, chỉ vì quan điểm cứng nhắc rằng quan hệ tình dục phải diễn ra giữa nam và nữ nên vụ án vẫn để ngỏ, quyền, lợi ích của nạn nhân chưa được pháp luật bảo vệ. Nếu ngược lại với vụ án này, nạn nhân là phụ nữ còn thủ phạm vốn là phụ nữ nhưng đã thực hiện chuyển giới thành đàn ông thì có lẽ các cơ quan chức năng vẫn sẽ lúng túng như vậy. Trong sự biến đổi của xã hội hiện nay, hành vi hiếp dâm, cưỡng dâm diễn ra với người đồng giới, người chuyển giới hoặc bởi người đồng giới, chuyển giới sẽ không còn là hiếm, nếu vẫn duy trì quan điểm áp dụng pháp luật như vậy thì nhiều vụ án tương tự sẽ không đưa ra xét xử được.
Thứ năm, hình phạt áp dụng trong một số trường hợp phạm tội đối với phụ nữ mà biết là có thai chưa thỏa đáng với tính chất nghiêm trọng của hành vi. Phạm tội đối với phụ nữ mà biết là có thai thể hiện tính chất tàn ác đặc biệt của hành vi phạm tội nên được BLHS quy định là tình tiết định khung tăng nặng đối với một số tội phạm. Đối với nhiều tội có tính chất bạo lực, đặc biệt là bạo lực về tình dục, tuy chưa bị quy định tình tiết định khung tăng nặng này nhưng vẫn nên cân nhắc hình phạt ở mức nghiêm khắc hơn so với trường hợp không nhận thức được về việc nạn nhân có thai và nghiêm khắc hơn hẳn trường hợp phạm tội với người bình thường. Tuy nhiên, trong thực tế, tình tiết này chưa được áp dụng thỏa đáng để xem xét TNHS của người phạm tội. Ví dụ như trong vụ án Phương Văn Đông phạm tội hiếp dâm ở Móng Cái, Quảng Ninh: Phương Văn Đông có 01 tiền án về tội cố ý gây thương tích, thi hành hình phạt tù xong năm 2011. Ngày 28/01/2012, Đông và em họ là Hùng đến quán karaoke hát và đòi mua dâm. Chị M là người đang trông quán đã từ chối với lí do mình chỉ trông quán hộ và đang có thai. Đông và Hùng đã đánh ngã, bóp cổ chị M để cho Hùng cưỡng hiếp chị M, sau đó còn lấy trộm một số tài sản trong quán karaoke. Tại bản án số 63 ngày 12/8/2012, Tòa án nhân dân thành phố Móng Cái bố các bị cáo phạm tội hiếp dâm và trộm tài sản, tuyên phạt Phương Văn Đông 36 tháng tù về tội hiếp dâm [83, tr.3-6]. Xét thấy mức án này là quá nhẹ so tính chất nghiêm trọng của hành vi phạm tội. Vì phạm tội đối với phụ nữ mà biết là có thai chưa được quy định là một tình tiết tăng nặng định khung hình phạt đối với tội hiếp dâm nên hành vi của bị cáo chỉ bị áp dụng khung hình phạt cơ bản của tội này là 02 đến 07 năm tù theo khoản 1 Điều 111 BLHS năm 1999. Tuy nhiên, phạm tội đối với phụ nữ có thai vẫn là một tình tiết tăng nặng TNHS chung hơn nữa bị cáo còn có một tình tiết tăng nặng TNHS khác là tái phạm (có một tiền án chưa được xóa án tích) nên việc áp dụng mức hình phạt thấp – chưa đến một phần hai so với mức cao nhất của khung hình phạt được áp dụng – rõ ràng là không thỏa đáng.
Một ví dụ khác tương tự với trường hợp trên là vụ án Lê Tiến Sỹ phạm tội hiếp dâm ở Quảng Ninh – Quảng Bình. Tối ngày 05/01/2010, Lê Tiến Sỹ điều khiển xe máy trên đường thì phát hiện người đi xe máy cùng chiều là phụ nữ – chị Lê Thị Hồng T ở cùng thôn với Sỹ. Sỹ nảy ra ý định hiếp dâm nên ép xe cho chị T ngã, sau đó đánh và dọa giết để buộc chị T quan hệ tình dục. Chị T van xin là đang có thai nhưng Sỹ vẫn thực hiện hành vi giao cấu. Khi đang giao cấu thì có người đi qua nên Sỹ bỏ chạy. Sau đó Sỹ có đến nhà chị T xin lỗi và xin bồi thường. Tại bản án số 13/2010/HSST, Tòa án nhân dân huyện Quảng Ninh, Quảng Bình tuyên phạt Lê Tiến Sỹ 30 tháng tù về tội hiếp dâm nhưng cho hưởng án treo vì cho rằng bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ TNHS như phạm tội lần đầu, ăn năn hối cải, thành khẩn khai báo, đã tự nguyện bồi thường thiệt hại, bố mẹ là người có công với cách mạng [80]. Như đã phân tích trong vụ án trên, mức án chưa đến một phần hai mức cao nhất của khung hình phạt cơ bản là đã rất nhẹ mà Tòa án còn cho bị cáo hưởng án treo. Trong khi đó, hành vi của bị cáo thể hiện tính dã man khi đã biết nạn nhân có thai mà vẫn hiếp dâm. Luận văn: Thực tiễn bảo vệ quyền phụ nữ bằng pháp luật hình sự.
Tựu chung lại, mặc dù đã được thực thi nghiêm túc để trấn áp các loại tội phạm xâm hại quyền phụ nữ nhưng việc áp dụng các quy định bảo vệ quyền phụ nữ của BLHS năm 1999 vẫn còn nhiều hạn chế, vướng mắc. Việc tìm ra nguyên nhân của thực trạng đó chính là cơ sở quan trọng để đề xuất giải pháp khắc phục.
3.3.3. Nguyên nhân tồn tại, hạn chế trong áp dụng các quy định bảo vệ quyền phụ nữ của Bộ luật hình sự năm 1999
Những tồn tại, hạn chế trong thực tiễn thực thi các quy định bảo vệ quyền phụ nữ của BLHS năm 1999 trong những năm vừa qua xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau, bao gồm cả khách quan và chủ quan.
3.3.3.1. Nguyên nhân khách quan
Nguyên nhân khách quan thứ nhất là do hạn chế tự thân của các quy định bảo vệ quyền phụ nữ trong BLHS năm 1999. Như đã phân tích, Bộ luật này còn có nhiều hạn chế trong việc bảo vệ quyền phụ nữ như: Quan điểm về các quyền phụ nữ được bảo vệ chưa đảm bảo tính phổ quát của những quyền này. Quy định về các tội tình dục chưa thực sự thể hiện quan điểm vị nữ quyền, thiếu cụ thể và bất cập so với thực tiễn tội phạm. Nhiều quy định nhằm bảo vệ quyền phụ nữ còn mắc lỗi kỹ thuật khiến cho Bộ luật không nhất quán, khó áp dụng hoặc có kẽ hở như: tình trạng đang mang thai của người phụ nữ được BLHS mô tả bất nhất; việc quy định tình tiết phạm tội đối với phụ nữ có thai làm tình tiết tăng nặng định khung hình phạt chưa tương xứng giữa một số tội; mô tả tội xâm phạm quyền bình đẳng của phụ nữ không được làm rõ động cơ phạm tội nên không phản ánh đúng bản chất của tội phạm; tội mua bán người không được mô tả rõ ràng gây khó khăn cho việc xác định cấu thành tội phạm, mô tả tội phá thai trái phép còn chung chung, thiếu chặt chẽ. Bộ luật còn bỏ lọt nhiều dạng hành vi mua bán người mà các văn kiện pháp lý quốc tế và quốc gia ngăn cấm; chưa đáp ứng được yêu cầu về chế độ bảo hộ đặc biệt đối với thiên chức làm mẹ trong lĩnh vực lao động, việc làm; chưa tội phạm hóa hành vi quấy rối tình dục. Một số quy định của BLHS này vẫn chưa phản ánh đầy đủ biểu hiện khách quan của hành vi phạm tội trong thực tiễn, bỏ lọt tội phạm hoặc chưa theo kịp diễn biến của chúng trong đời sống xã hội. Ví dụ như quan điểm lạc hậu về cấu thành của tội hiếp dâm, cưỡng dâm hoặc việc chưa tội phạm hóa hành vi phá thai vì lý do giới tính, mang thai hộ vì mục đích thương mại…. Luận văn: Thực tiễn bảo vệ quyền phụ nữ bằng pháp luật hình sự.
Chính những hạn chế nêu trên là một trong những nguyên nhân cơ bản khiến cho việc áp dụng các quy định bảo vệ bảo vệ quyền phụ nữ của BLHS năm 1999 trong thực tiễn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc.
Nguyên nhân khách quan thứ hai dẫn đến hạn chế trong áp dụng quy định bảo vệ quyền phụ nữ của BLHS là sự tồn tại và ảnh hưởng mạnh mẽ của những quan niệm bất bình đẳng giới, định kiến giới trong xã hội. Tư tưởng trọng nam khinh nữ, dòng tộc phụ quyền, gia trưởng vốn ăn sâu trong xã hội Việt Nam khiến cho nhiều dạng hành vi phân biệt đối xử, bạo lực, lạm dụng, tước đoạt tự do đối với phụ nữ, trẻ em gái vẫn không ngừng diễn ra công khai. Chính sự tồn tại của những tư tưởng ấy đã khiến cho nhiều người có hành vi dã man đặc biệt như “giết” đứa con đang hình thành của mình vì lý do giới tính của nó; khiến người ta phủ nhận khả năng, vai trò của phụ nữ; phân biệt đối xử với phụ nữ có khi chính bởi vì lý do họ thực hiện thiên chức cao cả của mình. Cũng bởi những quan niệm lạc hậu nên đối với nhiều nam giới bạo lực gia đình chỉ đơn giản là “dạy vợ, dạy con”, họ nhìn nhận mình là “bề trên”, có quyền chiếm hữu, định đoạt đối với vợ, người tình. Bản thân phụ nữ cũng còn nhiều người chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi tư tưởng “tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu” nên mặc nhiên chấp nhận, không phản kháng những hành vi tước đoạt tự do, xâm hại, lạm dụng từ chính những người thân của mình. Vì vậy nên các hành vi xâm phạm quyền phụ nữ mặc dù đã bị pháp luật nghiêm trị nhưng vẫn tiếp tục tồn tại ngang nhiên và còn gia tăng trong thực tiễn, làm cho hiệu quả áp dụng pháp luật không cao.
Nguyên nhân khách quan thứ ba là phần lớn các loại tội xâm phạm quyền phụ nữ thường xảy ra ở những môi trường có tính riêng tư nên khó phát giác, xử lý.
Đa số các hành vi xâm phạm quyền phụ nữ diễn ra ở những môi trường có tính riêng tư hoặc tế nhị, chẳng hạn như các tội phạm về tình dục, tội phạm liên quan đến bạo lực gia đình, phá thai trái phép…v.v. Do diễn ra ở những nơi riêng tư, chủ yếu chỉ có sự chứng kiến của nạn nhân và thủ phạm nên những hành vi này khó bị phát giác. Thậm chí, vì những lý do tế nhị hoặc cả những định kiến cổ hủ về thân phận, trinh tiết…, quan niệm “tốt khoe xấu che” của người Việt Nam, áp lực về danh dự gia đình, nên chính bản thân các nữ nạn nhân cũng che dấu, không muốn vụ việc phạm tội bị phát giác, xử lý. Đơn cử, theo Báo cáo quốc gia về bạo lực gia đình, có đến 87% phụ nữ bị bạo hành không tìm đến sự giúp đỡ của bất kỳ một cơ quan công quyền nào [89, tr.96]. Vì lẽ đó nên nhiều loại tội phạm chủ yếu nhằm vào phụ nữ và trẻ em gái còn ở tình trạng ẩn đa số.
Nguyên nhân khách quan thứ tư làm hạn chế hiệu quả thực thi của các quy định bảo vệ quyền phụ nữ trong BLHS là nhận thức về quyền phụ nữ, ý thức đấu tranh phòng ngừa và chống các tội xâm phạm quyền phụ nữ trong xã hội chưa cao.
Nhận thức về quyền phụ nữ, các tội xâm phạm quyền phụ nữ ở Việt Nam nhìn chung còn hạn chế, đặc biệt ở các tầng lớp dân cư có trình độ văn hóa thấp, nông thôn, vùng sâu vùng xa. Nam giới Việt Nam, thậm chí là cả một bộ phận lớn phụ nữ vẫn chưa hiểu và thừa nhận sự bình đẳng toàn diện về quyền và tự do của phụ nữ như tất cả mọi người. Chính vì vậy, họ chấp nhận hoặc thờ ơ, thậm chí đồng tình với việc tước đoạt, chà đạp một số quyền của phụ nữ. Nhận thức về một số loại tội phạm cụ thể vẫn còn nhiều sai lầm. Đặc biệt là đối với nhóm tội phạm về tình dục, nhiều người dân trong xã hội không cho rằng việc ép buộc quan hệ tình dục đối với vợ, người tình là phạm tội; không biết việc giao cấu với trẻ em khi có sự đồng thuận của trẻ em đó vẫn là tội phạm; quấy rối tình dục ở mức độ không quá nghiêm trọng được coi như biểu hiện của nam tính… Thậm chí, có loại tội xâm phạm quyền phụ nữ xảy ra do chính nhận thức, nhu cầu của phụ nữ. Đó là trường hợp của tội phá thai trái phép, hầu như xảy ra bởi tâm lý của phụ nữ ngại những quy định, thủ tục chặt chẽ có liên quan đến về việc phá thai của Nhà nước, mong muốn được tiến hành phá thai tại những nơi “kín đáo”, “thuận tiện” mà không quan tâm đến tính hợp pháp, sự an toàn của hoạt động đó. Nhận thức về quyền phụ nữ và các tội xâm phạm quyền phụ nữ chưa tốt là một trong những lý do dẫn đến ý thức đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm. Rất nhiều trường hợp quyền phụ nữ bị xâm hại do bản thân phụ nữ, trẻ em gái chưa có ý thức cao trong việc bảo vệ bản thân. Nhiều vụ xâm hại tình dục được tạo điều kiện bởi chính việc nạn nhân giao du với người lạ, đi lại một mình ở nơi vắng vẻ, say rượu khi ở cùng người khác giới… Nhiều vụ mua bán phụ nữ diễn ra do chị em tự dấn thân vào các hoạt động môi giới hôn nhân hoặc kết bạn, yêu đương với người lạ, qua mạng internet…v.v.
Bên cạnh ý thức tự phòng ngừa, bảo vệ của phụ nữ chưa cao thì sự giáo dục, quản lý, quan tâm, bảo vệ của gia đình, nhà trường, xã hội đối với phụ nữ, trẻ em gái cũng chưa đầy đủ. Việc giáo dục giới tính, nâng cao ý thức cảnh giác tội phạm đối với trẻ em ở Việt Nam hầu như chưa được chú trọng ở cả gia đình và nhà trường, thậm chí là né tránh. Các bậc cha mẹ thường chú trọng việc nuôi dưỡng, chăm sóc, tạo điều kiện học tập cho con cái vị thành niên nhiều hơn trông nom, quản lý. Xã hội còn thờ ơ trước những hành vi xâm hại quyền phụ nữ. Khảo sát của ActionAid Quốc tế tại Việt Nam và Trung tâm Nghiên cứu Giới – Gia đình trong Phát triển (CGFED) cho thấy 65% những người chứng kiến hành vi xâm hại tình dục đối với phụ nữ, trẻ em gái lựa chọn phương án im lặng, không có phản ứng gì [79, tr. 30]. Ngay cả các cơ quan quản lý cũng chưa chú trọng việc phòng ngừa các tội phạm chống lại phụ nữ. Ví dụ như trong khi rất nhiều camera giám sát đã được gắn trên đường để quản lý giao thông nhưng việc gắn camera an ninh ở những nơi vắng vẻ, những đoạn đường thường có người lao động nữ tan ca đêm… lại chưa được quan tâm. Việc quản lý hoạt động của các cơ sở khám chữa bệnh về sản phụ khoa còn lỏng lẻo. Khía cạnh giới trong quan hệ lao động, việc làm chưa được cơ quan quản lý chú trọng giám sát. Ý thức đấu tranh chống các tội phạm xâm phạm quyền phụ nữ trong cộng đồng dân cư không kiên quyết. Đối với các tội xâm phạm chế độ hôn nhân, gia đình, các tội phạm tình dục, tội xâm phạm sức khỏe sinh sản… đa số mọi người cho rằng đó là những vấn đề gia đình, cá nhân, không nên can thiệp. Thậm chí, vì những danh hiệu “làng văn hóa”, “gia đình văn hóa” mà cộng đồng dân cư tạo sức ép đối với nữ nạn nhân để họ bỏ qua, che dấu hành vi xâm hại nhân quyền của mình. Luận văn: Thực tiễn bảo vệ quyền phụ nữ bằng pháp luật hình sự.
3.3.3.2. Nguyên nhân chủ quan
Bên cạnh những nguyên nhân khách quan nêu trên, còn có một số nguyên nhân chủ quan gây ra hạn chế, vướng mắc trong thực tiễn áp dụng các quy định bảo vệ quyền phụ nữ của BLHS: Nguyên nhân chủ quan thứ nhất là hạn chế về nhân lực và chuyên môn, nghiệp vụ phù hợp với công tác bảo vệ quyền phụ nữ bằng pháp luật hình sự của các lực lượng thực thi, bảo vệ pháp luật. Để giải quyết tốt các vấn đề liên quan đến bảo vệ quyền phụ nữ bằng pháp luật không chỉ đòi hỏi kiến thức pháp luật, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của cán bộ tư pháp nói chung mà còn đòi hỏi những hiểu biết sâu sắc về nữ giới, về đặc thù riêng của các loại tội phạm xâm phạm quyền phụ nữ… Tuy nhiên, ở Việt Nam hiện nay không có bộ phận chuyên trách vấn đề này trong các cơ quan thực thi, bảo vệ pháp luật nên việc đầu tư bồi dưỡng chuyên môn liên quan không được tập trung, chuyên sâu. Lực lượng cán bộ nữ trong hệ thống cơ quan tư pháp hình sự lại chỉ chiếm một tỉ lệ nhỏ trong khi sự tham gia của họ có thể khiến cho việc áp dụng quy định pháp luật hình sự bảo vệ quyền phụ nữ tích cực và phù hợp hơn. Ví dụ, một trong những lý do mà các vụ bạo lực gia đình, xâm hại tình dục ít được các nạn nhân nữ báo cáo với cơ quan chức năng là vì họ mong muốn người tiếp nhận tố giác là nữ giới [89, tr.99] nhưng thực tế mong muốn đó khó có thể được đáp ứng. Theo khảo sát năm 2012, trong hệ thống các cơ quan tư pháp Việt Nam: nữ thẩm phán chỉ chiếm tỉ lệ khoảng 24%, nữ kiểm sát viên chiếm 15% còn nữ điều tra viên hình sự dưới 1%, nữ công an trực tiếp làm việc tại cộng đồng rất hiếm [17, tr.57-58]. Do tình trạng thiếu nhân lực nữ nên việc chủ động bố trí cán bộ nữ trong việc giải quyết vụ án liên quan đến phụ nữ không được coi trọng. Đơn cử trong hoạt động xét xử, khi khảo sát 350 cán bộ tư pháp và luật sư về việc Tòa án coi trọng sự có mặt thành viên nữ trong hội đồng xét xử vụ án xâm phạm quyền phụ nữ hay không thì: 79% trong số đó khẳng định rằng điều này hiếm khi được coi trọng, 21% còn lại cho rằng điều này có được coi trọng hay không tùy thuộc vào tính chất của vụ việc (Xem phụ lục 4). Sự thiếu thốn nhân lực chuyên trách và nhân lực nữ trong hệ thống tư pháp không chỉ làm giảm tính nhạy cảm giới trong giải quyết công việc chuyên môn của các cơ quan chức năng này mà còn có thể khiến cho lập trường áp dụng pháp luật mang nặng nam tính, thiếu phù hợp với đặc thù của vụ việc. Luận văn: Thực tiễn bảo vệ quyền phụ nữ bằng pháp luật hình sự.
Nguyên nhân chủ quan thứ hai là hạn chế của cơ quan tư pháp hình sự về khả năng đáp ứng nhu cầu trợ giúp của nạn nhân của các tội xâm phạm quyền phụ nữ. Như đã nêu, nạn nhân của bạo lực gia đình và xâm hại tình dục trong gia đình thường ngại tìm đến sự giúp đỡ của cơ quan công an vì cho rằng cách xử lý của cơ quan chức năng thiếu tế nhị hoặc kém hiệu quả đối với những vụ việc này. Trên thực tế, công an thường không xác định người vợ là nạn nhân bị cưỡng dâm, vì theo chuẩn mực văn hóa người phụ nữ không được từ chối đáp ứng nhu cầu tình dục của chồng [17, tr.16]. Công an thường có xu hướng chỉ đánh giá bạo lực gia đình ở các sự việc vừa xảy ra mà không chú ý tới thực tế là bạo lực gia đình là một quá trình bạo hành kéo dài [98, tr.8]. Mà từng sự kiện riêng lẻ trong chuỗi bạo lực gia đình thì hầu như ít khi cấu thành tội phạm nên đa số lại được chuyển sang giải quyết bằng thủ tục hành chính hoặc hòa giải. Những người làm nghề mại dâm khi bị cưỡng hiếp thường không trình báo vụ việc với cơ quan công an do hành vi bán dâm là một vi phạm hành chính và do sợ sự kỳ thị của xã hội [6, tr.51]. Nạn nhân bị buôn bán thường khó trình báo sự việc, một mặt do hạn chế về đi lại, nhận thức, mặt khác là do sự hăm dọa của kẻ phạm tội với họ mà họ lại không được hưởng chế độ bảo vệ nhân chứng… Những hạn chế đó khiến cho phần đông nạn nhân của nhiều tội xâm phạm quyền phụ nữ chưa nhận được sự trợ giúp, bảo vệ cần thiết; tội phạm không được xử lý hiệu quả, triệt để.
Nguyên nhân chủ quan thứ ba là nhận thức, quan điểm của cơ quan thực thi pháp luật còn có một số bất cập hoặc chịu sự ảnh hưởng bởi định kiến. Đơn cử, như đã phân tích, quan điểm áp dụng quy định về các tội hiếp dâm, cưỡng dâm của cơ quan bảo vệ pháp luật còn cứng nhắc, lạc hậu so với sự biến đổi của xã hội, thực tiễn tội phạm. Nhận thức liên quan vẫn bị bó buộc bởi một văn bản hướng dẫn từ mấy thập kỷ trước. Đối với bạo lực gia đình, bạo lực tình dục trong gia đình, nhiều cán bộ còn nhận thức là những vấn đề không nghiêm trọng, riêng tư, không cần phải can thiệp. Do pháp luật của Việt Nam được thực thi trong bối cảnh đề cao ý tưởng về “gia đình hạnh phúc” nên biện pháp hòa giải thường được ưu tiên để giải quyết các vụ bạo lực gia đình nhằm khôi phục sự bình ổn, duy trì sự vẹn toàn của gia đình hơn là chú ý tới an toàn của người phụ nữ [17, tr.11].
Sự cộng hưởng cùng lúc của tất cả các nguyên nhân khách quan, chủ quan nêu trên chính là những yếu tố gây ra hạn chế về hiệu quả thực thi của các quy định nhằm bảo vệ quyền phụ nữ của BLHS.
Kết luận Chương 3 Luận văn: Thực tiễn bảo vệ quyền phụ nữ bằng pháp luật hình sự.
Đánh giá việc bảo vệ quyền phụ nữ bằng pháp luật hình sự trong thực tiễn pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật ở Việt Nam cho phép rút ra một số kết luận như sau:
1. Các quy định bảo vệ quyền phụ nữ trong pháp luật hình sự Việt Nam hiện nay không phải là những ý tưởng lập pháp hoàn toàn mới mẻ mà là sự kế thừa từ cả quá trình phát triển lâu dài trong lịch sử pháp luật hình sự nước ta. Các quy định nhằm bảo vệ quyền phụ nữ trong pháp luật hình sự phong kiến hoặc pháp luật hình sự của Nhà nước Cách mạng trước pháp điển hóa và sau pháp điển hóa tuy còn có những hạn chế nhất định nhưng đã tạo ra nền móng cho hệ thống các quy định bảo vệ quyền phụ nữ trong pháp luật hình sự hiện nay.
2. BLHS năm 1999 đã có một hệ thống các quy định nhằm bảo vệ quyền phụ nữ từ Phần chung cho đến Phần các tội phạm. BLHS năm 1999 đã xác định nhiệm vụ bảo vệ quyền phụ nữ thông qua nhiệm vụ bảo vệ quyền công dân; tội phạm hóa và trừng phạt nghiêm khắc những hành vi xâm hại quyền thực hiện thiên chức làm mẹ, quyền bình đẳng giới, quyền tự do và an toàn tình dục, quyền tự do và an ninh cá nhân, quyền tự do hôn nhân của phụ nữ; chú trọng khía cạnh nữ tính, đặc điểm giới trong một số quy định về tội phạm hoặc để xem xét giảm nhẹ mức độ nghiêm khắc của TNHS; trì hoãn hoặc loại trừ việc áp dụng, thi hành những hình phạt mà gây ảnh hưởng, cản trở quyền phụ nữ.
3. Tuy nhiên, trong việc bảo vệ quyền phụ nữ, BLHS năm 1999 vẫn còn nhiều hạn chế mà cụ thể là: quan điểm về các quyền phụ nữ được bảo vệ chưa đảm bảo tính phổ quát của chúng; một số quy định bảo vệ quyền phụ nữ nhưng lại chưa thực sự phù hợp với nữ tính, thiếu cụ thể và bất cập so với thực tiễn tội phạm, mắc lỗi kỹ thuật khiến cho Bộ luật không nhất quán, khó áp dụng hoặc có kẽ hở; chưa đáp ứng được yêu cầu về chế độ bảo hộ đặc biệt đối với thiên chức làm mẹ trong quan hệ lao động; bỏ lọt tội phạm hoặc một số dạng hành vi của tội phạm mà các văn kiện pháp lý quốc tế và quốc gia ngăn cấm; chưa phản ánh đầy đủ biểu hiện khách quan của hành vi phạm hoặc chưa theo kịp diễn biến của chúng trong đời sống xã hội.
4. Nghiên cứu thực tiễn áp dụng các quy định bảo vệ quyền phụ nữ của BLHS năm 1999 trong 10 năm gần đây cho thấy mặc dù các quy định này đã được thực thi nghiêm túc nhưng vẫn còn nhiều tồn tại, hạn chế như: Hiệu quả áp dụng chưa cao, tội phạm xâm phạm quyền phụ nữ vẫn gia tăng, nhiều loại tội xâm phạm quyền phụ nữ còn ở tình trạng ẩn đa số. Việc áp dụng những quy định bảo hộ đặc biệt đối với quyền thực hiện thiên chức làm mẹ của BLHS dễ bị lợi dụng để trốn tránh TNHS. Nhiều hành vi xâm hại nghiêm trọng quyền phụ nữ và nguy hiểm đến mức đe dọa an ninh xã hội, diễn ra phổ biến trong thực tế nhưng không bị áp dụng TNHS. Quan điểm cứng nhắc trong việc áp dụng quy định về các tội phạm tình dục dẫn đến việc xử lý tội phạm không thỏa đáng với tính chất, hậu quả của hành vi hoặc bất cập trước sự biến đổi của tội phạm trong tình hình mới. Hình phạt áp dụng trong một số trường hợp phạm tội đối với phụ nữ mà biết là có thai chưa thỏa đáng với tính chất nghiêm trọng của hành vi.
5. Những tồn tại, hạn chế trên, xuất phát từ nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan khác nhau. Về khách quan: bản thân các quy định bảo vệ quyền phụ nữ trong BLHS năm 1999 còn nhiều thiếu sót; những quan niệm bất bình đẳng giới, định kiến giới còn tồn tại và ảnh hưởng mạnh mẽ trong xã hội; phần lớn các loại tội xâm phạm quyền phụ nữ thường xảy ra ở những môi trường có tính riêng tư nên khó phát giác, xử lý; nhận thức về quyền phụ nữ, ý thức đấu tranh phòng ngừa và chống các tội xâm phạm quyền phụ nữ trong xã hội chưa cao. Về chủ quan: các lực lượng thực thi, bảo vệ pháp luật còn hạn chế về nhân lực và chuyên môn, nghiệp vụ phù hợp để phục vụ công tác bảo vệ quyền phụ nữ bằng pháp luật hình sự; khả năng của các cơ quan tư pháp hình sự trong việc đáp ứng nhu cầu trợ giúp của nạn nhân của các tội xâm phạm quyền phụ nữ chưa cao; nhận thức, quan điểm của cơ quan áp dụng pháp luật hình sự còn có một số bất cập hoặc chịu sự ảnh hưởng bởi định kiến; một bộ phận nhỏ cán bộ thực thi pháp luật còn thiếu trách nhiệm, tinh thần mẫn cán nghề nghiệp… Để nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định bảo vệ quyền phụ nữ trong BLHS cần phải khắc phục đồng thời cả những nguyên nhân khách quan và chủ quan trên. Luận văn: Thực tiễn bảo vệ quyền phụ nữ bằng pháp luật hình sự.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Hoàn thiện bảo vệ quyền phụ nữ bằng pháp luật hình sự

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com
