Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Thực thi PL vấn đề ô nhiễm không khí xuyên biên giới hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Thực thi pháp luật quốc tế về vấn đề ô nhiễm không khí xuyên biên giới dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
2.1. Thiết chế quốc tế bảo đảm và giải quyết vấn đề ô nhiễm không khí xuyên biên giới
2.1.1. Chương trình và tổ chức quốc tế trực thuộc Liên hợp quốc
2.1.1.1 Chương trình môi trường Liên hợp quốc
Chương trình môi trường Liên hợp quốc (UNEP) được thành lập ngày 15/12/1972 theo Nghị quyết 2997 (XXVII) của Đại hội đồng Liên hợp quốc. UNEP là tổ chức duy nhất của Liên hợp quốc được thành lập nhằm mục đích đưa ra nhưng đường lối có tính chỉ đạo và các chương trình hành động toàn cầu nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống mà không gây tổn hại cho thế hệ tương lai; đóng vai trò xúc tác, điều phối; cung cấp tư vấn kỹ thuật, pháp lý và cơ cấu tổ chức cho các chính phủ nâng cao về khả năng xây dựng thể chế và các sáng kiến phát triển bền vững.
UNEP tập trung giải quyết các vấn đề môi trường được quy định trong Chương trình nghị sự 21: Bảo vệ bầu khí quyển, đối phó với thay đổi khí hậu và sự nóng lên của trái đất, tầng ô zôn, ô nhiễm không khí; bảo vệ chất lượng nước sạch… UNEP đã đóng góp tích cực trong lĩnh vực xây dựng hệ thống pháp lý quốc tế. Hiện nay UNEP đã hình thành một hệ thống các điều ước quốc tế về lĩnh vực môi trường. Mỗi khi một điều ước quốc tế có hiệu lực thì một Ban Thư ký được hình thành để thúc đẩy việc thực hiện điều ước đó. Hỗ trợ các nước về mặt kỹ thuật, chuyên gia tư vấn trong việc xây dựng luật, chính sách và hỗ trợ xây dựng các hướng dẫn và hiệp ước về những vấn đề như thương mại quốc tế với các hóa chất có hại, ô nhiễm không khí xuyên biên giới và ô nhiễm nguồn nước quốc tế [45]. Luận văn: Thực thi PL vấn đề ô nhiễm không khí xuyên biên giới.
Vấn đề môi trường ngày càng trở thành vấn đề toàn cầu và được toàn thế giới quan tâm. Nó cũng đặt ra cho nhân loại nhiều vấn đề đa dạng, phức tạp và nan giải. UNEP có cơ cấu tổ chức bao gồm Hội đồng quản trị gồm 58 nước thành viên với nhiệm kỳ 3 năm do Đại hội đồng Liên hợp quốc bầu theo vùng địa lý. Hội đồng quản trị họp mỗi năm một lần nhằm kiểm điểm việc thực hiện các nghị quyết của Đại hội đồng Liên hợp quốc và đưa ra các chương trình hoạt động có tính chất chiến lược toàn cầu trong lĩnh vực môi trường. Ban Thư ký là Giám đốc chấp hành do Đại hội đồng Liên hợp quốc bầu ra với nhiệm 5 năm. Ban điều phối về môi trường: Ban điều phối về môi trường bao gồm những người đứng đầu các tổ chức trong hệ thống Liên hợp quốc, do Giám đốc chấp hành của UNEP làm Chủ tịch. Qua Ban điều phối này, UNEP là tổ chức duy nhất của Liên hợp quốc thực hiện được vai trò phối hợp và xúc tác trong lĩnh vực môi trường.
2.1.1.2 Tổ chức Y tế thế giới
WHO thành lập năm 1946 và trở thành tổ chức chuyên môn của Liên hợp quốc năm 1948. Văn kiện thành lập WHO đã đề ra mục tiêu là nô lực đảm bảo cho mọi người có sức khỏe tốt nhất. WHO đóng vai trò điều phối các hoạt động y tế quốc tế, duy trình dịch vụ y tế quốc tế cần thiết, phát động các chiến dịch phòng chống dịch bệnh.
Trong vấn đề đảm bảo chống lại ô nhiễm không khí xuyên biên giới, WHO đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo chất lượng không khí. Cụ thể, các quy định pháp lý và các tiêu chuẩn chất lượng không khí từng quốc gia là không giống nhau nhưng thông thường hướng dẫn của WHO về chất lượng không khí là cuốn sổ tay cơ bản để các nước đang phát triển giải quyết các vấn đề sau [10]:
Xác định các chất gây ô nhiễm cần quan tâm – Liệt kê các loại nguồn ô nhiễm đã biết, các hướng dẫn và quy trình đánh giá nhanh của AMIS (Air Management Information System) có thể xác định nguồn ô nhiễm nguy hại nhất cũng như tính toán mức độ xả thải của các nguồn này.
Nồng độ chất ô nhiễm đang tồn tại trong không khí – Thông tin về nồng độ chất ô nhiễm trong không khí trên toàn cầu dựa vào cơ sở dữ liệu của từng quốc gia và của Tổ chức khí tượng thế giới (WMO, 2007) có thể dùng để tính toán nồng độ các chất ô nhiễm. Hệ thống hỗ trợ ra quyết định Kiểm soát ô nhiễm công nghiệp (DSS IPC – Decision Support System for Industrial Pollution Control) và bản kê khai phát thải của Diễn đàn ô nhiễm không khí toàn cầu (GAPT) là hai công cụ hữu hiệu dễ sử dụng, giúp tính toán nồng độ dựa trên các tính toán phát thải ban đầu cùng các mô hình mô phỏng khuếch tán khí thải đơn giản.
Phương pháp giám sát phù hợp và độ bảo đảm chất lượng của phương pháp – các phương pháp giám sát trên mặt đất thích hợp và tiết kiệm chi phí nhất được lựa chọn dựa trên Tuyển tập Sổ tay hướng dẫn phương pháp AMIS-GEMS/AIR. Trong những ấn bản đó, UNEP và WHO đã đưa ra những lời khuyên đơn giản về giám sát, chọn địa điểm và bảo đảm chất lượng của phương pháp khi lượng thông tin và công cụ giải quyết không nhiều. Các cơ quan khác cũng phát hành một số ấn bản mang đến cái nhìn sâu hơn về các chiến lược giám sát. Luận văn: Thực thi PL vấn đề ô nhiễm không khí xuyên biên giới.
Giá trị bằng số của các tiêu chuẩn áp dụng với nhiều chất gây ô nhiễm hoặc quy trình đưa ra quyết định – Các tiêu chuẩn chất lượng không khí có thể dựa theo bản hướng dẫn của WHO về chất lượng không khí. Ngoài ra còn có một số khía cạch khác cũng liên quan đến quy trình thiết kế tiêu chuẩn và các biện pháp giảm lượng khí xả hiệu quả như tính khả thi về mặt kỹ thuật, chi phí thích nghi, mức độ phơi nhiễm phổ biến và yếu tố kinh tế – văn hóa – xã hội. Nhiều tiêu chuẩn chất lượng không khí, ví dụ các tiêu chuẩn hướng tới hiệu quả, có thể được xác định là mục tiêu dài hạn, trong khi đó một số tiêu chuẩn ít chặt chẽ hơn sẽ nhằm vào các mục tiêu ngắn hạn hơn. Vì thế các tiêu chuẩn chất lượng không khí ở các quốc gia khác nhau sẽ không giống nhau. Quyển sách hướng dẫn về Chất lượng không khí cho phép tiêu chuẩn chất lượng không khí ở từng quốc gia riêng biệt được thay đổi dựa trên các số liệu nồng độ có sẵn. Liên minh châu Âu EU và Thụy sỹ đã lấy số liệu trong bản hướng dẫn của WHO làm tiêu chuẩn áp dụng trên khu vực, đất nước mình.
Các biện pháp kiểm soát khí xả và các tiêu chuẩn khí xả – Khi xét các loại nguồn ô nhiễm và tính toán độ xả thải của các nguồn này qua phương pháp đánh giá nhanh và độ phân tán trong không khí của chúng thì hệ thống hỗ trợ ra quyết định Kiểm soát ô nhiễm công nghiệp (DSS IPC) và bản kê khai phát thải của GAPF có thể dùng để tăng hiệu quả kiểm soát và áp dụng các tiêu chuẩn phù hợp với những nguồn phát thải chính đó.
Xác định các tác động tiêu cực tới sức khỏe cộng đồng và môi trường sống cần phòng tránh – Các tác động tiêu cực tới sức khỏe bao gồm tử vong, bệnh cấp và mãn tính, đau ốm nhẹ và tạm thời, thay đổi tâm sinh lý tạm thời. Các tiêu chuẩn đặt ra cần dựa vào các tác động tiêu cực của chất gây ô nhiễm tới sức khỏe con người như trên. Trong bước đầu tiêu khi thiết lập tiêu chuẩn, các nước đang phát triển chưa cần quan tâm tới các tác động tiêu cực tới sức khỏe mang tính tạm thời hoặc thuận nghịch hoặc liên quan tới các biến đổi sinh hóa, thay đổi chức năng ở mức độ lâm sàng không ổn định. Các đánh giá tác động tiêu cực tới sức khỏe có thể không giống nhau giữa các quốc gia do sự khác biệt văn hóa, và mức độ sức khỏe. Các tiêu chuẩn chất lượng không khí ảnh hưởng lớn tới quá trình thực hiện các chính sách kiểm soát ô nhiễm không khí. Ở nhiều nước, tình trạng vượt quá tiêu chuẩn đã đặt ra một yêu cầu cấp thiết về các kế hoạch hành động giải quyết ô nhiễm không khí (các kế hoạch thực hiện làm sạch không khí). Luận văn: Thực thi PL vấn đề ô nhiễm không khí xuyên biên giới.
Khoanh vùng dân cư cần được bảo vệ khỏi các tác động tiêu cực tới sức khỏe do ô nhiễm không khí gây ra – Các nhóm dân số dễ bị tổn thương nhất bao gồm trẻ sơ sinh, phụ nữ có thai, người khuyết tật và người già. Các nhóm khác có thể được đưa vào diện có nguy cư chịu ảnh hưởng cao do phơi nhiễm (công nhân làm ngoài trời, vận động viên và trẻ em). Các nhóm dễ bị tổn thương có thể khác nhau ở các quốc gia khác nhau do trình độ chăm sóc sức khỏe, dinh dưỡng, lối sống, và các yếu tố gene trội, hoặc do xuất hiện bệnh dịch trong vùng địa phương, hoặc do lây lan bệnh gây suy nhược. Các hướng dẫn về chất lượng không khí được xây dựng thành các nhóm dễ bị tổn thương hơn do ô nhiễm không khí.
2.1.1.3. Ủy ban Kinh tế châu Âu của Liên hợp quốc
ECE tổ chức kinh tế khu vực của Liên hợp quốc, thành lập năm 1947 theo Nghị quyết của Đại hội đồng Liên hợp quốc và Hội đồng Kinh tế và xã hội (ECOSOC), với tư cách lúc đầu là cơ quan lâm thời của Liên hợp quốc. Năm 1951, trở thành Ủy ban Thường trực của Liên hợp quốc, gồm 38 thành viên Liên hợp quốc ở lục địa châu Âu. Hiện nay, thành viên của UNECE gồm tất cả các nước châu Âu cùng Hoa Kỳ, Canada. UNECE có nhiệm vụ: thúc đẩy phát triển kinh tế và xã hội ở châu Âu; mở rộng quan hệ hợp tác giữa các nước châu Âu với nhau và giữa các nước châu Âu với các nước khu vực khác trên thế giới. Hằng năm, UNECE tổ chức các phiên họp thường niên, song phần lớn các hoạt động được thực hiện trong các nhóm làm việc và các cuộc họp của chuyên gia. Định ước Henxinhki 1975 về an ninh và hợp tác châu Âu khuyến khích các nước kí định ước thông qua UNECE để thực hiện các điều khoản của định ước trên các lĩnh vực kinh tế, kĩ thuật và môi trường. UNECE hợp tác với nhiều tổ chức liên chính phủ và phi chính phủ trong việc phổ biến các thông tin về thống kê và kĩ thuật. Cơ quan cao nhất của tổ chức là Khoá họp toàn thể, cơ quan hành chính là Ban Thư kí [48]. Luận văn: Thực thi PL vấn đề ô nhiễm không khí xuyên biên giới.
UNECE giúp cho các nước triệu tập và hợp tác về quy chuẩn, tiêu chuẩn và quy ước. UNECE cũng giúp thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững bằng cách dịch các mục tiêu toàn cầu vào các định mức, tiêu chuẩn và công ước về môi trường. Kể từ năm 1979, 16 công cụ ràng buộc về mặt pháp lý quốc tế có 05 Công ước và 11 Nghị định thư đã được phát triển trong khuôn khổ UNECE. Những điều ước đó là những yếu tố quan trọng của khung pháp lý chung châu Âu, là những công cụ cụ thể và hiệu quả để tích hợp các nước có nên kinh tế đang chuyển đổi thành một không gian pháp lý và kinh tế châu Âu.
- UNECE có vai trò rất lớn trong việc bảo đảm thực hiện Công ước EIA và Công ước CLTAP.
Trong Công ước EIA năm 1991, Điều 13 của Công ước có quy định về Ban Thư ký của Công ước ―Thư ký điều hành của Ủy ban Kinh tế châu Âu sẽ thực hiện chức năng thư ký sau đây:
- Việc triệu tập và chuẩn bị các cuộc họp của các Bên;
- Việc truyền tải các báo cáo và các thông tin khác được tiếp nhận theo quy định của Công ước này cho các Bên; và
- Việc thực hiện các chức năng khác có thể được quy định trong Công ước này hoặc có thể được xác định bởi các bên [17, Điều 13].
Như vậy, Ban Thư ký của Công ước này được chỉ định là Thư ký điều hành của Ủy ban Kinh tế Châu Âu điều này rất thuận lợi cho việc chuẩn bị các cuộc họp của các bên, ban thư ký như là một đầu mối truyền tải thông tin cho các bên, các báo cáo của các bên trọng việc thực hiện Công ước này.
Cuộc họp của các Bên tham gia Công ước thành lập một Ủy ban thực hiện vào năm 2001 về việc xem xét việc tuân thủ thực hiện nghĩa vụ của các Bên theo Công ước nhằm giúp các bên đáp ứng đầy đủ các cam kết.
Ủy ban thực hiện đưa ra một tài liệu gọi là ý kiến của Ủy ban thực hiện là để hỗ trợ các Bên tham gia Công ước trong việc tuân thủ các nghĩa vụ của họ, lưu ý rằng “mối quan tâm tuân thủ cả về thực hiện pháp luật và áp dụng thực tiễn”. Tài liệu này chủ yếu bao gồm những trích dẫn trực tiếp của những ý kiến và kiến nghị của Ủy ban thực hiện trong giai đoạn 2001-2010, như thể hiện trong các báo cáo của các kỳ họp, trong báo cáo của mình cho kỳ họp thứ tư của Hội nghị của các Bên và trong những phát hiện và khuyến nghị của mình sau đó phải có một lộ trình hình thành nên sáng kiến của Ủy ban [40].
Tại Công ước CLTAP, Điều 10 của Công ước quy định về cơ quan điều hành:
- Đại diện của các bên ký kết sẽ, trong giới hạn khuôn khổ các cố vấn cấp cao cho các chính phủ thuộc ECE về vấn đề môi trường, thành lập nên cơ quan điều hành thực hiện Công ước, và sẽ họp ít nhất nhất mỗi năm trong cương vị của mình.
- Cơ quan điều hành có trách nhiệm: a) Xem xét việc thực hiện Công ước này; b) Thành lập, khi thích hợp, các nhóm làm việc để xem xét các vấn đề liên quan đến thực hiện và phát triển của Công ước này và để chuẩn bị thích hợp nghiên cứu và tài liệu khác và gửi kiến nghị để được xem xét bởi cơ quan điều hành;c) Thực hiện các chức năng khác có thể thích hợp theo quy định thực hiện Công ước. Luận văn: Thực thi PL vấn đề ô nhiễm không khí xuyên biên giới.
- Cơ quan Điều hành sẽ phải sử dụng cơ chế chỉ đạo cho các EMEP đóng một phần không thể thiếu trong hoạt động của Công ước này, đặc biệt liên quan đến thu thập dữ liệu và khoa học với hợp tác.
- Cơ quan Điều hành, trong xả chức năng của mình, có trách nhiệm, nếu thấy thích hợp, cũng sử dụng thông tin từ các tổ chức quốc tế khác có liên quan [15, Điều 10].
Và Điều 11 của Công ước cũng quy định về Ban thư ký của Công ước: ―Thư ký điều hành của Ủy ban Kinh tế Châu Âu thực hiện, cho cơ quan điều hành, các chức năng thư ký sau đây:
- Triệu tập và chuẩn bị các cuộc họp của Cơ quan Điều hành;
- Để truyền tải tới các Bên ký kết các báo cáo và các thông tin khác nhận được phù hợp với các quy định của Công ước này;
- Thực hiện các chức năng của Cơ quan Điều hành giao [17].
Như vậy, Công ước này đã thành lập nên cơ quan Điều hành để thực hiện Công ước, các thành viên của cơ quan Điều hành là các cố vấn cấp cao của ECE về vấn đề môi trường, vì vậy, thông qua cơ quan Điều hành, ECE sẽ bảo đảm cho việc thực hiện công ước của các quốc gia thành viên.
2.1.2. Các thiết chế khu vực
Bên cạnh các thiết chế quốc tế toàn cầu như UNECE, WHO, UNEP… các thiết chế khu vực cũng có những vai trò nhất định trong việc duy trì và đảm bảo giải quyết vấn đề ô nhiễm không khí xuyên biên giới ở cấp độ quốc gia cũng như nhiều khu vực khác nhau trên thế giới. Trong những thiết chế quốc tế khu vực đảm bảo vấn đề giải quyết ô nhiễm không khí xuyên biên giới nổi bật là Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á.
Hiệp hội các nước Đông Nam Á như đã nêu trong Tuyên bố Bangkok 8.8.1967, đặc biệt là thúc đẩy tăng cường hợp tác khu vực ở Đông Nam Á với tinh thần bình đẳng và quan hệ đối tác hợp tác và do đó góp phần vào thúc đẩy hòa bình, tiến bộ và phồn vinh thịnh vượng trong khu vực. Năm 1990, các Bộ trưởng Môi trường ASEAN nhóm họp thỏa thuận Kuala Lumpur về Môi trường và Phát triển 19/06/1990 quy định cần có nhiều cố gắng nỗ lực kể cả cố gắng tiến tới hài hòa các biện pháp ngăn chặn và giảm bớt ô nhiễm xuyên biên giới và đến năm 1995 Kế hoạch hợp tác của ASEAN về ô nhiễm xuyên biên giới năm 1995, nhằm cụ thể đặc biệt là xử lý ô nhiễm không khí xuyên biên giới và kêu gọi tiến hành nhiều điều kể cả việc thiết lập các thủ tục và cơ chế hợp tác giữa các quốc gia thành viên ASEAN trong việc ngăn chặn và giảm bớt các vụ cháy đất và/hoặc vụ cháy rừng và khói mù. Các quốc gia ASEAN quyết tâm thực hiện Kế hoạch Hành động Khu vực về Khói mù và Kế hoạch hành động quy định cần kêu gọi thực thi thi hành đầy đủ Kế hoạch Hợp tác ASEAN về ô nhiễm xuyên biên giới có đặc biệt nhấn mạnh đến Kế hoạch Hành động Khu vực về khói mù vào năm 2001. ASEAN thiết lập Hiệp định về kiểm soát khói mù xuyên biên giới, ASEAN thiết lập hội nghị các Bên trong khuôn khổ hiệp định, ban thư ký của Công ước sẽ triệu tập hội nghị các bên ít nhất mỗi năm một lần với mục đích liên tục kiểm điểm và đánh giá việc thực thi hiệp định này.
2.1.3. Cơ quan bảo đảm thực thi theo quy định của các Điều ước quốc tế Luận văn: Thực thi PL vấn đề ô nhiễm không khí xuyên biên giới.
- Trung tâm Điều phối ASEAN
Tại Hội nghị Bộ trưởng môi trường ASEAN lần thứ 13, hội nghị thông qua việc dự kiến xây dựng Trung tâm Điều phối ASEAN về Kiểm soát ô nhiễm khói mù xuyên biên giới tại Indonesia và nước này tiếp tục triển khai các công việc thành lập trung tâm trong thời gian ngắn nhất. Hiện nay, Hiệp định ASEAN về kiểm soát ô nhiễm khói mù xuyên biên giới quy định rõ chức năng của Trung tâm Điều Phối:
- Nay thiết lập Trung tâm Điều Phối ASEAN về Kiểm soát ô nhiễm khói mù xuyên biên giới –mà trong Văn kiện này sẽ gọi là ―Trung tâm ASEAN‖—nhằm mục đích làm dễ dàng sự hợp tác và phối hợp giữa các Bên trong việc quản lý tác động của các vụ cháy đất và/hoặc cháy rừng và đặc biệt là ô nhiễm khói mù xuyên biên giới xuất phát từ đó.
- Trung Tâm ASEAN sẽ hoạt động trên cơ sở là nhà chức trách của mối quốc gia sẽ hành động trước tiên để dập tắt đám cháy. Khi nhà chức trách của một quốc gia tuyên bố tình trạng khẩn cấp, thì nhà chức trách đó có thể yêu cầu Trung Tâm ASEAN giúp đỡ.
- Một Uỷ ban gồm đai diện của các chức trách quốc gia của các bên sẽ giám sát hoạt động của Trung tâm ASEAN.
- Trung tâm ASEAN sẽ thực thi chức năng như đã được nêu trong bản Phụ Lục và bất cứ chức năng nào khác mà Hội nghị các Bên nêu ra.‖
Hiệp định còn quy định cho mỗi bên tham gia sẽ chỉ định một nhà chức trách có thẩm quyền và một đầu mối được ủy quyền để thực thi các chức năng hành chính, và thông báo cho các bên và Trung tâm Điều phối ASEAN về các chức trách và đầu mối của mình, và các thay đổi về các chức danh của nhà chức trách. Luận văn: Thực thi PL vấn đề ô nhiễm không khí xuyên biên giới.
Như vậy, Trung tâm ASEAN về Kiểm soát ô nhiễm khói mù xuyên biên giới được thành lập với mục đích hỗ trợ các bên khi các nhà chức trách và các đầu mối tuyên bố tình trạng khẩn cấp do không dập tắt được đám cháy.
- Trung tâm ASEAN thành lập với phạm vi quyền hạn cụ thể:
Thứ nhất, Thiếp lập và duy trì tiếp xúc thường kỳ với các Trung tâm theo dõi Quốc gia về các dữ liệu, kể cả những dữ liệu lấy từ hình ảnh vệ tinh và quan sát khí tượng có liên quan đến: chất cháy hoặc cháy rừng; tình hình môi trường dẫn đến những vụ cháy đó; Chất lượng không khí và mức độ ô nhiễm, đặc biệt là khói mù xuất phát từ những vụ cháy đó.
Thứ hai, nhận từ các Trung tâm Theo dõi Quốc gia hoặc các Tiêu điểm những dữ liệu nói trên, tổng kết, phân tích và xử lý chúng theo một hình thức có thể dễ hiểu và tiếp cận.
Thứ ba, làm dễ dàng sự hợp tác và phối hợp giữa các Bên để tăng tính chuẩn bị sẵn sàng của họ và đối phó với các vụ cháy đất và/hoặc cháy rừng hoặc ô nhiễm khói mù xuất phát từ những vụ cháy đó.
Thứ tư, làm dễ dàng sự hợp tác giữa các bên, các quốc gia khác và các tổ chức liên quan về thực thi các biện pháp hiệu quả để làm giảm bớt tác động của các vụ cháy đất và/hoặc cháy rừng hoặc ô nhiễm khói mù xuất phát từ những vụ cháy đó.
Thứ năm, lập và duy trì một danh sách chuyên gia bên trong và bên ngoài khu vực ASEAN mà có thể được sử dụng trong việc tiến hành các biện pháp nhằm làm giảm tác động của các vụ cháy đất và/hoặc rừng hoặc ô nhiễm khói mù xuất phát từ những vụ cháy đó, và cung cấp danh sách sẵn có đó cho các Bên.
Thứ sáu, lập và duy trì một danh sách thiết bị và cơ sở kỹ thuật bên trong và bên ngoàI khu vực ASEAN mà có thể được cung cấp khi tiến hành các biện pháp nhằm làm giảm bớt tác động của các vụ chay đất và/hoặc cháy rừng hoặc ô nhiễm khói mù xuất phát từ các vụ cháy đó, và cung cấp danh sách đó cho các Bên.
Thứ bảy, lập và duy trì một danh sách chuyên gia bên trong và bên ngoài khu vực ASEAN nhằm có sự đào tạo, giáo dục liên quan và các chiến dịch nâng cao nhân thức, và cung cấp danh sách đó cho các Bên.
Thứ tám, thiết lập và duy trì tiếp xúc với các quốc gia và tổ chức tài trợ tương lai để động viện nguồn lực tàI chính và khác cần thiết cho việc ngăn chặn và giảm bớt các vụ cháy đất và/hoặc rừng hoặc ô nhiễm khói mù xuất phát từ những đám cháy đó và cho sự chuẩn bị sẵn sàng của các Bên kể cả các khả năng về chữa cháy.
Thứ chín, lập và duy trì một danh sách các nước/tổ chức tài trợ và cung cấp danh sách cho các Bên.
Thứ mười, đáp ứng một yêu cầu về giúp đỡ hoặc một ngỏ ý về giúp đỡ trong trường hợp có cháy đất và/hoặc cháy rừng hoặc ô nhiễm khói mù xuất phát từ các vụ cháy đó, bằng: Chuyển đạt nhanh chóng yêu cầu giúp đỡ cho các quốc gia và tổ chức khác; và phối hợp sự giúp đỡ đó nếu có yêu cầu như vậy từ phía Bên yêu cầu giúp hoặc từ bên ngỏ lời muốn giúp đỡ.
Thứ mười một, lập và duy trì một hê thống tham chiếu thông tin cho việc trao đổi các thông tin liên quan, chuyên gia, công nghệ, kỹ thuật và kỹ năng, và cung cấp nó cho các Bên dưới một hình thực dễ tiếp cận.
Thứ mười hai, Soan thảo và phổ biến cho các bên những thông tin về trải nghiệm của họ và bất cứ thông tin thực tiễn nào có liên quan đến việc thực thi Hiệp nghị. Luận văn: Thực thi PL vấn đề ô nhiễm không khí xuyên biên giới.
Thứ mười ba, giúp các Bên trong việc chuẩn bị các thủ tục vận hành chuẩn mức (SOP).
- Ủy ban chất lượng không khí và Ủy ban Quốc tế Hỗn hợp
Tại Hiệp định giữa Hoa Kỳ và Canada về chất lượng không khí, hai bên đã thành lập ra một Ủy ban chất lượng không khí, Điều 8 Hiệp định quy định về Ủy ban chất lượng không khí:
- Các Bên đồng ý để thiết lập và duy trì một Ủy ban Chất lượng không khí song phương hỗ trợ trong việc thực hiện Hiệp định này. Uỷ ban sẽ được bao gồm một số lượng tương đương của các thành viên đại diện cho mỗi Bên . Nó có thể được hỗ trợ bởi các tiểu ban, khi thích hợp.
- Trách nhiệm của Uỷ ban bao gồm:
Rà soát tiến độ thực hiện trong việc thực hiện Hiệp định này, bao gồm mục tiêu chung và cụ thể của nó;
Chuẩn bị và trình các Bên một báo cáo tiến độ trong vòng một năm sau khi có hiệu lực của Hiệp định này và ít nhất hai năm một lần sau đó;
Cập nhật mỗi báo cáo tiến độ cho các Ủy ban hỗn hợp quốc tế hành động theo Điều IX của Hiệp định này; và phát hành mỗi báo cáo tiến độ cho công chúng sau khi nộp cho các Bên.
3. Uỷ ban sẽ họp ít nhất mỗi năm một lần và bổ sung theo yêu cầu của trong hai Bên.
Như vậy, Ủy ban chất lượng không khí là cơ quan trực tiếp bảo đảm thực hiện, tuân thủ hiệp định của hai bên thông qua các báo cáo tiến độ về tiến trình thực hiện Hiệp định từng năm, Ủy ban có trách nhiệm cập nhật các báo cáo đó cho Ủy ban hỗn hợp Quốc tế. Điều 9 quy định về trách nhiệm của Ủy ban hỗn hợp quốc tế:
Uỷ ban hỗn hợp quốc tế có trách nhiệm sau đây cho Mục đích duy nhất của việc hỗ trợ các bên trong việc thực hiện Hiệp định này: Luận văn: Thực thi PL vấn đề ô nhiễm không khí xuyên biên giới.
Mời ý kiến, kể cả thông qua các buổi điều trần công cộng cho phù hợp, trên mỗi báo cáo tiến độ chuẩn bị của Ủy ban Chất lượng không khí theo quy định Điều VIII;
Để nộp cho các Bên một sự tổng hợp của các quan điểm được trình bày theo các tiểu đoạn, cũng như các quan điểm khác nếu một trong hai Bên đó yêu cầu;
- Để phát hành tổng hợp các quan điểm để công chúng sau khi nộp cho các Bên.
Ủy ban Hỗn hợp Quốc tế được thành lập theo Thỏa thuận Ranh giới các nguồn nước, Ủy ban này cũng hỗ trợ cho các bên trong việc thực hiện Hiệp định. Sau khi nhận được mỗi báo cáo tiến độ nộp cho họ bởi Ủy ban chất lượng không khí phù hợp với Điều 8 và các quan điểm được trình bày cho Ủy ban hỗ hợp quốc tế về báo cáo đó theo Điều IX, các bên sẽ tham khảo ý kiến về các nội dung của báo cáo tiến độ, bao gồm bất kì kiến nghị trong đó. Các bên sẽ tiến hành rà soát toàn diện và đánh giá hiệp định này, thực hiện, trong năm thứ năm kể từ khi Hiệp định có hiệu lực và mỗi năm năm sau đó, trừ khi có thỏa thuận khác.
2.2. Thực tiễn triển khai, áp dụng và thực hiện pháp luật quốc tế về ô nhiễm không khí xuyên biên giới Luận văn: Thực thi PL vấn đề ô nhiễm không khí xuyên biên giới.
Tình hình thực thi các Điều ước quốc tế về ô nhiễm không khí xuyên biên giới, dựa trên các báo cáo thường xuyên tình hình thực hiện của các bên hàng năm, được tổng kết tại các cuộc họp Hội nghị.
Trên cơ sở của Công ước EIA các bên đã có các hoạt động trong những năm vừa qua để đánh giá tác động môi trường các dự án giữa các nước thuộc ECE.
Các dự án cụ thể: Đường cao tốc từ Durres đến Kapshtice giữa Anbani – Hy Lạp; Đường sắt cao tốc từ Antwerp đến Rotterdam và sông Meuse giữa Bỉ – Hà Lan (1994); Nhà máy đốt rác Sturovo giữa Slovakia và Hungary… Ngoài ra, Anh cũng đã thực hiện thông báo cho các nước liên quan về dự án sản xuất giấy tại Lisahally, dự án xây dựng đường dây tải điện 110KV tại Strabana, Enniskillen và dự án xây dựng trạm phát điện 165MW bằng sức gió tại Slieve Rushen. Canada cũng đã thực hiện tương tự như Anh với các dự án Beafort Sea, dự án mở rộng nhà máy Celgar, dự án đập Raferty- Alameda, và dự án Easten Arctic offshore Drilling.
Tại hội nghị thượng đỉnh liên châu âu tại Bucarest (Rumani) ngày 21/5/2008, Hội nghị các quốc gia ký kết công ước đánh giá hiệu ứng về môi trường xuyên bới bế mạc với một thỏa thuận được đưa ra với mục tiêu hạn chế các tác động tiêu cực từ môi trường liên biên giới. Tại Thụy sĩ, Công ước đã được áp dụng hàng chục lần. Vào thời điểm hiện tại, nó đã được áp dụng trong khuôn khổ của một kế hoạch trung tâm thủy điện tại Piemont (Italia) có khả năng ảnh hưởng nghiêm trọng Val Onsemone, khu vực có giá trị tự nhiên tại Tessin. Tại hội nghị lần này, tám quốc gia khu vực Đông – Nam Âu bao gồm Albanie, Bulgari, Croatia, Hy Lạp, Macedonia, Mongtenegro, Rumania và Serbia với đại diện là các Bộ trưởng, Thứ trưởng Bộ Môi trường đã ký kết một thỏa thuận, theo đó cam kết thông qua các tiêu chuẩn chung để đánh giá ―hiệu ứng xuyên biên giới tiêu cực‖ của một hoạt động kinh tế. Các quốc gia ký thỏa thuận hứa hẹn sẽ thông tin cho các quốc gia lánh giềng toàn bộ kế hoạch phát triển của mình bằng cách chỉ rõ ra các kỹ thuật – công nghệ sẽ sử dụng và thời hạn đã dự định trước để hoàn thành các biện pháp nhằm hạn chế nguy cơ ô nhiễm. Thỏa thuận Bucarest được đánh giá là đã đưa ra cho các quốc gia Đông – Nam Châu âu khuôn khổ của một sự hợp tác quốc tế tốt hơn nhằm dự phòng, làm hạn chế đến mức thấp nhất các nguy cơ xảy ra đối với môi trường [13].
Đánh giá thực hiện Công ước EIA. Tại kỳ họp lần thứ sáu, năm 2014, Hội nghị các Bên, hoan nghênh các báo cáo của các Bên về việc thực hiện của họ, và thông qua các đánh giá thứ tư của việc thực hiện, như được trình bày trong ấn phẩm này. Cũng ghi nhận kết quả của nó và thống nhất một lần nữa để lặp lại việc xem xét các vấn đề thực hiện cho kỳ họp thứ bảy của Hội nghị các Bên. Luận văn: Thực thi PL vấn đề ô nhiễm không khí xuyên biên giới.
Hội nghị các Bên tham gia được yêu cầu Ủy ban thực hiện của Công ước để đưa vào điều khoản nói chung công việc của mình và tuân thủ các vấn đề cụ thể được xác định trong việc đánh giá thực hiện. Ủy ban có trách nhiệm xem xét việc tuân thủ của các Bên có nghĩa vụ của mình theo Công ước. Tuy nhiên, bên cạnh tầm quan trọng của nó để Ban thực hiện, đánh giá này cung cấp thông tin có giá trị cho các bên có nhu cầu tăng cường việc thực hiện Công ước, cho các Bên xem xét tham gia Công ước trong các chế định pháp lý và hành chính của họ, và cho những người khác có nhu cầu để hiểu làm thế nào tốt hơn được thực hiện trong luật pháp quốc gia và áp dụng trong thực tế.
Một phân tích các báo cáo quốc gia cho thấy một sự gia tăng liên tục trong các ứng dụng của Công ước, và ở một mức độ thấp hơn, trong sự phát triển song phương và hiệp định đa phương để hỗ trợ thực hiện. Tuy nhiên, phân tích cũng xác định các điểm yếu có thể sau đây hoặc bất cập trong Công ước thực hiện bởi các bên:
- Thiếu thường xuyên của các định nghĩa của một số thuật ngữ được sử dụng trong Công ước, chẳng hạn là “kịp thời”, “tài khoản do” hay “hợp lý có thể đạt được”;
- Thất bại của một số bên để nhận ra rằng, theo quy định tại Điều 3, khoản 8 và Điều 4, khoản 2, “các Bên có liên quan” là cả hai trách nhiệm đảm bảo cơ hội cho công chúng tham gia;
- Thất bại để nhận ra bài viết đó 5 cung cấp cho xuyên biên giới tham vấn riêng biệt từ Điều 4, khoản 2;
- Thiếu thường xuyên của các định nghĩa của các “quyết định cuối cùng” (nghệ thuật. 6) và của đặc điểm kỹ thuật của nội dung yêu cầu của mình;
- Thiếu kinh nghiệm trong việc thực hiện các phân tích sau dự án (Điều );
Nhu cầu liên tục cho các hiệp định song phương và đa phương hoặc khác sắp xếp, đặc biệt để giải quyết sự khác biệt giữa các Bên trong nội dung của thông báo; ngôn ngữ; khung thời gian; làm thế nào để tiến hành khi không có phản ứng để thông báo hoặc nếu có bất đồng về cần thông báo; việc giải thích các thuật ngữ khác nhau (chẳng hạn như “do tài khoản”,”kịp thời”,”hợp lý có thể đạt được”, vv); và các yêu cầu để phân tích sau dự án;
- Lẫn lộn giữa các bên về các chức năng tương ứng của các điểm liên hệ để thông báo và cơ quan đầu mối về các vấn đề hành chính; Luận văn: Thực thi PL vấn đề ô nhiễm không khí xuyên biên giới.
- Cần tiếp tục nâng cao hơn nữa nhận thức và năng lực trong thực hiện các nghĩa vụ của ước của các thẩm quyền chính quyền các cấp, các chuyên gia và học viên quốc gia và khu vực trên EIA, xã hội dân sự, các nhà đầu tư và các học giả.
Đối với nhiều người trả lời, việc áp dụng Công ước đã ủng hộ phòng ngừa, giảm hoặc kiểm soát xuyên biên giới quan trọng nhất về môi trường tác động, đã phục vụ để thu hút công chúng trong quá trình này, đã đảm bảo rộng hơn và tốt hơn thông báo xem xét các vấn đề môi trường, đã được cải thiện đề xuất hoạt động và đã tăng cường sự hợp tác xuyên biên giới . Một số người trả lời lưu ý, tuy nhiên, nó đã được khó khăn để thuộc tính cải tiến của Công ước.
Cộng hoà Séc chỉ ra rằng quá trình ĐTM xuyên biên giới với nó Bên láng giềng đã giúp đảm bảo sự tham gia của đông đảo công chúng và một rộng hơn Phạm vi của các điều kiện môi trường xem xét, nhưng mà nó cũng đã đè nặng các quản lý và những người ủng hộ dự án. Nó đề cập đến việc hợp tác với Slovakia là ví dụ tốt nhất vì sự giống nhau của các ngôn ngữ và các pháp luật giữa hai nước. Cả Hungary và Hà Lan cung cấp ví dụ trường hợp xuyên biên giới hợp tác về thủ tục ĐTM đã giúp thay đổi địa điểm dự án nhằm bảo tồn các Natura 2000. Tây Ban Nha cung cấp một ví dụ về một nhà máy lọc dầu ở Extremadura mà đã được cấp thức tiêu cực quyết định dựa, đáng chú ý, trên ý kiến của Bên bị ảnh hưởng (Bồ Đào Nha) [35].
Kể từ khi quyết định về những thông tin đã được dịch với cơ quan có thẩm quyền trong các Bên xuất xứ, các thỏa thuận song phương giữa các bên đã được đề xuất để giải quyết vấn đề tiềm năng trong lĩnh vực này, chẳng hạn như chất lượng kém của bản dịch.
Để cải thiện chất lượng không khí ở các cấp địa phương, quốc gia và khu vực, các quốc gia thành viên của UNECE đã làm việc thành công để dần dần giảm bớt và ngăn ngừa ô nhiễm không khí trong khu vực. Một trong những phương tiện mà qua đó điều này đã đạt được ước về tầm xa xuyên biên giới ô nhiễm không khí, mà đã được ký kết vào năm 1979. Qua nhiều năm, nó đã được mở rộng bởi tám giao thức xác định các biện pháp cụ thể được thực hiện bởi các Bên tham gia cắt họ lượng phát thải các chất ô nhiễm không khí . Năm mươi mốt quốc gia thành viên của UNECE là các Bên tham gia Công ước. Các nước thành viên cũng xây dựng chính sách ô nhiễm không khí trong khuôn khổ của Ủy ban về chính sách môi trường .
Trong khoảng thời gian từ khi Công ước có hiệp lực đến nay đã có 08 Nghị định thư được các nước ký kết. Quá trình thiết lập nên 08 Nghị định thư này cũng là quá trình thực hiện Công ước một cách thành công của các nước thuộc UNECE.
Ban đầu hình thành như là một khuôn khổ linh hoạt cho sự hợp tác, Công ước sớm được cung cấp một diễn đàn cho các bên tham gia đàm phán và thống nhất ràng buộc nghĩa vụ để giảm lượng khí thải. Đến nay, Công ước đã được mở rộng bởi tám giao thức có chứa mục tiêu ràng buộc về mặt pháp lý cho giảm phát thải.
Trong 35 năm kể từ ngày ký, Công ước đã trải qua một số giai đoạn. Ban đầu, trọng tâm là xây dựng một cơ sở khoa học vững chắc. Sau đó, nhấn mạnh được đặt trên sự phát triển và đàm phán các giao thức dần dần nâng cao hơn, trong khi đồng thời đảm bảo rằng những kiến thức khoa học được lưu giữ đến nay. Kiểm tra, rà soát các giao thức cũng như thực hiện và tuân thủ được đánh dấu giai đoạn hiện nay. Luận văn: Thực thi PL vấn đề ô nhiễm không khí xuyên biên giới.
Các giao thức đầu tiên được ký kết theo Công ước, Nghị định thư về tài chính dài hạn của Chương trình hợp tác giám sát và đánh giá của truyền tầm xa của ô nhiễm không khí ở châu Âu (EMEP) (siêu liên kết) không thiết lập bất kỳ giảm phát thải mục tiêu, nhưng cung cấp một kế hoạch tài chính để tài trợ cho các hoạt động trong Chương trình Hợp tác giám sát và đánh giá của truyền tầm xa của ô nhiễm không khí ở châu Âu (EMEP). Như xương sống khoa học của Công ước, EMEP từ đó cung cấp thông tin cho Chính phủ về phát thải, vận chuyển và lắng đọng của ô nhiễm không khí.
Với mưa axit và axit hóa của các dòng sông và hồ nước là điểm khởi đầu cho các cuộc đàm phán của Công ước, sulfur dioxide (SO2) đã được đề cập trong các văn bản Công ước. Điều này dẫn đến các cuộc đàm phán của giao thức nội dung đầu tiên về giảm ô nhiễm không khí theo Công ước năm 1985 Helsinki Nghị định thư về Giảm phát thải Sulphur hoặc xuyên biên giới thông lượng của họ ít nhất 30 phần trăm (siêu liên kết).
Chẳng bao lâu nó trở nên rõ ràng rằng để giảm axit hóa, các chất ô nhiễm khác cũng đã được giải quyết. Nó đã nhận ra rằng các hợp chất nitơ đóng góp vào quá trình axit hóa. Ngoài ra, nitơ lắng đọng và các hiệu ứng eutrophying của nó, đã gây ra những thay đổi hệ sinh thái, nhắc nhở các Bên tham gia Công ước để đàm phán năm 1988 Nghị định thư liên quan đến việc kiểm soát phát thải của Nitơ Oxit hoặc xuyên biên giới thông lượng của họ (siêu liên kết).
Trong những năm tiếp theo, các Bên tham gia Công ước công nhận rằng các hợp chất dễ bay hơi hữu cơ (VOC), ngoài các oxit nitơ, mà đã được quy định theo các năm 1988 Nghị định thư, đã góp phần vào sự hình thành của mặt đất ôzôn và các sản phẩm oxy hóa quang hóa khác, gây thiệt hại thảm thực vật và các loại cây trồng. Để giảm VOC, các Bên đã thông qua Nghị định thư Geneva 1991 liên quan đến việc kiểm soát phát thải của các hợp chất hữu cơ dễ bay hơi hoặc xuyên biên giới thông lượng của họ (siêu liên kết). Luận văn: Thực thi PL vấn đề ô nhiễm không khí xuyên biên giới.
Trong khi ba giao thức nội dung đầu tiên của Công ước (1985 Sulphur Nghị định thư năm 1988 Nghị định thư về Nitơ Oxit và năm 1991 Nghị định thư về VOC) giải quyết một chất tại một thời điểm và quy định việc cắt giảm khí thải phẳng tỷ lệ tương tự cho tất cả các bên, 1994 Oslo Nghị định thư về giảm thêm lưu huỳnh thải (siêu liên kết) mất một cách tiếp cận mới. Đây là giao thức đầu tiên để lấy được nghĩa vụ cắt giảm số lượng của nó từ hiệu quả chi phí và các nguyên tắc hiệu quả dựa trên. nghĩa vụ cắt giảm của nó được dựa trên kết quả của mối liên kết theo mô hình giữa các khí thải SO2 của mỗi quốc gia và tiếp xúc của các hệ sinh thái khác nhau, có tính đến sự nhạy cảm của các hệ sinh thái như để axit hóa. Lần đầu tiên, do đó bên đàm phán trên cơ sở của phương pháp tải quan trọng, mà làm cho nó có thể để đạt được lợi ích thống nhất với chi phí tổng tối thiểu bằng cách thiết lập trần quốc gia cụ thể cho lượng khí thải sulfur. Nó như vậy, dẫn đến một sự khác biệt của nghĩa vụ cắt giảm khí thải của các Bên tham gia Nghị định thư, mở ra cánh cửa để gây ô nhiễm thực sự trả tiền cho việc chia sẻ gánh nặng, có thể được xem như là một cột mốc quan trọng ở châu Âu. Cuộc đàm phán theo Công ước sau đó tập trung vào hai bộ khác của các chất ô nhiễm: kim loại nặng và các chất ô nhiễm hữu cơ bền (POPs). Hai giao thức đó là kết quả của các cuộc đàm phán, năm 1998 Aarhus Nghị định thư về các chất ô nhiễm hữu cơ khó phân hủy (POPs) (siêu liên kết) và trong năm 1998 Aarhus Nghị định thư về kim loại nặng (siêu liên kết) giải quyết, lần đầu tiên, một nhóm các chất gây ô nhiễm, mà hơn nữa sẽ mở đường cho một cách tiếp cận phức tạp hơn với các giao thức thiết kế [37].
Trong nhiều cách năm 1999 Gothenburg Nghị định thư Abate axit hóa, Hiện tượng phú dưỡng và Ground cấp Ozone (Gothenburg Protocol) (siêu liên kết) có thể được coi là một bước ngoặt trong lịch sử của Công ước. Quyết định xem xét Nghị định thư về Nitơ Oxit dần dần phát triển thành một đánh giá tổng hợp của năm 1991 Nghị định thư về VOCs và the1994 Sulphur Protocol, mà đỉnh điểm là giao thức đa ô nhiễm và đa tác dụng đầu tiên. Xây dựng trên hiệu quả chi phí và các nguyên tắc hiệu quả dựa trên, Nghị định thư Gothenburg 1999 gồm trần phát thải quốc gia cụ thể cho lưu huỳnh dioxit, oxit nitơ, amoniac và các hợp chất hữu cơ dễ bay hơi.
Các sửa đổi Nghị định thư Gothenburg, mà không phải là chưa có hiệu lực, cũng là thỏa thuận đầu tiên ràng buộc bao gồm các cam kết giảm phát thải cho các hạt vật chất tốt. Cũng lần đầu tiên, các bên đã phá vỡ mặt đất mới trong chính sách ô nhiễm không khí quốc tế bằng cách cụ thể bao gồm ngắn ngủi ô nhiễm khí hậu carbon đen (hoặc muội) là một phần của vấn đề cụ thể. Giảm hạt vật chất (bao gồm cả carbon đen) thông qua việc thực hiện Nghị định thư do đó là một bước tiến quan trọng trong việc giảm thiểu ô nhiễm không khí, trong khi đồng thời tạo điều kiện khí hậu đồng lợi ích .
Quá trình thực thi Hiệp định giữa Canada và Hoa Kỳ về chất lượng không khí cũng được thể hiện trong các Báo cáo giữa các bên. Năm 2012, Báo cáo tiến độ là báo cáo hai năm một lần thứ 11 hoàn thành theo Hiệp định chất lượng 1991 Canada ở Hoa Kỳ. Tóm tắt các hoạt động chính được thực hiện bởi cả hai nước trong hai năm qua để giải quyết ô nhiễm không khí xuyên biên giới trong bối cảnh của Hiệp định. Báo cáo trình bày tiến độ thực hiện theo hướng đáp ứng các cam kết thành lập trong Mưa axit và các Phụ lục Ozone của Hiệp định và xu hướng khoa học kỹ thuật quan trọng liên quan đến ô nhiễm không khí.
Theo báo cáo, tính đến năm 2010, tổng lượng phát thải sulfur dioxide của Canada đã giảm 57 % so với mức của năm 1990, trong khi Mỹ đã giảm tổng lượng khí thải sulfur dioxide từ các nguồn được bao phủ bởi 67 % từ mức năm 1990 phát thải. Giữa năm 2000 và 2010, Canada giảm tổng lượng khí thải của các oxit nitơ bằng 40 % ở khu vực ozone xuyên biên giới trong khi lượng khí thải oxit nitơ tổng số của Mỹ giảm 42 % trong khu vực [34].
Hiệp định AATHP đã được thông qua vào năm 2002, đây được coi là ―giải pháp thiết yếu để đạt được hành động tập thể nhằm ngăn chặn ô nhiễm khói mù xuyên biên giới‖ nhưng cho tới nay, tình trạng này vẫn chưa được giải quyết triệt để dù đã có dấu hiệu giảm dần. Tại Hội nghị cấp cao Diễn đàn Kinh tế châu Á – Thái Bình Dương vừa qua, Thủ tướng Malaysia Najib Razak cũng đã kêu gọi một cuộc họp của những cố vấn khoa học hàng đầu để tìm kiếm giải pháp cho vấn đề khói mù ảnh hưởng khu vực này trong 18 năm qua, nhưng bất kỳ giải pháp nào cũng sẽ chỉ hiệu quả nếu nó giải quyết được tận gốc nguyên nhân tạo ra những đám cháy không thể kiểm soát. Vấn đề ở đây cần phải có quy hoạch vĩ mô (bao gồm cả kinh tế, xã hội, phát triển và sử dụng đất) cũng như sự hợp tác của các chủ sở hữu trồng rừng, nông nghiệp và các cộng đồng.
Các nhà lãnh đạo ASEAN đã thông qua ―Tầm nhìn Cộng đồng ASEAN 2025‖ phác thảo tầm nhìn và sức mệnh của Khối trong việc xây dựng giai đoạn tiếp theo của Cộng đồng ASEAN. Một cam kết mới và hành động hợp tác nghiêm túc để ngăn chặn khói mù – vấn đề môi trường xuyên biên giới nghiêm trọng nhất trong khu vực – sẽ tạo ra sự tự tin hơn trong ASEAN với vai trò như một cộng đồng. Trong khi đó tại hội nghị 28/11/2015, các Bộ trưởng ASEAN chịu trách nhiệm về vấn đề khói mù đã kêu gọi một lộ trình hướng tới một ASEAN không khói mù, trong đó tất cả các nước thành viên ASEAN cam kết và hướng tới biến ASEAN trở thành một khu vực không khói mù xuyên biên giới vào năm 2020. Luận văn: Thực thi PL vấn đề ô nhiễm không khí xuyên biên giới.
Theo lộ trình, các nước phải thực hiện đầy đủ Chương trình ASEAN về quản lý bền vững hệ sinh thái đất than bùn (2014-2020), phải lập tức vận hành Trung tâm Điều phối kiểm soát ô nhiễm xuyên biên giới của ASEAN và coi đây như trọng tâm hoạt động chính của Hiệp định về kiểm soát ô nhiễm khói mù xuyên biên giới, cần tăng cường hệ thống kiểm tra, giám sát, cảnh báo sớm và dự báo tốt hơn, đồng thời thực hiện nghĩa vụ theo những hiệp định toàn cầu có liên quan, như thay đổi khí hậu và bảo tồn đa dạng sinh học. Các Bộ trưởng, Trưởng đoàn các nước còn thông qua việc dự kiến xây dựng Trung tâm Điều phối ASEAN về Kiểm soát ô nhiễm khói mù xuyên biên giới (Trung tâm AHA) tại Indonesia. Nước này sẽ tiếp tục triển khai các công việc thành lập trung tâm trong thời gian ngắn nhất. Hội nghị cũng đề nghị Indonesia, thông qua Trung tâm Điều phối ASEAN về Kiểm soát ô nhiễm khói mù xuyên biên giới, thực hiện các hoạt động hỗ trợ nhân đạo trong quản lý rủi ro nhằm đảm bảo đáp ứng hiệu quả và kịp thời trong phòng cháy chữa cháy. Mãi đến ngày 16/9/2014 Quốc hội Indonesia mới phê chuẩn Hiệp định này, mà những năm gần đây khói mù từ Indonesia do đốt rừng cọ phục vụ cho các công ty dầu cọ của các nước đầu tư vào Indonesia. Vì vậy, vì mục đính kinh tế Quốc hội luôn trần chừ cho việc phê chuẩn và thực hiện Hiệp định. Các Bộ trưởng kêu gọi các quốc gia thành viên ASEAN sử dụng các cơ chế trong khuôn khổ AATHP huy động Ủy ban cố vấn ASEAN về Đánh giá và Điều phối PCCC và khói mù để đánh giá tình trạng PCCC trên thực địa và đề xuất các hộ trỡ PCCC cần thiết từ bên ngoài. Các quốc gia thành viên ASEAN cần đóng góp vào Quỹ Kiểm soát Ô nhiễm Khói mù xuyên biên giới ASEAN với số kinh phí ban đầu là 500.000 đô la, khuyến khích sự đóng góp của các bên vào Quỹ [12].
2.3. Thực tiễn giải quyết tranh chấp liên quan đến ô nhiễm không khí xuyên biên giới Luận văn: Thực thi PL vấn đề ô nhiễm không khí xuyên biên giới.
2.3.1. Giải quyết tranh chấp trong khuôn khổ các Điều ước quốc tế
Các Điều ước quốc tế về ô nhiễm môi trường không khí xuyên biên giới đều có điều khoản về giải quyết tranh chấp. Trong Công ước Espoo 1991, các bên tham gia Công ước nếu có tranh chấp giữa hai hay nhiều bên về việc giải thích hoặc áp dụng Công ước này, họ sẽ tìm kiếm giải pháp thông qua đàm phán hoặc bất kỳ phương pháp giải quyết tranh chấp có thể chấp nhận để các bên tham gia tranh chấp. Trường hợp ký kết, phê chuẩn, gia nhập Công ước hoặc sau khi tham gia Công ước các bên có thể tuyên bố các vụ tranh chấp sẽ không giải quyết theo giải pháp thông qua đàm phán mà sẽ áp dụng hai biện pháp giải quyết tranh chấp, đó là đưa vụ tranh chấp đó ra Tòa án Công lý quốc tế hay Tòa trọng tài theo các thủ tục quy định trong phụ lục VII. Các bên sẽ nộp tờ trình vụ tranh chấp lên Tòa án Công lý quốc tế để giải quyết vụ tranh chấp này. Hay tại Công ước Geneva về kiểm soát ô nhiễm không khí xuyên biên giới tầm xa, cũng quy định cụ thể vấn đề giải quyết tranh chấp thông qua đàm phán hoặc bất kỳ phương pháp giải quyết tranh chấp nào được các bên lựa chọn. Công ước để các bên tự thỏa thuận lựa chọn phương pháp giải quyết tranh chấp phù hợp theo thỏa thuận của các bên, không áp đặt các bên theo một lộ trình cụ thể nào.
Đối với Hiệp định song phương giữa các nước tiêu biểu là Hiệp định giữa Mỹ và Canada về chất lượng không khí, khi có tranh chấp xảy ra các bên sẽ tiến hành tham vấn theo Điều XI, sau khi tham vấn tranh chấp vẫn chưa được giải quyết các bên sẽ tiến hành thương lượng, cuộc đàm phán sẽ bắt đầu không muộn hơn chín mươi ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu đàm phán. Nếu tranh chấp không được giải quyết thông qua thương lượng, các bên sẽ xem xét đưa tranh chấp ra Ủy ban Hỗn hợp Quốc tế theo Điều IX hoặc Điều X của Thỏa ước Ranh giới nguồn nước, sau đó nếu các bên không chọn được hình thức giải quyết tranh chấp được đưa ra thì các bên sẽ tự thống nhất với nhau hình thức giải quyết tranh chấp. Như vậy, ở Hiệp định này, các bên sẽ giải quyết tranh chấp theo từng bước, nếu không giải quyết được thì sẽ theo thỏa thuận của các bên để thống nhất phương thức giải quyết.
Tuy nhiên tại Hiệp định về chống ô nhiễm khói mù ASEAN, hiệp định này không có điều khoản nào về giải quyết tranh chấp xảy ra. Hiệp định chỉ khuyến khích định hướng các bên với thiện chí hợp tác với nhau cũng giải quyết vấn đề ô nhiễm.
Ngoài ra, Dự thảo của Ủy ban Pháp luật quốc tế của Liên hợp quốc về trách nhiệm bồi thường thiệt hại đối với những thiệt hại do ô nhiễm môi trường xuyên biên giới gây ra cũng quy định về các trường hợp giải quyết tranh chấp xảy ra.
2.3.2. Giải quyết tranh chấp môi trường xuyên quốc gia Luận văn: Thực thi PL vấn đề ô nhiễm không khí xuyên biên giới.
Tranh chấp môi trường đang là một chủ đề nóng, hiện nay tranh chấp môi trường không chỉ dừng lại trong phạm vi các quốc gia mà đã vượt ra khỏi đường biên giới giữa các quốc gia và trở thành tranh chấp môi trường xuyên quốc gia. Hơn thế, các tranh chấp này hoàn toàn có khả năng trở thành đe dọa an ninh quốc gia. Tranh chấp liên quan đến chất lượng không khí là một trong các hình thức của tranh chấp môi trường. Tranh chấp thường liên quan đến chất lượng không khí thường do các vụ cháy rừng hay các ngành sản xuất công nghiệp gây ra khói bụi làm ô nhiễm không khí, ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng, gây thiệt hại về kinh tế và ảnh hưởng môi trường. Việc phát sinh chất độc trong không khí cũng gây ra tranh chấp, thường là giữa nguồn phát sinh với đối tượng bị tác động. Trong thực tế, mối quan hệ giữa đối tượng bị tác động và đối tượng tác động khó xác định nên giải quyết tranh chấp này thường gặp nhiều khó khăn.
Trong vụ tranh chấp Trail Smelter giữa Canada và Mỹ (1939–1941), phiên xử trọng tài được thành lập nhằm xác định liệu khói thải từ lò luyện kim Trail ở Canada, nằm cách biên giới với Mỹ bảy dặm, có gây thiệt hại cho tiểu bang Washington hay không, và nếu có, lò luyện kim phải bồi thường bằng hình thức nào cũng như phải có những biện pháp nào nhằm ngăn ngừa những tác hại trong tương lai. Trọng tài vụ Trail Smelter phán quyết:
Không quốc gia nào có quyền sử dụng hoặc cho phép sử dụng lãnh thổ của mình để phát tán khói gây thiệt hại nghiêm trọng đến lãnh thổ, tài sản và người dân của quốc gia khác; những thiệt hại phải thể hiện ở những chứng cứ xác thực và thuyết phục [28].
Vấn đề chứng cứ đã được kết luận bằng các thí nghiệm khoa học, và trong phán quyết cuối cùng, hoạt động của lò luyện kim phải bị hạn chế. Như vậy, theo tập quán quốc tế, các quốc gia chịu trách nhiệm về mọi tổn thất gây ra do vi phạm nghĩa vụ kiểm soát ô nhiễm không khí xuyên biên giới. Luận văn: Thực thi PL vấn đề ô nhiễm không khí xuyên biên giới.
Ngoài ra, mặc dù vụ Trail Smelter chỉ đề cập một loại nguồn gây ô nhiễm xuyên biên giới, quy định này, như kết luận của trọng tài, về nguyên tắc có thể áp dụng cho hầu hết các loại nguồn gây ô nhiễm không khí tầm xa. Những kỹ thuật hiện đại về quan trắc và thí nghiệm giúp tính toán với độ chính xác hợp lý khối lượng các chất gây ô nhiễm xuyên biên giới phát thải từ từng quốc gia và xác định những khu vực bị ảnh hưởng. Vì vậy, việc thu thập những chứng cứ cần thiết, thậm chí đạt tiêu chuẩn ―xác thực và thuyết phục‖ như trong phán quyết của vụ Trail Smelter, không còn là một chướng ngại tiềm tàng để xác định trách nhiệm đối với việc gây ô nhiễm không khí tầm xa. Do đó, các quốc gia phải chịu trách nhiệm đối với bất kỳ thiệt hại, thỏa mãn ―chuẩn mực‖ nghiêm trọng, gây ra do hành vi vi phạm luật quốc tế. Tuy nhiên, sau tranh chấp Gabcikovo – Nagymaros (1997) giữa Hungary và Slovakia về việc thay đổi dự án xây dựng đập Gabcikovo trên sông Danube, trong đó Hungary kiện Czecho-Slovakia (hiện nay chỉ còn Slovakia) đã vi phạm nghĩa vụ hợp tác thiện chí (nguyên tắc ―láng giềng thân thiện‖ – good neighborliness), gây tác hại đến những nguồn tài nguyên dùng chung, Tòa án Quốc tế quyết định mức độ thiệt hại, nếu có, là ―đáng kể‖ [11].
Trước đó, nghĩa vụ này được đề cập trong Nguyên tắc 21, Tuyên bố Stokholm 1972, “các quốc gia… có trách nhiệm bảo đảm những hoạt động thuộc chủ quyền quốc gia không gây thiệt hại đến môi trường của các quốc gia khác hoặc các khu vực vượt quá giới hạn chủ quyền quốc gia” [14]. Nguyên tắc không quy định rõ ràng về mức độ cũng như đối tượng chịu thiệt hại như trong phán quyết của vụ Trail Smelter (hay Gabcikovo – Nagymaros), do sự khác nhau về đối tượng bảo vệ của hai ―nguyên tắc‖. Trọng tài vụ Trail Smelter tập trung vào những tài sản bị thiệt hại ở Mỹ, trong khi Nguyên tắc 21 đề cập đến thiệt hại về môi trường nói chung, tức là có khả năng gây tổn hại về sức khỏe cho con người. Mặt khác, do trong một vài trường hợp không thể thu thập được những chứng cứ cho thấy có thiệt hại đến sức khỏe hay tài sản hay môi trường, ví dụ những chất thải phóng xạ thường không gây hậu quả tức thời (vụ tranh chấp do thử vũ khí hạt nhân (Nuclear Test) giữa Úc/ New Zealand và Pháp, 1973–1974. Vì vậy, về cơ bản, cũng không cần phải có ngay những bằng chứng xác thực và thuyết phục về thiệt hại.Để giải quyết vấn đề tranh chấp môi trường về chất lượng không khí xuyên quốc gia giữa các bên không có sự ràng buộc rất khó khăn.
Cần phải có các phương thức hợp lý và có nhiều ưu điểm ngoài phương thức thông qua kiện tụng tại Tòa án, trọng tài, thương lượng không hiệu quả. Luận văn: Thực thi PL vấn đề ô nhiễm không khí xuyên biên giới.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Giải pháp PL vấn đề ô nhiễm không khí xuyên biên giới

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Luận văn: Pháp luật vấn đề ô nhiễm không khí xuyên biên giới