Luận văn: Thực trạng khai thác thương mại đối với sáng chế

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Thực trạng khai thác thương mại đối với sáng chế hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Thực trạng pháp luật về các hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế tại Việt Nam dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

Hệ thống pháp luật của Việt Nam về SHTT nói chung và SHCN nói riêng, trong đó có hệ thống pháp luật về sáng chế ngày càng được hoàn thiện và phát triển phù hợp các chuẩn mực của WTO. Trong những năm gần đây, Nhà nước ta đã dành sự quan tâm lớn đến việc bảo hộ và khai thác sáng chế, đặc biệt là khai thác thương mại đối với sáng chế.

Luật SHTT, Luật CGCN và các văn bản hướng dẫn thi hành khuyến khích các tổ chức và doanh nghiệp trong việc chuyển giao quyền SHCN, chuyển giao và TMH công nghệ, đặc biệt là việc khai thác thương mại đối với sáng chế bao gồm việc chuyển nhượng quyền SHCN đối với sáng chế (chuyển nhượng quyền sở hữu sáng chế) và chuyển quyền sử dụng đối tượng SHCN là sáng chế (li-xăng sáng chế).

Nền kinh tế tri thức đã biến tri thức của con người, đặc biệt là sáng chế, trở thành lực lượng vật chất to lớn, là hàng hóa để trao đổi mua bán nhằm mục đích thu lợi nhuận. Sáng chế có thể dùng để thế chấp, góp vốn để kinh doanh, đây cũng có thể được coi là một hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế.

Tuy nhiên, vấn đề khai thác thương mại đối với sáng chế còn tương đối mới trong thực tiễn khai thác thương mại các loại TSTT của Việt Nam. Do vậy, chính sách và pháp luật của nước ta, đặc biệt là Luật SHTT và Luật CGCN, vẫn còn khá nhiều hạn chế và bất cập trong việc cụ thể hóa các hình thức khai thác thương mại và thúc đẩy hoạt động khai thác thương mại đối với sáng chế.

Hơn nữa, theo truyền thống và thực tiễn đời sống pháp lý Việt Nam, quyền SHTT nói chung và quyền SHCN nói riêng hiện nay chủ yếu được đề cập dưới góc độ dân sự. Sáng chế mới chỉ được đề cập trong các văn bản pháp luật của Việt Nam chủ yếu nghiêng về hướng bảo hộ quyền SHCN đối với sáng chế, tức là mới chỉ đề cập đến sáng chế ở trạng thái “tĩnh” hơn là các quy định về khai thác TMH sáng chế – đề cập đến sáng chế ở trạng thái “động”. Mặc dù pháp luật về SHTT, CGCN, doanh nghiệp, đầu tư và GDBĐ đã có quy định khuyến khích chủ sở hữu sáng chế/công nghệ thế chấp, góp vốn để kinh doanh bằng chính TSTT của mình. Tuy nhiên, các quy định pháp lý cụ thể nhằm khuyến khích việc thế chấp, góp vốn để kinh doanh bằng quyền SHCN của các chủ sở hữu sáng chế vẫn còn bỏ ngỏ. Các quy định pháp lý về việc định giá sáng chế – tính giá trị bằng sáng chế quy đổi ra tiền nhằm thế chấp, góp vốn để kinh doanh vẫn chưa được đề cập cụ thể.

Chương 3 của Luận án sẽ lần lượt đề cập, nghiên cứu, phân tích và đánh giá các nét chính trong quy định pháp luật của Việt Nam về các hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế đã nêu ở trên (chủ sở hữu tự mình khai thác sáng chế, chuyển giao quyền SHCN đối với sáng chế và thế chấp, góp vốn để kinh doanh bằng quyền SHCN đối với sáng chế). Đồng thời, Chương 3 sẽ so sánh, đối chiếu các quy định pháp lý này của Việt Nam với pháp luật quốc tế có liên quan trong một số điều ước quốc tế, với các quy định pháp lý và kinh nghiệm thực tiễn áp dụng của một số quốc gia để thấy rõ những ưu điểm, sự tương thích với pháp luật quốc tế có liên quan cũng như các bất cập, hạn chế trong các quy định này. Từ đó tìm ra nguyên nhân, giải pháp khắc phục các bất cập, yếu kém trong hoạt động khai thác thương mại sáng chế tại Việt Nam thời gian qua; tạo cơ sở để bổ sung, sửa đổi, hoàn thiện pháp luật về hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế cũng như pháp luật về SHCN; tạo cơ sở pháp lý cho sự hình thành, phát triển thị trường KHCN, hướng tới nền kinh tế tri thức, chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế.

Chương 3 của Luận án cũng sẽ phân tích thực tiễn áp dụng pháp luật về các hình thức chủ sở hữu tự mình khai thác thương mại đối với sáng chế, chủ sở hữu chuyển giao quyền SHCN đối với sáng chế và chủ sở hữu thế chấp, góp vốn để kinh doanh bằng quyền SHCN đối với sáng chế tại Việt Nam trong thời gian qua để minh chứng cho những bất cập, hạn chế trong các quy định pháp lý về các hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế đã nghiên cứu.

3.1 Thực trạng pháp luật về hình thức chủ sở hữu tự mình khai thác thương mại đối với sáng chế Luận văn: Thực trạng khai thác thương mại đối với sáng chế.

3.1.1 Quy định hiện hành về hình thức chủ sở hữu tự mình khai thác thương mại đối với sáng chế

Tự mình khai thác thương mại đối với sáng chế do mình tạo ra là hình thức được thể hiện nhiều tại các quốc gia phát triển, ví dụ như Steve Jobs, Bill Gates vẫn thường làm. Hình thức tự mình khai thác thương mại sáng chế của chủ sở hữu được thể hiện ở việc chủ sở hữu thực hiện quyền năng căn bản nhất của mình là quyền năng sử dụng và ngăn cấm người khác sử dụng sáng chế. Quyền sử dụng và ngăn cấm người khác sử dụng sáng chế chủ sở hữu đồng thời là cơ sở nền tảng, căn cứ dẫn đến việc chủ sở hữu cho phép người khác khai thác thương mại sáng chế thông qua việc chuyển giao quyền SHCN đối với sáng chế.

Các quy định pháp luật về quyền SHTT của Việt Nam đã quy định rõ ràng về quyền của chủ sở hữu trong việc sử dụng, khai thác sáng chế của mình. Theo Điều 123, Luật SHTT, chủ sở hữu đối tượng SHCN bao gồm cả sáng chế có các quyền tài sản sau đây:

  1. Sử dụng, cho phép người khác sử dụng đối tượng SHCN theo quy định về việc Sử dụng đối tượng SHCN và về việc Chuyển giao quyền SHCN của Luật SHTT;
  2. Ngăn cấm người khác sử dụng đối tượng SHCN theo quy định về Quyền ngăn cấm người khác sử dụng đối tượng SHCN của Luật này;
  3. Định đoạt đối tượng SHCN theo quy định tại Luật này.

Quyền độc quyền sử dụng và ngăn cấm người khác sử dụng sáng chế để thu được các lợi ích vật chất là những quyền tài sản, quyền năng quan trọng nhất của chủ sở hữu sáng chế. Khái niệm “sử dụng” thường được hiểu là việc thực hiện một hành vi nhằm phục vụ một mục đích nhất định nào đó. Quyền sử dụng là một khái niệm pháp lý, được hiểu là quyền khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản. Quyền sử dụng là một trong ba yếu tố cấu thành của quyền sở hữu và luôn song hành cùng quyền cho phép hoặc ngăn cấm người khác sử dụng để tạo ra quyền độc quyền của chủ sở hữu được pháp luật bảo hộ.

Quyền ngăn cấm người khác sử dụng sáng chế là quyền phụ trợ, đi song hành với quyền sử dụng và cho phép sử dụng sáng chế của chủ sở hữu sáng chế. Quyền ngăn cấm người khác sử dụng sáng chế có vai trò quan trọng trong việc giúp chủ sở hữu tự mình khai thác thương mại đối với sáng chế. Trên thực tế, để thực hiện quyền độc quyền của chủ sở hữu theo đúng nghĩa tức là chủ sở hữu không những là người có quyền sử dụng mà còn phải ngăn cấm người khác sử dụng để đảm bảo mình là người “duy nhất” có quyền sử dụng, khai thác sáng chế. Luận văn: Thực trạng khai thác thương mại đối với sáng chế.

Quyền sử dụng và quyền ngăn cấm người khác sử dụng là quyền đương nhiên của chủ sở hữu nhưng chủ sở hữu trong quá trình tự mình sử dụng, khai thác mang tính thương mại đối với sáng chế không được trái với pháp luật và không làm ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của chủ thể khác. Theo quy định của pháp luật Việt Nam, tại Điều 193, Bộ Luật Dân sự năm 2005, trong trường hợp chủ sở hữu thực hiện quyền sử dụng tài sản thuộc sở hữu của mình thì chủ sở hữu được khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản theo ý chí của mình nhưng không được gây thiệt hại hoặc làm ảnh hưởng đến lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền lợi ích hợp pháp của người khác. Yêu cầu này đã được thừa nhận trong Tuyên ngôn về Nhân quyền của Liên Hợp quốc năm 1948. Điều 27.1 quy định rằng mọi người đều có quyền lao động sáng tạo và được hưởng những lợi ích vật chất từ thành quả lao động sáng tạo của mình trong khi đó Điều 27.2 lại ghi nhận rằng mọi người đều có quyền tiếp cận thông tin và tri thức khoa học kỹ thuật.

Theo Điều 125, Luật SHTT Việt Nam, chủ sở hữu sáng chế không có quyền ngăn cấm người khác sử dụng sáng chế trong các trường hợp dưới đây:

  1. Sử dụng sáng chế nhằm phục vụ nhu cầu cá nhân hoặc mục đích phi thương mại hoặc nhằm mục đích đánh giá, phân tích, nghiên cứu, giảng dạy, thử nghiệm, sản xuất thử hoặc thu thập thông tin để thực hiện thủ tục xin phép sản xuất, nhập khẩu, lưu hành sản phẩm;
  2. Lưu thông, nhập khẩu, khai thác công dụng của sản phẩm được đưa ra thị trường, kể cả thị trường nước ngoài một cách hợp pháp;
  3. Sử dụng sáng chế chỉ nhằm mục đích duy trì hoạt động của các phương tiện vận tải của nước ngoài đang quá cảnh hoặc tạm thời nằm trong lãnh thổ Việt Nam;
  4. Sử dụng sáng chế do người có quyền sử dụng trước thực hiện theo quy định tại Điều 134 về Quyền sử dụng trước đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp của Luật SHTT; đ) Sử dụng sáng chế do người được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép thực hiện theo quy định tại Điều 145 về Căn cứ bắt buộc chuyển giao quyền sử dụng đối với sáng chế và Điều 146 về Điều kiện hạn chế quyền sử dụng sáng chế được chuyển giao theo quyết định bắt buộc của Luật SHTT.

Cụ thể hơn, chủ sở hữu sáng chế còn có nghĩa vụ phải sử dụng sáng chế bao gồm cả nghĩa vụ phải cho phép sử dụng sáng chế cơ bản nhằm phát triển sáng chế phụ thuộc. Theo Điều 132, Luật SHTT, quyền đối với sáng chế có thể bị hạn chế bởi các yếu tố sau đây: Luận văn: Thực trạng khai thác thương mại đối với sáng chế.

  1. Quyền của người sử dụng trước đối với sáng chế;
  2. Các nghĩa vụ của chủ sở hữu, bao gồm: Trả thù lao cho tác giả sáng chế; Sử dụng sáng chế.
  3. Chuyển giao quyền sử dụng sáng chế theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Theo quan điểm của tác giả, khi nói đến khai thác thương mại đối với sáng chế cần xem xét toàn diện, tổng thể quyền của các chủ thể quyền trong sự cân bằng với lợi ích của Nhà nước cũng như của công chúng. Cần phải xem xét khả năng mở rộng hoặc giới hạn quyền của các chủ thể theo quy định của pháp luật. Nếu quyền tạm thời đối với sáng chế là sự mở rộng quyền của chủ sở hữu thì quyền của người sử dụng trước sáng chế lại là sự mở rộng quyền đối với chủ thể khác. Việc lưu thông, nhập khẩu, khai thác công dụng của sản phẩm được đưa ra thị trường, kể cả thị trường nước ngoài một cách hợp pháp theo nguyên tắc, học thuyết quốc tế về cạn quyền lại là sự mở rộng quyền đối với công chúng. Li-xăng cưỡng bức là sự mở rộng quyền của Nhà nước vì lợi ích chung của công chúng hoặc vì lợi ích của chủ thể khác. Các quy định pháp lý hiện hành của Việt Nam không chỉ phù hợp với thông lệ quốc tế mà còn phù hợp với quy định của nhiều quốc gia. Ví dụ, như đã nói ở Chương 2, Điều 7, Hiệp định TRIPS thừa nhận về nguyên tắc sự cần thiết phải thúc đẩy việc bảo hộ đầy đủ và có hiệu quả các đối tượng SHTT nhằm “thúc đẩy cải tiến công nghệ, chuyển giao và phổ biến công nghệ, bảo đảm quyền lợi của các nhà sản xuất và người sử dụng kiến thức công nghệ, phục vụ lợi ích kinh tế, xã hội và bảo đảm sự cân bằng giữa quyền và nghĩa vụ”.

Một số công ước quốc tế như Công ước Paris và Hiệp định TRIPS cũng như pháp luật nhiều quốc gia đã quy định về các trường hợp giới hạn quyền khai thác thương mại của chủ sở hữu sáng chế: quyền của người sử dụng trước sáng chế; quyền sử dụng sáng chế cơ bản nhằm nghiên cứu, áp dụng và phát triển sáng chế phụ thuộc; quyền sử dụng sản phẩm chứa sáng chế do chủ sở hữu đưa ra thị trường (quyền nhập khẩu song song) theo nguyên tắc khai thác hết quyền và quyền nhận chuyển giao một cách không tự nguyện (li-xăng bắt buộc quyền sử dụng) sáng chế vì mục đích công cộng.

Theo quan điểm của tác giả, để sáng chế trở thành tài sản thì sáng chế phải được bảo hộ độc quyền. Đồng thời, việc bảo hộ độc quyền đối với sáng chế chỉ còn ý nghĩa và cần được duy trì nhằm đảm bảo hành lang pháp lý an toàn cho việc khai thác thương mại đối với sáng chế. Vấn đề đặt ra cho các nhà làm luật trong thời gian tới là một mặt pháp luật phải thúc đẩy việc bảo hộ sáng chế nhằm đảm bảo quyền lợi chính đáng, đảm bảo quyền được hưởng thành quả của các chủ thể sáng tạo qua đó thúc đẩy sự đầu tư vào hoạt động này nhưng mặt khác pháp luật phải hạn chế quyền của chủ sở hữu, không cho phép họ lạm dụng quyền độc quyền của mình như những biện pháp không chính đáng ngăn cản đối thủ cạnh tranh, ngăn chặn người khác tiếp cận tri thức để tiếp tục cải tiến, sáng tạo, thành rào cản đối với sự phát triển chung của toàn xã hội.

Liên quan đến quyền sử dụng sáng chế, Điều 124, Luật SHTT đã quy định cụ thể về khái niệm sử dụng sáng chế là việc thực hiện các hành vi sau đây: Luận văn: Thực trạng khai thác thương mại đối với sáng chế.

  1. Sản xuất sản phẩm được bảo hộ;
  2. Áp dụng quy trình được bảo hộ;
  3. Khai thác công dụng của sản phẩm được bảo hộ hoặc sản phẩm được sản xuất theo quy trình được bảo hộ;
  4. Lưu thông, quảng cáo, chào hàng, tàng trữ để lưu thông sản phẩm quy định như trên;
  5. Nhập khẩu sản phẩm quy định như trên.

Theo quan điểm của tác giả, các quy định pháp lý tại Điều 124, Luật SHTT liên quan đến quyền sử dụng nói trên là khá đầy đủ nhưng vẫn còn thiếu quy định về việc xuất khẩu sản phẩm được bảo hộ hoặc áp dụng quy trình được bảo hộ. Trên thực tế, khái niệm sử dụng sáng chế được các quốc gia quy định khác nhau, có quốc gia quy định về “quyền sử dụng sáng chế” khá rộng. Ví dụ, theo Luật SHTT của Cộng hòa Pháp, Điều L.613.3 và L.613.4, chủ sở hữu sáng chế có quyền sử dụng sáng chế và ngăn cấm người khác sử dụng sáng chế nếu không xin phép chủ sở hữu. Quyền sử dụng hoặc ngăn cấm người khác sử dụng của chủ sở hữu này bao gồm quyền thực hiện hoặc ngăn cấm thực hiện các hành vi sau đây:

  • sản xuất, chào bán, đưa vào kinh doanh, thương mại, sử dụng, xuất khẩu, nhập khẩu, trung chuyển hoặc chiếm giữ nhằm thực hiện các mục đích vừa nêu một sản phẩm chứa sáng chế được bảo hộ;
  • sử dụng một quy trình chứa sáng chế được bảo hộ và chào bán quy trình này hoặc sử dụng quy trình này trên lãnh thổ của Cộng hòa Pháp;
  • chào bán, đưa vào kinh doanh, thương mại, sử dụng, xuất khẩu, nhập khẩu, trung chuyển hoặc chiếm giữ nhằm thực hiện các mục đích vừa nêu sản phẩm có áp dụng, được tạo ra trực tiếp từ quy trình chứa sáng chế được bảo hộ;
  • phân phối hoặc mời phân phối trên lãnh thổ Cộng hòa Pháp các phương tiện nhằm thực hiện hoặc chuẩn bị thực hiện sáng chế được bảo hộ (thậm chí dù chỉ là để thực hiện một thành phần chủ đạo của sáng chế) cho một người khác với người được phép khai thác sáng chế được bảo hộ. Luận văn: Thực trạng khai thác thương mại đối với sáng chế.

Quyền sử dụng sáng chế này còn được suy rộng ra hơn nữa theo các quy định pháp lý có liên quan. Theo thực tiễn pháp lý của người Pháp, quyền ngăn cấm của chủ sở hữu đối với người khác khi chưa xin phép trong việc “sản xuất, chào bán, đưa vào kinh doanh, thương mại, sử dụng hoặc nhập khẩu hoặc chiếm giữ nhằm thực hiện các mục đích vừa nêu một sản phẩm chứa sáng chế được bảo hộ” không chỉ giới hạn ở việc ngăn cấm các hành vi nêu trên với chính sản phẩm chứa sáng chế mà còn bao gồm cả việc ngăn cấm người khác dùng bất cứ phương tiện gì để TMH sản phẩm chứa sáng chế.

Ngoài ra, theo quy định pháp lý của Liên minh Châu Âu liên quan đến sáng chế công nghệ sinh học, quyền ngăn cấm của chủ sở hữu còn bao gồm cả việc ngăn cấm người khác thực hiện các hành vi đã nêu đối với bất kỳ chất liệu sinh học nào được nhân bản hoặc nhân rộng từ sáng chế là chất liệu sinh học đã được bảo hộ và với bất kỳ chất liệu nào được tích hợp từ sản phẩm chứa các thông tin về gen đã được bảo hộ hoặc chất liệu nào sử dụng sản phẩm chứa các thông tin về gen đã được bảo hộ để thực hiện chức năng khác. Các hành vi tương tự sẽ bị cấm nếu không được phép của của chủ sở hữu đối với quy trình chứa sáng chế được bảo hộ hoặc sản phẩm được tạo ra từ quy trình chứa sáng chế được bảo hộ liên quan đến chất liệu công nghệ sinh học. Hơn nữa, theo quy định của Pháp và Liên minh Châu Âu, sáng chế dưới dạng sản phẩm còn được bảo hộ rất rộng theo cách thức áp dụng mới, sử dụng khác mặc dù thành phần tạo nên chất liệu hoặc kết cấu của sản phẩm đã được bộc lộ và mất tính mới.

Nhìn chung, theo quan điểm của tác giả, khái niệm sử dụng sáng chế của chủ sở hữu do luật pháp từng quốc gia quyết định nhưng tối thiểu phải là hành vi tạo ra sản phẩm trong trường hợp sáng chế được bảo hộ dưới dạng sản phẩm hoặc phải là hành vi áp dụng quy trình nếu sáng chế được bảo hộ dưới dạng quy trình. Cụ thể, sản xuất sản phẩm được bảo hộ hoặc áp dụng quy trình được bảo hộ là việc áp dụng giải pháp kỹ thuật được bảo hộ sáng chế trong bản mô tả để tạo ra sản phẩm. Sản phẩm được bảo hộ dưới dạng sáng chế có thể là sản phẩm được nêu trong bản mô tả hoặc sản phẩm có thành phần, kết cấu, hợp chất tương tự có thể suy luận ra được từ bản mô tả hoặc từ yêu cầu bảo hộ, ví dụ như sản phẩm tương tự được tạo ra từ chất liệu khác, sản phẩm có cùng thành phần nhưng được dùng vào mục đích khác nhưng đều chung một phương pháp được nêu trong bản mô tả và yêu cầu bảo hộ.

Về nguyên tắc, chỉ có một thuật ngữ chung là sử dụng sáng chế. Các hình thức sử dụng sáng chế cụ thể có thể là sản xuất sản phẩm, áp dụng quy trình, khai thác công dụng, lưu thông, quảng cáo, nhập khẩu, v.v. do chính chủ sở hữu hoặc bởi một bên khác thực hiện theo hợp đồng chuyển giao (quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng) sáng chế. Cụ thể, chủ sở hữu có toàn quyền tự mình sản xuất sản phẩm chứa sáng chế hoặc áp dụng sáng chế dạng quy trình vào sản xuất sản phẩm sau đó tự mình thực hiện việc lưu thông, quảng cáo, chào bán các sản phẩm đó đồng thời vẫn có thể cấp quyền cho phép người khác cùng khai thác sáng chế đó để kiếm lời. Luận văn: Thực trạng khai thác thương mại đối với sáng chế.

Quy định pháp lý hiện hành của Việt Nam đã mở rộng quyền của chủ sở hữu trong việc nhập khẩu các sản phẩm chứa sáng chế được bảo hộ dưới dạng sản phẩm hoặc nhập nhẩu các sản phẩm được sản xuất bằng việc áp dụng sáng chế được bảo hộ dưới dạng quy trình từ việc khai thác công dụng các sản phẩm này.Tuy nhiên, theo quan điểm của WIPO, một số quốc gia trên thế giới quy định rõ ràng rằng việc nhập khẩu một sản phẩm chứa đựng sáng chế một cách thuần túy không được coi là đã sử dụng hoặc thực hiện sáng chế. Theo cách hiểu này thì các hành vi lưu thông, quảng cáo, chào hàng, tàng trữ để lưu thông sản phẩm và nhập khẩu thuần túy sản phẩm chứa đựng sáng chế sẽ không được coi là sử dụng hoặc thực hiện sáng chế theo cách hiểu của nhiều quốc gia. Cụ thể, ví dụ như việc một đại lý chỉ nhập khẩu đơn thuần các sản phẩm được bảo hộ dưới dạng sáng chế, sau đó tàng trữ tại kho chứa của mình rồi đem đi quảng cáo, chào hàng để bán lại với giá cao hơn kiếm lời thì cũng không chưa được coi là hình thức sử dụng sáng chế. Do vậy, khó có thể coi các hành vi đơn thuần như nhập khẩu, tàng trữ, lưu thông, quảng cáo, chào hàng các sản phẩm được bảo hộ dưới dạng sáng chế hoặc các sản phẩm được thực hiện từ quy trình được bảo hộ sáng chế nêu trên là các hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế được pháp luật của nhiều quốc gia thừa nhận.

Có thể thấy rằng, pháp luật hiện hành của Việt Nam đã đưa ra được những quyền cơ bản nhất của chủ sở hữu sáng chế trong việc khai thác, sử dụng sáng chế, phù hợp các quy định chung của thông lệ quốc tế. Nói cách khác, các quy định của pháp luật quốc tế về quyền sử dụng và ngăn cấm người khác sử dụng sáng chế của chủ sở hữu sáng chế đã được nội luật hóa. Về khía cạnh pháp lý, hình thức chủ sở hữu tự mình khai thác thương mại đối với sáng chế thông qua việc thực hiện quyền sử dụng hoặc ngăn cấm người khác sử dụng sáng chế là một trong những cách thức thể hiện các quyền năng căn bản nhất quyền SHCN, quyền tài sản của chủ sở hữu đối với sáng chế. Đặc điểm của hình thức này là chủ sở hữu tự mình khai thác theo nguyên tắc tự làm, tự ăn và tự chịu rủi ro. Quy định pháp luật về hình thức này xuất phát từ việc chủ sở hữu sáng chế có quyền độc quyền thực hiện các hành vi đó. Đây là các quyền năng đương nhiên và cũng là các căn cứ rất quan trọng để chủ sở hữu có thể thực hiện các hình thức khai thác thương mại khác đối với sáng chế.

Tuy nhiên, các quy định hiện hành của chúng ta về các quyền độc quyền của chủ sở hữu sáng chế vẫn chưa được quy định một cách cụ thể. Do vậy, trong giai đoạn phát triển và hội nhập quốc tế nhanh hiện nay của Việt Nam, chúng ta cũng cần có những quy định cụ thể hơn nữa nhằm đem lại sự lựa chọn tối ưu, khuyến khích chủ sở hữu sáng chế lựa chọn hình thức khai thác thương mại sáng chế phù hợp. Theo quan điểm của tác giả luận án, nhằm thực hiện chính sách của Nhà nước trong việc thúc đẩy phát triển các doanh nghiệp KHCN, phát triển thị trường KHCN, các quy định pháp lý hiện hành cần được bổ sung theo hướng cụ thể hóa hơn nữa các quyền độc quyền của chủ sở hữu sáng chế vì các độc quyền của chủ sở hữu chính là các căn cứ cho phép họ lựa chọn hình thức tự mình khai thác hoặc chuyển giao cho người khác khai thác dưới những hình thức khác nhau. Sáng chế giống như một căn nhà, không chỉ là tài sản quý dùng để ở mà còn dùng để kinh doanh. Do vậy, các quy định pháp lý cần được cụ thể, rõ ràng để khuyến khích chủ sở hữu lựa chọn các phương án khai thác bao gồm cả việc tự mình khai thác sáng chế vì chủ sở hữu cần phải thấy việc khai thác có lợi ích mới có cảm hứng thực hiện và đầu tư, qua đó đóng góp cho sự phát triển của xã hội.

3.1.2 Thực tiễn áp dụng quy định hiện hành về hình thức chủ sở hữu tự mình khai thác thương mại đối với sáng chế Luận văn: Thực trạng khai thác thương mại đối với sáng chế.

Trước hết, cần khẳng định rằng chưa có một công bố chính thức nào về việc chủ sở hữu tự mình khai thác thương mại đối với sáng chế tại Việt Nam. Theo định nghĩa tại khoản 1, Điều 121, Luật SHTT, chủ sở hữu sáng chế là tổ chức, cá nhân được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp VBBH sáng chế. Tổ chức, cá nhân được Cục SHTT cấp VBBH sáng chế có thể là trường đại học, viện nghiên cứu, doanh nghiệp hoặc các nhà sáng chế tự do hoặc không chuyên. Do vậy, dựa vào định nghĩa này, trong phần nghiên cứu dưới đây của Luận án, tác giả sẽ nghiên cứu thực trạng chung về bảo hộ quyền SHCN đối với sáng chế đồng thời điểm qua vài nét về thực trạng chủ sở hữu sáng chế tự mình khai thác sáng chế để có thể phần nào đưa ra được bức tranh sơ bộ về thực tiễn áp dụng pháp luật về khai thác thương mại đối với sáng chế nói chung và hình thức chủ sở hữu tự mình khai thác thương mại đối với sáng chế nói riêng tại Việt Nam.

Trong vài năm trở lại đây, nhận thức của người dân, doanh nghiệp và các cơ quan quản lý Nhà nước về việc bảo quyền SHTT đã tăng lên. Theo báo cáo thường niên của Cục SHTT, số lượng đơn đăng ký xác lập quyền SHTT có xu hướng gia tăng. Tuy nhiên, so với nhãn hiệu và kiểu dáng công nghiệp, sáng chế/giải pháp hữu ích là đối tượng có số lượng cả đơn đăng ký cũng như VBBH là rất thấp, chưa tương xứng với tiềm năng. Lấy ví dụ cụ thể về số lượng VBBH, theo Báo cáo thường niên hoạt động SHTT năm 2014, tổng số giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu được cấp từ 1982 đến 2014 là 366798, tổng số văn bằng độc quyền kiểu dáng công nghiệp được cấp từ 1989 đến 2014 là 20305 trong khi đó tổng số VBBH độc quyền sáng chế được cấp trong giai đoạn 1981-2014 là 13628 còn tổng số VBBH độc quyền giải pháp hữu ích được cấp trong giai đoạn 1990-2014 là 1214. Cụ thể, Bảng 1 dưới đây cho thấy số lượng cụ thể và tương quan số lượng VBBH sáng chế/giải pháp hữu ích cấp cho người Việt Nam cũng như người nước ngoài trong giai đoạn 2008-2014.

Bảng 1: Số lượng VBBH sáng chế/giải pháp hữu ích được cấp cho người Việt Nam và người nước ngoài tại Việt Nam giai đoạn 2008 – 2014 Luận văn: Thực trạng khai thác thương mại đối với sáng chế.

Bảng 1 cho thấy số lượng VBBH sáng chế và giải pháp hữu ích được cấp ở Việt Nam chưa nhiều. Trong giai đoạn 2008-2014, số lượng sáng chế của người Việt Nam được bảo hộ tại Việt Nam là 277, số lượng giải pháp hữu ích là 373, chiếm tỷ lệ rất nhỏ so với số lượng nhãn hiệu và kiểu dáng công nghiệp được bảo hộ. Đồng nghĩa là loại TSTT này chưa phát triển ở Việt Nam.

Hơn nữa, trong tổng số VBBH sáng chế/giải pháp hữu ích được cấp giai đoạn 2008-2014, tổng số bằng sáng chế/giải pháp hữu ích được cấp của người Việt Nam chiếm tỷ lệ rất thấp so với tổng số văn bằng sáng chế/giải pháp hữu ích đã được cấp cho người nước ngoài. Cụ thể, tỉ lệ so sánh số lượng VBBH sáng chế giữa người Việt Nam và người nước ngoài được cấp tại Việt Nam trong giai đoạn 2008-2014 là: 277/6557 = 0,04. Như đã đề cập ở Chương 2, một chỉ số quan trọng và khách quan để đánh giá thành tựu khoa học ứng dụng của một nước là số bằng sáng chế. Số bằng sáng chế không chỉ phản ánh hiệu quả thực tiễn của các kết quả nghiên cứu lý thuyết, mà còn cho biết tiềm lực về nghiên cứu ứng dụng. Thực tế cho thấy những nước có nhiều bằng sáng chế thì thường xuất khẩu những sản phẩm công nghệ cao và thu được nhiều lợi nhuận từ việc khai thác thương mại sáng chế. Thực trạng số lượng VBBH sáng chế ít ỏi được cấp cho các chủ sở hữu sáng chế Việt Nam đã cho thấy hạn chế trong việc khai thác sáng chế của các chủ thể này.

Đối với các trường đại học và viện nghiên cứu, đã có một số trường đại học, viện nghiên cứu đạt được một số kết quả nổi bật trong việc nghiên cứu ứng dụng như Trường Đại học Bách khoa Hà Nội, Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, Trường Đại học Nông nghiệp, Đại học Huế, v.v. Tuy nhiên, phần lớn các đơn vị đào tạo đại học và nghiên cứu này vẫn đẩy mạnh nghiên cứu cơ bản do đơn đặt hàng và đầu tư của Nhà nước. Theo thống kê của Cục SHTT, đơn cử trong giai đoạn 2003-2010, các trường đại học và viện nghiên cứu Việt Nam được cấp 61 bằng sáng chế và giải pháp hữu ích, trong đó chỉ có 30 bằng đang còn hiệu lực (11 bằng sáng chế được cấp cho trường đại học và 19 bằng được cấp cho các viện nghiên cứu). Luận văn: Thực trạng khai thác thương mại đối với sáng chế.

Chính sách và pháp luật cho phép và khuyến khích việc thành lập các doanh nghiệp KHCN trong trường đại học, viện nghiên cứu nhằm giúp các đơn vị này tự mình khai thác sáng chế, giải pháp hữu ích do mình sở hữu. Theo ước tính, số lượng các doanh nghiệp đủ điều kiện để được công nhận là doanh nghiệp KHCN được hình thành từ các trường đại học, viện nghiên cứu vào khoảng 300, nhưng thực tế hiện nay cả nước mới chỉ có chưa đến 100 doanh nghiệp được cấp giấy chứng nhận là doanh nghiệp KHCN. Nhằm thực hiện Nghị định 80 về doanh nghiệp KHCN, Bộ KHCN đã thí điểm thành lập doanh nghiệp KHCN ở Viện nghiên cứu Cơ khí, Viện Máy và Dụng cụ Công nghiệp, Viện kinh tế kỹ thuật thuốc lá, Viện nghiên cứu điều trị các bệnh hiểm nghèo, Viện Cơ khí Năng lượng Mỏ, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội. Tuy nhiên, do thiếu tính kết nối với doanh nghiệp và thiếu nhiều nguồn lực, không phải doanh nghiệp nào cũng hoạt động hiệu quả.

Đối với các doanh nghiệp, theo kết quả khảo sát của Bộ KHCN, hầu hết các doanh nghiệp sản xuất đều đánh giá cao việc khai thác, áp dụng sáng chế/kết quả nghiên cứu (chiếm 82%). Nhiều doanh nghiệp đã có sáng chế và tự mình TMH thành công, ví dụ như Công ty Cổ phần Phân bón và Dịch vụ tổng hợp Bình Định với sáng chế gạch chịu nhiệt Samot, hay Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Nhựa Hoàng Thắng với nhiều sáng chế về các thiết bị phục vụ nông nghiệp, v.v. Tuy nhiên, do bị hạn chế về nguồn lực, không phải doanh nghiệp nào cũng có thể tự mình khai thác sáng chế thành công.

Trong bối cảnh KHCN phát triển như vũ bão hiện nay, việc tiếp cận các thông tin về công nghệ, sáng chế mới để khai thác thương mại hoặc để tìm hiểu về các đối thủ cạnh tranh đã trở thành chiến lược của nhiều doanh nghiệp trên thế giới. Tuy nhiên, tình hình khai thác thông tin sáng chế của các doanh nghiệp vẫn còn rất hạn chế tại Việt Nam. Hiện nay, tại Cục SHTT có hơn 30 triệu bản mô tả sáng chế thuộc tất cả các lĩnh vực trong đời sống xã hội của hầu hết các quốc gia phát triển trên thế giới và khu vực, ước tính có khoảng hơn 85% sáng chế trong số đó hoặc không được bảo hộ tại Việt Nam hoặc hết hạn bảo hộ. Song kho dữ liệu quý này dường như chưa được khai thác một cách tối đa.

Đối với các nhà sáng chế tự do hoặc không chuyên, không ít trường hợp nhiều nhà sáng chế có sáng chế tiềm năng nhưng lại không đi đăng ký xác lập quyền. Các nhà sáng chế cũng như các nhà khoa học chưa ý thức hết tầm quan trọng và lợi ích của việc bảo hộ quyền. Theo thống kê của Cục SHTT ở trên, trong những năm gần đây, số lượng giải pháp hữu ích của người Việt Nam được bảo hộ tại Việt Nam đã vượt số lượng sáng chế của người Việt Nam được bảo hộ tại Việt Nam. Đa số các giải pháp hữu ích này đã được cấp cho các nhà nghiên cứu tự do. Luận văn: Thực trạng khai thác thương mại đối với sáng chế.

Trong số các sáng chế, giải pháp hữu ích được cấp cho các nhà sáng chế tự do, có nhiều sáng chế có tiềm năng TMH, ví dụ điển hình như sáng chế điều chế Hydro từ nước của ông Vũ Hồng Khánh, đã được sử dụng trong chính xưởng của ông và chạy rất hiệu quả cho chiếc máy điện, hàn xì, nấu sắt thép, xử lý rác thải hay sáng chế hệ thống thiết bị chuyên dụng chữa cháy rừng trên mọi địa hình ở Việt Nam của ông Dương Văn Tài hoặc sáng chế sản xuất khí etanol từ rơm rạ của ông Trần Đình Toại, sáng chế về thiết bị tiết kiệm xăng của ông Nguyễn Hữu Trọng, sáng chế bếp khí hóa của ông Bùi Trọng Tuấn, v.v.

Tuy nhiên, kết quả khảo sát của Bộ KHCN cho thấy các chủ sở hữu sáng chế này vẫn gặp nhiều khó khăn trong việc tự mình khai thác thương mại đối với sáng chế. Thứ nhất, nhiều sáng chế chưa hoàn thiện, đòi hỏi một quá trình đầu tư lâu dài mới có thể khai thác thương mại ví dụ như sáng chế sản xuất khí Hydro của ông Vũ Hồng Khánh, sáng chế sản xuất khí etanol từ rơm rạ của ông Trần Đình Toại, v.v. cần một quá trình thử nghiệm, đánh giá, kiểm định rất dài mới có thể ứng dụng vào trong hoạt động sản xuất, kinh doanh. Thứ hai, nhiều chủ sở hữu sáng chế quá thận trọng trong việc hợp tác và không sẵn sàng CGCN, ví dụ điển hình như ông Nguyễn Hữu Trọng với sáng chế về thiết bị tiết kiệm xăng. Ông này không muốn bộc lộ sâu công nghệ, không cho tham quan chi tiết các dây chuyền sản xuất máy móc, công nghệ sản xuất đã được thử nghiệm làm cho nhà đầu tư không có đủ thông tin đánh giá tiềm năng công nghệ. Hay ông Bùi Trọng Tuấn với sáng chế bếp hóa khí lại không tự tin khi hợp tác với doanh nghiệp vì sợ không kiểm soát được TSTT của mình cũng như sợ tình trạng cá lớn nuốt cá bé, v.v. Thứ ba, chủ sở hữu sáng chế muốn thu lợi lớn ngay mà không muốn hợp tác hoàn thiện tiếp công nghệ. Điển hình là ông Vũ Hồng Khánh định giá ngay công nghệ góp vốn của mình với giá 6 tỷ đồng mà không muốn tiếp tục cùng doanh nghiệp hoàn thiện công nghệ. Có thể thấy rằng, việc tự mình khai thác thương mại thành công sáng chế đòi hòi một quá trình kết nối lâu dài của chủ sở hữu với các đối tác khác.

Tóm lại, những kết quả thống kê và khảo sát nêu trên đã cho thấy hậu quả của các bất cập về mặt pháp lý hiện hành, đã gây ra các trở ngại lớn đối với việc chủ sở hữu tự mình khai thác thương mại sáng chế.

3.2 Thực trạng pháp luật về khai thác thương mại dưới hình thức chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế Luận văn: Thực trạng khai thác thương mại đối với sáng chế.

Chủ sở hữu sáng chế có thể tự mình khai thác sáng chế để thu lợi ích vật chất thông qua việc thực hiện quyền sử dụng của mình đối với sáng chế. Tuy nhiên, trên thực tế, chủ sở hữu ít khi có đủ nguồn lực về kinh tế, tài chính, cơ sở vật chất, nhân lực, v.v. để hoàn toàn tự mình khai thác thương mại sáng chế thông qua việc áp dụng sáng chế vào sản xuất, phân phối và bán sản phẩm. Nhằm thực hiện các hành vi như sản xuất sản phẩm được bảo hộ; áp dụng quy trình được bảo hộ và khai thác công dụng của sản phẩm được bảo hộ hoặc sản phẩm được sản xuất theo quy trình được bảo hộ, phần lớn chủ sở hữu sáng chế thường thực hiện quyền định đoạt (chuyển nhượng quyền sở hữu) hoặc quyền cho phép người khác sử dụng (chuyển giao quyền sử dụng) sáng chế của mình cho người khác thông qua hợp đồng chuyển nhượng quyền sở hữu hoặc hợp đồng li-xăng sáng chế.

3.2.1 Quy định hiện hành về khai thác thương mại dưới hình thức chuyển nhượng quyền sở hữu sáng chế

  • Khái niệm chuyển nhượng quyền sở hữu sáng chế

Theo Điều 138, Luật SHTT, chuyển nhượng quyền SHCN đối với sáng chế (chuyển nhượng quyền sở hữu sáng chế) là việc chủ sở hữu quyền SHCN chuyển giao quyền sở hữu đối với sáng chế của mình cho tổ chức, cá nhân khác. Việc chuyển nhượng quyền sở hữu sáng chế này được coi là việc “bán đứt” sáng chế. Hình thức bán đứt sáng chế cho người khác là cách thức thực hiện quyền năng định đoạt đối với sáng chế của chủ sở hữu.

Theo quan điểm của WIPO, về cơ bản, có hai phương pháp, hình thức mà chủ sở hữu thường sử dụng để khai thác sáng chế, đưa ý tưởng của mình vào sản xuất để thu lợi bao gồm việc bán đứt sáng chế để có được một khoản tiền thanh toán gọn một lần hoặc là li-xăng sáng chế thông qua các thỏa thuận mua bán hoặc li-xăng sáng chế.

Hình thức định đoạt sáng chế này cũng được ghi nhận bởi quy định của nhiều quốc gia. Tại Hoa Kỳ, pháp luật về sáng chế của quốc gia này dành quyền nộp đơn đăng ký sáng chế cho tác giả sáng chế đồng thời khuyến khích tác giả sáng chế khai thác thương mại bằng cách chuyển giao sáng chế cho các cá nhân, tổ chức có khả năng khai thác sáng chế. Do đó, hệ thống pháp luật về sáng chế của Hoa Kỳ tạo điều kiện mạnh mẽ việc chuyển giao quyền SHCN của tác giả sáng chế cho những cá nhân, doanh nghiệp hoặc tổ chức có đủ nguồn lực và khả năng khai thác thương mại những sáng chế này. Việc khai thác thương mại đối với sáng chế thường được thực hiện dưới nhiều hình thức khác nhau như chuyển nhượng quyền sở hữu và li-xăng sáng chế. Luận văn: Thực trạng khai thác thương mại đối với sáng chế.

Tương tự, tại Châu Âu, có ít chủ sở hữu TSTT nói chung và sáng chế nói riêng đủ nguồn lực để hoàn toàn tự mình khai thác thương mại TSTT và sáng chế thông qua việc ứng dụng sáng chế vào sản xuất, phân phối và bán sản phẩm. Phần lớn chủ sở hữu sáng chế thường chuyển giao quyền sở hữu sáng chế hoặc li-xăng sáng chế của mình cho người khác để tối đa hóa khai thác thương mại.

Trước đây, chúng ta mới chỉ nhấn mạnh đến quyền nhân thân của chủ sở hữu, sự bảo hộ và thực thi quyền SHCN đối với sáng chế mà chưa chú trọng đến khía cạnh thương mại, quyền tài sản cũng như sự vận động của TSTT này trên thị trường với tư cách là một “hàng hóa đặc biệt”.

Pháp luật hiện hành của Việt Nam đã đề cập đến khía cạnh thương mại của các đối tượng quyền SHCN nói chung và quyền SHCN đối với sáng chế nói riêng. Liên quan đến việc chuyển giao quyền SHCN đối với sáng chế, các quy định pháp luật hiện hành của Việt Nam được ghi nhận tại Điều 753, Bộ Luật Dân sự năm 2005 và Chương X, Luật SHTT. Ngoài ra, những quy định của pháp luật về chuyển giao quyền SHCN đối với sáng chế còn được ghi nhận rải rác trong các văn bản pháp luật khác: pháp luật về CGCN, pháp luật về thương mại, pháp luật về đầu tư và pháp luật về doanh nghiệp.

  • Điều kiện hạn chế việc chuyển nhượng quyền sở hữu sáng chế

Theo Điều 139, khoản a, Luật SHTT, điều kiện hạn chế việc chuyển nhượng quyền sở hữu sáng chế được pháp luật quy định như sau: Chủ sở hữu quyền SHCN chỉ được chuyển nhượng quyền của mình trong phạm vi được bảo hộ. Ví dụ, sáng chế được bảo hộ theo lãnh thổ và trong một thời gian nhất định là thời hạn bảo hộ sáng chế. Do vậy, chủ sở hữu sáng chế chỉ có thể chuyển nhượng quyền sở hữu của mình trong phạm vi lãnh thổ và còn trong thời hạn sáng chế được bảo hộ. Nếu sáng chế không được bảo hộ ở một quốc gia nào đó thì việc sử dụng sáng chế ở quốc gia không có đăng ký bảo hộ sáng chế là việc không cần xin phép chủ sở hữu. Tương tự, nếu sáng chế hết thời hạn bảo hộ thì bất cứ ai cũng có thể sử dụng sáng chế mà không cần xin phép chủ sở hữu sáng chế đó.

Thời hạn bảo hộ tối đa sáng chế theo quy định pháp luật của hầu hết các quốc gia trên thế giới thông thường là 20 năm và thời hạn này không được gia hạn. Do vậy, thời hạn của hợp đồng chuyển nhượng quyền sở hữu sáng chế phụ thuộc vào thời hạn của VBBH độc quyền sáng chế và hợp đồng chuyển nhượng quyền sở hữu sáng chế không được gia hạn khi hết thời hạn bảo hộ sáng chế. Luận văn: Thực trạng khai thác thương mại đối với sáng chế.

  • Hợp đồng chuyển nhượng quyền sở hữu sáng chế

Hợp đồng chuyển nhượng quyền sở hữu sáng chế theo quy định của pháp luật Việt Nam tại Điều 753, Bộ Luật Dân sự năm 2005 là một hợp đồng dân sự và mang đầy đủ đặc điểm của một hợp đồng dân sự thông thường. Do vậy, điều kiện tiên quyết để hợp đồng có hiệu lực là sự tự do thỏa thuận ý chí của các chủ thể trên cơ sở tự nguyện và bình đẳng.

Theo nguyên tắc độc lập về mặt ý chí, các bên ký kết hợp đồng được thể hiện khả năng tự do cao nhất trong việc xác định nội dung và phạm vi của các nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng. Mặc dù tự do ý chí của các chủ thể là yếu tố quan trọng nhất trong một hợp đồng dân sự theo quy định của pháp luật nhưng Luật SHTT Việt Nam lại quy định các giới hạn về hình thức, nội dung và điều kiện có hiệu lực của hợp đồng này.

  • Hình thức của hợp đồng chuyển nhượng quyền sở hữu sáng chế

Việc chuyển nhượng quyền sở hữu đối với sáng chế một cách tự nguyện của chủ sở hữu cho người khác khai thác thường được thực hiện dưới hình thức hợp đồng. Theo Luật SHTT hiện hành, khoản 2, Điều 138, việc chuyển nhượng quyền SHCN đối với sáng chế phải được thực hiện dưới hình thức hợp đồng bằng văn bản. Quy định pháp lý về hình thức hợp đồng chuyển giao quyền SHCN nói chung và hợp đồng chuyển nhượng quyền sở hữu sáng chế nói riêng phải thể hiện bằng văn bản của Việt Nam cũng giống với quy định của một số nước công nghiệp phát triển. Ví dụ, theo quy định pháp luật về chuyển giao quyền SHCN tại Điều L.613-8, mục 5, Luật SHTT của Cộng hòa Pháp, hình thức chuyển giao quyền SHCN đối với sáng chế phải được thực hiện bằng văn bản mới có giá trị hiệu lực.

  • Nội dung của hợp đồng chuyển nhượng quyền sở hữu sáng chế

Ngoài điều kiện là hợp đồng chuyển nhượng quyền sở hữu sáng chế phải được thực hiện dưới hình thức bằng văn bản, nội dung của loại hợp đồng này cũng phải tuân theo các quy định của pháp luật Việt Nam. Theo Điều 140, Luật SHTT, hợp đồng chuyển nhượng quyền sở hữu sáng chế phải có các nội dung chủ yếu sau đây: a) Tên và địa chỉ đầy đủ của bên chuyển nhượng và bên được chuyển nhượng; b) Căn cứ chuyển nhượng; c) Giá chuyển nhượng; d) Quyền và nghĩa vụ của bên chuyển nhượng và bên được chuyển nhượng. Luận văn: Thực trạng khai thác thương mại đối với sáng chế.

Có thể thấy rằng các quy định này vẫn còn chung chung, chưa được cụ thể hóa, nhất là những quy định pháp lý về giao dịch, trách nhiệm, nghĩa vụ thực hiện hợp đồng. Theo Phạm Duy Nghĩa, việc áp dụng các quy định chung về hợp đồng trong Bộ Luật Dân sự hiện hành đối với loại hợp đồng chuyển giao quyền SHCN, ví dụ như các quy định chi phối các giao dịch dân sự (từ Điều 121 đến Điều 138), các quy định chi phối các nghĩa vụ (từ Điều 280 đến Điều 387) và các quy định chi phối hợp đồng (từ Điều 388 đến Điều 427) còn chưa được cụ thể hóa.

Trên thực tế, đây là những quy định rất quan trọng giúp cho các bên thực hiện thành công việc chuyển giao quyền SHCN đối với sáng chế cũng như giúp cho chủ sở hữu khai thác thương mại đối với sáng chế một cách có hiệu quả. Sự thiếu hụt các quy định chi tiết liên quan đến nội dung hợp đồng chuyển nhượng quyền sở hữu đối với sáng chế đã dẫn đến việc khai thác thương mại đối với sáng chế tại Việt Nam đã và đang gặp nhiều khó khăn, hạn chế. Các khó khăn và hạn chế này sẽ được thể hiện trong phần thực trạng chuyển giao quyền SHCN đối với sáng chế ở phần sau.

  • Đăng ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sở hữu sáng chế

Ngoài điều kiện về hình thức và nội dung, một trong những điều kiện để hợp đồng chuyển nhượng quyền sở hữu đối với sáng chế có hiệu lực là hợp đồng đã được giao kết cần phải được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Theo Điều 148, Luật SHTT hiện hành, hợp đồng chuyển nhượng quyền sở hữu sáng chế chỉ có hiệu lực khi đã được đăng ký tại cơ quan quản lý nhà nước về quyền SHCN là Cục SHTT.

Việc chuyển giao quyền sở hữu, quyền sử dụng kết quả NCKH và phát triển công nghệ, bao gồm cả sáng chế, có sử dụng ngân sách nhà nước còn được điều chỉnh chặt chẽ hơn bởi Thông tư số 15/2014/TT-BKHCN.

Việc pháp luật về SHCN của Việt Nam có những quy định về việc đăng ký, thậm chí phê duyệt, hợp đồng chuyển nhượng quyền sở hữu sáng chế để hạn chế tình trạng bên chuyển nhượng (tại quốc gia phát triển) áp đặt những điều kiện bất lợi cho bên nhận chuyển nhượng (tại quốc gia đang phát triển) bằng những điều khoản, ví dụ như điều khoản bắt buộc bên nhận phải mua kèm với sáng chế các nguyên vật liệu, các sản phẩm không cần thiết hoặc điều khoản hạn chế cách thức sử dụng sản phẩm, v.v.

Quy định này phù hợp với quy định pháp lý của nhiều nước đang phát triển đã từng làm như Ác-hen-ti-na, Ấn Độ, Brazil, Đài Loan, Hàn Quốc, Ma-lai-xi-a, Mê-hi- cô, Thái Lan, Trung Quốc. Trong hoàn cảnh của Việt Nam hiện nay, khi Việt Nam thường là bên nhận sáng chế, thì việc pháp luật Việt Nam đưa ra quy định này phần nào cũng là cần thiết. Tuy nhiên, quy định pháp lý hiện hành của Việt Nam về việc đăng ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sở hữu sáng chế vẫn còn một số bất cập.

Cụ thể, các quy định pháp luật về trình tự và thủ tục hành chính đăng ký có thể làm cho bên chuyển nhượng (thường là bên nước ngoài) ngần ngại chuyển nhượng vì sợ tốn nhiều thời gian chuẩn bị hồ sơ và thực hiện thủ tục đăng ký hợp đồng này. Trước tiên, việc đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền hợp đồng chuyển nhượng quyền sở hữu sáng chế phải tuân theo các quy định bắt buộc về hồ sơ và trình tự, thủ tục. Hồ sơ, trình tự và thủ tục đăng ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sở hữu sáng chế được quy định chi tiết trong Điều 149, Luật SHTT, Điều 26, Nghị định số 103/2006/NĐ–CP và Điều 47.2, Thông tư 01/2007/TT-BKHCN. Luận văn: Thực trạng khai thác thương mại đối với sáng chế.

Không những thế, trong trường hợp hợp đồng chuyển nhượng quyền sở hữu sáng chế là một bộ phận của hợp đồng khác ví dụ như hợp đồng hợp tác kinh doanh, hợp đồng mua bán thiết bị, hợp đồng CGCN thì nội dung liên quan đến chuyển nhượng quyền sở hữu sáng chế phải được lập thành một phần riêng và phải đăng ký tại Cục SHTT theo hồ sơ, thủ tục và trình tự như luật định. Ngoài ra, mọi sửa đổi, bổ sung, chấm dứt, gia hạn hợp đồng chính phải được lập thành văn bản và phải được đăng ký như hợp đồng chính. Hơn nữa, việc chuyển giao quyền của mỗi bên trong hợp đồng đã đăng ký cho bên thứ ba, ví dụ như việc thừa kế, sáp nhập, v.v. cũng phải được đăng ký. Tóm lại, bất kỳ việc chuyển nhượng quyền sở hữu sáng chế nào đều phải lập thành hợp đồng độc lập, nếu là một phần của hợp đồng chính thì phải được lập tách rời hợp đồng chính và phải được đăng ký tại Cục SHTT nên cũng làm mất khá nhiều thời gian, tiền bạc của các bên giao kết hợp đồng.

Theo quan điểm của tác giả, trong hơn một thập kỷ trở lại đây, hoạt động thu hút công nghệ, sáng chế từ nước ngoài vào Việt Nam được coi như quá trình “song sinh” với hoạt động thu hút ĐTNN vào Việt Nam. Vậy mà, công tác quản lý, kiểm soát hoạt động chuyển giao quyền SHCN đối với sáng chế nói chung và chuyển nhượng quyền sở hữu sáng chế nói riêng vẫn chưa tạo ra sự khuyến khích đầu tư, phát triển và đổi mới công nghệ tiên tiến theo đúng chủ trương của Việt Nam. Việc đăng ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sở hữu sáng chế phải chăng chỉ mang tính hình thức hoặc chỉ là quá trình phải “làm thủ tục”? Hình thức ở chỗ mọi hợp đồng chuyển nhượng quyền sở hữu sáng chế phải được đăng ký và phải trải qua quá trình xét duyệt của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền. “Làm thủ tục” ở chỗ quá trình xem xét kỹ lưỡng, xét duyệt mất khá nhiều thời gian, thậm chí cần phải có sự can thiệp của các nhà tư vấn có quan hệ tốt với chính quyền và đương nhiên là làm tốn thêm kinh phí của các bên giao kết hợp đồng.

3.2.2 Quy định hiện hành về khai thác thương mại dưới hình thức chuyển giao quyền sử dụng sáng chế Luận văn: Thực trạng khai thác thương mại đối với sáng chế.

  • Khái niệm chuyển giao quyền sử dụng sáng chế

Theo Điều 141, Luật SHTT, chuyển quyền sử dụng đối tượng SHCN là sáng chế (chuyển giao quyền sử dụng sáng chế hoặc li-xăng sáng chế) là việc chủ sở hữu sáng chế cho phép tổ chức, cá nhân khác sử dụng sáng chế thuộc phạm vi quyền sử dụng của mình. Việc chuyển quyền sử dụng sáng chế chỉ là việc chủ sở hữu “cho phép” hoặc ủy quyền cho người khác sử dụng sáng chế của mình.

Vào những năm 70 của thế kỷ trước, “li-xăng” thường được hiểu là li-xăng bằng độc quyền sáng chế. Ngày nay, “li-xăng” được hiểu rộng hơn, không chỉ bao gồm li- xăng bằng sáng chế mà còn là li-xăng bí quyết kỹ thuật. Trong các tài liệu nghiên cứu và giảng dạy về SHTT tại Việt Nam, quan điểm về đối tượng li-xăng cũng khác nhau. Cụ thể, Tài liệu bài giảng quyền SHTT của Lê Nết định nghĩa hợp đồng li-xăng là dạng đặc thù của hợp đồng CGCN, đối tượng của hợp đồng li-xăng là các đối tượng quyền SHCN nhưng chỉ bao gồm sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp và nhãn hiệu. Tuy nhiên, trong bài viết Bản chất và các loại hình hợp đồng li-xăng Nguyễn Bá Diến lại định nghĩa hợp đồng li-xăng là sự thỏa thuận bằng văn bản, trên cơ sở đó, tổ chức, cá nhân cho phép tổ chức, cá nhân khác được sử dụng trong phạm vi lãnh thổ nhất định và thời hạn nhất định các đối tượng SHCN là sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu hoặc các bí quyết kỹ thuật đang thuộc quyền sở hữu của bên chuyển giao. Có thể thấy rằng định nghĩa của Nguyễn Bá Diến có sự mở rộng đối tượng SHCN được li-xăng so với định nghĩa của Lê Nết.

  • Phân loại hình thức chuyển giao quyền sử dụng sáng chế
  • Hình thức chuyển giao căn bản quyền sử dụng sáng chế

Pháp luật về SHCN của Việt Nam quy định một số loại hình chuyển giao quyền sử dụng sáng chế (li-xăng sáng chế) cơ bản gồm: li-xăng độc quyền, li-xăng không độc quyền và li-xăng thứ cấp. Cụ thể, theo Điều 143, Luật SHTT, hợp đồng sử dụng đối tượng SHCN nói chung và hợp đồng li-xăng sáng chế nói riêng gồm ba dạng như sau:

  • Hợp đồng độc quyền là hợp đồng mà theo đó trong phạm vi và thời hạn chuyển giao, bên được chuyển quyền được độc quyền sử dụng đối tượng SHCN, bên chuyển quyền không được ký kết hợp đồng sử dụng đối tượng SHCN với bất kỳ bên thứ ba nào và chỉ được sử dụng đối tượng SHCN đó nếu được phép của bên được chuyển quyền.
  • Hợp đồng không độc quyền là hợp đồng mà theo đó trong phạm vi và thời hạn chuyển giao quyền sử dụng, bên chuyển quyền vẫn có quyền sử dụng đối tượng SHCN, quyền ký kết hợp đồng sử dụng đối tượng SHCN không độc quyền với người khác. Luận văn: Thực trạng khai thác thương mại đối với sáng chế.
  • Hợp đồng sử dụng đối tượng SHCN thứ cấp (hợp đồng li-xăng thứ cấp) là hợp đồng mà theo đó bên chuyển quyền là người được chuyển giao quyền sử dụng đối tượng SHCN đó theo một hợp đồng khác.

Theo quy định pháp luật quốc tế và kinh nghiệm của thế giới, li-xăng sáng chế có thể được phân loại theo nhiều khía cạnh khác nhau. Về phạm vi độc quyền của bên nhận li-xăng và theo cách phân loại căn bản nhất về li-xăng, li-xăng thường được chia làm hai loại là li-xăng độc quyền và li-xăng không độc quyền. Về phạm vi quyền hạn của bên nhận li-xăng, li-xăng sáng chế có thể được chia làm li-xăng đầy đủ, li-xăng một phần và li-xăng thứ cấp. Li-xăng đầy đủ là sự thỏa thuận mà theo đó bên nhận li- xăng có đầy đủ quyền như chủ sở hữu sáng chế. Ngược lại, li-xăng một phần là thỏa thuận mà theo đó bên nhận li-xăng chỉ được phép khai thác sáng chế trong một số phạm vi, cách thức và điều kiện nhất định. Ngoài ra còn một số loại hình li-xăng độc đáo khác là li-xăng chéo và li-xăng mở. Li-xăng chéo là sự thỏa thuận mà theo đó một bên li-xăng (sáng chế hoặc quyền tác giả cho bên kia để có được một li-xăng từ bên kia cho mình. Li-xăng mở là một loại hình li-xăng đặc biệt mà theo đó chủ sở hữu sáng chế do không còn muốn giữ độc quyền sử dụng sáng chế nên sẵn sàng chuyển giao cho bất cứ người nào khác miễn phí hoặc chỉ thu lại một phần rất nhỏ phí li-xăng nhằm đủ để duy trì hiệu lực của bằng độc quyền sáng chế mà thôi.

Theo quy định pháp lý của nhiều nước trên thế giới, các hình thức li-xăng sáng chế rất đa dạng. Đối với một số loại hình li-xăng khác, ví dụ như li-xăng đầy đủ, li- xăng một phần, li-xăng chéo, li-xăng mở, v.v, pháp luật hiện hành về SHTT của Việt Nam vẫn chưa có quy định. Theo quan điểm của tác giả, Việt Nam vẫn đang là nước chủ yếu nhập khẩu công nghệ/sáng chế nhưng trong tương lai Việt Nam có thể là nước xuất khẩu công nghệ/sáng chế nên việc mở rộng các hình thức li-xăng sáng chế theo quy định của pháp luật cũng có thể cần được cân nhắc, mềm dẻo cho phù hợp điều kiện và hoàn cảnh thực tiễn của thương mại quốc tế.

  • Chuyển giao công nghệ

Khái niệm về “công nghệ” nói chung và “chuyển giao công nghệ” nói riêng không có định nghĩa chuẩn. Trên thế giới, mỗi quốc gia lại có quy định pháp lý khác nhau về các khái niệm này.

Một cách tổng quát, công nghệ là sản phẩm do con người tạo ra, được dùng làm công cụ nhằm tạo ra của cải vật chất. Luật KHCN Việt Nam coi công nghệ là tập hợp các phương pháp, quy trình, kỹ năng, bí quyết, công cụ, phương tiện dùng để biến đổi nguồn lực thành sản phẩm. Pháp luật của các quốc gia công nghiệp phát triển thường định nghĩa công nghệ hẹp hơn, chỉ bao hàm các đối tượng SHCN và bản quyền phần mềm. Ví dụ cụ thể, theo Liên minh Châu Âu, công nghệ được định nghĩa là sáng chế, sự ứng dụng sáng chế, mẫu hữu ích, sự ứng dụng mẫu hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, các giấy chứng nhận bảo hộ bổ sung đối với sản phẩm y học hoặc các sản phẩm khác có thể là đối tượng của giấy chứng nhận bảo hộ bổ sung, giống cây trồng, bí quyết kỹ thuật và bản quyền phần mềm. Có thể thấy rằng, công nghệ bao gồm sản phẩm, quy trình và các đối tượng này chính là sáng chế theo định nghĩa sáng chế của Việt Nam cũng như của các quốc gia trên thế giới. Luận văn: Thực trạng khai thác thương mại đối với sáng chế.

Liên quan đến CGCN, một cách tổng quát, CGCN là việc đưa kiến thức kỹ thuật ra khỏi ranh giới đã sản sinh ra nó. Luật CGCN của Việt Nam, Điều 3 coi CGCN là việc chuyển giao quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng một phần hoặc toàn bộ công nghệ từ bên có quyền chuyển giao công nghệ sang bên nhận công nghệ. Còn theo định nghĩa của UNCTAD thì CGCN là chuyển giao kiến thức có hệ thống để sản xuất ra sản phẩm, áp dụng quy trình hoặc thực hiện nhiệm vụ. Sự khác biệt giữa chuyển giao quyền SHCN đối với sáng chế và CGCN nằm ở chỗ CGCN không chỉ là việc chuyển giao sáng chế mà còn kèm theo việc chuyển giao các bí quyết công nghệ và các dịch vụ hỗ trợ đi kèm, ví dụ như hỗ trợ kỹ thuật, đào tạo, lắp đặt dây chuyền công nghệ, máy móc, v.v. để giúp việc chuyển giao sáng chế có hiệu quả hơn.

Về phương diện pháp luật quốc tế, khái niệm CGCN cũng bị điều chỉnh và ảnh hưởng mạnh mẽ bời các hiệp ước quốc tế về SHCN nói chung và sáng chế nói riêng, v.v. Theo pháp luật của các nước công nghiệp phát triển, khái niệm “chuyển giao

quyền SHCN” và khái niệm “CGCN” là gần giống nhau. Tại Úc, luật CGCN cũng chính là luật điều chỉnh hoạt động li-xăng sáng chế.Có thể khẳng định rằng các giao dịch li-xăng sáng chế và bí quyết kỹ thuật là vấn đề cốt lõi của CGCN. Quan điểm này được Đức và nhiều nước công nghiệp phát triển khác ủng hộ, coi hợp đồng li-xăng là một dạng đặc thù của hợp đồng CGCN theo nghĩa rộng.

Vậy mà pháp luật hiện hành của Việt Nam lại thể hiện sự sáng tạo khi tách rời hai khái niệm chuyển giao quyền SHCN đối với sáng chế và CGCN. Theo các quy định của Bộ Luật Dân sự năm 2005, Điều 753 và Chương XXXVI về CGCN, CGCN không bao hàm hoạt động chuyển giao quyền SHCN. Phải chăng cách hiểu của các nhà làm luật Việt Nam về “công nghệ” có sự khác biệt so với cách hiểu của các quốc gia phát triển và sáng chế không phải là đối tượng CGCN? Pháp luật của Việt Nam không coi khái niệm về CGCN bao hàm khái niệm về chuyển giao quyền SHCN đối với sáng chế nên hai hoạt động này không do một luật chung điều chỉnh. Cụ thể, chuyển giao quyền SHCN đối với sáng chế sẽ do pháp luật về SHCN điều chỉnh còn CGCN do pháp luật về CGCN điều chỉnh. Luận văn: Thực trạng khai thác thương mại đối với sáng chế.

Theo quan điểm của tác giả, sáng chế/giải pháp hữu ích đã được loại trừ khỏi khái niệm “công nghệ”. Các quy định của Việt Nam còn chưa phù hợp, chưa tương đồng với quy định của nhiều nước trên thế giới. Các quy định hiện hành cũng cho thấy bản thân Bộ Luật Dân sự, Luật CGCN đang có sự khác biệt với Luật KHCN trong cách hiểu về đối tượng “công nghệ” nói chung và đối tượng công nghệ được chuyển giao nói riêng.

  • Nhượng quyền thương mại

Nhượng quyền thương mại là một khái niệm rộng và cũng không có định nghĩa chuẩn. Có nhiều cách hiểu khác nhau về nhượng quyền thương mại. Theo từ điển pháp luật Black’s Law Dictionary, nhượng quyền thương mại được định nghĩa là quyền độc quyền do chủ sở hữu một nhãn hiệu hoặc tên thương mại cấp để kinh doanh hàng hóa và dịch vụ trong một khu vực nhất định. Tuy nhiên, theo WIPO, nhượng quyền thương mại có thể áp dụng đối với bất kỳ hoạt động kinh tế nào để theo đó một hệ thống có thể được phát triển cho sản xuất, chế biến và/hoặc phân phối hàng hóa hoặc cung cấp các dịch vụ. Hoạt động nhượng quyền thương mại đã phát triển đáng kể tại các quốc gia công nghiệp tiên tiến từ những năm 1950.

Tại Việt Nam, Điều 284, khoản 1, Luật Thương mại năm 2005 định nghĩa nhượng quyền thương mại là hoạt động thương mại theo đó bên nhượng quyền cho phép và yêu cầu bên nhận quyền tự mình tiến hành việc mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ theo các điều kiện sau đây: Việc mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ được tiến hành theo cách thức tổ chức kinh doanh do bên nhượng quyền quy định và được gắn với nhãn hiệu hàng hóa, bí quyết kinh doanh, biểu tượng kinh doanh, quảng cáo của bên nhượng quyền.

Theo cách phân loại nhượng quyền thương mại dựa vào chức năng, có ba loại nhượng quyền thương mại cơ bản sau: nhượng quyền thương mại gia công chế biến (hoặc nhượng quyền thương mại sản xuất công nghiệp), nhượng quyền thương mại dịch vụ và nhượng quyền thương mại phân phối. Luận văn: Thực trạng khai thác thương mại đối với sáng chế.

Đối với loại nhượng quyền thương mại gia công chế biến/chế tạo hoặc sản xuất công nghiệp, bên nhượng quyền cung cấp thành phần thiết yếu hoặc kiến thức kỹ thuật cho bên được nhượng quyền là người chế biến hoặc người sản xuất. Bên nhượng quyền cho phép bên được nhượng quyền sản xuất và bán các sản phẩm dưới nhãn hiệu của mình. Tuy nhiên, trong một số trường hợp, bên nhượng quyền có thể cấp li-xăng bí quyết công nghiệp hoặc sáng chế và đào tạo cũng như cung cấp thông tin liên quan đến tiếp thị, phân phối, bảo quản sản phẩm cho bên được nhượng quyền. Loại hình nhượng quyền thương mại này thường phổ biến trong công nghiệp nhà hàng và đồ ăn nhanh.

Đối với hình thức nhượng quyền thương mại dịch vụ, bên nhượng quyền phát triển một dịch vụ mà bên được nhượng quyền sẽ cung ứng cho khách hàng của mình theo các điều khoản của hợp đồng, ví dụ dịch vụ sửa chữa ô tô, v.v.

Đối với loại hình nhượng quyền thương mại phân phối, bên nhượng quyền sản xuất và bán sản phẩm cho bên được nhượng quyền rồi bên được nhượng quyền sẽ bán lại sản phẩm này cho khách hàng dưới nhãn hiệu của bên nhượng quyền trong phạm vi lãnh thổ của bên được nhượng quyền, ví dụ như việc phân phối nhiên liệu, mỹ phẩm.

Về cả lý luận và thực tiễn, hoạt động nhượng quyền thương mại, CGCN và chuyển giao quyền SHCN có mối quan hệ chặt chẽ nhưng không đồng nhất. Tại Việt Nam, hoạt động cấp phép đặc quyền kinh doanh (là một dạng hoạt động nhượng quyền thương mại) trước đây, lần đầu tiên đã từng được điều chỉnh bởi Nghị định số 11/2005/NĐ-CP ngày 02/02/2005 quy định chi tiết về CGCN (sửa đổi) nhưng hoạt động này hiện đang do Luật Thương mại năm 2005 điều chỉnh.

Hợp đồng nhượng quyền thương mại có thể bao hàm cả hợp đồng li-xăng nhãn hiệu và hợp đồng CGCN nhưng không phải là phép cộng đơn giản của hai loại hình này. Nếu như mục đích của hợp đồng li-xăng nhãn hiệu hướng tới đối tượng là nhãn hiệu thì trong hợp đồng nhượng quyền thương mại mục tiêu của bên được nhượng quyền là nắm giữ và vận hành một hệ thống kinh doanh, trong đó nhãn hiệu chỉ là một bộ phận. Tương tự, hợp đồng nhượng quyền thương mại quy định về sự hợp tác lâu dài giữa bên chuyển giao và bên nhận chuyển giao bí quyết công nghệ trong khi hợp đồng CGCN thường không ghi nhận điều này. Hơn nữa, nhượng quyền thương mại thường được yêu cầu ở mức độ cao hơn CGCN vì hoạt động này không chỉ bao gồm chuyển giao quy trình sản xuất mà còn chuyển giao cả quy trình sau sản xuất nhằm đưa sản phẩm, dịch vụ đến tay người tiêu dùng kèm với các quy trình quản lý, thậm chí cả tiêu chuẩn cho việc thiết kế, trang trí cửa hàng.

Tóm lại, li-xăng sáng chế có thể có nhưng không phải là yếu tố bắt buộc phải có trong hợp đồng nhượng quyền thương mại, đặc biệt là nhượng quyền thương mại chế biến/sản xuất vì đối tượng thường được chuyển giao trong loại hợp đồng này là bí quyết kỹ thuật. Luận văn: Thực trạng khai thác thương mại đối với sáng chế.

  • Điều kiện hạn chế việc chuyển quyền sử dụng sáng chế

Theo Điều 142 khoản c và e, Luật SHTT, hạn chế việc chuyển quyền sử dụng sáng chế hay li-xăng sáng chế được pháp luật quy định như sau:

  1. c) Bên được chuyển quyền không được ký kết hợp đồng thứ cấp với bên thứ ba, trừ trường hợp được bên chuyển quyền cho phép.
  2. Bên được chuyển quyền sử dụng sáng chế theo hợp đồng độc quyền có nghĩa vụ sử dụng sáng chế như chủ sở hữu sáng chế theo quy định tại khoản 1 Điều 136 về Nghĩa vụ sử dụng sáng chế, nhãn hiệu của Luật SHTT. Như đã dẫn ở Chương 1, theo khoản 1, Điều 136, Luật SHTT, nghĩa vụ sử dụng sáng chế được hiểu là nghĩa vụ sản xuất sản phẩm được bảo hộ hoặc áp dụng quy trình được bảo hộ để đáp ứng nhu cầu quốc phòng, an ninh, phòng bệnh, chữa bệnh, dinh dưỡng cho nhân dân hoặc các nhu cầu cấp thiết khác của xã hội.

Từ quy định nêu trên, có thể thấy rằng bên nhận li-xăng cần phải chú ý xem liệu bên giao li-xăng có cho phép bên nhận li-xăng chuyển giao tiếp sáng chế cho người khác hay không hoặc sáng chế có được li-xăng độc quyền hay không. Hơn nữa, bên nhận li-xăng phải có nghĩa vụ sử dụng sáng chế theo quy định của pháp luật và phục vụ nhu cầu chung của xã hội trong các trường hợp Nhà nước quy định. Điều đó có nghĩa là bên nhận li-xăng ngoài việc thụ hưởng các quyền tài sản được chuyển giao từ bên giao còn phải có trách nhiệm thực hiện các nghĩa vụ mà bên giao cần phải thực hiện theo quy định của pháp luật. Đây là những quy định quan trọng phần nào hạn chế khả năng TMH sáng chế của bên nhận li-xăng. Do vậy, có thể thấy rằng điều kiện hạn chế chủ thể thực hiện khai thác thương mại đối với sáng chế sẽ tùy thuộc vào từng loại hình khai thác thương mại đối với sáng chế. Nói chung, các hạn chế này sẽ được quy định cụ thể trong hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng sáng chế.

  • Hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng sáng chế

Giống như hợp đồng chuyển nhượng quyền sở hữu sáng chế, hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng sáng chế (hợp đồng li-xăng sáng chế) cũng bị các giới hạn về hình thức, nội dung và điều kiện có hiệu lực của hợp đồng.

  • Hình thức hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng sáng chế

Theo khoản 2, Điều 141, Luật SHTT, việc chuyển giao quyền sử dụng sáng chế phải được thực hiện dưới hình thức hợp đồng bằng văn bản. Luận văn: Thực trạng khai thác thương mại đối với sáng chế.

  • Nội dung hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng sáng chế

Theo Điều 144, Luật SHTT hợp đồng li-xăng sáng chế phải có các nội dung chủ yếu sau đây: a) Tên và địa chỉ đầy đủ của bên chuyển quyền và bên được chuyển quyền; b) Căn cứ chuyển giao quyền sử dụng; c) Dạng hợp đồng; d) Phạm vi chuyển giao, gồm giới hạn quyền sử dụng, giới hạn lãnh thổ; đ) Thời hạn hợp đồng; e) Giá chuyển giao quyền sử dụng; g) Quyền và nghĩa vụ của bên chuyển quyền và bên được chuyển quyền.

Sự khác biệt giữa hai loại hợp đồng chuyển nhượng quyền sở hữu và li-xăng sáng chế nằm ở chỗ yêu cầu bắt buộc phải có trong nội dung hợp đồng li-xăng sáng chế phức tạp hơn nội dung hợp đồng chuyển nhượng quyền sở hữu sáng chế do li-xăng chỉ là sự cho phép sử dụng, khai thác theo những điều kiện nhất định chứ không phải đơn giản là sự bán đứt sáng chế như việc chuyển nhượng quyền sở hữu. Theo quy định của Điều 144, Luật SHTT, ngoài các quy định chung về nội dung của hợp đồng cần phải có như tên và địa chỉ đầy đủ của các bên, căn cứ chuyển giao, giá chuyển giao, quyền và nghĩa vụ của các bên, nội dung hợp đồng li-xăng sáng chế cần phải cụ thể hơn ở một số điểm sau: Thứ nhất, dạng hợp đồng li-xăng cần phải cụ thể là hợp đồng li-xăng độc quyền, hợp đồng li-xăng không độc quyền hay hợp đồng li-xăng thứ cấp.Thứ hai, phạm vi chuyển giao cần phải chỉ rõ bao gồm giới hạn quyền sử dụng và giới hạn lãnh thổ bên nhận được quyền sử dụng, khai thác sáng chế.Thứ ba, thời hạn hợp đồng phải được ghi rõ và phải phù hợp thời hạn còn hiệu lực bảo hộ của sáng chế.

Ngoài ra, theo khoản 2, Điều 144, Luật SHTT, một trong những quy định pháp lý bắt buộc liên quan đến nội dung của hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng sáng chế là không được có các điều khoản hạn chế bất hợp lý quyền của bên nhận, đặc biệt là các điều khoản không xuất phát từ quyền của bên giao sau đây:

  1. Cấm bên được chuyển quyền cải tiến đối tượng SHCN, trừ nhãn hiệu; buộc bên được chuyển quyền phải chuyển giao miễn phí cho bên chuyển quyền các cải tiến đối tượng SHCN do bên được chuyển quyền tạo ra hoặc quyền đăng ký SHCN, quyền SHCN đối với các cải tiến đó;
  2. Trực tiếp hoặc gián tiếp hạn chế bên được chuyển quyền xuất khẩu hàng hoá, dịch vụ được sản xuất hoặc cung cấp theo hợp đồng sử dụng đối tượng SHCN sang các vùng lãnh thổ không phải là nơi mà bên chuyển quyền nắm giữ quyền SHCN tương ứng hoặc có độc quyền nhập khẩu hàng hoá đó; Luận văn: Thực trạng khai thác thương mại đối với sáng chế.
  3. Buộc bên được chuyển quyền phải mua toàn bộ hoặc một tỷ lệ nhất định các nguyên liệu, linh kiện hoặc thiết bị của bên chuyển quyền hoặc của bên thứ ba do bên chuyển quyền chỉ định mà không nhằm mục đích bảo đảm chất lượng hàng hoá, dịch vụ do bên được chuyển quyền sản xuất hoặc cung cấp;
  4. Cấm bên được chuyển quyền khiếu kiện về hiệu lực của quyền SHCN hoặc quyền chuyển giao của bên chuyển quyền.

Khoản 3, Điều 144 ghi chú rằng các điều khoản trong hợp đồng thuộc các trường hợp quy định là điều khoản hạn chế bất hợp lý nêu trên mặc nhiên bị vô hiệu. Quy định này của Việt Nam là phù hợp với pháp luật quốc tế và quy định pháp lý của nhiều quốc gia. Ví dụ, có thể thấy rằng quy định hiện hành của Việt Nam phù hợp với quy định của Hiệp định TRIPS. Như đã nêu ở Chương 2, Điều 40, Hiệp định TRIPS quy định rằng một quốc gia thành viên có thể áp dụng các biện pháp thích hợp, phù hợp với các điều khoản khác của Hiệp định, để ngăn ngừa hoặc kiểm soát sự lạm dụng quyền SHTT, gây ảnh hưởng xấu cho hoạt động cạnh tranh trên thị trường tương ứng. Pháp luật của một số nước cũng quy định rằng hợp đồng li-xăng sáng chế không được đưa vào một số điều khoản được coi là hạn chế bất hợp pháp quyền của bên nhận hoặc không nhằm bảo vệ các quyền đó và các điều khoản hạn chế cạnh tranh.

Có thể thấy rằng hợp đồng là một công cụ hữu hiệu nhất cho việc chủ sở hữu thực hiện khai thác thương mại đối với sáng chế. Sẽ có một số loại hợp đồng khác nhau áp dụng cho các hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế khác nhau. Tuy nhiên, pháp luật Việt Nam có quy định cấm bên chuyển giao ép bên nhận thực hiện một số điều khoản hạn chế bất hợp lý ví dụ như quyền cải tiến sáng chế, quyền xuất nhập hàng hóa áp dụng sáng chế sang lãnh thổ không thuộc phạm vi độc quyền của bên chuyển giao, ép bên nhận phải nhập nguyên vật liệu từ nơi bên giao chỉ định, v.v.

Đây là các quy định hạn chế mang tính hành chính vì Việt Nam thường là bên nhận sáng chế. Chủ sở hữu sáng chế khi khai thác thương mại đối với sáng chế cần lưu ý các quy định pháp lý mang tính hạn chế này mặc dù ở nhiều quốc gia trên thế giới có các quy định pháp lý về việc tự do hợp đồng. Do vậy, theo quan điểm của tác giả, trong tương lai, khi các doanh nghiệp Việt Nam là bên chuyển giao sáng chế, các quy định pháp lý sẽ cần phải mềm dẻo hơn để đảm bảo lợi ích cho chủ sở hữu sáng chế.

  • Đăng ký hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng sáng chế

Khác với hợp đồng chuyển nhượng quyền sở hữu sáng chế, theo điểm a, khoản 3, Điều 6 của Luật SHTT, hợp đồng li-xăng sáng chế có hiệu lực theo thỏa thuận giữa các bên, nhưng chỉ có giá trị pháp lý đối với bên thứ ba khi đã được đăng ký tại cơ quan quản lý nhà nước về quyền SHCN là Cục SHTT. Tất nhiên, hợp đồng li-xăng sáng chế mặc nhiên bị chấm dứt hiệu lực nếu quyền SHCN đối với sáng chế của bên giao bị chấm dứt. Luận văn: Thực trạng khai thác thương mại đối với sáng chế.

Đây là những quy định pháp lý có phần tiến bộ hơn so với quy định cũ trước đây nhưng các quy định này vẫn còn nảy sinh một số bất cập.

Thứ nhất, Luật SHTT yêu cầu hợp đồng li-xăng sáng chế phải được đăng ký mới có hiệu lực với bên thứ ba có phần trái với nguyên tắc của luật dân sự khi phân biệt hiệu lực của hợp đồng li-xăng sáng chế với các chủ thể khác nhau là khác nhau. Về nguyên tắc, hiệu lực của hợp đồng li-xăng phải thống nhất với tất cả các bên và Nhà nước cũng phải tôn trọng một khi hợp đồng có hiệu lực chứ không thể cùng một hợp đồng lại có hiệu lực đối với các bên khi giao kết nhưng lại chỉ có hiệu lực với bên thứ ba khi đã đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Thứ hai, nếu coi CGCN là một hình thức khai thác thương mại chủ yếu đối với sáng chế như thực tiễn thế giới đã làm thì đang có sự phân biệt lớn giữa hợp đồng li-xăng sáng chế và hợp đồng CGCN trên một số phương diện như sau: Trước tiên, quy định pháp luật của Việt Nam về hình thức hợp đồng CGCN có sự mềm dẻo hơn và pháp luật áp dụng điều chỉnh hợp đồng CGCN rộng hơn. Theo Điều 14, Luật CGCN, việc giao kết hợp đồng CGCN phải được thực hiện thông qua hợp đồng bằng văn bản hoặc hình thức khác có giá trị tương đương văn bản, bao gồm điện báo, telex, fax, thông điệp dữ liệu và các hình thức khác theo quy định của pháp luật. Hợp đồng CGCN được giao kết và thực hiện theo quy định của Luật CGCN, Bộ luật dân sự, Luật thương mại và các quy định khác của pháp luật có liên quan.

Hợp đồng CGCN không những được điều chỉnh bởi pháp luật riêng biệt về CGCN mà còn được điều chỉnh bởi Bộ Luật Dân sự và Luật Thương mại trong khi đó hoạt động chuyển giao quyền SHCN đối với sáng chế mang bản chất thương mại thì chưa được Luật Thương mại điều chỉnh. Đây là một sự bất cập trong quy định pháp luật của Việt Nam về SHCN và pháp luật thương mại. Luận văn: Thực trạng khai thác thương mại đối với sáng chế.

Tiếp theo, có sự đối xử không công bằng và không đồng nhất giữa các quy định pháp lý điều chỉnh hai loại hợp đồng này.Cụ thể, việc đăng ký hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng sáng chế là bắt buộc để hợp đồng đó có hiệu lực với bên thứ ba còn việc đăng ký hợp đồng CGCN là bắt buộc để bên chuyển giao có thể được hưởng các ưu đãi theo quy định của pháp luật về CGCN. Cụ thể, để được hưởng các ưu đãi về thuế, về sử dụng đất đai, về chuyển ngoại tệ ra nước ngoài, v.v.

Thứ ba, yêu cầu phải đăng ký hợp đồng li-xăng sáng chế dẫn đến việc các bên tham gia hợp đồng phải chi phí tốn kém, mất nhiều thời gian hơn, thậm chí bị rò rỉ bí quyết kỹ thuật khi phải thực hiện thủ tục này.

Điều đáng nói ở đây là quy định pháp lý về SHCN và CGCN hiện hành đã và đang tạo ra thủ tục hành chính rườm rà, phức tạp, làm nản lòng các bên giao kết hợp đồng, nhất là bên li-xăng sáng chế thường là bên nước ngoài khi phải thực hiện việc tách hai loại hợp đồng (hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng sáng chế với hợp đồng CGCN) để đăng ký. Một mặt, hai hợp đồng này được đăng ký độc lập tại các cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác nhau. Đối với hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng sáng chế, việc đăng ký loại hợp đồng này cần được thực hiện tại Cục SHTT. Đối với hợp đồng CGCN, tùy thuộc giá trị hợp đồng mà việc đăng ký có thể thực hiện tại các Sở KHCN hoặc tại Bộ KHCN.

Mặt khác, việc đăng ký hợp đồng CGCN, có kèm theo chuyển giao sáng chế, đơn giản hay phức tạp còn phụ thuộc vào việc sáng chế được chuyển giao thuộc loại công nghệ nào. Theo Luật CGCN tại Điều 9, Điều 10 và Điều 11, công nghệ được chuyển giao được phân làm ba (3) loại: công nghệ khuyến khích chuyển giao, công nghệ hạn chế chuyển giao và công nghệ cấm chuyển giao. Trong trường hợp sáng chế được chuyển giao là công nghệ nằm trong danh mục công nghệ khuyến khích chuyển giao thì việc đăng ký hợp đồng CGCN có thể được thực hiện một cách dễ dàng hơn và các bên giao kết có thể nhận được một số ưu đãi quy định tại Nghị định 133/2008/NĐ- CP. Tuy nhiên, danh mục công nghệ khuyến khích chuyển giao luôn là một con số hữu hạn và hiện chỉ dừng lại ở con số là 50. Trong thời đại hiện nay, khi cuộc cách mạng về KHCN phát triển như vũ bão, công nghệ luôn biến đổi nhanh nên có thể tồn tại hàng trăm ngàn công nghệ tiên tiến cùng lúc vậy mà Danh mục công nghệ khuyến khích chuyển giao này thay vì được thường xuyên cập nhật lại cho phù hợp với sự phát triển của xã hội lại được giới hạn với một lượng nhỏ công nghệ nhất định suốt từ khi ban hành (năm 2008) cho đến nay.

Trong trường hợp sáng chế được chuyển giao thuộc Danh mục công nghệ hạn chế chuyển giao, các quy định pháp luật hiện hành về trình tự, thủ tục hành chính liên quan đến việc thẩm định và cấp phép CGCN có thể làm cho bên chuyển giao sáng chế (thường là bên nước ngoài) ngần ngại chuyển giao không chỉ vì sợ tốn nhiều thời gian, mất nhiều chi phí mà đặc biệt là vì sợ bị rò rỉ thông tin bí mật. Cụ thể, việc chuyển giao sáng chế là công nghệ thuộc Danh mục hạn chế chuyển giao cần phải được Bộ KHCN thẩm định, cấp phép. Thủ tục xin cấp Giấy phép CGCN đối với công nghệ thuộc Danh mục công nghệ hạn chế chuyển giao còn phức tạp hơn rất nhiều so với thủ tục đăng ký. Luận văn: Thực trạng khai thác thương mại đối với sáng chế.

Điều đáng nói là, trước khi ký hợp đồng, để có thể được chấp thuận cho chuyển giao, các bên phải nộp cho Bộ KHCN tài liệu giải trình về công nghệ, miêu tả chi tiết hơn về công nghệ sẽ chuyển giao (theo quy định tại khoản 1, Điều 24, Luật CGCN và khoản 1, Điều 12, Nghị định số 133/2008/NĐ-CP). Đương nhiên, trong mọi trường hợp, các cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền có thể bảo lưu quyền từ chối việc chấp thuận cho chuyển giao bất kỳ sáng chế nào là công nghệ thuộc danh mục hạn chế cũng như việc đăng ký hợp đồng. Rõ ràng rằng, trong trường hợp không được cơ quan có thẩm quyền chấp thuận thì công nghệ của bên chuyển giao thường là bên nước ngoài sẽ bị rò rỉ và việc đăng ký hợp đồng chuyển giao quyền SHCN đối với sáng chế là công nghệ đó cũng trở nên vô ích.

3.2.3 Thực tiễn áp dụng quy định hiện hành về khai thác thương mại dưới hình thức chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế

Hiện nay, không có số liệu thống kê chính xác về số lượng sáng chế được chuyển nhượng quyền sở hữu cũng như số lượng sáng chế được chuyển giao quyền sử dụng tại Việt Nam.Về cơ bản, các trường đại học, viện nghiên cứu là nơi tập trung các hoạt động NCKH, tạo ra sáng chế và phát triển công nghệ. Hoạt động CGCN tại các trường đại học, viện nghiên cứu thời gian qua đã có những kết quả rất đáng ghi nhận, thúc đẩy phát triển KT-XH trong bối cảnh hội nhập kinh tế khu vực và toàn cầu.

Có thể lấy một số ví dụ cụ thể. Trường Đại học Bách khoa Hà Nội được xem là trường đi đầu trong việc TMH kết quả nghiên cứu, sáng chế. Trường đã ký kết nhiều hợp đồng CGCN với nhiều tập đoàn, công ty lớn trong nước cũng như thế giới như Tập đoàn SUN MicroSystems, Công ty cổ phần bóng đèn phích nước Rạng Đông. Trường Đại học Bách khoa thành phố Hồ Chí Minh cũng là một trong số ít các trường thành công trong việc TMH các TSTT với nhiều sáng chế được các đơn vị sử dụng đánh giá cao như thiết bị xay xát lúa gạo, thiết bị xử lý rác thải, hệ thống lọc nước biển cho hải đảo, thiết bị tự động hóa khai thác dầu khí, v.v. Ví dụ, giá trị các hợp đồng CGCN mà Trường đã ký riêng năm 2012 là trên 90 tỷ đồng. Bên cạnh các trường đại học, nhiều viện nghiên cứu cũng đã thành công trong việc CGCN. Theo ước tính của Viện Máy và Dụng cụ công nghiệp, các sản phẩm cơ khí mới của Viện đã tiết kiệm được mỗi năm hơn 10 triệu USD do thay thế hàng nhập khẩu. Từ năm 2005, một số sản phẩm công nghệ cao còn được xuất khẩu ra nước ngoài. Luận văn: Thực trạng khai thác thương mại đối với sáng chế.

Tuy nhiên, theo kết quả tìm hiểu nhu cầu chuyển giao quyền SHCN đối với sáng chế và áp dụng sáng chế để hỗ trợ trong khuôn khổ Chương trình Hỗ trợ Phát triển Tài sản Trí tuệ (Chương trình 68) thì hoạt động khai thác thương mại các sáng chế đang được bảo hộ tại Việt Nam hiện rất hạn chế. Chương trình 68 đã chủ động tìm kiếm, xác định các sáng chế có khả năng chuyển giao và tìm hiểu nhu cầu áp dụng các sáng chế đó của doanh nghiệp để hỗ trợ kinh phí nhưng số lượng sáng chế có thể chuyển giao quyền SHCN còn ít. Hơn nữa, vẫn chưa hình thành một thị trường chuyển giao sáng chế hoạt động hiệu quả. Bên cạnh đó, các tổ chức hỗ trợ hướng dẫn chuyển giao sáng chế, kết quả nghiên cứu còn ít. Theo số liệu thống kê của Cục SHTT, số lượng đơn đăng ký sáng chế tại Việt Nam có xu hướng gia tăng, nhưng việc mua bán, chuyển nhượng quyền sở hữu, chuyển giao quyền sử dụng sáng chế chưa thực sự phát triển tại Việt Nam. Theo thống kê từ năm 2003 đến năm 2014, chỉ tính số lượng các hợp đồng chuyển nhượng quyền sở hữu và hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng sáng chế/giải pháp hữu ích được đăng ký thực hiện tại Cục SHTT, chưa tính đến kết quả khai thác, ứng dụng sáng chế, được thể hiện tại Bảng 2 như sau:

Bảng 2: Số lượng hợp đồng chuyển nhượng quyền sở hữu và li-xăng sáng chế đăng ký tại Cục SHTT giai đoạn 2003-2014

Như vậy, tổng số hợp đồng chuyển giao quyền SHCN đối với sáng chế thành công mỗi năm trung bình chỉ khoảng 20 – 30 hợp đồng là quá nhỏ so với tiềm năng.

Liên quan đến việc khai thác thương mại đối với sáng chế qua kênh CGCN từ nước ngoài vào, Luật ĐTNN năm 1987 đi kèm với Pháp lệnh về CGCN năm 1988 được ban hành không chỉ nhằm thu hút nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài mà thông qua đó, Chính phủ còn muốn tạo cơ hội để các nhà đầu tư chuyển giao vào Việt Nam những kỹ thuật và công nghệ tiên tiến của thế giới. Tuy nhiên, hoạt động CGCN này lại phát triển không như mong muốn. Theo số liệu thống kê, từ 1999 đến 30/6/2012, tổng số có 189 hợp đồng CGCN được phê duyệt và 641 hợp đồng CGCN được đăng ký. Số lượng hợp đồng CGCN có kèm chuyển giao quyền SHCN đối với sáng chế không đáng kể. Theo kết quả thống kê của Bộ KHCN, công nghệ được chuyển giao chủ yếu là bí quyết kỹ thuật chứa đựng trong các trang thiết bị, máy móc, đối tượng chuyển giao là sáng chế rất ít.

Ngoài ra, phần lớn các hợp đồng CGCN này được thực hiện giữa công ty mẹ nước ngoài và công ty con Việt Nam hoàn toàn với mục đích chỉ nhằm chuyển lợi nhuận về công ty mẹ của nước ngoài. Theo thống kê, số hợp đồng CGCN được đăng ký, phê duyệt thuộc các doanh nghiệp có vốn ĐTNN chiếm tỷ lệ lớn, khoảng 90%. Hơn nữa, công nghệ được chuyển giao chỉ là các công nghệ đơn giản như pha chế xà phòng, lắp ráp tivi, xe hơi hay xe máy trong khi các bán thành phẩm và phụ tùng phần lớn đều ngoại nhập. Có thể thấy rằng, những số liệu thống kê nói trên đã phần nào cho thấy hậu quả của những bất cập trong các quy định pháp lý hiện hành có liên quan. Luận văn: Thực trạng khai thác thương mại đối với sáng chế.

3.3 Thực trạng pháp luật về khai thác thương mại dưới hình thức thế chấp, góp vốn để kinh doanh bằng quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế

3.3.1 Quy định hiện hành về khai thác thương mại dưới hình thức thế chấp, góp vốn để kinh doanh bằng quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế

Trong suốt gần một thập kỷ qua, từ khi có luật SHTT năm 2006 đến nay, pháp luật về SHTT, CGCN, doanh nghiệp và đầu tư vẫn tiếp tục được hoàn thiện và phát triển. Pháp luật về GDBĐ của Việt Nam cũng tương đối hoàn thiện và đang trên đà phát triển nhằm đáp ứng các tiêu chuẩn của WTO. Cụ thể, ngay khi gia nhập WTO, các quy định pháp lý về GDBĐ đã dần được hoàn thiện và cụ thể hóa, ví dụ như sự ra đời của Nghị định số 163/2006/NĐ-CP về GDBĐ, Nghị định số 83/2010/NĐ-CP về đăng ký GDBĐ, Nghị định số 11/2012/NĐ-CP và một số văn bản pháp lý có liên quan. Mặc dù pháp luật về SHTT, CGCN, doanh nghiệp và đầu tư đã có quy định khuyến khích chủ sở hữu sáng chế/công nghệ thế chấp, góp vốn để kinh doanh bằng chính TSTT của mình. Tuy nhiên, các quy định pháp lý cụ thể tại các văn bản pháp quy về SHTT, CGCN, doanh nghiệp, đầu tư và GDBĐ nhằm khuyến khích việc thế chấp, góp vốn để kinh doanh bằng quyền SHCN của các chủ sở hữu sáng chế vẫn còn bỏ ngỏ.

Về phương diện pháp lý, các quy định pháp luật về thế chấp, góp vốn bao gồm những nội dung chính như sau: loại tài sản thế chấp, góp vốn; thủ tục thế chấp, góp vốn và cơ chế, phương pháp định giá tài sản thế chấp, góp vốn. Hiện đã có các quy định pháp lý cụ thể về loại tài sản có thể được sử dụng để thế chấp, góp vốn. trong đó bao gồm cả sáng chế. Tuy nhiên, còn thiếu các quy định cụ thể về thủ tục thế chấp, góp vốn bằng quyền SHCN đối với sáng chế cũng như cơ chế, phương pháp định giá sáng chế nên các bên đối tác trong kinh doanh khó có thể xác định mức độ giá trị bằng tiền quy đổi từ quyền SHCN đối với sáng chế. Hơn nữa, còn thiếu các quy định pháp lý cụ thể nhằm khuyến khích các ngân hàng tài trợ cho các chủ sở hữu sáng chế có vốn để kinh doanh. Luận văn: Thực trạng khai thác thương mại đối với sáng chế.

Nhu cầu thế chấp, góp vốn để kinh doanh bằng quyền SHCN đối với sáng chế ngày càng trở nên cấp thiết đối với Việt Nam nhất là trong giai đoạn phát triển nền kinh tế tri thức như hiện nay. Vấn đề càng trở nên bức xúc khi các nhà nghiên cứu hoặc các sinh viên kỹ thuật mới ra trường trong tay chỉ có sáng chế nhưng không thể có vốn kinh doanh từ các người thân trong gia đình, bạn bè mà muốn phát triển kinh doanh hoặc góp vốn vào doanh nghiệp bằng chính giá trị TSTT là sáng chế của mình thì ai sẽ là người hỗ trợ họ? Đây có thể được coi là một kênh, một hình thức quan trọng để chủ sở hữu sáng chế có thể phần nào tự mình thực hiện việc khai thác thương mại đối với sáng chế. Do vậy, việc nghiên cứu các quy định pháp lý có liên quan của một số quốc gia để hoàn thiện và cụ thể hóa các quy định pháp lý về hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế này là rất cần thiết nhất là trong giai đoạn hiện nay.

  • Các quy định pháp lý về tài sản để thế chấp, góp vốn là quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế

Trên thực tế, tại các quốc gia phát triển, chủ sở hữu sáng chế có thể sử dụng một số biện pháp để có được vốn kinh doanh. Cụ thể, tại Hoa Kỳ, những sinh viên, nhà nghiên cứu có các sáng chế hoặc có các hợp đồng chuyển giao quyền SHCN đối với sáng chế và các hợp đồng dịch vụ họ có thể thực hiện được nhờ các công nghệ, sáng chế được chuyển giao này muốn phát triển kinh doanh thường sử dụng hai kênh sau để có được vốn kinh doanh:

Hình thức thứ nhất là những sinh viên, nhà nghiên cứu này có thể đi kêu gọi những người quan tâm đến sáng chế mà họ đang sở hữu đầu tư tài chính vào đó để sản xuất, phân phối và bán sản phẩm nhằm kinh doanh sinh lời. Tuy nhiên, theo kênh gọi vốn này, những nhà đầu tư tài chính sẽ được nắm cổ phần trong công ty do các sinh viên, nhà nghiên cứu là chủ sở hữu sáng chế này lập ra để kinh doanh. Có một điểm bất lợi là nếu nhà đầu tư tài chính chiếm trên 51% vốn đầu tư của chủ sở hữu công ty thì sẽ có khả năng khống chế công ty.

Do hạn chế về vốn góp của chủ sở hữu sáng chế nên họ cần một kênh khác để có thể phát triển hoạt động kinh doanh, sáng tạo của riêng mình mà không bị can thiệp bởi nhà đầu tư, người tài trợ vốn. Đó là việc xin tài trợ vốn, cấp tín dụng từ ngân hàng hoặc các tổ chức tín dụng khác bằng các GDBĐ thông qua việc thế chấp bằng quyền SHCN đối với sáng chế. Đây là hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế mà các sinh viên, các doanh nghiệp trẻ mới khởi nghiệp như Mark Zurkerberg của Face Book đã làm nhằm phát triển hoạt động sáng tạo, kinh doanh của mình.

  • Tài sản thế chấp là quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế

Giao dịch có bảo đảm là bất kỳ giao dịch nào mà trong đó người thụ trái trao cho trái chủ một quyền lợi bảo đảm đối với động sản hoặc bất động sản. Về bản chất, GDBĐ nhằm bảo đảm quyền lợi cho chủ nợ bằng cách cho phép chủ nợ sử dụng động sản như vật thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụ của con nợ hoặc là phương tiện để có được việc thực hiện nghĩa vụ của con nợ. Theo pháp luật Hoa Kỳ, nhiều GDBĐ không phải chuyển giao quyền chiếm hữu.

Việt Nam đã học tập các quốc gia khác và có các quy định về GDBĐ bằng biện pháp dân sự. Theo khoản 1, Điều 323, Bộ Luật dân sự năm 2005, GDBĐ là giao dịch dân sự do các bên thỏa thuận hoặc pháp luật quy định về việc thực hiện biện pháp bảo đảm được quy định tại khoản 1, Điều 318 của Bộ Luật này. Cụ thể, khoản 1, Điều 318, Bộ Luật dân sự năm 2005 quy định các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự bao gồm: cầm cố, thế chấp, đặt cọc, ký cược, ký quỹ, bảo lãnh, tín chấp.

Pháp luật của Việt Nam đã sớm có quy định về việc thế chấp tài sản. Theo Điều 342, Bộ Luật Dân sự năm 2005 thì “thế chấp tài sản” là việc bên thế chấp dùng tài sản do mình sở hữu để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự đối với bên nhận thế chấp và không chuyển giao tài sản đó cho bên nhận thế chấp. Luận văn: Thực trạng khai thác thương mại đối với sáng chế.

Tài sản thế chấp có thể là tài sản được hình thành trong tương lai. Cũng tại Bộ Luật Dân sự năm 2005, Điều 163 quy định: “tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản” trong khi đó “quyền tài sản” theo Điều 181 được quy định là quyền trị giá được bằng tiền và có thể chuyển giao trong giao dịch dân sự, kể cả quyền SHTT.

Thống nhất với cách tiếp cận trên, khoản 1, Điều 322, Bộ Luật Dân sự năm 2005 cũng quy định quyền tài sản thuộc sở hữu của bên bảo đảm, phát sinh từ quyền SHCN trong đó có sáng chế là quyền tài sản dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự ví dụ như bằng biện pháp thế chấp. Điều 32, Nghị định 103/2006/NĐ-CP, quy định rằng các TSTT có thể đưa vào hạch toán trong tổng tài sản của doanh nghiệp và do đó có thể đưa vào GDBĐ.

Một số văn bản pháp quy về GDBĐ như Nghị định số 163/2006/NĐ-CP về GDBĐ, Nghị định 83/2010/NĐ-CP về đăng ký GDBĐ, Nghị định số 11/2012/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung Nghị định số 163/2006/NĐ-CP, Thông tư 05/2011/TT-BTP của Bộ Tư pháp đã cụ thể hóa các quy định có liên quan trong Bộ Luật Dân sự, đưa ra các quy định về tài sản bảo đảm và việc thế chấp tài sản bảo đảm này.

Khoản 2, Điều 1, Nghị định 11/2012/NĐ-CP có quy định “Tài sản bảo đảm là tài sản hiện có hoặc tài sản hình thành trong tương lai mà pháp luật không cấm giao dịch.” Cụ thể hơn, khoản 6, Điều 3, Thông tư 05/2011/TT-BTP quy định các tài sản thuộc trường hợp đăng ký GDBĐ bao gồm “Quyền tài sản phát sinh từ quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp, quyền đối với giống cây trồng; quyền đòi nợ, các quyền tài sản khác thuộc sở hữu của bên bảo đảm phát sinh từ hợp đồng hoặc từ các căn cứ pháp lý khác (trừ quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở)”.

Với các nội dung quy định ở trên, có thể thấy rằng tài sản bảo đảm có thể là tài sản hiện có, tài sản hình thành trong tương lai bao gồm cả các đối tượng quyền SHCN. Do vậy, sáng chế là một loại tài sản bảo đảm và được phép sử dụng để GDBĐ thông qua hình thức thế chấp tài sản là quyền SHCN đối với sáng chế.

  • Tài sản góp vốn là quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế

Trong các kênh huy động vốn của doanh nghiệp, góp vốn là kênh cơ bản tạo ra tài sản cho doanh nghiệp. Về mặt pháp lý, góp vốn là việc nhà đầu tư đưa tài sản vào doanh nghiệp để trở thành chủ sở hữu hoặc các chủ sở hữu chung của doanh nghiệp. Quyền SHTT bao gồm sáng chế cũng là một loại tài sản. Do vậy, quyền SHCN đối với sáng chế hoàn toàn có thể sử dụng để chủ sở hữu sáng chế góp vốn vào việc kinh doanh, ví dụ như góp vốn vào việc thành lập công ty với tư cách thành viên công ty.

SHTT bao gồm sáng chế là một bộ phận quan trọng của tri thức trong khi góp vốn bằng tri thức đã trở thành một vấn đề trọng yếu của nền kinh tế công nghiệp và kinh tế hậu công nghiệp hay kinh tế tri thức. Có hai loại tri thức: tri thức hiện và tri thức ẩn trong đó tri thức hiện có thể sao chép được còn tri thức ẩn không thể sao chép khi nằm trong đầu các cá nhân. Tri thức ẩn khó có thể mua bán do khó có thể điển chế hóa được. Sáng chế là tri thức đã được điển chế hóa một phần thông qua bản mô tả. Tuy nhiên, chủ sở hữu sáng chế thường giữ một phần tri thức ẩn dưới dạng bí quyết, chính phần bí quyết này góp phần rất quan trọng để sáng chế có thể đạt mức tối ưu. Vì vậy, góp vốn bằng tri thức hoặc góp vốn bằng TSTT khác với cách thức góp vốn bằng tài sản thông thường. Luận văn: Thực trạng khai thác thương mại đối với sáng chế.

Bản chất của hành vi góp vốn nói chung là sự dịch chuyển quyền sở hữu tài sản từ người góp vốn sang doanh nghiệp, nhằm nắm quyền sở hữu doanh nghiệp và thu lợi nhuận. Người góp vốn không nhận được bất kỳ khoản tiền nào phát sinh trực tiếp từ việc chuyển giao quyền sở hữu tài sản góp vốn nhưng đổi lại người góp vốn lại có quyền lợi tương ứng với giá trị tài sản góp vốn từ doanh nghiệp. Người góp vốn bằng tri thức và chủ sở hữu sáng chế phải bảo đảm rằng anh ta phải mang tri thức của mình ra phục vụ một cách mẫn cán, trung thực cho lợi ích của trái chủ là công ty do chính người đó cam kết lập ra. Tuy nhiên, việc góp vốn bằng tri thức là sáng chế sẽ mang lại khó khăn trên nhiều phương diện, đặc biệt là định giá được phần vốn góp để chia sẻ lợi nhuận và quyền lợi.

Hiện nay, việc các thành viên công ty sử dụng vốn góp là quyền SHTT đang là trào lưu mới tại Việt Nam. Về khía cạnh pháp lý, việc góp vốn để kinh doanh bằng quyền SHCN đối với sáng chế đã được ghi nhận và quy định trong một số văn bản pháp lý của Việt Nam, chủ yếu trong pháp luật về doanh nghiệp, pháp luật về đầu tư và pháp luật về CGCN. Hoạt động góp vốn liên doanh bằng quyền SHCN ở Việt Nam hiện nay được điều chỉnh chủ yếu bởi Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư và Luật CGCN.

Theo khoản 1, Điều 35, Luật Doanh nghiệp năm 2014, “Tài sản góp vốn có thể là Đồng Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng, giá trị quyền sử dụng đất, giá trị quyền sở hữu trí tuệ, công nghệ, bí quyết kỹ thuật, các tài sản khác có thể định giá được bằng Đồng Việt Nam.” Theo khoản 18, Điều 3, Luật Đầu tư năm 2014, “Vốn đầu là tiền và tài sản khác để thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh” mà tài sản được hiểu bao gồm cả quyền SHTT theo Điều 163 và Điều 181, Bộ Luật Dân sự năm 2005. Như vậy, pháp luật hiện hành đã thừa nhận sáng chế là một loại tài sản có khả năng đưa vào góp vốn kinh doanh.

Thống nhất với nguyên tắc ở trên, theo Điều 43, Luật CGCN, tổ chức, cá nhân có quyền CGCN theo quy định tại Điều 8, Luật CGCN được quyền góp vốn bằng công nghệ vào dự án đầu tư. Giá trị vốn góp là giá công nghệ được thoả thuận trong hợp đồng CGCN. Tại khoản 1, Điều 44, Luật CGCN có quy định việc miễn thuế thu nhập cho tổ chức, cá nhân góp vốn bằng Bằng sáng chế, công nghệ.

Việc góp vốn bằng quyền SHTT cũng được ghi nhận tại một số hiệp định Việt Nam đã ký kết hoặc tham gia. Ví dụ, theo điểm 1, Điều 1, Chương IV, Hiệp định Thương mại Song phương Việt Nam-Hoa Kỳ năm 2000, đầu tư bao gồm nhiều hình thức, trong đó có hình thức đầu tư bằng quyền SHTT. Luận văn: Thực trạng khai thác thương mại đối với sáng chế.

  • Các quy định pháp lý về thủ tục thế chấp, góp vốn bằng quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế
  • Thủ tục thế chấp tài sản là quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế

Quy định pháp lý hiện hành về SHTT và GDBĐ của chúng ta chưa cụ thể hóa thủ tục thế chấp tài sản là VBBH độc quyền sáng chế. Khi sáng chế được đem đi thế chấp để vay vốn ở ngân hàng hoặc các tổ chức tín dụng, cần phải có quy định rõ ràng rằng chủ sở hữu sáng chế sẽ thế chấp bằng sáng chế để rút ra một khoản tiền vay tương ứng đồng thời quyền sở hữu tài sản được thế chấp là sáng chế sẽ được tự động dịch chuyển sang chủ thể khác là ngân hàng hoặc tổ chức tín dụng để chủ thể này có thể đem sáng chế đi phát mại nếu chủ sở hữu sáng chế không thể thanh toán nợ đến hạn.

Ngoài ra, cũng cần có quy định pháp lý để đảm bảo quyền của bên nhận thế chấp. Chúng ta cần có quy định cụ thể rằng chủ sở hữu sáng chế đã thế chấp tài sản là quyền SHCN đối với sáng chế thì không thể chuyển nhượng quyền SHCN đối với sáng chế cho một bên thứ ba bất kỳ nào khác vì sáng chế không phải là tài sản hữu hình mà là thông tin, tri thức được ghi nhận trong bản mô tả sáng chế. Hợp đồng chuyển nhượng quyền sở hữu của bất kỳ sáng chế nào được thế chấp từ chủ sở hữu cho bên thứ ba sẽ trở nên vô hiệu. Do vậy, việc thiết lập một hệ thống đăng ký tài sản thế chấp là quyền SHCN đối với sáng chế là rất cần thiết.

Kinh nghiệm cho thấy hiện nay Hoa Kỳ, Pháp và các quốc gia công nghiệp phát triển khác đã thiết lập được một hệ thống GDBĐ khá hoàn thiện. Tại các quốc gia này, ngân hàng nhận thế chấp không chỉ nhận thế chấp vài TSTT riêng lẻ của doanh nghiệp mà còn nhận thế chấp toàn bộ tài sản của doanh nghiệp.

Theo quy định tại Điều L613-21, Luật SHTT hiện hành của Pháp, thủ tục thế chấp quyền SHCN đối với sáng chế được thực hiện bởi các bên: chủ sở hữu sáng chế, Viện quốc gia về SHCN và chủ thể nhận thế chấp, người cầm giữ quyền SHCN đối với sáng chế. Việc cầm giữ quyền SHCN đối với sáng chế không làm hạn chế quyền của bên cầm giữ trong việc thay đổi các quyền đi kèm với sáng chế. Đến thời hạn thế chấp đã thỏa thuận, bên nhận thế chấp có quyền đưa vụ việc ra tòa án để thực hiện các thủ tục phát mại sáng chế. Có thể thấy rằng, việc thế chấp quyền SHCN đối với sáng chế được đăng ký, ghi nhận tại Viện quốc gia về SHCN của Pháp (cơ quan có chức năng như Cục SHTT của Việt Nam) nhằm để bảo đảm quyền cho bên nhận thế chấp, bên cho vay. Bên thế chấp không thể thế chấp hoặc chuyển giao quyền SHCN đối với sáng chế cho bất kỳ bên thứ ba nào khác trong thời gian sáng chế được thế chấp. Luận văn: Thực trạng khai thác thương mại đối với sáng chế.

Cách đây 160 năm, tại Hoa Kỳ đã có quy định pháp lý về việc GDBĐ bằng TSVH, trong khi Việt Nam mới chỉ là bắt đầu. Tại Hoa Kỳ, hoạt động cấp tín dụng cho thị trường TSTT đã xuất hiện từ thế kỷ 19. Án lệ đầu tiên là Waterman v. Mackenzie, 138 U.S.252 (Tòa án Tối cao năm 1891) với GDBĐ là sáng chế. Trong án lệ này, sáng chế đã được sử dụng làm GDBĐ để cấp tín dụng, được tranh tụng qua nhiều cấp tòa án và cuối cùng đã lên đến Tòa án Tối cao. Qua án lệ này, các tổng thống Thomas Jefferson và Benjamin Franklin đã hiểu tầm quan trọng của việc cấp vốn cho chủ sở hữu TSTT là sáng chế qua hoạt động GDBĐ để tạo điều kiện thuận lợi cho việc TMH chúng. TMH TSTT nói chung và sáng chế nói riêng chính là việc cấp vốn cho doanh nghiệp để khai thác nó ở giá trị cao nhất.

Quay trở lại Án lệ Waterman v. Mackenzie năm 1891, sáng chế được dùng làm tài sản thế chấp để vay một khoản tiền là 6.500 đô la Mỹ lúc đó, tương đương với khoản tiền là 160 triệu đô la Mỹ hiện nay. Điều này cho thấy sáng chế đó rất có giá trị.

Có thể thấy rằng ngân hàng của Hoa Kỳ vào năm 1991 và trước đó sẵn sàng cho vay 160 triệu đô la Mỹ bằng tài sản thế chấp là một sáng chế nhưng ngân hàng Việt Nam hiện nay, dù có điều kiện tốt hơn ngân hàng của Hoa Kỳ năm 1891 rất nhiều, lại không sẵn sàng cho một chủ sở hữu sáng chế vay số tiền như vậy. Kinh nghiệm chúng ta cần học từ Hoa Kỳ là một khi tài sản bảo đảm đã được thế chấp mà bên giao chuyển nhượng nó cho bên thứ ba thì giao dịch đó vô hiệu. Vấn đề là phải bảo đảm quyền lợi của bên cho vay mới phát triển được GDBĐ.

Tóm lại, sự thiếu hụt các quy định pháp lý quan trọng này đã làm hạn chế khả năng khai thác thương mại đối với sáng chế của chủ sở hữu. Do vậy, việc học tập kinh nghiệm của thế giới là rất cần thiết trong việc hoàn thiện pháp luật về các hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế tại Việt Nam. Luận văn: Thực trạng khai thác thương mại đối với sáng chế.

  • Thủ tục góp vốn tài sản là quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế

Pháp luật hiện hành của Việt Nam chưa phân biệt rõ hai trường hợp góp vốn:

  • Thứ nhất là việc góp vốn bằng quyền sở hữu sáng chế.
  • Thứ hai là việc góp vốn bằng quyền sử dụng sáng chế.

Đối với trường hợp góp vốn bằng quyền sở hữu sáng chế, đây là một trong các hình thức chủ sở hữu sáng chế thực hiện quyền năng định đoạt sáng chế. Bên góp vốn sẽ phải chuyển giao quyền sở hữu sáng chế cho bên nhận vốn góp, ví dụ như doanh nghiệp. Sau khi hoàn tất thủ tục góp vốn bằng quyền SHCN đối với sáng chế, doanh nghiệp nhận vốn góp sẽ trở thành chủ sở hữu sáng chế và có đầy đủ đặc quyền khai thác thương mại đối với sáng chế theo quy định của pháp luật. Do vậy, hợp đồng góp vốn bằng quyền sở hữu sáng chế có nhiều điểm tương đồng với hợp đồng chuyển nhượng quyền sở hữu sáng chế. Như trên đã nói, sự khác biệt giữa việc góp vốn bằng quyền sở hữu sáng chế với việc chuyển nhượng quyền sở hữu sáng chế nằm ở chỗ bên góp vốn không nhận được khoản tiền chuyển nhượng (bán đứt) sáng chế từ bên nhận vốn góp như bên chuyển nhượng nhận từ bên nhận chuyển nhượng mà đổi lại sẽ được nhận quyền sở hữu doanh nghiệp nhận vốn góp tương ứng với giá trị tài sản góp vốn.

Đối với việc góp vốn bằng quyền sử dụng sáng chế, bên nhận vốn góp là doanh nghiệp chỉ có quyền khai thác thương mại đối với sáng chế thu được từ quyền sử dụng sáng chế trong khi bên góp vốn vẫn sở hữu sáng chế. Có thể thấy rằng hợp đồng góp vốn bằng quyền sử dụng sáng chế có nhiều điểm tương đồng với hợp đồng li-xăng sáng chế. Sự khác nhau giữa hai loại hợp đồng này nằm ở chỗ bên góp vốn không nhận khoản tiền thanh toán trực tiếp là phí chuyển giao quyền sử dụng sáng chế từ bên nhận vốn góp như trường hợp li-xăng sáng chế mà là quyền sở hữu doanh nghiệp nhận vốn góp tương ứng với giá trị quyền sử dụng sáng chế. Các bên thỏa thuận việc góp vốn bằng quyền sử dụng sáng chế cũng phải thảo luận cụ thể về việc chuyển giao quyền sử dụng sáng chế là độc quyền hay không độc quyền. Luận văn: Thực trạng khai thác thương mại đối với sáng chế.

  • Các quy định pháp lý hướng dẫn việc định giá sáng chế

Khai thác, TMH sáng chế làm cho nhu cầu của định giá sáng chế và phát triển một mô hình định giá phù hợp ngày càng trở nên cấp thiết. Sáng chế cần được định giá khi được khai thác thương mại theo nhiều hình thức khác nhau, không chỉ dùng để góp vốn vào doanh nghiệp, hay dùng làm vật để thế chấp để có được các nguồn tài chính từ ngân hàng, quỹ đầu tư mạo hiểm mà còn dùng để chuyển giao cho các cá nhân, tổ chức khác khai thác thương mại. Hơn nữa, sáng chế là tài sản quan trọng cần định giá khi mua bán, sáp nhập, cổ phần hóa doanh nghiệp, trao tặng, bồi thường thiệt hại, li-xăng bắt buộc, bảo hiểm, v.v.

Đành rằng về khía cạnh pháp lý, quyền SHCN đối với sáng chế, với tư cách là quyền tài sản, có thể được dùng để thế chấp, góp vốn và cần được định giá. Việc định giá tài sản thế chấp, góp vốn có ý nghĩa hết sức quan trọng. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành còn thiếu vắng những quy định cụ thể về cơ chế, phương pháp định giá sáng chế.

Đối với việc thế chấp, vấn đề quyết định cho chủ sở hữu sáng chế vay tiền để kinh doanh hay không lại là ngân hàng. Đối với các loại tài sản dùng làm GDBĐ, kinh nghiệm Việt Nam cho thấy ngân hàng buộc phải xác định giá trị tài sản trước khi cho vay. Trong khi đó, các quy định cụ thể về định giá TSTT là quyền SHCN đối với sáng chế hiện vẫn chưa có tại Việt Nam nên các ngân hàng không biết định giá sáng chế như thế nào. Ngân hàng thương mại có thể có quyền quyết định nhưng ngân hàng nhà nước lại không đồng ý vì cho vay như vậy rất rủi ro. Do vậy, một trong những vướng mắc nhất tại Việt Nam hiện nay đối với việc thế chấp tài sản bằng quyền sở hữu sáng chế là vấn đề định giá sáng chế.

Đối với việc góp vốn, việc định giá tài sản góp vốn nói chung và định giá tài sản góp vốn là quyền sở hữu sáng chế có vai trò cực kỳ quan trọng trong việc vận hành doanh nghiệp (xác định giá trị vốn góp, đánh giá năng lực tài chính doanh nghiệp, phát hành cổ phiếu, chuyển nhượng, sáp nhập, hợp nhất, chia tách doanh nghiệp, v.v.).

  • Quy định về việc định giá sáng chế nói chung Luận văn: Thực trạng khai thác thương mại đối với sáng chế.

Trước năm 1995, TSVH bao gồm sáng chế chưa được xem như một loại tài sản nên việc định giá các tài sản quan trọng này chưa được đặt ra. Bộ Luật dân sự năm 1995 (Điều 172 và Điều 188) lần đầu tiên quy định về TSTT, coi TSTT là một loại quyền tài sản nhưng vấn đề định giá sáng chế vẫn chưa được đề cập. Sau đó, đã từng có nhiều tranh cãi đối với việc xác định giá trị một số loại TSVH liên quan đến những doanh nghiệp thực hiện cổ phần hóa hoặc góp vốn liên doanh. TSVH đôi khi không được tính vào giá trị doanh nghiệp. Để giải quyết đòi hỏi của thực tiễn, năm 2001, Bộ Tài chính đã xây dựng chuẩn mực kế toán đối với tài sản cố định vô hình (Chuẩn mực 04, ban hành và công bố theo quyết định số 149/2001/QĐ-BTC ngày 31/12/2001 của Bộ trưởng Bộ tài chính) trên cơ sở chuẩn IAS 38 của Hiệp hội kiểm toán kế toán quốc tế, trong đó đã nêu rõ định nghĩa, đặc điểm của TSVH và chính thức công nhận 08 nhóm TSVH là những tài sản hợp pháp của doanh nghiệp, được ghi nhận vào hệ thống sổ sách kế toán, gồm quyền sử dụng đất có thời hạn; nhãn hiệu hàng hóa; quyền phát hành; phần mềm máy tính; giấy phép và giấy nhượng quyền; bản quyền, bằng sáng chế; công thức và cách thức pha chế, kiểu mẫu, thiết kế và vật mẫu; tài sản cố định vô hình đang triển khai.

Tiếp theo đó, việc xác định giá trị tài sản là quyền SHCN được quy định trong Pháp lệnh giá số 40/2002/PL/UBTVQH10 ngày 26 tháng 4 năm 2002. Hơn nữa, Quyết định 206/2003/QĐ của Bộ Tài chính đã quy định việc sáng chế và các TSTT khác tham gia góp vốn được xác định giá trị, quản lý, sử dụng, trích khấu hao theo tài sản cố định vô hình. Tại điểm 2 Điều 4 Mục II của Quyết định này có hướng dẫn cách xác định giá tài sản cố định vô hình. Cụ thể, trường hợp các nhà đầu tư muốn góp vốn bằng quyền SHTT thì phải có biên bản giao nhận tài sản, biên bản định giá tài sản và góp vốn. Các biên bản này được coi là chứng từ hợp pháp để xác định giá trị tài sản góp vốn và được tính vào chi phí kinh doanh, chi phí hợp lý theo quy định. Thông tư số 45/2013/TT-BTC ghi nhận TSVH của doanh nghiệp là quyền tác giả, quyền SHCN, quyền đối giống cây trồng theo quy định của Luật SHTT năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2009). Theo Điều 2, Thông tư số 45/2013/TT-BTC, sau khi góp vốn, một số loại tài sản trên đây được coi là tài sản cố định vô hình do thỏa mãn các điều kiện của TSVH và tham gia vào nhiều chu kỳ kinh doanh như bằng sáng chế, bản quyền, v.v. Giá trị tài sản do các bên thỏa thuận định giá và được ghi vào sổ kế toán với tư cách là chi phí tạo lập tài sản.

Mới đây, Thông tư liên tịch số 39/2014/TTLT-BKHCN-BTC, có hiệu lực từ ngày 04/02/2015, đã mạnh dạn đề cập đến một số phương pháp, vấn đề định giá một số đối tượng kết quả NCKH, phát triển công nghê và TSTT bao gồm cả sáng chế. Tuy nhiên, khoản 1, Điều 9 của Thông tư này mới chỉ ghi nhận một số căn cứ mang tính nguyên tắc liên quan đến việc quyết định giá đối với sáng chế như sau: Luận văn: Thực trạng khai thác thương mại đối với sáng chế.

  1. Tình trạng bảo hộ; phạm vi bảo hộ; thời gian còn lại trong thời hạn bảo hộ ghi trong VBBH;
  2. Khả năng rủi ro xảy ra trong quá trình sử dụng sáng chế, ví dụ: khả năng bị hủy bỏ hiệu lực, bị xâm phạm; khó khăn, cản trở về kinh tế, kỹ thuật trong việc ứng dụng, khai thác, TMH.

Hơn nữa, các phương pháp, căn cứ quyết định giá đối với sáng chế ghi nhận trong Thông tư chỉ áp dụng trong phạm vi hẹp, dành cho đối tượng cần định giá là sáng chế tạo ra từ ngân sách nhà nước. Cụ thể, việc định giá các TSTT là sáng chế được tạo ra từ ngân sách nhà nước nhằm phục vụ hoạt động khai thác thương mại các sáng chế này sẽ do Bộ KHCN áp đặt một mức giá nhất định.

  • Quy định hướng dẫn việc định giá tài sản góp vốn là quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế

Liên quan đến việc định giá tài sản góp vốn thành lập doanh nghiệp, dưới góc độ pháp lý, thủ tục và trách nhiệm định giá tài sản góp vốn được quy định đối với các loại tài sản góp vốn là giống nhau. Có một số nguyên tắc cần tuân thủ liên quan đến việc định giá tài sản góp vốn.

Khoản 1, Điều 37, Luật Doanh nghiệp năm 2014 đã xác định nguyên tắc thứ nhất là tài sản góp vốn phải được định giá, trừ các tài sản góp vốn là tiền (kể cả tiền Việt Nam và tiền nước ngoài tự do chuyển đổi) và vàng. Phương thức định giá do các thành viên hay các cổ đông sáng lập lựa chọn hoặc tự mình hoặc thông qua một tổ chức chuyên nghiệp định giá, nhưng trước hết tài sản đó phải được chấp nhận là tài sản góp vốn. Nhiều tài sản góp vốn không thỏa mãn yêu cầu của công ty hoặc công ty không có nhu cầu sở hữu hay sử dụng tài sản đó.

Nguyên tắc thứ hai về việc định giá tài sản góp vốn là phải theo nguyên tắc nhất trí (khoản 2, Điều 37, Luật Doanh nghiệp năm 2014). Cũng theo các quy định này, hậu quả pháp lý của sự định giá tài sản cao hơn thực tế được quy định như sau: “nếu tài sản góp vốn được định giá cao hơn so với giá trị thực tế tại thời điểm góp vốn thì các thành viên, cổ đông sáng lập liên đới chịu trách nhiệm đối với các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản của công ty bằng số chênh lệch giữa giá trị được định giá và giá trị thực tế của tài sản góp vốn tại thời điểm kết thúc định giá”. Luận văn: Thực trạng khai thác thương mại đối với sáng chế.

Theo khoản 3, Điều 37, Luật Doanh nghiệp năm 2014, trường hợp định giá tài sản góp vốn trong quá trình hoạt động của công ty mà do tổ chức định giá chuyên nghiệp tiến hành, thì giá trị tài sản góp vốn phải được người góp vốn và công ty chấp thuận. Nếu tài sản góp vốn được định giá cao hơn giá trị thực tế tại thời điểm góp vốn thì cũng dẫn đến hậu quả pháp lý là người góp vốn hoặc tổ chức định giá và người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp cùng liên đới chịu trách nhiệm đối với các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty bằng số chênh lệch giữa giá trị được định giá và giá trị thực tế của tài sản góp vốn tại thời điểm kết thúc định giá. Có thể thấy rằng, quy định hiện hành về việc góp vốn bằng sáng chế/công nghệ có tiến bộ hơn so với quy định có liên quan trước đó.

Mặc dù quy định pháp lý hiện hành về việc góp vốn bằng quyền SHTT, công nghệ đã không bị các cơ quan quản lý có thẩm quyền quản lý về mặt hành chính khống chế và áp đặt ngưỡng giá trị góp vốn nhưng các quy định cụ thể về việc định giá tài sản này vẫn chưa có nên vẫn nảy sinh một số bất cập.

Trước tiên, các quy định ở trên cho thấy, để bảo vệ quyền lợi cho các bên có liên quan, vấn đề căn bản đặt ra đối với việc định giá tài sản góp vốn vào doanh nghiệp là kiểm soát và xác định trách nhiệm của người định giá tài sản góp vốn. Tuy nhiên, để có thể xác định tính “trung thực” và “chính xác” trong việc định giá tài sản góp vốn nói chung và quyền SHCN đối với sáng chế nói riêng thì vấn đề cốt yếu là phải quy định rõ các phương pháp định giá tài sản này. Việc xác định giá trị TSTT là sáng chế gặp nhiều vấn đề phức tạp cả về phương diện pháp lý lẫn kinh tế chứ không dễ dàng, rõ ràng như việc xác định giá trị TSHH như nhà xưởng, máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu, v.v. Hơn nữa, quy định pháp lý hiện hành có thể gây ra nhiều khó khăn cho việc định giá tài sản góp vốn liên doanh nếu không có quy định người góp vốn bằng tài sản nào phải định giá thì không được tham gia định giá tài sản đó. Tất nhiên, những tài sản không đạt được sự nhất trí định giá khó có thể trở thành tài sản góp vốn.

Tóm lại, việc đưa ra các quy định pháp lý về thế chấp, góp vốn bằng quyền SHCN đối với sáng chế là phức tạp, khó khăn hơn rất nhiều việc đưa ra các quy định pháp lý về thế chấp tài sản hữu hình vì tính chất khó nắm giữ, khó xác định giá trị của TSVH. Pháp luật về SHTT, CGCN, doanh nghiệp, đầu tư, GDBĐ và các văn bản pháp lý có liên quan khác của nước ta đã có ghi nhận những vấn đề trên nhưng hiện chưa có quy định cụ thể nào hướng dẫn thực hiện thủ tục thế chấp, góp vốn bằng quyền SHCN nói chung và bằng quyền SHCN đối với sáng chế nói riêng. Cũng có một số văn bản pháp quy đề cập đến việc định giá sáng chế được xây dựng và ban hành. Tuy nhiên, tập hợp các văn bản pháp luật đó hầu như không điều chỉnh trực tiếp vấn đề định giá sáng chế mà mới chỉ bao gồm những quy định mang tính chất nguyên tắc, ví dụ như quy định về cách thức hạch toán kế toán đối với TSVH bao gồm cả sáng chế. Do vậy, sự thiếu cụ thể hóa này sẽ làm hạn chế khả năng sử dụng, khai thác sáng chế.

3.3.2 Thực trạng thế chấp, góp vốn để kinh doanh bằng quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế tại Việt Nam Luận văn: Thực trạng khai thác thương mại đối với sáng chế.

Liên quan đến thế chấp quyền SHCN đối với sáng chế, mặc dù chúng ta đã có các quy định pháp lý về GDBĐ ngày càng hoàn thiện nhưng cách tiếp cận vấn đề lại khác với hệ thống của các quốc gia phát triển. Cụ thể, ngân hàng của Hoa Kỳ không ngại ngần cho vay nhưng ở Việt Nam, các ngân hàng thương mại lại không vì sợ rủi ro. Thực tiễn cho thấy các ngân hàng Việt Nam đều đòi phải thế chấp tài sản có giá trị, chủ yếu là nhà, đất mới cho vay. Do vậy, việc đi vay vốn ngân hàng tại Việt Nam bằng hình thức thế chấp quyền SHCN đối với sáng chế gần như không xảy ra vì không có quy định cụ thể.

Mới chỉ có một vụ việc thế chấp quyền tác giả để vay vốn được ghi nhận mà chưa có vụ việc thế chấp bằng quyền SHCN đối với sáng chế nào. Cụ thể, năm 2009, Công ty Latsata MultiMedia, có trụ sở tại thành phố Hồ Chí Minh, đã thế chấp quyền tác giả đối với bộ phim dài 46 tập là Siêu thị tình yêu để vay vốn từ Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam. Các bên đã ký với nhau một thỏa thuận thế chấp ngày 30 tháng 07 năm 2009 (nội dung thỏa thuận không được tiết lộ) và đăng ký tại Cục Đăng ký GDBĐ Quốc gia, Văn phòng tại thành phố Hồ Chí Minh ngày 13 tháng 11 năm 2011. Có thể thấy đây là một vấn đề Việt Nam đang mắc phải cần được giải quyết bằng các chính sách, pháp luật cụ thể.

Liên quan đến góp vốn bằng quyền SHCN đối với sáng chế, các văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam hiện nay chưa quy định cụ thể về cơ chế tài chính đối với việc tham gia góp vốn liên doanh bằng quyền SHCN nói chung và quyền SHCN đối với sáng chế nói riêng. Đã có doanh nghiệp sử dụng giá trị quyền SHCN đối với nhãn hiệu do bản thân doanh nghiệp tự tạo ra và được hình thành từ giá trị nội tại của doanh nghiệp tích lũy nhiều năm đem lại như: hình ảnh, uy tín, quảng bá, hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, v.v. tạo nên để góp vốn kinh doanh, ví dụ như Tập đoàn Sông Đà đã sử dụng nhãn hiệu Sông Đà làm vốn góp để thành lập ba công ty con của mình, nhưng chưa thấy có công bố chính thức doanh nghiệp nào sử dụng giá trị quyền SHCN đối với sáng chế để tham gia góp vốn.

Liên quan đến việc định giá sáng chế, có một số vụ việc định giá để chuyển nhượng quyền SHCN, góp vốn bằng quyền SHCN đối với một số tài sản trí tuệ đã được biết đến, ví dụ như nhãn hiệu “P/S”, chiếm 70% thị phần trong nước đã được Tập đoàn Unilever định giá 5 triệu đô la Mỹ, mua lại năm 1995; nhãn hiệu “Dạ Lan”, chiếm 30% thị phần trong nước đã được Tập đoàn Colgate-Palmolive định giá 3,2 triệu đô la Mỹ, mua lại năm 1995; chuỗi nhà hàng đã được nhượng quyền thương mại bao gồm nhãn hiệu “Phở 24” và các tài sản khác đã được một công ty của Phi-líp-pin mua lại với tổng trị giá khoảng 20 triệu đô la Mỹ vào tháng 4/2012, v.v. nhưng chưa có một thống kê chính thức nào về các vụ việc định giá sáng chế. Do chúng ta còn thiếu các văn bản pháp luật quy định cụ thể về định giá TSTT, phương pháp định giá TSTT nên để định giá các tài sản này các doanh nghiệp thường phải thuê công ty kiểm toán hoặc tổ chức dịch vụ đại diện SHCN tại Việt Nam thực hiện. Vấn đề định giá sáng chế không phải là bằng tổng chi phí làm ra sáng chế mà là giá trị sử dụng sáng chế, khả năng đưa vào sử dụng, TMH như thế nào. Tóm lại, vì pháp luật nước ta cho đến nay chưa có quy định cụ thể về định giá quyền SHCN nên đã làm hạn chế các giao dịch thương mại quyền SHCN.

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 Luận văn: Thực trạng khai thác thương mại đối với sáng chế.

Từ nghiên cứu và phân tích trong các phần trên của Chương 3, có thể rút ra một số kết luận cho Chương 3.

Thứ nhất, các quy định pháp lý hiện hành của Việt Nam về hình thức chủ sở hữu tự mình khai thác thương mại sáng chế phù hợp với thông lệ quốc tế. Nhiều quy định trong các điều ước quốc tế có liên quan mà Việt Nam đã tham gia, ký kết đã được nội luật hóa. Quyền độc quyền sử dụng và ngăn cấm người khác sử dụng sáng chế là cơ sở quan trọng để chủ sở hữu thực hiện việc khai thác cũng như cho phép người khác khai thác thương mại đối với sáng chế nhưng không xâm phạm quyền, lợi ích của chủ thể khác. Tuy nhiên, các quyền độc quyền này vẫn còn được ghi nhận chung chung mà chưa được cụ thể hóa bằng các văn bản dưới luật.

Thứ hai, Luật SHTT, Luật CGCN, Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư, Luật Thương mại và các văn bản pháp quy quy định chi tiết một số điều của các luật trên đã được ban hành nhằm thúc đẩy hoạt động chuyển giao quyền SHCN đối với sáng chế thông qua hoạt động thu hút đầu tư, CGCN từ nước ngoài cũng như qua hoạt động liên kết, hợp tác giữa doanh nghiệp với trường đại học, tổ chức nghiên cứu, v.v. Các chính sách và quy định pháp lý tích cực nói trên là khá phù hợp với các nguyên tắc chung của pháp luật quốc tế có liên quan đồng thời đã có tác động nhất định trong việc thúc đẩy khai thác và TMH sáng chế ở nước ta.

Tuy nhiên, các quy định pháp lý hiện hành về việc khai thác thương mại sáng chế dưới hình thức chuyển giao quyền SHCN đối với sáng chế còn nhiều bất cập, ví dụ như: yêu cầu phải đăng ký hợp đồng chuyển giao quyền SHCN đối với sáng chế với cơ quan có thẩm quyền thì hợp đồng mới có hiệu lực đã làm cho các bên tham gia hợp đồng mất nhiều thời gian, công sức, tiền bạc đồng thời có thể làm cho bên chuyển giao có nguy cơ bị mất công nghệ; khái niệm chuyển giao quyền sử dụng sáng chế lại tách rời khái niệm CGCN; thiếu quy định về một số loại hình li-xăng sáng chế như li-xăng đầy đủ, li-xăng một phần, li-xăng chéo, li-xăng mở; sự phân biệt hai loại hợp đồng chuyển nhượng quyền sở hữu sáng chế và hợp đồng li-xăng sáng chế chưa đậm nét; sự khác biệt về hình thức, pháp luật áp dụng, chế độ ưu đãi giữa hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng sáng chế và hợp đồng CGCN. Luận văn: Thực trạng khai thác thương mại đối với sáng chế.

Thứ ba, nhu cầu thế chấp, góp vốn để kinh doanh bằng quyền SHCN đối với sáng chế ngày càng trở nên cấp thiết đối với Việt Nam nhất là trong giai đoạn phát triển nền kinh tế tri thức như hiện nay. Mặc dù pháp luật về SHTT, CGCN, doanh nghiệp, đầu tư và GDBĐ đã có các quy định nhằm khuyến khích chủ sở hữu sáng chế/công nghệ thế chấp, góp vốn để kinh doanh bằng chính TSTT của mình. Tuy nhiên, các quy định pháp lý cụ thể về thủ tục thế chấp, góp vốn bằng quyền SHCN đối với sáng chế cũng như các cơ chế, phương pháp định giá tài sản này hiện vẫn chưa được ban hành. Hiện vẫn chưa có quy định cụ thể đảm bảo quyền lợi cho bên nhận thế chấp bằng quyền SHCN đối với sáng chế. Pháp luật Việt Nam chưa phân biệt được rõ hai trường hợp góp vốn bằng quyền sở hữu và bằng quyền sử dụng sáng chế. Do chưa có các quy định cụ thể hướng dẫn về việc định giá sáng chế nên các bên khó có thể xác định mức độ giá trị quyền SHCN đối với sáng chế.

Thứ tư, số lượng rất ít VBBH độc quyền sáng chế được cấp của người Việt Nam so với người nước ngoài đã phần nào cho thấy chất lượng NCKH cũng như khả năng khai thác sáng chế yếu kém của ta. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến thực trạng này: có thể do thị trường công nghệ ở Việt Nam mới ở giai đoạn bắt đầu phát triển nên nhu cầu sử dụng kết quả nghiên cứu chưa cao; có thể do việc đăng ký bảo hộ sáng chế chưa thể mang lại ngay các lợi ích nhất định cho các nhà nghiên cứu; có thể do các nhà quản lý khoa học, các nhà sáng chế chưa có hiểu biết đầy đủ về ý nghĩa, tầm quan trọng của việc đăng ký bảo hộ cũng như luôn phải loay hoay với thủ tục đăng ký sáng chế vì không biết làm như thế nào. Chúng ta hiện còn thiếu một cơ chế để hỗ trợ việc đăng ký, còn thiếu các đơn vị phụ trách việc đăng ký sáng chế tại các tổ chức KHCN và thiếu những luật sư có kinh nghiệm trong việc đăng ký sáng chế. Trên thực tế, các nhà khoa học thì chưa chắc có khả năng tài chính để tự đăng ký, mà dù có khả năng tài chính nhưng không có các đại diện SHCN giúp thì cũng khó làm được. Ngoài ra, một trong những lý do quan trọng khác dẫn đến việc số lượng đơn đăng ký và bằng sáng chế ở Việt Nam quá ít thời gian qua là do người Việt Nam trọng danh hơn trọng lợi, thích được người khác ăn cắp, copy để được nổi tiếng.

Tình trạng yếu kém trong việc khai thác thương mại sáng chế thông qua hình thức chuyển giao quyền SHCN đối với sáng chế có thể bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân khác nhau. Nguyên nhân chủ yếu là do các quy định pháp lý hiện hành có liên quan chưa thực sự phù hợp với nhu cầu thực tiễn và chưa tạo động lực cho các chủ thể tham gia khai thác sáng chế được tạo ra. Hơn nữa, nguyên nhân của tình trạng yếu kém này cũng bắt nguồn từ các quy định pháp lý về quản lý và khai thác sáng chế có sử dụng kinh phí từ ngân sách Nhà nước còn tồn tại nhiều vấn đề: quy định về quyền sở hữu sáng chế chưa rõ ràng, quyền và trách nhiệm của cơ quan quản lý còn mờ nhạt, cơ chế phân chia lợi ích giữa các chủ thể chưa phù hợp, v.v.

Thực trạng khai thác thương mại rất yếu kém đối với sáng chế dưới hình thức thế chấp, góp vốn để kinh doanh bằng quyền SHCN đối với sáng chế tại Việt Nam cũng do nhiều nguyên nhân nhưng một trong những nguyên nhân quan trọng nhất dẫn đến tình trạng trên là vì sáng chế trên thực tế vẫn chưa được coi là hàng hóa, quyền SHCN đối với sáng chế vẫn chưa được tiếp cận ở trạng thái “động” với tư cách là một quan hệ hàng hóa-tiền tệ tại Việt Nam. Luận văn: Thực trạng khai thác thương mại đối với sáng chế.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:  

===>>> Luận văn: Giải pháp khai thác thương mại đối với sáng chế

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464