Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Giải pháp khai thác chung ở các vùng biển chồng lấn hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Những gợi mở cho Việt Nam trong việc triển khai các thỏa thuận hợp tác khai thác chung trên biển với các quốc gia trong khu vực Biển Đông dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
3.1. Thực tiễn về hoạt động hợp tác KTC trên biển của Việt Nam
3.1.1. Khái quát về tình hình Biển Đông và vị thế Việt Nam ở biển Đông.
3.1.1.1. Khái quát về Biển Đông
Biển Đông là một biển nửa kín, nằm ở rìa Tây Thái Bình Dương, với diện tích khoảng gần 3,5 triệu km2 trải rộng từ vĩ độ 30 lên đến vĩ độ 260 Bắc và từ kinh độ 1000 đến 1210 Đông (với chiều dài khoảng 1.900 hải lý, chiều rộng nơi rộng nhất gần 600 hải lý, độ sâu trung bình khoảng 1.140 m) . Biển Đông tiếp giáp với 09 nước là Việt Nam, Trung Quốc, Philippin, Inđônêxia, Bruney, Malayxia, Singapore, Thái Lan, Camphuchia và một vùng lãnh thổ là Đài Loan [10,tr.99]. Biển Đông có vị trí chiến lược đối với các nước trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương nói riêng và các quốc gia khác trên thế giới. Là vùng biển nửa kín lớn nhất sau 5 đại dương và nối liền hai đại dương là Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương. Trong vùng biển có hơn 200 đảo nhỏ và các bãi đá ngầm, đa số thuộc quần đảo Trường Sa (quần đảo Trường Sa trải dài trên vùng rộng gần 810 km, dài 900 km với 175 đảo đã được xác định, đảo lớn nhất là đảo Ba Bình dài 1.3 km) [10,tr.100]
- a. Về địa hình
Biển Đông trải theo hướng Đông Bắc – Tây Nam, kéo dài từ biên giới phía Nam bắt 30 vĩ độ Nam giữa eo biển Karimanta và Sumatra tới biên giới phía Bắc là eo biển Đài Loan từ mũi Đài Bắc tới biển Phúc Kiến (Trung Quốc) phía Tây là vịnh Thái Lan [10,tr.101]. Địa hình Biển Đông là dạng đáy vực thẳm sâu hình quả trám, với độ sâu lớn nhất là 5.016 m (phía ngoài khơi Palawan), phía Nam và Bắc khu vực Biển Đông nằm trên rìa lục địa với các đảo đá nằm trải dài tạo nên hai nhóm đảo lớn là Hoàng Sa và Trường Sa. TLĐ phía Tây chạy men từ eo biển Đài Loan đến Vịnh Bắc Bộ được tạo phủ bởi lớp trầm tích đệ tam dày với nhiều vùng có tiềm năng dầu mỏ và khí đốt lớn như vùng trũng Brunei – Saba, Sanawak, Malay, Nam Côn Sơn, Mêkong…
- b. Nguồn tài nguyên chính Luận văn: Giải pháp khai thác chung ở các vùng biển chồng lấn.
Biển Đông là một trong những biển lớn, được các nhà khoa học đánh giá có tầm quan trọng đứng thứ 02 thế giới sau biển Địa Trung Hải và là bộ phận quan trọng trong khu vực Châu Á – Thái Bình Dương. Theo nhiều ngiên cứ khoa học thì đây là vùng biển giàu về tài nguyên, đa dạng về sinh vật, có tiềm năng phát triển giao thông vận tải biển và phát triển dụ lịch [10,tr.101].
- Tài nguyên sinh vật:
Với vị trí địa lí, khí hậu, môi trường thuận lợi, Biển Đông có hệ sinh thái khổng lồ, vô cùng đa dạng và phong phú. Thống kê Biển Đông có khoảng trên 11.000 loài sinh vật cư trú trong hơn 20 kiểu hệ sinh thái điển hình. Trong đó có khoảng 6.000 loài động vật đáý. Có 2.041 loài cá trong đó có trên 100 loài cá có giá trị kinh tế cao. Hệ giáp xác biển có 1.647 loài, có 75 loài tôm, 25 loài mực, 653 loài rong biển, 298 loài san hô. Ngoài ra Biển Đông còn có nhiều loại nhiễn thể có giá trị kinh tế cao như: Ngọc trai, bào ngư, tôm hùm, vẹm, ngao, sò, hàu… và một số loài Rùa biển quý hiếm được đánh giá là những sản phẩm có giá trị nên được xuất đi khắp nơi trên thế giới. Với điều kiện thiên nhiên thuận lợi, tài nguyên thiên nhiên sinh vật biển phong phú, ngoài việc đánh bắt cá xa bờ, các quốc gia ven biển còn tận dụng điều kiện tự nhiên, vị trí địa lý, địa hình, khí hậu, thổ nhưỡng thuận lợi để nuôi trồng nhiều loại thủy hải sản phục vụ nhu cầu phát triển kinh tế.
Nhờ sự giàu có về tiềm năng thủy, hải sản, đa dạng, phong phú về loài động thực vật, các quốc gia ven biển ở Biển Đông được đánh giá là các quốc gia đánh bắt và nươi trồng thủy, hải sản đứng hàng đầu thế giới nhứ: Trung Quốc, Thái Lan, Indonesia, Philippin và Việt Nam, trong đó Trung Quốc là nước có sản lượng đánh bắt cá lớn nhất thế giới (4,38 triệu tấn/năm), Thái Lan đứng thứ 10 thế giới (gần 2 triệu tấn/năm), cả khu vực Biển Đông chiếm gần 10% tổng sản lượng đánh bắt cá hàng năm trên toàn thế giới.
Tuy nhiên, vài năm trở lại đây các nguồn lợi thủy, hải sản của khu vực Biển Đông đã suy giảm đáng kể do tác động của môi trường, sự biến đổi khí hậu, khí thải, ô nhiễm môi trường trầm trọng và sự đánh bắt khai thác quá mức bằng nhiều biện pháp, phương pháp tận diệt của của con người, đặc biệt là Trung Quốc với số lượng tàu thuyền đánh bắt khổng lồ lên đến 2.100 tấn hải sản/ngày, dẫn đến nguồn tài nguyên sinh vật ngày càng cạn kiệt và khan hiếm hơn…
- Nguồn tài nguyên phi sinh vật: Luận văn: Giải pháp khai thác chung ở các vùng biển chồng lấn.
Do cấu tạo địa lý đặc trưng nên Biển Đông là một trong những vùng biển được đánh giá là có nguồn tài nguyên phi sinh vật như khoáng sản, dầu mỏ và khí đốt vô cùng to lớn. Theo thống kê của Chính phủ Mỹ đầu năm 2013, Biển Đông chứa khoảng 11 tỉ thùng dầu, 190.000 m³ khí tự nhiên (những con số trên chỉ mang tính dự báo, vì toàn bộ TLĐ của Biển Đông chiếm 50% diện tích biển được bao phú bởi lớp trầm tích đệ tam dày, đây là vùng biển có nhiều tranh chấp về yêu sách chủ quyền nên rất khó khăn cho việc nghiên cứu, thăm dò để đưa ra một con số chính xác). Các khu vực có khả năng có trữ lượng dầu khí lớn như: Bồn trũng Brunei – Saba, Malaysia, Pattany – Thái Lan. Quần đảo Trường Sa được suy đoán là khu vực có trữ lượng dầu khí lớn. Một loại tài nguyên được dự đoán là lớn gấp 03 lần nguồn tài nguyên hóa thạch, loại tài nguyên này có thể thay thế cho than đá, dầu mỏ và khí đốt trong tương lai, trở thành nguồn năng lượng sạch của thế giới, đó là Băng cháy hay “Khả nhiên băng” (Fire Ice) vật thể hóa khí. Kết quả của nhiều cuộc khảo sát, nghiên cứu gần đây cho thấy, vùng bờ lục địa Biển Đông, nhất là khu vực Bắc Biển Đông với khoảng rộng gần 20.000km² có trữ lượng rất lớn Khả nhiên bang này[10,tr.104].
- Tiềm năng phát triển du lịch và giao thông vận tải biển
Tiềm năng phát triển du lịch: Với địa thế là khu vực có bờ biển chạy dài qua nhiều vùng vịnh, vũng, đầm, phá kết hợp với hơn 3.000 đảo lớn nhỏ và hệ sinh thái vô cùng đa dạng và phong phú, khí hậu thời tiết luôn ổn định không quá nống và cũng không quá lạnh tạo mọi điều kiện thuận lợi để các quốc gia ven biển phát triển ngành du lịch biển. Các quốc gia khai thác tiềm năng du lịch biển hiệu quả trong khu vực Biển Đông gồm Trung Quốc, Việt Nam, Philippin và Malaysia. Bên cạnh việc phát triển du lịch biển ở phạm vi quốc gia, các nước trong khu vực còn tích cực đưa ra các chương trình hợp tác để cùng phát triển du lịch để khai thác có hiệu quả tiềm năng du lịch khu vực Biển Đông, góp phần tăng cường cường mối quan hệ hợp tác giữa các nước trong khu vực.
Về giao thông vận tải: Biển Đông là biển lớn nối Đại Tây Dương với Thái Bình Dương, là khu vực có một trong những đường hàng hải quốc tế quan trọng và nhộn nhịp, với 5/10 tuyến hàng hải lớn của trái đất đi qua Biển Đông [10,tr.105]. Với nhiều eo biển quan trọng rút ngắn được rất nhiều thời gian và khoảng cách vận tải trên biển từ Châu Á nối với các châu lục khác của thế giới như eo biển Malacca, eo biển Sundra, eo biển Lombok… Đặc biệt eo biển Malacca là tuyến đường hàng hải quan trọng của khu vực và thế giới, hàng năm số lượng hàng hóa, tàu thuyền vận chuyển qua khu vực này đứng thứ hai thế giới, với khoảng 50 nghìn đến 70 nghìn tầu thuyền qua đây mỗi năm, nhiều gấp đôi số tàu thuyền qua kênh đào Suez của Ai Cập và gấp 3 số tàu thuyền qua kênh đào Panama ở Trung Mỹ. Luận văn: Giải pháp khai thác chung ở các vùng biển chồng lấn.
Có thể nói rằng, các tuyến hàng hải chạy qua khu vực Biển Đông có tầm quan trọng rất lớn đối với nền kinh tế của nhiều nước trong khu vực, đóng góp rất lớn vào ngân sách quốc gia vên biển.
3.1.1.2. Tình hình tranh chấp ở Biển Đông
Tranh chấp chủ quyền trên Biển Đông đang là một trong những điểm nóng được cả thế giới quan tâm, với sự tham của nhiều quốc gia trong khu vực. Tranh chấp chủ quyền trên Biển Đông gồm các tranh chấp về các đảo, quần đảo và các vùng biển trong khu vực Biển Đông, cụ thể như:
- a. Tranh chấp về đảo
Quần đảo Trường Sa và quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam là hai quần đảo trên các rạn san hô ở Biển Đông, trong đó quần đảo Hoàng Sa đang là nơi tranh chấp chủ quyền giữa Việt Nam và Trung Quốc [3]; Quần đảo Trường Sa là nơi tranh chấp chủ quyền của 5 quốc gia và một vùng lãnh lãnh thổ: Trung Quốc, Việt Nam, Philippines, Malaysia, Brunei và Đài Loan. Các quốc gia này tuyên bố chủ quyền toàn bộ hay một phần quần đảo Trường Sa; Bãi cạn Scarborough là đối tượng tranh chấp giữa Trung Quốc và Philippines; Quần đảo Đông Sa do Đài Loan quản lý là đối tượng tranh chấp giữa Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và Đài Loan; Quần đảo Natuna do Indonesia tuyên bố chủ quyền cũng đang bị Trung Quốc đe dọa; đảo Ligitan và Sepadan là tranh chấp giữa Malaysia và Indonesia; tranh chấp đảo Đá Trắng và cấu trúc địa lý xung quanh giữa Xingapo và Malaysia…
Quần đảo Hoàng Sa: Gồm khoảng 30 đảo nhỏ, bãi đá ngầm, với tổng diện tích khoảng 10 km² nằm rải rác trên một vùng biển rộng khoảng 15.000 km². Cách đảo Lý Sơn của Việt Nam 120 hải lý, cách đảo Hải Nam của Trung Quốc 156 hải lý[10,tr.126]. Cả Việt Nam và Trung Quốc đều tuyên bố chủ quyền đối với các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Vào năm 1932, chính quyền Pháp ở Đông Dương chiếm giữ quần đảo Hoàng Sa, Việt Nam tiếp tục nắm giữ chủ quyền một nửa cho đến năm 1974 (hai đảo Phú Lâm và Linh Côn do Trung Quốc chiếm giữ từ năm 1956).
Trung Quốc hiện đang chiếm giữ toàn bộ Hoàng Sa kể từ sau trận Hải chiến Hoàng Sa 1974 ngày 19 tháng 1 năm 1974 [3].
Quần đảo Trường Sa: Quần đảo Trường Sa nằm ở phía Đông Nam của Biển Đông, gồm trên 100 đảo, bãi đá, bãi cạn, bãi đảo chìm… nằm trải rộng trong một vùng biển khoảng 000 km² với 325 hải lý Đông – Tây và 274 hải lý Bắc – Nam. Đảo gần đất liền nhất là đảo Trường Sa cách Cam Ranh 248 hải lý, cách đảo Hải Nam Trung Quốc 595 hải lý. Quần đảo Trường Sa được chia thành 8 cụm đảo (Song Tử, Thị Tứ, Loại Ta, Nam Yết, Sinh Tồn, Trường Sa, Thám Hiểm và Bình Nguyên). Diện tích toàn bộ phần đảo nổi của quần đảo khoảng 10 km², đảo Ba Bình là đảo lớn nhất (0,735 km² ), đảo Song Tử Tây là đảo cao nhất (khoảng 4-6 m so với mực nước biển). Hiện nay có 6 quốc gia và vùng lãnh thổ chiếm giữ là: Việt Nam, Trung Quốc, Philippin, Malaysia, Bruney, Đài Loan[10,tr.127]. Luận văn: Giải pháp khai thác chung ở các vùng biển chồng lấn.
Trung Quốc: Tháng 2/1988, hải quân Trung Quốc đưa một lực lượng mạnh xuống vùng biển Trường Sa, ngày 14/3/1988 xâm lược một số thực thể trong quần đảo Trường Sa của Việt Nam, bắn cháy ba tàu vận tải của Việt Nam, làm mất tích 74 chiến sĩ của Quân đội nhân dân Việt Nam. Tính đến ngày 8/4/1988, Trung Quốc đã chiếm đóng 8 đảo, bãi đá trong quần đảo Trường Sa (Vành Khăn 1995, Chữ Thập, Châu Viên, Gạc Ma, Xu Bi, Huy Gơ, Ga Ven năm 1988). Ngày 22/12/2007, Trung Quốc đã ngang nhiên thành lập cái gọi là Thành phố cấp huyện Tam Sa, bao gồm cả quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa. Trong năm 2008 và 2009, tình hình biển đông diễn ra theo chiều hướng phức tạp, các nước trong khu vực đặc biệt là Trung Quốc đẩy mạnh các hoạt động củng cố yêu sách chủ quyền và tăng cường hoạt động trên biển nhằm mực đích chiếm đảo Trường Sa của Việt Nam. Với việc Trung Quốc Công bố bản đồ đường lưỡi bò (9 đoạn) phi lý trên Biển Đông trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam. Tổ chức các hoạt động thăm dò trong thềm lục địa Việt Nam và ngăn cản Việt Nam thăm dò và hợp tác với các quốc gia khác trong việc thăm dò, khai thác tài nguyên[3].
- Đài Loan: chiếm đảo Ba Bình 1956, bãi cạn Bàn Than 2005 .
- Philippin: đóng chiếm 9 đảo nổi và đảo chìm, gồm: Song Tử Đông, Thị Tứ, Panata, Loại Ta, Bình Nguyên,Vĩnh Viễn, Công Đô, Cỏ Mây, Bến Lạc.
- Malaysia: chiếm đóng 7 đảo nổi và đảo chìm, gồm: Luxia, Sắc Lốt, Chim én, Kiệu Ngựa, Kỳ Vân, Én Ca, Thám Hiểm.
- Bruney: cũng là một bên tuyên bố chủ quyền, nhưng không chiếm đóng đảo, bãi đá nào.
Việt Nam: hiện đã xác lập chủ quyền ở 21 đảo nổi và đảo chìm, gồm: đảo Song Tử Tây, đảo Niêm Yết, đảo Sơn Ca, đảo Sinh Tồn, đảo Sinh Tồn Đông, đảo Trường Sa, đảo Trường Sa Đông, đảo Phan Vinh, đảo An Bang, bãi Đá Lát, bãi Thuyền Chài, bãi Đá Tây, bãi Đá Đông, bãi Tốc Tan, bãi Núi Le, bãi Tiên Nữ, bãi Len Đao, bãi Cô Lin, bãi Đá Lớn, bãi Núi Thị, bãi Đá Nam[3].
Bãi cạn Scarborough: Philippines và Trung Quốc tranh chấp chủ quyền về bãi cạn Scarborough. Từ tháng 1/2013, Philipines đã chính thức kiện Trung Quốc ra Tòa Trọng tài quốc tế và tháng 3/2014 đã nộp hồ sơ chi tiết. Philippines đã được sự ủng hộ của Liên minh châu Âu và Hoa Kỳ, các quốc gia ASEAN lại không đồng nhất ủng hộ. Ngày 12/7/2016, Tòa án Trọng tài Thường trực theo Phụ lục VII của Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật biển năm 1982 ra tuyên bố Trung Quốc thua kiện với lý do “không có căn cứ pháp lý cho việc Trung Quốc nêu quyền lịch sử với các tài nguyên nằm trong vùng biển trong Đường chín đoạn“.
- b. Tranh chấp vùng biển trong khu vực Biển Đông Luận văn: Giải pháp khai thác chung ở các vùng biển chồng lấn.
Tranh chấp liên quan đến phân định biển, đặc biệt là vùng ĐQKT và TLĐ giữa các quốc gia trong khu vực. Sự ra đời của Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật biển năm 1982 quy định về Vùng ĐQKT, TLĐ và cơ chế pháp lý đối với đảo, quần đảo thì tầm quan trọng của việc khai thác tài nguyên, đặc biệt là đánh cá và khai thác dầu khí là nguyên nhân bổ sung cho mục đích tranh chấp. Do các yêu sách về chủ quyền vùng biển của các quốc gia được mở rộng hơn, nhưng với đặc điểm địa lý không cho phép các quốc gia trong khu vực có thể đạt được yêu sách của mình, dẫn đến ở một số vùng biển xảy ra vấn đề chồng lấn về chủ quyền, có khá nhiều các tranh chấp về chủ quyền liện quan đến phân định vùng biển trong khu vực như:
- Tranh chấp phân định biển giữa Việt Nam và Trung Quốc khu vực Vịnh Bắc bộ và khu vực ngoài cửa Vịnh Bắc bộ.
- Tranh chấp vùng ĐQKT và TLĐ giữa Malaysia và Việt Nam về những vùng ở vịnh Thái Lan và phía Nam Biển Đông.
- Tranh chấp phân định TLĐ giữa Việt Nam và Indonesia trong ở phía Tây Nam Biển Đông.
- Tranh chấp Việt Nam và Campuchia ở vịnh Thái Lan.
- Tranh chấp Campuchia và Thái Lan ở vịnh Thái Lan.
- Tranh chấp phân định biển giữa Malaysia và Indonesia trong ở phía Biển Đông và eo biển Malacca.
- Tranh chấp các vùng biển chồng lấn Malaysia, Campuchia, Thái Lan và Việt Nam về những vùng ở vịnh Thái Lan.
- Singapore và Malaysia dọc theo Eo biển Johore và Eo biển Singapore.
Tranh chấp giữa các nước trong khu vực và Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa sử dụng lại đường lưỡi bò (9 đoạn). Đường lưỡi bò bao trọn bốn nhóm quần đảo, bãi ngầm lớn trên Biển Đông là quần đảo Hoàng Sa, quần đảo Trường Sa, quần đảo Đông Sa và bãi Macclesfield với khoảng 75% diện tích mặt nước của Biển Đông, chỉ chừa lại khoảng 25% cho tất cả các nước Philippines, Malaysia, Brunei, Indonesia, và Việt Nam, tức mỗi nước được trung bình 5% [10,tr.130].
Như vậy, trên thực tế Biển Đông đã và đang xảy ra rất nhiều tranh chấp trên biển, trong đó có tranh chấp giữa hai quốc gia và có cả tranh chấp của nhiều quốc gia đối với yêu sách chủ quyền một vùng biển nhất định. Các tranh chấp này rất phức tạp luôn được sự quan tâm, chú ý của cộng đồng quốc tế vì có ảnh hưởng đến lợi ích của nhiều quốc gia, ảnh hưởng đến hòa bình, ôn định và hợp tác trong khu vực và trên thế giới. Luận văn: Giải pháp khai thác chung ở các vùng biển chồng lấn.
3.1.1.3. Vai trò, vị thế của Biển Đông đối với Việt Nam
Việt Nam là quốc gia ven biển nằm bên bờ Tây của Biển Đông, có địa chính trị và địa kinh tế rất quan trọng không phải bất kỳ quốc gia nào cũng có. Với bờ biển dài trên 3.260 km trải dài từ Bắc xuống Nam, đứng thứ 27 trong số 157 quốc gia ven biển, các quốc đảo và các lãnh thổ trên thế giới. Chỉ số chiều dài bờ biển trên diện tích đất liền của nước ta là xấp xỉ 0,01 (nghĩa là cứ 100 km2 đất liền có 1km bờ biển). Trong 64 tỉnh, thành phố của cả nước thì 29 tỉnh, thành phố có biển và gần một nửa dân số sinh sống tại các tỉnh, thành ven biển. Trong lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc, biển đảo luôn gắn với quá trình xây dựng và phát triển của đất nước và con người Việt Nam [3].
Vùng biển nước ta bao gồm cả vùng lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa. Theo Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982, nước ta có diện tích biển khoảng trên một triệu km2, gấp 3 lần diện tích đất liền, chiếm gần 30% diện tích Biển Đông (cả Biển Đông gần 3,5 triệu km2).
Cho đến thời điểm hiện tại, kinh tế biển và các ngành liên quan đến biển chiếm 48% GDP của cả nước, trong đó đóng góp của các hoạt động kinh tế diễn trên biển như khai thác thủy hải sản, dầu khí, vận tải và dịch vụ cảng biển, du lịch chiếm gần 98% của ngành kinh tế biển và ngành kinh tế liên quan đến biển, cụ thể:
Về thủy sản liên tục tăng trưởng về doanh thu xuất khẩu với những năm gần đây (khoảng 6 tỷ USD/năm), hiện Việt Nam đang là một trong bốn nước xuất khẩu thủy sản lớn nhất thế giới.
Về dầu khí: Việt Nam được đánh giá là quốc gia có trữ lượng dầu khí lớn ước khoảng trên 1.3 tỉ m³ dầu và 2.800 tỉ m³ khí. Ngoài ra ở khu vực quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa còn được đánh giá rất cao về tiềm năng dầu khí và trữa lượng Băng cháy “Khả nhiên băng”. Theo tính toán của các chuyên gia, Việt Nam có tổng trữ lượng dầu và khí trên toàn TLĐ của nước ta khoảng gần 10 tỷ tấn dầu (quy đổi) và khoảng 1.000 tỷ m³ khí, trữ lượng dầu đã khai thác khoảng 2 tỷ tấn. Việc khải thác chủ yếu diễn ra ở các mỏ như Bạch Hổ, Rồng, Đại Hùng, Hồng Ngọc, Rạng Đông, Lan Tây…
Về du lịch và giao thông vận tải biển: Với đặc điểm địa lý như trên, Việt Nam có rất nhiều những bãi biển, khu nghỉ dưỡng, khu du lịch ven biển đẹp như Phú Quốc – Kiên Giang, Nha Trang, Đà Nẵng, Sầm Sơn, Cát Bà…rất thích hợp cho phát triển du lịch biển. Hiện trên cả nước có 90 cảng biển và 10 khu chuyển tải hàng hóa, trong đó có một số cảng có khả năng xây dựng cảng nước sâu như cảng Cái Lân, Bái Tử Long, Nghi Sơn, Hòn La-Vũng Áng, Cam Ranh, Vũng Tàu, Thị Vải…trữ lượng hàng hóa thông quan các cảng biển rất thuận lợi cho giao thông vận tải biển, làm trung gian, điểm trung chuyển hàng hóa cho các châu lục.
Về An ninh quốc phòng: Việt Nam là quốc gia ven biển nằm bên bờ Tây của Biển Đông, có địa chính trị và địa kinh tế rất quan trọng. Trong lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc, biển đảo luôn gắn với quá trình xây dựng và phát triển của đất nước và con người Việt Nam.Vùng biển Việt Nam có khoảng 3.000 hòn đảo lớn, nhỏ và 2 quần đảo xa bờ là Hoàng Sa và Trường Sa, được phân bố khá đều theo chiều dài của bờ biển đất nước, với vị trí đặc biệt quan trọng như một tuyến phòng thủ tiền tiêu để bảo vệ sườn phía Đông của đất nước. Một số đảo ven bờ còn có vị trí quan trọng được sử dụng làm các điểm mốc quốc gia trên biển để thiết lập đường cơ sở ven bờ lục địa Việt Nam, từ đó xác định vùng nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa, làm cơ sở pháp lý để bảo vệ chủ quyền quốc gia trên các vùng biển.
3.1.1.4 Chủ trương của Việt Nam trong giải quyết tranh chấp Luận văn: Giải pháp khai thác chung ở các vùng biển chồng lấn.
Về vấn đề Biển Đông, chủ trương nhất quán của Đảng và Nhà nước Việt Nam là khẳng định chủ quyền của Việt nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Việt Nam chủ trương giải quyết các vấn đề tranh chấp về chủ quyền lãnh thổ cũng như các bất đồng khác liên quan đến Biển Đông thông qua thương lượng hòa bình trên tinh thần bình đẳng, hiểu biết và tôn trọng lẫn nhau; tôn trọng luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982, tôn trọng chủ quyền và quyền tài phán của các nước ven biển đối với vùng ĐQKT và TLĐ trong nổ lực thúc đẩy đàm phán để tìm giải pháp cơ bản về lâu dài…;
Việt Nam đã và đang tích cực đàm phán phân định vùng biển ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ và đàm phán tìm giải pháp cơ bản lâu dài cho vấn đề trên biển, đặc biệt là về chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Trong khi nỗ lực thúc đẩy đàm phán để tìm giải pháp cơ bản lâu dài, các bên liên quan cần duy trì sự ổn định trên cơ sở giữ nguyên hiện trạng, không có hành động làm phức tạp thêm tình hình, không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực.
Phát huy sức mạnh tổng hợp, giữ vững độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, lãnh hải, vùng trời của Tổ quốc và quyền chủ quyền, quyền tài phán thuộc vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa; bảo vệ lợi ích quốc gia trên các vùng biển, đảo; duy trì hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển.
Kết hợp chặt chẽ các hình thức, biện pháp đấu tranh chính trị, ngoại giao, pháp lý, kinh tế, quốc phòng trong quản lý bảo vệ biển, đảo. Phát triển kinh tế biển gắn liền với quản lý vùng trời, bảo vệ biển, đảo và xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân. Xây dựng lực lượng vũ trang, nòng cốt là hải quân, không quân, cảnh sát biển, biên phòng, dân quân tự vệ biển mạnh làm chỗ dựa vững chắc cho ngư dân cùng các thành phần kinh tế sản xuất và khai thác tài nguyên biển.
3.1.2. Các thỏa thuận hợp tác KTC giữa Việt Nam và các quốc gia trong khu vực Luận văn: Giải pháp khai thác chung ở các vùng biển chồng lấn.
3.1.2.1. Hiệp định vùng nước lịch sử Việt Nam – Campuchia, ngày 07/7/1982
Việt Nam – Campuchia có đường biên giới trên biển liền kề nhau chưa được phân định. Cho đến nay hai bên vẫn trong quá trình đàm phán, ở khu vực này có khoảng 150 đảo lớn, nhỏ được chia thành 07 cụm và một số đảo lẻ. Đây là vùng vịnh nhỏ, diện tích khoảng 300.000 km², chiều dài 450 hải lý và rộng khoảng 208 hải lý. Ngày 7/7/1982, hai bên đã ký kết một hiệp định xác lập một vùng nước lịch sử chung Việt Nam – Campuchia (diện tích khoảng 8.797 km2) được giới hạn bởi bờ biển tỉnh Kiên Giang, đảo Phú Quốc đến đảo Thổ Chu của Việt Nam và bờ biển tỉnh Kampot đến nhóm đảo Poulowai của Campuchia chưa có đường biên giới trên biển, nhưng chủ quyền của mỗi bên đối với các đảo trên vùng biển giữa hai nước đã được xác định bởi đường “Bri-e” do toàn quyền Đông Dương vạch ra năm 1939 phân chia quyền quản lí về hành chính đối với các đảo trong vịnh giữa hai nước. Theo Hiệp định này, vùng biển nằm giữa bờ biển tỉnh Kiên Giang, đảo Phú Quốc đến quần đảo Thổ Chu của Việt Nam và bờ biển tỉnh Kam Pot đến nhóm đảo Poulo Wai của Cam-pu-chia là vùng nước lịch sử chung của hai nước theo chế độ nội thủy [30].
Hiệp định này cũng thỏa thuận: “Hai bên sẽ thương lượng vào một thời gian thích hợp trên tinh thần bình đẳng hữu nghị, tôn trọng độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau, tôn trọng lợi ích chính đáng của nhau để hoạch định đường biên giới trên biển giữa hai nước trong vùng nước lịch sử”.
Hiệp định cũng đã nêu rõ: Trong khi chờ đợi giải quyết đường biên giới trên biển giữa hai nước trong vùng nước lịch sử, hai bên vẫn lấy đường, gọi là đường Brévié được vạch ra năm 1939, làm đường phân chia đảo trong khu vực này. Việc tuần tra, kiểm soát trong vùng nước lịch sử sẽ do cả hai bên cùng tiến hành. Việc đánh bắt hải sản của nhân dân hai nước vẫn tiếp tục theo tập quán làm ăn từ trước tới nay; đối với việc khai thác tài nguyên thiên nhiên trong vùng nước lịch sử, hai bên sẽ cùng nhau bàn bạc thỏa thuận. Luận văn: Giải pháp khai thác chung ở các vùng biển chồng lấn.
Như vậy, giữa Việt Nam và Cam-pu-chia chưa có đường biên giới trên biển, nhưng chủ quyền của mỗi bên đối với các đảo trên vùng biển giữa hai nước đã được xác định. Năm 1983, Hiệp ước về nguyên tắc giải quyết biên giới giữa Việt Nam và Cam-pu-chia đã nêu rõ: “Hai bên sẽ tiếp tục giải quyết vấn đề tồn tại trên tinh thần bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau, vì lợi ích quan hệ hợp tác hữu nghị giữa hai nước, phù hợp với pháp luật quốc tế và thực tiễn quốc tế”.
Hiện nay, hai Nhà nước đều bày tỏ cam kết tôn trọng các Hiệp ước, Hiệp định về biên giới mà hai nước đã ký kết và trên cơ sở đó, đang tiếp tục đàm phán giải quyết các vấn đề biên giới lãnh thổ còn tồn tại để sớm xây dựng biên giới hòa bình, hữu nghị hợp tác trên đất liền, trên biển giữa hai nước. Trong những năm tới, Việt Nam – Campuchia tiếp tục đàm phán phân định vùng nước Lịch sử, lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa. Hai bên đã đã thống nhất nguyên tắc chung giải quyết các vấn đề biên giới trên cơ sở: tiêu chuẩn, nguyên tắc của luật pháp quốc tế và tham khảo thực tiễn quốc tế; không xâm phạm toàn vẹn lãnh thổ của nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng cùng có lợi, cùng tồn tại hòa bình.
3.1.2.2. Hiệp định nghề cá Việt Nam – Trung Quốc.
- Khái quát về Vịnh Bắc Bộ:
Vịnh Bắc Bộ được bao bọc bởi Việt Nam và Trung Quốc có diện tích 123.700 km2, chiều ngang nơi rộng nhất khoảng 320 km (176 hải lý) và nơi hẹp nhất khoảng 220 km (119 hải lý). Bờ biển phía Nam Việt Nam dài khoảng 763 km chạy qua 10 tỉnh, thành phố (Quảng Ninh, Hải Phòng, Thái Bình, Nam Định, Ninh Bình, Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị) [3]. Bờ biển phía Trung Quốc dài khoảng 695 km, chạy qua hai tỉnh Quảng Tây và Hải Nam. Phía Việt Nam có khoảng 1.300 hòn đảo ven bờ, đặc biệt có quần đảo Bạch Long Vĩ nằm gần giữa vịnh (nằm cách đất liền Việt Nam khoảng 110 km, cách đảo Hải Nam – Trung Quốc khoảng 130 km). Phía Trung Quốc có một số đảo nhỏ phía đông bắc vịnh như đảo Vị Châu, Tà Dương. Độ sâu của vịnh tương đối nông từ 60 đến 300 m, thuộc bồn trũng sông Hồng, có lớp trầm tích dày khoảng 9 – 14 km. Vịnh có vị trí chiến lược quan trọng đối với Việt Nam và Trung Quốc về an ninh và quốc phòng. Đặc thù của Vịnh là chiều ngang tương đối hẹp, từ trước tới nay hai nước chưa hề phân định Vịnh. Theo Công ước luật Biển năm 1982 thì toàn bộ Vịnh Bắc Bộ là vùng chồng lấn và trong thực tế thời gian qua có tranh chấp, ảnh hưởng không tốt đến quan hệ giữa hai nước. Ngoài ý nghĩa về an ninh, quốc phòng, Vịnh Bắc Bộ còn có ý nghĩa lớn về kinh tế, có nguồn lợi hải sản phong phú. Hai nước đều có nhu cầu hợp tác đánh bắt, bảo vệ môi trường và bảo vệ và nuôi trồng nguồn hải sản trong Vịnh. Vào các năm 1957, 1961 và 1963 hai nước có ký các thỏa thuận cho phép thuyền buồm của hai bên được đánh bắt trong Vịnh ngoài phạm vi tương ứng 3 hải lý, 6 hải lý và 12 hải lý tính từ bờ biển và hải đảo mỗi bên. Các thỏa thuận này đã hết hiệu lực vào những năm 70.
Năm 2000 cuộc đàm phán về phân định Vịnh Bắc Bộ được đẩy mạnh và đi vào giải quyết thực chất. Kết quả của giải pháp phân định phù hợp với yêu cầu đặt ra. Về diện tích tổng thể Việt Nam được 53,23% diện tích Vịnh, Trung Quốc đạt 46,77% (Việt Nam hơn Trung Quốc 6,46% tức là khoảng 8.205 km2), đường phân định cách đảo Bạch Long Vĩ 15 hải lý, đảo Cồn Cỏ được hưởng 50% hiệu lực quy chế đảo. Về khía cạnh tài nguyên, giải pháp phân định đạt được cũng bảo đảm việc phân chia lợi ích một cách công bằng. Hai bên đã phân chia rõ ràng phần thềm lục địa để mỗi bên đều có thể tiến hành thăm dò, khai thác tài nguyên trong phạm vi thềm lục địa của mình mà không bị bên kia can thiệp hoặc gây khó khăn. Trong trường hợp có cấu tạo mỏ vắt qua đường phân định thì hai bên sẽ thỏa thuận với nhau về việc khai thác và phân chia lợi ích của việc khai thác đó [32].
- Nội dung chính của Hiệp định nghề cá: Luận văn: Giải pháp khai thác chung ở các vùng biển chồng lấn.
Hiệp định hợp tác nghề cá trong Vịnh Bắc Bộ giữa Việt Nam và Trung Quốc được hai nước ký ngày 25-12-2000 và phê chuẩn ngày 30-6-2004 (cùng với Hiệp định phân định Vịnh Bắc Bộ); có 7 phần, 22 Điều và Nghị định thư bổ sung; gồm những nội dung chủ yếu sau:
Các quy định chung: Hiệp định này áp dụng cho một phần vùng đặc quyền kinh tế và một phần vùng giáp giới lãnh hải của hai nước trong Vịnh Bắc Bộ (gọi tắt là Vùng nước Hiệp định). Hai nước cam kết các nguyên tắc chỉ đạo tiến hành hợp tác nghề cá trong Vùng nước Hiệp định trên cơ sở tôn trọng chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của nhau; việc hợp tác nghề cá không ảnh hưởng đến chủ quyền lãnh hải của mỗi nước và các quyền lợi khác mà mỗi bên ký kết được hưởng trong vùng đặc quyền kinh tế của mình.
Vùng đánh cá chung: Hiệp định quy định, vùng đánh cá chung là khu vực dưới vĩ tuyến 200 0 Bắc, có vùng lõm của đảo Bạch Long Vĩ, có bề rộng chung là 30,5 hải lý tính từ Đường phân định về mỗi phía ra đến đường đóng cửa Vịnh ở phía Nam, có diện tích 33.500 km2. Thời hạn của vùng đánh cá chung là 12 năm, kể từ khi Hiệp định có hiệu lực và 3 năm mặc nhiên gia hạn. Trong vùng nước của vùng đánh cá chung thuộc vùng đặc quyền kinh tế của bên nào thì bên đó có quyền kiểm tra, kiểm soát các tầu thuyền đánh cá, xử lý các vi phạm theo luật pháp của nước mình và tuân thủ theo thỏa thuận chung của hai nước trong khuôn khổ ủy ban liên hợp. Hiệp định cũng quy định cụ thể:
Phạm vi, số lượng tầu (1.543), tỷ lệ tầu lưới kéo (không quá 40%), công suất máy tầu (60 CV đến 400CV), công suất máy tầu bình quân (137CV), tổng công suất máy tầu cá đánh bắt cá của mỗi bên (211.391CV) ở vùng đánh cá chung trong 2 năm đầu tiên. Sau 2 năm đầu, ủy ban liên hợp nghề cá của hai nước sẽ bàn bạc thống nhất số lượng tầu cá đánh bắt cá cho các năm tiếp theo. Mỗi bên đều có quyền hợp tác, liên doanh với nước thứ ba trong vùng nước của vùng đánh cá chung thuộc vùng đặc quyền kinh tế của nước mình. Luận văn: Giải pháp khai thác chung ở các vùng biển chồng lấn.
Phạm vi, thời hạn, số lượng tầu cá đánh bắt cá của mỗi bên và các quy định đối với vùng Dàn xếp quá độ xác định vùng nước dàn xếp quá độ cho phép tàu cá của hai bên được tiếp tục hoạt động nghề cá trong thời hạn 04 năm ở vùng nước phía bên kia. Các bên hàng năm phải giảm dần số lượng tàu đánh cá của mình ở vùng nước phía bên kia và chấm dứt đánh bắt cá trong vòng 04 năm tính từ ngày 30/6/2004 và vùng Đệm cho các tầu cá loại nhỏ ở cửa sông Bắc Luân với bề rộng 03 hải lí tính từ đường phân định ra mỗi bên và chiều dài 10 hải lí..
Ngoài Hiệp định Hợp tác nghề cá trong Vịnh Bắc Bộ và Nghị định thư bổ sung Hiệp định Hợp tác nghề cá, hai nước còn ký kết Quy định về bảo tồn và quản lý nguồn thủy sản trong vùng đánh cá chung; tạo cơ sở pháp lý cho việc bảo tồn, quản lý, khai thác bền vững nguồn thủy sản và giữ gìn an ninh trật tự trong vùng đánh cá chung. Trong thời gian tới hai nước tiếp tục tiến hành đàm phán phân định vùng biển ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ.
- Thỏa thuận ghi nhớ về KTC dầu khí giữa Việt Nam và Malaysia ngày 05/6/1992
- Khái quát về khu vực chồng lấn của Việt Nam và Malaysia
Vịnh Thái Lan nằm ở phía Tây Nam của Biển Đông, được bao bọc bởi các quốc gia như Việt Nam, Thái Lan, Campuchia, Malaysia. Giữa Việt Nam và Malaysia có một vùng biển chồng lấn nằm ở gần cửa vịnh Thái Lan, được tạo thành bởi đường ranh giới TLĐ do Chính phủ Việt Nam Cộng hoà công bố năm 1971 và đường ranh giới TLĐ thể hiện trên hải đồ của Malaysia công bố năm 1979. Vùng chồng lấn này không rộng, diện tích 2.800km2, nhưng có tiềm năng về dầu khí. Năm 1992, lãnh đạo cấp cao hai nước đã thoả thuận cùng hợp tác khai thác chung vùng chồng lấn và trong quá trình hợp tác khai thác chung, chuyên gia hai bên sẽ gặp nhau để vạch đường phân định TLĐ trong vùng chồng lấn này [34]. Ngày 05/6/1992 Việt Nam và Malaixia đã ký kết và trao đổi công hàm phê duyệt bản thoả thuận về “hợp tác KTC” trong khu vực TLĐ chồng lấn giữa hai nước, hai bên đã tiến hành đàm phán tại Kuala Lampur. Tại vòng đàm phán này, hai bên đã ký Văn bản thoả thuận hợp tác khai thác chung vùng chồng lấn (MOU).
- Nội dung chủ yếu của Thoả thuận này là:
Chính thức xác nhận tọa độ khu vực chồng lấn theo đường ranh giới TLĐ do Tổng cục đầu khí Việt Nam công bố năm 1977 (trùng với ranh giới TLĐ do Việt Nam Công hoà công bố năm 1971) và ranh giới TLĐ thể hiện trên hải đồ của Malaysia công bố năm 1979. Luận văn: Giải pháp khai thác chung ở các vùng biển chồng lấn.
- Gác vấn đề phân định TLĐ để hợp tác khai thác chung vùng chồng lấn theo nguyên tắc chia sẻ đồng đều chi phí và phân chia đồng đều lãi suất.
- Nếu có mỏ dầu khi nằm vắt ngang khu vực xác định và một phần nằm trên thềm lục địa của Malaysia hoặc Việt Nam thì hai bên thoả thuận thăm dò khai thác.
- Về quản lý nhà nước đối với các hoạt động trong vùng chồng lấn, về nguyên tắc Việt Nam có quyền thực hiện quản lý về hải quan, cảng xuất dầu và công trình trên biển, về thuế, biên phòng…Tuy nhiên vì khu vực ở xa đất liền, nên Việt nam có thể uỷ quyền cho Malaysia đảm đương các nhiệm vụ nói trên trong vùng chồng lấn.
- Giao cho các công ty dầu lửa của hai nước kí kết các dàn xếp thương mại và tiến hành hợp tác thăm dò, khai thác trên tinh thần bình đẳng, cùng có lợi và tôn trọng lẫn nhau.
Thoả thuận này là thoả thuận song phương đầu tiên của Việt Nam với các nước trong khu vực đối với vùng chồng lấn trên biển được hình thành bởi các bên liên quan đã đưa ra các yêu sách ranh giới biển theo đúng các qui định của Công ước Luật Biển quốc tế năm 1982. Việc phân định vùng chống lấn (ranh giới trên biển) giữa hai nước chưa được giải quyết. Việt Nam và Malaysia tiếp tục đàm phán đàm phán để phân định vùng chồng lấn đặc quyền kinh tế và thềm lục địa giữa Việt Nam và Malsysia. Đây là bằng chứng thể hiện Việt Nam đã tuân thủ nghiêm túc các quy định của Công ước Luật Biển năm 1982, đăc biệt là giải pháp tạm thời “hợp tác khai thác chung” vùng chồng lấn.
3.1.2.4 Một số thỏa thuận khác
Việt Nam đã tiến hành hợp tác trên biển Đông với Philippines trong lĩnh vực khoa học biển từ năm 1994. Xuất phát từ thực tế thiếu hụt cơ sở dữ liệu về môi trường sinh thái biển Đông. Năm 1994, hai nước đã thành lập Chương trình Khảo sát Nghiên cứu Khoa học Biển chung ở Biển Đông. Đây là mô hình hợp tác song phương quan trọng giữa Philippines và Việt Nam. Các kết quả nghiên cứu của chương trình này đã được ứng dụng nhằm phòng chống và giảm thiểu tác động của thiên tai, biến đổi khí hậu, bảo vệ sự đa dạng của đại dương và hệ sinh thái, xây dựng quy trình quản lý bền vững môi trường biển. Bên cạnh mô hình hợp tác trong lĩnh vực khoa học, trong năm 2010, Philippines và Việt Nam đã ký 3 biên bản thỏa thuận là: Hợp tác về Thủy sản; Chuẩn bị và ứng phó sự cố tràn dầu; về tìm kiếm và cứu hộ trên biển. Sau đó, hai nước tiếp tục ký kết thỏa thuận về Hợp tác Nghề cá ngày 28/06/2010 tại Hà Nội. Những thỏa thuận này giúp thúc đẩy hợp tác giữa các nước trong lĩnh vực thủy sản, nghiên cứu biển và phòng chống đánh bắt cá bất hợp pháp tại biển Đông [3].
Hợp tác với Indonesia [33].Trải qua quá trình đàm phán bắt đầu từ năm 1978, đến ngày 26/6/2003, Hiệp định giữa Việt Nam và Indonesia về phân định thềm lục địa giữa hai nước đã được ký chính thức. Trên cơ sở phân định rõ ràng của Hiệp định năm 2003, đến năm 2010, Việt Nam cũng đã ký Bản ghi nhớ hợp tác về biển và nghề cá với Indonesia nhằm tiến hành hợp tác về kiểm soát chất lượng, an toàn vệ sinh hàng thủy sản, liên doanh và đầu tư khai thác, nuôi trồng và chế biến hải sản và hợp tác trao đổi thông tin. Việt Nam và Indonesia cũng đã ký Biên bản hợp tác chống đánh bắt cá bất hợp pháp ngày 28/11/2011, trong đó có những thỏa thuận về việc tránh thông báo thông tin về đánh bắt cá bất hợp phát của hai nước cho bên thứ ba. Ngoài những hợp tác song phương kể trên, Việt Nam cũng đang trong quá trình đàm phán thúc đẩy hợp tác về thủy sản với Malaysia, Campuchia, Myanma…
3.2 Các vùng biển tranh chấp về chủ quyền, quyền chủ quyền giữa Việt Nam và các quốc gia trong khu vực, tình hình giải quyết tranh chấp Luận văn: Giải pháp khai thác chung ở các vùng biển chồng lấn.
3.2.1. Các vùng biển tranh chấp chủ quyền giữa Việt Nam và các quốc gia trong khu vực
Khu vực ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ: Vùng biển ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ, về phía Việt Nam chạy theo hướng Tây Bắc – Đông Nam dài khoảng 149 hải lý qua 5 tỉnh, thành phố: Quảng Trị, Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi. Bao gồm cả các đảo Cồn Cỏ, Cù Lao Chàm, và Lý Sơn nằm cách bờ biển từ 8-13 hải lý. Về phía Trung Quốc nằm trên đảo Hải Nam, chạy theo hướng Tây Bắc – Đông Nam, sau đó chuyển hướng Đông Bắc – Tây Nam, dài khoảng 114 hải lý, theo đó phạm vi phân định đã được hai bên thống nhất đưa ra đàm phán là khu vực đối diện nhau nằm giữa bờ biển đảo của Việt Nam và bờ biển đảo tỉnh Hải Nam Trung Quốc. Vùng biển này nơi hẹp nhất là đường cửa Vịnh Bắc Bộ khoảng 131 hải lý, nơi rộng nhất khoảng 222 hải lý. Như vậy, theo quy định của Công ước Luật Biển năm 1982 đây là vùng chồng lấn vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của hai nước [3].
Khu vực Đông Bắc Hoàng Sa: Vùng biển thực chất là sự tiếp nối của khu vực ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ, phía Đông Bắc quần đảo Hoàng Sa, ở khoảng vỹ tuyến 18 độ Bắc xuống vỹ tuyến 17 độ Bắc. Vùng biển này liên quan đến hai nước là Việt Nam và Trung Quốc và vùng lãnh thổ Đài Loan. Luận văn: Giải pháp khai thác chung ở các vùng biển chồng lấn.
Khu vực giữa quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa: Vùng biển giữa đảo Hoàng Sa và Trường Sa là khu vực kéo dài trong khoảng vỹ tuyến 16 độ Bắc xuống vỹ tuyến 12 độ Bắc. Các nước có bờ biển bao quanh khu vực này gồm Việt Nam, Trung Quốc và Philippines đều đã đưa ra các quy định để mở rộng các vùng biển thuộc chủ quyền và quyền tài phán của quốc gia mình. Tuy nhiên, với yêu sách phi lý về đường “chín đoạn” của Trung Quốc thì khu vực này bị bao chùm bởi đường “chín đoạn”.
Khu vực Đông Nam Biển Đông (không bao gồm quần đảo Trường Sa): Khu vực phía Đông Nam Biển Đông (các bãi ngầm Tư Chính – Thanh Long) có các bãi ngầm, là bộ phận của đáy biển, không phải là đảo, nằm cách xa đảo gần nhất của quần đảo Trường Sa trên 50 hải lý và cách biệt quần đảo bởi một máng sâu khoảng 2000 mét nước nên không được coi là phụ thuộc vào bất cứ đảo nào của vùng đảo Trường Sa. Khu vực này nằm trên sự trải dài của thềm lục địa phía Nam Việt Nam cách đường cơ sở phía Nam Việt Nam nơi gần nhất chỉ khoảng 84 hải lý, nơi xa nhất chưa đến 200 hải lý, cách đảo Phú Quý của Việt Nam chưa đến 200 hải lý, nếu tính từ bờ biển, khoảng cách nơi xa nhất là 260 hải lý.
Đối với Trung Quốc, khu vực Tư Chính hoàn toàn không có gì liên quan đến lãnh thổ và thềm lục địa Trung Quốc vì cách xa lục địa Trung Quốc đến 600 hải lý, hơn nữa Tư Chính lại bị tách khỏi lục địa Trung Quốc bởi một máng sâu đại dương rộng lớn trong Biển Đông, với độ sâu 4000 mét. Vì vậy, khu vực này chỉ liên quan đến hai quốc gia có bờ biển đối diện với Việt Nam là Malaysia và Brunei. Trường hợp thềm lục địa Việt Nam mở rộng ngoài 200 hải lý và cả Malyasia và Brunei đều có quyền mở rộng ranh giới ngoài thềm lục địa ra ngoài 200 hải lý thì sẽ tạo ra hai vùng chồng lấn song phương (Việt Nam – Malaysia; Việt Nam – Brunei). Đây là khu vực có nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú, đặc biệt là dầu khí.
Khu vực biển chồng lấn giữa Việt Nam và Campuchia: Năm 1982, Việt Nam và Campuchia đã ký được Hiệp định vùng nước lịch sử chung. Hiệp định này đã vận dung Công ước Luật Biển năm 1982 và căn cứ vào hoàn cảnh thực tế để xác định vùng biển giữa đảo Phú Quốc – Thổ Chu – Poulo Wai và bờ biển Campuchia có đủ điều kiện là vùng nước lịch sử chung giữa hai nước. Hiệp định xác định giới hạn cụ thể của vùng nước lịch sử là thuộc chế độ nội thủy chung của hai nước và lấy đường Brévie được vạch năm 1939 là đường phân chia đảo trong khu vực.
Khu vực chồng lấn thềm lục địa giữa Việt Nam – Malaysia và Thái Lan trong Vịnh Thái Lan: Vùng chồng lấn ba bên Việt Nam, Malaysia và Thái Lan có diện tích không lớn (khoảng 876 km2) được hình thành bởi đường yêu sách của Việt Nam năm 1971 và ranh giới phía Bắc của vùng khai thác chung giữa Malaysia và Thái Lan.
Khu vực chồng lấn giữa Việt Nam và Malaysia: Việt Nam và Malaysia là hai quốc gia đối diện nhau trong Vịnh Thái Lan. Khoảng cách giữa bờ biển của lục địa hai nước trong khu vực này khoảng 205 hải lý. Năm 1979 Malaysia công bố một bản đồ mới, theo bản đồ này ranh giới thềm lục địa của Malaysia chồng lấn lên ranh giới thềm lục địa của Việt Nam do chính quyền Sài Gòn công bố năm 1971. Vùng chồng lấn này rộng khoảng 2.800km2. Sở dĩ có vùng chồng lấn này là do Malaysia đã sử dụng phương pháp đường trung tuyến giữa các đảo và bờ biển của Malaysia và bờ biển lục địa Việt Nam, bỏ qua hiệu lực của đảo Hòn Khoai. Đường ranh giới của chính quyền Sài Gòn năm 1971 cũng sử dụng phương pháp trung tuyến giữa bờ biển lục địa Việt Nam có tính tới hiệu lực đảo Hòn Khoai nhưng bỏ qua các đảo của Malaysia.
Quần đảo Hoàng Sa: Cả Việt Nam và Trung Quốc đều tuyên bố chủ quyền đối với các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Trung Quốc hiện đang chiếm giữ toàn bộ Hoàng Sa kể từ sau trận Hải chiến Hoàng Sa 1974 ngày 19 tháng 1 năm 1974.
Quần đảo Trường Sa: Có 6 quốc gia và vùng lãnh thổ chiếm giữ là: Việt Nam, Trung Quốc, philippin, Malaysia, Bruney, Đài Loan. Luận văn: Giải pháp khai thác chung ở các vùng biển chồng lấn.
3.2.2. Tình hình giải quyết tranh chấp quyết định trực tiếp đến việc áp dụng biện pháp KTC
Tình hình giải quyết tranh chấp trong khu vực là yếu tố trực tiếp ảnh hưởng đến khả năng áp dụng biện pháp hợp tác KTC. Thực tế cho thấy, nếu hai quốc gia đang căng thẳng trong vấn đề yêu sách chủ quyền chồng lấn thì giải pháp chính trị, ngoại giao rất khó khả thi. Nếu đường biên giới đã được phân định thành công thì việc áp dụng mô hình hợp tác KTC chỉ là vấn đề thời gian. Nhiều quốc gia khi ký hiệp định phân định đường ranh giới trên biển cũng đồng thời ký thỏa thuận hợp tác KTC. Hợp tác KTC là giải pháp tạm thời thường được các quốc gia tính đến khi các quốc gia chưa đi đến thống nhất trong vấn đề phân định đường ranh giới trên biển. Tuy nhiên, trong thực tế không phải bất kỳ tranh chấp chủ quyền nào cũng có thể được các quốc gia chấp nhận giải pháp tạm thời là hợp tác KTC.
Biển Đông đã và đang xảy ra rất nhiều tranh chấp, chủ yếu là tranh chấp song phương hai quốc gia và có cả tranh chấp của nhiều quốc gia đối với yêu sách chủ quyền một vùng biển nhất định (đa phương) liên quan đến chủ quyền yêu sách đối với các đảo, quần đảo và các bãi đá ngầm. Các tranh chấp này rất phức tạp luôn được sự quan tâm, chú ý của cộng đồng quốc tế. Chỉ duy nhất hai vụ tranh chấp song phương được giải quyết dứt điểm là: tranh chấp đảo Ligitan, Sipadan giữa Malaysia và Indonesia, tranh chấp đảo đá Trắng giữa Malaysia và Singapore. Các tranh chấp giữa Trung Quốc, Đài Loan và Việt Nam về quần đảo Hoàng Sa là tranh chấp song phương khó giải quyết dứt điểm. Tranh chấp giữa các nước trong khu vực và Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa sử dụng lại đường lưỡi bò (9 đoạn) phi lí, không dựa trên bất kỳ quy định nào của Luật quốc tế, biến khu vực không có tranh chấp thành khu vực có tranh chấp. Đường lưỡi bò bao trọn bốn nhóm quần đảo, bãi ngầm lớn trên Biển Đông là quần đảo Hoàng Sa, quần đảo Trường Sa, quần đảo Đông Sa và bãi Macclesfield với khoảng 75% diện tích mặt nước của Biển Đông, chỉ chừa lại khoảng 25% cho tất cả các nước Philippines, Malaysia, Brunei, Indonesia, và Việt Nam.
Các quốc gia trong khu vực có tranh chấp trên Biển Đông đã dựa vào ASEAN như là một trung gian để giải quyết tranh chấp giữa Trung Quốc và các thành viên của ASEAN. Các thỏa thuận giữa các quốc gia ASEAN và Trung Quốc bao gồm các cam kết thông báo cho nhau về bất kỳ động thái quân sự tại khu vực tranh chấp, và tránh xây dựng thêm công trình mới trên các hòn đảo. Trong đầu thế kỷ 21 Trung Quốc và ASEAN cũng đã bắt đầu các cuộc đàm phán nhằm tạo ra một quy tắc ứng xử nhằm giảm bớt căng thẳng đối với quần đảo tranh chấp, đã thống nhất Tuyên bố về cách ứng xử các bên trên Biển Đông (DOC). Tháng 7 năm 2011, Trung Quốc, Brunei, Malaysia, Philippines, Đài Loan và Việt Nam đã đồng ý với một bộ chỉ dẫn sơ bộ nhằm giải quyết tranh chấp. Tuy vậy, vấn đề khó khăn cho việc giải quyết tranh chấp là Trung Quốc luôn luôn chủ trương chỉ đối thoại song phương và tìm thỏa thuận với từng quốc gia tranh chấp trong khi một số quốc gia Đông Nam Á lại chủ trương đa phương hóa và quốc tế hóa vấn đề tranh chấp.
3.3. Một số mô hình hợp tác KTC gợi mở cho Việt Nam về triển vọng hợp tác KTC với các quốc gia trong khu vực Biển Đông
3.3.1 Áp dụng mô hình hợp tác song phương Luận văn: Giải pháp khai thác chung ở các vùng biển chồng lấn.
Các hiệp định KTC của các quốc gia trên thế giới trong thời gian qua đã đưa ra những loại hình hợp tác và những ý tưởng ưu việt mà Việt Nam có thể áp dụng đối với khu vực Biển Đông. Các Hiệp định được xây dựng nhằm chia sẻ quyền quản lý và phân chia lợi nhuận từ hoạt động khai thác tài nguyên dầu khí như: giữa Pháp và Tây Ban Nha, Anh và Nauy, A-rập Xê-út và Coét, A-rập Xê-út và Xu Đăng, Thái Lan và Malaysia, Hàn Quốc và Nhật Bản, Anh và Acgentina, Ghi nê Bít sao và Xê nê gan, Indonesia và Australia…thường thỏa thuận nêu rõ vùng KTC và các cơ sở pháp lý cho việc khai thác. Đặc biệt là các thỏa thuận phân chia khu vực KTC thành các tiểu vùng, có quy chế quản lý khác nhau có thể vận dụng vào những khu vực biển mà Việt Nam đang có tranh chấp về chồng lấn chủ quyền, quyền chủ quyền. Một số thỏa thuận điển hình như: thỏa thuận KTC giữa Hàn Quốc và Nhật Bản, thỏa thuận giữa Indonesia và Australia về vùng trống Timor, Hiệp định Anh và Acgentina [11,tr.424]. Như vậy, nhiều Hiệp định KTC song phương trên thế giới được xem là điển hình, có thể vận dụng ở mức độ nhất định trong quá trình xây dựng mô hình hợp tác KTC giữa các quốc gia ở khu vực Biển Đông trong đó có Việt Nam
3.3.2 Áp dụng mô hình hợp tác Đa phương
3.3.2.1. Vận dụng Mô hình Hiệp ước Nam Cực
Đây là sáng kiến của hai học giả người Mỹ là Douglas Johnston và Mark Valencia đề xuất dựa trên mô hình Hiệp ước Nam Cực [10, tr.346]. Luận văn: Giải pháp khai thác chung ở các vùng biển chồng lấn.
- Một số nội dung chính của Hiệp ước Nam Cực
Sau chiến tranh thế giới thứ 2, người ta đã quyết định lập một cơ chế quản lý việc khai thác tài nguyên ở Nam Cực. Năm 1959, có 12 quốc gia đã ký tham gia hiệp ước, cho tới nay có 49 quốc gia tham gia ký kết. Theo Hiệp ước, các bên cùng nhau lập ra một cơ quan quyền lực quốc tế có chức năng quản lý chung các hoạt động được quy định cụ thể trong Hiệp ước. Hai nguyên tắc được ghi nhận trong Hiệp ước là:
- Thể chế hóa các hoạt động hợp tác trong khu vực;
- Thiết lập một khu vực phi quân sự giúp thúc đẩy các hoạt động hợp tác và làm đông cứng (gác lại) các tuyên bố đòi hỏi về chủ quyền.
Thành viên cơ quan quyền lực này được xây dựng trên cơ sở thành viên của các nước có tranh chấp trực tiếp và các nước có quyền lợi liên quan. Hiệp ước cũng đưa ra một số quy định khác như Nam Cực sẽ luôn là lục địa trung lập về chính trị; thiết lập quyền được tự do nghiên cứu khoa học và bảo vệ môi trường; yêu cầu tất cả các nước ký hiệp định phải tôn trọng và bảo tồn sinh học…
Quan điểm vận dụng của hai học giả người Mỹ là Douglas Johnston và Mark Valencia vận dụng mô hình Nam cực vào quần đảo Trường Sa:
Một số điểm được cho là tương đồng nhất định giữa Trường Sa và Nam Cực để có thể vận dụng mô hình như: các đảo ở quần đảo Trường Sa không tồn tại một đời sống kinh tế riêng; đều là khu vực được đánh giá là có tiềm năng lớn về dầu khí; có nhiều quốc gia tuyên bố chủ quyền…
Đề xuất của hai học giả Douglas Johnston và Mark Valencia bằng việc các bên tranh chấp ở Biển Đông nên ký kết một Hiệp ước về Biển Đông để thiết lập một cơ chế quản lý đa phương nhằm mục đích xây dựng lòng tin, tiến tới thỏa thuận các lĩnh vực KTC theo quy định tại Công ước quốc tế về Luật biển năm 1982. Các bên tham gia Hiệp ước sẽ tạm thời dừng các tuyên bố về chủ quyền, từ bỏ việc sử dụng vũ lực, không gắn vấn đề Biển Đông với mục đích chính trị khác để xây dựng một “tiếng nói chung” trong việc khai thác tài nguyên. Luận văn: Giải pháp khai thác chung ở các vùng biển chồng lấn.
Có thể vận dụng một số nội dung trong Hiệp ước quản lý các hoạt động tài nguyên, khoáng sản Nam Cực (CRAMRA) cho quần đảo Trường Sa như sau:
Ngừng việc không nêu hoặc không cần công nhận yêu sách chủ quyền của các bên (mặc dù không bên nào yêu cầu các bên phải rút bỏ yêu sách chủ quyền của mình);
Phi quân sự hóa trong thời gian nhất định (ở Nam Cực là 05 năm);
Thiết lập cơ chế quản lý chung việc khai thác ngồn tài nguyên. Theo đó, các bên sẽ thành lập một cơ quan quản lý chung với việc cho phép các công ty tư nhân, nhà đầu tự tham gia khai thác tài nguyên. Ủy ban tài nguyên sẽ được xây dựng trên cơ sở thành viên của quốc gia có tranh chấp trực tiếp với thành viên của quốc gia có yêu sách liên quan để cân bằng lợi ích giữa các bên. Việc phân chia lợi nhuận sẽ được các quốc gia thỏa thuận trên nguyên tắc công bằng gữa việc đóng góp đối với khai thác tài nguyên.
3.3.2.2 Mô hình khu vực “di sản chung”
Nội dung của ý tưởng này dựa trên chế định “di sản chung của nhân loại” áp dụng đối với vùng đáy đại dương theo Công ươc Luật biển 1982 được Nghị viện Philippin đề xuất hợp tác KTC khu vực Biển Đông với tuyên bố rằng các nguồn tài nguyên khu vực này nên được thăm dò, khai thác, quản lý chung bởi tất cả các quốc gia vì lợi ích của tất cả các dân tộc. Tháng 8/1995, Tổng thống Đài Loan cũng từng đưa ra đề xuất 12 quốc gia và vùng lãnh thổ có lợi ích trong khu vực từ bỏ các yêu sách đối với tất cả các đảo đang tranh chấp và đầu tư 10 tỷ đô la thành lập Công ty khai thác Biển Đông để cùng nhau khai thác nguồn tài nguyên biển. Ý tưởng này xuất phát từ chế định “di sản chung của nhân loại” áp dụng đối với vùng đáy đại dương theo Công ước Luật biển năm 1982 [10, tr.358].
3.3.2.3 Vận dụng Mô hình Hiệp ước Svalbard (Hiệp định KTC ở quần đảo Spitsbergen) cho quần đảo Trường Sa
Theo quan điểm của các học giả Lu Ning (đề xuất vào năm 1995 và đã được Christopher C. Joyner nghiên cứu phát triển) [10, tr.349]. thì điểm giống nhau của hai quần đảo Trường Sa và Spitsbergen là đều nằm trên những tuyến hàng hải quan trọng và đều có nhiều tiềm năng về tài nguyên thiên nhiên. Nếu việc áp dụng Hiệp ước này được thực hiện ở Trường Sa thì các bên tranh chấp sẽ cùng nhau ký một Hiệp ước với nội dung tương tự, cụ thể: “Chủ quyền đối với quần đảo Trường Sa sẽ được trao cho một quốc gia tranh chấp, các quốc gia yêu sách khác vẫn tiếp tục duy trì các hoạt động dân sự, kinh tế theo nguyên tắc bình đẳng và không dùng vào mục đích quân sự. Luật áp dụng sẽ được bên quốc gia được trao quyền đặt ra nhưng phải được các quốc gia còn lại chấp thuận…”. Với đề xuất này, học giả Lu Ning với ý đồ là giành chủ quyền quần đảo Trường Sa cho Trung Quốc, các quốc gia yêu sách chủ quyền khác sẽ được hưởng một số quyền lợi nhất định.
Theo phân tích của nhóm tác giả Mark J. Valencia, Jonh M Vandyke, Noel. Ludwig (Trung tâm Đông Tây, Đại học Hawai), điểm khác biệt giữa Trường Sa và Spitsbergen là Trường Sa đã có sự hiện diện quân sự của các quốc gia yêu sách chiếm đóng, Spitsbergen trước khi được đưa ra ký kết Hiệp ước thì không quốc gia nào phản đối yêu sách chủ quyền thuộc Nauy (trừ Nga) và khu vực này không có sự hiện diện quân sự nào. Luận văn: Giải pháp khai thác chung ở các vùng biển chồng lấn.
3.3.2.4 Vận dụng Công thức bánh vòng “donut”
Ý tưởng của Giáo sư Hashim Djalan (Indonesia). Theo nội dung của Công thức này, áp dụng Công ước Luật Biển năm 1982 các quốc gia ven biển trong khu vực Biển Đông sẽ xác định phạm vi vùng biển ĐQKT và TLĐ của mình là 200 hải lý tính từ bờ biển của quốc gia mình và quản lý vùng biển đó. Vùng biển còn lại là vùng giữa Biển Đông sẽ được coi là khu vực “donut” (củ lạc) và có thể dùng làm khu vực phát triển chung cùng hợp tác bảo quản tài nguyên, cùng khai thác tài nguyên… Đồng thời tác giả còn đề nghị các đảo, bãi đá ngầm nằm trong vùng phát triển chung cần được mở cho các nước trong khu vực Biển Đông tới tham quan (không phương hải đến đòi hỏi chủ quyền của các đảo, đá đó), các đảo, bãi đá không được sử dụng như các căn cứ quân sự hoặc phục vụ mục đích quân sự không nên có vùng tiếp giáp, TLĐ và vùng ĐQKT riêng [10, tr.256].
Khi đề xuất này được đưa ra, các nước trong ASEAN không có quốc gia nào phản đối nhưng Trung Quốc thì tuyên bố bác bỏ vì giải pháp này đã vô hiệu hóa về yêu sách “đường lưỡi bò” của Trung Quốc.
3.3.2.5. Áp dụng mô hình hợp tác KTC theo Hiệp ước về Vùng trống Timor (Timor Gáp) giữa Australia và Indonesia
Ý tưởng của chuyên gia Lian A. Mito với quan điểm rằng mô hình “cộng quản” vùng trống mà Australia và Indonesia áp dụng có thể là giải pháp tạm thời cho tranh chấp tại khu vực Biển Đông. Tuy nhiên, chuyên gia này cũng thừa nhận tranh chấp tại Trường Sa là tranh chấp đa phương, phức tạp hơn nhiều, một giải pháp hợp tác KTC duy nhất áp dụng cho khu vực Trường Sa là tính khả thi không cao, khó có thể thực hiện được.
Do vậy, trên cơ sở những vùng chồng lấn do những tuyên bố chủ quyền tạo ra, cần phải chia vùng KTC ở Trường Sa thành 12 khu vực KTC, mỗi khu vực KTC sẽ có một Hiệp định hợp tác KTC sử dụng mô hình mà Australia và Indonesia áp dụng cho vùng trống Timor. Nhưng về mô hình quản lý khu vực Trường Sa sẽ phải lập thêm một cơ quan quản lý chung nữa, có nhiệm vụ giám sát và điều phối chung 12 khu vực KTC [10, tr.362].
Về quan điểm của chuyên gia Chirstopher C, Joyner cho rằng: Thỏa thuận về vùng trống Timor đáng chú ý bởi cách giải quyết thông qua việc thiết lập “vùng hợp tác chung”, điều này sẽ thu hút được sự quan tâm của của các quốc gia yêu sách chủ quyền đối với quần đảo Trường Sa. Luận văn: Giải pháp khai thác chung ở các vùng biển chồng lấn.
Các vùng khai thác khác nhau có thể được hình thành trên cơ sở tuyên bố chủ quyền khác nhau, nhưng phải thống nhất quan điểm là những quyền đặc biệt thuộc chủ quyền không thể gắn cho bất cứ một vùng nào. Trong tranh chấp quần đảo Trường Sa, vấn đề đi đến một sự nhất trí chung cho hợp tác KTC cũng là một vấn đề khó khăn bởi Trường Sa là khu vực tranh chấp đa phương gồm 5 quốc gia và 1 vùng lãnh thổ.
3.3.2.6 Phương án “gác tranh chấp, cùng khai thác” của Trung Quốc
Đầu những năm 90 của Thế kỷ 20, Trung Quốc đã đưa ra ý tưởng “chủ quyền của Trung Quốc, gác lại tranh chấp và tiến hành khai thác chung”.
Về cơ bản thì đề nghị này của Trung Quốc xét về hình thức thì nghe có vẻ là hợp lý, vì đề nghị này phụ hợp với các nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế và phù hợp với xu thế chung của thời đại là hợp tác cùng phát triển, đối thoại thay đối đầu. Tuy nhiên, ý đồ của Trung Quốc khi đưa ra ý tưởng này là cơ sở để Trung Quốc tham gia khai thác ở khu vực Biển Đông dựa vào yêu sách chủ quyền hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa và yêu sách “đường 9 đoạn” vốn bị cộng đồng quốc tế lên án. Nói cách khác, khi Trung Quốc đưa ra ý tưởng này là với ý đồ khẳng định chủ quyền của Trung Quốc ở khu vực Biển Đông, biến những vùng biển thuộc chủ quyền của các quốc gia khác thành chủ quyền của mình và biến những vùng biển không có tranh chấp thành vùng biển tranh chấp. Với yêu sách “đường 9 đoạn” , Trung Quốc ngang nhiên chiếm trên 80% Biển Đông, bất chập luật pháp Quốc tế. Hành động này của Trung Quốc nhằm biến vùng biển không có tranh chấp thành vùng biển có tranh chấp để phục vụ ý đồ bành trướng Biển Đông.
3.3.3 Một số nhận xét, đánh giá việc vận dụng, áp dụng những mô hình hợp tác KTC ở Biển Đông Luận văn: Giải pháp khai thác chung ở các vùng biển chồng lấn.
Một số hiệp định hợp tác KTC song phương và đa phương của các quốc gia trên thế giới trong thời gian qua được các chuyên gia đánh giá là rất khả thi nếu được áp dụng trong khu vực Biển Đông, mỗi mô hình (như giới thiệu ở phần 3.3.2) đều có những thuận lợi và khó khăn nhất định trong việc áp dụng, cụ thể như:
3.3.3.1. Việc áp dụng Mô hình Hiệp ước Nam Cực khi vận dụng vào khu vực quần đảo Trường Sa
Thuận lợi: Có những điểm tương đồng nhất định giữa Trường Sa và Nam Cực là các đảo ở quần đảo Trường Sa không tồn tại một đời sống kinh tế riêng; đều là khu vực được các chuyên gia đánh giá là có tiềm năng lớn về dầu khí; có nhiều quốc gia tuyên bố chủ quyền…
Khó khăn: Mô hình Hiệp ước Nam Cực chỉ là những đề xuất mang tính định hướng ban đầu khi vận dụng giải quyết tranh chấp ở Quần đảo Trường Sa, nếu áp dụng vào thực tế tranh chấp tại quần đảo Trường Sa thì sẽ gặp phải một số vấn đề khó khăn trong việc thỏa hiệp
Điểm khác biệt giữa Trường Sa với Nam Cực đó là Trường Sa nằm ở vị trí chiến lược quan trọng của nhiều quốc gia trong khu vực, là cửa ngõ an ninh quốc phòng, an toàn hàng hải nên các quốc gia liên quan không ngừng tăng cường sự hiện diện và quân sự nhằm đảm bảo yêu sách chủ quyền của mình nên việc “Phi quân sự hóa trong thời gian nhất định” và việc “Ngừng việc không nêu hoặc không cần công nhận yêu sách chủ quyền của các bên” là việc không hề đơn giản mà các quốc gia có thể chấp nhận.
Việc khai thác tài nguyên cũng như việc chia sẻ lợi ích khi thực hiện sẽ dựa trên tiêu chí và nguyên tắc nào để đảm bảo sự công bằng lợi ích [10, tr.349]…
3.3.3.2. Việc mô hình “di sản chung”
Việc áp dụng cho khu vực Biển Đông có nhiều điểm ưu việt cho việc giải quyết vấn đề tranh chấp Biển Đông. Tuy nhiên mô hình này cũng bộc lộ một số tồn tại nên dẫn tới việc áp dụng rất khó khả thi vì:
Khó khăn lớn nhất của việc áp dụng mô hình này ở Biển Đông là việc xác định khu vực nào của Biển Đông để áp dụng quy chế “di sản chung”. Việc thuyết phục để các quốc gia yêu sách chủ quyền từ bỏ một phần hoặc toàn bộ yêu sách chủ quyền của mình đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là việc sẽ không được các quốc gia Việt Nam và các quốc gia có yêu sách chủ quyền khác chấp nhận, mặc dù chỉ coi việc đó là giải pháp tạm thời[10, tr.358].
Khó khăn thứ hai, ngay cả trong trường hợp các bên tranh chấp chủ quyền có thể có được khu vực áp dụng quy chế “di sản chung”, thì việc triển khai được cũng hết sức phức tạp vì với sự tham gia của nhiều quốc gia có nhiều nên chính trị, kinh tế và văn hóa khác nhau nên khó tìm được tiếng nói chung. Việc xây dựng một cơ chế quốc tế để quản lý, giám sát các hoạt động chung tại khu vực này cũng rất khó khăn, việc nhận được sự đồng thuận của các quốc gia trong việc hợp tác KTC cũng là một vấn đề không thể giải quyết trong thời gian ngắn[10, tr.358]…
Nhận xét: Với tình hình thực tế tranh chấp trên Biển Đông như hiện nay, việc xây dựng một giải pháp tạm thời trên tinh thần của quy chế “di sản chung” của thế giới cũng rất cần thiết được các quốc gia trong khu vực Biển Đông nghiên cứu. Với Việt Nam, có thể đề xuất để vận dụng, áp dụng mô hình này vào khu vực Biển Đông với điều kiện là các bên thống nhất không áp dụng đối với khu vực hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Luận văn: Giải pháp khai thác chung ở các vùng biển chồng lấn.
3.3.3.3. Việc áp dụng mô hình Svalbard cho Trường Sa
Ưu điểm: Là nó giải quyết dứt điểm về yêu sách chủ quyền. Chủ quyền được trao cho một quốc gia nhưng các quốc gia yêu sách chủ quyền khác vẫn được quyền giữ được các đảo đã chiếm đóng với điều kiện phi quân sự và giới hạn lãnh hải các đảo trong vùng giới hạn tối đa là 04 hải lý; các bên yêu sách có thể được hưởng sự đối xử bình đẳng và có cơ hội như nhau trong hoạt động kinh tế, bất kỳ lãnh thổ nào giao cho bên yêu sách khác có thể đòi hỏi bên sở hữu tôn trọng việc sử dụng phần lãnh thổ của họ đã được đặt dưới sự kiểm soát tư nhân của các bên khác; các hợp đồng khai thác khoáng sản có thể được ký kết, tiền thuế thu được sẽ giành cho việc quản lý quần đảo này. Các công trình quân sự sẽ được phá bỏ hoặc sử dụng cho mục đích khác[10, tr.51].
Một số tồn tại: Đề xuất này khó có thể được áp dụng cho Trường Sa trong tình hình như hiện nay, vì các quốc gia yêu sách chủ quyền nhất là Việt Nam đều không sẵn sàng chấp nhận trao toàn bộ yêu sách chủ quyền của mình cho một quốc gia khác. Mặt khác, có thể thấy rõ ý đồ của học giả Lu Ning khi đưa ra giải pháp này giành chủ quyền đối với quần đảo Trường Sa cho Trung Quốc, Trung Quốc sẽ cho các quốc gia tranh chấp khác một số quyền lợi nhất định tại đây[10, tr.350].
Nhân xét: Hiệp ước này có thể áp dụng ở quần đảo Trường Sa vì có nhiều ưu điểm và lợi thế như đã nêu ở trên, các quốc gia có tranh chấp ở khu vực quần đảo Trường Sa có thể đàm phán hợp tác KTC khi luân phiên nhau đảm nhận vấn đề chủ quyền trong thời gian nhất định.
Việc áp dụng Công thức bánh vòng “donut” khu vực Biển Đông Ưu điểm: Là căn cứ vào Công ước Luật biển 1982, cho phép khẳng định quyền chủ quyền hơp pháp của các quốc gia ven biển đối với vùng ĐQKT và TLĐ của mình. Nếu được áp dụng thì nó giải quyết được vấn đề căng thẳng trong tranh chấp giữa các nước trong khu vực với Trung Quốc và làm vô hiệu hóa “đường lưỡi bò” phi lý của Trung Quốc…
Khó khăn, tồn tại: Với tiềm lực cả về quân sự và kinh tế như hiện nay của Trung Quốc, việc thuyết phục Trung Quốc từ bỏ dã tâm chiếm Biển Đông là vô cùng khó khăn. Luận văn: Giải pháp khai thác chung ở các vùng biển chồng lấn.
Nhận xét: Phương an này đáng để Việt Nam và các nước trong khu vực Biển Đông nghiên cứu áp dụng vì nó đảm bảo được chủ quyền của các quốc gia ven biển theo Luật quốc tế hiện đại.
3.3.3.5. Một số thuận lợi, khó khăn việc áp dụng áp dụng mô hình Hiệp ước về Vùng trống Timor (Timor Gáp) giữa Australia và Indonesia
Nhận xét: Mô hình “cộng quản” vùng trống Timor (Timor Gáp) mà Australia và Indonesia rất khó có thể áp dụng tranh chấp tại Trường Sa, vì tranh chấp ở Trường Sa là tranh chấp đa phương, phức tạp hơn nhiều, một giải pháp hợp tác KTC duy nhất áp dụng cho khu vực Trường Sa là tính khả thi không cao. Tuy nhiên, thỏa thuận về vùng trống Timor đáng chú ý bởi cách giải quyết thông qua việc thiết lập “vùng hợp tác chung”. Vì vậy, đối với Việt Nam cũng nên nghiên cứu phương án này để áp dụng những vùng biển tranh chấp đơn phương với các quốc gia trong khu vực.
Phương án “gác tranh chấp, cùng khai thác” của Trung Quốc Nhận xét: Chúng ta cần phải làm rõ việc “gác tranh chấp, cùng khai thác” theo đúng nghĩa, phù hợp với Luật quốc tế và có thể được Việt Nam và các quốc gia Đông Nam Á chấp nhận thì việc Trung Quốc phải tử bỏ yêu sách “đường 9 đoạn”. Trung Quốc đưa ra ý tưởng này là với ý đồ khẳng định chủ quyền của Trung Quốc ở khu vực Biển Đông, biến những vùng biển thuộc chủ quyền của các quốc gia khác thành chủ quyền của mình và biến những vùng biển không có tranh chấp thành vùng biển tranh chấp. Vì vậy, phương án này là không thể chấp nhận.
3.4 Một số kiến nghị, đề xuất hữu ích cho Việt Nam
Trong thời gian một số năm trở lại đây, Trung Quốc tiếp tục gia tăng các hoạt động bồi đắp, cải tạo, xây dựng trái phép các công trình, bố trí vũ khí, binh lính tại các đảo, bãi đá thuộc quần đảo Hoàng Sa – Trường Sa của Việt Nam; với việc đưa ra yêu sách đường lưỡi bò phi lý, từng bước thực hiện ý đồ độc chiếm Biển Đông, đe dọa hòa bình, ổn định trong khu vực, dẫn đến tình hình Biển Đông xuất hiện nhiều vấn đề phức tạp, nhạy cảm, liên quan đến nhiều nước, đe dọa đến chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của nước ta. Trước tình hình đó, chúng ta phải phối hợp và tiến hành đồng bộ các biện pháp để bảo vệ chủ quyền và lợi ích quốc gia trên biển. Một số kiến nghị, đề xuất cụ thể sau:
Một là, tập trung mọi nguồn lực đẩy mạnh phát triển kinh tế biển, hoàn thiện pháp luật về biển , đảo; tăng cường hơn nữa sự hợp tác phát triển với các quốc gia trong khu vực Biển Đông. Sớm đưa nước ta trở thành quốc gia mạnh về kinh tế biển trong khu vực; tiếp tục đối thoại tìm các giải pháp hòa bình, tham gia xây dựng Bộ Quy tắc ứng xử trên biển Đông (COC), kết hợp chặt chẽ các hình thức, biện pháp chính trị, ngoại giao, pháp lý, kinh tế, quốc phòng trong quản lý vùng trời, bảo vệ biển, đảo; thúc đẩy nhanh quá trình dân sự hóa trên biển, nhất là ở một số vùng biển, đảo có vị trí chiến lược kinh tế với xây dựng thế trận quốc phòng, an ninh nhằm bảo vệ chủ quyền quốc gia trên biển. Trên tinh thần những vấn đề còn đang bất đồng, tranh chấp song phương thì giải quyết theo hướng song phương; còn những vấn đề tranh chấp liên quan đến nhiều bên thì giải quyết đa phương và phải hết sức công khai, minh bạch giữa các nước liên quan. Kiên trì phấn đấu tìm kiếm một giải pháp cơ bản, lâu dài, không có hoạt động làm phức tạp thêm tình hình, duy trì ổn định trên cơ sở giữ nguyên hiện trạng, không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực, tuân thủ cam kết giải quyết các tranh chấp bằng các biện pháp hòa bình, trên cơ sở các nguyên tắc của luật pháp quốc tế, UNCLOS và năm nguyên tắc chung sống hòa bình, tăng cường nỗ lực xây dựng lòng tin, hợp tác đa phương về an toàn biển, nghiên cứu khoa học, chống tội phạm; nghiêm chỉnh thực hiện DOC, hướng tới xây dựng Bộ Quy tắc ứng xử (COC) để Biển Đông thực sự là vùng biển hòa bình, ổn định, hữu nghị và phát triển, vì lợi ích của tất cả các nước trong khu vực, vì an ninh chung của khu vực và trên toàn thế giới. Luận văn: Giải pháp khai thác chung ở các vùng biển chồng lấn.
Hai là, Tập trung nỗ lực xây dựng lực lượng quản lý, bảo vệ biển, đảo vững mạnh. Trong bối cảnh bất ổn trên các vùng biển của Tổ quốc như hiện nay, việc tập trung nỗ lực xây dựng lực lượng quản lý, bảo vệ biển, đảo và các hoạt động kinh tế biển, nhất là Hải quân nhân dân Việt Nam, Cảnh sát biển Việt Nam, Bộ đội Biên phòng, dân quân tự vệ biển và lực lượng Kiểm ngư vững mạnh, đủ sức hoàn thành tốt chức năng, nhiệm vụ được giao là một yêu cầu bức thiết. Xây dựng và hiện đại hóa lực lượng bảo vệ chủ quyền biển, đảo trong tình hình mới, nhất là ở một số vùng biển, đảo có vị trí chiến lược kinh tế với xây dựng thế trận quốc phòng, an ninh nhằm bảo vệ chủ quyền quốc gia trên biển.
Ba là, đẩy mạnh công tác tuyên truyền rộng rãi đến toàn thể nhân dân trong nước và quốc tế, để ngày càng nhiều người dân Việt Nam hiểu biết về pháp luật, tuân thủ các quy định của pháp luật khi tham gia các hoạt động trên biển, đồng thời trên cơ sở hiểu biết pháp luật, mỗi người dân nhận thức và tham gia đấu tranh bảo vệ chủ quyền và lợi ích quốc gia trên Biển Đông. Trong thời gian qua, sự phản ứng mạnh mẽ của Việt Nam theo đường ngoại giao, cùng tiếng nói kịp thời, cần thiết, không né tránh một số vấn đề mà trước đây thường cho là nhạy cảm của các nhà khoa học, sử học, luật sư và báo chí trong nước đã nâng cao nhận thức, khơi dậy lòng yêu nước của nhân dân, đồng thời qua đó các cơ quan báo chí, thông tấn lớn trên thế giới đưa tin nhiều về vấn đề này khiến dư luận quốc tế hiểu hơn về cơ sở pháp lý, lịch sử, lập trường của Việt Nam trong việc giải quyết tranh chấp trên Biển Đông. Điều đáng mừng là, qua thông tin rộng rãi trên báo chí Việt Nam và nước ngoài, nhiều chính khách, học giả trên thế giới, dư luận quốc tế đã lên tiếng đồng thuận, ủng hộ lập trường chính nghĩa, lẽ phải của Việt Nam.
Thứ tư, không ngừng đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ chuyên gia giỏi trong lĩnh vực pháp luật quốc tế. Việc đào tạo đội ngũ chuyên gia giỏi về pháp luật quốc tế nói chung và pháp luật biển quốc tế nói riêng không chỉ có ý nghĩa quan trọng trong việc xây dựng pháp luật biển Việt Nam mà còn có tác động tới việc bảo vệ chủ quyền trên biển của Việt Nam. Chúng ta cần một đội ngũ chuyên gia giỏi về luật pháp quốc tế để đưa ra được những bước đi phù hợp, vận dụng luật pháp quốc tế linh hoạt trong đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo.
Trong thời gian tới, chúng ta cần tiếp tục theo dõi chặt chẽ diễn biến tình hình, kiên quyết bảo vệ chủ quyền và lợi ích quốc gia trên biển; đồng thời đẩy mạnh công tác đàm phán, phân định biển với các nước láng giềng; tăng cường hợp tác trên biển theo tinh thần Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 và Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC), giữ gìn hòa bình và ổn định trên biển, cố gắng thu hẹp bất đồng, tìm kiếm giải pháp ổn định lâu dài mà các bên chấp nhận được. Đẩy mạnh phát triển kinh tế gắn với bảo vệ an ninh – quốc phòng trên biển; tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao kiến thức về chủ quyền biển đảo quốc gia.
KẾT LUẬN Luận văn: Giải pháp khai thác chung ở các vùng biển chồng lấn.
Hợp tác KTC là điều ước quốc tế song phương hoặc đa phương giữa các quốc gia hữu quan để quản lý về khai thác tài nguyên biển. Hợp tác khai thác chung là một giải pháp tạm thời nhưng có tác dụng vô cùng to lớn, tạm thời gác lại các tranh chấp, hạn chế tình trạng căng thẳng dẫn đến chạy đua vũ trang hoặc dẫn đến tình trạng xung đột vũ trang. Khai thác chung không những góp phần vào việc củng cố quan hệ ngoại giao giữa các nước, tăng cường sự hiểu biết, hữu nghị giữa các quốc gia mà Khai thác chung còn được xem như là một cách thức để các quốc gia phối hợp khai thác tài nguyên biển một cách hiệu quả, đem lại lợi ích kinh tế cho các bên mà vẫn đảm bảo chủ quyền quốc gia và bảo vệ môi trường biển… Các dàn xếp tạm thời có tính chất thực tiễn được các quốc gia áp dụng một cách linh hoạt và hiệu quả nhất trong việc ký kết các thỏa thuận về hợp tác KTC ở các vùng biển mà các quốc qia đang có tranh chấp về chủ quyền, quyền chủ quyền. Có thể khẳng định rằng, hợp tác KTC là ở những vùng biển chồng lấn là một trong những giải pháp hiệu quả nhất hiệu quả nhằm điều hòa lợi ích của quốc gia, giảm căng thẳng, bảo vệ chủ quyền và đem lại lợi ích kinh tế, đem lại hòa bình cùng phát triển và bảo vệ lợi ích quốc gia và môi trường biển.
Biển Đông được bao bọc bởi 9 quốc gia (gồm Trung Quốc, Phi-lip-pin, Ma-lay-xia, Bruney, In-đô-nê-xia, Xin-ga-po, Thái Lan, Campuchia, Việt Nam) và 1 vùng lãnh thổ (Đài Loan), và là biển nửa kín rìa Thái Bình Dương, giàu có về tài nguyên cũng đang tồn tại nhiều tranh chấp phức tạp về phân định biển và chủ quyền biển đảo là một đặc điểm nổi bật hiện nay của Biển Đông. Phức tạp nhất của tranh chấp Biển Đông vẫn là tranh chấp chủ quyền đối hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và các vùng biển kề cận. Việc giải quyết các tranh chấp gặp nhiều khó khăn, không thể nhanh chóng được. Song song với quá trình đàm phán phân định biển, các quốc gia trong khu vực Biển Đông đều có chủ trương hướng đến việc hợp tác KTC tài nguyên biển.
Là một quốc gia ven biển trong khu vực Biển Đông, Việt Nam cũng đang phải đối diện với các tranh chấp song phương và đa phương phức tạp về chủ quyền biển đảo. Những năm qua, Việt Nam đã đạt được những thành tựu nhất định về phân định biển: ký kết Hiệp định với Thái Lan về phân định ranh giới trên biển giữa hai nước trong Vịnh Thái Lan (năm 1997), Hiệp định phân định Vịnh Bắc Bộ với Trung Quốc (năm 2000), Hiệp định phân định TLĐ với In-đô-nê-xia (năm 2003). Cùng với phân định biển, Việt Nam đã ký kết và cùng với các bên ký kết đang thực thi một số thỏa thuận KTC: hợp tác nghề cá trong Vịnh Bắc Bộ với Trung Quốc (năm 2000), KTC dầu khí ở khu vực chồng lấn yêu sách TLĐ với Ma-lay-xia (năm 1992), và hợp tác quản lý, tuần tra chung với Campuchia trong vùng nước lịch sử chung (năm 1982). Những thành tựu đó thể hiện Việt Nam là quốc gia đi đầu trong khu vực về thực thi Công ước Luật biển 1982 và chủ trương giải quyết hòa bình các vấn đề trên biển. Xuất phát từ yêu cầu phát triển kinh tế đất nước, bối cảnh giải quyết tranh chấp trên Biển Đông, căn cứ thực tiễn, xu hướng phát triển và pháp luật quốc tế, Việt Nam cùng với các quốc gia hữu quan trong khu vực Biển Đông sẽ hướng đến việc tiếp tục đàm phán, ký kết và thực thi các thỏa thuận hợp tác KTC. Việc tiếp tục nghiên cứu học hỏi các mô hình hợp tác KTC của các quốc gia trên thế giới có ý nghĩa hết sức quan trọng, nó có tác dụng gợi mở cho Việt Nam trong việc vận dụng, áp dung các mô hình, các đề xuất, các ý tưởng vào khu vực Biển Đông và Việt Nam. Luận văn: Giải pháp khai thác chung ở các vùng biển chồng lấn.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Hợp tác khai thác chung ở các vùng biển chồng lấn

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Luận văn: Thực tiễn khai thác chung ở các vùng biển chồng lấn