Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Giải pháp đấu tranh phòng chống tội nhận hối lộ ở VN hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Thực trạng, thực tiễn xét xử và các giải pháp đấu tranh phòng chống tội nhận hối lộ ở Việt Nam hiện nay dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
3.1 TỔNG QUAN VỀ TỘI NHẬN HỐI LỘ TRÊN THẾ GIỚI
Tham nhũng, hối lộ đã gây nên những hậu quả vô cùng to lớn cho nền kinh tế của các nước trên thế giới. Tham nhũng, hối lộ làm cho sự phát triển kinh tế xã hội chậm lại, làm giảm lòng tin của nhân dân vào Nhà nước, đến một chừng mực nào đó gây mất ổn định tình hình kinh tế – chính trị, trật tự xã hội. Tác hại của nó không chỉ dừng lại ở một quốc gia nhất định mà nó còn diễn ra ở hầu hết các quốc gia, các châu lục, không phân biệt giàu nghèo, thể chế chính trị. Đặc biệt trong những năm gần đây thì tình hình tham nhũng, hối lộ ngày càng tăng và mức độ ngày càng nghiêm trọng hơn, và tham nhũng hối lộ đang trở thành quốc nạn đối với tất cả các quốc gia trên thế giới.
Theo một nghiên cứu của Ngân hàng thế giới (World Bank) hàng năm trên thế giới có khoảng 1.000 tỷ USD bị tham nhũng dưới dạng đưa hối lộ. Điều này cho thấy một thực trạng đáng báo động và rất đáng để chúng ta suy ngẫm: rõ ràng cuộc chiến chống tham nhũng, hối lộ thời gian qua chưa đạt kết quả cao. Theo bà Rosa Inés Ospina Roblede – Phó chủ tịch Tổ chức Minh bạch Quốc tế (TI) cho rằng, các nhà tài trợ quốc tế cũng như Chính phủ phải minh bạch hóa các khoản tài chính, công khai các dự án công cộng nhằm hạn chế tình trạng tham nhũng, nhận hối lộ. Đồng thời đẩy mạnh quá trình tự do dân chủ và nhất là cần có thái độ không khoan nhượng đối với vấn nạn này từ những người đang đứng đầu Chính phủ. Ông Peter Eighen – Chủ tịch của tổ chức Minh bạch quốc tế đã đưa ra quan điểm: “Tham nhũng, hối lộ chính là nguyên nhân của sự nghèo đói, khóa chặt người dân trong vùng nghèo khổ” [33]. Điều này cũng chính xác hơn khi các nước nghèo cũng chính là những nước có tình trạng tham nhũng, hối lộ nhiều nhất. Theo Tổ chức Minh bạch Quốc tế, chỉ riêng Châu Phi hàng năm có khoảng 148 tỷ USD đã bị mất hay thất thoát do tệ nạn tham nhũng, hối lộ gây ra, tương đương với ½ khoản nợ nước ngoài của lục địa này (theo con số nợ nước ngoài của Tổ chức tiền tệ quốc tế (IMF) châu Phi nợ nước ngoài khoảng 248 tỷ USD). Và theo nghiên cứu mới nhất của của tổ chức này thì các hộ gia đình tại các nước như: Cameroon, Ghana và Nigeria phải dùng đến 20% tổng sản phẩm nội địa để hối lộ mỗi năm, có khoảng 31% đến 45% hộ gia đình tại Cameroon, Paraguay, Campuchia và Mehico thừa nhận có hối lộ trong năm 2003 [33, tr. 4]. Luận văn: Giải pháp đấu tranh phòng chống tội nhận hối lộ ở VN.
Châu Á là khu vực rất năng động và có nhiều tiềm năng phát triển với những dự án hàng chục triệu đô la. Và đây cũng là miếng mồi ngon cho tham nhũng, hối lộ. Trong thời gian qua, các quốc gia đã có nhiều nỗ lực trong cuộc chiến chống tham nhũng, hối lộ. Điển hình như Trung Quốc, ít nhất có 25 cán bộ lãnh đạo trong đó có những cán bộ lãnh đạo cấp cao như: Phó chủ tịch Quốc hội, Thứ trưởng Bộ công an, Bí thư tỉnh ủy, thành ủy, tỉnh trưởng… đã lãnh án tử hình, chung thân và tù có thời hạn vì tội nhận hối lộ. Trong kế hoạch chống tham nhũng Trung Quốc đưa chống tham nhũng vào giáo dục cho thế hệ trẻ bắt đầu từ học sinh tiểu học. Gần đây, Brunei đã đưa vào chương trình giáo dục tiểu học và trung học môn chống tham nhũng là bắt buộc. Trong cuộc họp tại Liên hợp quốc về chống tham nhũng, các quốc gia đều thống nhất cho rằng sự minh bạch là một biện pháp chống tham nhũng hữu hiệu nhất [33, tr.7]. Công cụ chống tham nhũng hối lộ là sự minh bạch khiếu nại của công chúng cùng với sự minh bạch trong ngân sách, tài chính, minh bạch mua sắm.
Hiến chương của Liên hợp quốc có hiệu lực từ tháng 12/2005 đã tạo ra một khuôn khổ pháp lý quốc tế trong việc chống lại tham nhũng, hối lộ, thu hồi lại những khoản tiền bị tham nhũng, thúc đẩy ngân hàng và các tổ chức tài chính có những hành động chống rửa tiền, cho phép các quốc gia thanh tra các công ty nước ngoài và cá nhân có dính dáng đến tham nhũng tại nước của mình. Cấm việc đưa hối lộ cho các quan chức nước ngoài. Loại bỏ tham nhũng, hối lộ và cải cách trong việc nhận tiền tài trợ là những điều quan trọng để các khoản hỗ trợ tài chính, tài trợ có hiệu quả hơn và để mục tiêu phát triển kinh tế của thế giới được thành công. Ông David Nussbaum, giám đốc điều hành Tổ chức Minh bạch Quốc tế nói: “Tham nhũng, tham ô không phải là một thảm họa tự nhiên. Đó là những khoản ăn cắp cơ hội được tính toán từ những kẻ tham lam. Các nhà lãnh đạo phải cải thiện cách làm việc, thông thoáng và tin cậy hơn thay vì chỉ hứa suông” [33, tr. 10].
3.2 THỰC TRẠNG VỀ TỘI NHẬN HỐI LỘ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Hàng năm, Tổ chức Minh bạch Quốc tế đều công bố chỉ số cảm nhận tham nhũng (CPI) xếp hạng các quốc gia và vùng lãnh thổ trên cơ sở cảm nhận về tham nhũng trong khu vực công tại các quốc gia và vùng lãnh thổ đó. CPI là chỉ số về tham nhũng được sử dụng rộng rãi nhất trên thế giới. Đây là một chỉ số tổng hợp – kết hợp kết quả của các cuộc thăm dò ý kiến và đánh giá tham nhũng do các tổ chức có uy tín thu thập. Tham nhũng nói chung bao gồm các hoạt động bất hợp pháp, được cố tình che giấu và chỉ được đưa ra ánh sáng khi có các vụ bê bối, điều tra hay truy tố. Vì vậy, rất khó có thể đánh giá mức độ tuyệt đối của tham nhũng tại các quốc gia hay vùng lãnh thổ trên cơ sở các dữ liệu “cứng” mang tính thực chứng. Những nỗ lực nhằm đánh giá tham nhũng như: so sánh các vụ hối lộ được báo cáo, số lượng các vụ truy tố hay nghiên cứu các vụ xét xử ở tòa án liên quan trực tiếp đến tham nhũng đều không thể coi là những chỉ số chính xác thể hiện mức độ tham nhũng. Những số liệu này, đúng hơn, chỉ thể hiện hiệu quả hoạt động của các công tố viên, của tòa án hay giới truyền thông trong việc điều tra và phát hiện tham nhũng. Vì vậy, xem xét cảm nhận về tham nhũng của những người ở vị trí có thể đưa ra đánh giá về tham nhũng trong khu vực công là phương pháp đáng tin cậy nhất để so sánh mức độ tham nhũng một cách tương đối giữa các quốc gia.
Ngày 3 tháng 12 năm 2014, Tổ chức Minh bạch Quốc tế (TI) công bố Chỉ số Cảm nhận Tham nhũng năm 2014 (CPI 2014), xếp hạng 175 quốc gia và vùng lãnh thổ dựa trên cảm nhận của các doanh nhân và các chuyên gia trong nước về tham nhũng trong khu vực công ở mỗi quốc gia và vùng lãnh thổ. Năm 2014, Việt Nam đạt 31/100 điểm, đứng thứ 119 trên bảng xếp hạng toàn cầu và thứ 18 trên tổng số 28 quốc gia và vùng lãnh thổ được đánh giá trong khu vực Châu Á – Thái Bình Dương.
Một điều đáng chú ý là điểm số CPI của Việt Nam không thay đổi trong ba (03) năm liên tiếp (2012 – 2014) và tham nhũng trong khu vực công vẫn là một vấn đề nghiêm trọng của quốc gia. Trong khi Việt Nam không có thay đổi về điểm số, các quốc gia láng giềng lại đang cải thiện kết quả CPI của họ. Trong số 9 quốc gia Đông Nam Á được đánh giá năm nay, Việt Nam đứng thứ 6, chỉ xếp hạng trên Lào, Campuchia và Myanmar. Đa số các quốc gia trong khu vực đều có cải thiện về mặt điểm số (tăng từ 1 đến 3 điểm), ngoại trừ Myanmar là nước cũng không có thay đổi nào về điểm số, Lào (giảm 1 điểm) và Singapore (giảm 2 điểm) [34]. Nhận xét chung về khu vực châu Á – Thái Bình Dương, CPI 2014 chỉ ra: bất chấp rất nhiều tuyên bố và cam kết mạnh mẽ, cuộc chiến chống tham nhũng vẫn chưa chuyển biến. Hầu hết các nước trong khu vực này đều có điểm số thấp hơn trung bình. Điểm số thấp là dấu hiệu cho thấy hối lộ đã tràn lan, thiếu các chế tài trừng phạt tham nhũng cũng như các cơ quan nhà nước chưa đáp ứng yêu cầu của công dân. Luận văn: Giải pháp đấu tranh phòng chống tội nhận hối lộ ở VN.
- Bảng 3.1. Kết quả CPI hàng năm của Việt Nam
Đảng và Nhà nước đã khẳng định tham nhũng hối lộ là một trong bốn nguy cơ đối với đất nước và chế độ. Nạn tham nhũng hối lộ khéo dài trong bộ máy của hệ thống chính trị và trong các tổ chức kinh tế là một trong những nguy cơ lớn đe dọa sự sống còn của chế độ. Đảng tiếp tục khẳng định phải tăng cường tổ chức và cơ chế, tiếp tục đẩy mạnh cuộc đấu tranh chống tham nhũng trong bộ máy nhà nước và toàn thể hệ thống chính trị, ở các cấp, các ngành từ trung ương đến cơ sở. Gắn chống tham nhũng với chống lãng phí, quan liêu, buôn lậu đặc biệt chống các hành vi lợi dụng chức quyền để làm giàu bất chính. Có thể thấy trong nhiều năm qua Đảng và Nhà nước ta đã nỗ lực thể hiện quan điểm phòng, chống tham nhũng, hối lộ nhưng tình hình thực tế hiện tượng tham nhũng, hối lộ vẫn diễn ra hết sức phức tạp và có chiều hướng gia tăng.
Trong số những vụ việc liên quan đến tham nhũng, hối lộ được phát hiện và xử lý có nhiều vụ có quy mô lớn và tính chất nghiêm trọng như: Vụ vi phạm trong quản lý, sử dụng đất đai ở Đồ Sơn (Hải Phòng), vụ Công ty Pjico trong lĩnh vực quản lý tài chính, vụ rút ruột khu chung cư tại Kim Giang (Hà Nội)… Mức độ nghiêm trọng của các vụ án tham nhũng, nhận hối lộ đang có xu hướng gia tăng qua từng năm. Theo số liệu của Bộ công an, nếu như năm 1993 tổng thiệt hại do tham nhũng gây ra ước chừng hơn 300 tỷ thì đến năm 2004 đã tăng lên 112.700 tỷ. Bộ Công an đã đưa ra danh sách 10 vụ tham nhũng hối lộ lớn được xem là điển hình ở nước ta trong những năm qua. Đó là vụ: đường dây 500 KV Bắc Nam, vụ công ty dệt Nam Định, vụ khách sạn Bàn Cờ, vụ Tamexco, vụ trạm kiểm soát liên hợp Đồng Bàng – Lạng Sơn, vụ Công ty Pin ắc quy Vĩnh Phú, vụ Lã Thị Kim Oanh, vụ án Bùi Tiến Dũng ở Bộ Giao thông vận tải, vụ xí nghiệp xây dựng công trình giao thông, vụ xí nghiệp xây dựng số 2 và vụ xã Thuận Hưng…
Theo báo cáo của Viện kiểm sát nhân dân tối cao về công tác ngành kiểm sát nhân dân tại kỳ họp thứ 8, Quốc hội khóa XI ngày 19 tháng 9 năm 2005 thì trong năm 2005 đã phát hiện, khởi tố 242 vụ tham nhũng, hối lộ tăng 57 vụ so với năm 2004. Theo số liệu chưa đầy đủ, từ năm 2001 đến năm 2005, Tòa án nhân dân các cấp đã giải quyết, xét xử theo thủ tục sơ thẩm hơn 600 vụ án hình sự với hơn 1.500 bị cáo phạm các tội về chức vụ. Trong đó số vụ nhận hối lộ được đưa ra truy tố hầu hết là các vụ án có tính chất nghiêm trọng trở lên, các bị cáo đều đã bị Tòa án xử phạt tù. Luận văn: Giải pháp đấu tranh phòng chống tội nhận hối lộ ở VN.
Tình hình tội phạm nhận hối lộ ở Việt Nam đã được phản ánh một phần thông qua các cuộc nghiên cứu khảo sát. Vào cuối năm 2005, Ban Nội chính Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (gọi tắt là Ban Nội chính Trung ương) với sự tài trợ của Cơ quan Hợp tác phát triển quốc tế Thụy Điển (SIDA) đã thực hiện báo cáo kết quả điều tra tham nhũng ở Việt Nam. Mục đích của báo cáo là để nhận diện các hình thức phổ biến và nguyên nhân của tham nhũng cũng như nguyên nhân hạn chế hiệu quả hoạt động chống tham nhũng ở Việt Nam. Báo cáo này dựa trên kết quả các nghiên cứu khảo sát trong 7 tỉnh (Sơn La, Hải Dương, Hà Nội, Nghệ An, Thừa Thiên – Huế, Thành phố Hồ Chí Minh và Đồng Tháp). Kết quả được nêu ra trong báo cáo này đã báo động về thực trạng tham nhũng nói chung và nhận hối lộ ở Việt Nam hiện nay. Gần một phần ba số người được hỏi coi tham nhũng là vấn nạn mà Việt Nam đang phải đối mặt. Cũng theo Báo cáo này, có tới 47% số cán bộ và công chức được hỏi trả lời họ sẽ nhận nếu được hối lộ hoặc lưỡng lự không muốn từ chối. Về hậu quả của tham nhũng, nghiên cứu khảo sát này cho thấy các thiệt hại như: suy giảm uy tín của cán bộ nhà nước trong nhân dân, lạm phát tăng giá hàng hóa, thiếu tin tưởng của các nhà đầu tư… Theo kết quả khảo sát trong nghiên cứu nêu trên, trong số 10 cơ quan được bình chọn là nơi hành vi tham nhũng xảy ra phổ biến nhất thì đứng đầu là cơ quan địa chính nhà đất, tiếp theo đó là cơ quan hải quan, cảnh sát giao thông đứng ở vị trí thứ ba, sau đó lần lượt là cơ quan tài chính và thuế vụ, cơ quan quản lý và các đơn vị trong ngành xây dựng, cơ quan cấp phép xây dựng, y tế, cơ quan kế hoạch và đầu tư, cơ quan quản lý và các đơn vị trong ngành giao thông và cuối cùng là công an kinh tế [1].
Hiện nay, việc đưa và nhận hối lộ đã xảy ra ở hầu hết các lĩnh vực của đời sống xã hội như quản lý đất đai, xây dựng cơ bản, tài chính ngân hàng, giáo dục, y tế… Hối lộ trong lĩnh vực xây dựng đang là hiện tượng diễn ra khá phổ biến ở Việt Nam. Cụ thể đó là tình trạng “chạy thầu” các công trình trong lĩnh vực xây dựng cơ bản. Theo một cán bộ trong ngành công an, quá trình điều tra, truy tố và xét xử các vụ án về tham nhũng trong lĩnh vực này cho thấy “hầu hết các bị can, bị cáo có khai báo hoặc qua khám xét thu giữ các tài liệu ghi chép thể hiện việc sử dụng tiền, vật chất làm quà biếu xén cho một số cán bộ có chức vụ, quyền hạn trong việc xét duyệt, cấp giấy phép, đấu thầu, thẩm định, cho rút vốn, giám sát, nghiệm thu, thanh quyết toán công trình… với số lượng nhiều tỷ đồng” [26, tr. 40]. Thậm chí hiện tượng hối lộ đã xâm nhập cả vào những lĩnh vực mà vấn đề đạo đức và tính chính trực vốn là niềm tự hào và cũng rất được coi trọng như lĩnh vực y tế, đã có không ít hiện tượng đưa và nhận hối lộ để được bác sĩ khám chữa bệnh, mổ xẻ, kê đơn, làm hồ sơ bệnh án giả… Từ những thực tế trên đã phản ánh một thực trạng đáng báo động là hiện tượng hối lộ đang trở nên lan rộng và phổ biến. Theo khảo sát của Ban Nội chính Trung ương, hành vi nhận hối lộ trực tiếp nằm trong nhóm những hành vi tham nhũng phổ biến nhất hiện nay với tỷ lệ hơn 1/3 số cán bộ, công chức được hỏi trả lời họ đã gặp các dạng hành vi nhận hối lộ trong một năm qua. Mức độ phổ biến đã khiến cho tệ nạn nhận hối lộ đang dần được chấp nhận như một thứ “văn hóa” của nhiều bộ phận cán bộ, công chức và người dân, tới mức độ việc thực hiện hành vi hối lộ ở một số nơi đã được coi như không thể thiếu: “Thậm chí, trong một số lĩnh vực, ở một số cơ quan và một bộ phận cán bộ, công chức, việc tham ô, hối lộ được coi là chuyện đương nhiên, là “luật bất thành văn” [28, tr. 18].
Thủ đoạn phạm tội nhận hối lộ ngày càng tinh vi, xảo quyệt. Hành vi đưa và nhận hối lộ đang được “biến tướng” dưới những hình thức như quà biếu, quà cảm ơn và các khoản thưởng [16, tr. 80]. Hay được che đậy bằng các hình thức tinh vi như: thỏa thuận tăng giá trị hợp đồng để nhận tiền “lại quả”, cố tình tạo lý do để các cá nhân, đơn vị dưới quyền phải biếu tiền hoặc tặng quà… Đồng thời, tội phạm nhận hối lộ thực hiện dưới hình thức đồng phạm cũng đang có xu hướng gia tăng. Từ thực tế đó đã cho thấy tình trạng tham nhũng, hối lộ ở nước ta không có khuynh hướng giảm mà ngày càng gia tăng. Do đó cần đưa ra những biện pháp kịp thời để ngăn chặn nạn tham nhũng hối lộ đang hoành hành ở nước ta. Thực tiễn đấu tranh phòng chống tội phạm tham nhũng hối lộ trong những năm qua cho thấy các tội phạm nhận hối lộ thường diễn ra trong các lĩnh vực: kinh tế, ngân hàng, xuất nhập khẩu, xây dựng… Đối tượng tham gia thường là những cán bộ có chức vụ, quyền hạn thậm chí cả những cán bộ lãnh đạo ở cơ quan trung ương cũng câu kết với cán bộ lãnh đạo địa phương để nhận hối lộ, rút ruột các khoản tiền mà Nhà nước đầu tư vào các dự án ở các vùng kinh tế còn gặp nhiều khó khăn, lạc hậu. Ví dụ như vụ án đưa và nhận hối lộ liên quan đến dự án đầu tư phát triển kinh tế xã hội huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu. Dự án đầu tư phát triển kinh tế xã hội huyện Mường Tè là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước, nhằm từng bước nâng cấp hạ tầng cơ sở điện – đường – trường – trạm cho bà con dân tộc trong huyện. Bộ Kế hoạch và Đầu tư đồng ý chấp nhận đề nghị của Ủy ban nhân dân tỉnh Lai Châu xây dựng nâng cấp tuyến đường Nậm Pục – Pắc Ma có độ dài 47 km từ đường nông thôn lên đường cấp 6 miền núi với tổng mức đầu tư khoảng 92 tỷ đồng. Công ty Hoa Ban (nay gọi là Công ty xây dựng phát triển dân tộc và miền núi) được Ủy ban nhân dân huyện Mường Tè chọn làm đơn vị thi công. Trong quá trình thi công Lê Minh Thiết là Giám đốc một doanh nghiệp tư nhân đã dùng hơn 1,2 tỷ đồng để hối lộ nhiều cán bộ trong một số ngành ở tỉnh Lai Châu và ở Trung ương. Trong đó Lý Văn Phong – phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Mường Tè kiêm trưởng ban quản lý công trình đã nhận hối lộ 34 triệu, Trương Tiến Mạnh – phó trưởng ban quản lý công trình nhận hối lộ 12 triệu đồng… Theo lời khai của Trần Hùng Sơn và Nguyễn Văn Minh thì Sơn và Minh đã đưa hối lộ cho một số cán bộ ở tỉnh và Trung ương số tiền hàng tỷ đồng. Tòa án cấp sơ thẩm và phúc thẩm đã tuyên phạt Trần Hùng Sơn tù chung thân, Nguyễn Văn Minh 20 năm tù, các bị cáo khác bị phạt từ 3 đến 15 năm tù tùy tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội. Đây là vụ án hối lộ có liên quan đến nhiều cơ quan, nhiều cán bộ từ Trung ương đến địa phương, việc xác định hành vi phạm tội của các bị cáo cũng còn nhiều ý kiến trái chiều.
Có thể thấy một điểm chung của các tội phạm về nhận hối lộ đó là đều rất khó để phát hiện, do chủ thể của tội phạm này là những người có chức vụ quyền hạn, có trình độ chuyên môn cao, thực hiện hành vi rất tinh vi và xảo quyệt. Khi bị phát hiện thì dùng những thủ đoạn đưa hối lộ, lợi dụng sự quen biết hoặc nhờ những người có thế lực giúp đỡ. Xuất phát từ yêu cầu thực tế đó Đảng và Nhà nước đã đề ra công tác phòng chống tội nhận hối lộ có hiệu quả hơn, Tòa án nhân dân tối cao đã phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Công an chỉ đạo các cơ quan tiến hành tố tụng đề cao tinh thần trách nhiệm để phát hiện và xử lý sớm, nghiêm minh các đối tượng có hành vi nhận hối lộ. Bên cạnh đó, Tòa án còn tích cực áp dụng các hình phạt bổ sung và các biện pháp nhằm thu hồi số tiền, tài sản đã nhận hối lộ để khắc phục hậu quả do loại tội phạm này gây ra.
3.3 THỰC TIỄN XÉT XỬ VÀ NHỮNG BẤT CẬP TRONG QUÁ TRÌNH XỬ LÝ TỘI NHẬN HỐI LỘ Luận văn: Giải pháp đấu tranh phòng chống tội nhận hối lộ ở VN.
Tội phạm nhận hối lộ là tội có tính chất phức tạp, chính vì vậy, việc phát hiện và xử lý tội phạm này bằng pháp luật hình sự trên thực tế thường gặp nhiều khó khăn. Mức độ áp dụng luật hình sự xử lý tội phạm nhận hối lộ ở Việt Nam còn rất thấp nếu so sánh với mức độ tội phạm xảy ra. Những con số thống kê sau đây về số vụ án và số bị cáo bị xét xử sơ thẩm về tội nhận hối lộ trong thời gian 7 năm từ 2007 đến 2013 có thể phản ánh phần nào thực tế đó.
- Bảng 3.2: Tổng số vụ và số bị cáo bị xét xử sơ thẩm về tội nhận hối lộ (2007 – 2013)
Số liệu thống kê xét xử của Tòa án cho thấy số lượng vụ án và bị cáo bị xét xử sơ thẩm về tội nhận hối lộ trong 7 năm qua là rất nhỏ. Theo thống kê của ngành kiểm sát, đối với tội nhận hối lộ, trong thời gian từ năm 2000 đến năm 2005, Viện kiểm sát các cấp đã truy tố 143 vụ với 529 bị can. Trong cùng thời gian đó, Tòa án đã xét xử sơ thẩm 101 vụ với 391 bị cáo. Như vậy là tỷ lệ số vụ Tòa án đã xét xử sơ thẩm so với số vụ Viện kiểm sát đã truy tố là hơn 70% và tỷ lệ số bị cáo bị xét xử sơ thẩm so với số bị can bị truy tố là xấp xỉ 74%. Những con số này cũng phản ánh một thực tế là việc tìm ra chứng cứ xác đáng để chứng minh hành vi có đủ dấu hiệu của tội nhận hối lộ nhằm đưa ra xét xử trước tòa gặp rất nhiều khó khăn. Theo số liệu thống kê của cả hai ngành Kiểm sát và Tòa án trong những năm gần đây, số người bị điều tra, truy tố và xét xử về tội nhận hối lộ mặc dù còn ở mức khiêm tốn song vẫn chiếm tỷ lệ cao thứ hai trong tổng số người bị điều tra, truy tố và xét xử về các tội phạm về tham nhũng và chỉ đứng sau tội tham ô tài sản. Như vậy có thể thấy bên cạnh tội tham ô tài sản thì tội nhận hối lộ cũng đang là một mối nguy hại cao đối với hoạt động của bộ máy nhà nước và đang là loại hành vi phạm tội mà người có chức vụ, quyền hạn thực hiện nhiều hơn so với các tội phạm về tham nhũng khác. Luận văn: Giải pháp đấu tranh phòng chống tội nhận hối lộ ở VN.
Qua nghiên cứu thực tiễn xét xử tội nhận hối lộ trong thời gian qua có thể thấy, nhìn chung việc xử lý tội phạm đã được thực hiện đúng pháp luật. Tuy gặp rất nhiều khó khăn nhưng các cơ quan tố tụng đã thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ do pháp luật quy định trong việc phát hiện, điều tra, truy tố và xét xử các tội phạm về hối lộ, đã bảo đảm việc xác định đúng người, đúng tội. Tòa án nhân dân cùng với sự hỗ trợ của các cơ quan bảo vệ pháp luật khác đã nỗ lực trong việc xét xử công minh và áp dụng hình phạt tương xứng đối với những người phạm tội nhận hối lộ. Trong nhiều vụ án, Toà án đã trả hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát yêu cầu điều tra bổ sung hoặc Tòa án cấp phúc thẩm đã hủy bản án cấp sơ thẩm, chuyển hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát điều tra lại để bảo đảm việc chứng minh tội phạm cũng như xác định đúng người, đúng tội. Với những vụ án phức tạp, Tòa án đã phải tiến hành xét xử nhiều lần. Điển hình như vụ án đưa hối lộ của các bị cáo Lương Đức Tuấn và Lê Hồng Giang tại Thái Bình năm 2006 do Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm, khi xét xử phúc thẩm Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao nhận thấy những chứng cứ kết tội các bị cáo chưa đủ sức thuyết phục nên đã quyết định hủy bản án sơ thẩm, chuyển hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình điều tra lại theo thủ tục chung, sau đó lại xét xử phúc thẩm vụ án một lần nữa theo kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình. Thực tế trên phản ánh tính phức tạp của hoạt động áp dụng pháp luật đối với các tội phạm về hối lộ, đồng thời cho thấy tinh thần trách nhiệm và ý thức tuân thủ pháp luật của các cơ quan tố tụng trong hoạt động này. Hoạt động chứng minh tội phạm đã có tính thuyết phục, bảo đảm sự phù hợp giữa các tình tiết của vụ án với những dấu hiệu pháp lý cấu thành các tội phạm về hối lộ. Điều đó cho thấy công tác áp dụng luật hình sự để điều tra, truy tố và xét xử loại tội phạm nguy hiểm và phức tạp này đã có những tiến bộ rõ rệt. Việc áp dụng luật hình sự đối với tội phạm nhận hối lộ đã được thực hiện khá thận trọng, tỉ mỉ, vì đây là loại tội phạm khó chứng minh, lại thường liên quan đến các đối tượng phạm tội là người có chức vụ. Các vụ án về nhận hối lộ đã bị truy tố nhìn chung được xét xử nghiêm minh và bị áp dụng hình phạt tương đối nghiêm khắc. Mức hình phạt các bị cáo bị áp dụng đã phù hợp với tính chất và mức độ nguy hiểm của tội phạm mà họ thực hiện.
Những vụ án với chủ thể của tội phạm là người có chức vụ cao hoặc của hối lộ có giá trị lớn hoặc có một số tình tiết tăng nặng đã được xử lý nghiêm khắc với nhiều mức hình phạt cao được áp dụng. Ví dụ: trong vụ án đưa và nhận hối lộ để chạy hạn ngạch hàng dệt may sang Hoa Kì, các bị cáo phạm tội nhận hối lộ như Mai Văn Dâu (nguyên Thứ trưởng Thường trực Bộ Thương mại) đã bị xử phạt 12 năm tù, Lê Văn Thắng (nguyên Phó vụ trưởng Vụ xuất nhập khẩu – Bộ Thương mại bị xử 17 năm tù; vụ án tham nhũng liên quan đến đất đai tại quận Gò Vấp – Thành phố Hồ Chí Minh đã được xét xử nghiêm minh với mức án dành cho bị cáo Trần Kim Long nguyên Chủ tịch Ủy ban nhân dân quận là 11 năm tù về tội đưa hối lộ và 3 năm tù về tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng đối với người khác để trục lợi; vào tháng 10 năm 2010 bị cáo Huỳnh Ngọc Sĩ – nguyên giám đốc Ban quản lý dự án đại lộ Đông – Tây Thành phố Hồ Chí Minh với hành vi nhận hối lộ của một số viên chức Nhật Bản đã bị xét xử sơ thẩm với mức án rất nghiêm khắc là tù chung thân. Việc xử phạt nghiêm minh vụ án này đã góp phần không nhỏ vào công tác xử lý và phòng ngừa tội phạm về hối lộ. Luận văn: Giải pháp đấu tranh phòng chống tội nhận hối lộ ở VN.
Cùng với việc áp dụng các hình phạt chính, một hình phạt bổ sung có tác dụng phù hợp với tính chất của các tội phạm về hối lộ là phạt tiền cũng đã được Tòa án áp dụng nhằm tăng cường tác dụng của hình phạt. Ví dụ: trong vụ án xử Bùi Tiến Dũng nguyên tổng giám đốc PMU 18 thuộc Bộ giao thông vận tải về hành vi đưa hối lộ, Tòa án đã quyết định phạt tiền bị cáo bằng một lần giá trị của đưa hối lộ là 1.168.657.000 đồng. Việc áp dụng các biện pháp tư pháp cũng đã được thực hiện trong các vụ án phạm tội về hối lộ. Tòa án đã áp dụng triệt để biện pháp tư pháp tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm theo quy định tại Điều 41 Bộ luật hình sự năm 1999 trong hầu hết các vụ án. Ví dụ như tịch thu tiền là phương tiện dùng để đưa hối lộ, tịch thu điện thoại di động những người phạm tội dùng để liên lạc với nhau v.v…
Những bản án như vậy đã thể hiện được sự nghiêm minh và công bằng. Việc áp dụng luật hình sự đối với tội nhận hối lộ trong những vụ án như thế này đã là một thành công của các cơ quan bảo vệ pháp luật. Bên cạnh những thành công của công tác áp dụng pháp luật hình sự xử lý các tội phạm về hối lộ, một số hạn chế vẫn còn tồn tại. Số liệu thống kê về hoạt động xét xử phúc thẩm của Tòa án đã phần nào phản ánh hiện trạng này:
- Bảng 3.3: Thống kê xét xử phúc thẩm của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội về tội nhận hối lộ theo Điều 279 BLHS (2007 – 2011)
Chúng ta điều biết, đặc trưng cơ bản của tham nhũng hối lộ chỉ xảy ra ở đối tượng có chức, có quyền. Nhưng trong quá trình chống tham nhũng, hối lộ chúng ta mới mạnh về hô hào chứ chưa mạnh về biện pháp, bước đi, cách làm cụ thể. Thậm chí, còn có trình trạng áp dụng đấu tranh không đúng đối tượng, khiến dư luận xã hội cho rằng việc chống tham nhũng chỉ là hình thức. Ví dụ trong luật phòng chống tham nhũng có quy định về việc buộc các Đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp phường, xã phải kê khai tài sản. Hãy thử nhìn vào cơ cấu của cơ quan quyền lực ở địa phương thì đa số trong số họ là những cán bộ đã nghĩ hưu, tham gia công tác địa phương, vậy thì làm gì nảy sinh quyền lực mà tham nhũng, hối lộ để phải áp dụng biện pháp kê khai tài sản. Khi nói về cuộc đấu tranh chống tham nhũng, nhiều cán bộ lão thành cách mạng đã đặt lại câu hỏi: “Chống tham nhũng – ai sẽ chống ai?”. Cán bộ địa phương hô hào chống tham nhũng; cán bộ tỉnh, thành phố cũng kêu gọi chống tham nhũng; cán bộ Trung ương cũng vậy! Nhưng cụ thể ai là người “chống”, ai là đối tượng phải tập trung “chống” và ai phải chịu trách nhiệm về trình trạng chống tham nhũng ở ngành mình, cấp mình? Tham nhũng xảy ra ở đối tượng có chức, có quyền, nếu không có cơ chế giám sát minh bạch thì chính những cán bộ hô hào ấy lại “chống” chính mình hay sao? Thực trạng tham nhũng, hối lộ ngày càng gia tăng về số lượng, nghiêm trọng về tính chất, hàng loạt những vụ án bị bỏ sót, những dự án bị xà xẻo, một phần lớn tiền của nhân dân đang chảy vào túi một bộ phận người có địa vị quan trọng trong xã hội. Tham nhũng, hối lộ xảy ra mọi lúc, mọi nơi, người ta tìm mọi cách để tham nhũng, hối lộ. Trước tình hình đó, việc tìm ra những bất cập trong công tác phát hiện và xử lý loại tội phạm này để từ đó tìm ra giải pháp đấu tranh sao cho có hiệu quả là điều hết sức cần thiết.
Nhìn chung, hiện nay việc đấu tranh phòng chống tội phạm về tham nhũng ở nước ta còn gặp phải một số bất cập sau:
- Những bất cập trong công tác phát hiện và xử lý tội nhận hối lộ;
- Những bất cập trong việc thực hiện cơ chế kinh tế;
- Những bất cập trong công tác tổ chức cán bộ;
- Những bất cập trong công tác thanh tra, giám sát;
- Những bất cập trong pháp luật hình sự về tội nhận hối lộ.
3.3.1 Những bất cập trong công tác phát hiện và xử lý tội nhận hối lộ Luận văn: Giải pháp đấu tranh phòng chống tội nhận hối lộ ở VN.
Trong những năm qua, công tác phát hiện và xử lý tội phạm nhận hối lộ còn bộc lộ nhiều hạn chế, yếu kém. Vai trò của các cơ quan thanh tra, điều tra, kiểm tra… của Nhà nước còn chưa nghiêm túc và thiếu kiên quyết trong việc xử lý những cán bộ thoái hóa, biến chất, vi phạm pháp luật nên tội phạm nhận hối lộ, tham nhũng hiện nay vẫn chưa được ngăn chặn, thậm chí còn đang có chiều hướng phát triển. Nhiều vụ án được phát hiện nhưng trong quá trình điều tra có sự bao che không được đem ra xử lý tạo vỏ bọc cho loại tội phạm này phát triển. Phần lớn những tội về tham nhũng hối lộ bị phát hiện chỉ được xử lý nội bộ, một số ít vụ được xử lý hình sự. Chính vì thế mà mặc dù xã hội thường xuyên lên án nhưng tình hình thực tế cho thấy đến nay tội phạm này vẫn chưa được ngăn chặn thậm chí có chiều hướng gia tăng. Sự hạn chế trong công tác phát hiện xử lý tội phạm làm cho bọn tội phạm coi thường pháp luật; không phát huy được tác dụng trừng trị, ngăn chặn, phòng ngừa riêng và phòng ngừa chung. Những thiếu sót trong việc xử lý tội phạm đã góp phần làm trầm trọng thêm tình hình tham nhũng. Thực tế xét xử cho thấy không ít trường hợp vụ án mang tính chất nghiêm trọng lẽ ra phải áp dụng hình phạt nặng hơn theo đúng trách nhiệm hình sự, song người phạm tội lại được áp dụng hình phạt nhẹ hơn không tương xứng với hành vi phạm tội. Mức hình phạt được quy định trong Bộ luật hình sự hiện nay chưa thật sự chặt chẽ và chưa được hợp lý. Nhìn chung còn hai khuynh hướng: xử quá nhẹ và quá nặng, trong đó thì khuynh hướng xử nhẹ hơn so với tính chất, hành vi phạm tội thì nhiều hơn. Trong nhiều vụ án lẽ ra phải phạt tù giam nhưng lại cho hưởng án treo hoặc đáng lẽ phải chịu 10 năm tù thì lại xử chỉ còn 5 năm hay 7 năm tù. Nhiều vụ án có đủ những tình tiết để truy cứu trách nhiệm hình sự thì lại bị xử phạt hành chính. Nhiều nơi đã cố tình chia nhỏ vụ án lớn ra thành nhiều vụ án nhỏ nhằm giảm trách nhiệm cho bị can, áp dụng hình phạt nhẹ hơn, hoặc khắc phục hậu quả bồi thường một ít thì có thể miễn truy tố trách nhiệm hình sự. Công tác xử lý cán bộ, đảng viên giữ chức vụ quyền hạn chưa thực sự kiên quyết. Thực tế cho thấy nhiều cán bộ đảng viên có hành vi tham nhũng, hối lộ đủ dấu hiệu và yếu tố cấu thành tội phạm không những không bị xử lý về hình sự mà chỉ bị kỷ luật rồi luân chuyển họ từ bộ phận này sang bộ phận khác trong cùng cơ quan hoặc chuyển sang cơ quan khác. Nhiều vụ tham nhũng, hối lộ ở nước ta bị phanh phui nhưng việc xử phạt còn quá nhẹ, việc xử lý chưa đi tới cùng, chỉ cảnh cáo nhắc nhở thiếu tinh thần trách nhiệm thôi thì chưa đủ vì đối tượng tham nhũng, hối lộ là những người có chức quyền, nếu Đảng và Nhà nước không trừng trị nghiêm khắc họ sẽ như “con bệnh nhờn thuốc” từ đó dẫn đến hệ quả là nhân dân mất niềm tin vào Đảng và Nhà nước. Luận văn: Giải pháp đấu tranh phòng chống tội nhận hối lộ ở VN.
Việc đấu tranh với tội nhận hối lộ của các cơ quan bảo vệ pháp luật còn gặp nhiều khó khăn và hiệu quả còn thấp là do một số nguyên nhân sau:
- Sự phối hợp giữa các cơ quan bảo vệ pháp luật với nhau và với cơ quan tổ chức khác còn thiếu chặt chẽ;
- Tinh thần quyết tâm đấu tranh với tham nhũng hối lộ của một bộ phận cán bộ trong các cơ quan bảo vệ pháp luật chưa cao;
- Số lượng cán bộ còn thiếu và yếu về năng lực, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, điều kiện vật chất còn thiếu thốn, lạc hậu.
Việc hướng dẫn, giải thích pháp luật để xác định đúng các tội danh vi phạm pháp luật cũng chưa thống nhất, thiếu sự hướng dẫn của các cơ quan có thẩm quyền, cho nên các ngành, các địa phương gặp nhiều lúng túng trong việc xác định tội danh và hình thức xử lý. Trong quá trình xử lý còn có sự can thiệp, bao che của một số cơ quan, cá nhân, nhất là cán bộ sai phạm là cán bộ Đảng viên. Hoạt động của các cơ quan bảo vệ pháp luật như Thanh tra, Kiểm sát, Tòa án có nhiều khó khăn về lực lượng cán bộ và phương tiện hoạt động nhất là ở cấp cơ sở quận, huyện, thị xã. Trình trạng phổ biến là thiếu cán bộ được đào tạo có hệ thống pháp lý, trình độ năng lực của một số Thanh tra viên, Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán không đáp ứng được nhu cầu hiện nay. Giữa các cơ quan nội chính còn thiếu sự phối hợp chặt chẽ ngay từ đầu, do đó thời gian giải quyết kéo dài, chậm trễ, vẫn còn trình trạng phổ biến là hồ sơ trả đi trả lại, có những vụ Công an bắt rồi hồ sơ mới chuyển qua.
Việc phát hiện tội phạm còn quá ít so với thực tế xảy ra. Vấn đề đặt ra là tại sao tội phạm tham nhũng, hối lộ bị bỏ lọt nhiều. Để trả lời cho câu hỏi này phải nghiên cứu nguyên nhân của trình trạng này. Tội phạm tham nhũng, hối lộ không bị phát hiện là do một số nguyên nhân chủ yếu sau:
- Do chủ thể của tội nhận hối lộ là người có chức vụ, quyền hạn. Những chủ thể này vì vụ lợi đã lợi dụng chức vụ quyền hạn để thực hiện tội phạm cũng như để che giấu tội phạm. Đây chính là yếu tố gây khó khăn, cản trở cho việc phát hiện, điều tra về tội phạm tham nhũng;
- Do chủ thể của tội nhận hối lộ là người có chức vụ, quyền hạn cho nên nạn nhân và những người khác có biết thông tin về tham nhũng cũng không dám tố cáo vì sợ trả thù;
- Do chủ thể của tội nhận hối lộ là người có trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cao do đó ở loại tội phạm này thường có phương thức thực hiện và che giấu tội phạm rất tinh vi, xảo quyệt nên khó phát hiện;
- Do việc buông lỏng trong công tác thanh tra dẫn đến nhiều hành vi tham nhũng xảy ra không được phát hiện kịp thời hoặc tuy có phát hiện nhưng vì nhiều lý do khác nhau trong đó có hiện tượng bao che nên việc nhận hối lộ bị bỏ qua hoặc chỉ bị xử lý kỷ luật, trong số này có không ít hành vi nhận hối lộ đã cấu thành tội phạm.
3.3.2. Những bất cập trong thực hiện cơ chế kinh tế Luận văn: Giải pháp đấu tranh phòng chống tội nhận hối lộ ở VN.
Công cuộc đổi mới nền kinh tế đất nước đã đạt được những thành tựu to lớn, như tăng trưởng kinh tế liên tục với tốc độ tương đối cao, đưa nước ta thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu, đời sống của nhân dân được nâng cao. Từ sự biến đổi mạnh mẽ về kinh tế dẫn đến sự biến động trên nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội. Bên cạnh những tác động tích cực từ sự biến động này thì cũng là một nguyên nhân cơ bản tạo điều kiện cho tội phạm tham nhũng, hối lộ hoành hành phát triển. Trong những năm gần đây, đã xảy ra hàng loạt những biến động xấu về kinh tế xã hội làm ảnh hưởng mạnh mẽ đến đời sống chính trị – xã hội, văn hóa… Tình hình tội phạm diễn biến hết sức phức tạp, đặc biệt các tội về nhận hối lộ đã gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước, làm giảm uy tín của Đảng và Nhà nước đối với nhân dân. Mặc dù cơ chế quản lý xã hội kiểu cũ đã dần dần bỏ nhưng cơ chế quản lý mới chưa được hình thành một cách đồng bộ, đặc biệt là vấn đề phân phối thu nhập giữa những người lao động, giữa cơ sở này với cơ sở khác, giữa ngành này với ngành khác, giữa Trung ương với địa phương có sự chênh lệch quá mức. Có những ngành có mức thu nhập quá cao trong khi có những ngành có mức thu nhập lại quá thấp. Thu nhập của người lao động khác nhau do năng lực và trình độ cao hay thấp. Người lao động trí óc, lao động có trình độ tay nghề cao thì thu nhập cao hơn so với lao động chân tay, lao động đơn giản. Người có chức vụ thu nhập cao hơn nhân viên, người lao động ở các ngành nghề, các thành phần kinh tế, vùng, miền và các tỉnh, thành phố khác nhau thì cũng có thu nhập khác nhau. Đây chính là nguyên nhân làm nảy sinh các loại tham vọng ích kỷ khác nhau nhằm có được những thu nhập, phúc lợi vật chất không tương xứng với năng lực và công sức của bản thân vào công việc của xã hội nên tìm đủ mọi cách bòn rút lao động của người khác trong xã hội. Chính vì sự bất hợp lý trong việc phân phối thu nhập đã tạo điều kiện cho những kẻ cơ hội lợi dụng sơ hở đó để hối lộ, tham ô, chiếm đoạt tài sản của Nhà nước, của nhân dân. Luận văn: Giải pháp đấu tranh phòng chống tội nhận hối lộ ở VN.
3.3.3. Những bất cập trong công tác tổ chức cán bộ
Trong những năm gần đây tội phạm nhận hối lộ phát triển ngày càng phổ biến và gây hậu quả hết sức nghiêm trọng chủ yếu do những sai lầm khuyết điểm trong hoạt động của nhiều cơ quan Đảng và Nhà nước, do sự tha hóa biến chất của một bộ phận cán bộ, đảng viên. Nguyên nhân này đã được Đảng ta thẳng thắn nêu ra trong nhiều văn kiện Đại hội toàn quốc của Đảng. Ở nhiều ngành, nhiều lĩnh vực các cơ quan tổ chức đã không tuân thủ những nguyên tắc, chiến lược công tác cán bộ Đảng. Tình trạng muốn xử lý nội bộ, xử lý nhẹ còn rất phổ biến. Do sai lầm trong công tác bố trí, sử dụng cán bộ và do buông lỏng quản lý, thiếu kiểm tra, đánh giá cán bộ nên trước sự cám dỗ của những lợi ích vật chất, một bộ phận cán bộ, đảng viên bị tha hóa đã trở thành những kẻ tội phạm vơ vét tài sản của Nhà nước, của nhân dân. Khi thấy cán bộ đảng viên của mình bị truy tố trước pháp luật thì nhiều lãnh đạo đã tìm mọi cách che chắn bảo vệ vì động cơ cục bộ hoặc sợ liên quan đến bản thân.
Công tác tổ chức cán bộ còn có sơ hở, bất cập cả về cơ chế, chính sách, cả về tổ chức thực hiện. Do vậy không quản lý chặt chẽ, không nắm chắc tình hình cán bộ về năng lực, trình độ thực tế, về ưu điểm, khuyết điểm, về công tác, sinh hoạt, nơi cư trú, về đạo đức, lối sống… để những kẻ cơ hội, thực dụng, tha hóa, tham nhũng chui được vào các chức vụ lãnh đạo, quản lý ở các cơ quan, đơn vị. Cơ quan, tổ chức và cán bộ ở nơi có tham nhũng, tiêu cực chưa làm tốt công tác theo dõi, quản lý cán bộ, tham mưu cho cấp có thẩm quyền trong việc xem xét, cách chức, đề bạt, bổ nhiệm cán bộ vào các chức vụ lãnh đạo, quản lý những người có đủ tiêu chuẩn, điều kiện.
Cơ chế về từ chức, thay thế, kỷ luật, cách chức, bãi nhiệm, miễn nhiệm đối với cán bộ có vi phạm (kể cả người trực tiếp vi phạm và người chịu trách nhiệm liên đới) chưa rõ ràng, cụ thể và đầy đủ nên còn gặp khó khăn, lúng túng trong việc xử lý khi có vụ việc tham nhũng, tiêu cực xảy ra. Luận văn: Giải pháp đấu tranh phòng chống tội nhận hối lộ ở VN.
3.3.4. Những bất cập trong công tác thanh tra, giám sát
Công tác thanh tra giám sát hiện nay chưa thực sự đáp ứng đòi hỏi của người dân và yêu cầu thực tế. Đã có đơn vị liên tục có đơn thư tố cáo, khiếu nại nhưng khi cơ quan chức năng thanh tra xong thì tình trạng tham nhũng hối lộ lại tiếp diễn. Thậm chí có những trường hợp chính cán bộ lãnh đạo trong cơ quan thanh tra là những người tham nhũng hối lộ. Ví dụ như vụ việc ở Công ty thiết kế và xây dựng dầu khí (PVECC). Trong vụ án này có Vụ phó, Trưởng đoàn Thanh tra chính phủ ông Lương Cao Khải bị xét xử về các tội danh: Đưa hối lộ, nhận hối lộ, lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ; hai Phó đoàn Thanh tra Chính phủ là Dương Văn Lực và Bùi Xuân Bảy bị xét xử về tội nhận hối lộ.
Trong lĩnh vực giám sát, trong mỗi cơ quan luôn có tổ chức Đảng, Công đoàn, Thanh tra nhân dân; về cơ quan dân cử thì có Hội đồng nhân dân, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức đoàn thể, chính trị – xã hội thực hiện vai trò giám sát đối với hoạt động chuyên môn. Nhưng vì những lý do khác nhau nên hiệu lực giám sát của tổ chức này còn nhiều hạn chế. Tuy nhiên, chúng ta có nguồn lực vô tận trong hoạt động giám sát, đó là quần chúng nhân dân. Vấn đề là nếu chúng ta phát huy được dân chủ, có cơ chế công khai minh bạch thì quần chúng sẽ là lực lượng giám sát khách quan và hùng hậu nhất. Nhưng cần phải đưa ra một thực tế đó là: có nhiều trường hợp quần chúng phát hiện có dấu hiệu tham nhũng, nhận hối lộ… đã dũng cảm đứng lên tố cáo, nhưng đơn thư của họ lại được trả về nơi bị tố cáo giải quyết và trở thành nạn nhân của sự trù dập. Có những vụ việc nhận hối lộ, tiêu cực nghiêm trọng, nếu không có cơ quan báo chí, cơ quan bảo vệ pháp luật hoặc cơ quan có cấp trên can thiệp, tiếp sức kịp thời tạo áp lực mạnh mẽ thì những người tố cáo đã bị ảnh hưởng đến sinh mạng, chính trị và vụ việc sẽ bị “chìm xuồng”.
Có một thực tế là ở những cơ quan, đơn vị thường xảy ra tham nhũng, hối lộ thường mất dân chủ hoặc dân chủ hình thức, nên không tổ chức hoặc tổ chức một cách hình thức, không tạo điều kiện cho cán bộ, Đảng viên, công chức thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở theo đúng phương châm: “dân biết dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, giám sát”, dẫn đến quyền làm chủ của quần chúng bị triệt tiêu, bị người đứng đầu hoặc một số ít người thâu tóm, điều phối. Vì vậy dân chủ bị vi phạm nghiêm trọng, tham nhũng từ đó ít bị phát hiện, nên không bị xử lý mà vẫn còn tồn tại.
3.3.5. Những bất cập trong quy định của pháp luật hình sự về tội nhận hối lộ
Hệ thống pháp luật nói chung ở nước ta còn khập khiễng, chưa đồng bộ, pháp luật về hành chính còn nhiêu khê, rườm rà đã tạo nhiều khe hở cho những cán bộ công chức thoái hóa biến chất lợi dụng để thực hiện các hành vi tham nhũng hối lộ. Mức hình phạt quy định trong Bộ luật hình sự hiện nay vẫn chưa thực sự hợp lý và chặt chẽ.
Các văn bản quy phạm pháp luật xử lý về tội nhận hối lộ còn ít, điển hình có Bộ luật hình sự 1999 tuy có nhiều tiến bộ hơn so với Bộ luật hình sự năm 1985 nhưng chỉ mới có một điều quy định về tội nhận hối lộ (Điều 279). Tuy về hình thức có quy định về hình phạt tử hình nhưng trên thực tế áp dụng thì thì còn rất hạn chế. Chính điều đó đã làm giảm hiệu quả của hình phạt, dẫn đến tỷ lệ tội phạm về tham nhũng hối lộ vẫn có chiều hướng ngày càng gia tăng.
3.4 CÁC GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VÀ ĐẤU TRANH PHÒNG CHỐNG TỘI NHẬN HỐI LỘ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY Luận văn: Giải pháp đấu tranh phòng chống tội nhận hối lộ ở VN.
Đấu tranh chống tham nhũng, hối lộ là cuộc đấu tranh lâu dài, không được chủ quan nóng vội. Trong đó giải pháp lâu dài và lý tưởng nhất đó là làm cách nào để mọi người không còn muốn tham nhũng, nhận hối lộ nữa. Bởi lẽ suy cho cùng nguyên nhân chính dẫn đến tham nhũng, nhận hối lộ là do yếu tố con người. Chúng ta không thể thực hiện giải pháp này trong một thời gian ngắn mà muốn thực hiện giải pháp này có hiệu quả cần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân bằng cách nâng cao tiền lương, tiến tới xây dựng một xã hội phát triển, văn minh. Đây là chế độ cộng sản chủ nghĩa mà Đảng và Nhà nước ta đang hướng tới. Hiện nay Việt Nam đã triển khai thực hiện nhiều biện pháp mang tính tổng thể và toàn diện nhằm phòng ngừa và đấu tranh chống tội tham nhũng, nhận hối lộ như đẩy mạnh hoàn thiện hệ thống chính sách pháp luật về quản lý nhà nước nói chung, ban hành các chính sách, văn bản pháp luật cụ thể về chống tội nhận hối lộ, mở rộng tuyên truyền, giáo dục tư tưởng pháp luật nhằm nâng cao nhận thức và sự tham gia đấu tranh, bài trừ tham nhũng nhận hối lộ của toàn xã hội. Đồng thời tăng cường các hoạt động thanh tra, điều tra, truy tố, xét xử nhằm phát hiện và xử lý kịp thời tội phạm tham nhũng hối lộ v.v…
3.4.1. Giải pháp trong công tác phát hiện và xử lý tội nhận hối lộ
Nếu thống kê trong các loại tội phạm thì tội tham nhũng, nhận hối lộ được coi là một trong những tội phạm nguy hiểm nhất. Tính nguy hiểm của nó được thể hiện ở chỗ tham nhũng, nhận hối lộ xuất phát từ bên trong của bộ máy nhà nước, làm tha hóa một số cán bộ, đảng viên, làm mất lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ, làm cho các chính sách, chủ trương bị sai lệch, dẫn đến lệch hướng chủ nghĩa xã hội. Khi lòng tin của nhân dân bị suy giảm nghiêm trọng thì sẽ gây bất ổn định chính trị – xã hội, từ đó có thể làm thay đổi bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa. Nhận thức được điều đó Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều biện pháp ngăn chặn, đẩy lùi và từng bước xóa bỏ tội tham nhũng, hối lộ. Đây là nhiệm vụ cấp bách hiện nay, đòi hỏi trách nhiệm và quyết tâm của tất cả các ngành, các cấp, cùng toàn thể nhân dân. Thế nhưng đấu tranh chống tham nhũng, hối lộ không phải là chuyện đơn giản. Bởi tham nhũng hối lộ do các cán bộ công chức thực hiện ngay trong cơ quan nhà nước hoặc trong các tổ chức mà thông thường những cán bộ, đảng viên này là người giữ cương vị lãnh đạo. Thực tế cho thấy, các vụ tham nhũng hối lộ đều được chuẩn bị kỹ càng và thực hiện bằng những thủ đoạn rất tinh vi. Chống tham nhũng, hối lộ là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân nhưng trước hết và chủ yếu là nhiệm vụ của cơ quan nhà nước, của cơ quan pháp luật như công an, tòa án, viện kiểm sát… Việc chủ động tấn công loại tội phạm này không phải là sự hô hào với chiến dịch, phong trào làm điểm mà cái chính là nhìn vào bản chất của hiện tượng này, nhận diện các mấu chốt để từ đó có chiến lược và sách lược chống tham nhũng có hiệu quả. Luận văn: Giải pháp đấu tranh phòng chống tội nhận hối lộ ở VN.
Cần sớm xây dựng hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, đặc biệt là sửa đổi, bổ sung hoàn thiện luật hình sự và luật hành chính nhằm loại bỏ được những sơ hở trong quản lý nhà nước có thể tạo ra tham nhũng, hối lộ. Phải thường xuyên giáo dục để mỗi cán bộ đảng viên đang làm việc trong cơ quan, tổ chức gương mẫu, tự mình ghép mình vào khuân khổ kỷ luật, tuân theo Điều lệ Đảng và pháp luật, có lối sống trong sạch, biết nghiêm túc phê bình và tự phê bình, làm việc theo nguyên tắc chí công vô tư đặt lợi ích của Nhà nước và Đảng lên trên hết. Mở rộng và bảo đảm dân chủ trước hết là trong hoạt động của cơ quan, tổ chức. Từ đó phát huy cao độ vai trò của quần chúng vào việc quản lý nhà nước và xã hội, kịp thời phát hiện những trường hợp tham nhũng, hối lộ để ngăn chặn và có biện pháp phòng ngừa sớm.
Xây dựng tác phong kỷ luật của cán bộ, đảng viên đồng thời tăng cường công tác giám sát và kiểm tra cán bộ đảng viên, xử lý nghiêm những trường hợp tham nhũng, hối lộ. Từ đó chấn chỉnh hoạt động của các cơ quan, tổ chức nhà nước. Xây dựng hành lang pháp lý cho hoạt động của công chức, công chức chỉ được làm những gì pháp luật cho phép và không được làm những gì mà pháp luật cấm. Xử lý mọi hành vi tham nhũng, hối lộ theo đúng quy định của pháp luật. Trong trường hợp hành vi tham nhũng, hối lộ không cấu thành tội phạm thì tùy theo tính chất, mức độ của hành vi và nhân thân người vi phạm để lựa chọn hình thức kỷ luật cho phù hợp. Đối với người phạm tội về nhận hối lộ thì hình phạt nhẹ nhất là phạt tù từ hai năm đến mức cao nhất là tử hình. Cần công khai hoạt động của chính phủ và các cấp chính quyền đồng thời tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng trong cuộc đấu tranh chống tham nhũng hối lộ.
3.4.2. Giải pháp trong việc thực hiện cơ chế quản lý kinh tế
Trong thời kỳ mở cửa phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa thì tội phạm tham nhũng, nhận hối lộ lại có xu hướng ngày càng phát triển. Do đó cần phải trừng trị nghiêm để ngăn chặn loại tội phạm này. Cần phát huy tối đa mọi tiềm năng của đất nước. Đặc biệt quan tâm đến việc cải cách tiền lương cho cán bộ, công chức để họ có đủ điều kiện yên tâm công tác và chí công, vô tư trong hoạt động công vụ của mình. Do đó phải có chính sách thỏa đáng về tiền lương và những khoản trợ cấp khác để họ yên tâm công tác và cống hiến cho Nhà nước, phục vụ nhân dân. Kinh nghiệm thực tiễn ở một số nước như Trung Quốc, Singapore, Mỹ… đã cho thấy khi được Nhà nước đãi ngộ tốt thì họ sợ mất việc hơn sợ đi tù và không bao giờ họ có ý định hoặc dám tham nhũng, nhận hối lộ. Tiền lương hợp lý được hiểu là nguồn thu nhập chính của cán bộ, công chức, ít nhất cũng phải bảo đảm đủ cho cuộc sống và đủ chi trả cho những khoản chi cần thiết như: ăn, ở, đi lại, học tập cho bản thân và gia đình… Một cơ chế tiền lương hợp lý không những góp phần hạn chế tham nhũng, hối lộ mà còn góp phần thu hút nhân tài vào làm việc tại các cơ quan nhà nước, qua đó năng cao hiệu quả hoạt động của cơ quan trong bộ máy nhà nước. Ở nước ta do mặt bằng kinh tế còn thấp so với các nước phát triển và còn nhiều vấn đề trong đời sống xã hội phải giải quyết, song về lâu dài chúng ta không thể không quan tâm đến vấn đề tăng lương cho cán bộ, công chức Nhà nước. Đi đôi với vấn đề tăng tiền lương chúng ta cũng phải tăng cường nâng cao trách nhiệm và xử lý nghiêm các hành vi vi phạm của những người đã được Nhà nước đãi ngộ.
3.4.3. Giải pháp về công tác tổ chức cán bộ Luận văn: Giải pháp đấu tranh phòng chống tội nhận hối lộ ở VN.
Công tác phát hiện, xử lý cán bộ sai phạm về tham nhũng hối lộ cần phải kịp thời, sai phạm đến mức nào phải xử lý đến mức ấy; kiên quyết loại trừ tình trạng để người tham nhũng, hối lộ chạy án, xử lý nghiêm minh người bao che dung túng cho việc tham nhũng, hối lộ và người chạy án bất kể họ đang giữ chức vụ công tác nào. Đồng thời không kéo dài thời gian xem xét, xử lý người vi phạm gây nên dư luận xấu trong cơ quan, tổ chức. Đảng và Nhà nước ta cần xem xét sửa đổi, bổ sung những quy định không còn phù hợp về công tác quản lý cán bộ, để tạo ra cơ chế nhận xét, đánh giá, quy hoạch, bố trí, bổ nhiệm, sử dụng cán bộ bảo đảm vừa dân chủ, công khai, minh bạch vừa sử dụng được người có đức, có tài. Không để những kẻ cơ hội, thực dụng, quan liêu, tham nhũng chui vào nội bộ, giữ các chức danh lãnh đạo, quản lý ở các cấp… để góp phần phòng ngừa, ngăn chặn tham nhũng, tiêu cực; khắc phục nạn “chạy chức, chạy quyền, chạy bằng cấp, chạy tội”. Ban hành và tổ chức thực hiện nghiêm quy định về trách nhiệm của tập thể cấp ủy, chính quyền và trách nhiệm của cá nhân, nhất là người đứng đầu trong công tác cán bộ. Đồng thời ban hành và tổ chức thực hiện kiên quyết quy định về việc thay thế, loại bỏ kịp thời những người không đủ tiêu chuẩn, điều kiện ra khỏi bộ máy nhà nước.
Phải kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng, hối lộ, tức là nếu đã trị thì phải trị cả “gốc lẫn ngọn”. Nhìn từ thực tế cho thấy, hiện nay chúng ta chỉ chống tham nhũng, hối lộ ở phần “ngọn” chưa trị được phần “gốc”. Mà cái “gốc” đó là yếu tố con người cụ thể, là những cán bộ, công chức trong bộ máy nhà nước đang nắm giữ những chức vụ, quyền hạn cao. Việc tuyển chọn cán bộ, công chức ở nước ta hiện nay vẫn còn chưa hợp lý. Có những người có trình độ, chuyên môn thật sự lại không được chọn, còn những người không có trình độ thì lại được chọn vào làm việc trong các cơ quan, tổ chức Nhà nước do họ là con em của những cán bộ, công chức có chức vụ, quyền hạn cao. Hiện nay, cán bộ ở cơ quan các cấp, đặc biệt là cấp cơ sở họ làm sai rất nhiều, nhất là trong lĩnh vực hành chính, kinh tế khi làm bất cứ thủ tục gì thì cũng phải đưa tiền cho họ thì mới giải quyết ngay. Vì vậy, Nhà nước cần có những giải pháp tích cực trong khâu tuyển chọn cán bộ, công chức sao cho vừa có năng lực, vừa có đạo đức. Đồng thời xử lý nghiêm đối với những người có hành vi nhũng nhiễu nhân dân để nhận tiền hối lộ. Cần phát huy vai trò về công tác tổ chức cán bộ, không nên tập trung trong tay một người giữ nhiều chức vụ như vừa là thủ trưởng cơ quan, vừa là người đứng đầu về Đảng để loại trừ sự quan liêu, hách dịch. Thường xuyên rà soát, sắp xếp biên chế tổ chức cơ quan, bảo đảm việc sắp xếp đó là đúng quy định của pháp luật, đúng tiêu chuẩn chức danh cán bộ, đúng yêu cầu công tác. Xử lý nghiêm người có hành vi bố trí cán bộ trong cơ quan là người thân thích ruột thịt của mình vào các vị trí công tác mà những người thân thích đó không có đủ năng lực, điều kiện vào làm hoặc bị pháp luật cấm. Ví dụ như chồng làm giám đốc kiêm bí thư, vợ là hội trưởng hội phụ nữ phụ trách công đoàn… Luận văn: Giải pháp đấu tranh phòng chống tội nhận hối lộ ở VN.
Cần tổ chức những buổi nói chuyện về chính trị tư tưởng, về đạo đức Hồ Chí Minh cho cán bộ công chức. Giáo dục lòng tự hào dân tộc, nâng cao ý thức trách nhiệm đối với đất nước. Nếu làm tốt được điều đó, sẽ khiến cho những người có chức vụ, quyền hạn tích cực làm điều tốt, tránh làm điều xấu… Tạo điều kiện và khuyến khích những người có phẩm chất đạo đức tốt, có năng lực chuyên môn và năng lực lãnh đạo quản lý; người dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm được đảm nhiệm các chức danh lãnh đạo, quản lý. Bởi vì nếu cán bộ mà chuyên môn, năng lực yếu, đạo đức không tốt thì dù bộ máy phòng chống tham nhũng, hối lộ có được tổ chức hoàn thiện, chặt chẽ đến mấy thì sự vận hành và hiệu quả hoạt động của bộ máy vẫn không cao.
3.4.4. Giải pháp về mặt thanh tra, giám sát
Cần thường xuyên tiến hành công tác thanh tra đối với cá nhân, tổ chức thuộc đối tượng thanh tra. Kết quả thanh tra cần được công khai trước đơn vị. Quá trình thanh tra, kiểm tra nếu phát hiện sai phạm cần đề nghị người hoặc cấp có thẩm quyền xử lý nghiêm minh chủ thể vi phạm. Đồng thời phải đổi mới và tăng cường công tác thanh tra, giám sát của các cơ quan có chức năng, của cấp trên đối với cấp dưới của mình, nhất là việc giám sát, kiểm tra đối với những người đứng đầu cấp dưới và các chức danh chủ chốt của cấp dưới. Quy định cụ thể việc thường xuyên thực hiện cơ chế kiểm tra và tự kiểm tra của người đứng đầu ở các cấp. Ủy ban kiểm tra các cấp chủ động thực hiện nhiệm vụ kiểm tra đảng viên và tổ chức Đảng cấp dưới khi có dấu hiệu vi phạm, tập trung vào lĩnh vực phát sinh tham nhũng, tiêu cực; khắc phục tình trạng nể nang, né tránh, ngại va chạm, thiếu bản lĩnh trong công tác đấu tranh này. Cấp ủy các cấp phải tăng cường chỉ đạo ủy ban kiểm tra chủ trì và phối hợp với các ban của cấp ủy với cơ quan bảo vệ pháp luật trong công tác giám sát, kiểm tra, giải quyết tố cáo cán bộ, đảng viên vi phạm tham nhũng. Tăng cường hoạt động giám sát của Quốc hội đối với các cơ quan, tổ chức nhà nước đặc biệt là những lĩnh vực có khả năng xảy ra tham nhũng hối lộ cao như đầu tư xây dựng cơ bản, những ngành quản lý vốn đầu tư nước ngoài và ngân sách nhà nước. Tăng cường phối hợp thực hiện công tác giám sát, kiểm tra giữa các cơ quan đảng, chính quyền và các đoàn thể nhân dân đối với cán bộ, công chức, đảng viên để phòng ngừa, ngăn chặn và kịp thời phát hiện, đấu tranh phòng chống tham nhũng có hiệu quả. Tăng cường sự phối hợp giữa các cơ quan điều tra với nhân dân và cơ quan báo chí trong việc phát hiện, đấu tranh, tuyên truyền về phòng chống tham nhũng, tiêu cực. Vận động tuyên truyền trong quần chúng nhân dân, giải thích cho dân hiểu về chính sách pháp luật, kiên quyết đấu tranh chống lại các hiện tượng tiêu cực, kịp thời tố cáo các cơ quan có thẩm quyền khi phát hiện hành vi tham nhũng, nhận hối lộ. Cần thanh tra giám sát một cách chặt chẽ thu nhập của cán bộ, công chức nhất là những người có chức vụ. Ví dụ như: một ông giám đốc sở mỗi năm chi từ 30.000 USD đến 50.000 USD nuôi con ăn học ở Mỹ thì nguồn tiền lấy từ đâu ra? Luận văn: Giải pháp đấu tranh phòng chống tội nhận hối lộ ở VN.
Cần sớm nghiên cứu ban hành Quy định về chế độ kê khai và công khai tài sản của cán bộ, công chức, Quy chế giám sát trong Đảng và Quy chế nhân dân giám sát Đảng, Quy chế giám sát hành chính để góp phần phòng chống tham nhũng có hiệu quả.
Quốc hội cần nhanh chống kiện toàn bộ máy tổ chức, thực hiện tốt chức năng giám sát. Nâng cao công tác thanh tra, đồng thời xử lý nghiêm khắc trách nhiệm của các Bộ trưởng, Thủ trưởng các cơ quan ngang Bộ và những người đứng đầu cơ quan, tổ chức mà nơi đó xảy ra các vụ tham nhũng, hối lộ. Bảo đảm sự kiểm tra giám sát của nhân dân đối với cán bộ công chức. Đẩy mạnh cải cách hành chính, cải cách tư pháp, tập trung xóa bỏ những thủ tục phiền hà ở những lĩnh vực dễ xảy ra tham nhũng hối lộ. Đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ cán bộ công chức có kỹ năng nghiệp vụ chuyên môn giỏi, có phẩm chất đạo đức cách mạng, có bản lĩnh chính trị vững vàng, lập trường tư tưởng kiên định, lối sống lành mạnh. Cần xây dựng chiến lược của quốc gia về phòng chống tham nhũng với ba trụ cột chính, cụ thể:
Thứ nhất, có quyết tâm chính trị cao của Chính phủ (đặc biệt là người đứng đầu); có hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, kể cả pháp luật về phòng chống tham nhũng; xử lý kiên quyết, nghiêm minh các hành vi tham nhũng;
Thứ hai, có cơ quan đấu tranh phòng chống tham nhũng chuyên trách, độc lập với đội ngũ cán bộ chống tham nhũng trong sạch, liêm khiết, có bản lĩnh, tính chuyên nghiệp cao, vững về pháp luật, tinh thông nghiệp vụ, được đầu tư nguồn lực, phương tiện điều kiện làm việc đầy đủ, hiện đại.
Thứ ba, chú trọng giáo dục đạo đức công dân, hình thành văn hóa chống tham nhũng trong bộ máy nhà nước và trong công chúng. Hành vi tham nhũng, nhận hối lộ đã khiến công chúng luôn khinh ghét, lên án tệ tham nhũng và từ đó họ tham gia tích cực vào công tác đấu tranh phòng chống tham nhũng nhận hối lộ; có cơ chế thuận lợi, bảo vệ cho công chúng và tạo điều kiện cho công chúng nhận diện nhanh chóng, kịp thời phát hiện và tố cáo những kẻ tham nhũng, hối lộ.
3.4.5. Giải pháp về pháp luật hình sự Luận văn: Giải pháp đấu tranh phòng chống tội nhận hối lộ ở VN.
Xử lý nghiêm khắc đối với những hành vi phạm tội theo quy định của pháp luật. Tùy vào tính chất mức độ của hành vi hối lộ để chọn hình thức kỷ luật cho phù hợp. Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện pháp luật hình sự về tội nhận hối lộ. Trong Bộ luật hình sự hiện hành đã quy định khá chi tiết về tội nhận hối lộ. Tuy nhiên cần phải xem xét lại một số vấn đề sau:
Về mặt chủ thể: Điều 279 quy định: “Người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn, trực tiếp hoặc qua trung gian đã nhận hoặc sẽ nhận” [25, tr. 217]. Ở đây chức vụ, quyền hạn được hiểu như thế nào là mới chính xác? Nếu chỉ dựa phần định nghĩa tại Điều 277 thôi thì chưa đủ, vì theo quy định tại Điều này thì “người có chức vụ nói trên đây là người do bổ nhiệm, do bầu cử, do hợp đồng hoặc do một hình thức khác, có hưởng lương hoặc không hưởng lương, được giao thực hiện một công vụ nhất định và có quyền hạn nhất định trong khi thực hiện công vụ” [25, tr. 216], sẽ dễ lẫn lộn với những người tuy có chức vụ, quyền hạn nhưng không thuộc phạm vi điều chỉnh của Điều 279. Ở phần mặt chủ thể của tội nhận hối lộ thì những người có chức vụ, quyền hạn là những người làm một số công việc nhất định do Nhà nước giao. Như vậy Điều 279 đã quy định quá chung chung vì thật ra những người có chức vụ, quyền hạn không chỉ có riêng cơ quan nhà nước mà còn có ở những tổ chức kinh tế, xã hội khác và họ cũng có thể giữ những chức vụ như thành viên Hội đồng quản trị, Giám đốc, Kế toán trưởng… Tuy họ có cương vị và có quyền hạn nhất định trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp nhưng không được xem là người có chức vụ, quyền hạn nên những người này không phải là chủ thể của tội nhận hối lộ. Do đó, hành vi phạm tội của những người này không thuộc phạm vi điều chỉnh của Điều 279.
Quy định về tội nhận hối lộ tại Điều 279 Bộ luật hình sự nên chỉ rõ dấu hiệu đặc biệt của chủ thể của tội phạm bằng cụm từ “người có chức vụ, quyền hạn nào” thay vì nêu gián tiếp qua cụm từ “người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn”. Điều này vừa phản ánh được dấu hiệu đặc biệt thuộc về nhân thân của chủ thể của tội nhận hối lộ, vừa phù hợp với quy định của các công ước quốc tế về chống hối lộ cũng như phù hợp với xu thế lập pháp của nhiều quốc gia trên thế giới. Bên cạnh đó, phạm vi khái niệm “người có chức vụ, quyền hạn” và đặc điểm của người này với tư cách là chủ thể của tội nhận hối lộ cần được xác định rõ để vừa giúp cho cơ quan áp dụng luật nhận diện yếu tố này chính xác hơn, vừa giúp cho việc phân biệt tội phạm này với tội phạm khác có dấu hiệu cấu thành tương tự. Theo quan điểm của các công ước quốc tế có liên quan cũng như từ kinh nghiệm của một số quốc gia khác, phạm vi khái niệm này được quy định hết sức rộng và đặc điểm có vai trò quyết định của chủ thể này là “thực thi một chức năng hoặc nhiệm vụ công”. Thực tế cho thấy nhiều công việc thuộc phạm vi chức năng hoặc nhiệm vụ công hiện nay được giao cho những người không phải là cán bộ, công chức nhà nước thực hiện. Trong quá trình thực hiện những công việc này và trong phạm vi quyền hạn của mình các chủ thể được giao cũng có thể nhận lợi ích bất hợp pháp để làm hoặc không làm một việc vì lợi ích hoặc theo yêu cầu của người đưa hối lộ. Việc mở rộng phạm vi khái niệm người có chức vụ, quyền hạn ở tội nhận hối lộ để có thể bao quát tất cả các hoạt động công vụ là cần thiết và có ý nghĩa. Cách hiểu như trên vừa phù hợp với yêu cầu thực tế của Việt Nam vừa bảo đảm việc thực thi các cam kết quốc tế cũng như phù hợp với xu thế lập pháp trên thế giới. Luận văn: Giải pháp đấu tranh phòng chống tội nhận hối lộ ở VN.
Theo khoản 1 Điều 279 pháp luật quy định người nào nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác có giá trị từ 2.000.000 đồng đến dưới 10.000.000 đồng thì bị xử phạt từ hai đến bảy năm tù. Nhưng pháp luật chưa quy định giá trị tài sản bao nhiêu là quà biếu, nên trong thực tiễn xét xử có không ít trường hợp các cơ quan tiến hành tố tụng không xác định được hành vi đó là nhận quà biếu hay nhận hối lộ. Nếu hiểu quà biếu trị giá bằng tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác từ 2.000.000 đồng đến dưới 10.000.000 đồng là hành vi nhận hối lộ thì quá máy móc vì thực tế có những món quà có giá trị hàng chục triệu đồng nhưng vẫn là quà biếu?
Điều 279 Khoản 2 Điểm d quy định: “Biết rõ của hối lộ là tài sản của Nhà nước”. Quy định này dường như có vẻ chưa hoàn toàn hợp lý, vậy “Tài sản của Nhà nước” được hiểu như thế nào? Vấn đề này hiện đang có nhiều ý kiến khác nhau. Nếu tài sản hối lộ chỉ thuộc một phần của Nhà nước thì vấn đề lại không đơn giản như: Công ty cổ phần, công ty có vốn đầu tư nước ngoài, xí nghiệp liên doanh nhà nước với nước ngoài… Trường hợp này tài sản có thuộc sở hữu của Nhà nước hay không? Và người phạm tội trong trường hợp này có xem là tài sản của Nhà nước không, khi vi phạm áp dụng khung hình phạt nào? Do vậy, đây là vấn đề mà các nhà làm luật nên xem xét lại.
Quy định về khung hình phạt: Người có chức vụ quyền hạn khi thực hiện hành vi phạm tội tại Điều 279 Khoản 1 Điểm a chỉ quy định: “gây hậu quả nghiêm trọng” còn tại Khoản 2 Điểm g lại quy định: “gây hậu quả nghiêm trọng khác”. Nếu dựa vào câu chữ thì hậu quả nghiêm trọng và hậu quả nghiêm trọng khác không phải là một. Khoản 1 điều luật quy định hậu quả nghiêm trọng thì khó xác định đâu là hậu quả trực tiếp còn đâu là hậu quả gián tiếp do hành vi nhận hối lộ gây ra. Do đó Khoản 1 nên sửa đổi thành “gây hậu quả nghiêm trọng khác” thì phù hợp hơn.
KẾT LUẬN Luận văn: Giải pháp đấu tranh phòng chống tội nhận hối lộ ở VN.
Tội phạm tham nhũng, nhận hối lộ đang diễn ra và tồn tại ở hầu hết các quốc gia trên thế giới. Ở mỗi quốc gia khác nhau thì quy mô, tính chất tham nhũng, hối lộ cũng khác nhau. Đứng trước tình hình đó, cộng đồng quốc tế cùng tổ chức Liên hợp quốc đã có những cố gắng đáng kể trong việc đưa ra những giải pháp nhằm tích cực đấu tranh có hiệu quả đối với loại tội phạm này.
Ở nước ta hiện nay, tội phạm về tham nhũng, nhận hối lộ diễn ra hết sức phức tạp và đang có chiều hướng gia tăng. Điều này đã làm cản trở lớn trong việc thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước. Tham nhũng, hối lộ đã trở thành “quốc nạn”, làm thoái hóa phẩm chất đạo đức của một bộ phận cán bộ, Đảng viên, làm mất lòng tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước, kéo lùi sự phát triển của đất nước. Vì vậy, Đảng, Nhà nước và nhân dân ta phải kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng, hối lộ. Dân tộc ta sẽ không chấp nhận bất cứ hành vi tham nhũng, hối lộ nào dù lớn hay nhỏ, quyết tâm này đã được Đảng ta khẳng định trong nghị quyết của các kỳ Đại hội Đảng. Do vậy việc đấu tranh chống tham nhũng, nhận hối lộ đã trở thành yêu cầu hết sức bức thiết. Chúng ta cần phải có những biện pháp cụ thể nhằm ngăn chặn có hiệu quả, tiến đến đẩy lùi tham nhũng, hối lộ. Trong phạm vi đề tài nghiên cứu “Tội nhận hối lộ theo luật hình sự Việt Nam“, tôi xin đưa ra một vài giải pháp sau đây:
- Xây dựng hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, đồng bộ, chặt chẽ để không có khe hở cho tội phạm tham nhũng, hối lộ có điều kiện nảy sinh và phát triển. Cần nghiên cứu để có những quy định phù hợp trong quá trình phát hiện và xử lý các vụ án nhận hối lộ.
- Cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan bảo vệ pháp luật trong việc phát hiện và xử lý tội phạm, có cơ chế phối hợp nhịp nhàng trên cơ sở phân định rõ trách nhiệm giữa các cơ quan quản lý nhà nước với các cơ quan tiến hành tố tụng.
- Có chính sách tiền lương hợp lý, từng bước nâng cao đời sống của đội ngũ cán bộ, công chức để họ có thể sống bằng đồng lương, có thể tích lũy, thực hiện các chế độ đãi ngộ tương xứng với năng lực, trình độ chuyên môn của họ.
- Chúng ta cần thực hiện tốt công tác đề bạt cán bộ một cách khoa học, đúng pháp luật, đúng tiêu chuẩn.
- Tăng cường hoạt động giám sát của Quốc hội, thanh tra Nhà nước, thanh tra chuyên ngành ở các cơ quan, tổ chức Nhà nước, đặc biệt là ở những cơ quan có khả năng cao xảy ra tham nhũng, hối lộ.
- Cần phải có chính sách ưu đãi, cũng như bảo vệ cho người tố cáo tội phạm nhận hối lộ để từ đó họ mới an tâm mà phối hợp với các cơ quan trong công tác phát hiện và xử lý tội phạm.
Mặc dù tình hình tội phạm nhận hối lộ trong thời gian qua đang có chiều hướng gia tăng, nhưng với sự nỗ lực của toàn Đảng, toàn dân ta, tôi tin rằng trong thời gian tới tình hình đấu tranh chống tệ nạn nhận hối lộ ở nước ta sẽ có những chuyển biến tích cực và đạt được kết quả cao hơn. Luận văn: Giải pháp đấu tranh phòng chống tội nhận hối lộ ở VN.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com
