Luận văn: P.luật thế chấp tài sản bên thứ ba đảm bảo khoản vay

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: P.luật thế chấp tài sản bên thứ ba đảm bảo khoản vay hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Quy định pháp luật về thế chấp tài sản bên thứ ba để đảm bảo khoản vay tại NHTM dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

TÓM TẮT

Tiêu đề: Quy định pháp luật về thế chấp tài sản bên thứ ba để đảm bảo khoản vay tại NHTM

Tóm tắt: Trong các hoạt động NHTM thì nghiệp vụ tín dụng vẫn chiếm tỷ trọng lớn trong thu nhập. Chính vì vậy các Ngân hàng vẫn dành nhiều nguồn lực để khai thác, phát triển hoạt động tín dụng. Một trong những vấn đề hay được đề cập song song với việc cấp tín dụng của các Ngân hàng là biện pháp bảo đảm tiền vay. Biện pháp bảo đảm tiền vay cũng là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động cho vay nói riêng, cấp tín dụng nói chung. Trong đó việc Thế chấp tài sản để đảm bảo cho việc thực hiện nghĩa vụ trả nợ của người khác vẫn đang bỏ ngỏ theo các quy định hiện hành. Vì vậy, dẫn đến việc hiểu và áp dụng luật của các đối tượng có sự khác biệt, thậm chí có tình trạng HĐTC bị tuyên vô hiệu. Luận văn triển khai nghiên cứu các quy định pháp luật hiện hành về biện pháp bảo đảm Thế chấp tài sản bên thứ ba để đảm bảo khoản vay tại NHTM, thực trạng thực thi quy định; từ đó đưa ra những kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật, triển khai hiệu quả biện pháp bảo đảm này. Luận văn trình bày và phân tích những quy định pháp luật về biện pháp bảo đảm: chủ thể tham gia giao dịch; TSTC của bên thứ ba; hình thức, hiệu lực của GDBĐ; nội dung HĐTC…Bên cạnh đó, bài viết cũng nêu các đặc điểm cơ bản của biện pháp bảo đảm này, phân biệt với các biện pháp bảo đảm khác, cụ thể là bảo lãnh. Tiếp đó luận văn phân tích những thực trạng, tình huống đã diễn ra thực tế để có thể kiến nghị các giải pháp hoàn thiện pháp luật, giải pháp cho NHTM để kiểm soát rủi ro.

Từ khóa: Thế chấp tài sản bên thứ ba, đảm bảo nghĩa vụ người khác, tài sản bên thứ ba

SUMMARY

Title: Legal regulations on mortgage of third-party properties to secure loans at commercial banks

Abstract : In commercial banking activities, credit operations still hold for a large proportion of income. Therefore, banks still spend a lot of resources to exploit and develop credit operations. One of the issues often mentioned in parallel with the credit granting of banks is the loan security measure. Loan security is also one of the factors affecting the efficiency of lending activities in particular and credit granting in general. In which, the mortgage of property to secure the performance of debt repayment obligations of others is still open according to current regulations. Therefore, leading to the understanding and application of the law of different subjects, even the mortgage contract is declared invalid. The thesis conducts research on current legal provisions on third-party collateral to secure loans at commercial banks, the actual situation of regulatory enforcement; then make recommendations to improve the law and effectively implement this safeguard measure. The thesis presents and analyzes the legal provisions on security measures: subjects participating in transactions; Third-party collateral; form and effect of security transactions; content of the mortgage contract… Besides, the article also states the basic characteristics of this security measure, distinguishing it from other security measures, namely the guarantee. Then, the thesis analyzes the actual situations and situations that have taken place in order to be able to recommend solutions to improve the law, solutions for commercial banks to control risks. Luận văn: P.luật thế chấp tài sản bên thứ ba đảm bảo khoản vay.

Keywords : Mortgage of third-party property, guarantee of other people’s obligations, property of third-party

PHẦN MỞ ĐẦU

1. Đặt vấn đề

Từ thực tiễn hoạt động tín dụng của các NHTM thì biện pháp bảo đảm thế chấp là biện pháp bảo đảm được sử dụng phổ biến nhất. Thế chấp tài sản có đặc điểm cơ bản là BTC không phải chuyển giao tài sản cho BNTC mà họ vẫn có thể sử dụng, khai thác TSBĐ miễn không làm thay đổi, suy giảm giá trị tài sản. Xét về mặt chủ thể, thế chấp tài sản có thể chia thành thế chấp tài sản của chính bên vay và thế chấp tài sản bên thứ ba.

Trong quan hệ bảo đảm mà một bên dùng tài sản của mình để đảm bảo việc thực hiện nghĩa vụ của bên khác đang được sử dụng nhiều trên thực tế. Tuy nhiên, trên thực tế vẫn còn nhiều chủ thể vẫn chưa thể xác định biện pháp bảo đảm được sử dụng. Việc nhầm lẫn đôi khi từ Tòa án nhân dân các cấp, cơ quan thi hành án hay các cơ quan chức năng. Từ đó, việc phân định chính xác phạm vi bảo đảm, quyền và nghĩa vụ các bên tham gia giao dịch, thời điểm xử lý tài sản bảo đảm…cũng chưa chính xác. Bên cạnh đó, thực tiễn diễn ra một số vấn đề xoay quanh biện pháp bảo đảm thế chấp tài sản của bên thứ ba như: xác định số lượng thành viên hộ gia đình tham gia giao dịch thế chấp, giao dịch thế chấp có khả năng vô hiệu do có thời gian gián đoạn, bên thế chấp/bên có nghĩa vụ phá sản, mất khả năng thanh toán sẽ ảnh hưởng đến việc xử lý TSBĐ như thế nào…Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, tác giả nhận thấy việc nghiên cứu các “Quy định pháp luật về Thế chấp tài sản bên thứ ba để đảm bảo tiền vay tại các NHTM” là việc cần thiết và chọn nghiên cứu về đề tài này.

2. Mục tiêu nghiên cứu

2.1 Mục tiêu tổng quát

Mục tiêu tổng quát của đề tài là tập trung làm rõ những vấn đề lý luận về thế chấp tài sản của bên thứ ba, phân tích thực trạng áp dụng pháp luật về bảo đảm tiền vay bằng thế chấp tài sản của bên thứ ba tại các NHTM, chỉ ra những tồn tại, vướng mắc trong thực tiễn áp dụng pháp luật, từ đó, đề xuất một số giải pháp phù hợp thực tiễn nhằm hoàn thiện pháp luật, nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về bảo đảm tiền vay bằng tài sản thế chấp của bên thứ ba tại các NHTM.

2.2 Mục tiêu cụ thể

  • Mô tả tổng quan về thế chấp tài sản bên thứ ba để đảm bảo khoản vay tại NHTM: khái niệm, đặc điểm, chủ thể tham gia giao dịch, hiệu lực HĐTC tài sản của bên thứ ba…
  • Nêu lên thực trạng pháp luật áp dụng biện pháp bảo đảm thế chấp tài sản bên thứ ba để đảm bảo khoản vay tại các NHTM.
  • Đề xuất, kiến nghị các giải pháp để tháo gỡ vướng mắc trong quá trình áp dụng, hướng hoàn thiện pháp luật về thế chấp tài sản bên thứ ba để đảm bảo việc áp dụng các quy định của pháp luật thật sự hữu hiệu, bảo đảm quyền và lợi ích của các chủ thể tham gia hoạt động tín dụng tại các NHTM.

3. Đối tượng phạm vi nghiên cứu Luận văn: P.luật thế chấp tài sản bên thứ ba đảm bảo khoản vay.

3.1 Đối tượng nghiên cứu của đề tài

Các quy định pháp luật về bảo đảm tiền vay bằng tài sản thế chấp của bên thứ ba (chủ thể tham gia; tài sảm thế chấp của bên thứ ba, hình thức và hiệu lực của GDBĐ thế chấp tài sản bên thứ ba, nội dung HĐTC…) tại các văn bản pháp luật như: BLDS năm 1995, BLDS năm 2005, BLDS năm 2015, Nghị định số 21/2021/NĐ-CP ngày 19 tháng 03 năm 2021 Quy định thi hành BLDS về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ, Luật đất đai năm 2013, Luật các TCTD số 47/2010/QH12 ngày 16 tháng 06 năm 2010 sửa đổi năm 2017, Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30 tháng 12 năm 2016 Quy định về hoạt động cho vay của TCTD, chi nhánh Ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng…Bên cạnh đó luận văn phân tích một số trường hợp xảy ra trong thực tế, kèm theo trích dẫn một số bản án để làm rõ hơn thực trạng. Từ đó, tác giả đề nghị một số giải pháp hoàn thiện pháp luật và dành cho NHTM.

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nội dung: Đề tài nghiên cứu các Quy định pháp luật về thế chấp tài sản bên thứ ba đảm bảo khoản vay tại NHTM. Trong quá trình nghiên cứu, luận văn chưa giải quyết triệt để những vấn đề như: lý thuyết vật quyền và trái quyền. Bên cạnh đó, trong quá trình phân tích thực trạng có đề cập đến một số bản án để minh chứng cho những lập luận của mình, tác giả không có điều kiện tiếp cận toàn bộ bản án nên chưa khái quát hết thực trạng liên quan việc thực thi pháp luật trong quan hệ thế chấp tài sản một bên để đảm bảo nghĩa vụ của người khác tại NHTM.

  • Phạm vi không gian: tại các NHTM
  • Phạm vi thời gian: từ năm 2005 – 2023

4. Phương pháp nghiên cứu Luận văn: P.luật thế chấp tài sản bên thứ ba đảm bảo khoản vay.

Phương pháp luận, kết hợp phương pháp tư duy logic và duy vật biện chứng để hệ thống hoá một số cơ sở lý luận về thế chấp tài sản bên thứ ba đảm bảo khoản vay tại NHTM. Trong khoa học pháp lý, các quan hệ xã hội là đối tượng điều chỉnh của pháp luật, chịu sự tác động của các điều kiện kinh tế, chính trị. Do đó, khi nghiên cứu đề tài này, tác giả đã đặt vấn đề nghiên cứu trong một không gian chịu sự chi phối và tác động của nhiều yếu tố, từ đó xem xét và đánh giá vấn đề một cách tổng quát và toàn diện.

Phương pháp phân tích: phương pháp này được sử dụng xuyên suốt toàn đề tài, áp dụng phương pháp này để giải thích những quy định của pháp luật đối với thế chấp tài sản bên thứ ba, nhằm hiểu rõ mục đích, vai trò, ý nghĩa của các quy định pháp luật về biện pháp bảo đảm này. Tiếp đó, tác giả tiếp tục phân tích, đánh giá thực tiễn áp dụng pháp luật về biện pháp bảo đảm này, từ đó chỉ ra những điểm bất cập, hạn chế cần phải tiếp tục sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện.

Phương pháp tổng hợp: là phương pháp liên kết, sắp xếp thông tin đã thu thập và đánh giá để tạo ra một hệ thống lý thuyết đầy đủ, sâu sắc về vấn đề nghiên cứu. Trên cơ sở phân tích, đánh giá pháp luật, tác giả sẽ đưa ra những kết luận, nhận định cụ thể về thế chấp tài sản bên thứ ba theo pháp luật hiện hành.

Phương pháp so sánh, đối chiếu: được sử dụng trong quá trình nghiên cứu hệ thống các quy định pháp luật về Biện pháp thế chấp bên thứ ba như: BLDS năm 1995, BLDS năm 2005, BLDS năm 2015, Luật các TCTD số 47/2010/QH12 ngày 16 tháng 06 năm 2010 sửa đổi năm 2017, Nghị định số 21/2021/NĐ-CP ngày 19 tháng 03 năm 2021 …, để tìm kiếm những điểm khác biệt, mâu thuẫn, chồng chéo từ đó tìm ra nguồn gốc, cốt lõi vấn đề, kết luận và đưa ra các kiến nghị, đề xuất phù hợp. Phương pháp này, giúp phát hiện những khuyết điểm của văn bản của pháp luật hay phát hiện những quy định cần đổi mới để phù hợp với sự thay đổi của xã hội, giúp đề tài nghiên cứu có ý nghĩa thực tiễn hơn. Bên cạnh đó, phương pháp so sánh, đối chiếu còn được luận văn sử dụng trong việc phân tích hiệu lực HĐTC, hiệu lực đối kháng bên thứ ba của một số nước trên thế giới và Việt Nam, từ đó thấy được những điểm tương đồng, khác biệt trong các quy định của pháp luật một số nước trên thế giới với Việt Nam, cũng như những điểm tiến bộ, điểm mới trong các quy định của pháp luật Việt Nam qua các thời kỳ.

5. Đóng góp của đề tài

Đề tài là công trình khoa học nghiên cứu về quy định pháp luật về thế chấp tài sản bên thứ ba để đảm bảo khoản vay tại NHTM ở Việt Nam, đề tài có những đóng góp mới là: Luận văn: P.luật thế chấp tài sản bên thứ ba đảm bảo khoản vay.

  • Về mặt lý luận, Luận văn đã hệ thống hóa:

Những lý luận về thế chấp tài sản bên thứ ba – một trong những biện pháp bảo đảm tín dụng được sử dụng phổ biến tại các NHTM Việt Nam.

Những quy định pháp luật hiện hành về biện pháp thế chấp tài sản bên thứ ba: chủ thể tham gia giao dịch, hiệu lực HĐTC tài sản bên thứ ba, nội dung chính HĐTC, xử lý TSBĐ…

  • Về mặt thực tiễn:

Nêu lên thực trạng áp dụng pháp luật cụ thể trong việc nhận thế chấp tại NHTM và những vướng mắc thực tế và thường xuyên phát sinh từ việc áp dụng các quy định của pháp luật đó.

Đề xuất một số kiến nghị, một số giải pháp nhằm hướng dẫn thực hiện các quy định của pháp luật hiện hành có liên quan nhằm triển khai có hiệu quả, thống nhất quy định pháp luật trên thực tế và nâng cao mức an toàn trong triển khai hoạt động thế chấp tài sản của bên thứ ba tại các NHTM.

6. Tổng quan về lĩnh vực nghiên cứu

Việc nghiên cứu pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật về bảo đảm tiền vay nói chung và bảo đảm tiền vay bằng tài sản thế chấp của bên thứ ba nói riêng đã được đề cập trong nhiều công trình nghiên cứu như:

6.1 Luận án, luận văn Luận văn: P.luật thế chấp tài sản bên thứ ba đảm bảo khoản vay.

  • Công trình nghiên cứu về bảo đảm khoản vay bằng TSTC của bên thứ ba:

Nguyễn Quang Hương Trà (2021), Thế chấp bất động sản theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành, Luận án Tiến sĩ luật học, trường Đại học Luật Hà Nội: Luận án đã phân tích quan điểm khoa học về BĐS tồn tại ở thể thức quyền, yếu tố vật quyền và trái quyền của biện pháp thế chấp BĐS, làm sáng tỏ phương diện lý luận trong khoa học pháp lý về thế chấp BĐS. Bên cạnh đó, bài viết đã nhận diện được điểm tích cực, hạn chế của pháp luật. Từ đó đưa ra các kiến nghị hoàn thiện pháp luật: phân biệt giữa yếu tố vật quyền và trái quyền để điều chỉnh phù hợp. Trọng tâm và phạm vi của luận án là nghiên cứu chung về thế chấp bất động sản nên đây là nguồn tài liệu tham khảo cho tác giả trong phần tổng quan về thế chấp tài sản bên thứ ba để đảm bảo khoản vay tại NHTM.

Phạm Thị Vân Anh (2016), Bảo đảm nghĩa vụ trả nợ bằng thế chấp tài sản bên thứ ba trong hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại Việt Nam, Luận văn thạc sĩ Luật học, Đại học Quốc gia Hà Nội. Phần 1 bài viết đã nêu các quy định về bảo đảm nghĩa vụ trả nợ trong hoạt động cho vay của NHTM: khái niệm, đặc điểm nghĩa vụ trả nợ, bản chất vai trò của thế chấp bằng tài sản bên thứ ba, phân biệt các biện pháp bảo đảm: cầm cố so với thế chấp tài sản bên thứ ba, bảo lãnh và thế chấp tài sản bên thứ ba. Phần tiếp theo, luận văn đề cập đến các quy định về giao dịch thế chấp bằng tài sản bên thứ ba, hiệu lực của giao dịch thế chấp, HĐBĐ khoản vay bằng thế chấp của bên thứ

Đề tài có viết về thực tiễn áp dụng pháp luật về thế chấp tài sản bên thứ ba trong quá trình xử lý TSBĐ khoản vay và những bất cập tồn tại trong thực tiễn áp dụng pháp luật. Tuy nhiên phần thực trạng mà luận văn đề cập khá chung chung, không cụ thể được vướng mắc cụ thể đang gặp phải. Từ đó, phần nội dung tiếp theo là Đề xuất, kiến nghị nâng cao hiệu quả pháp luật cũng khá trừu tượng.

Lê Thị Thu Ánh (năm 2015), Thực tiễn áp dụng pháp luật về bảo đảm tiền vay bằng tài sản thế chấp của bên thứ ba tại ngân hàng thương mại Việt Nam, Luận văn thạc sĩ Luật học, Đại học Quốc gia Hà Nội: Bài viết đã khái quát chung về bảo đảm tiền vay bằng thế chấp của bên thứ ba, khái quát về pháp luật về bảo đảm tiền vay bằng tài sản bên thứ ba tại Tuy nhiên phần nêu thực trạng áp dụng pháp luật về thế chấp tài sản bên thứ ba tại các NHTM còn khá sơ sài, chủ yếu chỉ phân tích các nội dung luật mà chưa chỉ ra được nhũng bất cập, vướng mắc khi áp dụng vào thực tiễn. Do đó nội dung phần đề xuất kiến nghị để giải quyết các vướng mắc trong xảy ra trong thực tiễn cũng chưa sâu sắc.

Trần Văn Nhiên (năm 2015), Quy định của pháp luật về thế chấp quyền sử dụng đất của bên thứ ba tại ngân hàng thương mại, Luận văn Thạc sĩ học, Đại học Luật TP HCM: Bài viết đã làm rõ hơn các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về thế chấp QSDĐ của bên thứ ba tại NHTM, nêu lên được bất cập trong các quy định của pháp luật và đề xuất những kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật về thế chấp QSDĐ của bên thứ ba tại NHTM. Bên cạnh đó, đề tài cũng khuyến cáo một số vấn đề pháp lý đối với NHTM và người sử dụng đất. Đối tượng nghiên cứu của đề tài là tài sản sản thế chấp là quyền sử dụng đất.

6.2 Sách và công trình nghiên cứu khoa học Luận văn: P.luật thế chấp tài sản bên thứ ba đảm bảo khoản vay.

Sách Chín biện pháp bảo đảm nghĩa vụ hợp đồng của tác giả Luật sư Trương Thanh Đức, nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật xuất bản 2021, tái bản lần thứ ba: Quyển sách cung cấp thông tin cơ bản về các biện pháp bảo đảm theo BLDS năm 2015, Nghị định số 21/2021/NĐ-CP; phân tích, luận giải các biện pháp bảo đảm về quy định pháp lý và khả năng áp dụng thực tiễn, gợi mở cách thức thực hiện cho các chủ thể.

Sách Pháp luật về Giao dịch bảo đảm trong hoạt động cấp tín dụng Việt Nam của tác giả Đoàn Đức Lương, Viên Thế Giang, Võ Thị Mỹ Hương, nhà xuất bản Chính trị quốc gia xuất bản năm 2015: công trình nghiên cứu đã trình bày những vấn đề lí luận cơ bản về giao dịch bảo đảm trong hoạt động cấp tín dụng; phân tích các qui định pháp luật về giao dịch bảo đảm trong hoạt động cấp tín dụng, gồm: lựa chọn biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ, pháp luật về hợp đồng bảo đảm thực hiện nghĩa vụ, đăng kí giao dịch bảo đảm, xử lí tài sản bảo đảm và giải quyết tranh chấp phát sinh từ giao dịch bảo đảm.

Bài viết Rủi ro pháp từ Hợp đồng thế chấp tài sản bên thứ ba, của hai tác giả Nguyễn Phương Linh và Nguyễn Văn Phương đăng trên Tạp chí Ngân hàng, số 23, tháng 12/2012: bài viết này được các tác giả nghiên cứu tại thời điểm có một số tòa án tuyên vô hiệu đối với HĐTC QSDĐ của bên thứ ba. Các tác giả đã đề cập đến một số quy định của pháp luật liên quan đến thế chấp QSDĐ của bên thứ ba, đồng thời nêu lên hậu quả của việc tòa án tuyên HĐTC vô hiệu dưới nhiều góc độ kinh tế, xã hội, pháp luật. Tuy nhiên, các bài viết này cũng chỉ dừng lại ở việc nêu lên thực trạng áp dụng pháp luật là chủ yếu, chưa có các luận giải vấn đề mang tính chất lý luận và chưa đề cập đến các khía cạnh pháp lý khác nhau so với thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật liên quan đến vấn đề thế chấp QSDĐ của bên thứ ba.

Bài viết Một số vấn đề pháp về hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất của bên thứ ba của tác giả Đoàn Thái Sơn, đăng trên Tạp chí ngân hàng số 12/2012, bài viết chủ yếu đưa ra một số vấn đề thực tiễn xảy ra đối với HĐTC QSDĐ của bên thứ Bài viết đề cập đến các nội dung dưới cái nhìn tổng thể, tuy nhiên không đi sâu phân tích thực tế tại một NHTM cụ thể nào.

Bài viết Bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự cho người khác trong Bộ luật dân sự năm năm 2015 của tác giả Nguyễn Hồng Hải, đăng trên VIETNAM LAW & LEGAL FORUM Vol. 23 – No 276 August 2017: Bài viết đã nêu khái niệm và sự cần thiết “bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự cho người khác. Qua đó, tác giả phân tích cơ sở pháp lý của việc bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự bằng tài sản bên thứ ba thông qua các nguyên tắc cơ bản của Luật dân sự (tự do, tự nguyện của các chủ thể; không thuộc các trường hợp bị hạn chế vì lý do quốc phòng an ninh, không gây thiệt hại cho người khác…). Tác giả cũng đề cập đến các thể thức có thể áp dụng: dùng tài sản bên thứ ba để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ của bên trả nợ và dùng tài sản để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh của mình. Bài viết đã khái quát những nội dung xoay quanh các hình thức đảm bảo của nghĩa vụ dân sự của bên thứ ba, tuy nhiên bài viết chỉ dừng lại ở việc phân tích các hình thức đảm bảo mà chưa đánh giá từng biện pháp có ưu nhược điểm gì, cũng như chưa nêu thực trạng đang triển khai các thể thức này như thế nào.

Bài viết Bảo đảm khoản vay bằng tài sản bên thứ ba: từ quy định pháp luật đến thực tiễn áp dụng của Tiến sĩ Bùi Đức Giang, đăng trên báo Ngân hàng, Ngân hàng nhà nước Việt Nam, số 7/2020, trang 13 – 15. Bài viết đã phân tích giá trị pháp lý của biện pháp bảo đảm bằng tài sản bên thứ ba qua BLDS và sự thừa nhận biện pháp thế chấp bằng BĐS của người thứ ba tại Thông tư số 07/2019/TT-BTP của Bộ Tư pháp ngày 25 tháng 11 năm Bên cạnh đó bài viết cũng đã nêu vấn đề: có hay không sự vi phạm Luật Doanh nghiệp nếu sử dụng tài sản của doanh nghiệp để đảm bảo nghĩa vụ của đối tượng khác. Cuối cùng, bài viết đã kết luận: hành lang pháp lý về bảo đảm bằng tài sản bên thứ ba vẫn tiềm ẩn một số khoảng trống, hạn chế nhất định và vẫn tiềm ẩn rủi ro pháp lý cả cho TCTD lẫn bên bảo đảm. Luận văn: P.luật thế chấp tài sản bên thứ ba đảm bảo khoản vay.

Những bài luận văn, luận án, nghiên cứu trên đã mang lại những kết quả đáng ghi nhận từ lý thuyết đến thực tiễn. Nhìn chung các công trình trên có những đặc điểm như sau:

Một là, mặt đạt được: về cơ bản, các công trình đã có những phân tích về lý luận và pháp luật hiện hành về bất động sản, thế chấp bất động sản, tài sản thế chấp của bên thứ ba, hiệu lực của hợp đồng thế chấp tài sản bên thứ ba… Đây là nguồn tài liệu tham khảo cho tác giả trong quá trình triển khai chương 1: tổng quan về thế chấp tài sản của bên thứ ba để đảm bảo khoản vay tại NHTM

Hai là, mặt hạn chế: những công trình nghiên cứu trên nghiên cứu dựa trên những quy định cũ như BLDS năm 2005, Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29 tháng 12 năm 2006 của Chính phủ về GDBĐ, Nghị định số 11/2012/NĐ-CP ngày 22 tháng 02 năm 2012 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29 tháng 12 năm 2006 của Chính phủ về GDBĐ. Do đó, tính thực tiễn của đề tài không đảm bảo phù hợp diễn biến thực tế các tồn tại, vướng mắc phần nào đã được giải quyết bởi các quy định mới.

Do đó, đề tài “Quy định pháp luật về thế chấp tài sản bên thứ ba để đảm bảo khoản vay tại NHTM” sẽ kế thừa những lý luận của các nghiên cứu khoa học, luận văn trước đó. Bên cạnh đó, tác giả cũng có dẫn chiếu so sánh một số quy định pháp luật tại các quốc gia khác và Việt Nam để người đọc có thể cách nhìn khái quát hơn về biện pháp thế chấp tài sản, tài sản bên thứ ba.

7  Kết cấu luận văn:

Nội dung luận văn được kết cấu bởi 02 chương sau đây:

  • Chương 1: Tổng quan về thế chấp tài sản bên thứ ba để đảm bảo khoản vay tại ngân hàng thương mại
  • Chương 2: Thực tiễn áp dụng quy định pháp luật thế chấp tài sản bên thứ ba để đảm bảo khoản vay tại ngân hàng thương mại và một số kiến nghị

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ THẾ CHẤP TÀI SẢN BÊN THỨ BA ĐỂ ĐẢM BẢO KHOẢN VAY TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1.1 Khái quát về thế chấp tài sản bên thứ ba đảm bảo khoản vay tại các ngân hàng thương mại Luận văn: P.luật thế chấp tài sản bên thứ ba đảm bảo khoản vay.

1.1.1 Khái niệm về thế chấp tài sản bên thứ ba đảm bảo khoản vay tại ngân hàng thương mại

Theo quy định tại Điều 292 BLDS năm 2015 có 9 biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự bao gồm: cầm cố tài sản, thế chấp tài sản, đặt cọc, ký cược, ký quỹ, bảo lưu quyền sở hữu, bảo lãnh, tín chấp, cầm giữ tài sản. Trong số đó, có 7 biện pháp được gọi là GDBĐ, 2 biện pháp: bảo lưu quyền sở hữu và cầm giữ tài sản chỉ được gọi là biện pháp bảo đảm. Ta có thể phân nhóm các biện pháp bảo đảm như sau:

Nếu xét tiêu chí luật định, có thể chia thành hai nhóm:

  • Nhóm 1: là nhóm biện pháp bảo đảm xác lập theo quy định của luật: cầm giữ tài sản.
  • Nhóm 2: là nhóm biện pháp bảo đảm xác lập theo sự thoả thuận gồm 8 biện pháp: cầm cố tài sản, thế chấp tài sản, đặt cọc, ký cược, ký quỹ, bảo lưu quyền sở hữu, bảo lãnh, tín chấp.

Nếu xét về tiêu chí tính chất, có thể chia thành hai nhóm

  • Nhóm 1: nhóm biện pháp bảo đảm bằng tài sản (mang tính đối vật): Cầm cố tài sản, thế chấp tài sản, ký cược, ký quỹ, đặt cọc, cầm giữ tài sản, bảo lưu quyền sở hữu.
  • Nhóm 2: nhóm biện pháp bảo đảm không bằng tài sản (mang tính đối nhân): bảo lãnh, tín chấp

Trên thực tế, để đảm bảo cho việc cấp tín dụng nói chung và cho vay nói riêng thì các NHTM sử dụng các loại GDBĐ: cầm cố tài sản, thế chấp tài sản, ký quỹ, bảo lãnh và tín chấp. Trong đó, thế chấp tài sản là một trong những GDBĐ được sử dụng phổ biến. Nếu trường hợp tài sản thuộc sở hữu của bên vay, thì trong giao dịch vay vốn tồn tại hai chủ thể: Bên vay (cũng là BTC) – Bên cho vay (cũng chính là BNTC). Nếu trường hợp TSBĐ thuộc sở hữu một đối tượng khác với bên vay, lúc này sẽ có ba chủ thể tham gia giao dịch vay vốn gồm: Bên vay, BTC, BNTC. Nếu xét về HĐCV sẽ tồn tại 2 chủ thể: Bên vay và bên cho vay. Nếu xét về HĐBĐ, các chủ thể là: BTC, BNTC và bên vay. Trong bài viết này, tác giả tạm gọi bên có tài sản là bên thứ ba, và sẽ phân tích quy định pháp luật về Thế chấp tài sản bên thứ ba đảm bảo khoản vay tại NHTM.

Theo quan điểm của PGS.TS Đỗ Văn Đại: việc dùng tài sản để đảm bảo nghĩa vụ cho bên thứ ba chưa được thừa nhận một cách chính thống từ Quốc hội và đồng tình từ Toà án. Hay nói cách khác thế chấp chỉ dùng để đảm bảo cho nghĩa vụ của chính bên có tài sản. Luận văn: P.luật thế chấp tài sản bên thứ ba đảm bảo khoản vay.

Theo quan điểm của tác giả Nguyễn Hồng Hải (2017): bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự của người khác là việc một bên thoả thuận với chủ nợ sẽ bảo đảm cho việc thực hiện nghĩa vụ của bên vay thông qua lời cam kết (là biện pháp bảo đảm mang tính đối nhân như bảo lãnh hoặc tín chấp) hay thông qua tài sản cụ thể (biện pháp bảo đảm đối vật như cầm cố, thế chấp).

Theo quan điểm của tác giả: Nếu theo định nghĩa tại BLDS năm 1995 thì bên có nghĩa vụ dùng tài sản thuộc sở hữu của mình để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ của chính mình, tức là trong giao dịch dân sự này chỉ tồn tại hai chủ thể là bên có nghĩa vụ cũng chính là BTC và BNTC. Nhưng xét về định nghĩa thế chấp theo quy định của BLDS năm 2005 và BLDS năm 2015 thì gần như là tương đồng nhau và có sự khác biệt với BLDS năm 1995 trước đó: cả hai bộ luật đều nêu lên việc một bên dùng tài sản thuộc sở hữu của mình để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ mà không đề cập đến nghĩa vụ đó là của ai: của chính bên có tài sản hay một bên khác có nghĩa vụ. Tuy nhiên trong BLDS năm 2015 cũng không có một điều khoản nào cấm, hạn chế quyền của các chủ thể khi lựa chọn các biện pháp bảo đảm miễn là đáp ứng các nguyên tắc cơ bản của BLDS bao gồm:

  • Nguyên tắc tự do, tự nguyện cam kết thoả thuận: miễn là thoả thuận này không vi phạm vào các điều cấm của luật và đạo đức xã hội.
  • Quyền dân sự của các bên có thể bị hạn chế để phục vụ quốc phòng, hay an ninh quốc gia, sức khoẻ của cộng đồng….
  • Các chủ thể thực hiện quyền dân sự không được lạm quyền gây thiệt hại cho chủ thể khác, hoặc thực hiện mục đích phạm pháp và đảm bảo tuân thủ các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự theo Điều 3 BLDS.

Mặc dù BLDS năm 2015 chưa có quy định cụ thể về thế chấp tài sản bên thứ ba nhưng nếu các giao dịch dân sự được thiết lập giữa các bên đảm bảo tuân thủ đúng các nguyên tắc này thì các giao dịch này vẫn được công nhận hiệu lực. Bên cạnh đó, theo hướng dẫn tại Nghị định số 21/2021/NĐ-CP ngày 19 tháng 03 năm 2021 đã phần nào cụ thể hóa, giải thích thêm cho khái niệm này thông qua quy định: Người có nghĩa vụ có thể đồng thời hoặc không đồng thời là bên bảo đảm. Điều này có nghĩa là có thể tồn tại 2 bên: người có nghĩa vụ – bên có tài sản và bên có tài sản hoàn toàn có thể dùng tài sản của mình để bảo đảm cho người có nghĩa vụ. Trong trường hợp này có thể áp dụng GDBĐ là cầm cố tài sản, thế chấp tài sản. Hơn nữa, quan điểm của Bộ tư pháp cũng đã công nhận GDBĐ của bên thứ ba thông qua Khoản 3 Điều 4 Thông tư số 07/2019/TT- BTP ngày 25 tháng 11 năm 2019: việc đăng ký thế chấp QSDĐ, TSGLVĐ, QSDĐ đồng thời TSGLVĐ…được thực hiện để đảm bảo nghĩa vụ dân sự của BTC, nghĩa vụ người khác hoặc nghĩa vụ của cả BTC và người khác.

Từ những phân tích ở trên, chúng ta có thể đưa ra khái niệm: Thế chấp tài sản bên thứ ba để đảm bảo cho khoản vay tại NHTM sự thoả thuận giữa các bên rằng một bên (gọi BTC) sử dụng tài sản thuộc sở hữu của mình để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ trả nợ của bên nghĩa vụ với NHTM (BNTC) không sự chuyển giao tài sản giữa các bên tham gia giao dịch.

1.1.2 Đặc điểm thế chấp tài sản của bên thứ ba để đảm bảo khoản vay tại ngân hàng thương mại

  • Thứ nhất: không có sự chuyển giao TSTC Luận văn: P.luật thế chấp tài sản bên thứ ba đảm bảo khoản vay.

Thế chấp tài sản của bên thứ ba cũng có đặc điểm như thế chấp là không có sự chuyển giao TSTC. Điều này có nghĩa là BTC được phép tiếp tục sử dụng, khai thác hoa lợi, lợi tức, công năng hiện có của TSTC. Đối với BNTC thì cũng tiết kiệm được chi phí quản lý, lưu trữ TSBĐ. Đây cũng xem như là một ưu điểm của biện pháp bảo đảm này.

  • Thứ hai: Thế chấp tài sản của bên thứ ba mang tính đối vật.

Đây là đặc tính cơ bản và nổi trội nhất để phân biệt biện pháp bảo đảm này với các biện pháp bảo đảm khác. Vật quyền hay quyền đối vật là quyền của chủ thể đối với một tài sản; tương ứng từng quan hệ của chủ thể với tài sản mà chủ thể có quyền khác nhau (quyền sở hữu, quyền định đoạt….)

Vật quyền bảo đảm (tiếng Pháp: sûreté réelle) là một khái niệm của hệ thống pháp luật Châu Âu lục địa (Civil law), được dùng để chỉ quyền trực tiếp và ngay tức khắc của bên nhận bảo đảm trên một tài sản được chủ sở hữu của nó dùng để đảm bảo thực hiện một nghĩa vụ. Vật quyền bảo đảm là một biện pháp làm tăng quyền năng của trái chủ, mà không phụ thuộc vào người khác, cho phép trái chủ có quyền lợi đặc biệt đối với tài sản của người thụ trái. Quan hệ đảm bảo có thể gồm cả trường hợp bên thứ ba dùng tài sản của mình để bảo đảm nghĩa vụ của bên khác, theo đó, chủ sở hữu đã trao quyền định đoạt tài sản của mình cho BNTC. Trong quan hệ vật quyền thì chủ thể có thể thực hiện quyền của mình lên đối tượng là tài sản bằng hành vi trực tiếp của mình mà không quan tâm đến ý kiến của chủ thể khác. Nhờ đó mà quan hệ vật quyền tạo sự an tâm hơn và chủ động cho trái chủ. Các quyền đối vật trong quan hệ vật quyền bao gồm:

  • Quyền tác động trực tiếp lên tài sản: như chính tên gọi đây là quyền của BNTC thực hiện các hành vi tác động trực tiếp lên TSBĐ. Đây là quyền quan trọng nhất, giành sự chủ động cho BNTC, để có thể triển khai nhanh chóng nhất quyền lợi của mình khi xảy ra tình huống phải xử lý đến TSBĐ.
  • Quyền theo đuổi: là quyền của BNTC trong việc duy trì, lặp lại quyền chiếm hữu, kiểm soát TSBĐ cho việc hưởng quyền dân sự của mình. Nghĩa là, dù cho TSBĐ có chuyển nhượng cho ai đi nữa thì vẫn trong tình trạng đã được thế chấp; quyền của BNTC vẫn được duy trì. Pháp luật một số quốc gia cũng quy định cụ thể về nội dung này: Theo điều 2393 BLDS của nước Cộng hòa Pháp: “khi BĐS được chuyển dịch sang cho người thứ ba, biện pháp thế chấp đã xác lập trên BĐS đó vẫn tồn tại”; hay điều 2660 BLDS Quebec Canada: “biện pháp thế chấp trao cho người quyền đòi nợ quyền được theo tài sản tài sản này đến tay người nào”, hay quy định tại khoản 2 Điều 297 BLDS năm 2015 “Khi biện pháp bảo đảm phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba thì bên nhận bảo đảm được quyền truy đòi TSBĐ được quyền thanh toán theo quy định tại Điều 308 của Bộ luật này luật khác liên quan

Ví dụ: BNTC có quyền yêu cầu người mua, người nhận tặng cho TSTC… phải giao tài sản cho mình để xử lý thu hồi nợ. Nguyên tắc này không chỉ bảo vệ người có quyền đối vật, mà còn khuyến khích TSBĐ tham gia các giao dịch dân sự, thương mại, cũng như xác định cơ chế pháp lý ràng buộc trách nhiệm của người mua, người nhận tặng cho tài sản.

Quyền kiểm soát lưu thông tài sản: là quyền của BNTC thực hiện các hành vi để ngăn chặn việc định đoạt trái phép TSBĐ hoặc hành vi làm mất, làm giảm sút giá trị TSBĐ. Luận văn: P.luật thế chấp tài sản bên thứ ba đảm bảo khoản vay.

  • Thứ ba: quan hệ của BTC và bên có nghĩa vụ

Một trong chức năng chính của GDBĐ là để đảm bảo khả năng thu hồi vốn đã cấp trong trường hợp khách hàng không có khả năng hoàn trả nợ gốc, lãi, các loại phí cho NHTM; nâng cao trách nhiệm của bên vay. Bởi lẽ nếu TSTC của chính khách hàng vay thì khi bên vay không hoàn trả đúng, đủ nghĩa vụ của mình thì sẽ đối mặt nguy cơ mất tài sản đó. Từ đó bên vay buộc phải cân nhắc kỹ lưỡng hơn về hiệu quả của phương án, dự án dự tính triển khai thực hiện. Hơn nữa, việc thế chấp tài sản của chính mình khiến bên vay nâng cao hơn trách nhiệm, thiện chí thực hiện nghĩa vụ với bên cho vay. Tuy nhiên đặc điểm này lại khá hạn chế tác dụng đối với biện pháp bảo đảm Thế chấp tài sản của bên thứ ba. Bởi nếu bên vay vi phạm nghĩa vụ theo thỏa thuận thì bên vay không hề chịu thiệt hại nào về tài chính mà BTC mới là người phải đối diện nguy cơ mất tài sản đã mang đi thế chấp cho NHTM. Trong quan hệ này, BTC là người không có quyền lợi nhưng lại có nghĩa vụ. Do đó, tính trách nhiệm và thiện chí của bên vay không bị ảnh hưởng bởi GDBĐ đã thiết lập. Chính vì vậy, để “khôi phục” tính năng đối với biện pháp bảo đảm này, các NHTM thường yêu cầu: BTC và bên vay phải có quan hệ huyết thống (cha mẹ ruột, cha mẹ vợ, con ruột…hoặc thành viên trong cùng gia đình), điều hành (tài sản của người điều hành bảo đảm nghĩa vụ của doanh nghiệp) hoặc quan hệ sở hữu (tài sản của người sở hữu, nắm giữ phần lớn cổ phần của doanh nghiệp để đảm bảo nghĩa vụ cho doanh nghiệp đó)…

  • Thứ : Nghĩa vụ của bên thế chấp

Đối với tình huống Thế chấp đảm bảo khoản vay của chính mình: Bên thế chấp cũng đồng thời là bên vay. Nghĩa vụ của bên thế chấp lúc này bao gồm cả nghĩa vụ của hai chủ thể là bên thế chấp và bên vay. Khi xử lý TSBĐ không đủ thanh toán nghĩa vụ nợ tại NHTM thì bên thế chấp vẫn phải thực hiện tiếp nghĩa vụ với tư cách của bên vay. Tuy nhiên đối với tình huống Thế chấp đảm bảo nghĩa vụ người khác thì bên thế chấp chỉ phải chịu trách nhiệm trong phạm vi TSTC. Bên vay là người phải thanh toán tiếp phần nợ vay còn lại sau khi xử lý TSBĐ.

1.1.3 Sự khác biệt giữa biện pháp thế chấp tài sản của bên thứ ba bảo lãnh Luận văn: P.luật thế chấp tài sản bên thứ ba đảm bảo khoản vay.

Cho đến thời điểm hiện tại vẫn còn tồn tại nhiều quan điểm, tranh luận xoay quanh việc một bên dùng tài sản thuộc sở hữu của mình để đảm bảo nghĩa vụ của bên khác là thế chấp tài sản bên thứ ba hay bảo lãnh.

Quan điểm thứ nhất: Bảo lãnh đối vật là biện pháp mà trong đó các bên có thể sử dụng biện pháp cầm cố hoặc thế chấp tài sản cụ thể để đảm bảo cho nghĩa vụ bảo lãnh. Trách nhiệm của bên bảo lãnh chỉ giới hạn trong phạm vi tài sản mang đi cầm cố, thế chấp. Bên bảo lãnh có thể giới hạn rủi ro về tài sản mà mình có thể phải chịu. Như vậy theo quan điểm này thì gần như không có sự khác biệt rõ ràng giữa thế chấp và bảo lãnh về trách nhiệm của bên bảo đảm.

Quan điểm thứ hai: việc một bên sử dụng QSDĐ, QSHNƠ để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ của người khác (hay còn gọi là thế chấp BĐS của bên thứ ba) hoàn toàn phù hợp quy định về bảo lãnh. Theo quan điểm này tác giả loại trừ việc thế chấp trực tiếp của bên thứ ba mà thừa nhận bảo lãnh của bên thứ ba. Việc thế chấp BĐS là để đảm bảo cho nghĩa vụ bảo lãnh, và quan hệ thế chấp này luôn phải gắn với quan hệ bảo lãnh.

Quan điểm thứ ba: bên bảo lãnh có thể sử dụng thêm biện pháp thế chấp để đảm bảo nghĩa vụ bảo lãnh của mình. Trong đó, biện pháp bảo đảm thế chấp là quan hệ phái sinh từ quan hệ bảo lãnh. Tuy nhiên, trong quan hệ thế chấp để đảm bảo nghĩa vụ người khác thì lại không nhất thiết phải tồn tại đồng thời hai quan hệ thế chấp và bảo lãnh. BTC không đồng thời là bên bảo lãnh nên không phải thực hiện nghĩa vụ thay cho bên có nghĩa vụ. Như vậy theo ý kiến này có hai trường hợp rõ ràng: Thế chấp tài sản bên thứ ba để đảm bảo cho nghĩa vụ cho bên khác và bên bảo lãnh dùng tài sản của mình để thế chấp cho nghĩa vụ bảo lãnh của chính mình.

Để phân biệt được hai biện pháp bảo đảm này, chúng ta sẽ cùng đi tìm hiểu, phân tích các đặc điểm sau:

  • Một : Tính chất đối nhân và đối vật

Thế chấp là có sự chỉ định cụ thể về TSBĐ mang tính đối vật. Theo khái niệm luật La tinh: Vật quyền được dùng để chỉ quyền có thể được thực hiện trực tiếp và ngay tức khắc trên một vật. Quan hệ này được xác định trên hai yếu tố: chủ thể của quyền (người có quyền) và đối tượng của quyền (vật). Trong đó, chủ thể có thể có thể thực thi quyền của mình lên đối tượng (vật) một cách độc lập, không cần đến sự hỗ trợ, hợp tác của người khác. Theo PGS.TS. Ngô Huy Cương (2013): quyền đối vật thi hành trực tiếp lên vật và luôn luôn là đối tượng làm tăng tài sản của chủ thể quyền. Về chủ thể: quyền đối vật bao giờ cũng xác định được chủ thể quyền, còn chủ thể của nghĩa vụ là tất cả những người còn lại […]. Về đối tượng: quyền đối vật có chủ thể là vật.

Ngược lại, bảo lãnh là biện pháp bảo đảm mang tính đối nhân (trái quyền). Trái quyền được thiết lập giữa hai chủ thể và chỉ có thể được thực hiện suôn sẻ trên cơ sở hợp tác tích cực giữa hai chủ thể đó. Deluxe Black’s Law Dictionary (1990) giải nghĩa: Quyền đối nhân (right in personam) là một quyền áp đặt một nghĩa vụ đối với một người xác định. Theo PGS.TS. Ngô Huy Cương (2013) có thể phân biệt quyền đối nhân và quyền đối vật thông qua chủ thể của quyền và đối tượng của quyền. Theo đó:

  • Về chủ thể: quyền đối nhân có hai loại chủ thể là trái chủ và người thụ trái […] trong đó trái chủ là loại chủ thể tích cực có quyền yêu cầu người thụ trái phải thi hành một nghĩa vụ nào đó; còn người thụ trái là loại chủ thể tiêu cực phải thi hành nghĩa vụ vì quyền lợi của trái chủ, hoặc của người khác mà đã được xác định cụ thể trong quan hệ chủ thể;
  • Về đối tượng: quyền đối nhân có ba loại đối tượng là chuyển giao tài sản, làm hoặc không làm một việc nào đó.

BLDS Pháp có hiệu lực tại thời điểm năm 2018, khái niệm về biện pháp bảo lãnh được quy định tại Điều 2288 là một biện pháp đối nhân: “Người bảo lãnh một nghĩa vụ phải thực hiện nghĩa vụ đó đối với người quyền nếu người nghĩa vụ không tự mình thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ”. Luận văn: P.luật thế chấp tài sản bên thứ ba đảm bảo khoản vay.

Tương tự, BLDS năm 2015 Việt Nam cũng định nghĩa: Bảo lãnh là một lời cam kết từ bên bảo lãnh với bên nhận bảo lãnh rằng sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên có nghĩa vụ khi bên có nghĩa vụ vi phạm cam kết theo HĐCV. Bản chất của bảo lãnh chính là dùng uy tín (có thể dựa trên năng lực tài chính, bảng xếp hạng do các tổ chức uy tín quốc tế…) của bên bảo lãnh để đảm bảo nghĩa vụ trả nợ. Vì tính chất đặc thù như vậy nên bảo lãnh mang tính đối nhân. Đứng ở góc độ NHTM thì lúc này bên bảo lãnh đóng vai trò như một “con nợ dự phòng” hay “con nợ thứ hai” (“con nợ đầu tiên” là bên vay). Khi bên vay không thực hiện đầy đủ, đúng thời hạn hoặc không thực hiện được nghĩa vụ trước hạn thì bên bảo lãnh phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ thay cho bên vay. NHTM chính là trái chủ, bên bảo lãnh là người thụ trái, đối tượng là thực hiện hành động trả nợ thay cho bên có nghĩa vụ khi họ vi phạm. Tính chất đối nhân này càng thể hiện rõ ràng hơn ở khoản 2 Điều 342 BLDS năm 2015: “Trường hợp bên bảo lãnh không thực hiện đúng nghĩa vụ bảo lãnh thì bên nhận bảo lãnh quyền yêu cầu bên bảo lãnh thanh toán giá trị nghĩa vụ vi phạm bồi thường thiệt hại”.

Tuy nhiên, để tăng thêm tính trách nhiệm, khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình với NHTM, thì hai bên có thể thỏa thuận sử dụng thêm biện pháp bảo đảm khác để đảm bảo nghĩa vụ bảo lãnh của bên bảo lãnh. Trong tình huống này, các bên có thể sử dụng biện pháp bảo đảm là cầm cố, thế chấp tài sản của chính bên bảo lãnh hoặc tài sản của bên khác. Việc dùng tài sản của bên khác để đảm bảo nghĩa vụ bảo lãnh là trường hợp kết hợp giữa biện pháp bảo lãnh và cầm cố, thế chấp tài sản để đảm bảo nghĩa vụ của bên thứ ba.

Theo tìm hiểu của tác giả, quy định về biện pháp bảo lãnh theo pháp luật Việt Nam cũng khá tương đồng với pháp luật của Úc, Pháp, chỉ khác ở chỗ là theo pháp luật của Úc thì bảo lãnh không phải mang tính chất của một biện pháp bảo đảm (“securities”) mà mang tính chất của một nghĩa vụ theo hợp đồng, theo đó bên bảo lãnh cam kết với bên nhận bảo lãnh để thực hiện nghĩa vụ của bên thứ ba khi bên thứ ba đó không thực hiện nghĩa vụ của mình .

  • Hai : Phạm vi bảo đảm cho nghĩa vụ Luận văn: P.luật thế chấp tài sản bên thứ ba đảm bảo khoản vay.

Đối với biện pháp bảo đảm Thế chấp tài sản của bên thứ ba: xuất phát từ bản chất là tính đối vật nên BTC chỉ phải chịu trách nhiệm trong phạm vi TSTC. Nếu bên vay vi phạm nghĩa vụ theo HĐCV đã giao kết, bên cho vay sau khi đã sử dụng các biện pháp nghiệp vụ cần thiết để thu hồi nợ gốc, lãi trong hạn, lãi quá hạn, phí… nhưng thất bại, NHTM buộc phải sử dụng đến biện pháp bảo đảm để thu hồi nợ. Lúc này BTC phải giao TSTC cho NHTM xử lý để thu hồi khoản vay và phải đối mặt với tình huống xấu nhất là mất đi tài sản đã mang thế chấp cho ngân hàng. Trường hợp, khi xử lý TSTC của bên thứ ba nhưng vẫn chưa thu hồi đầy đủ khoản vay theo HĐCV thì phần nghĩa vụ còn lại sẽ được bảo đảm bằng biện pháp bảo đảm khác hoặc trở thành cho vay không có TSBĐ ( nếu không còn biện pháp bảo đảm khác) và việc thực hiện hoàn trả giá trị khoản vay thuộc về bên vay, còn BTC xem như đã hoàn thành nghĩa vụ với ngân hàng. Hay nói cách khác: thiệt hại lớn nhất của BTC là toàn bộ giá trị tài sản đã thế chấp cho NHTM.

Phạm vi bảo đảm của bên bảo lãnh giới hạn nội dung cam kết của mình, có thể là toàn bộ nghĩa vụ nợ gốc, lãi, phí theo HĐCV giao kết giữa bên vay và NHTM; hoặc cũng có thể giới hạn ở một số tiền nhất định. Tình huống thứ hai xảy ra khi bên bảo lãnh muốn giới hạn trách nhiệm mình trong một số tiền tối đa theo cam kết, nếu NHTM cho vay lớn hơn số tiền này thì phần vượt đó hoặc là cho vay không có bảo đảm hoặc là được đảm bảo bởi biện pháp bảo đảm khác. Khi bên bảo lãnh không có khả năng thực hiện đúng nghĩa vụ này thì bên cho vay khởi kiện, Tòa án yêu cầu bên bảo lãnh phải giao các tài sản thuộc sở hữu của mình cho đến khi thực hiện đủ nghĩa vụ đó. Tình huống xấu nhất bên bảo lãnh phải đối mặt là có thể phải giao toàn bộ tài sản để thực hiện đầy đủ nghĩa vụ bảo lãnh của mình (trong khi đó ở Biện pháp thế chấp tài sản của bên thứ ba thì BTC chỉ phải giao tài sản đã thế chấp).

Trong quan hệ vay vốn với NHTM, cam kết của bên bảo lãnh là thanh toán, trả nợ thay cho bên vay. Nếu bên vay không thực hiện đúng theo các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 44 Nghị định số 21/2021/NĐ-CP ngày 19 tháng 03 năm 2021 thì bên bảo lãnh phải thực hiện theo lời mình đã cam kết. Nếu bên bảo lãnh muốn tăng thêm sự tín nhiệm từ các NHTM thì có thể kết hợp thêm biện pháp bảo đảm khác như cầm cố, thế chấp TSBĐ để đảm bảo nghĩa vụ bảo lãnh của chính mình. Khi nghĩa vụ bảo lãnh xuất hiện, nếu giá trị tài sản dùng để đảm bảo nghĩa vụ bảo lãnh nhỏ hơn nghĩa vụ bảo lãnh thì phần nghĩa vụ vượt quá là phần nghĩa vụ không bảo đảm. Tuy nhiên, bên bảo lãnh vẫn còn nghĩa vụ phải thanh toán tiếp phần còn thiếu đó, trường hợp không thanh toán được NHTM sẽ khởi kiện yêu cầu bên bảo lãnh giao tài sản để thực hiện nghĩa vụ.

Tóm lại: ở GDBĐ bảo lãnh thì bên vay và bên bảo lãnh đều phải chịu trách nhiệm về nghĩa vụ còn lại nếu xử lý TSBĐ mà không đủ hoàn trả đầy đủ nghĩa vụ với NHTM. Bên nhận thế chấp không có quyền yêu cầu thanh toán các khoản nợ từ bên thế chấp nhưng đối với quan hệ bảo lãnh thì các NHTM hoàn toàn có quyền này.

  • Ba : Tư cách của bên bảo đảm

Yêu cầu đối với BTC trong GDBĐ Thế chấp tài sản của bên thứ ba:

BTC là cá nhân: có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự.

BTC là pháp nhân: có năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân, giao dịch được thực hiện bởi người đại diện theo pháp luật hoặc người đại diện theo ủy quyền, tuy nhiên lưu ý là phải đảm bảo xác định đúng phạm vi quyền hạn của người được ủy quyền, tránh tình huống giao dịch bị vô hiệu do sai thẩm quyền, vượt phạm vi được ủy quyền.

Tiêu chuẩn đối với bên bảo lãnh: ngoài các tiêu chuẩn cơ bản như BTC trong GDBĐ thế chấp tài sản của bên thứ ba thì bên bảo lãnh còn phải có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự tương ứng với nghĩa vụ bảo lãnh. Đối với giao dịch bảo lãnh trong quan hệ cho vay tại NHTM, bên bảo lãnh cam kết thực hiện nghĩa vụ thay cho bên cho vay, mà nghĩa vụ của bên cho vay là hoàn trả đầy đủ, đúng hạn, đầy đủ tiền gốc, lãi vay, các loại phí. Do đó, bên bảo lãnh đóng vai trò như một “con nợ thứ cấp”, cũng phải đáp ứng điều kiện như một khách hàng vay vốn thực sự. Nếu phân tích sâu hơn thì ngoài điều kiện theo luật định, bên bảo lãnh còn phải đáp ứng các điều kiện như một khách hàng vay vốn tại các NHTM. Trên thực tế điều mà các NHTM quan tâm nhất chính là năng lực tài chính của bên bảo lãnh, họ phải thẩm định và xác định được bên bảo lãnh có khả năng, năng lực thực hiện lời cam kết hay không. Điều đó thường thể hiện qua các chỉ số tài chính hay đôi khi qua giá trị các tài sản mà họ đang sở hữu. Luận văn: P.luật thế chấp tài sản bên thứ ba đảm bảo khoản vay.

  • Bốn : Quan hệ hợp đồng chính – phụ

Cơ sở phát sinh HĐBĐ chính là HĐCV. Chính nghĩa vụ phát sinh của bên vay với bên cho vay theo HĐCV mới dẫn đến sự cần thiết của HĐBĐ. HĐBĐ như một biện pháp phòng ngừa trong trường hợp bên vay vi phạm nghĩa vụ của mình, cụ thể là không thể hoàn trả tiền vay đầy đủ đúng hạn, hoặc phải trả nợ trước hạn theo điều khoản đã giao kết trong HĐCV. Do đó, có thể nói mối quan hệ giữa HĐCV – HĐBĐ có phần giống quan hệ giữa hợp đồng chính – phụ trong giao dịch dân sự. Tuy nhiên, HĐCV vô hiệu thì không hẳn dẫn đến sự vô hiệu của HĐBĐ mà chia thành hai tình huống:

  • Nếu HĐCV vẫn chưa được thực hiện thì HĐBĐ cũng chấm dứt.
  • Nếu HĐCV đã được các bên thực hiện một phần hoặc toàn bộ thì HĐBĐ không chấm dứt.

Nếu tạm gọi mối quan hệ HĐCV và HĐBĐ là hợp đồng chính – phụ dựa trên cơ sở phát sinh thì ta có thể thấy:

Đối với biện pháp thế chấp tài sản bên thứ ba: HĐCV là hợp đồng chính, HĐTC tài sản bên thứ ba là hợp đồng phụ.

Đối với biện pháp bảo lãnh: HĐCV là hợp đồng chính, hợp đồng bảo lãnh là hợp đồng phụ. Nếu bên bảo lãnh sử dụng kết hợp biện pháp bảo đảm khác như cầm cố, thế chấp thì: hợp đồng bảo lãnh là hợp đồng chính; hợp đồng cầm cố, thế chấp là hợp đồng phụ – dựa trên cơ sở nghĩa vụ bảo lãnh của hợp đồng chính.

  • Năm là: Xử lý TSBĐ

Xử lý TSBĐ đối với biện pháp thế chấp tài sản bên thứ ba xảy ra khi bên có nghĩa vụ không thực hiện hay thực hiện không đúng thỏa thuận hoặc trong trường hợp bên có nghĩa vụ phải thực hiện trước hạn khi vi phạm điều khoản đã thỏa thuận hoặc tuân theo quy định của luật. Nói cách khác: ngay khi bên vay vi phạm nghĩa vụ theo thoả thuận tại HĐCV thì NHTM có quyền xử lý TSTC. Luận văn: P.luật thế chấp tài sản bên thứ ba đảm bảo khoản vay.

Xử lý TSBĐ đối với biện pháp bảo lãnh NHTM sẽ phải tiến hành trình tự các bước sau để thu nợ:

  • Yêu cầu bên vay thực hiện nghĩa vụ của mình.
  • Nếu bên vay không thực hiện được thì NHTM sẽ yêu cầu bên bảo lãnh trả nợ thay theo cam kết

Nếu bên bảo lãnh cũng không thực hiện đúng nghĩa vụ của mình thì NHTM mới yêu cầu bên bảo lãnh giao tài sản thuộc sở hữu của mình để xử lý (đối với trường hợp bảo lãnh không kèm biện pháp bảo đảm khác) hoặc xử lý tài sản mà bên bảo lãnh đã thế chấp, cầm cố (đối với trường hợp bảo lãnh kèm biện pháp bảo đảm là thế chấp, cầm cố).

Tóm lại, qua phân tích chúng ta nhận thấy mặc dù có những điểm tương đồng là đều đảm bảo việc thực hiện nghĩa vụ của người khác, nhưng hai biện pháp bảo đảm này vẫn có những sự khác biệt cơ bản: nếu ở biện pháp thế chấp tài sản của bên thứ ba mang tính đối vật thì ở biện pháp bảo lãnh mang tính đối nhân. Khi một bên muốn đảm bảo nghĩa vụ của bên khác thì sẽ có hai tình huống xảy ra:

  • Nếu bên bảo đảm muốn giới hạn nghĩa vụ của mình trong phạm vi TSBĐ thì sử dụng biện pháp thế chấp tài sản.

Nếu bên bảo đảm lựa chọn sử dụng biện pháp bảo lãnh thì phải chịu trách nhiệm trả thay cho bên có nghĩa vụ (có thể là một số tiền nhất định hoặc toàn bộ nghĩa vụ của bên vay tại NHTM) trong phạm vi cam kết của mình. Trường hợp các bên sử dụng thêm biện pháp bảo đảm khác như cầm cố, thế chấp để đảm bảo cho nghĩa vụ bảo lãnh của bên bảo lãnh thì sẽ có hai tình huống:

  • Tình huống 1: nếu tài sản thuộc sở hữu của bên bảo lãnh thì đây là cầm cố, thế chấp tài sản để đảm bảo nghĩa vụ của chính mình. Khi xử lý TSBĐ không đủ thanh toán nghĩa vụ bảo lãnh thì bên bảo lãnh vẫn phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ của mình cho đến khi hoàn tất.
  • Tình huống 2: nếu tài sản thuộc sở hữu của bên khác thì đây là cầm cố, thế chấp tài sản bên thứ ba (bên bảo lãnh)35. Khi xử lý TSBĐ để thanh toán cho nghĩa vụ bảo lãnh, và nếu không đủ thì chủ sở hữu tài sản (bên cầm cố, thế chấp) không phải thanh toán thêm bất kỳ khoản nào nữa; nhưng bên bảo lãnh vẫn phải thanh toán tiếp phần nghĩa vụ theo phạm vi cam kết của mình. Luận văn: P.luật thế chấp tài sản bên thứ ba đảm bảo khoản vay.

Hơn nữa nếu ở tình huống (i) thì khi bên có nghĩa vụ không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ thì BTC phải giao tài sản thế chấp cho NHTM xử lý, trong khi ở tình huống (ii) thì bên bảo lãnh phải thực hiện nghĩa vụ theo cam kết là trả nợ thay cho bên có nghĩa vụ, nếu bên bảo lãnh không thực hiện đúng nghĩa vụ thì mới phải giao TSBĐ cho NHTM.

Quay trở lại quan điểm của các nhà nghiên cứu về biện pháp bảo đảm thế chấp tài sản của bên thứ ba và bảo lãnh:

  • Ở quan điểm một nêu trên hàm ý rằng trách nhiệm bên bảo lãnh chỉ giới hạn trong TSBĐ mang đi cầm cố, thế chấp. Tuy nhiên nếu xét tính đối nhân của biện pháp bảo lãnh thì trách nhiệm của bên bảo lãnh không bị giới hạn ở TSBĐ mang đi thế chấp cầm cố. Trong phạm vi cam kết bảo lãnh thì bên bảo lãnh phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình.
  • Ở quan điểm hai lại cho rằng chỉ có một trường hợp xảy ra khi một bên dùng tài sản của mình để bảo đảm nghĩa vụ người khác là: thế chấp để đảm bảo nghĩa vụ bảo lãnh. Tuy nhiên với cách hiểu này đã hạn chế sự phong phú các biện pháp bảo đảm theo quy định của BLDS năm 2015. Hơn nữa, nếu theo quan điểm này thì trách nhiệm bên bảo đảm sẽ không chỉ ở tài sản thế chấp mà là toàn bộ nghĩa vụ trả thay cho bên có nghĩa vụ. Tuy nhiên bên bảo lãnh sẽ có quyền truy đòi bên có nghĩa vụ phải hoàn trả lại cho mình số tiền đã thanh toán thay, trong khi đó nếu xét trong quan hệ thế chấp tài sản của bên thứ ba thì BTC không có quyền này.
  • Ở quan điểm ba: tác giả đã nhận thấy sự khác biệt giữa thế chấp để đảm bảo nghĩa vụ người khác và thế chấp đảm bảo nghĩa vụ chính mình trong quan hệ bảo lãnh. Đây là quan điểm phù hợp nhất với các đặc điểm mà tác giả đã phân tích như trên.

Như vậy, nếu xét về chủ thể giao dịch “bên bảo đảm” trong GDBĐ cho nghĩa vụ của người khác thì có 2 tình huống chính là: Thế chấp tài sản của bên thứ ba và bảo lãnh. Nếu xét về đối tượng giao dịch là TSBĐ thì sẽ có hai tình huống là bảo đảm để thực hiện nghĩa vụ của người khác (thế chấp tài sản của bên thứ ba) và TSBĐ để bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ của chính mình (quan hệ bảo lãnh có kết hợp biện pháp bảo đảm khác và bên bảo lãnh cũng chính là chủ sở hữu TSBĐ).

1.1.4 Sự cần thiết điều chỉnh pháp luật về thế chấp tài sản bên thứ ba đảm bảo khoản vay trong hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại Luận văn: P.luật thế chấp tài sản bên thứ ba đảm bảo khoản vay.

  • Thứ nhất, đảm bảo quyền và lợi ích các chủ thể

Trong điều kiện kinh tế ngày càng phát triển, giao dịch dân sự diễn ra ngày càng nhiều, nhu cầu giao dịch giữa các bên, các thành phần kinh tế ngày càng đa dạng, tính phức tạp cũng tăng dần. Đặc biệt là giao dịch thế chấp tài sản trong giao dịch vay vốn giữa BTC, bên vay và NHTM cũng ngày càng phổ biến hơn. Việc cần thiết phải có quy định pháp luật để chi phối quyền lợi, nghĩa vụ của các bên; đảm bảo tính tuân thủ của các đối tượng tham gia giao dịch là một nhu cầu tất yếu. Điều này cũng góp phần làm cho bản chất của GDBĐ rõ nét hơn: đảm bảo khả năng thực hiện nghĩa vụ của bên vay hay cũng chính là khả năng thu hồi đầy đủ, đúng hạn của NHTM. Việc hoàn thiện quy định về thế chấp tài sản của bên thứ ba tạo ra hành lang pháp lý, cơ sở pháp lý để các bên bảo vệ bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình, nhất là BTC. Bởi BTC là bên sử dụng tài sản của mình để đảm bảo khoản vay cho bên vay. Giao dịch thế chấp này đã làm phát sinh nghĩa vụ của BTC với NHTM nhưng lại chưa thể hiện được quyền lợi của BTC trong khi bên vay mới là người hưởng lợi trực tiếp từ giao dịch này. Từ đó, cũng đặt ra một vấn đề là phải bảo vệ lợi ích của BTC. Thông thường trong giao dịch dân sự bất kỳ thì các chủ thể tham gia luôn tồn tại song song quyền lợi và nghĩa vụ: quyền của bên này là nghĩa vụ của bên kia và ngược lại. Việc BTC đồng ý mang tài sản thuộc sở hữu của mình để đảm bảo việc thực hiện nghĩa vụ của bên vay tại NHTM thể hiện giữa 2 bên đã tồn tại một giao dịch dân sự. Nguyên tắc chung của BLDS là vẫn tôn trọng sự thỏa thuận, ý chí tự nguyện của các bên tuy nhiên nếu trường hợp BTC và bên vay không tồn tại một thỏa thuận nào thì nên bổ sung quy định pháp luật để bảo vệ quyền lợi của BTC, chẳng hạn quyền được yêu cầu bên vay thực hiện nghĩa vụ với mình trong phạm vi tài sản đã thế chấp (tương tự như quyền của bên bảo lãnh quy định tại Điều 340 BLDS năm 2015).

  • Thứ hai, tạo hành lang pháp lý cho quan hệ thế chấp tài sản của bên thứ ba

GDBĐ thế chấp tài sản của bên thứ ba là phù hợp với xu hướng phát triển chung của pháp luật dân sự và nhu cầu thực tế. Tuy nhiên, trên thực tế đang tồn tại nhiều quan điểm, cách hiểu khác nhau và đôi khi dẫn đến HĐBĐ bị tuyên vô hiệu. Điều này gây ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động cho vay của các NHTM, và nếu như không được hướng dẫn cụ thể thực hiện các GDBĐ hợp pháp, hợp lệ sẽ dẫn đến tình trạng các NHTM e ngại việc cho vay. Hệ quả tiếp theo là sẽ làm giảm chức năng trung gian tài chính của NHTM. Việc cấp vốn cho nền kinh tế cũng tắc nghẽn, các thành phần kinh tế sẽ khó tiếp cận nguồn vốn vay, việc mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh cũng gián đoạn; sự phát triển kinh tế cũng ngày càng khó khăn hơn. Do đó giao dịch này cần được pháp luật ghi nhận và điều chỉnh. Trên thực tế các quan hệ xã hội khá đa dạng nên cần có hành lang pháp lý riêng. Chính nhờ hành lang pháp lý này góp phần:

  • Thiết lập, đảm bảo công bằng, giải quyết những tranh chấp, mâu thuẫn xảy ra giữa các thành phần khác nhau trong xã hội.
  • Định hướng quan hệ xã hội đi theo trật tự chung, phù hợp lợi ích các bên và lợi ích chung của toàn xã hội.

1.2 Nội dung bản của quy định pháp luật về thế chấp tài sản bên thứ ba để đảm bảo khoản vay tại ngân hàng thương mại Luận văn: P.luật thế chấp tài sản bên thứ ba đảm bảo khoản vay.

1.2.1 Chủ thể tham gia giao dịch thế chấp tài sản của bên thứ ba

Chủ thể tham gia giao dịch trong quan hệ thế chấp tài sản của bên thứ ba để đảm bảo khoản vay tại NHTM bao gồm: BNTC, BTC và bên vay.

  • BNTC: trong phạm vi luận văn này tác giả chỉ tập trung nghiên cứu BNTC là các NHTM
  • Tư cách BNTC:

NHTM hoạt động với hình thức công ty cổ phần và/hoặc hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ và được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng: nhận tiền gửi, cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định nhằm mục tiêu lợi nhuận. Hoạt động cho vay là một trong những hoạt động chính và mang lại phần lớn lợi nhuận cho các NHTM.

  • Mục đích tham gia:

Để đảm bảo an toàn cho hoạt động cho vay của mình thì nhận thế chấp TSBĐ là một trong những lựa chọn của các NHTM. Việc đảm bảo thu hồi đầy đủ, đúng hạn tiền vay, tiền lãi, các loại phí khác luôn là vấn đề sống còn của NHTM. Xét về bản chất, GDBĐ mang tính chất dự phòng, nó sẽ phát huy tác dụng nếu một trong các bên vi phạm nghĩa vụ theo hợp đồng đã giao kết. Trong hoạt động cho vay của NHTM, GDBĐ đóng vai trò quan trọng, như một sự bảo đảm khi bên vay không thực hiện đúng, đủ nghĩa vụ theo hợp đồng vay vốn đã giao kết. Lúc này, nguồn thu ban đầu đã được thẩm định có thể đã không đến đúng như kế hoạch đã hoạch định dẫn tới bên vay không có khả năng thanh toán theo lịch trả nợ đã cam kết hoặc do thiện chí trả nợ của bên vay dẫn đến NHTM không thể thu hồi đầy đủ, đúng hạn khoản vay. TSBĐ được dùng như một nguồn thu hồi nợ bổ sung, giúp NHTM thu hồi một phần hoặc toàn bộ vốn vay (có thể bao gồm cả tiền lãi vay trong hạn, quá hạn, các loại phí…). Để đáp ứng điều kiện vay vốn có đảm bảo tại các NHTM, bên vay phải có tài sản theo quy định của bên cho vay. Tuy nhiên không phải lúc nào bên vay cũng đáp ứng được điều này nên biện pháp thế chấp bằng tài sản của bên thứ ba được lựa chọn. Mặc dù vậy, các NHTM vẫn ưu tiên nhận bảo đảm những tài sản thuộc sở hữu của bên vay. Sau khi đã nhận hết tài sản thuộc sở hữu của bên vay, nếu vẫn không đủ bảo đảm khoản vay hoặc những tài sản thuộc sở hữu bên vay không đáp ứng điều kiện trở thành TSBĐ theo quy định của NHTM thì mới xét đến việc nhận thế chấp tài sản của bên thứ ba. Điều này đảm bảo cho việc phát huy thiện chí, tăng tính trách nhiệm của bên vay. Luận văn: P.luật thế chấp tài sản bên thứ ba đảm bảo khoản vay.

  • Cơ sở xác lập:

Chính nghĩa vụ phát sinh của bên vay với bên cho vay theo HĐCV mới dẫn đến sự cần thiết của HĐBĐ. HĐBĐ như một biện pháp phòng ngừa trong trường hợp bên vay vi phạm nghĩa vụ của mình, cụ thể là không thể hoàn trả tiền vay đầy đủ đúng hạn, hoặc phải trả nợ trước hạn theo điều khoản đã giao kết trong HĐCV. Do đó, có thể nói mối quan hệ giữa HĐCV – HĐBĐ có phần giống quan hệ giữa hợp đồng chính – phụ trong giao dịch dân sự. Tuy nhiên, nếu hợp đồng chính là HĐCV vô hiệu không dẫn đến vô hiệu đương nhiên của hợp đồng phụ – HĐBĐ mà còn tùy thuộc vào việc HĐCV đã được thực hiện hay chưa.

  • Bên được bảo đảm:
  • Tư cách bên được bảo đảm (bên vay):

Bên được bảo đảm là cá nhân: Khách hàng là cá nhân từ đủ 18 tuổi trở lên có năng lực hành vi dân sự đầy đủ theo quy định của pháp luật hoặc từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi không bị mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự theo quy định của pháp luật, có quốc tịch Việt Nam, nước ngoài.

Bên được bảo đảm là pháp nhân: có năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân; được thành lập và hoạt động tại Việt Nam, thành lập ở nước ngoài và hoạt động hợp pháp tại Việt Nam. Ngoài ra, giao dịch được thực hiện bởi người đại diện theo pháp luật hoặc người đại diện theo ủy quyền, tuy nhiên lưu ý là phải đảm bảo xác định đúng phạm vi quyền hạn của người được ủy quyền, tránh tình huống giao dịch bị vô hiệu do sai thẩm quyền, vượt phạm vi được ủy quyền.

  • Mục đích tham gia giao dịch:

Bên được bảo đảm có nhu cầu vay vốn từ các NHTM. Bên được bảo đảm là bên có quyền lợi nhất trong giao dịch này: được sử dụng khoản tiền vay vào mục đích hợp pháp (đối với khoản vay phục vụ như cầu đời sống), phù hợp với ngành nghề kinh doanh (đối với khoản vay phục vụ hoạt động kinh doanh, hoạt động khác). Ngoài ra, bên vay còn phải thoả mãn các điều kiện như: nhu cầu vay vốn hợp pháp, không thuộc các nhu cầu không được cho vay như: mua vàng miếng, trả nợ khoản vay cũ, thực hiện hoạt động kinh doanh những ngành nghề cấm… có phương án sử dụng vốn khả thi và có khả năng tài chính trả nợ.

  • Cơ sở xác lập: Luận văn: P.luật thế chấp tài sản bên thứ ba đảm bảo khoản vay.

Mỗi ngân hàng đều có quy định riêng về cấp tín dụng cho khách hàng có bảo đảm, có bảo đảm một phần hay không có bảo đảm. Đó là quyền tự chủ trong hoạt động kinh doanh của các ngân hàng. Tuy nhiên để được vay không có TSBĐ thì thường bộ điều kiện đặt ra cũng khá nghiêm khắc, khó khăn. Nếu bên vay không đáp ứng được các điều kiện này thì bắt buộc phải có TSBĐ. Trường hợp bên vay không có TSBĐ hoặc tài sản không đáp ứng điều kiện của NHTM hoặc tài sản không đủ đảm bảo cho khoản vay thì việc thế chấp tài sản của bên thứ ba là một giải pháp hiệu quả giúp bên vay tiếp cận được nguồn vốn vay để duy trì, mở rộng, phát triển hoạt động kinh doanh; đáp ứng nhu cầu phục vụ đời sống. Với ý nghĩa rộng hơn, khi các cá nhân, doanh nghiệp phát triển thì cũng thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế, gia tăng thu nhập trên mỗi cá nhân, doanh nghiệp, kéo theo đó là tăng thu nhập của quốc gia. Tín dụng phát triển là cơ sở phát triển thị trường vốn, thị trường hàng hóa trong nước và gia tăng xuất khẩu, thị trường lao động….

  • Bên thế chấp:
  • Tư cách BTC:

BTC là chủ sở hữu hợp pháp của TSBĐ và họ đồng ý mang tài sản thế chấp cho NHTM để đảm bảo nghĩa vụ của bên vay. Đầu tiên, BTC chấp phải có năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sự đầy đủ. Theo quy định tại BLDS năm 2015 thì quyền sở hữu bao gồm: quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt. Việc chủ sở hữu tài sản mang tài sản thế chấp là một hình thức thể hiện quyền định đoạt của chủ sở hữu.

  • Mục đích tham gia: Luận văn: P.luật thế chấp tài sản bên thứ ba đảm bảo khoản vay.

BTC là bên có nghĩa vụ trong giao dịch thế chấp tài sản của bên thứ ba đảm bảo khoản vay tại các NHTM nhưng lại không nhận được lợi ích trực tiếp từ quan hệ vay vốn. Việc thế chấp tài sản của mình để đảm bảo cho nghĩa vụ của bên vay để hỗ trợ, tạo tiền đề cho bên vay được tiếp cận vốn vay. Thông thường thì quan hệ giữa bên vay và BTC là:

  • Quan hệ gia đình ruột thịt trong trường hợp bên vay và BTC đều cùng là cá nhân
  • Quan hệ điều hành – quan hệ sở hữu trong trường hợp:

Bên vay là pháp nhân – BTC là cá nhân. Lúc này BTC thường là người trong ban điều hành (chủ tịch hội đồng quản trị/hội đồng thành viên, giám đốc/phó giám đốc), hoặc người sở hữu công ty/ sở hữu phần lớn cổ phần/vốn góp công ty, hoặc là người có quan hệ ruột thịt với những người trên. Quan hệ lợi ích giữa BTC và bên vay là cùng chiều. Việc thế chấp tài sản của các đối tượng này để pháp nhân vay vốn cũng làm cho BTC hưởng lợi ích gián tiếp như thông qua việc tăng thu nhập từ lương thưởng (quan hệ điều hành), tăng lợi tức, lợi nhuận từ hoạt động đầu tư vào bên vay (quan hệ sở hữu).

Bên vay là pháp nhân – BTC là pháp nhân. Thông thường mối quan hệ giữa hai pháp nhân này sẽ là quan hệ sở hữu, điều hành như công ty mẹ – con, các công ty con trong cùng tập đoàn. Việc công ty mẹ, công ty con khác dùng tài sản để đảm bảo cho công ty con vay vốn giúp đơn vị này thực hiện tốt phương án kinh doanh, gia tăng lợi nhuận, mở rộng thị trường kinh doanh thì BTC cũng được gia tăng lợi ích tương ứng (lợi nhuận công ty mẹ cũng được gia tăng do việc sở hữu vốn góp vào các công ty con).

Bên vay là cá nhân – BTC là pháp nhân. Theo tác giả Bùi Đức Giang (2020): nếu người đại diện theo pháp luật của công ty xác lập HĐBĐ bằng tài sản của công ty để bảo đảm cho nghĩa vụ của một bên khác (dù là cá nhân hay tổ chức) mà không chứng minh được lợi ích của giao dịch này đối với công ty thì GDBĐ này có nguy cơ vô hiệu do vi phạm quy định này được hiểu là điều cấm của luật (Điều 123 của BLDS năm 2015). Tuy nhiên trên thực tế vẫn có trường hợp này xảy ra khi các bên có quan hệ lợi ích qua lại với nhau. Xét về quy định, nếu việc “sử dụng TSBĐ để đảm bảo khoản vay cho người khác” đã được chấp thuận bởi cấp có thẩm quyền (hội đồng thành viên, hội đồng cổ đông,…) thì vẫn phù hợp.

1.2.2 Tài sản thế chấp của bên thứ ba Luận văn: P.luật thế chấp tài sản bên thứ ba đảm bảo khoản vay.

TSBĐ là đối tượng của quyền đối vật trong quan hệ bảo đảm. Việc xác định loại tài sản và chủ sở hữu tài sản đóng vai trò quan trọng khi quy định đối tượng của vật quyền bảo đảm

Theo quy định của BLDS năm 2015, tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá, và quyền tài sản. Tài sản bao gồm BĐS và động sản; có thể là tài sản hiện có và tài sản HTTTL. Tài sản được sử dụng để đảm bảo cho nghĩa vụ được gọi là TSBĐ. Bốn loại tài sản đều có thể được sử dụng trong biện pháp thế chấp.

  • Đối với tiền và giấy tờ có giá trên thực tế chủ yếu là cầm cố (có sự chuyển giao tài sản sang cho bên nhận bảo đảm) mà ít khi sử dụng biện pháp thế chấp vì đặc tính dễ chuyển đổi, giá trị cao nên nếu chỉ giao giấy tờ về quyền sở hữu thì bên nhận bảo đảm khó quản lý được TSBĐ.
  • Xét về quyền tài sản, do các bên không thực hiện chuyển giao tài sản cho nhau được nên biện pháp áp dụng là Thế chấp.
  • Đối với BĐS: nếu BĐS là QSDĐ thì chỉ có thể áp dụng biện pháp thế chấp 51, còn nếu là BĐS nói chung thì ngoài áp dụng biện pháp thế chấp còn có thể áp dụng biện pháp cầm cố.

Sự khác biệt cơ bản giữa các BLDS: thế chấp theo BLDS năm 2005 và BLDS năm 2015 là bao gồm cả BĐS và động sản, trong khi theo BLDS năm 1995 thì chỉ được thế chấp BĐS. Hơn nữa, một đặc điểm của thế chấp là bên thế chấp phải giao giấy tờ liên quan đến tài sản thế chấp. Từ đó có thể suy luận ra chỉ những tài sản có đăng ký quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng mới có thể sử dụng làm tài sản thế chấp. Tài sản thế chấp của bên thứ ba về cơ bản cũng giống tài sản thế chấp của chính bên vay và cũng phải đáp ứng điều kiện theo Điều 295 BLDS năm 2015.

1.2.3 Nội dung của Hợp đồng thế chấp tài sản của bên thứ ba

HĐTC cũng là một hợp đồng dân sự, là sự thoả thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự. Thông thường mỗi NHTM ban hành bộ mẫu biểu HĐTC để sử dụng nội bộ và cho khách hàng quan hệ tín dụng. Tuy vậy, nhìn chung HĐTC sẽ có những nội dung sau: Luận văn: P.luật thế chấp tài sản bên thứ ba đảm bảo khoản vay.

  • Mô tả các bên tham gia: Bên thế chấp, bên nhận thế chấp
  • Xác định TSTC: nội dung mô tả càng chính xác, cụ thể thì TSTC càng có thể xác định dễ dàng, tránh tình trạng tranh chấp khi xử lý tài sản. Việc này cũng là cơ sở xác định trách nhiệm các bên. Lưu ý những trường hợp đặc biệt như: thế chấp QSDĐ nhưng không thế chấp tài sản trên đất hoặc tài sản trên đất trên thực tế khác với Giấy chứng nhận.
  • Phạm vi nghĩa vụ bảo đảm: là điều khoản mô tả cụ thể về nghĩa vụ tài chính của BTC. Tùy thuộc thoả thuận các bên thì điều khoản này có thể là một giá trị cụ thể hoặc toàn bộ nghĩa vụ của bên vay với bên cho vay bao gồm cả HĐCV phát sinh trước, trong, sau khi ký HĐTC này (và đây là trường hợp phổ biến trong các HĐCV tại các NHTM hiện nay).
  • Giá trị định giá TSTC: Luật không quy định cụ thể về cách định giá tài sản mà tôn trọng sự thoả thuận các bên. Các NHTM có thể tự định giá tài sản hoặc sử dụng dịch vụ định giá từ các công ty định giá độc lập và các đơn vị này phải bồi thường thiệt hại nếu có hành vi trái pháp luật mà gây thiệt hại cho bên bảo đảm, bên nhận bảo đảm trong quá trình định giá TSBĐ 55. Giá trị TSTC có thể xem là căn cứ xác định số tiền cho vay. Các NHTM nên quán triệt nguyên tắc thận trọng khi định giá tài sản, tránh tình trạng định giá tài sản quá giá trị thực tế, dẫn đến khi xử lý tài sản cũng không đủ thu hồi khoản vay đã cấp.
  • Quyền và nghĩa vụ các bên: HĐTC cũng là một dạng hợp đồng song vụ: quyền của bên này là nghĩa vụ của bên kia và ngược lại. Quyền và nghĩa vụ của BTC được quy định cụ thể tại Điều 320, 321 BLDS năm Quyền và nghĩa vụ của BNTC quy định tại Điều 322, 323 BLDS năm 2015.
  • Thoả thuận xử lý TSBĐ: đây là một trong những điều khoản quan trọng trong HĐTC, là nội dung ảnh hưởng đến sự thuận tiện, nhanh chóng khi xảy ra tình huống phải xử lý TSBĐ– là giải pháp cuối cùng để thu hồi vốn vay, lãi trong hạn, quá hạn, các loại phí phát sinh khi xử lý tài sản…Thông thường điều khoản này sẽ bao gồm các nội dung: Nguyên tắc xử lý TSTC, Phương thức xử lý TSTC, thủ tục xử lý TSTC, chỉ định đại diện theo ủy quyền, sử dụng tiền thu được từ việc xử lý TSTC.
  • Các điều khoản khác: hiệu lực hợp đồng, giải chấp tài sản; chuyển giao, chuyển nhượng hợp đồng; luật điều chỉnh, giải quyết tranh chấp, thông báo…và nội dung các thoả thuận khác.

1.2.4 Hình thức, hiệu lực của giao dịch bảo đảm thế chấp tài sản của bên thứ ba

  • Hình thức của giao dịch bảo đảm thế chấp tài sản của bên thứ ba

Khoản 1 Điều 119 BLDS năm 2015 quy định: “Giao dịch dân sự được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản, hoặc bằng hành vi cụ thể ”. Đối với biện pháp bảo đảm thế chấp tài sản: hợp đồng thế chấp tài sản phải được lập thành văn bản, có thể là văn bản riêng hoặc ghi trong hợp đồng chính (hợp đồng tín dụng). Ngoài ra, nếu quy định HĐTC phải công chứng, chứng thực, đăng ký (Điều 167 Luật Đất đai năm 2013 và Điều 122 Luật Nhà ở năm 2014) thì các bên phải tuân thủ theo quy định đó.

Theo khảo sát tại các NHTM thì GDBĐ thế chấp tài sản đều được lập thành văn bản riêng là HĐTC mà không lồng ghép với HĐCV do những nguyên nhân sau: Luận văn: P.luật thế chấp tài sản bên thứ ba đảm bảo khoản vay.

HĐCV và HĐTC là được xếp vào loại những hợp đồng khá phức tạp, nhiều điều khoản, quy định chặt chẽ quyền lợi và nghĩa vụ của các bên. Mỗi hợp đồng có những thỏa thuận đặc thù, nếu là HĐCV là thỏa thuận về số tiền vay, thời hạn vay, mục đích vay, lãi suất vay,…, quyền và nghĩa vụ của bên vay và bên cho vay. Còn ở HĐTC: thông tin về tài sản thế chấp, giá trị TSBĐ, nghĩa vụ bảo đảm…, quyền và nghĩa vụ của BTC và BNTC. Do đó nên tách bạch HĐCV và HĐTC để đảm bảo tính “trọn vẹn” của từng hợp đồng.

HĐCV và HĐTC của bên thứ ba có sự khác biệt về chủ thể: HĐCV giao kết giữa bên vay và bên cho vay; HĐTC giao kết giữa BTC và BNTC hoặc giữa BTC, BNTC và bên có nghĩa vụ.

Hợp đồng thế chấp QSDĐ, hợp đồng thế chấp QSDĐ và TSGLVĐ, hợp đồng thế chấp nhà ở là các trường hợp quy định phải công chứng, chứng thực. Do đó nếu lồng ghép HĐCV và HĐTC thì khi sửa đổi điều khoản về HĐCV cũng phải thực hiện công chứng, chứng thực gây mất thời gian, công sức, chi phí của các bên. Trên thực tế, các khoản vay theo phương thức hạn mức thường có thời gian duy trì 12 tháng, khi hết hạn hợp đồng tín dụng thì HĐTC cũng hết hiệu lực. Như vậy mỗi năm khi các NHTM tái cấp tín dụng cho khách hàng, ký kết hợp đồng tín dụng mới thì các bên phải ký kết lại HĐTC và thực hiện công chứng, chứng thực HĐTC.

Xét về mặt nguyên tắc, hình thức giao kết HĐTC khá đa dạng nhưng quan trọng là các bên phải chứng minh được quan hệ hợp đồng. Về mặt hình thức, HĐTC có thể theo những dạng hình thức sau:

  • HĐTC không cần công chứng, chứng thực
  • HĐTC phải công chứng, chứng thực gồm: HĐTC QSDĐ, HĐTC QSDĐ và TSGLVĐ; HĐTC nhà ở (bao gồm cả nhà ở HTTTL) Luận văn: P.luật thế chấp tài sản bên thứ ba đảm bảo khoản vay.

HĐTC phải đăng ký gồm: a) thế chấp QSDĐ, b) thế chấp nhà ở, TS khác gắn liền với đất đã được chứng nhận quyền sở hữu, c) thế chấp dự án đầu tư xây dựng nhà ở, dự án đầu tư không phải nhà ở, dự án đầu tư nông nghiệp, dự án phát triển rừng, dự án đầu tư khác có sử dụng đất đồng thời QSDĐ được giao có thu tiền sử dụng đất, hoặc đất thuê trả tiền một lần cho cả thời gian thuê; d) thế chấp tàu bay; đ) thế chấp tàu biển.

  • Hiệu lực của giao dịch bảo đảm thế chấp tài sản bên thứ ba
  • Hiệu lực của giao dịch thế chấp

Hợp đồng là căn cứ xác lập hiệu lực của biện pháp thế chấp giữa các bên trong biện pháp thế chấp. Do đó hiệu lực của GDBĐ chính là thời điểm có hiệu lực của HĐTC. Về điểm này hiện không có sự khác biệt giữa HĐTC bên thứ ba và các hợp đồng khác. HĐTC tài sản bên thứ ba có hiệu lực kể từ thời điểm giao kết ngoại trừ các bên có thỏa thuận khác hoặc luật liên quan có quy định khác. Như vậy ta có thể thấy việc xác định hiệu lực hợp đồng căn cứ theo thứ tự như sau:

Thứ nhất là do luật quy định. Nếu quy định pháp luật có quy định thời điểm có hiệu lực của hợp đồng thì bắt buộc các bên phải tuân thủ theo luật định (Ví dụ HĐTC QSDĐ có hiệu lực từ thời điểm đăng ký vào sổ địa chính, HĐTC nhà ở có hiệu lực từ thời điểm công chứng, chứng thực hợp đồng)

Thứ hai là do các bên thoả thuận. Nguyên tắc này xây dựng dựa trên sự tự do, tự nguyện của các bên miễn là không vi phạm quy định pháp luật, điều cấm xã hội.

Thứ ba là tại thời điểm giao kết. Nếu hai nguyên tắc trên không đề cập đến hiệu lực của HĐTC thì thời điểm có hiệu lực hợp đồng được xác định kể từ thời điểm giao kết.

Các HĐTC bắt buộc phải công chứng, chứng thực gồm: HĐTC QSDĐ (tiết a Khoản 3 Điều 167 Luật đất đai năm 2013), QSDĐ và TSGLVĐ (theo khoản 1 Điều 122 Luật nhà ở năm 2014). Nếu các bên đã giao kết hợp đồng nhưng không thực hiện thủ tục công chứng thì hợp đồng có thể vô hiệu do vi phạm quy định điều kiện có hiệu lực về hình thức. Tuy nhiên quy định tại BLDS năm 2015 còn đề cập đến tình huống thực tế: khi một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong hợp đồng thì Toà án ra quyết định công nhận hiệu lực hợp đồng.

  • Hiệu lực đối kháng với bên thứ ba

Ở những văn bản luật trước đây chưa có sự phân biệt, tách bạch giữa hiệu lực của HĐTC tài sản của bên thứ ba và hiệu lực đối kháng với bên thứ ba. Tuy nhiên, BLDS năm 2015 đã khắc phục được điểm này khi quy định giao dịch thế chấp tài sản phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba kể từ thời điểm đăng ký. Trong trường hợp việc thế chấp tài sản chưa được đăng ký theo quy định thì HĐTC chỉ chưa có hiệu lực đối kháng với người thứ ba chứ không mất đi hiệu lực và BTC và BNTC có trách nhiệm phải thực thi hợp đồng. Luận văn: P.luật thế chấp tài sản bên thứ ba đảm bảo khoản vay.

Nguyên nhân đăng ký là điều kiện để phát sinh hiệu lực đối kháng với bên thứ ba xuất phát từ đặc điểm của giao dịch thế chấp là không có sự chuyển giao tài sản giữa BTC và BNTC. Ngoại trừ các bên tham gia giao dịch thì những chủ thể khác có thể không biết hoặc không có thông tin về tài sản khi quyết định giao dịch tài sản đó. Do đó cần thiết có một sự công khai thông tin về tài sản thế chấp để bảo vệ quyền lợi BNTC và bên khác biết về GDBĐ này, và đăng ký GDBĐ là một cách công bố hiệu quả những thông tin về tài sản bảo đảm. Từ kênh này, các bên có thể tra cứu tình trạng pháp lý của tài sản và đưa ra quyết định. Việc đăng ký GDBĐ có ý nghĩa như sự “tuyên bố quyền” của BNTC cho các bên khác biết và cũng gián tiếp “hạn chế quyền” chủ sở hữu đối với tài sản bảo đảm cũng như của các chủ thể khác chưa xác lập hiệu lực đối kháng với người thứ ba đối với biện pháp bảo đảm. Bên cạnh đó, nếu xét lý thuyết vật quyền: vật quyền phải được công khai. Do đó thông qua thủ tục đăng ký GDBĐ công khai hóa quyền, BNTC mới có thể xác lập quyền đối vật trên tài sản thế chấp.

Theo Luật mẫu về GDBĐ của Ngân hàng Tái thiết và phát triển Châu Âu (Luật mẫu EBRD) đưa ra ba phương thức xác lập hiệu lực của một GDBĐ: (1) Đăng ký: Các bên giao kết HĐBĐ (charging instrument); (2) Chiếm hữu: Các bên giao kết HĐBĐ (charging instrument) và bên nhận bảo đảm cầm giữ TSBĐ; (3) Bảo lưu quyền sở hữu tài sản: Bên bán nắm giữ quyền sở hữu tài sản cho đến khi bên mua thanh toán đủ tiền. Pháp luật Mỹ đưa ra các phương thức “perfection” (hoàn thiện GDBĐ) là: Đăng ký GDBĐ, chiếm hữu/kiểm soát TSBĐ, và GDBĐ tự động hoàn thiện áp dụng cho một số TSBĐ nhất định. Như vậy có thể thấy đăng ký là phương thức hoàn thiện được sử dụng ở cả luật mẫu EBRD và pháp luật Mỹ. Mặc dù không trực tiếp sử dụng thuật ngữ “hoàn thiện GDBĐ” nhưng bằng việc quy định những thủ tục pháp lý nhất định áp dụng cho từng biện pháp bảo đảm, pháp luật Việt Nam cũng có sự tương đồng với thông lệ quốc tế và pháp luật các nước về vấn đề làm thế nào để GDBĐ có hiệu lực đối với bên thứ ba. Các trường hợp bắt buộc phải đăng ký gồm: Thế chấp QSDĐ; thế chấp nhà ở, TSGLVĐ khi tài sản đã được công nhận quyền sở hữu, …

Hệ quả pháp lý khi không tuân thủ quy định về đăng ký: Theo Điều 4 Nghị định số 99/2022/NĐ-CP ngày 30 tháng 11 năm 2022: Thế chấp tài sản là thuộc trường hợp phải đăng ký. Tuy nhiên quy định về giao dịch dân sự vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức tại Điều 129 BLDS năm 2015 lại không hề đề cập đến việc chưa hoàn tất thủ tục đăng ký. Hơn nữa, chỉ trong trường hợp luật có quy định thì việc đăng ký mới được coi là điều kiện để GDBĐ có hiệu lực. Như vậy có thể thấy rằng quy định hiện hành thì chưa có quy định hệ quả pháp lý khi không hoàn tất việc đăng ký thế chấp theo đúng quy định (ngoại trừ trường hợp thế chấp QSDĐ có hiệu lực từ thời điểm đăng ký).

1.2.6 Xử tài sản thế chấp của bên thứ ba Luận văn: P.luật thế chấp tài sản bên thứ ba đảm bảo khoản vay.

Trường hợp xử lý TSBĐ: Khi đến hạn phải thực hiện nghĩa vụ mà bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc không thực hiện đúng nghĩa vụ thì BNTC được quyền xử lý TSBĐ. Hơn nữa, BLDS năm 2015 cũng quy định chi tiết hơn về trường hợp phải thực hiện nghĩa vụ trước hạn do bên có nghĩa vụ vi phạm theo thỏa thuận hay quy định của luật thì BNTC cũng được quyền xử lý TSTC. Điều này có nghĩa là khi bên vay vi phạm nghĩa vụ theo hợp đồng đã thỏa thuận thì NHTM đã có quyền xử lý TSBĐ mà không cần phải đợi đến khi BTC không thực hiện thay nghĩa vụ cho bên Còn trường hợp nếu BTC muốn nhận lại TSBĐ thì phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ với NHTM (gồm cả những chi phí phát sinh do chậm thanh toán) trước thời điểm xử lý TSBĐ. Một trường hợp xử lý tài sản khác là: để bên bảo đảm thực hiện nghĩa vụ khác đến hạn theo quy định pháp luật.

Phương thức xử lý TSTC: Bán TSTC (thông qua đấu giá hoặc BNTC tự bán TSBĐ), BTC nhận TSBĐ để thay thế việc thực hiện nghĩa vụ của bên vay (khi BTC đồng ý bằng văn bản) và phương thức khác. Nếu các bên không có thỏa thuận về phương thức xử lý TSBĐ thì tài sản được bán đấu giá, trừ trường hợp luật có quy định khác” (trừ trường hợp TSBĐ là chứng khoán niêm yết, hàng hóa trên sàn giao dịch, hoặc động sản khác có thể xác định được giá cụ thể, rõ ràng trên thị trường thì bên nhận bảo đảm được bán theo giá tại thị trường giao dịch chứng khoán hoặc tại sàn giao dịch liên quan khác nhưng phải thông báo cho bên bảo đảm và các bên cùng nhận bảo đảm khác (nếu có) biết trước khi bán)

  • Nguyên tắc xử lý TSTC:

Thứ nhất, trường hợp nhiều tài sản đảm bảo cho một nghĩa vụ thì bên nhận bảo đảm có thể lựa chọn TSBĐ để xử lý (nếu các bên không có thoả thuận)

Thứ hai, nếu TSTC được đầu tư thêm làm phát sinh tài sản mới hay tăng thêm nhưng không thuộc TSTC thì: Nếu tách rời được phần tăng thêm thì sẽ giao lại cho bên đầu tư. Nếu không tách rời được thì BTC xử lý khối tài sản và thanh toán lại phần giá trị đầu tư thêm cho bên đầu tư. Luận văn: P.luật thế chấp tài sản bên thứ ba đảm bảo khoản vay.

Thứ ba, nếu thế chấp QSDĐ mà không thế chấp tài sản gắn liền với đất/thế chấp tài sản gắn liền với đất mà không thế chấp quyền sử dụng đất:

  • Nếu người sử dụng đất đồng thời là chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất: nếu các bên không có thỏa thuận khác thì bên thế chấp được xử lý cả phần tài sản gắn liền với đất.
  • Nếu người sử dụng đất không đồng thời là chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất: (i) khi xử lý quyền sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất được tiếp tục sử dụng đất trong phạm vi quyền, nghĩa vụ của mình; quyền và nghĩa vụ của bên thế chấp trong mối quan hệ với chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất được chuyển giao cho người nhận chuyển quyền sử dụng đất, trừ trường hợp có thỏa thuận khác; (ii) khi xử lý tài sản gắn liền với đất, người nhận chuyển quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất được tiếp tục sử dụng đất trong phạm vi quyền, nghĩa vụ của chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất được chuyển giao, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
  • Thanh toán số tiền thu được từ xử lý tài sản: BLDS năm 2015 đã khắc phục được điểm chưa hợp lý của BLDS năm 2005 về số tiền thu được khi xử lý TSBĐ chưa đủ nghĩa vụ được đảm bảo, cụ thể:

BLDS năm 2005: nếu tiền thu được từ TSBĐ không đủ thanh toán nghĩa vụ được bảo đảm thì BTC phải thanh toán tiếp phần còn thiếu đó. Theo quy định tại điều luật này thì phạm vi nghĩa vụ bảo đảm không chỉ giới hạn trong TSTC mà BTC vẫn phải tiếp tục chịu trách nhiệm đối với phần nghĩa vụ chưa được thanh toán sau khi đã xử lý TSTC. Điều này chỉ đúng đối với trường hợp thế chấp để đảm bảo nghĩa vụ của chính bên thế chấp.

BLDS năm 2015: “Trường hợp số tiền có được từ việc xử lý tài sản cầm cố, thế chấp sau khi thanh toán chi phí bảo quản, thu giữ và xử lý tài sản cầm cố, thế chấp nhỏ hơn giá trị nghĩa vụ được bảo đảm thì phần nghĩa vụ chưa được thanh toán được xác định là nghĩa vụ không có bảo đảm, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận bổ sung TSBĐ. Bên nhận bảo đảm có quyền yêu cầu bên nghĩa vụ được bảo đảm phải thực hiện phần nghĩa vụ chưa được thanh toán”. Như vậy BTC chỉ phải chịu trách nhiệm trong phạm vi giá trị TSBĐ, NHTM yêu cầu bên vay phải tiếp tục thực hiện phần nghĩa vụ còn lại và không được yêu cầu khoản thanh toán nào từ BTC nữa.

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 Luận văn: P.luật thế chấp tài sản bên thứ ba đảm bảo khoản vay.

Chương 1 tác giả đã tập trung nghiên cứu những lý luận về thế chấp tài sản của bên thứ ba tại các NHTM và đi đến những kết luận sau:

Thứ nhất, thế chấp tài sản của bên thứ ba là hoạt động thế chấp đặc thù. Chủ thể thực hiện gồm: bên thế chấp và bên nhận thế chấp, trong đó bên thế chấp sử dụng tài sản thuộc sở hữu của mình để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ trả nợ của bên có nghĩa vụ với bên nhận thế chấp (NHTM) và không có sự chuyển giao tài sản giữa các bên tham gia giao dịch. Các quy định thể hiện: chủ thể tham gia quan hệ thế chấp tài sản bên thứ ba; TSTC bên thứ ba; nội dung HĐTC tài sản bên thứ ba; hình thức, hiệu lực của GDBĐ thế chấp tài sản bên thứ ba ….

Thứ hai, mặc dù biện pháp thế chấp tài sản của bên thứ ba và bảo lãnh đều được sử dụng để đảm bảo việc thực hiện nghĩa vụ của người khác. Tuy nhiên, sự khác biệt cơ bản giữa hai biện pháp này là: thế chấp của bên thứ ba mang tính đối vật nhưng bảo lãnh mang tính đối nhân. Nếu bên nhận bảo lãnh muốn tăng thêm sự tin tưởng thì có thể yêu cầu bên bảo lãnh sử dụng thêm biện pháp bảo đảm cầm cố, thế chấp để đảm bảo cho nghĩa vụ bảo lãnh.

Nếu xét trong quan hệ ba bên: Thế chấp tài sản của bên thứ ba là việc dùng TSBĐ của BTC để bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ của bên vay. Trong khi đó ở biện pháp bảo lãnh là dùng TSBĐ để đảm bảo nghĩa vụ thực hiện trả nợ thay của chính bên bảo lãnh (nếu TSBĐ thuộc sở hữu bên bảo lãnh). Luận văn: P.luật thế chấp tài sản bên thứ ba đảm bảo khoản vay.

Việc xác định đúng bản chất biện pháp bảo đảm sẽ giúp các bên xác định: phạm vi nghĩa vụ bảo đảm, quyền và nghĩa vụ các bên tham gia giao dịch, quan hệ hợp đồng chính – phụ, xử lý TSBĐ,…

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:  

===>>> Luận văn: Thực tiễn PL thế chấp tài sản bên thứ ba cho khoản vay

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464