Luận văn: Pháp luật xử lý nước thải công nghiệp tại Bình Dương

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Pháp luật xử lý nước thải công nghiệp tại Bình Dương hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Pháp luật về xử lý nước thải công nghiệp – Thực tiễn áp dụng tại tỉnh Bình Dương dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

PHẦN MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Vấn đề BVMT được Việt Nam thực sự quan tâm từ những năm 90 của thế kỉ XX. Những nhận thức mới về định hướng phát triển trong văn kiện Đại hội XIII của Đảng, trong những năm gần đây và tầm nhìn xa hơn để định hướng phát triển kinh tế số giúp người dân giàu có hơn, góp phần đưa Việt Nam vượt qua mức thu nhập trung bình thấp vào năm 2025, đạt mức thu nhập trung bình cao vào năm 2030 và đạt mức thu nhập cao vào năm 2045 nhằm chủ động hội nhập mạnh mẽ với sự phát triển kinh tế của thế giới. Tuy nhiên, nhịp độ phát triển công nghiệp tăng nhanh kèm theo đó sẽ là một lượng lớn chất thải công nghiệp (bao gồm cả nước thải) bị thải ra môi trường. Điều đó cho thấy, để phát triển kinh tế, song song với việc đảm bảo môi trường sống cho người dân thì cần phải có những giải pháp về khoa học và công nghệ nhằm hạn chế các tác động xấu của chất thải công nghiệp đến môi trường. Bên cạnh đó, các chính sách quản lý, quy định pháp luật về vấn đề này cũng là biện pháp cần thiết để quản lý và kiểm soát chất thải công nghiệp khi thải ra môi trường.

Tính đến tháng 03/2023, tỉnh Bình Dương đã có 29 khu công nghiệp đi vào hoạt động với diện tích 10.963 ha, trong đó có 27 khu công nghiệp đang hoạt động. Với quy mô và sự phát triển của các khu công nghiệp hiện nay, cho phép tỉnh Bình

Dương có thể sử dụng khoa học công nghệ, trình độ tổ chức quản lý, nguồn vốn của nhà đầu tư vào quá trình phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh. Do đó, Đảng và các cấp chính quyền luôn tạo mọi điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của các khu vực sản xuất tập trung này với các điều kiện tự nhiên thuận lợi và các chính sách ưu đãi thu hút đầu tư nước ngoài.

Đồng thời, Đảng và chính quyền địa phương tạo mọi điều kiện để phát triển kinh tế thì trong các khu công nghiệp tập trung đó còn tồn tại một số hạn chế chủ yếu là do các nguyên nhân khách quan và chủ quan như sau: Hệ thống chính sách pháp luật bảo vệ môi trường và đầu tư thường xuyên thay đổi và chậm trễ trong việc hướng dẫn, đồng thời còn nhiều bất cập và còn nhiều chồng chéo giữa các ngành, các cấp; tốc độ phát triển kinh tế – xã hội tại tỉnh Bình Dương diễn ra nhanh, làm gia tăng lượng chất thải, nước thải, tạo ra áp lực lớn đến công tác bảo vệ môi trường; khối lượng công việc ngày càng tăng và có lúc tăng ngoài dự kiến trong khi đó biên chế giảm; nguồn nhân lực và cơ sở hạ tầng kỹ thuật có mặt còn hạn chế, chưa theo kịp tiến độ phát triển của khoa học công nghệ, nhất là công nghệ số và mô hình hóa. Luận văn: Pháp luật xử lý nước thải công nghiệp tại Bình Dương.

Để đảm bảo cho sự phát triển kinh tế – xã hội bền vững thì vấn đề bảo vệ môi trường cần được quan tâm và đầu tư. Đặc biệt là về xử lý nước thải công nghiệp ngày càng trở thành mối quan tâm hàng đầu đối với sự phát triển bền vững của hầu hết các quốc gia. Phát triển công nghiệp đồng nghĩa với việc sử dụng hiệu quả tài nguyên và năng lượng, tập trung các nguồn phát thải ô nhiễm vào các khu vực nhất định để nâng cao hiệu quả sản xuất, hiệu quả quản lý nguồn nước thải và bảo vệ môi trường. Các nguyên nhân gây nên ô nhiễm các nguồn nước tại các sông, suối, ao, hồ, kênh, rạch là do chưa quản lý chặt chẽ, nhiều công trình, công ty, xí nghiệp và các cơ sở xả thải chưa được cấp phép hoặc không tuân theo quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường. Điều này gây nên gây ô nhiễm môi trường nước tại các khu vực xung quanh khu công nghiệp và nơi xả thải. Mà khi đó, nước là một nguồn tài nguyên sẵn có, dồi dào nếu chúng ta không quản lý được nước thải công nghiệp xả ra môi trường sẽ gây ra một hệ luỵ rất lớn cho đất nước, để lại những hậu quả nghiêm trọng về chính trị, kinh tế, văn hoá – xã hội.

Cũng với tinh thần đó, cùng với sự nhiệt huyết góp phần vào công cuộc bảo vệ môi trường sống của chúng ta; tác giả quyết định chọn nghiên cứu đề tài “Pháp luật về xử lý nước thải công nghiệp – Thực tiễn áp dụng tại tỉnh Bình Dương” làm luận văn thạc sĩ luật học.

2. Mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu

2.1 Mục tiêu nghiên cứu

  • Tiếp tục nghiên cứu, phân tích những vấn đề lý luận cơ bản về nước thải công nghiệp và pháp luật điều chỉnh về vấn đề xử lý nước thải công nghiệp.
  • Phân tích và đánh giá thực tiễn áp dụng pháp luật về xử lý nước thải công nghiệp trên địa bàn tỉnh Bình Dương.
  • Đề xuất một số định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về xử lý nước thải công nghiệp.

2.2. Câu hỏi nghiên cứu

  • Những yếu tố nào ảnh hưởng đến hoạt động xử lý nước thải công nghiệp?
  • Pháp luật hiện hành về xử lý nước thải công nghiệp gồm những nội dung gì? Những hạn chế nào cần tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện?
  • Một số giải pháp gì góp phần hoàn thiện pháp luật về xử lý nước thải công nghiệp và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật qua thực tiễn tại tỉnh Bình Dương?

3. Tình hình nghiên cứu đề tài Luận văn: Pháp luật xử lý nước thải công nghiệp tại Bình Dương.

Bảo vệ môi trường đang là một chủ đề phổ biến ở Việt Nam, các chính sách ưu đãi nhằm phát triển kinh tế đang được đặt lên hàng đầu, song song đó các quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường ngày càng chặt chẽ. Do đó, tình hình áp dụng và thi hành pháp luật về môi trường được Đảng và nhà nước quan tâm đặc biệt. Bên cạnh đó, nhiều công trình nghiên cứu khoa học đã và đang tập trung tìm hiểu để qua đó đưa ra các kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định pháp luật về bảo vệ môi trường. Một số công trình nghiên cứu tiêu biểu về vấn đề này có thể kể đến như:

Nguyễn Sơn Hà (2020), “Pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động của các Khu kinh tế ở Việt Nam”, luận án tiến sĩ, Trường Đại học Huế. Luận án đã làm rõ thực trạng quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường trong giai đoạn chuẩn bị thi công xây dựng khu kinh tế, cụ thể: Quy định chồng chéo về trách nhiệm lập quy hoạch, lắp đặt các công trình hạ tầng kỹ thuật bảo vệ môi trường trong khu kinh tế; thiếu các quy định cụ thể về hướng dẫn thiết kế mạng lưới cây xanh bảo vệ môi trường trong khu kinh tế; không quy định khoảng cách an toàn để bố trí, lắp đặt các công trình xử lý chất thải độc hại cũng như tiếng ồn trong khu kinh tế với khu vực xung quanh; chưa quy định cụ thể về trách nhiệm nhà đầu tư có hay không phải lắp

Võ Trung Tín (2018), “Nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền theo pháp luật môi trường Việt Nam”, luận án tiến sĩ, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh. Trong công trình, tác giả đã định hướng được cách thức xử lý về hành vi gây ô nhiễm môi trường, làm rõ các quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam và chỉ ra những bất cập còn tồn tại nhằm định hướng hoàn thiện pháp luật về môi trường.

Đỗ Hồng Nhung (2018), “Pháp luật về quản lý nước thải công nghiệp từ thực tiễn tỉnh Phú Thọ”, luận văn thạc sĩ luật kinh tế, Trường Đại học Luật Hà Nội. Trong công trình, tác giả đã phân tích các quan điểm, luận điểm khoa học về quản lý nước thải công nghiệp, các phương thức quản lý nước thải công nghiệp và các quy định của pháp luật Việt Nam khi áp dụng tại tỉnh Phú Thọ.

Lê Thị Hằng (2019), “Xử lý vi phạm hành chính trong lĩmh vực bảo vệ môi trường ở Việt Nam hiện nay”, luận án tiến sĩ, Trường Đại học Luật Hà Nội.

Luận án phân tích một số vấn đề lý luận cơ bản về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường như cơ sở, thẩm quyền, thủ tục, hình thức xử lý, vai trò và các yếu tố ảnh hưởng đến xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường.

Nguyễn Đức Đồng (2018), “Pháp luật về bảo vệ môi trường qua thực tiễn tại các cơ sở sản xuất, kinh doanh ở tỉnh Quảng Bình”, luận văn thạc sĩ luật học,

Trường Đại học Huế. Luận văn đã phân tích, đánh giá thực trạng, nâng cao nhận thức, trách nhiệm bảo vệ môi trường ở các cơ sở sản xuất, kinh doanh ở tỉnh Quảng Bình.

Tuy nhiên, hiện nay vẫn chưa có một công trình nghiên cứu nào chỉ tập trung nghiên cứu chuyên sâu vấn đề pháp luật về xử lý nước thải công nghiệp. Vì vậy các vấn đề về lý luận, thực tiễn áp dụng pháp luật còn gặp nhiều bất cập, nguyên nhân, các giải pháp khắc phục tình trạng vi phạm pháp luật trong việc xả nước thải công nghiệp đều chưa được làm sáng tỏ, chưa được nghiên cứu chuyên sâu, cụ thể.

Như vậy, có thể khẳng định đề tài “Pháp luật về xử lý nước thải công nghiệp thực tiễn áp dụng tại tỉnh Bình Dương” là đề tài còn mang tính thời sự, cần tiếp tục được nghiên cứu.

4. Đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu của luận văn Luận văn: Pháp luật xử lý nước thải công nghiệp tại Bình Dương.

4.1. Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các quy định pháp luật về xử lý nước thải công nghiệp và việc áp dụng pháp luật về xử lý nước thải công nghiệp tại tỉnh Bình Dương.

4.2. Phạm vi nghiên cứu

Luận văn tập trung nghiên cứu khía cạnh pháp lý của việc xử lý nước thải công nghiệp từ cách tiếp cận của pháp luật môi trường.

Đề tài được nghiên cứu thực tiễn trên địa bàn tỉnh Bình Dương.

5. Phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp luận

Để đạt được mục đích và hoàn thành nhiệm vụ nghiên cứu, luận văn sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lê Nin, chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước ta về hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

5.2. Phương pháp cụ thể

Phương pháp thu thập thông tin: Thu thập, phân tích và khai thác thông tin từ các nguồn tài liệu có sẵn liên quan đến việc nghiên cứu luận văn này như các Nghị quyết của Đảng; Luật, Nghị định, Thông tư; các quy định của các Bộ, ngành ở Trung ương và địa phương; các công trình nghiên cứu khoa học trước đó, các báo cáo, tài liệu thống kê của cơ quan, tổ chức có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp tới pháp luật xử lý nước thải công nghiệp ở nước ta nói chung và tỉnh Bình Dương nói riêng.

Phương pháp phân tích, tổng hợp: Phương pháp này chủ yếu được sử dụng ở chương 1 và chương 2 để phân tích các cơ sở lý luận, các quy định của pháp luật về xử lý nước thải công nghiệp tại Việt Nam; từ đó rút ra những hạn chế, nguyên nhân dẫn đến hạn chế và để ra các giải pháp nhằm góp phần giải quyết một số hạn chế, tồn tại trong lĩnh vực bảo vệ môi trường.

Phương pháp so sánh: Phương pháp nghiên cứu này tác giả sử dụng chủ yếu trong chương 2 nhằm so sánh các quan điểm của các học thuyết, quy định của pháp luật, các số liệu về xử lý nước thải. Chỉ ra những nội dung liên quan đến Luận văn mà các công trình nghiên cứu đã công bố chưa nghiên cứu hoặc nghiên cứu chưa sâu để tiếp tục nghiên cứu làm rõ.

6. Ý nghĩa khoa học và giá trị ứng dụng của đề tài

Ý nghĩa khoa học: Luận văn góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật về bảo vệ môi trường nước và pháp luật xử lý nước thải công nghiệp. Luận văn: Pháp luật xử lý nước thải công nghiệp tại Bình Dương.

Ý nghĩa thực tiễn: Luận văn là một công trình nghiên cứu được thực hiện thông qua quá trình tìm tòi, học hỏi, nghiên cứu, phân tích, chọn lọc và tổng hợp từ những kiến thức có giá trị của những công trình nghiên cứu trước và kết hợp với quá trình học tập trau dồi kiến thức hàng ngày. Trong luận văn, tác giả đưa ra những hạn chế, bất cập, khó khăn và giải pháp xử lý. Tác giả hy vọng luận văn sẽ có giá trị tham khảo nhất định đối với những người quan tâm về xử lý nước thải công nghiệp và hỗ trợ đối với việc nghiên cứu, học tập, giảng dạy về môn Luật Môi trường và góp phần xây dựng hiệu quả các quy phạm pháp luật về xử lý nước thải công nghiệp tại tỉnh Bình Dương.

7. Bố cục của luận văn nghiên cứu

Ngoài Phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn bao gồm 3 Chương:

  • Chương 1: Khái quát về nước thải công nghiệp và pháp luật về xử lý nước thải công nghiệp ở Việt Nam.
  • Chương 2: Pháp luật về xử lý nước thải công nghiệp và thực tiễn áp dụng tại tỉnh Bình Dương.
  • Chương 3: Giải pháp góp phần hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về xử lý nước thải công nghiệp qua thực tiễn tỉnh Bình Dương.

Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ NƯỚC THẢI CÔNG NGHIỆP VÀ XỬ LÝ NƯỚC THẢI CÔNG NGHIỆP Ở VIỆT NAM

1.1 Tổng quan về xử lý nước thải công nghiệp

1.1.1. Khái niệm về nước thải công nghiệp và xử nước thải công nghiệp

1.1.1.1. Khái nim về nước thi công nghip

Nước thải công nghiệp là một dạng của chất thải, vì vậy để hiểu rõ nội hàm của NTCN, cần làm rõ khái niệm về chất thải, nước thải.

Dưới góc độ ngữ nghĩa, chất thải được hiểu là những chất không còn sử dụng được nữa, bị con người thải ra trong các hoạt động khác nhau. Chất thải được sản sinh trong các hoạt động khác nhau của con người thì được gọi với những thuật ngữ khác nhau như: chất thải rắn phát sinh trong sinh hoạt và sản xuất được gọi là rác thải, chất thải phát sinh sau khi sử dụng nguyên liệu trong quá trình sản xuất gọi là phế liệu, chất thải sau quá trình sử dụng nước gọi là nước thải, …

Theo định nghĩa trong Từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học thì “Chất thải là rác là những đồ vật bị bỏ đi nói chung”. Theo cách hiểu của khái niệm này, chất thải bao gồm rác là những thứ vụn vặt bị vứt bỏ vương vãi, làm bẩn và những đồ đạc không có giá, không có tác dụng nên không được giữ lại. Luận văn: Pháp luật xử lý nước thải công nghiệp tại Bình Dương.

Dưới góc độ pháp lý, Luật BVMT 1993, đạo luật đầu tiên về vấn đề bảo vệ môi trường của nước ta, đã nêu khái niệm chất thải như sau: “Chất thải là chất được loại ra trong sinh hoạt, trong quá trình sản xuất hoặc trong các hoạt động khác. Chất thải có thể ở dạng rắn, khí, lỏng hoặc các dạng khác”. Tuy đây là lần đầu tiên một văn bản pháp luật nêu khái niệm về chất thải nhưng đây là một khái niệm khá đầy đủ và toàn diện, nó nêu bật được tính chất và các dạng tồn tại của chất thải.

Luật BVMT 2005 giải thích “Chất thải là vật chất ở thể rắn, lỏng, khí được thải ra từ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc hoạt động khác”. Khái niệm này có nội hàm không khác so với khái niệm được nêu trong Luật BVMT 1993 nhưng được diễn đạt ngắn gọn, dễ hiểu hơn. Luật BVMT 2014 thì quy định “Chất thải là vật chất được thải ra từ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc hoạt động khác”. Qua so sánh, Luật BVMT 2014 không còn liệt kê các dạng tồn tại của chất thải như Luật BVMT 2005. Luật BVMT 2020 giải thích “Chất thải là vật chất ở thể rắn, lỏng, khí hoặc ở dạng khác được thải ra từ hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc hoạt động khác”. Từ những định nghĩa trên, cho thấy:

Thứ nhất, chất thải được định nghĩa là vật chất mà chúng ta không cần hoặc không muốn sử dụng nữa và chúng thường được loại bỏ. Chất thải có thể tồn tại dưới dạng rắn, lỏng hoặc khí, nhưng các yếu tố phi vật chất không thể được xem là chất thải.

Các yếu tố phi vật chất là những yếu tố không có tính chất vật chất, không có khối lượng hoặc không thể tồn tại dưới dạng rắn, lỏng hoặc khí. Ví dụ về các yếu tố phi vật chất bao gồm năng lượng, thông tin, ý thức, tình yêu, ý nghĩa, ý niệm, v.v. Những yếu tố này không thể được phân loại là chất thải vì chúng không có hình dạng vật chất và không thể bị loại bỏ hoặc xử lý theo cách thông thường như chất thải vật chất.

Thứ hai, chất thải có thể hiểu là các vật chất mà con người tạo ra và thải ra từ các hoạt động như sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt và các hoạt động khác. Chúng bao gồm các chất còn lại sau quá trình sử dụng hoặc xử lý của con người và không còn giá trị sử dụng nữa.

Các loại chất thải thường gặp bao gồm chất thải rắn như rác thải, bao bì, đồ điện tử hỏng hóc, chất thải lỏng như nước thải từ các nhà máy sản xuất hoặc hệ thống thoát nước, cũng như chất thải khí như khí thải từ phương tiện giao thông hoặc các quá trình công nghiệp.

Chất thải tồn tại trong thực tế rất đa dạng và phong phú, phân loại chất thải có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định các phương pháp, biện pháp quản lý cũng như trách nhiệm của các chủ thể xử lý chất thải. Tùy thuộc và căn cứ mà chất thải được phân thành các loại khác nhau, cụ thể: Luận văn: Pháp luật xử lý nước thải công nghiệp tại Bình Dương.

Căn cứ vào nguồn phát sinh, chất thải được phân thành: chất thải sinh hoạt – phát sinh từ các sinh hoạt hàng ngày của dân cư và các hoạt động phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt hàng ngày của họ; chất thải công nghiệp – phát sinh từ hoạt động sản xuất công nghiệp, thủ công nghiệp; chất thải nông nghiệp – phát sinh từ hoạt động nông nghiệp như phân gia súc, gia cầm, xác thực vật, …; và chất thải y tế – phát sinh từ các hoạt động khám, chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe, … của các cơ sở y tế.

Căn cứ vào mức độ nguy hại, chất thải được phân thành 02 loại: chất thải nguy hại – là chất thải chứa yếu tố độc hại, phóng xạ, dễ cháy, dễ nổ, dễ ăn mòn, dễ lây nhiễm, gây ngộ độc hoặc đặc tính nguy hại khác; và chất thải không nguy hại – là những chất thải thông thường, không chứa những yếu tố nguy hại kể trên.

Căn cứ vào thành phần chất thải, chất thải thường được phân loại thành hai loại chính dựa trên thành phần hóa học của chúng: chất thải vô cơ và chất thải hữu cơ.

Đối với chất thải vô cơ: Đây là loại chất thải chủ yếu bao gồm các chất không chứa cacbon và hợp chất không hữu cơ. Ví dụ của chất thải vô cơ bao gồm kim loại và hợp chất kim loại như nhôm, sắt, đồng, chì, thuốc nhuộm công nghiệp, thuốc trừ sâu, thuốc trừ cỏ, thuốc trừ mối, thuốc trừ muỗi, chất phụ gia công nghiệp, axit, kiềm…

Chất thải hữu cơ: Đây là loại chất thải chứa cacbon và thường là từ các nguồn hữu cơ như sinh hoạt con người, sản xuất thực phẩm, công nghiệp chế biến thực phẩm, nông nghiệp… Ví dụ của chất thải hữu cơ bao gồm thức ăn thừa, chất thải từ nhà bếp, bã hèm, chất thải thực vật, chất hữu cơ từ quá trình sản xuất và xử lý sinh học, chất hữu cơ từ động vật…

Căn cứ vào dạng tồn tại, chất thải được phân thành 03 loại: chất thải rắn; khí thải; và nước thải. Chất thải rắn là loại chất thải tồn tại dưới dạng rắn. Chúng bao gồm các vật liệu không cần thiết hoặc không mong muốn như rác thải hộ gia đình, bao bì, bột giấy, đồ gỗ, phế liệu kim loại, tro bay từ lò hơi, tro bụi từ quá trình công nghiệp… Khí thải là loại chất thải tồn tại dưới dạng khí. Chúng được tạo ra bởi các quá trình đốt cháy, quá trình công nghiệp, hoạt động giao thông và các quá trình khác. Ví dụ bao gồm khí thải từ động cơ xe ô tô, khí thải từ nhà máy và nhà máy nhiệt điện, khí thải từ lò đốt chất thải… Nước thải là loại chất thải tồn tại dưới dạng nước. Chúng bao gồm nước mà chúng ta sử dụng trong sinh hoạt hàng ngày như nước thải từ bồn cầu, rửa tay, tắm, nước rửa bát đĩa, nước rửa xe, nước thải từ nhà máy sản xuất và xử lý, nước thải từ hệ thống thoát nước… Như vậy, nước thải cũng là một loại chất thải.

Trong lĩnh vực pháp lý nước thải được hiểu là “Nước thải là nước đã bị thay đổi đặc điểm, tính chất do sử dụng hoặc do các hoạt động của con người xả vào hệ thống thoát nước hoặc ra môi trường”. Khái niệm này đã nêu được các đặc điểm cơ bản của nước thải như bản chất, nguồn gốc, … Tuy nhiên, khái niệm chưa nêu được tình trạng sử dụng của nước thải, đó là “không còn giá trị sử dụng và bị thải loại”. Luận văn: Pháp luật xử lý nước thải công nghiệp tại Bình Dương.

Như vậy, qua các cách định nghĩa trên, ta có thể rút ra một số đặc điểm của nước thải như sau: là chất thải; tồn tại ở thể lỏng; không còn giá trị sử dụng và bị thải loại; được tạo ra từ hoạt động SXKD, sinh hoạt hoặc hoạt động khác; và được xả vào hệ thống thoát nước hoặc ra môi trường.

Trong thực tế, nước thải thường được phân loại theo nguồn gốc phát sinh ra chúng, gồm:

Nước thải sinh hoạt: là nước thải từ các khu dân sư, khu vực công sở, trường học hoặc các cơ sở tương tự khác;

Nước thải công nghiệp: là nước bị ô nhiễm được tạo ra như một sản phẩm phụ của các quá trình và hoạt động công nghiệp. Đó là nước thải được sản xuất trong các ngành công nghiệp khác nhau, chẳng hạn như nhà máy sản xuất, nhà máy điện, nhà máy lọc dầu, nhà máy hóa chất và các cơ sở công nghiệp khác.

Nước thải công nghiệp thường chứa nhiều loại chất ô nhiễm và chất gây ô nhiễm, bao gồm hóa chất, kim loại nặng, dầu, dung môi, chất rắn lơ lửng, hợp chất hữu cơ và các chất độc hại. Những chất gây ô nhiễm này có thể gây hại cho môi trường và sức khỏe con người nếu thải ra môi trường không được xử lý hoặc xử lý không đúng cách.

Các nguồn NTCN có thể khác nhau tùy thuộc vào ngành cụ thể, nhưng các ví dụ phổ biến bao gồm nước xử lý, nước làm mát, nước rửa, nước rửa và nước thải từ các hoạt động tẩy rửa. Thành phần và đặc tính của nước thải công nghiệp có thể khác nhau tùy theo ngành công nghiệp, nguyên liệu thô được sử dụng và quy trình sản xuất liên quan.

Quản lý nước thải công nghiệp đúng cách là điều cần thiết để giảm thiểu tác động của nó đối với môi trường, nhất là khâu xử lý. Các cơ sở công nghiệp thường được yêu cầu triển khai các hệ thống xử lý nước thải để loại bỏ hoặc giảm thiểu các chất gây ô nhiễm trước khi xả nước thải đã xử lý vào các vùng nước hoặc hệ thống thoát nước đô thị. Các phương pháp xử lý có thể bao gồm các quy trình vật lý, hóa học và sinh học để loại bỏ hoặc vô hiệu hóa các chất gây ô nhiễm, đảm bảo tuân thủ các quy định về môi trường và bảo vệ nguồn nước.

Đối với NTCN hiện có nhiều cách phân loại nhưng thông thường phân loại theo 02 căn cứ, cụ thể:

Căn cứ vào thành phần, NTCN được phân thành 02 loại: nước thải sản xuất bẩn – là nước thải sinh ra từ quá trình sản xuất sản phẩm, xúc rửa máy móc thiết bị, từ quá trình sinh hoạt của công nhân viên, loại nước này chứa nhiều tạp chất, chất độc hại, vi khuẩn, …; và nước thải sản xuất không bẩn – là loại nước sinh ra chủ yếu khi làm nguội thiết bị, giải nhiệt trong các trạm làm lạnh, ngưng tụ hơi nước cho nên loại nước thải này thường được quy ước là nước sạch.

Căn cứ nguồn gốc NTCN được phân thành nhiều loại như: NTCN dệt may; NTCN chế biến thủy sản; NTCN chế biến cao su tự nhiên; NTCN sản xuất phân bón hóa học; NTCN nhiệt điện…

Ngoài hai cách trên, tùy vào lĩnh vực nghiên cứu, có thể căn cứ vào công đoạn làm phát sinh NTCN. Theo cách này, NTCN chia thành ba nguồn chính: (i) từ các công đoạn sản xuất; (ii) từ thiết bị làm việc, bao gồm nồi hơi, tháp làm mát và các hệ thống nước sinh hoạt và (iii) từ dòng thải của các công đoạn xử lý nước.

1.1.1.2. Khái nim v x nước thi công nghip Luận văn: Pháp luật xử lý nước thải công nghiệp tại Bình Dương.

Mục tiêu chính của xử lý nước thải công nghiệp là loại bỏ chất ô nhiễm có trong nước thải. Đây có thể là các chất hữu cơ, chất hóa học, kim loại nặng, vi khuẩn, vi rút và các tác nhân gây hại khác. Quá trình xử lý nhằm loại bỏ, giảm thiểu hoặc biến đổi các chất này thành các dạng ít độc hại hoặc không độc hại. Và song song đó, xử lý nước thải công nghiệp cũng nhằm giảm thiểu tác động tiêu cực của nước thải đến môi trường nước, đất và không khí. Việc xử lý nước thải công nghiệp đảm bảo rằng nước thải được xả ra môi trường tuân thủ các quy định và tiêu chuẩn môi trường, nhằm bảo vệ các nguồn nước tự nhiên, hệ sinh thái và sức khỏe cộng đồng.

Quá trình xử lý nước thải công nghiệp cần tuân thủ các quy định pháp luật và tiêu chuẩn môi trường định sẵn. Các quy định này thường được quy định bởi cơ quan quản lý môi trường của mỗi quốc gia hoặc khu vực, và nhằm đảm bảo rằng các hoạt động công nghiệp không gây tác động tiêu cực đến môi trường và sức khỏe con người. Xử lý nước thải công nghiệp cũng nhằm cải thiện chất lượng nước, đảm bảo rằng nước thải sau khi qua xử lý gần bằng hoặc tương đương với chất lượng nước sạch. Điều này có thể đảm bảo an toàn cho môi trường và con người khi nước thải được xả ra môi trường hoặc tái sử dụng cho các mục đích khác.

Một mục tiêu quan trọng trong xử lý nước thải công nghiệp là khai thác tiềm năng tái sử dụng nước và tiết kiệm tài nguyên. Nước thải công nghiệp đã qua xử lý có thể được tái sử dụng cho mục đích như làm mát, tưới cây, hoặc quá trình sản xuất công nghiệp khác. Điều này không chỉ giảm tải lên nguồn nước sạch mà còn giúp tiết kiệm nguồn nước và tài nguyên tự nhiên khác.

Quá trình xử lý nước thải công nghiệp có thể bao gồm các công nghệ và phương pháp như lọc cơ học, kết tụ, flocculation, xử lý hóa học, xử lý sinh học, khử trùng, kết tủa, trao đổi ion, quá trình oxi hóa, sử dụng vi sinh vật và nhiều phương pháp khác. Các phương pháp được lựa chọn phụ thuộc vào loại nước thải, quy mô của hoạt động công nghiệp và yêu cầu môi trường cụ thể.

Theo khoản 15 Điều 3, Luật BVMT 2014 thì “Quản lý chất thải là quá trình phòng ngừa, giảm thiểu, giám sát, phân loại, thu gom, vận chuyển, tái sử dụng, tái chế và xử lý chất thải”. Qua đó, theo các định nghĩa, khái niệm bên có thể thấy được “Xử lý nước thải công nghiệp” là một trong những khâu của Quản lý chất thải. Đó là quá trình loại bỏ hoặc giảm thiểu sự ô nhiễm và tác động tiêu cực của nước thải từ các hoạt động công nghiệp đến môi trường nước.

1.1.2. Vai trò của việc xử lý nước thải công nghiệp Luận văn: Pháp luật xử lý nước thải công nghiệp tại Bình Dương.

Xử lý nước thải công nghiệp đóng một vai trò quan trọng trong việc bảo vệ môi trường, đảm bảo sức khỏe cộng đồng và thúc đẩy quản lý nước bền vững. Qua đó, có thể thấy một số vai trò và lợi ích chính của xử lý nước thải công nghiệp sau đây:

Thứ nhất, vai trò chính của xử lý nước thải công nghiệp là giảm thiểu tác động môi trường của các hoạt động công nghiệp. Bằng cách loại bỏ hoặc giảm các chất ô nhiễm khỏi nước thải, các quy trình xử lý giúp ngăn ngừa ô nhiễm nguồn nước, đất và hệ sinh thái. Sự bảo vệ này rất quan trọng để duy trì đa dạng sinh học, bảo tồn môi trường sống dưới nước và hỗ trợ sức khỏe môi trường tổng thể.

Xử lý nước thải công nghiệp cũng có tác động tích cực đến kinh tế và phát triển bền vững của một quốc gia. Bằng cách loại bỏ các chất ô nhiễm từ nước thải, quá trình xử lý giúp tái sử dụng nước và tài nguyên, tạo ra nguồn nước tái tạo và năng lượng. Điều này không chỉ giảm chi phí sản xuất mà còn giúp tăng hiệu suất và cạnh tranh của các công ty trong ngành công nghiệp. Hơn nữa, việc xử lý nước thải công nghiệp đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển công nghệ và đổi mới. Để đáp ứng các tiêu chuẩn môi trường ngày càng nghiêm ngặt, các công ty phải tìm ra các phương pháp xử lý tiên tiến và hiệu quả hơn. Điều này thúc đẩy nhu cầu về nghiên cứu và phát triển các công nghệ mới, góp phần thúc đẩy sự đổi mới và sáng tạo trong lĩnh vực môi trường và kỹ thuật.

Thứ hai, một lợi ích quan trọng khác của việc xử lý nước thải công nghiệp là đảm bảo tuân thủ các quy định và tiêu chuẩn môi trường của các cơ quan quản lý. Các công ty và nhà máy sản xuất phải tuân thủ các quy định và tiêu chuẩn môi trường về việc xử lý nước thải để đảm bảo tuân thủ pháp luật và tránh bị phạt. Việc thực hiện một hệ thống xử lý nước thải công nghiệp hiệu quả giúp giảm rủi ro pháp lý và tăng tính minh bạch của hoạt động kinh doanh.

Xử lý nước thải công nghiệp cũng đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra một hình ảnh tốt cho các doanh nghiệp và xây dựng hình ảnh cho doanh nghiệp đó. Các doanh nghiệp có thể xem việc xử lý nước thải là một phần trong trách nhiệm xã hội và cam kết của họ đối với bảo vệ môi trường và sức khỏe cộng đồng. Điều này có thể tăng lòng tin của khách hàng, tạo sự tương tác tích cực với cộng đồng và tạo lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp trên thị trường.

Thứ ba, xử lý nước thải còn có vai trò quan trọng nhất là bảo vệ sức khỏe của mọi người. Nước thải công nghiệp chưa xử lý chứa nhiều chất độc hại như kim loại nặng, hợp chất hữu cơ và các chất gây ô nhiễm khác. Các chất này có thể gây nguy hại cho sức khỏe con người nếu tiếp xúc trực tiếp hoặc qua việc sử dụng nước bị ô nhiễm. Vi sinh vật gây bệnh như vi khuẩn, vi rút và các loại ký sinh trùng cũng có thể tồn tại trong nước thải công nghiệp chưa qua xử lý. Nguy cơ mắc các bệnh truyền nhiễm như tiêu chảy, sốt, nhiễm trùng đường ruột và bệnh lây qua nước cũng tăng lên khi không xử lý nước thải. Ngoài ra, việc sử dụng nước thải chưa qua xử lý trong nông nghiệp và tưới cây cũng có thể gây nguy hiểm cho sức khỏe do các chất ô nhiễm có thể hấp thụ vào cây trồng và cuối cùng chúng lại đi vào thực phẩm mà chúng ta tiêu thụ hàng ngày.

Do đó, việc xử lý nước thải đóng vai trò quan trọng trong việc giảm nguy cơ mắc bệnh và bảo vệ sức khỏe cộng đồng. Qua quy trình xử lý nước thải, các chất độc hại, vi sinh vật gây bệnh và các chất ô nhiễm khác được loại bỏ hoặc giảm đáng kể, giúp nước thải trở nên an toàn hơn để tái sử dụng, thải ra môi trường hoặc sử dụng trong các hoạt động khác. Điều này không chỉ bảo vệ sức khỏe cá nhân mà còn giúp duy trì một môi trường lành mạnh và bền vững cho cả cộng đồng.Xử lý nước thải công nghiệp tạo điều kiện cho việc tái sử dụng nguồn nước và các chất hữu ích trong nước thải. Điều này giúp tiết kiệm tài nguyên nước, giảm lượng rác thải, và tận dụng nguồn tài nguyên phụ từ quá trình xử lý. Qua đó, việc tái sử dụng lại nguồn nước cũng là một trong những yếu tố quan trọng trong công cuộc phát triển kinh tế và BVMT nhằm mục tiêu phát triển bền vững, vì nó giúp bảo vệ môi trường, sức khỏe con người, và tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên.

Song song đó để kinh tế của các doanh nghiệp phát triển thì việc xử lý nước thải công nghiệp nhằm để các doanh nghiệp tuân thủ khuôn khổ các quy định pháp luật về môi trường và nước thải. Điều này không chỉ giúp tránh các hậu quả pháp lý, mà còn nâng cao uy tín, vị thế và hình ảnh của doanh nghiệp trước khách hàng, đối tác và cộng đồng. Doanh nghiệp thực hiện xử lý nước thải công nghiệp thể hiện trách nhiệm xã hội của mình đối với môi trường và sức khỏe cộng đồng. Điều này giúp tăng cường niềm tin của xã hội vào cam kết bảo vệ môi trường của doanh nghiệp.

Quá trình xử lý nước thải công nghiệp cần phải cải tiến, cập nhật và bổ sung các thiết bị, công nghệ tiên tiến để tạo động lực cho sự phát triển kinh tế của thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng, kịp thời ứng dụng các công nghệ mới, hiệu quả và thân thiện với môi trường hơn. Điều này không chỉ giúp cải thiện hiệu quả xử lý nước thải, mà còn góp phần vào sự phát triển của ngành công nghệ môi trường. Đặc biệt, việc xử lý nước thải công nghiệp thúc đẩy hợp tác quốc tế trong lĩnh vực quản lý và bảo vệ môi trường, giúp các quốc gia và tổ chức quốc tế chia sẻ kiến thức, kỹ thuật và nguồn lực để giải quyết các vấn đề môi trường toàn cầu. Luận văn: Pháp luật xử lý nước thải công nghiệp tại Bình Dương.

Việc xử lý nước thải công nghiệp cũng đóng vai trò quan trọng trong việc giáo dục và tuyên truyền nhận thức về tầm quan trọng của việc bảo vệ môi trường và sức khỏe cộng đồng. Qua quá trình xử lý nước thải, cộng đồng có cơ hội hiểu rõ hơn về những vấn đề môi trường và tác động của nước thải công nghiệp chưa xử lý đến môi trường và sức khỏe con người. Thông qua các chương trình giáo dục và tuyên truyền, người dân được trang bị kiến thức về các nguy cơ và hậu quả của ô nhiễm nước thải, cũng như những biện pháp xử lý và tiết kiệm nước. Họ hiểu rõ rằng việc xử lý nước thải không chỉ là nhiệm vụ của các cơ quan chức năng, mà còn là trách nhiệm của từng cá nhân và doanh nghiệp.

Việc tạo ra sự ủng hộ và tham gia tích cực của cộng đồng trong các hoạt động bảo vệ môi trường và xử lý nước thải là cực kỳ quan trọng. Khi nhận thức được tầm quan trọng của việc bảo vệ môi trường và sức khỏe cộng đồng qua việc xử lý nước thải, cộng đồng sẽ dần chuyển đổi hành vi tiêu dùng và sản xuất hướng đến mục tiêu bền vững hơn. Họ có thể tham gia vào việc sử dụng nước một cách tiết kiệm, hạn chế sử dụng chất độc hại trong quá trình sản xuất, và thúc đẩy các biện pháp bảo vệ môi trường trong cộng đồng. Khi cả cộng đồng đồng lòng trong việc bảo vệ môi trường và xử lý nước thải công nghiệp, chúng ta có thể tạo ra một tương lai tươi sáng hơn với môi trường trong lành, sức khỏe cộng đồng được bảo đảm, và sự phát triển bền vững.

1.2. Xử lý nước thải công nghiệp và vấn đề bảo vệ môi trường Luận văn: Pháp luật xử lý nước thải công nghiệp tại Bình Dương.

Đứng trước tình trạng ô nhiễm môi trường nói chung và tình trạng ô nhiễm môi trường do NTCN gây ra nói riêng, hiện nay nước ta đang đối mặt với những sự lựa chọn không thể trì hoãn được. Đó là phải ngồi chịu sự trả thù của thiên nhiên hoặc là phải bắt tay ngay vào những công việc cụ thể và cấp bách để có những giải pháp tức thì nhằm ngăn chặn cũng như sửa chữa những sai lầm mà con người đã gây ra trong thời gian qua.

Theo quan điểm triết học của Mác – Lênin thì mối quan hệ con người – xã hội – tự nhiên là rất gần gũi và biện chứng với nhau. Mỗi yếu tố đóng vai trò khác nhau có những điểm tương đồng nhưng cũng nhiều điểm khác biệt. Một mặt chủ nghĩa Mác – Lênin đã khẳng định ảnh hưởng to lớn của tự nhiên đối với sự tồn tại và phát triển của con người và xã hội nhưng mặt khác cũng nhấn mạnh vai trò đặc biệt quan trọng của con người và xã hội với tư cách là nhân tố gây ra sự biến đổi không ngừng của tự nhiên.

Trong mối quan hệ con người – xã hội – tự nhiên thì con người đóng vai trò trung tâm, với tư cách là một thực thể tự nhiên và xã hội. Mặc dù không thể phủ nhận con người là một thực thể sinh học tồn tại trong tự nhiên như bao thực thể sinh học khác, song trong quá trình phát triển và lao động, con người đã dần ý thức được về mình do đó dần tách khỏi thế giới động vật, và cùng với môi trường tự nhiên vốn có, con người còn tạo ra cho mình một môi trường sống mới – môi trường xã hội hay môi trường đã được “người hóa”.

Từ những lý luận đó đến đây ta có thể khẳng định rằng con người và tự nhiên luôn tác động qua lại lẫn nhau, tuy nhiên sự tác động của con người đối với tự nhiên là sự tác động có chủ định, có ý thức chứ không phải là vô thức. Vì vậy sự khẳng định “con người điều khiển một cách có ý thức đối với hành vi xả nước thải công nghiệp” là hoàn toàn hợp lý và có cơ sở lý luận rõ ràng.

Đời sống con người chưa phát triển thì mối quan hệ giữa con người và tự nhiên hầu như chưa có gì mâu thuẫn nhưng khi con người dần có ý thức được về mình và cuộc sống xã hội thì mâu thuẫn tự nhiên qua các hoạt động của mình tăng làm cho tự nhiên dần biến đổi theo xu hướng ngày càng xấu đi.

Có thể nhận thấy rằng việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật của từng quốc gia là khác nhau, giữa các giai đoạn lịch sử cũng khác nhau, nó tùy thuộc vào thức xem trọng việc BVMT sống của chính bản thân của các nhà cầm quyền đến đâu và rộng hơn là cả một ý thức hệ. Mỗi thời kỳ phát triển là mỗi mục đích khác nhau, mỗi chính sách khác nhau, và ý thức của con người là nhân tố tác động chính. Cho đến khi ban hành và thực hiện thì ý thức của con người vẫn là yếu tố chi phối chính, các nhà hành pháp có mặn mà thực hiện một cách nghiêm túc những quy phạm đã được đặt ra hay không, mức độ thực hiện đến đâu và có xem trọng việc thực hiện hay không. Đó là là vấn đề về ý thức của nhà quản lý, nhưng bên cạnh đó trong việc xả NTCN thì ý thức của các doanh nghiệp mới là yếu tố quyết định. Các chủ doanh nghiệp có ý thức BVMT trong việc sản xuất của mình thì họ sẽ chú trọng ngay từ khâu đầu tiên với việc đầu tư xây dựng hệ thống xử lý NTCN, không những thế trong quá trình vận hành hệ thống xử lý nước thải họ còn luôn ý thức được việc xử lý nước thải phải đáp ứng được các quy chuẩn, tiêu chuẩn theo quy định của pháp luật trước khi xả thải ra môi trường. Còn đối với những doanh nghiệp không quan tâm BVMT, hoặc có quan tâm nhưng đặt quá nặng lợi ích kinh tế của mình nên không bảo đảm đúng, đủ các yêu cầu của pháp luật.

Con người bằng quá trình sản xuất, hoạt động xã hội đã gây biết bao vấn đề tiêu cực, bức xúc nóng bỏng trong lĩnh vực môi trường sinh thái. Để tồn tại và phát triển, con người trước tiên phải sữa chữa lỗi lầm của mình mà cơ sở, phương pháp luận chung nhất đó là phải làm rõ vấn đề “điều khiển một cách có ý thức mối quan hệ con người – tự nhiên – xã hội”.

Nói về quan niệm của các chủ doanh nghiệp đối với việc xả chất thải ra môi trường nói chung và đối với việc xả NTCN ra môi trường nói riêng, trên khắp cả nước từ trước đến những năm gần đây hầu như họ ít hoặc không quan tâm đến môi trường xung quanh bị ảnh hưởng như thế nào, họ chỉ quan tâm đến có thu được lợi nhuận hay không. Bởi vậy họ không thật sự chú tâm vào việc xử lý nước thải trước khi xả ra môi trường. Luận văn: Pháp luật xử lý nước thải công nghiệp tại Bình Dương.

Tiến triển trong nhận thức cũng như những tác động không nhỏ từ tự nhiên vì vậy họ dần ý thức được rằng phải có những hoạt động gì đó để sống cùng tự nhiên một cách hòa thuận. Tuy nhiên, họ cứ cho rằng đó là trách nhiệm của cơ quan nhà nước, của tổ chức bảo vệ môi trường chứ không phải là của họ, và cũng phần nào do quy định về xử lý vi phạm hay việc quản lý môi trường trong việc xả NTCN chưa hiệu quả. Việc phát hiện kịp thời và xử lý vi phạm hiện nay chưa đảm bảo, nhưng ảnh hưởng thì vô cùng lớn, khiến hầu như các con sông ở gần các KCN trở thành các con sông chết, bốc mùi hôi thối, sinh vật bị tiêu diệt, gây ảnh hưởng sức khỏe con người ở khu vực lân cận.

Những năm gần đây ý thức của các ông chủ nhà máy công nghiệp đã được nâng lên rất nhiều, tuy nhiên vấn đề ô nhiễm từ việc xả NTCN vẫn còn đáng báo động, nhiều vụ việc chỉ vừa mới được phát hiện cho dù việc xả NTCN trái phép, vi phạm pháp luật đã diễn ra từ mấy chục năm trước đây.

Thật khó mà có thể đánh giá hết những hậu quả do NTCN gây ra khi mà không thể thống kê hết các số liệu thiệt hại. Việc thống kê được những số liệu như hiện có cũng chỉ có thể phản ánh được phần nào tác hại của ô nhiễm môi trường do NTCN gây ra. Tuy vậy cũng đã đủ để chúng ta thấy hậu quả nghiêm trọng mà con người phải gánh chịu là nặng nề như thế nào. Cụ thể là một số hậu quả sau:

Thứ nhất, tổn thất tới hệ sinh thái, năng suất cây trồng nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản. Sông suối là nguồn tiếp nhận và vận chuyển các chất ô nhiễm trong NTCN. NTCN chứa chất hữu cơ vượt quá giới hạn cho phép sẽ gây ra hiện tượng phú dưỡng, làm giảm lượng ôxy trong nước, các loài thủy sinh bị thiếu ôxy dẫn đến một số loài bị chết hàng loạt. Sự xuất hiện các độc chất như dầu mỡ, kim loại nặng, các loại hóa chất trong nước sẽ tác động đến động thực vật thủy sinh và đi vào chuỗi thức ăn trong hệ thống sinh tồn của các loài sinh vật, cuối cùng sẽ ảnh hưởng tới sức khỏe con người.

Ví dụ: Theo báo Tuổi trẻ, ô nhiễm môi trường nước tại bến cảng Vũng Áng, thị xã Kỳ Anh, Hà Tĩnh là một trong những vụ việc điển hình về ô nhiễm môi trường do NTCN gây ra làm tổn hại lớn, gây thiệt hại nặng nề về kinh tế, xã hội và môi trường. Trong đó, chịu ảnh hưởng nặng nhất là ngành thủy sản, tiếp đến là hoạt động kinh doanh, dịch vụ, du lịch và đời sống sinh hoạt của ngư dân. Nguyên nhân gây ra sự cố môi trường làm hải sản chết hàng loạt tại ven biển bốn tỉnh miền Trung được xác định do công ty Formosa gây ra trong quá trình vận hành thử nghiệm tổ hợp nhà máy, đã có những vi phạm và để xảy ra sự cố, dẫn tới nước thải có chứa độc tố phenol, xyanua chưa được xử lý đạt chuẩn xả ra môi trường. Sau đó, vụ gây ô nhiễm môi trường trên sông Bưởi thuộc tỉnh Thanh Hóa, xảy ra từ tháng 3 và 4-2016 do nhà máy mía đường Hòa Bình ở thượng nguồn sông Bưởi xả nước thải chưa qua xử lý ra môi trường, gây ô nhiễm hạ lưu sông Bưởi, làm cá sông và cá nuôi lồng bè chết hàng loạt ở huyện Thạch Thành, Thanh Hóa. NTCN của nhà máy đã làm nước sông Bưởi ô nhiễm, đổi màu đục, nổi bọt và bốc mùi hôi thối11. Theo Báo cáo Hiện trạng môi trường quốc gia giai đoạn năm 2016-2020 thì tỷ lệ khách du lịch hủy tour khoảng 50%, công suất sử dụng phòng giảm 40% so với cùng kỳ năm 201.6 Đặc biệt tại nơi xảy ra ô nhiễm thì công suất sử dụng phòng tại các địa phương của Hà Tĩnh chỉ đạt 10-20%. Luận văn: Pháp luật xử lý nước thải công nghiệp tại Bình Dương.

Thứ hai, gia tăng gánh nặng bệnh tật. Ô nhiễm nguồn nước, đất đã gây những tác hại khủng khiếp đến sức khỏe con người. NTCN không được xử lý gây ô nhiễm nước mặt và nước ngầm, từ đó ảnh hưởng đến chất lượng nguồn nước cấp và có thể thông qua chuỗi thức ăn gây ảnh hướng xấu tới sức khỏe con người. Các bệnh chủ yếu liên quan đến chất lượng nuớc là bệnh đường ruột, các bệnh do ký sinh trùng, vi khuẩn, virus, nấm mốc.., các bệnh do côn trùng trung gian và các bệnh do vi yếu tố và các chất khác trong nước (bệnh bướu cổ địa phương, bệnh về răng do thiếu hoặc thừa fluor, bệnh do nitrat cao trong nước, bệnh do nhiễm độc bởi các độc chất hóa học có trong nước như bệnh Minamata ở Nhật Bản do nước bị nhiễm dimethyl thủy ngân, bệnh Itai – Itai Nhật Bản do trong nước có quá nhiều Cadimi…).

Hậu quả chung của tình trạng ô nhiễm nước là tỉ lệ người mắc các bệnh cấp và mãn tính liên quan đến ô nhiễm nước như viêm màng kết, tiêu chảy, ung thư… ngày càng tăng. Người dân sinh sống quanh khu vực ô nhiễm ngày càng mắc nhiều loại bệnh tình nghi là do dùng nước bẩn trong mọi sinh hoạt.

Các nghiên cứu khoa học cũng cho thấy, khi sử dụng nước nhiễm asen để ăn uống, con người có thể mắc bệnh ung thư trong đó thường gặp là ung thư da. Ngoài ra, asen còn gây nhiễm độc hệ thống tuần hoàn khi uống phải nguồn nước có hàm lượng asen 0,1mg/l. Vì vậy, cần phải xử lý nước nhiễm asen trước khi dùng cho sinh hoạt và ăn uống. Người nhiễm chì lâu ngày có thể mắc bệnh thận, thần kinh, nhiễm Amoni, Nitrat, Nitrit gây mắc bệnh xanh da, thiếu máu, có thể gây ung thư. Metyl tert-butyl ete (MTBE) là chất phụ gia phổ biến trong khai thác dầu lửa có khả năng gây ung thư rất cao. Nhiễm Natri (Na) gây bệnh cao huyết áp, bệnh tim mạch, lưu huỳnh gây bệnh về đường tiêu hoá, Kali, Cadimi gây bệnh thoái hoá cột sống, đau lưng. Hợp chất hữu cơ, thuốc trừ sâu, thuốc diệt côn trùng, diệt cỏ, thuốc kích thích tăng trưởng, thuốc bảo quản thực phẩm, phốt pho… gây ngộ độc, viêm gan, nôn mửa. Tiếp xúc lâu dài sẽ gây ung thư nghiêm trọng các cơ quan nội tạng. Chất tẩy trắng Xenon peroxide, sodium percarbonate gây viêm đường hô hấp, oxalate kết hợp với calcium tạo ra calcium oxalate gây đau thận, sỏi mật. Vi khuẩn, ký sinh trùng các loại là nguyên nhân gây các bệnh đường tiêu hóa, nhiễm giun, sán. Kim loại nặng các loại: Titan, Sắt, chì, cadimi, asen, thuỷ ngân, kẽm gây đau thần kinh, thận, hệ bài tiết, viêm xương, thiếu máu.

Thứ ba, tổn thất kinh tế do gia tăng gánh nặng bệnh tật. Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015 quy định, các doanh nghiệp phải tổ chức khám bệnh cho người lao động ở những nơi có nguy cơ về bệnh nghề nghiệp sáu tháng một lần. Tuy nhiên, các doanh nghiệp trong KKT, KCNC, KCN và CCN hầu như không quan tâm trong khi không có cơ quan nào giám sát, kiểm tra. Các doanh nghiệp thường tổ chức cho công nhân khám ở cơ sở ngoài nhưng cũng chỉ là qua loa, đối phó. Kể cả khi người lao động phát hiện bệnh nghề nghiệp thì các doanh nghiệp hoặc “làm ngơ”, hoặc chậm trả tiền trợ cấp khiến phần lớn người lao động thường phải tự bỏ tiền túi ra để chữa bệnh.

Chúng ta cũng biết nước chiếm ¾ bề mặt trái đất, nhưng người dân lại chịu cảnh không có được sạch để sinh hoạt, … chứng tỏ tác hại của ô nhiễm môi trường từ NTCN có mức độ ảnh hưởng nghiêm trọng như thế nào.

1.3. Sơ lược quá trình hình thành và phát triển của các quy định pháp luật về xử lý nước thải công nghiệp Luận văn: Pháp luật xử lý nước thải công nghiệp tại Bình Dương.

Xử lý nước thải công nghiệp được coi là một trong những vấn đề môi trường ưu tiên hàng đầu do nó gây ra ô nhiễm nguồn nước, đất, không khí và ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe con người và sinh vật sống. Trong lĩnh vực xử lý nước thải công nghiệp, nhiều quốc gia và tổ chức quốc tế đã hợp tác với nhau để chia sẻ kiến thức, kỹ thuật, và tài trợ, nhằm nâng cao năng lực xử lý nước thải và bảo vệ môi trường toàn cầu.

Nhiều quốc gia đã ban hành các quy định pháp lý về việc xử lý nước thải công nghiệp để bảo vệ môi trường và sức khỏe của người dân. Doanh nghiệp cần tuân thủ các tiêu chuẩn và quy định này trong quá trình xử lý nước thải. Xử lý nước thải công nghiệp giúp giảm thiểu chi phí cho doanh nghiệp và xã hội bằng cách tái sử dụng và tái chế nước và các chất hữu ích. Điều này giúp tiết kiệm tài nguyên nước, giảm lượng rác thải, và tận dụng nguồn tài nguyên phụ từ quá trình xử lý. Các doanh nghiệp tuân thủ quy định về xử lý nước thải công nghiệp và áp dụng các giải pháp bền vững sẽ nâng cao uy tín của mình trong mắt khách hàng, đối tác, và cộng đồng.

Vấn đề quản lý nước thải nói chung đã nhận được sự quan tâm từ rất sớm, ngay tại Luật Tài nguyên nước 1998 đã có quy định về việc quản lý nước thải nói chung và xử lý NTCN nói riêng, cụ thể: “Nghiêm cấm việc đưa vào nguồn nước các chất thải độc hại, nước thải chưa xử lý hoặc xử lý chưa đạt tiêu chuẩn cho phép theo quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường”17; “Các cơ sở sản xuất công nghiệp, khai khoáng không được xả khí thải, nước thải chưa xử lý hoặc xử lý chưa đạt tiêu chuẩn cho phép vào không khí, nguồn nước dẫn đến gây ô nhiễm nguồn nước”18, “Tổ chức, cá nhân sử dụng nước trong sản xuất, kinh doanh và các hoạt động khác nếu xả nước thải vào nguồn nước thì phải được phép của cơ quan nhà nước có thẩm quyền”19 và các quy định khác có liên quan. Việc không ngừng đổi mới, hoàn thiện chiến lược phát triển kinh tế gắn với pháp luật xử lý nước thải công nghiệp sẽ tạo ra thế chủ động trong việc quản lý nước thải công nghiệp, gắn bó chặt chẽ với BVMT. Trong xây dựng chiến lược phát triển kinh tế sẽ xác định rõ mục tiêu, nhiệm vụ, phương thức và lộ trình phát triển gắn với việc BVMT. Thông qua đó, chủ nguồn thải sẽ chủ động trong việc xây dựng chiến lược quản lý và xử lý nước thải tránh việc nước thải chưa được xử lý hoàn toàn đã xả vào môi trường. Như vậy, Luật Tài nguyên nước 1998 đã tạo một cơ sở pháp lý vững chắc cho hoạt động quản lý nước thải nói chung và xử lý NTCN nói riêng. Luận văn: Pháp luật xử lý nước thải công nghiệp tại Bình Dương.

Nước thải công nghiệp xuất phát từ nhiều ngành công nghiệp đa dạng, bao gồm chế biến thực phẩm, sản xuất hóa chất, công nghệ sinh học, sản xuất giấy, dệt may, khai khoáng và hàng loạt ngành khác. Chính vì sự đa dạng này, thành phần và mức độ ô nhiễm của nước thải cũng trở nên phức tạp và khác biệt giữa các ngành. Trong nước thải công nghiệp, chúng ta thường tìm thấy các chất ô nhiễm hữu cơ, vô cơ, kim loại nặng, chất độc hại, vi sinh vật gây bệnh và các chất gây ô nhiễm khác. Tùy thuộc vào ngành công nghiệp, mỗi ngành sẽ có những chất ô nhiễm đặc trưng riêng.

Để cụ thể hóa các quy định về quản lý nước thải trong Luật Tài nguyên nước 1998, Chính phủ đã ban hành nhiều nghị định hướng dẫn chi tiết như: Nghị định 67/2003/NĐ-CP ngày 13/06/2003 quy định về phí bảo vệ môi trường đối với nước thải được sửa đổi bổ sung bởi Nghị định 04/2007/NĐ-CP và Nghị định 26/2010/NĐ-CP. Đặc biệt, ngày 28/05/2007, Chính phủ đã ban hành Nghị định 88/2007/NĐ-CP về thoát nước đô thị và KCN. Đây là văn bản đầu tiên quy định chi tiết về hoạt động thoát nước bao gồm cả NTCN. Đến thời điểm hiện tại, thì có một số văn bản còn hiệu lực quy định trực tiếp về lý nước thải công nghiệp như: Nghị định số 53/2020/NĐ-CP ngày 05/5/2020 của Chính phủ quy định về phí bảo vệ môi trường đối với nước thải; Nghị định số 35/2022/NĐ-CP ngày 28/5/2022 của Chính phủ quy định về quản lý khu công nghiệp và khu kinh tế và một số văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan.

Bên cạnh đó, Luật bảo vệ môi trường lần đầu được thông qua năm 1993 có các quy định liên quan hoạt động về nước thải có chứa chất độc hại, nguồn gây dịch bệnh, chất dễ cháy, dễ nổ thì phải có biện pháp xử lý trước khi xả thải. Qua đó, cũng đã yêu cầu các cơ quan nhà nước quy định danh mục các loại nước thải và giám sát quá trình xử lý trước khi thải. Tuy nhiên, văn bản này không đề cập đến xử lý nước thải một cách trực tiếp cũng như không đưa ra những quy định nhằm kiểm soát hoạt động xử lý nước thải tại nước ta nhưng phần nào đã bước đầu tạo nền tảng để những văn bản pháp luật điều chỉnh hoạt động xử lý nước thải được ra đời sau đó. Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về xử lý nước thải công nghiệp của quốc gia chính là khung khô pháp lý để điều chỉnh các quan hệ phát sinh giữa các chủ thể trong các hoạt động phát triển có liên quan đến môi trường, nhằm BVMT sống của con người. Nếu hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về xử lý nước thải công nghiệp của quốc gia rõ ràng, cụ thể, phù hợp với thực tế, thì nó sẽ đi vào cuộc sống, được các tổ chức, cá nhân chấp nhận và thực hiện đầy đủ. Ngược lại, nếu các văn bản quy phạm pháp luật về xử lý nước thải công nghiệp của quốc gia không sát với thực tế, không rõ ràng, cụ thể, chồng chéo, mâu thuẫn nhau thì sẽ gây khó khăn trong việc tổ chức thực hiện và sẽ không được các tổ chức, cá nhân chấp hành hoặc chấp hành qua loa, đại khái. Thực tế cho thấy ở các quốc gia phát triển, hệ thống văn bản pháp luật về xử lý chất thải công nghiệp được ban hành đầy đủ, rõ ràng với những công cụ quản lý môi trường hữu hiệu.

Sau đó, ngày 29/11/2005, Quốc hội đã ban hành Luật Bảo vệ môi trường 2005 quy định những vấn đề liên quan đến hoạt động bảo vệ môi trường. Cụ thể, vấn đề quản lý nước thải được quy định tại Điều 81 và 82 Luật Bảo vệ môi trường như sau: “Nước thải của cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, khu sản xuất, kinh doanh, dịch vụ tập trung phải được thu gom, xử lý đạt tiêu chuẩn môi trường” và “Đối tượng sau đây phải có hệ thống xử lý nước thải:… Khu, cụm công nghiệp làng nghề…”. Kế thừa từ các quy định của Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 ban hành ngày 29/11/2005, Luật bảo vệ môi trường 2014 ban hành ngày 23/6/2014 có quy định cụ thể về BVMT khu kinh tế, BVMT khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, BVMT cụm công nghiệp (từ Điều 65 – Điều 67), trong đó quy định rõ chức năng của cơ quan quản lý BVMT, tổ chức và hoạt động BVMT tại các khu vực này này. Trong thực tế hiện nay, phân lớn lượng nước thải công nghiệp xả ra môi trường chủ yếu bắt nguồn từ các KCN, vì vậy, khả năng xây dựng và thực thi hiệu quả các chính sách kinh tế vĩ mô về tổ chức hệ thống bộ máy xử lý nước thải tại KCN là một nhân tố có ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động xử lý nước thải công nghiệp. Tùy thuộc năng lực của Ban quản lý mà hệ thống tổ chức bộ máy quản lý môi trường cỏ những điểm khác nhau. Nhìn chung, bộ máy này đều được tổ chức từ cấp trung ương đến các cấp địa phương, được tồ chức kết hợp theo ngành và theo lãnh thổ. Nếu hệ thống này được thành lập, xây dựng ở tất cả các cấp, bao phủ mọi địa bàn, mọi ngành và được phân công, phân cấp quản lý rõ ràng thi hiệu quả của hoạt động xử lý nước thải công nghiệp sẽ tốt. Ngược lại, nếu hệ thống này không được xây dựng, kiện toàn ở mọi khâu, mọi mắt xích, không được phân cấp quyền hạn rõ ràng thì hoạt động xử lý nước thải công nghiệp sẽ không hiệu quả. Đội ngũ cán bộ chuyên trách quản lý nhà nước về môi trường tại KCN và cơ sở vật chất cho hoạt động của đội ngũ này cũng có ảnh hưởng lớn đến hoạt động xử lý nước thải tại KCN. Nếu đội ngũ mỏng, thiếu trình độ chuyên môn, không được trang bị đầy đủ các phương tiện, máy móc,… thì rất khó có thể quản lý hoạt động xử lý và xả thải một cách hiệu quả. Vì đội ngũ mỏng thì không thê đáp ứng được khối lượng công việc cần phải giải quyết, đội ngũ yếu về chuyên môn thì giải quyết công việc sẽ chậm, thiếu chính xác và thiếu máy móc, phương tiện trợ giúp thì sẽ khó hoàn thành công việc. Đến ngày 17/11/2020 thì Quốc Hội đã thông qua Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 bổ sung, chi tiết và cụ thể hóa các quy định nhằm đảm bảo các quy định về xử lý nước thải được chặt chẽ và hoàn thiện hơn. Luận văn: Pháp luật xử lý nước thải công nghiệp tại Bình Dương.

Ngoài ra, Bộ Tài nguyên và Môi trường cũng đã ban hành nhiều thông tư, quyết định liên quan đến vấn đề quản lý NTCN như: Thông tư số 04/2015/TT- BXD của Bộ Xây dựng hướng dẫn hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số 80/2014/NĐ-CP ngày 06/8/2014 của Chính phủ về thoát nước và xử lý nước thải; Thông tư số 02/2022/TT-BTNMT của Bộ Tài nguyên môi trường quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Bảo vệ môi trường.

Do đó, để các văn bản quy phạm pháp luật trên được tiếp cận, phổ biến đến tất cả người dân cả nước nói chung và trong tỉnh Bình Dương nói riêng. Thì công tác tuyên truyền và giáo dục về môi trường và bảo vệ môi trường có mối liên kết sâu sắc với việc thực thi pháp luật quản lý nước thải công nghiệp, như đã được phân tích ở phần trước. Ý thức về tuân thủ pháp luật không chỉ phụ thuộc vào việc thực hiện mà còn phụ thuộc rất lớn vào quá trình giáo dục và tuyên truyền về môi trường, đặc biệt là ở các quốc gia đang phát triển như Việt Nam. Nếu công tác giáo dục và tuyên truyền về môi trường được đặt lên vị trí quan trọng, được tích hợp vào hệ thống giáo dục quốc gia, nhận thức và ý thức của người dân về môi trường sẽ được nâng cao. Họ sẽ thấu hiểu trách nhiệm bảo vệ môi trường của chính họ và tự nguyện tuân thủ các quy định pháp luật. Nếu phương pháp tuyên truyền về môi trường được thiết kế một cách hợp lý và có tác động liên tục đối với người dân, ý thức về môi trường và bảo vệ môi trường sẽ tăng cao. Điều này sẽ thúc đẩy sự tham gia chung tay bảo vệ môi trường trong cộng đồng. Điều này tạo ra hiệu quả tương ứng trong việc nâng cao quản lý môi trường, bao gồm cả việc quản lý nước thải công nghiệp.

Như vậy, pháp luật về xử lý NTCN đã có lịch sử hình thành và phát triển lâu dài gắn liền với quá trình hình thành pháp luật về xử lý nước thải. Đến nay, các quy phạm pháp luật về xử lý NTCN đã được ban hành và sửa đổi, bổ sung nhiều lần với số lượng tương đối lớn và đã đáp ứng được cơ bản nhu cầu điều chỉnh hoạt động xử lý NTCN. Luận văn: Pháp luật xử lý nước thải công nghiệp tại Bình Dương.

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Thời gian qua, phát triển công nghiệp mạnh mẽ đã kèm theo nguy cơ gây ra ô nhiễm môi trường nặng nề, đặc biệt là trong hoạt động xả nước thải công nghiệp. Do đó, các yêu cầu chặt chẽ về hoạt động quản lý, xử lý nước thải công nghiệp là đòi hỏi ngày một bức thiết của pháp luật và cộng đồng. Xử lý nước thải công nghiệp là hoạt động giữ cho môi trường trong lành, sạch đẹp; phòng ngừa, hạn chế những tác động xầu đối với môi trường của nước thải công nghiệp; ứng phó sự cố môi trường; khắc phục ô nhiễm môi trường do nước thải từ các hoạt động sản xuất, kinh doanh dịch vụ gây nên, phục hồi cải thiện môi trường.

Thứ nhất, pháp luật xử lý nước thải công nghiệp là một bộ phận, quy trình của pháp luật về quản lý nước thải. Pháp luật xử lý nước thải công nghiệp là tổng hợp các quy phạm pháp luật, các nguyên tắc pháp lý điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong hoạt động xử lý nước thải công nghiệp liên quan trực tiếp đến quá trình bảo vệ có hiệu quả môi trường sống của con người khi các chủ thể tiến hành hoạt động xả nước thải công nghiệp.

Thứ hai, pháp luật xử lý nước thải công nghiệp giữ vai trò quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế xã hội và bảo vệ môi trường. Đây là một trong những cơ sở pháp lý góp phần phòng ngừa, hạn chế những tác động xấu của hoạt động xả thải công nghiệp đến môi trường. Thông qua những quy định về xử lý nước thải công nghiệp, nhà nước đã tạo điều kiện cho các cá nhân, tổ chức đẩy mạnh ứng dụng khoa học kỹ thuật tiên tiến, khuyến khích áp dụng các công nghệ sản xuất thân thiện với môi trường vào hoạt động sản xuất, kinh doanh dịch vụ nhằm đảm bảo phát triển bền vững.

Thứ ba, luận văn nêu lên thực trạng ô nhiễm môi trường. Thông qua việc thu thập và đưa ra các con số cụ thể về tình trạng xả NTCN, kế đó là những nguyên nhân và hậu quả nặng nề mà con người phải gánh chịu do ô nhiễm môi trường từ hành vi xả NTCN không đúng theo quy định của pháp luật gây nên. Luận văn: Pháp luật xử lý nước thải công nghiệp tại Bình Dương.

Một trong những nội dung quan trọng ở chương này đó là các khái niệm. Sau khi đã trình bày các khái niệm về chất thải, nước thải, nước thải công nghiệp, xử lý NTCN để hiểu rõ hơn về bản chất của chúng. Từ các lập luận, khái niệm trên, luận văn đi vào phân tích vai trò của pháp luật xử lý NTCN trong thực tế hoạt động xử lý NTCN. Cuối cùng, tác giả trình bày lịch sử hình thành và phát triển của pháp luật về xử lý NTCN từ trước đến nay, đây là tiền đề quan trọng giải quyết nội dung của các chương tiếp theo.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:  

===>>> Luận văn: Thực trạng Pháp luật về xử lý nước thải công nghiệp

One thought on “Luận văn: Pháp luật xử lý nước thải công nghiệp tại Bình Dương

  1. Pingback: Luận văn: Giải pháp Pháp luật về xử lý nước thải công nghiệp

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464