Luận văn: Pháp luật về cưỡng chế tài sản để thi hành án

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Pháp luật về cưỡng chế tài sản để thi hành án hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Pháp luật về cưỡng chế tài sản để thi hành án trong các vụ án có giao dịch bảo đảm tại tỉnh Thừa Thiên Huế dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

PHẦN MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu Đề án

Thi hành án dân sự có vai trò quan trọng trong việc góp phần đảm bảo hiệu lực thi hành của bản án, quyết định dân sự của Toà án. Đây là công đoạn cuối cùng của hoạt động tố tụng, bảo đảm cho bản án, quyết định của Tòa án được chấp hành nghiêm chỉnh, góp phần tăng cường tính nghiêm minh của pháp luật, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân và Nhà nước, qua đó góp phần giữ vững ổn định chính trị xã hội, tăng cường hiệu lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy Nhà nước. Việc thi hành các nội dung về quyền, nghĩa vụ liên quan đến tài sản có biện pháp giao dịch bảo đảm theo bản án, quyết định dân sự của Toà án thường gặp nhiều khó khăn, người phải thi hành án trong giai đoạn này đều đã mất khả năng thanh toán, tài sản thế chấp bảo đảm phải được xử lý, quá trình xử lý tác động trực tiếp đến quyền sỡ hữu đối với tài sản buộc chấm dứt quyền sở hữu nên người phải thi hành án luôn trốn tránh, cản trở, chống đối quyết liệt, gây khó khăn cho quá trình tổ chức thi hành án nên đòi hỏi phải áp dụng biện pháp cưỡng chế trong hầu hết các vụ việc thi hành án. Do đó, các quy định về cưỡng chế tài sản để thi hành án cần phải đáp ứng tiêu chí về bảo đảm hiệu quả của hoạt động cưỡng chế, triệt tiêu hành vi trốn tránh, cản trở, chống đối, trì hoãn việc thi hành án. Đồng thời, phải bảo đảm tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể có liên quan.

Cưỡng chế tài sản để thi hành án trong các vụ việc có giao dịch bảo đảm là biện pháp cưỡng chế thi hành án được quy định tại Điều 71 Luật Thi hành án dân sự 2008 (được sửa đổi bổ sung năm 2014). Hiện tại, Luật THADS và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật THADS đã quy định tương đối đầy đủ về trình tự, thủ tục áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành án. Khi thực hiện cưỡng chế tài sản để thi hành án phải tống đạt Quyết định thi hành án, phải xác minh điều kiện thi hành án ra Quyết định cưỡng chế, lập kế hoạch cưỡng chế, tổ chức thực hiện việc cưỡng chế, phối hợp bảo vệ cưỡng chế. Tuy nhiên, thực tiễn thực hiện quy định về cưỡng chế THADS, nhất là cưỡng chế tài sản để thi hành án trong các vụ việc có giao dịch bảo đảm cho thấy hiệu quả chưa cao, còn có những hạn chế tác động đến quá trình thực hiện pháp luật về cưỡng chế THADS và đây cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng vụ việc thi hành án có điều kiện thi hành án tồn đọng, kéo dài, chưa đáp ứng được yêu cầu bảo vệ kịp thời và có hiệu quả quyền, lợi ích hợp pháp của người được THA và quyền lợi hợp pháp của đương sự khác trong THADS.

Việc hệ thống pháp luật về THADS nói chung và pháp luật về cưỡng chế THADS nhất là cưỡng chế tài sản để THA trong các vụ việc có giao dịch bảo đảm còn có những hạn chế tác động đến quá trình thực hiện pháp luật về cưỡng chế THADS cùng tâm lý né tránh, ý thức chống đối hoặc cố tình kéo dài, trì hoãn việc THA của người phải THA đã gây khó khăn, tồn đọng các vụ việc THA, dẫn đến hiệu quả tổ chức THA không cao làm ảnh hưởng không nhỏ quyền và lợi ích hợp pháp của các cá nhân ­ tổ chức có liên quan đến quan hệ cưỡng chế tài sản để thi hành án trong các vụ việc có giao dịch bảo đảm. Chính vì thế, việc tác giả chọn đề tài: “Pháp luật về cưỡng chế tài sản để thi hành án trong các vụ án có giao dịch bảo đảm tại tỉnh Thừa Thiên Huế” để nghiên cứu là có tính cấp thiết.

2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến Đề án Luận văn: Pháp luật về cưỡng chế tài sản để thi hành án.

Nghiên cứu những quy định của pháp luật liên quan đến nội dung cưỡng chế tài sản để thi hành án trong các vụ án có biện pháp giao dịch bảo đảm thời gian qua đã thu hút được nhiều sự quan tâm, chú ý của nhiều tác giả với những công trình nghiên cứu ở những khía cạnh khác nhau cũng như các bài viết được đăng trên các Tạp chí chuyên ngành luật.

  • Sách chuyên khảo

Đến nay, đã có một số công trình cấp độ sách chuyên khảo có liên quan đến đề tài, như:

Công trình “Chín biện pháp bảo đảm nghĩa vụ hợp đồng” của Lương Thanh Đức năm 2019 của Nhà xuất bản chính trị quốc gia sự thật. Trong cuốn sách này, tác giả đã đi sâu phân tích về các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ hợp đồng một cách chi tiết, tổng quan. Đồng thời công trình còn đưa ra nhận định về các biện pháp xử lý tài sản bảo đảm.

Công trình “Bình luận chuyên sâu chế định Hợp đồng trong Bộ luật Dân sự năm 2015” của PGS.TS Đoàn Đức Lương ­ TS Dương Quỳnh Hoa năm 2020 của Nhà xuất bản Tư pháp. Các tác giả đã đưa ra những quan điểm, nhận xét về các điều khoản của BLDS năm 2015 cũng như có đánh giá, cách nhìn nhận về biện pháp xử lý, thực hiện Hợp đồng vay tài sản, Hợp đồng về quyền sử dụng đất.

Công trình “Pháp luật về cưỡng chế thi hành án dân sự” của TS Nguyễn Văn Tiến ­ TS Lê Vĩnh Châu năm 2023 của Nhà xuất bản chính trị quốc gia sự thật. Nội dung của công trình đã tổng hợp, đánh giá, phân tích các chế định về cưỡng chế thi hành án trong đó có cưỡng chế thi hành án đối với tài sản bảo đảm.

  • Luận văn, luận án

Những đề tài nghiên cứu cấp độ Luận án tiến sỹ, Luận văn Thạc sỹ liên quan đến đề tài, như:

Luận án tiến sỹ “Thực hiện pháp luật về cưỡng chế thi hành án dân sự ở Việt Nam” của Bùi Đức Tiến năm 2018, Luận án Tiến sỹ chuyên ngành Lý luận và lịch sử Nhà nước và pháp luật tại Học viện chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh. Luận án hệ thống hóa các vấn đề lý luận về cưỡng chế thi hành án dân sự cũng như phân tích có hệ thống thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật về cưỡng chế thi hành án dân sự ở Việt Nam; từ đó đưa ra quan điểm và giải pháp đảm bảo thực hiện pháp luật về cưỡng chế thi hành án dân sự ở Việt Nam. Luận văn: Pháp luật về cưỡng chế tài sản để thi hành án.

Luận án tiến sỹ “Bán đấu giá tài sản thi hành án dân sự ở Việt Nam” của Lê Thị Hương Giang năm 2019, Luận án Tiến sỹ chuyên ngành Luật Dân sự và Tố tụng dân sự tại Trường Đại học Luật Hà Nội. Nội dung Luận án đã hệ thống hóa các vấn đề lý luận về bán đấu giá tài sản thi hành án dân sự cũng như phân tích có hệ thống thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật về bán đấu giá tài sản thi hành án dân sự ở Việt Nam; từ đó xây dựng và hoàn thiện cơ chế bán đấu giá tài sản thi hành án dân sự ở Việt Nam có hiệu quả phù hợp với Luật đấu giá tài sản, cơ chế thị trường, thông lệ quốc tế trên cơ sở đưa ra 05 yêu cầu đề hoàn thiện pháp luật về bán đấu giá tài sản thi hành án dân sự ở Việt Nam.

Luận văn Thạc sỹ “Tổ chức thực hiện cưỡng chế thi hành án dân sự – từ thực tiễn tỉnh Ninh Bình” năm 2021 của tác giả Bùi Thị Mỹ Linh tại Học viện Hành chính Quốc gia Hà Nội. Luận văn làm rõ một số vấn đề lý luận về cưỡng chế thi hành án dân sự. Nội dung các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về cưỡng chế thi hành án dân sự và thực tiễn thực hiện biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự trên địa bàn tỉnh Ninh Bình. Trên cơ sở đó tác giả đề ra phương hướng và giải pháp bảo đảm tổ chức thực hiện cưỡng chế thi hành án dân sự.

Luận văn Thạc sỹ “Xác định, xử lý tài sản của người phải thi hành án là thành viên hộ gia đình để thi hành án dân sự”, Luận văn thạc sĩ của tác giả Lục Thị Thu Huyền, năm 2022 tại Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh. Đây là công trình nghiên cứu khá hoàn thiện và đầy đủ về khái niệm, các thủ tục thực hiện và hoạt động cưỡng chế kê biên tài sản trong thi hành án dân sự và những vướng mắc trong áp dụng biện pháp cưỡng chế kê biên tài sản để thi hành án dân sự, đặc biệt là các nội dung về cưỡng chế kê biên tài sản của người phải thi hành án là thành viên hộ gia đình để để thu hồi nợ cho ngân hàng được làm rõ thông qua thực tiễn thực hiện pháp luật tại địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh.

Ngoài ra còn có các công trình nghiên cứu là các bài viết trên các tạp chí chuyên ngành luật có liên quan đến đề tài; trong đó nổi bật có thể kể đến bài viết “Một số khó khăn, vướng mắc khi kê biên, xử lý tài sản cầm cố, thế chấp” của Cao Thị Kim Trinh (Thạc sỹ, Giảng viên chính, Khoa Đào tạo các chức danh thi hành án dân sự, Học viện Tư pháp), Tạp chí Nghề luật số 12 năm 2021, trang 68 –71 Bài viết đã chỉ ra các khó khăn, vướng mắc, bất cập trong kê biên, xử lý tài sản cầm cố, thế chấp sau khi có bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật; kê biên xử lý tài sản chung của hộ gia đình đang thế chấp để thực hiện nghĩa vụ thi hành án; kê biên, xử lý tài sản trong trường hợp người phải thi hành án có quyền sử dụng đất đang thế cháp tại Ngân hàng và có nhà ở duy nhất. Thông qua bài viết tác giả đã đánh giá các khó khăn, vướng mắc, viện dẫn các vụ việc cụ thể đồng thời đánh giá các quy định của Pháp luật có liên quan đến như: Bộ luật Dân sự (Điều 297), Luật Thi hành án dân sự (Điều 74, Điều 90, Điều 95) Nghị định số 62/2015/NĐ­CP ngày 18/7/2015 (Điều 24), Nghị định số 33/2020/NĐ­CP ngày 17/3/2020 (Điều 1). Thông qua các phân tích pháp lý, đối chiếu thực tế vụ việc, tác giả đã có những kiến nghị, đề xuất về hoàn thiện pháp luật trong kê biên xử lý tài sản cầm cố thế chấp trong thời gian tới nhằm góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả của hoạt động xử lý tài sản cầm cố, thế chấp. Luận văn: Pháp luật về cưỡng chế tài sản để thi hành án.

Các công trình nghiên cứu khoa học kể trên đã góp phần hoàn thiện lý luận về cưỡng chế tài sản để thi hành án theo pháp luật thi hành án dân sự nói chung và cưỡng chế tài sản để thi hành án trong các vụ án có biện pháp giao dịch bảo đảm nói riêng ở Việt Nam. Đồng thời đưa ra nhiều quan điểm, kiến nghị, giải pháp và phương hướng, góp phần nâng cao hiệu quả về hoàn thiện lý luận, hoàn thiện việc áp dụng pháp luật về cưỡng chế tài sản để thi hành án theo pháp luật thi hành án dân sự. Tuy nhiên, các nghiên cứu này chủ yếu nghiên cứu vấn đề kê biên, bán đấu giá tài sản theo pháp luật thi hành án dân sự, có một số ít công trình nghiên cứu cụ thể về kê biên, bán đấu giá tài sản là bất động sản gắn liền với đất và quyền sử dụng đất nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu dưới góc độ lý luận và thực tiễn đặc thù pháp luật về cưỡng chế tài sản để thi hành án trong các vụ án có biện pháp giao dịch bảo đảm. Biện pháp giao dịch bảo đảm là biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ được các ngân hàng, tổ chức tín dụng ký kết Hợp đồng với khách hàng để áp dụng bảo đảm thực hiện hợp đồng tín dụng. Điều này dẫn đến việc cưỡng chế tài sản để thi hành án trong các vụ án có biện pháp giao dịch bảo đảm là nội dung rất cần được quan tâm trong hoạt động tổ chức thi hành các bản án có biện pháp giao dịch tài sản bảo đảm để thu hồi nợ cho các ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng. Do đó, nội dung này cần được quan tâm và cần phải tiếp tục được triển khai nghiên cứu sâu rộng hơn nhằm đảm bảo hiệu lực thi hành bản án có biện pháp giao dịch bảo đảm theo chủ trương của Đảng và Nhà nước theo đúng tinh thần Nghị quyết số 42/2017/QH14 ngày 21/6/2017 của Quốc hội khóa 14 (có hiệu lực ngày 15/8/2017) và Nghị quyết số 63/2022/QH15 ngày 16/6/2022 của Quốc hội khóa 15. Vì thế, việc nghiên cứu đề án “Pháp luật về cưỡng chế tài sản để thi hành án trong các vụ án có biện pháp giao dịch bảo đảm tại tỉnh Thừa Thiên Huế” là hết sức cần thiết.

3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu Đề án

3.1. Mục đích nghiên cứu

Đề án đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về cưỡng chế tài sản để thi hành án trong các vụ án có biện pháp giao dịch bảo đảm.

3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

Thứ nhất, Đề án nghiên cứu hệ thống một số vấn đề lý luận của pháp luật về cưỡng chế tài sản để thi hành án trong các vụ án có biện pháp giao dịch bảo đảm.

Thứ hai, Đề án phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật về cưỡng chế tài sản để thi hành án trong các vụ án có biện pháp giao dịch bảo đảm tại tỉnh Thừa Thiên Huế nhằm tìm ra những vướng mắc, bất cập trong quá trình thực hiện pháp luật và nguyên nhân của vướng mắc, bất cập.

Thứ ba, Đề án đề xuất được giải pháp hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về cưỡng chế tài sản để thi hành án trong các vụ án có biện pháp giao dịch bảo đảm tại tỉnh Thừa Thiên Huế.

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Đề án

4.1. Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề án bao gồm: Luận văn: Pháp luật về cưỡng chế tài sản để thi hành án.

Nghiên cứu lý luận pháp luật về cưỡng chế tài sản để thi hành án trong các vụ án có biện pháp giao dịch bảo đảm.

Nghiên cứu pháp luật về cưỡng chế tài sản để thi hành án trong các vụ án có biện pháp giao dịch bảo đảm.

Nghiên cứu thực tiễn thực hiện pháp luật về cưỡng chế tài sản để thi hành án trong các vụ án có biện pháp giao dịch bảo đảm trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế.

4.2. Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nội dung: Trong khuôn khổ Đề án, tác giả tập trung nghiên cứu pháp luật về cưỡng chế tài sản để thi hành án trong các vụ án có biện pháp giao dịch bảo đảm trên cơ sở các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành và từ thực tiễn áp dụng pháp luật tại thời điểm Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi bổ sung năm 2014 có hiệu lực.

  • Phạm vi không gian: Nội dung của Đề án được nghiên cứu trên lãnh thổ Việt Nam, trọng tâm nghiên cứu thực tiễn thực hiện tại Cơ quan Thi hành án dân sự ở tỉnh Thừa Thiên Huế.
  • Phạm vi thời gian: Các số liệu, các vụ việc trong thực tiễn trong phạm vi 05 năm trở lại đây.

5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của Đề án

5.1. Phương pháp luận của Đề án

Đề án được hoàn thành trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử, hệ thống các quan điểm chính sách của Đảng và Nhà nước có liên quan đến cưỡng chế tài sản để thi hành án.

5.2. Phương pháp nghiên cứu của Đề án

Để đạt được mục đích nghiên cứu, Đề án sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau đây:

Thứ nhất, phương pháp phân tích, phương pháp so sánh luật học, phương pháp tổng hợp được sử dụng tại Chương 1 khi nghiên cứu những vấn đề lý luận về cưỡng chế tài sản để thi hành án trong các vụ án có biện pháp giao dịch bảo đảm tại tỉnh Thừa Thiên Huế.

Thứ hai, phương pháp phân tích, phương pháp so sánh, phương pháp tổng hợp, phương pháp thống kê, phương pháp diễn dịch, phương pháp suy luận logic, phương pháp sử dụng tình huống điển hình được sử dụng tại Chương 2 khi nghiên cứu thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật về cưỡng chế tài sản để thi hành án trong các vụ án có biện pháp giao dịch bảo đảm tại tỉnh Thừa Thiên Huế. Luận văn: Pháp luật về cưỡng chế tài sản để thi hành án.

Thứ ba, phương pháp diễn dịch, phương pháp quy nạp được tác giả sử dụng tại chương 3 khi đánh giá thực tiễn thực hiện pháp luật và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về cưỡng chế tài sản để thi hành án trong các vụ án có biện pháp giao dịch bảo đảm tại tỉnh Thừa Thiên Huế.

6. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của Đề án

6.1 Ý nghĩa khoa học của Đề án

Kết quả nghiên cứu của Đề án góp phần làm rõ những nội dung hạn chế, bất cập của các quy định pháp luật, sự tác động của pháp luật đến hiệu quả cưỡng chế tài sản để thi hành án trong các vụ án có biện pháp giao dịch bảo đảm; qua đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật, nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về cưỡng chế tài sản để thi hành án trong các vụ án có biện pháp giao dịch bảo đảm.

6.2. Ý nghĩa thực tiễn của Đề án

Kết quả nghiên cứu thực tiễn của Đề án có giá trị quan trọng trong việc giúp cho CHV, Cơ quan Thi hành án dân sự tham khảo, áp dụng pháp luật có hiệu quả.

Kết quả nghiên cứu thực tiễn của Đề án có thể được sử dụng làm tư liệu hướng dẫn, cung cấp cho khách hàng vay tiền, các ngân hàng, tổ chức tín dụng kiến thức pháp lý liên quan đến cưỡng chế tài sản để thi hành án nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Góp phần hạn chế những vi phạm, những tranh chấp và vướng mắc có thể xảy ra trong quá trình xử lý tài sản để thi hành án.

Kết quả nghiên cứu thực tiễn của Đề án có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các cơ sở đào tạo, nghiên cứu pháp luật.

7. Kết cấu của Đề án

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo thì Đề án có kết cấu thành 03 chương như sau:

  • Chương 1: Một số vấn đề lý luận pháp luật về cưỡng chế tài sản để thi hành án trong các vụ án có biện pháp giao dịch bảo đảm.
  • Chương 2: Thực trạng pháp luật về cưỡng chế tài sản để thi hành án trong các vụ án có biện pháp giao dịch bảo đảm và thực tiễn thực hiện tại tỉnh Thừa Thiên Huế.
  • Chương 3: Giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về cưỡng chế tài sản để thi hành án trong các vụ án có biện pháp giao dịch bảo đảm.

CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN PHÁP LUẬT VỀ CƯỠNG CHẾ TÀI SẢN ĐỂ THI HÀNH ÁN TRONG CÁC VỤ ÁN CÓ BIỆN PHÁP GIAO DỊCH BẢO ĐẢM

1.1. Khái quát về cưỡng chế tài sản để thi hành án trong các vụ án có biện pháp giao dịch bảo đảm

1.1.1. Khái niệm về cưỡng chế; biện pháp giao dịch bảo đảm

1.1.1.1. Khái niệm về cưỡng chế Luận văn: Pháp luật về cưỡng chế tài sản để thi hành án.

Theo cuốn Đại Từ điển tiếng Việt của Nguyễn Như Ý (chủ biên), Trung tâm Ngôn ngữ và văn hóa Việt Nam, Bộ Giáo dục và Đào tạo do Nhà xuất bản Văn hóa thông tin ấn hành năm 1998 thì cưỡng chế là “bắt buộc phải tuân theo bằng sức mạnh quyền lực: tính chất cưỡng chế của pháp luật”. Từ điển tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học do Nhà xuất bản Thanh niên ấn hành 2001 thì “cưỡng chế là dùng quyền lực nhà nước bắt buộc người khác phải tuân theo”. Về mặt thuật ngữ pháp lý, theo cuốn Từ điển Luật học do Nhà xuất bản Từ điển bách khoa ấn hành năm 1999 thì cưỡng chế là “những biện pháp bắt buộc cá nhân hay tổ chức phải thực hiện và phục tùng mệnh lệnh nhất định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền”. Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam tập 1 xuất bản năm 1996 thì cưỡng chế là “dùng quyền lực của Nhà nước để bắt buộc người khác thực hiện những việc làm trái với ý muốn của họ. Cưỡng chế là một trong những phương pháp chủ yếu của hoạt động quản lý nhà nước”. Từ điển Luật học do Nhà xuất bản Từ điển bách khoa và Nhà xuất bản Tư pháp ấn hành năm 2006 thì cưỡng chế là “buộc cá nhân hay tổ chức phải phục tùng một mệnh lệnh, thực hiện một nghĩa vụ, trách nhiệm theo quyết định đã có hiệu lực của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Chỉ tổ chức hay cá nhân được pháp luật quy định mới được ra quyết định cưỡng chế, quyết định lực lượng cưỡng chế. Cưỡng chế phải được tiến hành theo thủ tục, trình tự chặt chẽ. Cá nhân hay tổ chức là đối tượng cưỡng chế có thể bị buộc phải làm hay không được làm một việc nhất định về quyền tài sản hay quyền nhân thân. Biện pháp sử dụng trong cưỡng chế là bạo lực về mặt vật chất hoặc tinh thần, thường được áp dụng khi quyết định đã có hiệu lực không được thực hiện một cách tự nguyện”.

1.1.1.2. Khái niệm biện pháp giao dịch bảo đảm

Theo cuốn Từ điển Tiếng Việt 65.000 từ thì “biện pháp” “là những cách làm, cách giải quyết một vấn đề cụ thể” và theo cuốn Từ điển Tiếng Việt thông dụng thì “biện pháp” là “cách thức xử lý công việc hoặc giải quyết vấn đề”; “bảo đảm” là “tạo điều kiện để chắc chắn giữ gìn được hoặc thực hiện được hoặc có được những gì cần thiết hoặc cam đoan chịu trách nhiệm”; còn theo cuốn Từ điển Tiếng Việt do Nguyễn Tôn Nhan và Phú Văn Hẳn chủ biên thì “biện pháp” là “cách làm, cách giải quyết vấn đề”; “bảo đảm” là “làm cho điều gì đó chắc chắn được thực hiện, được giữ gìn hoặc có đầy đủ những gì cần thiết”, còn “giao dịch” là “mua bán, đổi chác, có mối quan hệ làm ăn với nhau”

1.1.2. Khái niệm và đặc điểm của cưỡng chế thi hành án dân sự

THADS là quá trình thực thi pháp luật để cụ thể hóa các kết quả pháp lý về phần nghĩa vụ dân sự trong các bản án, quyết định của Tòa án đã xét xử, giải quyết; quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh của Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh có liên quan đến tài sản của người phải THA và phán quyết của Trọng tài thương mại (gọi chung là các bản án, quyết định). Do đó, để bảo đảm quyền, nghĩa vụ của người phải THA, người được THA và những người có quyền, nghĩa vụ liên quan trong thực tế thì các bản án, quyết định phải được thi hành theo đúng trình tự, thủ tục về THADS bởi cơ quan có Nhà nước có thẩm quyền – Cơ quan THADS cấp tỉnh và cấp huyện.

Từ khái niệm trên, có thể xác định cưỡng chế thi hành án dân sự được thể hiện qua các đặc điểm sau:

  • Thứ nhất, Cưỡng chế THADS thể hiện quyền lực của Nhà nước Thứ hai, Cưỡng chế THADS là một biện pháp THADS
  • Thứ ba, Cưỡng chế THADS được áp dụng với nhiều đối tượng
  • Thứ tư, cưỡng chế THADS được thực hiện thông qua Quyết định cưỡng chế THADS

1.2. Khái quát pháp luật về cưỡng chế tài sản để thi hành án dân sự trong các vụ án có biện pháp giao dịch bảo đảm Luận văn: Pháp luật về cưỡng chế tài sản để thi hành án.

1.2.1. Khái niệm pháp luật về cưỡng chế tài sản để thi hành án dân sự trong các vụ án có biện pháp giao dịch bảo đảm

Giao dịch bảo đảm là giao dịch dân sự do các bên thoả thuận hoặc pháp luật quy định về việc thực hiện biện pháp bảo đảm như: cầm cố tài sản, thế chấp tài sản, đặt cọc, ký cược, ký quỹ, bảo lãnh, tín chấp. Tài sản bảo đảm là các loại tài sản được sử dụng với mục đích làm bảo đảm cho một khoản vay hoặc là nghĩa vụ tài chính khác. Mục đích của các loại tài sản bảo đảm thường là để chắc chắn rằng người vay có thể trả nợ đúng hạn và đáp ứng thực hiện đầy đủ nghĩa vụ thanh toán nợ của mình.

Giao dịch bảo đảm là giao dịch được đảm bảo thực hiện bằng các biện pháp bảo đảm mang tính tài sản do các bên thỏa thuận theo quy định của pháp luật, bao gồm giao dịch được bảo đảm và những thỏa thuận về các biện pháp bảo đảm để thực hiện nghĩa vụ trong giao dịch được bảo đảm. Giao dịch được bảo đảm là giao dịch chính, tồn tại độc lập, hiệu lực không phụ thuộc vào giao dịch khác; còn những thỏa thuận về các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ chỉ phát sinh hiệu lực khi giao dịch được bảo đảm không được thực hiện.

1.2.2. Nội dung cơ bản của pháp luật về cưỡng chế tài sản để thi hành án trong các vụ án có biện pháp giao dịch bảo đảm

Pháp luật hiện hành về cưỡng chế tài sản để thi hành án trong các vụ án có biện pháp giao dịch bảo đảm gồm một số nhóm quy định pháp luật cơ bản như sau:

  • Nhóm quy định pháp luật về chủ thể có thẩm quyền cưỡng chế tài sản để THA trong các vụ án có biện pháp giao dịch bảo đảm.
  • Nhóm quy định pháp luật về quyền, nghĩa vụ của các chủ thể tham gia trong quan hệ cưỡng chế tài sản để THA trong các vụ án có biện pháp giao dịch bảo đảm.
  • Nhóm quy định pháp luật về trình tự, thủ tục cưỡng chế tài sản để thi hành án trong các vụ án có biện pháp giao dịch bảo đảm.

1.2.3. Vai trò của pháp luật về cưỡng chế tài sản để thi hành án trong các vụ án có biện pháp giao dịch bảo đảm

Pháp luật về cưỡng chế THADS là chế định điều chỉnh hoạt động thực thi pháp luật, làm cho các quy định pháp luật về cưỡng chế THADS đi vào cuộc sống của xã hội, trở thành hành vi của đương sự, các cá nhân, cơ quan và tổ chức liên quan trong THADS. Do đó, qua thực tiễn tổ chức cưỡng chế THADS có thể khái quát một số vai trò cơ bản của pháp luật về cưỡng chế THADS như sau:

  • Thứ nhất, pháp luật về cưỡng chế THADS nhằm bảo đảm thi hành nghiêm chỉnh các bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật. Luận văn: Pháp luật về cưỡng chế tài sản để thi hành án.
  • Thứ hai, pháp luật về cưỡng chế THADS góp phần nâng cao hiệu quả của công tác điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án dân sự.
  • Thứ ba, pháp luật về cưỡng chế THADS bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, Nhà nước, tổ chức và cá nhân có liên quan.
  • Thứ tư, pháp luật về cưỡng chế thi hành án dân sự góp phần nâng cao ý thức pháp luật về thi hành án dân sự của đương sự, cá nhân, tổ chức liên quan và góp phần tăng cường pháp chế Nhà nước Xã hội chủ nghĩa.

1.3. Các yếu tố tác động đến thực hiện pháp luật về cưỡng chế tài sản để thi hành án trong các vụ án có biện pháp giao dịch bảo đảm

Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động cưỡng chế tài sản để thi hành án trong các vụ án có biện pháp giao dịch bảo đảm được áp dụng dựa trên những cơ sở lý luận và thực tiễn nhất định. Các quy định về cưỡng chế tài sản để THA khi được xây dựng trên các cơ sở khoa học thì sẽ có tác dụng nâng cao hiệu quả của cưỡng chế THADS trong thực tiễn, đảm bảo được quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể. Thế nhưng, hiệu quả của cưỡng chế THADS còn phụ thuộc vào tiến trình tổ chức thực thi các quy định của pháp luật về cưỡng chế THADS và các yếu tố xã hội khác. Từ thực tiễn của công tác THADS cho thấy các yếu tố tác động đến hiệu quả thực hiện pháp luật về cưỡng chế tài sản để thi hành án trong các vụ án có biện pháp giao dịch bảo đảm thể hiện bởi các yếu tố sau:

1.3.1. Yếu tố phong tục, tập quán, ý thức pháp luật

Việt Nam là một nước nằm ở khu cực Đông Nam Á với tư tưởng tôn trọng các phong tục, tập quán, truyền thống dân tộc nên đây là vấn đề ảnh hưởng đến cưỡng chế THADS và địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế cũng không nằm ngoài sự tác động đó. Điều này cho thấy thực hiện pháp luật về cưỡng chế THADS ngoài việc tuân thủ pháp luật còn phải xem xét đến cả những yếu tố về phong tục, tập quán. Theo nguyên tắc, trong quá trình tổ chức THA nếu đương sự không tự nguyện THA thì phải áp dụng biện pháp cưỡng chế THADS, thế nhưng để bảo đảm hiệu quả cưỡng chế THADS, pháp luật cũng quy định phạm vi về không gian và thời gian không được tổ chức cưỡng chế THADS. Đó là, không tổ chức cưỡng chế thi hành án trong thời gian từ 22 giờ đến 06 giờ sáng ngày hôm sau, các ngày nghỉ, ngày lễ theo quy định của pháp luật; không tổ chức cưỡng chế thi hành án có huy động lực lượng trong thời gian 15 ngày trước và sau tết Nguyên đán; các ngày truyền thống đối với các đối tượng chính sách như ngày thương binh liệt sỹ, ngày Quốc tế phụ nữ, ngày phụ nữ Việt Nam . . .,

1.3.2. Yếu tố tâm lý

Yếu tố tâm lý được đề cập ở đây không chỉ là tâm lý xã hội nói chung mà còn là tâm lý của đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong THADS. Khi phải tổ chức cưỡng chế THADS, có nhiều vụ việc được dư luận xã hội ủng hộ, đồng tình với việc cưỡng chế do được tuyên truyền, giải thích về tính đúng đắn, hợp tình, hợp lý của bản án, quyết định và trình tự, thủ tục THADS. Việc ủng hộ của dư luận chính là một điều kiện đảm bảo cho việc cưỡng chế THADS thành công.

1.3.3. Hệ thống quy phạm pháp luật Thi hành án dân sự Luận văn: Pháp luật về cưỡng chế tài sản để thi hành án.

Hệ thống quy phạm pháp luật Thi hành án dân sự là việc tổ chức thi hành các bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật để bảo đảm trực tiếp quyền và lợi ích hợp pháp của các bên đương sự và cá nhân, tổ chức liên quan. Vì vậy, pháp luật là cơ sở quan trọng để cơ quan thi hành án dân sự và tổ chức, cá nhân liên quan tổ chức thi hành án nhưng cũng là yếu tố ảnh hưởng, chi phối mang tính quyết định đối với hiệu quả thi hành án dân sự nói chung, hiệu quả cưỡng chế thi hành án dân sự nói riêng.

1.3.4. Yếu tố về năng lực tổ chức cưỡng chế THADS của Chấp hành viên

Luật THADS (sửa đổi, bổ sung năm 2014) quy định Chấp hành viên là người có thẩm quyền tổ chức thi hành án với nhiệm vụ, quyền hạn là: Kịp thời tổ chức thi hành vụ việc được phân công; ra các quyết định về thi hành án theo thẩm quyền; Thi hành đúng nội dung bản án, quyết định; áp dụng đúng các quy định của pháp luật về trình tự, thủ tục thi hành án, bảo đảm lợi ích của nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; thực hiện nghiêm chỉnh chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp Chấp hành viên. Với chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn đó, Chấp hành viên có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc thực hiện đúng các quy định pháp luật về cưỡng chế THADS để bảo vệ pháp luật; đem đến sự công bằng; bảo đảm sự ổn định và phát triển của xã hội.

1.3.5. Các điều kiện đảm bảo cho hoạt động của Chấp hành viên Cơ quan thi hành án dân sự

Quá trình tổ chức cưỡng chế THADS là quá trình Chấp hành viên phải đối mặt với nhiều khó khăn, áp lực như: yêu cầu tuân thủ pháp luật; sự cản trở, chống đối của người phải THA; sự tác động, chi phối của các cơ quan, tổ chức liên quan…

Tiểu kết Chương 1

Cưỡng chế THADS tồn tại khách quan trong xã hội để bảo đảm thi hành bản án, quyết định của Tòa án và cơ quan, tổ chức có thẩm quyền, góp phần giữ gìn trật tự xã hội, bảo đảm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Chương 1 của Đề án đã luận giải được khái niệm, đặc điểm của cưỡng chế THADS. Theo đó, cưỡng chế THADS thể hiện quyền lực nhà nước, là một biện pháp THADS, đối tượng bị cưỡng chế THADS không chỉ là người phải THA , được áp dụng thông qua thực hiện quyết định có hiệu lực bắt buộc thi hành và những nội dung khác. Cưỡng chế THADS bảo vệ pháp luật, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của Nhà nước, tổ chức và cá nhân, góp phần nâng cao ý thức pháp luật của các chủ thể trong xã hội. Việc xây dựng các quy định pháp luật về cưỡng chế THADS phải trên cơ sở lý luận và thực tiễn nhất định bao gồm lý luận về nghĩa vụ dân sự, quyền con người, quyền sở hữu, các điều kiện đảm bảo thực hiện cưỡng chế THADS; vai trò và các yếu tố ảnh hưởng hiệu quả cưỡng chế THADS. Tại Chương này, Đề án cũng đã triển khai nghiên cứu về cưỡng chế THADS dưới góc độ lịch sử và so sánh, làm rõ sự phát triển pháp luật về cưỡng chế THADS qua đó có một góc nhìn sâu sắc hơn về cưỡng chế THADS. Những kết quả nghiên cứu tại Chương 1 Đề án sẽ là tiền đề quan trọng để đánh giá thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật về cưỡng chế THADS ở tỉnh Thừa Thiên Huế (Chương 2) và là cơ sở lý luận quan trọng để đề xuất giải pháp hoàn thiện và nâng cao hiệu quả pháp luật về cưỡng chế tài sản để thi hành án trong các vụ án có biện pháp giao dịch bảo đảm (Chương 3).

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ CƯỠNG CHẾ TÀI SẢN ĐỂ THI HÀNH ÁN TRONG CÁC VỤ ÁN CÓ BIỆN PHÁP GIAO DỊCH BẢO ĐẢM VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN TẠI TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

2.1. Thực trạng pháp luật về cưỡng chế tài sản để thi hành án trong các vụ án có biện pháp giao dịch bảo đảm

2.1.1. Quy định pháp luật hiện hành về cưỡng chế tài sản để thi hành án trong các vụ án có biện pháp giao dịch bảo đảm

2.1.1.1 Nhóm quy định pháp luật hiện hành về chủ thể có thẩm quyền cưỡng chế tài sản để thi hành án trong các vụ án có biện pháp giao dịch bảo đảm Luận văn: Pháp luật về cưỡng chế tài sản để thi hành án.

Theo quy định của Luật thi hành án dân sự hiện hành thì Chấp hành viên cơ quan THADS có thẩm quyền tiến hành cưỡng chế THADS. Để đảm bảo thẩm quyền cưỡng chế của chấp hành viên, pháp luật đã quy định về cơ cấu tổ chức của hệ thống THADS; nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan THADS và của Chấp hành viên; quy định những việc chấp hành viên không được làm; quy định về việc tuyển chọn Chấp hành viên; cơ sở pháp lý để Chấp hành viên thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình và các điều kiện đảm bảo cho Chấp hành viên “Quyết định áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án, biện pháp cưỡng chế thi hành án; lập kế hoạch cưỡng chế thi hành án; thu giữ tài sản thi hành án”. Để đảm bảo tính chuyên nghiệp của Chấp hành viên trong THADS, pháp luật còn có sự phân định thẩm quyền cưỡng chế của Chấp hành viên ở các ngạch khác nhau, gồm: Chấp hành viên sơ cấp, chấp hành viên trung cấp và chấp hành viên cao cấp; trong đó:

Chấp hành viên sơ cấp là công chức chuyên môn nghiệp vụ thi hành án dân sự, có trách nhiệm trực tiếp tổ chức thi hành án đối với những vụ việc đơn giản, lượng tiền, tài sản phải thi hành án có giá trị nhỏ thuộc thẩm quyền thi hành của Cục thi hành án dân sự, Chi cục thi hành án dân sự và Phòng thi hành án cấp quân khu.

Chấp hành viên trung cấp là công chức chuyên môn nghiệp vụ thi hành án dân sự, trực tiếp tổ chức thi hành các vụ việc thi hành án dân sự phức tạp, số tiền, tài sản phải thi hành lớn; việc thi hành án liên quan đến nhiều địa phương thuộc thẩm quyền thi hành của Cục thi hành án dân sự, Chi cục thi hành án dân sự và Phòng thi hành án cấp quân khu.

Chấp hành viên cao cấp là công chức chuyên môn nghiệp vụ thi hành án dân sự trực tiếp thi hành những vụ việc thi hành án dân sự đặc biệt phức tạp, có liên quan đến nhiều ngành, nhiều cấp, nhiều địa phương hoặc có yếu tố nước ngoài thuộc thẩm quyền của Cục thi hành án dân sự và Phòng thi hành án cấp quân khu.

2.1.1.2 Nhóm quy định pháp luật hiện hành về căn cứ và nguyên tắc cưỡng chế tài sản để thi hành án trong các vụ án có biện pháp giao dịch bảo đảm

Nghiên cứu các quy định chung về cưỡng chế THADS cho thấy chưa có điều khoản quy định về nguyên tắc cưỡng chế THADS hoặc dẫn chiếu đến các nguyên tắc chung của pháp luật về THADS về cưỡng chế THADS. Vì vậy, thiết nghĩ cần phải bổ sung các quy định theo hướng khi áp dụng biện pháp cưỡng chế THADS phải tuân theo các quy định của BLDS và Luật THADS, trường hợp có sự mâu thuẫn giữa các văn bản thì ưu tiên áp dụng quy định của BLDS. Bên cạnh đó, một số quyền được quy định trong BLDS về quyền hưởng dụng, quyền bề mặt, quyền đối với bất động sản liền kề nhưng chưa được cụ thể hóa trong các quy định về cưỡng chế THADS.

Về thời gian không được cưỡng chế THADS: Theo Luật THADS (sửa đổi, bổ sung năm 2014) quy định không cưỡng chế THADS trong thời hạn tự nguyện THA là khoảng thời gian 10 ngày kể từ ngày người phải THA nhận được quyết định THA hoặc được thông báo hợp lệ quyết định THA.

Về tài sản không được kê biên xử lý trong THADS: Qua nghiên cứu Luật THADS và đối chiếu với cơ sở lý luận cho thấy, quy định về tài sản không được kê biên về cơ bản đã đáp ứng được yêu cầu bảo đảm quyền con người, tính nhân đạo của pháp luật đối với người phải THA. Luận văn: Pháp luật về cưỡng chế tài sản để thi hành án.

2.1.1.3. Nhóm quy định pháp luật hiện hành về quyền, nghĩa vụ của các chủ thể tham gia trong quan hệ cưỡng chế tài sản để THA trong các vụ án có biện pháp giao dịch bảo đảm

Để tổ chức cưỡng chế THADS thì CHV phải tiến hành xác minh các thông tin liên quan đến việc cưỡng chế, đồng thời cung cấp thông tin cho cơ quan Công an biết để tiến hành xác minh, xây dựng kế hoạch và lập phương án bảo vệ cưỡng chế theo cơ chế phối hợp bảo vệ cưỡng chế trong THADS quy định tại Thông tư liên tịch số 03/2012/TTLT­BTP­BC ngày 30/3/2012 của Bộ Tư pháp, Bộ Công an. Tuy nhiên, hiện tại pháp luật về THADS lại chưa quy định cụ thể về xác minh điều kiện cưỡng chế THADS gồm những nội dung gì; trình tự, thủ tục xác minh điều kiện cưỡng chế THADS như thế nào. Trong khi đó, trên thực tế có hai điều kiện hết sức quan trọng cần phải xác minh trước khi áp dụng biện pháp cưỡng chế, đó là người phải THA “có điều kiện THA”“không tự nguyện THA”. Hạn chế này dẫn tới sự lúng túng, vướng mắc trong thực tiễn áp dụng, và trong thực tiễn các CHV thường vận dụng quy định chung về xác minh điều kiện THA để xác minh điều kiện cưỡng chế THADS.

2.1.1.4. Nhóm quy định pháp luật hiện hành về trình tự, thủ tục cưỡng chế tài sản để thi hành án trong các vụ án có biện pháp giao dịch bảo đảm.

Qua nghiên cứu, các quy định pháp luật về cưỡng chế THADS đã từng bước được hoàn thiện, có tính rõ ràng và khoa học; phù hợp hơn với Hiến pháp 2013 và các lĩnh vực pháp luật khác, nhất là pháp luật về dân sự, tố tụng dân sự, đất đai, trọng tài, phá sản…, khắc phục được các hạn chế thiếu sót trước đây. Bên cạnh đó, quy định của Luật THADS về cưỡng chế THADS đã được quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành trong nhiều văn bản pháp luật, tạo thành hành lang pháp lý cho việc nhận thức, tổ chức thực hiện pháp luật về cưỡng chế THADS trong thực tiễn đạt hiệu quả. Các quy định của pháp luật về cưỡng chế THADS đã đáp ứng yêu cầu về bảo đảm quyền con người, quyền cơ bản của công dân, như: Quyền yêu cầu áp dụng biện pháp cưỡng chế THADS đã lần đầu tiên được quy định thành một nội dung cụ thể, đáp ứng yêu cầu của thực tiễn THADS. Quy định về các biện pháp cưỡng chế THADS cũng được quy định khá chặt chẽ và thuận lợi, trên cơ sở của loại nghĩa vụ THA. Theo đó, các biện pháp cưỡng chế THADS được phân chia thành 03 loại và thể hiện bằng 11 biện pháp cưỡng chế THADS. Trong đó; loại nghĩa vụ trả tiền gồm có 06 biện pháp cưỡng chế: (1) Khấu trừ tiền trong tài khoản; (2) Thu hồi, xử lý tiền của người phải THA; (3) Thu hồi, xử lý giấy tờ có giá của người phải THA; (4) Trừ vào thu nhập của người phải THA; (5) Kê biên, xử lý tài sản của người phải THA;

Khai thác tài sản của người phải THA; loại nghĩa vụ giao trả vật, tiền, tài sản gồm có 03 biện pháp cưỡng chế: (1) Buộc chuyển giao vật; (2) Buộc chuyển giao quyền tài sản; (3) Buộc chuyển giao giấy tờ; loại nghĩa vụ thực hiện hoặc không được thực hiện công việc nhất định gồm có 02 biện pháp cưỡng chế: (1) Buộc người phải THA thực hiện công việc nhất định; (2) Buộc người phải THA không được thực hiện công việc nhất định. Luận văn: Pháp luật về cưỡng chế tài sản để thi hành án.

2.1.2. Đánh giá các quy định pháp luật hiện hành về cưỡng chế tài sản để thi hành án trong các vụ án có biện pháp giao dịch bảo đảm.

Theo quy định tại Điều 292 của Bộ luật Dân sự năm 2015 thì các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ bao gồm: (1) Cầm cố tài sản (2) Thế chấp tài sản (3) Đặt cọc (4) Ký cược (5) Ký quỹ (6) Bảo lưu quyền sở hữu (7) Bảo lãnh (8) Tín chấp (9) Cầm giữ tài sản. Tương ứng, để bảo đảm thực hiện, tại Điều 71 của Luật THADS quy định các biện pháp cưỡng chế tương ứng, gồm: (1) Khấu trừ tiền trong tài khoản; thu hồi, xử lý tiền, giấy tờ có giá của người phải thi hành án

Trừ vào thu nhập của người phải thi hành án (3) Kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án, kể cả tài sản đang do người thứ ba giữ (4) Khai thác tài sản của người phải thi hành án (5) Buộc chuyển giao vật, chuyển giao quyền tài sản, giấy tờ (6) Buộc người phải thi hành án thực hiện hoặc không được thực hiện công việc nhất định.

2.1.2.1. Ưu điểm

Về cơ bản pháp luật hiện hành về cưỡng chế tài sản để thi hành án trong các vụ án có biện pháp giao dịch bảo đảm về khấu trừ tiền trong tài khoản đã đáp ứng được yêu cầu về tính nhanh chóng của thủ tục và hiệu quả của cưỡng chế cũng như trách nhiệm pháp lý của các chủ thể trong cưỡng chế THADS. Theo quy định, CHV ra quyết định khấu trừ tiền trong tài khoản của người phải THA không được vượt quá nghĩa vụ THA và chi phí cưỡng chế.

2.1.2.2. Tồn tại, hạn chế

  • Thứ nhất, quy định về kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án, kể cả tài sản đang do người thứ ba giữ còn bất cập, khó áp dụng
  • Thứ hai, Không có quy định cụ thể về diện tích đất để lại cho người phải THA khi kê biên QSDĐ
  • Thứ ba, Quy định về xử lý tài sản trên đất kê biên có hiệu quả không cao
  • Thứ tư, Chưa có quy định chung mang tính khái quát về việc xử lý tài sản của người phải THA gắn liền với QSDĐ của người khác
  • Thứ năm, Quy định về giao bảo quản tài sản THA đã kê biên chưa hợp
  • Thứ sáu, Chưa có quy định cụ thể về cách thức để CHV tự xác định giá tài sản đã kê biên
  • Thứ bảy, Quy định về giao nhà còn nhiều hạn chế, bất cập
  • Thứ tám , trình tự, thủ tục về cưỡng chế chưa thống nhất, đồng bộ, như:
  • Thứ chín một số quy định pháp luật về cưỡng chế THADS mâu thuẫn, chồng chéo với các quy định khác của pháp luật, như:

2.2. Thực tiễn thực hiện pháp luật về cưỡng chế tài sản để thi hành án trong các vụ án có biện pháp giao dịch bảo đảm tại tỉnh Thừa Thiên Huế Luận văn: Pháp luật về cưỡng chế tài sản để thi hành án.

2.2.1. Tổng quan về Cục Thi hành án dân sự tỉnh Thừa Thiên Huế

Để đảm bảo điều kiện hoạt động cưỡng chế thi hành án dân sự, trong những năm qua, trên cơ sở quy định pháp luật, hệ thống thi hành án dân sự đã có những bước phát triển về tổ chức, cơ sở vật chất và các điều kiện khác đảm bảo hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về thi hành án dân sự nói chung, tổ chức hoạt động cưỡng chế thi hành án nói riêng.

2.2.2. Kết quả đạt được trong thực hiện pháp luật về cưỡng chế tài sản để thi hành án trong các vụ án có biện pháp giao dịch bảo đảm tại tỉnh Thừa Thiên Huế

Trong những năm gần đây số vụ việc THADS liên quan đến giao dịch bảo đảm ở tỉnh Thừa Thiên Huế có chiều hướng tăng mạnh đã phần nào gây áp lực lớn cho cơ quan thi hành án và Chấp hành viên. Trong các vụ án liên quan đến giao dịch bảo đảm hầu hết người phải thi hành án đã mất khả năng thanh toán các khoản tiền vay, nên không tự nguyện thi hành án, cố tình chống đối, chây ỳ bằng nhiều cách… điều này không chỉ ảnh hưởng đến công tác thi hành án mà còn tác động đến hoạt động của các ngân hàng, tổ chức tín dụng.

Trong giai đoạn từ năm 2019 cho đến năm 2024, số lượng việc thi hành án thụ lý mới liên quan đến giao dịch bảo đảm có chiều hướng gia tăng cả về số lượng vụ việc và giá trị phải thi hành án ngày càng lớn. Trong đó, số vụ việc phải áp dụng biện pháp cưỡng chế để tổ chức thi hành án trong những năm qua cũng tăng theo tỷ lệ tăng của số vụ việc thi hành án có liên quan đến giao dịch bảo đảm; cụ thể:

2.2.3. Khó khăn vướng mắc trong thực tiễn thực hiện pháp luật về cưỡng chế tài sản để thi hành án trong các vụ án có biện pháp giao dịch bảo đảm

Trên cơ sở số liệu báo cáo thống kê về kết quả THADS đối với các vụ việc liên quan đến án tín dụng, ngân hàng cho thấy số lượng vụ việc còn phải thi hành án của năm trước chuyển sang năm sau tương đối lớn; nếu như năm 2019 số việc phải thi hành chuyển kỳ sau là 144 việc, tương ứng với số tiền 538.372.581.000 đồng, số việc đang tổ chức đấu giá tài sản: 6 việc với tổng giá trị tài sản đang bán là 15.338.387.000 đồng/31.139.494.000 đồng số tiền phải thi hành án, chiếm tỷ lệ là 49,25% thì đến năm 2023 số việc còn phải thi hành chuyển kỳ sau là 358 việc, tương ứng với số tiền 888.526.416.000 đồng, số việc đang tổ chức đấu giá tài sản: 31 việc với tổng giá trị tài sản đang bán là 127.257.830.000 đồng/748.393.502.000 đồng số tiền có điều kiện thi hành án và 6 tháng năm 2024 số việc còn phải thi hành 367 việc, tương ứng với số tiền 836.553.231.000 đồng, số việc đang tổ chức đấu giá tài sản: 29 việc với tổng giá trị tài sản đang bán là 353.339.883.000 đồng/708.089.735.000 đồng số tiền có điều kiện thi hành án. Qua đó cho thấy, việc thực hiện cưỡng chế tài sản để THA trong các vụ án có giao dịch bảo đảm hiệu quả chưa cao, vẫn còn tồn tại một số lượng lớn vụ việc và giá trị phải thi hành. Sỡ dĩ như vậy là vì trong quá trình tổ chức THA, Chấp hành viên vẫn đang còn gặp nhiều khó khăn vướng mắc trong thực tiễn thực hiện pháp luật về cưỡng chế tài sản để thi hành án trong các vụ án có biện pháp giao dịch bảo đảm; cụ thể: Luận văn: Pháp luật về cưỡng chế tài sản để thi hành án.

  • Khó khăn, vướng mắc trong xác minh điều kiện THA và điều kiện cưỡng chế trước khi thực hiện cưỡng chế:
  • Khó khăn, vướng mắc trong cưỡng chế kê biên tài sản do người thứ ba giữ
  • Khó khăn vướng mắc trong cưỡng chế trả già, giao nhà:
  • Khó khăn, vướng mắc trong việc giao giấy tờ liên quan đến tài sản kê biên dẫn đến khó khăn trong việc xử lý:
  • Khó khăn, vướng mắc về xử lý nhà ở trên quyền sử dụng đất của người khác:
  • Khó khăn vướng mắc trong giao bảo quản tài sản:
  • Khó khăn, vướng mắc trong quan hệ phối hợp thực hiện việc cưỡng chế và bảo vệ cưỡng chế thi hành án:

2.2.4. Nguyên nhân của những vướng mắc

  • 2.2.4.1. Về khách quan
  • 2.2.4.2. Về chủ quan

Tiểu kết Chương 2

Như vậy, tại Mục 2.1. Thực trạng pháp luật về cưỡng chế tài sản để thi hành án trong các vụ án có biện pháp giao dịch bảo đảm, trên cơ sở so sánh đối chiếu với kết quả nghiên cứu lý luận tại Chương 1, Đề án đã luận giải, đánh giá được những ưu điểm cơ bản và hạn chế chủ yếu của pháp luật hiện hành về pháp luật về cưỡng chế tài sản để thi hành án trong các vụ án có biện pháp giao dịch bảo đảm. Các hạn chế này bao gồm những hạn chế trong các quy định chung về cưỡng chế THADS và cả những hạn chế trong từng biện pháp cưỡng chế cụ thể. Tuy nhiên, việc nghiên cứu tại Mục 2.2. Thực tiễn thực hiện pháp luật về cưỡng chế tài sản để thi hành án trong các vụ án có biện pháp giao dịch bảo đảm sẽ giúp cho có một góc nhìn toàn diện và sâu sắc hơn về vấn đề nghiên cứu.

Chương 2 của Đề án đã phân tích, luận giải được những kết quả đạt được và hạn chế, vướng mắc, tồn tại trong thực tiễn tổ chức cưỡng chế tài sản để thi hành án cũng như những nguyên nhân chủ quan và khách quan của thực trạng này như: hạn chế của pháp luật; sự phối hợp giữa các cơ quan tổ chức trong việc cưỡng chế tài sản để thi hành án còn chưa tốt, chưa hiệu quả; áp lực về công việc và biên chế; năng lực chuyên môn, trình độ nghiệp vụ chưa theo kịp và đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ được giao; nhận thức và ý thức chấp hành pháp luật của người dân còn nhiều hạn chế; tình trạng chống đối cưỡng chế tài sản để thi hành án còn xảy ra với nhiều hình thức khác nhau. Kết quả nghiên cứu thực trạng pháp luật về cưỡng chế tài sản để thi hành án và thực tiễn thực hiện đã nhận diện được những hạn chế, tồn tại và nguyên nhân sẽ là tiền đề quan trọng nhằm đề xuất những giải pháp về cưỡng chế tài sản để thi hành án trong các vụ án có biện pháp giao dịch bảo đảm. Tuy nhiên, để những kiến nghị, đề xuất có tính khả thi cho việc nâng cao hiệu quả cưỡng chế tài sản để thi hành án thì việc nghiên cứu làm rõ về “Giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về cưỡng chế tài sản để thi hành án trong các vụ án có biện pháp giao dịch bảo đảm” trên cơ sở những kết quả nghiên cứu lý luận và thực tiễn là cần thiết.

CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ CƯỠNG CHẾ TÀI SẢN ĐỂ THI HÀNH ÁN TRONG CÁC VỤ ÁN CÓ BIỆN PHÁP GIAO DỊCH BẢO ĐẢM

3.1. Giải pháp hoàn thiện pháp luật về cưỡng chế tài sản để thi hành án trong các vụ án có biện pháp giao dịch bảo đảm

Hiệu quả THADS nói chung và hiệu quả cưỡng chế tài sản để thi hành các vụ án có biện pháp giao dịch bảo đảm nói riêng phụ thuộc rất lớn vào cơ sở pháp luật. Thực tế cho thấy rằng pháp luật về thi hành án dân sự, trong đó có pháp luật về cưỡng chế thi hành án dân sự ở nước ta mặc dù đã được hoàn thiện trong thời gian qua nhưng cũng còn nhiều vướng mắc, bất cập. Vì vậy, việc hoàn thiện pháp luật về cưỡng chế thi hành án dân sự là cần thiết, theo đó cần tập trung vào những nội dung cơ bản sau:

3.1.1. Tiếp tục hoàn thiện thể chế, pháp luật về thi hành án dân sự

Việc sửa đổi Luật THADS là một đòi hỏi khách quan cả về mặt lý luận và thực tiễn nhằm thể chế hóa các nghị quyết nêu trên của Đảng, tạo cơ sở pháp lý để hoàn thiện các quy định pháp luật về THADS, trong đó có các quy định pháp luật về cưỡng chế THADS nhằm khắc phục những điểm bất hợp lý, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc tồn tại trong thực tiễn cưỡng chế THADS; trong đó cần tập trung các nội dung chính như sau: Luận văn: Pháp luật về cưỡng chế tài sản để thi hành án.

Rà soát, đánh giá tổng thể quy định của Luật THADS, các văn bản hướng dẫn thi hành và đề xuất giải pháp hoàn thiện, trong đó tập trung vào một số nội dung tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong thi hành án nhằm đơn giản hóa trình tự, thủ tục, rút ngắn thời gian tổ chức thi hành án đáp ứng được yêu cầu nâng cao hiệu quả, chất lượng tổ chức thi hành các bản án.

Hoàn thiện căn cứ cưỡng chế thi hành án dân sự, cụ thể là: sửa đổi Điều 73 Luật Thi hành án dân sự theo hướng thay đổi “căn cứ cưỡng chế thi hành án” bằng quy định “căn cứ để tổ chức cưỡng chế thi hành án”,

Quy định cụ thể về cưỡng chế kê biên, xử lý tàu bay, tàu biển để thi hành án do khoản 4 Điều 96 Luật Thi hành án dân sự quy định việc kê biên đối với tàu bay, tàu biển để thi hành án được thực hiện theo quy định của pháp luật về bắt giữ tàu bay, tàu biển, thế nhưng Pháp lệnh bắt giữ tàu bay và Pháp lệnh bắt giữ tàu biển quy định Thẩm phán Tòa án quyết định bắt giữ tàu bay, tàu biển để thi hành án mà chưa quy định cụ thể Chấp hành viên căn cứ quyết định bắt giữ tàu bay, tàu biển của Tòa án để tiến hành định giá, bán đấu giá hay phải ra quyết định cưỡng chế kê biên tàu bay, tàu biển để thi hành án.

Sửa đổi, bổ sung quy định về việc kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án xây dựng trên đất của người khác và trường hợp trên đất của người phải thi hành án có tài sản của người khác theo hướng tạo điều kiện cho người có đất gắn với tài sản của người phải thi hành án hoặc người có tài sản gắn với đất của người phải thi hành án được quyền ưu tiên thỏa thuận mua lại đất hoặc tài sản của người phải thi hành án theo giá khởi điểm nếu không ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của người thứ ba.

Quy định cụ thể về kê biên, xử lý tài sản là quyền sử dụng đất nông nghiệp, đất giao cho hộ gia đình trực tiếp sản xuất nông nghiệp, làm muối, nuôi trồng thuỷ sản, trồng lúa nước và để lại cho người phải thi hành án là người trực tiếp lao động, chỉ có nguồn thu nhập từ sản xuất nông nghiệp, làm muối, nuôi trồng thuỷ sản, trồng lúa nước diện tích đất nhất định sản xuất để có lương thực sinh sống trong thời gian 06 tháng đến một năm.

Bổ sung quy định người trúng đấu giá tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất thuê của Nhà nước được tiếp tục thuê đất trong thời hạn thuê đất còn lại mà người phải thi hành án đã ký hợp đồng thuê đất trước khi kê biên, xử lý tài sản gắn liền với đất thuê để đảm bảo hiệu quả của biện pháp kê biên, xử lý tài sản.

Bổ sung quy định về cưỡng chế thi hành án dân sự đối với một số loại tài sản phù hợp với Bộ luật dân sự năm 2015, nhất là những tài sản đặc biệt chưa được quy định trong pháp luật về thi hành án dân sự như: quyền tài sản, tài sản hình thành trong tương lai.

Bổ sung quy định về trình tự, thủ tục kê biên, bán đấu giá tài sản của cơ quan nhà nước, doanh nghiệp nhà nước để thi hành án dân sự. Cụ thể hoá thủ tục cưỡng chế thi hành án dân sự đặc thù cho từng loại hình doanh nghiệp, cơ quan nhà nước phải thi hành án. Luận văn: Pháp luật về cưỡng chế tài sản để thi hành án.

Bổ sung quy định về trình tự, thủ tục xác minh điều kiện cưỡng chế thi hành án.

Sửa đổi, bổ sung quy định về tài sản không được kê biên tại Điều 87 Luật THADS, theo đó quy định “tài sản không được kê biên, xử lý để THA” thay cho quy định “tài sản không được kê biên” để đảm bảo thống nhất cách hiểu kê biên tài sản là để xử lý đảm bảo THA chứ không phải “tài sản không được kê biên” nhưng lại “được xử lý” để THA và ngược lại “tài sản được kê biên” nhưng “không được xử lý” để THA.

Quy định cụ thể về định giá, bán đấu giá cổ phiếu để khắc phục tình trạng lúng túng trong việc xử lý loại tài sản này trong THADS, nhất là cổ phiếu chưa lên sàn.

Quy định cưỡng chế giao nhà là một biện pháp cưỡng chế độc lập trong hệ thống các biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự bởi lẽ hiện nay quy định về cưỡng chế giao nhà chưa tách riêng nên kỹ thuật lập pháp chưa khoa học, khó hiểu để áp dụng trong thực tế.

3.1.2. Quy định cơ chế ưu tiên mua nhà ở xã hội

Pháp luật về THADS hiện hành quy định trong trường hợp cưỡng chế giao nhà là nhà ở duy nhất của người phải THA cho người mua được tài sản bán đấu giá, người nhận nhà để THA , nếu xét thấy sau khi thanh toán các khoản phải THA mà người phải THA không còn đủ tiền để thuê nhà hoặc tạo lập nơi ở mới thì trước hi làm thủ tục chi trả cho người được THA, CHV trích lại từ số tiền bán tài sản một khoản tiền để người phải THA thuê nhà phù hợp với giá thuê nhà trung bình tại địa phương trong thời hạn 01 năm.

3.1.3. Quy định cụ thể trách nhiệm của các cơ quan hữu quan trong phối hợp cưỡng chế, bảo vệ cưỡng chế thi hành án

Cưỡng chế THADS bảo đảm các bản án, quyết định được thi hành nên cần quy định trách nhiệm của các cơ quan tiến hành tố tụng như Điều tra, Kiểm sát, Trọng tài, Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh phải áp dụng biện pháp ngăn chặn, biện pháp khẩn cấp tạm thời để đảm bảo việc THA với những căn cứ, điều kiện theo từng trường hợp cụ thể, như trường hợp nào kê biên, phong tỏa tài sản và xử lý tài sản trong quá trình THADS.

Quy định hợp lý hơn về nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa phương trong cưỡng chế THADS, theo đó tăng cường trách nhiệm của HĐND trong giám sát cưỡng chế THADS vì hiện nay chưa có quy định cụ thể nào về nhiệm vụ, quyền hạn của HĐND trong cưỡng chế THADS. Luận văn: Pháp luật về cưỡng chế tài sản để thi hành án.

Quy định rõ hơn trách nhiệm, nghĩa vụ và quyền lợi của các cơ quan, tổ chức khác, cá nhân hữu quan trong cưỡng chế THADS để việc tham gia của các chủ thể này vào quá trình cưỡng chế THADS rõ ràng, thuận lợi hơn.

Tăng cường quyền hạn cho CHV trong THADS tạo điều kiện thuận lợi trong xác minh điều kiện cưỡng chế THADS, nhất là xác minh tài sản của người phải THA để áp dụng đúng biện pháp cưỡng chế THADS, như trao cho CHV quyền được khám người, khám chỗ ở, khám địa điểm để phát hiện, thu giữ tài sản THADS, tạm giữ người trong trường hợp cần thiết.

3.1.4. Quy định chế tài đối với hành vi vi phạm trong THADS

Quy định chế tài đối với hành vi vi phạm trong cưỡng chế THADS THA theo hướng cụ thể và xử lý nghiêm khắc đối với chủ thể tiến hành cưỡng chế THADS là CHV nếu cố ý, cố tình áp dụng sai biện pháp cưỡng chế THADS; không áp dụng kịp thời các biện pháp cưỡng chế hoặc có hành vi tham nhũng, tiêu cực trong quá trình cưỡng chế THADS; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo pháp luật dân sự.

3.2. Giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về cưỡng chế tài sản để thi hành án trong các vụ án có biện pháp giao dịch bảo đảm

3.2.1. Giải pháp chung

3.2.1.1. Đối với chủ thể có tài sản thế chấp

3.2.1.2. Đối với các ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng

3.2.1.3. Đối với cấp ủy đảng, chính quyền địa phương; sự giám sát của các tổ chức chính trị đoàn thể đối với hoạt động cưỡng chế tài sản để thi hành án

3.2.1.4. Về trách nhiệm và sự phối hợp giữa các cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động THADS đối với các bản án tín dụng ngân hàng

3.2.2. Giải pháp cho ngành

3.2.2.1. Tăng cường công tác hướng dẫn, chỉ đạo nghiệp vụ, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, đẩy nhanh tiến độ thi hành án tín dụng, ngân hàng

3.2.2.2. Nâng cao hiệu quả công tác quản lý, chỉ đạo, điều hành, kiểm tra, kiểm soát trong tổ chức thi hành án tín dụng, ngân hàng Luận văn: Pháp luật về cưỡng chế tài sản để thi hành án.

3.2.2.3. Kiện toàn tổ chức; nâng cao năng lực chuyên môn, đạo đức công vụ của đội ngũ Chấp hành viên, công chức làm công tác

3.2.2.4. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động cưỡng chế tài sản để thi hành án trong các vụ án có biện pháp giao dịch bảo đảm

3.2.2.5. Về đầu tư cơ sở vật chất, kinh phí cho hoạt động THADS nói chung, cưỡng chế tài sản để thi hành án trong các vụ án có biện pháp giao dịch bảo đảm nói riêng

3.2.2.6. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phát huy vai trò của cơ quan báo chí, truyền thông nhằm nâng cao nhận thức của cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp và người dân trong việc tuân thủ pháp luật về THADS nói chung, pháp luật cưỡng chế tài sản để thi hành án trong các vụ án có biện pháp giao dịch bảo đảm nói riêng

Tiểu kết Chương 3

Chương 3 Đề án tập trung luận giải về yêu cầu và giải pháp nâng cao hiệu quả cưỡng chế tài sản để thi hành án trong các vụ án có biện pháp giao dịch bảo đảm. Các yêu cầu về hoàn thiện và thực hiện pháp luật về cưỡng chế THADS xuất phát từ đường lối của Đảng về cải cách tư pháp, cải cách hành chính nhằm đáp ứng yêu cầu về xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam XHCN của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân; bảo đảm quyền con người, quyền cơ bản của công dân; huy động sự tham gia tích cực của các cơ quan, tổ chức, cá nhân vào hoạt động cưỡng chế THADS. Các giải pháp nâng cao hiệu quả cưỡng chế THADS đồng bộ, có tính khả thi xuất phát từ cơ sở lý luận về cưỡng chế THADS, phù hợp với đòi hỏi khách quan từ thực trạng pháp luật, thực tiễn thực hiện pháp luật về cưỡng chế THADS đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế. Chương 3 Đề án đề xuất được các giải pháp chủ yếu về lập pháp và tổ chức thực hiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả cưỡng chế THADS. Các giải pháp lập pháp tập trung vào hoàn thiện pháp luật về cưỡng chế THADS với nhiệm vụ trước mắt là sửa đổi, hoàn thiện Luật THADS hiện hành nhằm khắc phục những hạn chế trong các quy định chung cũng như quy định cụ thể đối với từng biện pháp cưỡng chế THADS. Ngoài ra, cần quy định cụ thể về trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan trong cưỡng chế THADS; các điều kiện hỗ trợ cưỡng chế THADS đồng thời hoàn thiện các lĩnh vực pháp luật khác có liên quan nhằm tạo điều kiện cho cưỡng chế THADS hiệu quả. Bên cạnh giải pháp về lập pháp, Chương 3 Đề án cũng đề xuất được những giải pháp về tổ chức thực hiện pháp luật về cưỡng chế THADS. Theo đó, phải chú trọng bảo đảm thực hiện đúng pháp luật về cưỡng chế THADS, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong cưỡng chế THADS; bảo đảm các điều kiện cần thiết để cưỡng chế THADS gắn với việc kiện toàn tổ chức bộ máy THADS; xây dựng đội ngũ CHV đủ về số lượng, đáp ứng yêu cầu về chất lượng. Bên cạnh đó, cần phải phát huy tốt hơn quan hệ phối hợp giữa các cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan trong cưỡng chế THADS; tăng cường kiểm sát, giám sát, tổng kết rút kinh nghiệm đối với hoạt động cưỡng chế THADS; bảo đảm kinh phí, cơ sở vật chất, phương tiện tiến hành cưỡng chế THADS. Việc tuyên truyền sâu rộng, tích cực giáo dục pháp luật về THADS để nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của các cơ quan, tổ chức và cá nhân trong cưỡng chế THADS; xử lý nghiêm hành vi vi phạm trong cưỡng chế THADS cũng là những giải pháp hỗ trợ cho việc nâng cao hiệu quả cưỡng chế THADS.

KẾT LUẬN Luận văn: Pháp luật về cưỡng chế tài sản để thi hành án.

Từ việc nghiên cứu một cách có hệ thống lý luận về cưỡng chế THADS, Đề án đã làm sáng tỏ những vấn đề lý luận cơ bản về cưỡng chế THADS như khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của cưỡng chế THADS; các yếu tố ảnh hưởng hiệu quả cưỡng chế THADS. Chương 2 của Đề án cũng đã phân tích, chứng minh làm rõ nội dung nghiên cứu trên cơ sở đối chiếu với kết quả nghiên cứu lý luận tại Chương 1 của Đề án, từ đó làm rõ được thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật về cưỡng chế tài sản để thi hành án trong các vụ án có biện pháp giao dịch bảo đảm tại tỉnh Thừa Thiên Huế. Việc nghiên cứu, phân tích được tiến hành từ các quy định chung về cưỡng chế THADS đến các quy định cụ thể về từng loại biện pháp cưỡng chế THADS nhằm phát hiện những ưu điểm và những hạn chế, khiếm khuyết của pháp luật dẫn tới khó khăn, vướng mắc, làm giảm hiệu quả của cưỡng chế THADS trong thực tiễn. Chương 2 của Đề án được tiến hành trên cơ sở nghiên cứu, khảo sát và tổng hợp các kết quả cưỡng chế THADS từ năm 2018 đến 2024 cũng như phân tích những vụ việc cưỡng chế THADS điển hình tại địa phương đã làm sáng rõ hơn thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật về cưỡng chế tài sản để thi hành án trong các vụ án có biện pháp giao dịch bảo đảm. Trên cơ sở tổng hợp kết quả nghiên cứu, Đề án đã làm rõ những nguyên nhân chủ quan và khách quan làm hạn chế hiệu quả của hoạt động cưỡng chế THADS. Trên cơ sở tổng hợp kết quả nghiên cứu, Chương 3 của Đề án đã luận giải được các yêu cầu cơ bản cũng như các giải pháp chủ yếu của việc nâng cao hiệu quả cưỡng chế tài sản để thi hành án trong các vụ án có biện pháp giao dịch bảo đảm tại tỉnh Thừa Thiên Huế. Các giải pháp nâng cao hiệu quả cưỡng chế tài sản để thi hành án trong các vụ án có biện pháp giao dịch bảo đảm được đề xuất bao gồm các giải pháp chung và giải pháp cho ngành, trong đó chú trọng nội dung hoàn thiện pháp luật, cơ chế phối hợp, cơ chế bảo đảm hiệu lực tổ chức thực hiện và các điều kiện cần thiết phục vụ cưỡng chế tài sản để thi hành án trong các vụ án có biện pháp giao dịch bảo đảm. Các giải pháp được đề xuất có tính đến lộ trình lâu dài cũng như các kiến nghị cụ thể nhằm tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc từ thực tiễn cưỡng chế tài sản để thi hành án trong các vụ án có biện pháp giao dịch bảo đảm. Luận văn: Pháp luật về cưỡng chế tài sản để thi hành án.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:  

===>>> Luận văn: Pháp luật về kinh doanh bất động sản của nước ngoài

One thought on “Luận văn: Pháp luật về cưỡng chế tài sản để thi hành án

  1. Pingback: Luận văn: Pháp luật về quy hoạch sử dụng đất trong quản lý đô thị

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464