Tiểu Luận: Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên

Chia sẻ đề tài Tiểu Luận: Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên cho các bạn đang chuẩn bị làm bài tiểu luận cùng nhau tham khảo nhé. Tiểu luận môn học là một trong những yêu cầu bắt buộc của các trường đại học, và Cao Học. Đối với sinh viên hay học viên tất cả các khóa học đều bắt buộc phải làm một bài tiểu luận, với đề tài bắt buộc hoặc là một đề tài cụ thể nào đó ví dư như đề tài: Tiểu Luận: Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên các bạn cùng tham khảo đề tài tiểu luận dưới đây nhé.

GIỚI THIỆU:

Việt Nam là nước có nhiều danh lam thắng cảnh đẹp và đã được thế giới công nhận là di sản văn hóa thế giới : phố cổ Hội An, quần thể kiến trúc thánh địa Mỹ Sơn,… trong đó không thể không kể đến di sản văn hóa phi vật thể nổi tiếng không chỉ trong nước và trên thế giới là “Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên”

I. Khái quát về không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên

1. Khái niệm

Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên là gì?

Là khu vực đang diễn ra hình thức sinh hoạt văn hóa cồng chiêng độc đáo này mà chủ thể chính ở đây là các dân tộc thiểu số, tiêu biểu như: Bana, Xêđăng, Mnông, Cơho, Rơmăm, Êđê, Giarai… Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên là không gian trải rộng suốt 5 tỉnh Kon Tum, Gia Lai, Đăk Lăk, Đăk Nông và Lâm Đồng.

2. Nguồn gốc “Tiểu luận: Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên”

Rất nhiều ý kiến cho rằng nguồn gốc của cái cồng, cái chiêng có phải là ở bản địa hay là xất phát từ nơi khác đến. Theo Gáo sư – nhạc sĩ Tô Vũ – một trong những chuyên gia ở Việt Nam có thâm niên cao nhất về lĩnh vực này – đã cho rằng, căn cứ vào nhiều yếu tố, có thể khẳng định rằng chiêng Tây Nguyên là cái nôi của cồng chiêng Đông Nam Á. Ông đã nghiên cứu cồng chiêng từ năm 1978, nhạc sĩ Tô vũ đã phát hiện ra nhiều điều thú vị. Về cội nguồn, cồng chiêng là “hậu duệ” của đàn đá – trước khi có văn hóa đồng, người xưa đã tìm đến loại khí cụ đá theo “quy trình tiến hóa” cồng đá, chiêng đá, chiêng…, rồi mới tới cồng đồng, chiêng đồng…

Về vết tích hiện vật, những nét chạm khắc biểu hiện người đánh cồng chiêng (dáng đánh rất giống người Tây Nguyên) có trên trống đồng Đông Sơn vốn có lịch sử hơn 4.000 năm. Về lối đánh, “rất nguyên thủy”, người Tây Nguyên vẫn “mỗi người một cái”, chưa kết thành dàn do một nghệ sĩ biểu diễn như các dân tộc Thái-lan, Malaysia, Lào, Campuchia (theo nguyên lý phát triển từ đơn giản đến phức tạp; càng đơn giản càng gần ý nghĩa là “vật tổ”); hình dáng cồng chiêng cũng thế, chưa phát triển theo dạng trống (tức chiêng có đế, vuông hoặc tròn).

Về mục đích, cồng chiêng Tây Nguyên vẫn mang ý nghĩa từ thuở sơ khai của nó: Dùng để mừng lúa mới, xuống đồng; biểu hiện của tín ngưỡng – là phương tiện giao tiếp với siêu nhiên… qua các lễ thổi tai, bỏ mả v.v…, nghĩa là vẫn thuần chức năng phục vụ đời sống con người. Trong khi ở các vùng Đông -Nam Á khác, cồng chiêng đã “tiến hóa” đến mức thành phương tiện biểu diễn cung đình, mang chức năng giải trí.

Xét về lịch sử tiến hóa, mỗi sự biến chuyển tính năng nhạc khí (ở thời bấy giờ) diễn ra trong hàng mấy trăm năm. Và có thể khẳng định, căn cứ trên vết tích trống đồng (mà những gì quý giá mới được khắc lên đó), cồng chiêng Tây Nguyên đã có ít nhất 2.000 năm. “Tiểu luận: Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên”

Đồng thời, dựa vào tài liệu khảo cổ về nguồn gốc tộc người và ngữ hệ ở Việt Nam, vốn từ họ Nam Á và Nam Đảo (thậm chí gần đây còn có luận điểm gây bất ngờ rằng trống đồng Việt có nguồn gốc từ Trường Sơn), có thể khẳng định rằng cộng đồng Việt, Tày, các tộc người Tây Nguyên đã từng ở với nhau rất lâu đời, vì vậy sự “giao thoa” văn hóa cồng chiêng là hiển nhiên.

Suốt lịch sử văn hóa của mình, người Tây Nguyên không chế tác mà mua cồng chiêng từ người Kinh vùng Quảng Nam, rồi về “nắn” lại thanh âm theo cách của mình – đó là những hoạt động “giao thương” theo lối hàng đổi hàng có từ hàng nghìn năm nay. Ngay cả “chiêng Lào” mà người Tây Nguyên sở hữu cũng không phải được chế tác từ Lào mà chỉ là hàng hóa trao đổi, mua bán từ nơi khác về Tây Nguyên. Từ đó dẫn đến quan điểm nhất quán rằng cồng chiêng Tây Nguyên là cồng chiêng việt.

Và còn một số giả thuyết khác lại cho rằng cồng chiêng không xuất phát từ Tây Nguyên:

“Cái nôi của cồng chiêng rất có thể là Trường Sơn – Tây nguyên” là giả định của GS Jose Maceda (Philippines) cách đây hơn 20 năm. Đông Sơn đã trở thành tên gọi cho cả nền văn hóa thời kỳ đồ đồng cách đây khoảng 3.500 năm trong khu vực Đông Nam Á. Hiện người Mường ở Thanh Hóa, Hòa Bình vẫn còn những dàn cồng chiêng đến 12 chiếc.

Và một giả thiết đã được GS Tô Vũ xác nhận: cồng chiêng rất có thể có nguồn gốc Việt – Mường, nhưng về sau trong quá trình dài Hán hóa đã bị mai một đi; chỉ còn lại nhánh “trốn lên núi” (Mường) là lưu giữ được… Một thực tế củng cố thêm giả thiết này là đồng bào dân tộc Tây nguyên vẫn chưa tự chế tác được nhạc cụ cồng chiêng mà phải mua của người Kinh, người Lào, Campuchia

Đó chỉ là một số giả thuyết của một số nhà khoa học nói về nguồn gốc của cồng chiêng Tây Nguyên. Và các giả thuyết điều cho rằng cồng chiêng Tây Nguyên có nguồn gốc xuất phát từ Việt Nam.

3. Qúa trình hình thành và phát triển “Tiểu luận: Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên”

Cồng chiêng là một nhạc cụ rất phổ biến trong nền âm nhạc của các tộc người Việt Nam. Nhưng với người Tây Nguyên, cồng chiêng là đại diện, là nguồn sống, là tín ngưỡng tâm linh. Những âm thanh khi ngân nga sâu lắng, khi thôi thúc, hòa quyện với tiếng suối, tiếng gió và với tiếng lòng sẽ sống mãi cùng với đất trời và con người Tây Nguyên. Để có được những thành tựu như ngày hôm nay, cồng chiêng Tây Nguyên phải trãi qua một quá trình phát triển lâu dài.

a) Sự phát triển về chất liệu:

Sự thay đổi về chất liệu làm nên cồng chiêng theo phán đoán của các nhà nghiên cứu từ vật liệu đá cho đến chất liệu đồng nằm trong thời kì của sự cải tiến công cụ lao động, và sự tiến bộ vượt bậc trong tư duy của loài người. Như vậy, đồng thời khi đó tư duy của con người trong việc sử dụng chúng với những ý nghĩa khác nhau cũng có những sự tiến bộ. Ví như khi được làm bằng đồng chúng sẽ phát ra âm thanh to hơn, vang xa hơn dễ dàng hơn trong các cuộc đi săn trong rừng, từ đó mang lại cho họ những chiến lợi phẩm ngày thêm dồi dào.

Về màu sắc của cồng chiêng và sự khác nhau về âm thanh của chúng: càng về sau, người dân tộc thiểu số càng chú ý hơn về yếu tố thẩm mĩ của cồng chiêng, đó là yếu tố màu sắc. Người ta có thể tạo ra nhiều cồng chiêng với nhiều màu sắc khác nhau. Nếu đúc bằng đồng nguyên chất, khi mới ra lò chúng có màu của đồng như máu đỏ, màu vàng hoặc đen. Tuy nhiên, trong quá trình đúc, người ta có thể pha chế với một số hợp kim khác để tạo nên những màu sắc khác nhau. Thường thì người ta có tình chuyển đổi nó thành màu đen hoặc xám để sử dụng, bởi trên thực tế giá trị của đồng đen là cao nhất trong các loại đồng, làm như thế để thể hiện sự giàu có. Trong quá trình đúc, với các bí quyết pha chế hợp kim phụ trợ, người ta có thể tạo ra những chiếc cồng chiêng với những âm thanh to nhỏ, vang rền theo ý muốn. Chính điều đó đã tạo nên những nét độc đáo riêng trong các dàn cồng chiêng thuộc các dân tộc, buôn làng với nhau. “Tiểu luận: Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên”

b)Sự phát triển về văn hóa- xã hội:

Việc sử dụng cồng chiêng thể hiện tính cộng đồng của người dân tộc thiểu số. Từ việc dùng nó làm phương tiện để săn thú, cho đến việc dùng nó làm tiếng nói để kết nối với thế giới thần linh, hay một số tập tục khác đã cho thấy sự thay đổi hàng ngày trong nhận thức về giá trị của cồng chiêng trong cộng đồng người Tây Nguyên. Nó là phương tiện kết nối họ trong công cuộc sinh tồn đồng thời cũng là sự tôn kính của họ với các đấng thần linh hay là ý niệm tôn trọng thiên nhiên của họ.

Các buổi sinh hoạt cồng chiêng mang tính liên kết rất to lớn, ngoài việc liên kết cộng đồng thì những mối tơ duyên đôi lứa cũng được se kết từ đây.

Không chỉ dừng ở đó, trong các đám cúng gia đình hay của làng bản, trước khi cúng tế, người ta thường phải xin dùng cồng chiêng trong buổi lễ, qua đó cho thấy sự nhớ ơn và ý thức tôn trọng ông bà tổ tiên, thế hệ đi trước.

Đặc biệt, cồng chiêng không chỉ song hành cùng con người Tây Nguyên từ khi sinh ra cho đến khi mất đi. Với người Giarai, khi đứa trẻ mới sinh ra trong buổi “lễ thổi tai” chúng sẽ được nghe tiếng chuông đầu tiên để biểu trưng rằng nó đã thuộc vào bộ tộc của họ. Rồi trong cuộc sống của họ, tiếng cồng chiêng đi theo trong các lễ hội cầu mùa, mừng lúa mới, rồi trong đám cưới của họ, thậm chí trong các lễ đưa ma hay bỏ mã…tiếng cồng chiêng. “Tiểu luận: Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên”

Trong nền âm nhạc Việt Nam, nghệ thuật đánh cồng chiêng đã góp phần tạo nên sự phong phú về hình thức chơi nhạc cụ cũng như phong phú thêm về các loại nhạc cụ. Sự biến đổi và khác biệt trong cách đánh cồng chiêng của người dân Tây Nguyên tạo nên sự phong phú ngày càng hấp dẫn cho loại hình nghệ thuật này, đồng thời cũng cho thấy sự tinh tế, tâm hồn lãng mạn của họ ngày càng đi đến những tầm cao hơn của nghệ thuật. Rõ ràng khi có đam mê, có nhiệt huyết và có cả tâm hồn đẹp đẽ họ mới có thể làm được những thành công đó. Những sự phát triển đó thể hiện sự thay đổi phong cách và kỹ thuật chơi nhạc cụ ngày càng có trình độ cao hơn: Cồng chiêng Êđê nhịp điệu phức hợp, tốc độ nhanh, cường độ lớn; cồng chiêng Mnông cường độ không lớn mặc dù tốc độ khá nhanh; cồng chiêng Bana – Giarai thiên về tính chất chủ điệu (một bè trầm của cồng có núm vang lên âm sắc vững chãi, hùng tráng, một bè giai điệu thánh thót của chiêng không có núm với âm sắc đanh gọn, lảnh lót). Có khi họ dùng tay để đánh, có khi dùng dùi gỗ có bịt vải ở đầu…điều đó tạo nên sự phong phú cho viêc tạo ra các hiệu ứng âm thanh khác nhau. Khi biểu diễn vòng tròn, các nghệ nhân đánh và di chuyển dàn cồng chiêng từ phải qua trái với ý nghĩa ngược chiều với thời gian, hướng về nguồn cội.

Bên cạnh âm nhạc thì nét đẹp văn hóa này còn được thể hiện rõ ràng và phong phú trong các tác phẩm sử thi, truyền thuyết, thơ ca… của người Tây Nguyên. Cụ thể trong “ Sử thi Đam San” có đoạn viết: “Hãy đánh những cái chiêng kêu thanh nhất, những chiêng kêu trầm nhất. Đánh nhè nhẹ cho gió đưa xuống đất. Đánh cho tiếng chiêng vang xa khắp xứ! Đánh cho tiếng chiêng luồn qua sàn lan đi xa. Đánh cho tiếng chiêng vượt qua mái nhà vọng lên trời. Đánh cho khỉ trên cây cũng quên bám chặt vào cành đến phải ngã xuống đất! Đánh cho ma quỷ mê mải nghe đến quên làm hại con người. Đánh cho chuột sóc quên đào hang, cho rắn nằm ngay đơ, cho thỏ phải giật mình, cho hươu nai đứng nghe quên ăn cỏ, cho tất cả chỉ còn lắng nghe tiếng chiêng của Đam San”. “Tiểu luận: Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên”

Cũng không thua kém, việc sử dụng cồng chiêng âm vang, hùng hồn, tấp nập trong các trận đánh quân thù thể hiện tinh thần tự chủ của người dân tộc, tinh thần yêu nước cao cả, yêu chuộng hòa bình của họ. Hoặc sâu sắc hơn, những âm vang đó trong những tình huống, không gian phù hợp còn gợi cho người ta hồi tưởng về cội nguồn, về những cuộc săn đuổi muôn thú để duy trì sự sống, đồng thời cũng là thể hiện sức mạnh vô biên của họ khi đối chọi với thiên nhiên khắc nghiệt.

4. Qúa trình đề nghị và được công nhận “không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên”.

Việc chuẩn bị hồ sơ trình UNESCO là công việc rất vất vả, khó khăn. Vì địa bàn của không gian văn hóa cồng chiêng lại trải rộng trên năm tỉnh, với 11 dân tộc. Mà thời gian để chuẩn bị hồ sơ lại không nhiều, chỉ vỏn vẹn có sáu tháng. Vấn đề quan trọng là phải xây dựng bộ hồ sơ theo đúng mẫu của UNESCO, gồm các tiêu chuẩn về hình ảnh, băng đĩa, cơ sở để bảo tồn và phát huy giá trị di sản, tài liệu tham khảo như sơ đồ, các công trình nghiên cứu, giới thiệu về di sản…, tất cả đều phải được dịch và giới thiệu bằng tiếng Anh. Ðể xây dựng hoàn chỉnh hồ sơ về cồng chiêng, ngoài các tư liệu lưu trữ sẵn có, cán bộ của Viện đã phải chia thành nhiều bộ phận, phụ trách những phần việc khác nhau như đi điền dã, biên tập, dịch thuật, lồng tiếng… Với danh nghĩa là nghệ thuật biểu diễn của từng dân tộc thì cồng chiêng cũng đã có mặt trong một số ngày hội của quốc gia, đã từng đi trình diễn ở nước ngoài…

Từ xuất phát điểm về giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể của vùng văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên, ngày 19-3-2004, Bộ VH-TT gửi công văn 814/VHTT-DSVH trình Thủ tướng Chính phủ về việc đề cử di sản văn hóa phi vật thể để UNESCO công nhận là Kiệt tác truyền khẩu và phi vật thể của nhân loại đợt III năm 2005. Ngày 24-3-2004, Thủ tướng Chính phủ đã đồng ý với đề nghị của Bộ VH-TT trong công văn 2557/VPCP-VX.

Để hoàn thiện bộ hồ sơ trình UNESCO, Viện VH-TT, Cục Di sản văn hóa và các sở VH-TT thuộc 5 tỉnh Tây Nguyên đã khẩn trương thực hiện những công việc do Bộ VH-TT chỉ đạo. Cụ thể là ngày 12 và 13-10-2004, cuộc tọa đàm khoa học Giá trị văn hóa của các nhạc cụ gõ bằng đồng của Việt Nam và các nước trong khu vực Đông Nam Á được tổ chức tại Hà Nội, với sự tham dự của các nhà khoa học thuộc nhiều cơ quan của Bộ VH-TT, Viện Khoa học xã hội Việt Nam, Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam và 3 nhà khoa học đến từ Nhật Bản, Philippin và Campuchia. Chính sự kiện này đã mạng lại những kết quả nhất định cho việc trình đề nghị đến UNESSCO. “Tiểu luận: Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên”

Cuối cùng UNESCO đã công nhận không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên là Kiệt tác truyền khẩu và di sản phi vật thể của nhân loại đợt 3 công bố ngày 25-11-2005. Và đó là một niềm vinh dự to lớn không chỉ của người dân vùng đất Tây Nguyên hùng vĩ mà còn là cả một niềm kiêu hãnh của toàn dân tộc Việt Nam.

Danh tiếng văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên đã vượt ra khỏi biên giới quốc gia, trở thành tài sản của nhân loại. Những giá trị đặc sắc của không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên, một bộ phận của di sản và tinh hoa văn hóa Việt Nam được cộng đồng quốc tế biết đến và được tôn vinh .

Giá trị nổi bật của Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên là nơi đây chứa đựng những giá trị sáng tạo mang tầm kiệt tác của nhân loại. Chủ nhân của Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên là đồng bào các dân tộc thiểu số Tây Nguyên. Cư dân Tây Nguyên không tự đúc được cồng chiêng, nhưng với đôi tai và tâm hồn âm nhạc nhạy cảm họ đã nâng giá trị của một sản phẩm hàng hóa thành một nhạc cụ trình diễn tuyệt vời. Trong tay các nghệ sĩ dân gian tài hoa ở cộng đồng, mỗi chiếc chiêng giữ nhiệm vụ một nốt nhạc trong một dàn nhạc, để biểu diễn các bản nhạc chiêng khác nhau. Ðồng thời, tùy theo từng dân tộc, họ đã sắp xếp, định biên thành các dàn nhạc khác nhau.

Cồng chiêng Tây Nguyên có nguồn gốc từ truyền thống văn hóa và lịch sử rất lâu đời. Từ xa xưa, cộng đồng cư dân Tây Nguyên đã biết thổi hồn và tiếp thêm sức sống cho cồng chiêng Tây Nguyên để những âm thanh khi ngân nga sâu lắng, khi thôi thúc trầm hùng, hòa quyện với tiếng suối, tiếng gió và với tiếng lòng người Tây Nguyên, sống mãi cùng với đất trời và con người Tây Nguyên.

Cồng chiêng Tây Nguyên giữ vai trò là phương tiện để khẳng định cộng đồng và bản sắc văn hóa chung các dân tộc Tây Nguyên cũng như của từng tộc người trên mảnh đất muôn màu, muôn sắc Tây Nguyên. Mỗi dân tộc Tây Nguyên có một cách chơi chiêng khác nhau. Người dân bình thường ở Tây Nguyên tuy không phải là những chuyên gia âm nhạc, nhưng chỉ cần nghe tiếng chiêng là họ phân biệt được đó là dân tộc nào. “Tiểu luận: Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên”

Âm nhạc của cồng chiêng Tây Nguyên thể hiện trình độ điêu luyện của người chơi trong việc áp dụng những kỹ năng đánh chiêng và kỹ năng chế tác. Từ việc chỉnh chiêng đến biên chế thành dàn nhạc, cách chơi, cách trình diễn, những người dân trong các p’lei, p’lơi, buôn, bon, v.v. dẫu không qua trường lớp đào tạo vẫn thể hiện được những cách chơi điêu luyện tuyệt vời.

Cồng chiêng Tây Nguyên là bằng chứng độc đáo, là nét đặc trưng của truyền thống văn hóa các dân tộc Tây Nguyên. Nó là một loại hình sinh hoạt gắn liền với đời sống văn hóa, tinh thần và tín ngưỡng của con người từ lúc được sinh ra cho đến khi trở về với đất trời, với vũ trụ.

Trong lễ công bố Văn hóa Cồng chiêng Tây Nguyên là kiệt tác văn hóa phi vật thể của nhân loại, ông Koichiro Matsuura – Tổng Giám đốc UNESCO đã phát biểu: “Tôi đã được thưởng thức loại hình âm nhạc cồng chiêng rất

riêng của Việt Nam và cũng được thấy những nhạc cụ rất độc đáo trong dàn nhạc cồng chiêng của các dân tộc Tây Nguyên. Đây là nét văn hóa truyền thống rất riêng của Việt Nam, rất tuyệt vời và đặc sắc. Việc công nhân Danh hiệu Kiệt tác di sản văn hóa phi vật thể và truyền khẩu của nhân loại đối với Văn hóa Cồng chiêng Tây Nguyên là rất xứng đáng”.

Theo tiến sĩ Đặng Văn Bài _ cục trưởng cục di sản văn hóa “Một vinh dự lớn cần được bảo tồn và phát huy triệt để”

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:

===>>> Bảng Giá Viết Thuê Tiểu Luận Môn

II. Mô tả đặc trưng di sản “Tiểu luận: Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên”

1.Nét đặc trưng về môi trường tự nhiên, dân cư và văn hóa.

Đặc trưng về môi trường tự nhiên

Về phương diện hành chính lãnh thổ, Tây Nguyên có 5 tỉnh : Gia Lai, Kon Tum, Đắc Lắc, Đắc Nông , Lâm Đồng. Vùng Tây nguyên có địa hình là cao nguyên xếp tầng chủ yếu là sơn nguyên , xen giữa là các dãy núi cao trung bình và các cao nguyên đất đỏ bazan.

Khí hậu phân thành 2 mùa rõ rệt: nóng khô, từ tháng 11 đến tháng 3 và mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 10 tạo nên sự tương phản về thời tiết. Những nét nổi bật về khí hậu, tạo nên nhịp điệu sản xuất và đời sống van hóa mang tính chu kì rất đặc trưng ở Tây Nguyên.

Rừng chiếm tỉ lệ lớn và có độ che phủ cao nhất nước ta.Cùng với đó là thế giới đông thực vật phong phú và quý hiếm tạo nên hệ sinh thái rất đặc trưng của dân tộc nơi đây.Có thể nói rừng là môi trường sống gần gũi và than thiết cảu cư dân các dân tộc, văn hóa của người tây nguyên là “ văn hóa rừng”

Hoạt động sản xuất của con người hướng vào canh tác, nương rẫy trồng lúa ngô là chính , chăn nuôi gia súc phát triển

Đặc trưng về dân cư

Tây nguyên và vùng phụ cận là địa bàn sinh tụ cảu gần 20 tộc người bản địa, thuộc 2 dòng ngôn ngữ chính: Môn-Khmer và Nam Đảo.

Trên địa bàn 5 tỉnh tây nguyên có các tộc người: Bana, Xơ-đăng, Giẻ-triêng, Brâu, Rơmăm, Mnông, Mạ, Cơho thuộc nhóm Môn-Khmer, và các tộc người Giarai, Êđê, Churu,Raglai thuộc nhóm Nam Đảo.

Về phân bố dân cư: có các dân tộc thuộc 3 nhóm rõ rệt: “Tiểu luận: Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên”

Các tộc thuộc nhóm Bana – Xơ-đăng (hay gọi là người Bana Bắc) phân bố ở Nhóm M nông – Mạ ( thường gọi là Bana Nam) : gồm tộc ngươi Mnoong, xtieeng, Mạ, Chơro cư trú ở Nam Tây Nguyên, thuộc tỉnh Lâm Đồng và các tỉnh kế cận. Các tộc Nam Đảo ( Gia Rai, Êđê), cư trú chủ yếu ở trung tâm Tây Nguyên thuộc địa bàn tỉnh Đắc Lắc, Bắc ĐắcNông và Nam Gia Lai.

Một đặc trưng lớn nhất, cơ bản nhất, từ đó quy định những sắc thái văn hóa lớn của vùng Trường Sơn – Tây Nguyên là nếp sống nương rẫy, nếp sống chủ đạo và bao trùm lên toàn bộ tộc người trong vùng.Có thể nói toàn bộ đời sông vật chất cũng như đời sống tinh thần của dân tộc tây nguyên từ tín ngưỡng lễ hội, phong tục tập quán, nghi lễ, đời sống tình cảm của con người gắn bó với nương rẫy, khiến người ta có thể nói văn hóa của đồng bào là “ văn hóa rừng”

Đặc trưng về xã hội

Mô hình xã hội cơ bản của tộc người bản địa tây nguyên là làng buôn .Mỗi buôn làng như vậy bao gồm nhiều gia đình lớn hay nhỏ, cư trú trong một số nóc nhà, thậm chí cả lằng có môt( nóc nhà dài của đại gia đình.Ở các dân tộc tây nguyên tồn tại mấy hình thức gia đình mẫu hệ phụ hệsong hệ, trong đó gia đình mẫu hệ là tiêu biểu và đặc trưng cho các tộc người ở khu vực này.Cơ cấu xã hội theo mô hình làng buôn , trong đó nổi bật là quan hệ cộng đồng, là đặc trưng nổi bật của xã hội các dân tộc tây nguyên.

Toàn bộ văn hóa tộc người cơ bản vẫn là văn hóa dân gian(sử thi) , do con người sang tạo và phục vụ mọi người trong cộng đồng .

Về văn hóa:

Các dân tộc tây nguyên có những nét tương đồng và khá đặc trưng về quan niệm và ứng xử giữa thế giới người sống và người chế, từ đó hình thành cả một hệ thống những tập tục, nghi lễ, sinh hoạt văn hóa xung quanh thế giới người chết, tạo nên một văn hóa dân gian mang tính tổng thể – sinh hoạt văn hóa nhà mồ “Tiểu luận: Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên”

Lễ hội là sinh hoạt tín ngưỡng – văn hóa thường thấy ở tất cả các dân tộc Tây Nguyên, nó là mốc đánh dấu những hoạt động sản xuất nương rẫy từ chặt cây gieo hạt tới khi thu hoạch mang lúa về kho; là mốc đánh dấu những sinh hoạt đời sống con người từ khi đẻ, cưới xin đến lúc chết; là sinh hoạt cộng đồng từ gia tộc tới cả buôn làng, như lễ cúng bến nước, lễ cầu no đủ,….Trong các lễ hội ở tây nguyên , nghi thức hiến sinh trở thành quan trọng và không thể thiếu được. Ngày nay lễ hiến sinh được thay thế bằng con vật, trong đó quan trọng nhất là hiến sinh trâu. Bởi vậy lễ hội đâm trâu là lễ hội lớn và đặc trưng cho các dân tộc tây nguyên.

Sinh hoạt văn hóa nghệ thuật cũng là văn hóa nghệ thuật dân gian mang tính cộng đồng cao: sử thi, sử thi anh hung, trường ca, truyền thuyết anh hung… Sử thi tây nguyên không chỉ là hiện tượng thuần túy văn học dân gian mà còn là hiện tượng văn hóa dân gian nữa.Và sinh hoạt kể Khan ra đời –là một hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng tiêu biểu của người Êđê nói riêng và của các dân tộc tây nguyên nói chung.

Âm nhạc: người ta thường nhắc tới nhạc cụ gõ, trong đó cồng chiêng là tiêu biểu. Nghệ thuật múa cảu dân tộc tây nguyên khá phong phú và độc đáo.Múa là nội dung sinh hoạt văn hóa chính của các buổi lễ bỏ mả, các lễ hội đâm trâu , thậm chí ngay trong ngày vui cảu gia đình,…Có nhiều hình thức mùa như múa nghi lễ, múa cho từng giới hay mua chung nam nữ, múa tập thể.

Nghệ thuật và tạo hình kiến trúc: mang sắc thái riêng và độc đáo. Ở Trường Sơn thấy các ngôi nhà công cộng với mái tròn khum mu rùa, đầu hồi trang trí con chim thần mang phong cách Đông Sơn. Ở Bắc tây nguyên là những ngôi nhà rông dáng mái cao vút hình lưỡi rìu, vượt hẳn lên trên mái của các ngôi nàh sàn trong làng.Ở Trung và Nam Tây Nguyên thì đặc trưng bởi các ngôi nhà dài , trong đó sinh sống nhiều gia đình và một phần cảu ngôi nàh dành cho sinh hoạt cộng đồng.. Nhà mồ, tượng mồ và trang trí nàh mồ là đặc trưng chung của hầu hết các dân tộc sinh sống ở tây nguyên những mỗi tộc người lại mang màu sắc riêng đăc trưng.

2. Đặc trưng về tiếng cồng, tiếng chiêng. “Tiểu luận: Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên”

Các yếu tố bộ phận : cồng chiêng, các bản nhạc tấu bằng cồng chiêng, những người chơi cồng chiêng, các lễ hội có sử dụng cồng chiêng (Lễ mừng lúa mới, Lễ cúng Bến nước…), những địa điểm tổ chức các lễ hội (nhà dài, nhà rông, nhà gươl, rẫy, bến nước, nhà mồ, các khu rừng cạnh các buôn làng Tây Nguyên,…)Cồng chiêng là những nhạc cụ được xếp vào bộ gõ và nhóm tự thân vang (autosonore) được làm bằng hợp kim đồng, có khi pha vàng, bạc hoặc đồng đen. Cồng là loại có núm, chiêng không núm. Nhạc cụ này có nhiều cỡ, đường kính từ 20 đến 50 – 60cm, loại cực đại tới 90 – 120cm. Cồng chiêng có thể được dùng đơn lẻ hoặc dùng theo dàn, bộ từ 2 đến 12 hoặc 13 chiếc, thậm chí có nơi tới 18 – 20 chiếc. Trong một bộ chiêng có chiêng mẹ (chiêng cái) là quan trọng nhất.

Cồng chiêng có thể được gõ theo 2 cách chủ yếu: bằng dùi, đấm bằng tay. Có tộc còn áp dụng kỹ thuật chặn tiếng bằng tay trái hoặc tạo giai điệu trên một chiếc chiêng.

Có truyền thống văn hóa và lịch sử rất lâu đời

  • Có nguồn gốc ban đầu từ cồng đá, chiêng đá… tre, tới thời đại đồ đồng, chiêng đồng mới xuất hiện..
  • Tiếng chiêng dài hơn đời người, tiếng chiêng nối liền, kết dính những thế hệ.

Cồng chiêng gắn bó mật thiết với cuộc sống của người Tây Nguyên- là phương tiện giao tiếp của người Tây Nguyên, là tiếng nói của tâm linh, tâm hồn con người, để diễn tả niềm vui, nỗi buồn trong cuộc sống, trong lao động và sinh hoạt hàng ngày của họ.

Theo quan niệm của người Tây Nguyên, đằng sau mỗi chiếc cồng, chiêng đều ẩn chứa một vị thần, họ cũng có đời sống tình cảm và gia đình riêng. Đó là những vị thần có sức mạnh, và những vị thần linh này có thể mang đến niềm hạnh phúc, sự thịnh vượng nhưng cũng kéo đến những sự bất hạnh cho buôn làng khi bị làm cho nổi giận. Vì vậy, Cồng chiêng là phương tiện giao tiếp với thần linh. Cồng chiêng càng cổ thì quyền lực của vị thần càng cao. Ngoài ra, Cồng chiêng còn là tài sản quý giá, biểu tượng cho quyền lực và sự giàu có( vd: Đã có thời một chiếc chiêng giá trị bằng hai con voi hoặc 20 con trâu)

+ Là phương tiện giao tiếp của người miền núi giữa họ trong cộng đồng-Phương tiện để nối kết cộng đồng (các dân tộc luôn hoà hợp lẫn nhau trong văn hoá cồng chiêng mà vẫn giữ được bản sắc văn hoá của dân tộc mình, không có hiện tượng loại trừ hay đồng hoá văn hoá của nhau trong sinh hoạt văn hoá cồng chiêng. Các dân tộc đều có thể đến với nhau khi sinh hoạt văn hoá cồng chiêng. Tiếng cồng chiêng luôn đem đến một cảm xúc rạo rực khó tả trong mỗi con người, như sự đồng thanh tương ứng khiến họ tìm đến với nhau) “Tiểu luận: Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên”

  • Cồng chiêng Tây Nguyên giữ vai trò là phương tiện để khẳng định cộng đồng và bản sắc văn hóa chung các dân tộc Tây Nguyên cũng như của từng tộc người trên mảnh đất muôn mầu, muôn sắc Tây Nguyên. Mỗi dân tộc Tây Nguyên có một cách chơi chiêng khác nhau. Người dân bình thường ở Tây Nguyên tuy không phải là những chuyên gia âm nhạc, nhưng chỉ cần nghe tiếng chiêng là họ phân biệt được đó là dân tộc nào.
  • Nó là một loại hình sinh hoạt gắn liền với đời sống văn hóa, tinh thần và tín ngưỡng của con người từ lúc được sinh ra cho đến khi trở về với đất trời, với vũ trụ Gắn liền với văn hóa .Cồng chiêng là một nhạc cụ nghi lễ
  • Mỗi nghi lễ có ít nhất một bài nhạc chiêng riêng
  • Ngoài ra, còn có những bài chiêng dùng cho các sinh hoạt cộng đồng như:

Bản sắc văn hoá các dân tộc ít người Tây Nguyên thể hiện đậm đà nhất trong cồng chiêng và sinh hoạt văn hoá cồng chiêng. Tín ngưỡng, lễ hội, nghệ thuật tạo hình, múa dân gian và ẩm thực dân gian… đều thể hiện, gắn bó mật thiết với cồng chiêng (các tượng tròn ở nhà mồ của các dân tộc Tây Nguyên chỉ trở nên đẹp hơn với ngày lễ bỏ mả trong một không gian huyền ảo đầy những tiếng cồng chiêng sâu lắng).

Đa dạng và phong phú :

Có nhiều biên chế dàn cồng chiêng khác nhau:

  • Dàn chiêng có 2 hay 3 chiếc: Biên chế này tuy nhỏ nhưng theo quan niệm của nhiều tộc người Tây Nguyên, đây là biên chế cổ xưa nhất. Dàn 2 chiêng bằng gọi là chiêng Tha, của người Brâu; dàn 3 cồng núm của người Churu, Bana, Giarai, Gié-Triêng… cũng thuộc loại này.
  • Dàn chiêng có 6 chiêng phổ biến ở nhiều tộc người: Dàn 6 chiêng bằng của người Mạ; dàn Stang của người Xơđăng; dàn chiêng của các nhóm Gar,

Noong, Prơng thuộc dân tộc Mnông; dàn chiêng Diek của nhóm Kpạ người Êđê. Cũng có dàn gồm 6 cồng núm như nhóm Bih thuộc dân tộc Êđê. Dàn chiêng 6 chiếc có thể đảm trách nhịp điệu như dàn cồng núm của nhóm Bih thuộc dân tộc Êđê, dàn Diek của nhóm Kpạ dân tộc Êđê, dàn chiêng của nhóm Noong dân tộc Mnông.

Dàn chiêng 11 hoặc 12 chiếc gồm 3 cồng núm và 8-9 chiếc chiêng bằng của các tộc người Giarai (ngành Aráp), Bana (ngành TồLồ, Kon K’Đeh), người Xơđăng (ngành Steng). “Tiểu luận: Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên”

Không do cư dân Tây Nguyên tự đúc ra mà xuất phát từ một sản phẩm hàng hoá (mua từ các nơi khác về) được nghệ nhân chỉnh sửa thành một nhạc cụ.Vì vậy phương pháp chỉnh sửa chiêng cộng với tai âm nhạc nhạy cảm của nghệ nhân sửa chiêng đã thể hiện trình độ thẩm âm tinh tế và hiểu biết cặn kẽ về chế độ rung và lan truyền âm thanh trên mặt chiêng và trong không gian.

Có hai phương pháp chỉnh sửa mà người nghệ nhân ở Tây Nguyên sử dụng:

  • Gõ, gò theo hình vảy tê tê
  • Gõ, gò theo hình lượn sóng

Có ít nhất 3 phong cách âm nhạc lớn của cồng chiêng Tây Nguyên: Cồng chiêng Êđê nhịp điệu phức hợp, tốc độ nhanh, cường độ lớn; cồng chiêng Mnông cường độ không lớn mặc dù tốc độ khá nhanh; cồng chiêng Bana – Giarai thiên về tính chất chủ điệu (một bè trầm của cồng có núm vang lên âm sắc vững chãi, hùng tráng, một bè giai điệu thánh thót của chiêng không có núm với âm sắc đanh gọn, lảnh lót).

Mỗi người đánh chỉ một chiêng: dàn chiêng có bao nhiêu cái thì có bấy nhiêu người đánh. Niều cuộc cồng phối hợp với nhau để tạo thành dàn nhạc. Lối biểu diễn rất “động”, kêu gọi cả người xem cùng vào cuộc “xoang”, hát. Kỹ thuật kích âm, chỉnh âm cồng chiêng của người biểu diễn “biến hóa khôn lường” làm cho giai điệu lúc trầm, bổng, lúc mơ màng, du dương, lúc bi tráng, hào hùng, lúc da diết, thắc thỏm… tùy theo hoàn cảnh, môi trường sinh hoạt và tâm trạng. Một dàn cồng chiêng có cồng chiêng cha mẹ, cồng chiêng con cháu mang hình ảnh một gia đình gắn bó chặt chẽ với cộng đồng.

Đa số các dân tộc ở Tây Nguyên, chơi chiêng phải là nam giới( kể cả hai tộc người Êđê, Giarai đang duy trì chế độ mẫu hệ hoặc người Bana, Xơđăng đang duy trì cả chế độ mẫu hệ lẫn chế độ phụ hệ), thì cũng có một số dân tộc phụ nữ là nghệ nhân trình diễn chiêng ; đồng thời phụ nữ tham gia múa cùng với nghệ nhân trình diễn chiêng. Ðiều ấy không chỉ minh chứng cho truyền thống lâu đời của cồng chiêng Tây Nguyên mà còn cho thấy tính độc đáo văn hóa của nó.

Ngày nay, đã có dàn chiêng hỗn hợp các nghệ nhân cả nam lẫn nữ. Việc nữ giới đánh chiêng cho thấy vị trí xã hội và vai trò quan trọng của họ trong tâm thức các tộc người này “Tiểu luận: Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên”

Cư dân các dân tộc ít người ở Tây Nguyên đã đạt đến những hiểu biết sâu và có các kỹ thuật điêu luyện trong việc sử dụng cồng chiêng trong văn hoá và âm nhạc của mình

( Điều này thể hiện ở việc chỉnh âm chiêng mua về với tư cách là một hàng hoá để nó trở thành một nhạc cụ trong dàn cồng chiêng của dân tộc; thể hiện ở việc lựa chọn các biên chế dàn chiêng, ở việc quy định giới tính, tư thế và kỹ xảo diễn tấu. Ngoài ra, họ còn sáng tác nhiều bản nhạc chiêng cho những công dụng khác nhau.)

Dân tộc thường chỉ dùng 1-2 cồng phối hợp với một trống dùng trong nghi lễ hoặc giữ nhịp cho múa. Người Mường ở các tỉnh miền núi phía Bắc có dàn cồng sắc bùa, bao gồm một biên chế 8-12 chiếc cồng núm. Biên chế chiêng thành dàn là đặc trưng trong văn hoá của các tộc người Tây Nguyên.

Văn hoá và âm nhạc cồng chiêng Tây Nguyên là văn hoá và âm nhạc dân gian. Nó là sở hữu cộng đồng, là chuẩn mực văn hoá cho thành viên cộng đồng thực hiện. Ở những tộc người mà cồng chiêng dành riêng cho nam giới thì mọi chàng trai tộc người đó phải biết đánh chiêng. Ở những tộc người, nơi cồng chiêng do nữ giới đảm nhiệm thì mọi cô gái phải biết thực hiện nhiệm vụ này (ở nhóm Noong dân tộc Mnông thì đó là nhiệm vụ của cả nam lẫn nữ). Là sở hữu của cộng đồng, cồng chiêng Tây Nguyên có vai trò như một biểu tượng cho năng lực sáng tạo văn hoá, âm nhạc của người dân trong không gian văn hoá Tây Nguyên.

Thể hiện trình độ điêu luyện của người chơi trong việc áp dụng những kỹ năng đánh chiêng và kỹ năng chế tác.Các bài chiêng cũng đạt đến một trình độ biểu cảm âm nhạc phù hợp với trạng thái tình cảm của con người trong mỗi nghi lễ: Chiêng tang lễ hay bỏ mả thì chậm rãi, man mác buồn; chiêng mùa gặt thì thánh thót, vui tươi; chiêng đâm trâu thì nhịp điệu giục giã…Mặc dù không tự đúc được cồng chiêng, nhưng với đôi tai và tâm hồn âm nhạc nhạy cảm họ đã nâng giá trị của một sản phẩm hàng hóa thành một nhạc cụ trình diễn tuyệt vời. Trong tay các nghệ sĩ dân gian tài hoa ở cộng đồng, mỗi chiếc chiêng giữ nhiệm vụ một nốt nhạc trong một dàn nhạc, để biểu diễn các bản nhạc chiêng khác nhau. Ðồng thời, tùy theo từng dân tộc, họ đã sắp xếp, định biên thành các dàn nhạc khác nhau “Tiểu luận: Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên”

Cồng chiêng góp phần tạo nên những sử thi, những áng thơ ca đậm chất văn hóa Tây Nguyên vừa lãng mạn, vừa hùng tráng. Cồng chiêng đã đi vào sử thi Tây Nguyên như để khẳng định tính trường tồn của loại nhạc cụ này.

Cồng chiêng có nhiều giá trị khác nhau (10 giá trị ):Giá trị biểu thị đặc trưng và bản sắc văn hóa vùng; Giá trị biểu thị đặc trưng văn hóa tộc người hoặc nhóm tộc người, thậm chí cả đặc trưng văn hóa của những nhóm địa phương trong cùng một tộc người; Giá trị phản ánh đa chiều; Giá trị nghệ thuật; Giá trị sử dụng đa dạng; Giá trị vật chất; Giá trị biểu thị sự giàu sang và quyền uy; Giá trị tinh thần; Giá trị cố kết cộng đồng; Giá trị lịch sử.

3. Gía trị về lịch sử và về văn hóa

Gía trị lịch sử

Cồng chiêng mang bề dày lịch sử văn hóa của các tộc người Tây Nguyên hơn 2000 năm.

Giá trị văn hoá

Cồng chiêng Tây Nguyên là bằng chứng độc đáo, là nét truyền thống văn hoá các dân tộc Tây Nguyên. Nó là một loại hình sinh hoạt gắn liền với đời sống văn hoá, tinh thần và tín ngưỡng của con người từ lúc được sinh ra cho đến khi trở về với đất trời, với vú trụ. Trong khi đa số các dân tộc ở Tây Nguyên, chơi chiêng phải là nam giới , thì cũng có một số dân tộc phụ nữ là nghệ nhân trình diễn chiêng; đồng thời phụ nữ tham gia múa cùng với nghệ nhân trình diễn chiêng. Điều ấy không chỉ minh chứng cho truyền thống lâu đời của cồng chiêng Tây Nguyên mà còn cho thấy tính độc đáo văn hoá của nó.

Việt Nam , hầu như tất cả các tộc người đều sử dụng cồng chiêng.

Nhưng các dân tộc thường chỉ dung 1-2 cồng phối hợp với mặt trống dung trong nghi lễ hoặc giữ nhịp cho múa .Biên chế chiêng thành dàn là đặc trưng trong văn hoá của các tộc người Tây Nguyên. Các dàn cồng chiêng Tây Nguyên có nhiều điểm tương đồng với cồng chiêng Đông Nam Á. Tuy vậy, nó có những nét khác biệt: Văn hoá và âm nhạc cồng chiêng Tây Nguyên là văn hoá và âm nhạc dân gian. Gía trị văn hóa được thể hiện qua: “Tiểu luận: Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên”

Thứ nhất:Giá trị cố kết cộng đồng“ Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên”

Với các dân tộc Tây Nguyên, phương tiện để nối kết cộng đồng chính là cồng chiêng. Tiếng cồng chiêng vang lên để nối kết cá thể với cộng đồng, giữa cộng đồng với cộng đồng này với cộng đồng khác của cùng một dân tộc. Ở Tây Nguyên có nhiều dân tộc, nhưng các dân tộc luôn hoà hợp lẫn nhau trong văn hoá cồng chiêng mà vẫn giữ được bản sắc văn hoá của dân tộc mình , không có hiện tượng loại trừ hay đồng hoá văn hoá của nhau trong sinh hoạt văn hoá cồng chiêng. Các dân tộc đều có thể đến với nhau khi sinh hoạt văn hoá cồng chiêng. Tiếng cồng chiêng luôn đem đến một cảm xúc rạo rực khỏ tả trong mỗi con người, như sự đồng thanh tương ứng khiến họ tìm đến nhau.Âm thanh cồng chiêng là sợi dây nối cá thể với cộng đồng, cộng đồng với cộng đồng một cách linh thiêng và thế tục, cộng niệm và cộng cảm. Chiêng cồng đã trở thành biểu tượng cuộc sống các dân tộc Tây Nguyên.

Thứ hai: Giá trị biểu thị sự giàu sang và quyền uy

Cồng chiêng là tài sản quý giá, biểu tượng cho quyền lực và sự giàu có. Đã có một thời chiếc chiêng giá trị bằng hai con voi hoặc 20 con trâu. Nhà nào có nhiều chiêng, có chiêng quý là nhà có quyền lực và giàu có trong buôn làng. Với người Tây Nguyên, cồng chiêng và văn hoá cồng chiêng là tài sản vô giá.

Thứ ba: Giá trị biểu thị đặc trưng và bản sắc văn hoá cộng đồng các dân tộc Tây Nguyên

Bản sắc văn hoá các dân tộc ít người ở Tây Nguyên thể hiện đậm đà nhất trong cồng chiêng và sinh hoạt văn hoá cồng chiêng. Tín ngưỡng, lễ hội, nghệ thuật tạo hình, múa dân gian và ẩm thực dân gian… đều thể hiện, gắn bó mật thiết với cồng chiêng (các tượng tròn ở nhà mồ của các dân tộc Tây Nguyên chỉ trở nên đẹp hơn với ngày lễ bỏ mả trong một không gian huyền ảo đầy những tiếng cồng chiêng sâu lắng). “Tiểu luận: Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên”

Thứ tư: Giá trị tinh thần“ Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên”

Theo quan niệm của người Tây Nguyên, đằng sau mỗi chiếc cồng, chiêng đều ẩn chứa một vị thần. Cồng chiêng càng cổ thì quyền lực của vị thần càng cao (Tín ngưỡng vạn vật linh thiêng).Vào những ngày hội, hình ảnh những vòng người nhảy múa quanh ngọn lửa thiêng, bên những vò rượu cần trong tiếng cồng chiêng vang vọng núi rừng, tạo cho Tây Nguyên một không gian lãng mạn và huyền ảo. Cồng chiêng do vậy góp phần tạo nên những áng thơ ca đậm chất văn hoá Tây Nguyên vừa lãng mạn, vừa hung tráng .Mỗi dàn cồng chiêng là tiếng nói tâm linh, tâm hồn của người Tây Nguyên, để diễn tả những niềm vui, nỗi buồn trong cuộc sống lao động và sinh hoạt hằng ngày của họ. Người Tây Nguyên quan niệm chiêng là tiếng nói của thần linh và vì thế họ dùng chiếc chiêng trong các lễ hội và họ quan niệm rằng tiếng chiêng cũng như là tiếng nói của con người Tây Nguyên với thần linh.

Thứ năm: Giá trị biểu thị đặc trưng văn hoá tộc người hoặc nhóm tộc người

Cồng chiêng Tây Nguyên giữ vai trò là phương tiện để khẳng định cộng đồng và bản sắc văn hoá chung các dân tộc Tây Nguyên cũng như của từng tộc người trên mảnh đất muôn màu, muôn sắc Tây Nguyên. Mỗi dân tộc Tây Nguyên có một cách chơi chiêng khác nhau. Người dân bình thường ở Tây Nguyên tuỳ không phải là những chuyên gia âm nhạc, nhưng chỉ cần nghe tiếng chiêng là họ phân biệt được đó là dân tộc nào.Mỗi dân tộc đều có những bản nhạc cồng chiêng riêng để diễn tả vẻ đẹp thiên nhiên, khát vọng của con người…Người Giẩi có các bài chiêng Juan,Trum vang…Người Bana có các bài chiêng: Xa Trăng, Sakapo, Atâu, Tơrơi.. Mỗi dân tộc, mỗi vùng miền lại có những đặc trưng riêng của có những đặc trưng riêng của cồng chiêng. Cồng chiêng có thể được dung đơn lẻ, hoặc dung theo dàn, theo bộ từ 2 đến 12 chiếc, cũng có bộ từ 18 đến 20 chiếc như bộ chiêng của người Giarai. “Tiểu luận: Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên”

Thứ sáu: Giá trị về mặt nghệ thuật“ Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên”

Chiêng là loại nhạc cụ duy nhất làm bằng hợp kim, đươc hầu hết các tộc người trên dãy Trường Sơn – Tây Nguyên sử dụng. Đây là loại nhạc cụ dân gian Tây Nguyên cần đến một nghệ thuật chế tác cao,người Tây Nguyên không thể làm được.

Nghệ thuật cồng chiêng của Việt Nam đã phát triển đến một trình độ cao so với các nước trong khu vực Đông Nam Á..Mỗi chiếc chiêng là một nốt nhạc cao thấp khác nhau. Hầu hết các chiếc chiêng có núm chịu trách nhiệm phần đệm, các chiêng bằng đảm nhận phần giai điệu. Với loại chiêng không có núm (chiêng bằng), tất cả đều dung dùi không bọc (có thể bằng chất liệu mềm hoặc cứng) gõ vào mặt lõm.Với chiêng có núm, người ta thường sử dụng chiếc dùi có bọc bằng chất liệu đàn hồi, để cho âm thanh ấm hơn. Nhiều loại nhạc cụ dân gian khác chỉnh âm theo hang âm của bộ chiêng. Các bài chiêng thể hiện sắc thái tình cảm con nguời dưới nhiều hình thức: Chiêng tang lễ hay bỏ mả thì chậm rãi, man mác buồn; chiêng mùa gặt thì thánh thót, vui tươi, chiêng đâm trâu .

Có ít nhất 3 phong cách âm nhạc lớn của cồng chiêng Tây Nguyên: Cồng chiêng Êđê nhịp điệu phức hợp, tốc độ nhanh, cường độ lớn; cồng chiêng Mnông cường độ không lớn mặc dù tốc độ khá nhanh; cồng chiêng Bana- Giarai thiên về tính chất chủ điệu (một bè trầm của cồng có núm vang lên âm sắc vững chãi, hung tráng, một bè giai điệu thánh thót của chiêng không có núm với âm sắc đanh gọn. Đặt cồng chiêng Tây Nguyên trong bối cảnh văn hoá, văn hoá âm nhạc, âm nhạc học để cân – đo – đong – đếm, định tính, định lượng những nét khác biệt và tương đồng khi so sánh cồng chiêng Tây Nguyên với các nước trong khu vực Đông Nam Á. Nghiên cứu tương quan cao độ các âm, phương pháp hoà tấu bồi âm, kích âm, nghệ thuật diễn tấu…,các nhà khoa học đã “khẳng định sự phong phú, độc đáo và đa dạng từ toàn bộ đến từng phần của nghệ thuật cồng chiêng Tây Nguyên. Từ chủng loại, phương pháp kích âm, biên chế và thang âm cho đến hệ thống bài bản và nghệ thuật diễn tấu, chúng ta sẽ bắt gặp những gì của một dải nghệ thuật đa diện từ đơn giản đến phức tạp, từ ít đến nhiều, từ đơn tuyến đến đa tuyến…Trong đó sẽ thấy cả những lớp cắt lịch sử của tiến trình phát triển âm nhạc”

Thứ 7: Giá trị về mặt du lịch“ Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên”

Là một sáng tạo mang tầm kiệt tác nhân loại, không gian văn hoá cồng chiêng Tây Nguyên có khả năng hấp dẫn, thu hút khách du lịch đến thưởng thức và nghiên cứu.

Phân tích thực trạng khai thác “không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên” “Tiểu luận: Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên”

Trước khi “không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên” được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới thì hoạt động du lịch ở Tây Nguyên chưa được chú ý để phát triển. Nhiều du khách đến với Tây Nguyên chủ yếu là để tham quan, du lịch về nguồn, sinh thái, thiên nhiên với nhiều địa điểm tham quan thú vị: Biển Hồ, hồ Lăk, làng Lăk, Đà Lạt,… cồng chiêng Tây Nguyên vẫn chưa được nhiều người biết đến và không thể nào có thể truyền bá cũng như có nguy cơ bị quên lãng. Với những giá trị không chỉ về vật chất ( chiếc cồng, chiếc chiêng,.) mà ẩn sau đó là cả một nền văn hóa của cả cộng đồng dân tộc Tây Nguyên. Thế nhưng, nét độc đáo đó vẫn chưa được nhân loại thế giới biết đến.

Nhưng ngay khi được UNESCO công nhận thì sức lửa của núi rừng và cồng chiêng Tây Nguyên đã nhân rộng trên toàn khu vực cũng như cả thế giới làm cho hoạt động du lịch ở đây trở nên sôi động. Du khách đến với Tây Nguyên không những được tận hưởng vẻ đẹp thiên nhiên núi rừng mà du khách còn bị cuốn hút vào không khí của không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên. Từ khi được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể và truyền khẩu của nhân loại đã tạo nên bước phát triển du lịch mới cho vùng đất nay và cũng góp phần rất lớn không chỉ cho tiếng cồng, tiếng chiêng và cả nền văn hóa đươc vang xa mà cả nền du lịch của Việt Nam cũng ngày càng nhiều dân tộc trên thế giới biết đến.. Và cồng chiêng Tây Nguyên không chỉ có ý nghĩa về mặt vật chất cũng như những giá trị về nghệ thuật đơn thuần mà nó còn là “tiếng nói” của con người và của thần linh theo quan niệm “vạn vật hữu linh”.. Đến với không gian văn hóa còng chiêng Tây Nguyên du khách sẽ cảm nhận được hơi thở hoàn toàn khác lạ, đặc trưng, độc đáo và khác biệt hoàn toàn với các cồng chiêng của Indonesia, của Philippinnes… và của cả Đông Nam Á. “Tiểu luận: Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên”

Và theo ông Jose maceda, một giáo sư âm nhạc dân tộc Philillines đã có những phát hiện quan trọng “ không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên Việt Nam là cái nôi văn hóa cồng chiêng khu vực châu Á, lên quan mật thiết với văn hóa đồng thau…”. Đó là những giá trị vô hình mà hoạt động du lịch đang truyền tải đến du khách mà rất khó có một hình thức nào khác có thể thay thế được. Những giá trị hữu hình mà hoạt động du lịch đã mang đến cho cư dân miền núi rừng như tạo ra việc làm cho người dân tộc, tăng thêm nguồn lực tài chính, dẫn dắt con người đến với di sản, góp phần quảng bá, nhân rộng và nâng cao ý thức trách nhiệm của chính quyền, cộng đồng để bảo tồn phát huy văn hóa. Bởi vì đây là một tài sản vô giá khó có nơi nào cóa thể cạnh tranh được. Nhiều hoạt động lễ hội được diễn ra để góp phần phát triển di sản như liên hoan cồng chiêng Tây Nguyên, phòng lưu trữ di sản văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên tại Trung tâm dữ liệu di sản văn hóa và tại các bảo tàn tỉnh Tây Nguyên, lễ hội cồng chiêng Tây Nguyên, festival Tây Nguyên năm 2005, lễ Festival cồng chiêng Quốc tế 2009 với chủ đề “Âm vang cồng chiêng và sức sống Tây Nguyên”

Tuy nhiên đằng sau cái tốt, cái đáng phấn khởi cho một di sản được công nhận, được phát triển thì lại có một số thực trang đáng buồn đang diễn ra. Và nếu không có biện pháp cụ thể thì nguy cơ một di sản qui giá của cả nhân loại bi mất đi:

Thứ nhất là sự suy giảm nhanh chóng về số lượng các dàn cồng chiêng:Theo thống kê của Sở Văn hoá Thông tin Gia Lai, trước năm 1980 trong các bản làng của người Giarai, Bana trong tỉnh có hàng chục ngàn bộ cồng chiêng. Có gia đình sở hữu 2-3 bộ, mỗi bản làng có hàng chục bộ. Đến năm 1999, cả tỉnh có 900 p’lei và chỉ còn 5.117 bộ, năm 2002 còn lại chưa đến 3.000 bộ.Tỉnh Lâm Đồng chỉ còn lại 3.113 bộ. Từ năm 1982 đến 1992, tỉnh Đắc Lắc đã mất 5.325 bộ chiêng, từ năm 1993 đến 2003 lại mất tiếp 850 bộ, hiện tại cả tỉnh chỉ còn 3.825 bộ cồng chiêng

Thứ hai: Nguy cơ mai một cồng chiêng còn thể hiện ở các bài bản nhạc chiêng dần dần bị lãng quên. Các nghệ nhân trải qua thời gian, do nhiều tác động khác nhau đã quên nhiều bản nhạc chiêng. Người Mnông trước đây có 40 bản nhạc chiêng, nay các nghệ nhân chỉ còn nhớ, lưu truyền và trình diễn được 10 bản nhạc chiêng. Mặt khác, những nghệ nhân có đôi tai thẩm âm, có năng khiếu trong việc chỉnh chiêng cũng thưa vắng dần trong các cộng đồng cư dân.

Thứ ba: Đáng tiếc nhất là khi những người già, những nghệ nhân Tây Nguyên chết đi đã mang theo cả kho tàng di sản văn hoá cồng chiêng mà không dễ dàng tạo dựng và khôi phục được. “Tiểu luận: Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên”

Thứ tư: Sự đứt gãy dòng chảy của văn hoá truyền thống dẫn đến sự thờ ơ, hờ hững của lớp trẻ với văn hoá của các thế hệ tiền nhân, trong đó có văn hoá âm nhạc cồng chiêng.

Việc phát triển du lịch mạnh mẽ và khó kiểm soát như hiên nay cũng làm loãng hay ngày càng mất dần tính chất sinh hoạt cộng đồng và một số loại cồng, chiêng bị bán sang nước ngoài và một số nhà sưu tầm đồ cổ trong và ngoài nước:

Xu thế mất dần “ tính thiêng” của cồng chiêng Tây Nguyên còn được thể hiện ở chỗ: Ngày nay, nhiều người đã tỏ ra rất tùy tiện trong việc sử dụng các bộ chiêng thiêng và tùy tiện sử dụng các bài bản. Trong các buôn làng ngày xưa, cồng chiêng thường chỉ được sử dụng trong các lễ lớn của gia đình, lòng tộc hoặc buôn làng thì nay, cũng ngay trong cái không gian buôn làng ấy, việc “mua vui” cho “người ngoài” đã trở nên một hiện tượng không hiếm, nếu như không muốn nói là khá phổ biến.

Không gian để biểu diễn cồng chiêng đã trở nên quá dễ dãi tại những đô thị, với các lễ hội mà yếu tố hội hầu như chiếm phần lớn. Một vài năm gần đây, đi khắp vùng Tây Nguyên, đâu đâu người ta cũng bắt gặp cảnh diễn tấu chiêng cồng trong các hội nghị, hội thảo, thậm chí cả trong các cuộc họp… Thật sai lầm khi nghĩ rằng cần đưa văn hóa cồng chiêng đến với mọi người càng nhiều càng tốt bất chấp mọi không gian sinh tồn của loại hình âm nhạc này của người bản địa Tây Nguyên. Mặt khác, làm như thế đã tạo thói quen dễ dãi trong sinh hoạt cồng chiêng cho một bộ phận người dân tộc thiểu số. Một bộ phận người dân tộc thiểu số vì chịu sự chi phối của cơ chế thị trường đã tỏ ra bất chấp mọi quy định khắt khe trong việc sử dụng cồng chiêng nên đã tách cồng chiêng ra khỏi không gian sinh tồn tự ngàn năm với nhiều mục đích. Rồi nữa, vì yếu tố thương mại, các bộ chiêng cổ của ông cha bị chính lớp con cháu làm biến dạng về mặt nhạc học để tiện cho việc diễn tấu các bài bản hiện đại. Bộ cồng chiêng đã được chỉnh sửa ấy chỉ còn là một mớ đồng nát mất hết các giá trị vốn có của nó. “Tiểu luận: Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên”

Cách trình diễn cồng chiêng cũng được “cách tân” triệt để. Trước kia, một dàn cồng chiêng cần đến cả chục người cùng tham gia biểu diễn. Kỹ thuật đánh hết sức phong phú, và phải rèn luyên lâu năm mới thuần thục. Còn bây giờ, có khi, người ta gắn cồng, chiêng vào một cái khung, rồi một người đứng gõ cốc cốc. Cứ như vậy, cồng chiêng Tây Nguyên không chỉ đánh mất mình, mà còn có thể đánh mất luôn danh hiệu cao quý “Di sản văn hoá phi vật thể thế giới”.

Bảo tồn và phát huy những giá trị của “ không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên”

Bảo tồn, phát huy các giá trị của Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên là công việc lớn, vừa cấp bách, vừa có ý nghĩa lâu dài…Đó không đơn thuần là trách nhiệm của nhà nước, của Bộ văn hóa – thông tin và du lịch mà còn là sự gắn kết giữa các cộng đồng dân tộc Tây Nguyên nói riêng và công dân Việt Nam nói chung và du khách.

Với tư cách nước chủ nhà chúng ta phải có một chương trình tổng thể với những bước đi phù hợp điều kiện và hoàn cảnh của nước ta và của Tây Nguyên. Ði liền theo đó là một hệ thống giải pháp cụ thể để thực hiện chương trình này. Với trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước trên lĩnh vực văn hóa, Bộ Văn hóa – Thông tin dự kiến một số công việc cần phải thực hiện nhằm giữ gìn và phát huy giá trị di sản văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên. Chính vì lí do đó cần phải có biện pháp cũng như chiến lược nhằm ngăn chặn và khôi phục lại các giá trị văn hóa của “ không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên” đồng thời phải phối hợp với cộng đồng các dân tộc Tây Nguyên nhằm giữ gìn các giá trị của cả nhân loại. “Tiểu luận: Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên”

Vì thế cần đẩy mạnh công tác sưu tầm, ghi chép và nghiên cứu một cách bài bản, hệ thống về cồng chiêng và văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên. Tiến hành phục hồi và giữ gìn các sinh hoạt văn hóa để tạo môi trường diễn xướng của sinh hoạt văn hóa cồng chiêng trên quan điểm kế thừa có chọn lọc. Từng bước xây dựng phòng lưu trữ di sản văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên tại Trung tâm Dữ liệu Di sản văn hóa (Viện Văn hóa-Thông tin) và tại các bảo tàng tỉnh: Kon Tum, Gia Lai, Ðác Lắc, Ðắc Nông và Lâm Ðồng. Ðồng thời có kế hoạch đào tạo dài hạn, cơ bản đội ngũ cán bộ khoa học am hiểu về âm nhạc truyền thống, văn hóa, lịch sử Tây Nguyên, chú trọng đào tạo cán bộ là người dân tộc thiểu số. Mở lớp truyền dạy kinh nghiệm đánh chiêng, chỉnh chiêng tại cộng đồng.Công tác nghiên cứu và phát triển nghệ nhân biểu diễn, cồng chiêng không chỉ là nghệ thuật biểu diễn đơn thuần, mà gắn bó chặt chẽ với nghi lễ, với đời sống hằng ngày, với chính không gian của vùng đất .

Đồng thời phải tích cực tăng cường công tác tuyên truyền qua các phương tiện thông tin phát thanh, truyền hình, báo chí, ấn phẩm văn hóa, website…, để mọi người hiểu được Tây Nguyên đang lưu giữ một tài sản văn hóa phi vật thể vô giá. Biên soạn và xuất bản các văn hóa phẩm về Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên (tờ gấp, sách nghiên cứu, sách ảnh, đĩa CD, VCD, DVD, v.v.) để giới thiệu với mọi người, nhất là khách du lịch trong và ngoài nước hiểu và yêu quý giá trị mang tầm nhân loại của Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên. “Tiểu luận: Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên”

Kêu gọi sự quan tâm nghiên cứu, giới thiệu, quảng bá; tranh thủ sự đầu tư, sự hỗ trợ của các cá nhân, tổ chức trong nước và nước ngoài cả về kinh phí, phương tiện, tư liệu… để thực hiện các công việc trên.

Bảo tồn, phát huy các giá trị của Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên là công việc lớn, vừa cấp bách, vừa có ý nghĩa lâu dài. Bên cạnh những thuận lợi to lớn từ sự công nhận của UNESCO và cộng đồng quốc tế, sự quan tâm đầu tư, chăm lo về mọi mặt của Ðảng và Nhà nước ta, tình cảm và trách nhiệm giữ gìn và phát huy giá trị Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên của nhân dân ta…, đồng thời đây cũng là công việc có nhiều khó khăn, đòi hỏi chúng ta phải quyết tâm và khẩn trương thực hiện. Có như vậy, chúng ta mới giữ gìn và phát huy được giá trị vô cùng to lớn của kiệt tác cồng chiêng Tây Nguyên của dân tộc và nhân loại.

Một số biện pháp nhằm dung hòa giữa việc khai thác di sàn vào trong du lịch:

Chính thực trạng khai thác “ồ ạc” như hiện nay có nguy cơ làm mất đi “cái thiêng”, cái tính cộng đồng nơi đây. Đây là một bài toán khó giải nhất là các nhà quản lí. Chính vì thế, nhóm cũng đưa ra một số cách thức nhằm cải thiện tình trạng như hiện nay: là làm sao có thể giữ được cái hồn của tiếng cồng, tiếng chiêng và quan trọng hơn là tính cộng đồng vẫn được giữ vững trong quá trình phát triển du lịch nơi đây:

Hiện nay đã có một số công ty du lịch khai thác tiềm năng du lịch của vùng đất Tây Nguyên, cụ thể là khai thác “ không gian văn hóa cồng chiêng”. Việc khai này đã được một số công ty tham gia và bước đầu tạo được sức hút rất lớn cho du khách: công ty du lịch Hoa Sen Châu Á – ASIAN LOTUS, công ty du lịch Ánh Sao Mới – New Starlight Travel,….Khi du lịch khai thác cũng như phát triển đến với vùng “đất thiêng”, nó đã mang lại những kết quả đáng mừng, nhưng đồng thời cũng đem lại những hậu quả không tốt. Sau đây là một số mặt tích cực và tiêu cực trong quá trình khai thác du lịch nơi đây.

Về mặt tích cực: “Tiểu luận: Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên”

  • Giá trị của “không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên” được nhân loại biết đến, nâng cao tầm vóc quốc gia và quốc tế.
  • Giải quyết vấn đề việc làm của địa phương
  • Tăng thêm thu nhập cho người dân, từ đó, GDP của tỉnh và quốc gia tăng
  • Đời sống vật chất lẫn tinh thần của người dân được nâng cao, cơ sở hạ tầng-vật chất- kĩ thuật được chú ý xây dựng

Về mặt tiêu cực:

  • Nguy cơ suy giảm về số lượng cồng, chiêng và các bản nhạc có giá trị
  • Mất dần “tính thiêng”
  • Làm loãng và có nguy cơ mất tính chất cộng đồng, đời sống cộng đồng của người Tây Nguyên- một trong những yếu tố cấu thành nên “không gian văn hóa cồng chiêng”
  • Du lịch còn mang đến, những văn hóa phẩm độc hại ảnh hưởng đến bản sắc văn hóa của vùng đất này.

Chính du lịch đã tác động đến toàn bộ cuộc sống của người dân nơi đây từ văn hóa, kinh tế, xã hội,…Do sự tác động lớn như vậy nên chúng ta cần phải có những biện pháp cũng như mô hình cụ thể để không làm “quá tải” hoặc làm mất đi những giá trị mà vùng đất này được công nhận:

Vì thế cần một số biện pháp nhằm dung hòa giữa du lịch và di sản, vừa không làm mất đi “hồn thiêng Tây Nguyên”, vừa không lãng phí một tiềm năng du lịch lớn.

  • Triển khai việc bảo tồn và phát huy giá trị của “không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên” một cách đồng bộ, hiệu quả thì việc giữ được môi trường tồn tại của không gian văn hóa là quan trọng nhất.
  • Thông tin, tuyên truyền vận động đòng bào hiểu rõ việc phải bảo tồn, phát huy giá trị của “không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên” đối với đời sống tinh thần của đồng bào Tây Nguyên để người dân có ý thức bảo tồn di sản với một tinh thần tự giác và niềm tự hào sâu sắc. “Tiểu luận: Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên”
  • Tổ chức, truyền dạy, thành lập các đội cồng chiêng tại làng; tăng cuờng vận động, khuyến khích đồng bào sử dụng cồng chiêng trong các lễ hội cổ truyền và những ngày lễ kỉ niệm trong địa phương, đất nước.
  • Đặc biệt quan tâm đến việc truyền nghề chỉnh sửa cồng chiêng cho thế hệ trẻ, bởi số nghệ nhân chỉnh chiêng hiện không còn nhiều hoặc ở độ tuổi cao.
  • Mở lớp dạy đánh cồng chiêng cho các em học sinh tại các truờng phổ thông trên toàn tỉnh nói chung, đặc biệt là trong trường dân tộc nội trú để các em có ý thức bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa dân tộc. Việc làm này có thể lồng ghép trong chuơng trình “trường học thân thiện- học sinh tích cực” được triển khai giữa hai bộ: Giáo Dục Đào Tạo, Văn Hóa Thể thao Du Lịch.
  • Sở VHTTDL các cấp cần thưòng xuyên tổ chức các đợt liên hoan cồng chiêng, dân ca, nhạc cụ dân tộc để đồng bào nậng cao nhận thức bảo tồn. Đồng thời phải thường xuyên tổ chức các hoạt động bảo tồn và phát huy của buôn làng; cần thưòng xuyên gắn với rừng gắn với vùng sản xuất (café, cao su, hồ tiêu,..); tích cực kêu gọi các doanh nghiệp quan tâm, hỗ trợ kinh phí để tổ chức.
  • Cần sớm triển khai dự án bảo tồn và phát huy giá trị không gian căn hóa cồng chiêng Tây Nguyên của bộ văn hóa thể thao du lịch và tổ chức thực hiện chuơng trình hành động “10 điểm” phải đựoc triển khai có chừng mực.

Từ những hiện trạng trước và sau khi được công nhận “ không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên” cũng như các mặt tiêu cực và tích cực của du lịch mang lại cho vùng đất này. Vì thế chúng ta cần có những mô hình cụ thể hơn nhằm giảm sự tác hại của du lịch đến với di sản. Đồng thời phải khai thác hợp lí di sản để vừa bảo tồn mà lại thu hút được khách du lịch ổn định nhất là vào những mùa không có lễ hội:

  • Thứ nhất: Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên đặc trưng nhất là tiếng cồng tiếng chiêng nhưng không phải thế mà chúng ta cứ đưa vào chương trình tour cũng như vào phục vụ trong các nhà hàng, khu du lịch. Mà tiếng cồng, tiếng chiêng phải mang được cái hồn của nó trong các lễ hội cúng bái thần linh. Chính vì thế chúng ta cần phải khai thác các mảng khác của không gian như: sinh hoạt cộng đồng: rượu cần. ẩm thực, kiến trúc, có cả cái văm hóa, cái bản sắc trong cộng đồng. Những mảng này có rất nhiều tiềm năng có thể phát triển du lịch nhưng hiên nay chỉ khai thác ở mức thấy chỉ tập trung vào tiếng cồng, tiếng chiêng.
  • Thứ hai: Cần phải tạo ra các sản phẩm kèm theo cho chương trình tour thêm phong phú như ; du lịch văn hóa, du lịch sinh thái, du lịch về nguồn. “Tiểu luận: Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên”
  • Thứ ba: Tổ chức một số sự kiện ( festival cũng như giao lưu văn hóa cộng đồng các dân tộc có cùng tiếng cồng, tiếng chiêng) để nhằm tạo ra các sản phẩm mới có thể thu hút khách du lịch.
  • Thứ tư: Liên kết du lịch giữa các vùng, các miền du lịch với nhau nhằm tạo cho du khách nhiều thú vị, bất ngời,… với những chương trình tour thú vị với những trại nghiêm có thể từ đồng bằng lên Tây Nguyên, từ Tây Nguyên có thể đến với biển cả ( Nha Trang,..)
  • Thứ năm: Ngoài ra chúng ta tiến hành khai thác thêm nhiều điểm du lịch mới cũng như tôn tạo lại các sản phẩm du lịch sẵn có. Ta có thể đưa vào khai thác một số mô hình du lịch sau.

Lễ hội cồng chiêng: được tổ chức hàng năm theo hình thức luân phiên tại các tỉnh có văn hoá cồng chiêng. Trong lễ hội, nghệ nhân của các tỉnh sẽ trình bày, biểu diễn không gian văn hoá của dân tộc và của tỉnh mình.

Hội đua voi ở Buôn Đôn: được tổ chức tại Buôn Đôn- xã Krông Na, huyện Buôn Đôn, tỉnh Đắk Lắk, cách Tp. Buôn Ma Thuột. Hội đua voi thường được tổ chức hàng năm vào tháng 3 tại Buôn Đôn. Đến với lễ hội đua voi, du khách sẽ bị cuốn hút trong không khí tưng bừng của ngày hội, với âm vang cồng chiêng và tận mắt chứng kiến những màn trình diễn ngoạn mục bởi các chú voi của núi rừng Buôn Đôn. Hội đua voi là sự kiện văn hóa lớn ở Tây Nguyên, tôn vinh tinh thần thượng võ của người M’Nông, những người dũng cảm, có truyền thống trong việc săn bắt và thuần dưỡng voi rừng.

Hội Xuân Tây Nguyên: Kéo dài từ 2- 3 tháng, từ ngày đưa lúa vào kho đến ngày sấm ran đầu mùa. Đó là thời gian tạm dừng việc sản xuất để tham gia hội hè, thăm bạn bè… Buôn làng được sửa sang khang trang. Buôn, sóc nọ tiếp buôn sóc kia mở hội đâm trâu. Đâm trâu cúng thần làng, đâm trâu xin thần phù hộ cho từng sóc, đâm trâu nhân lễ bỏ mả để hồn trâu theo người đã khuất về thế giới bên kia. Du khách có dịp hòa mình với không khí của hội lễ, với những trò vui dân gian; được tham dự những điệu múa, lời ca quyện với tiếng cồng, chiêng hào hùng, của những cư dân nơi xứ núi. Hội kéo dài từ tháng 10, 11 đến tháng giêng, tháng hai âm lịch. “Tiểu luận: Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên”

Từ những phân tích cũng như đề ra một số mô hình có thể áp dụng ngay để nhằm hạn chế tình hình khai thác du lịch hiên nay ở Tây Nguyên. Đồng thời cần phải có những biện pháp cụ thể hơn nữa từ các cấp chính quyền nhằm có những biện pháp cụ thể hơn trong viêc qui hoạch, khai thác, bảo tồn,.. một cách có hiệu quả. Nhằm khai thác du lịch một cách bền vững không chỉ trong kinh doanh mà quan trọng hơn vẫn giữ được những giá trị trong “ không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên”

Nhận xét và đánh giá:

Việc công nhận “Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên” là di sản văn hóa thế giới là một niềm tự hào không những của cộng đồng dân tộc Tây Nguyên mà còn là của mỗi nguời dân Việt Nam. Đây là một trong những vẻ đẹp có sức hút mạnh mẽ đối với khách du lịch đặc biệt là du khách nước người.Từ đó làm cầu nối giao lưu văn hóa với các nước trong khu vực và trên thế giới cũng như góp phần phát huy bản sắc độc đáo của dân tộc Việt.

Tuy nhiên, việc quản lí cũng như khai thác di sản chưa có sự thống nhất đã làm mai một dần loại hình di sản phi vật thể này. Nếu mỗi người dân Việt Nam không nhận thức rõ trách nhiệm, vai trò và nghĩa vụ bảo tồn của mình, nếu không có một biện pháp đúng đắn, triệt để và phải có sự kết hợp giữa chính quyền, các dân tộc địa phương, khách tham quan – du lịch và tổ chức UNESCO,… sẽ mất đi một kiệt tác văn hóa phi vật thể và truyền khẩu của nhân loại. Chúng ta hãy cùng nhau để cho giá trị văn hóa này, để cho linh hồn vùng đất Tây Nguyên này sống mãi với thời gian. “Tiểu luận: Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên”

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464