Luận văn: Thực trạng về thẩm định đánh giá tác động môi trường

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Thực trạng về thẩm định đánh giá tác động môi trường hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Thực trạng pháp luật về thẩm định báo cáo Đánh giá tác động môi trường và kiểm tra, giám sát việc thực hiện nội dung báo cáo Đánh giá tác động môi trường ở Việt Nam hiện nay dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

2.1. Pháp luật về thẩm định báo cáo Đánh giá tác động môi trường

2.1.1. Pháp luật về báo cáo Đánh giá tác động môi trường

  • Các đối tượng phải lập báo cáo ĐTM

Lập báo cáo ĐTM là trách nhiệm thuộc về chủ dự án đầu tư. Việc lập báo cáo ĐTM trước khi thực hiện dự án đã trở thành nghĩa vụ bắt buộc đối với các chủ đầu tư, chủ dự án ở Việt Nam từ khi Luật BVMT năm 1993 ra đời. Nghĩa vụ này đã được quy định cụ thể, chi tiết trong các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Bảo vệ môi trường năm 1993 như Nghị định số 175/CP ngày 18/10/1994, Thông tư số 490/BKHCN&MT của Bộ Khoa học công nghệ và môi trường ngày 29/04/1998 về hướng dẫn lập và thẩm định báo cáo ĐTM đối với các dự án đầu tư… So với các quy định tại các văn bản vừa nêu thì Luật BVMT năm 2005 được thông qua ngày 29/11/2005 có hiệu lực từ ngày 01/07/2006 đã có quy định một số điểm mới về đối tượng phải lập báo cáo ĐTM. Đó là, Luật BVMT năm 2005 đã thu hẹp đối tượng phải lập báo cáo ĐTM, nói đúng hơn là thu hẹp các loại dự án phải lập báo cáo ĐTM. Theo đó, trách nhiệm lập báo cáo ĐTM chỉ áp dụng đối với các dự án đầu tư cụ thể. Trong khi đó, theo Luật BVMT năm 1993 và cụ thể tại Thông tư số 490/BKHCN&MT thì tất cả các chủ dự án đầu tư đều phải lập báo cáo ĐTM theo những yêu cầu khác nhau tùy theo mức độ tác động đến môi trường của dự án đó lớn hay nhỏ. Cụ thể, dự án được chia làm 2 loại (loại I và loại II). Dự án loại I bao gồm các dự án có tiềm năng gây ô nhiễm môi trường trên diện rộng, dễ gây ra sự cố môi trường, khó khống chế và khó xác định tiêu chuẩn môi trường phải lập báo cáo ĐTM theo hai bước (“Bản giải trình ĐTM sơ bộ” và “Báo cáo ĐTM chi tiết”). Các dự án loại II và các dự án thuộc loại I nhưng đầu tư vào Khu công nghiệp, Khu chế xuất thì chỉ phải lập “Bản đăng ký đạt tiêu chuẩn môi trường”. Bên cạnh đó, đối tượng phải lập báo cáo ĐTM (chi tiết) không chỉ là các chủ dự án mà còn đối với các chủ cơ sở đang hoạt động [1]. Như vậy, theo pháp luật BVMT trước đây, đối tượng phải lập báo cáo ĐTM theo không chỉ là các chủ dự án mà cả các chủ cơ sở đang hoạt động.

Bên cạnh đó, theo Luật BVMT năm 2005, đánh giá tác động môi trường được tách làm hai loại hình cơ bản là đánh giá môi trường chiến lược (ĐMC) và đánh giá tác động môi trường (ĐTM). Việc tách đánh giá tác động môi trường thành hai loại hình là phù hợp với tình hình khác quan và xu thế chung của thế giới. Các chủ dự án có nghĩa vụ đánh giá tác động môi trường (chủ dự án đầu tư cụ thể) phải lập báo cáo ĐTM, các chủ thể có nghĩa vụ đánh giá môi trường chiến lược (là các cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc cơ chủ thể được cơ quan nhà nước uỷ quyền khi làm chủ dự án về chiến lược, quy hoạch, kế hoạch) phải lập báo cáo ĐMC. Luận văn: Thực trạng về thẩm định đánh giá tác động môi trường.

Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 không còn quy định trách nhiệm lập báo cáo ĐTM đối với các cơ sở đang hoạt động bởi một số lý do. Trước hết, xét trên thực tế thì đến thời điểm đầu những năm hai nghìn, các cơ sở đang hoạt động hầu như đã thực hiện việc đánh giá tác động môi trường, lập báo cáo ĐTM (nếu không thì cũng đã chấm dứt hoạt động), còn các cơ sở thành lập mới (dự án) thì đương nhiên phải tiến hành lập báo cáo ĐTM theo quy định đối với dự án đầu tư. Tiếp đến, xét về bản chất, ĐTM là một công cụ khoa học mang tính dự báo trong quản lý và bảo vệ môi trường. Nói một cách khái quát, ĐTM là một công cụ giúp chúng ta tiên lượng, dự đoán được những tác động môi trường (tích cực và tiêu cực) có thể xảy ra của một dự án đầu tư để từ đó đề ra trước được những biện pháp nhằm ứng phó (giảm thiểu, giảm nhẹ, loại trừ …) với những tác động tiêu cực. Nhưng vì đã coi ĐTM là phạm trù của đánh giá nên trong suốt thời kỳ thực hiện Luật BVMT năm 1993, ĐTM đã được coi như là một công cụ “vạn năng” áp dụng để quản lý, bảo vệ môi trường đối với tất cả các khâu (công đoạn) của toàn bộ tiến trình phát triển kinh tế – xã hội của đất nước: từ khâu xây dựng và phê duyệt các chính sách, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, dự án đầu tư (gọi chung là các dự án) đến khâu quản lý các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ đã đi vào hoạt động trong thực tế (gọi chung là cơ sở đang hoạt động). Hơn thế nữa, ĐTM còn được coi như có thể áp dụng bất cứ lúc nào cũng được, kể cả khi dự án đã hoàn thành giai đoạn triển khai và đi vào hoạt động trong thực tế cho nên chủ các cơ sở đang hoạt động vẫn được đưa vào là đối tượng phải lập báo cáo ĐTM. Hậu quả là đã gây ra nhiều sự lãng phí, tốn kém một cách không cần thiết. Vì vậy, công cụ ĐTM đã không phát huy được hết tác dụng và không đạt được hiệu quả mong muốn trong thực tế. Thế nên, Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 đã không còn quy định đối tượng phải lập phải lập báo cáo ĐTM. là các cơ sở đang hoạt động.

Nghĩa vụ lập báo cáo ĐTM không áp dụng đối với mọi loại dự án, cơ sở đang hoạt động mà chỉ áp dụng đối với một số dự án như sau:

  • Dự án công trình quan trọng quốc gia;
  • Dự án có sử dụng một phần diện tích đất hoặc có ảnh hưởng xấu đến khu bảo tồn thiên nhiên, vườn quốc gia, các khu di tích lịch sử – văn hoá, di sản tự nhiên, danh lam thắng cảnh đã được xếp hạng;
  • Dự án có nguy cơ ảnh hưởng xấu đến nguồn nước lưu vực sông, vùng ven biển, vùng có hệ sinh thái được bảo vệ;
  • Dự án xây dựng kết cấu hạ tầng khu kinh tế, khu công nghiệp, khu công nghệ cao, khu chế xuất, cụm làng nghề;
  • Dự án xây dựng mới đô thị, khu dân cư tập trung;
  • Dự án khai thác, sử dụng nước dưới đất, tài nguyên thiên nhiên quy mô lớn;
  • Dự án khác có tiềm ẩn nguy cơ lớn gây tác động xấu đối với môi trường.

Luật còn quy định Chính phủ có trách nhiệm quy định danh mục các dự án phải lập báo cáo đánh giá tác động môi trường. [33, khoản 1 Điều 8] Luận văn: Thực trạng về thẩm định đánh giá tác động môi trường.

Các dự án phải lập báo cáo ĐTM được quy định cụ thể theo “Danh mục các dự án phải lập báo cáo đánh giá tác động môi trường” ban hành kèm theo Nghị định số 21/2008/NĐ-CP ngày 28/02/2008 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 80/2006/NĐ-CP ngày 09/08/2006 của Chính phủ về việc quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo vệ môi trường.

  • Theo đó, có 20 nhóm dự án với 162 loại dự án được quy định theo quy mô, công suất, tính chất của từng loại dự án.

Việc quy định như trên là hợp lý hơn so với các quy định trước đây về vấn đề này. Mục đích chính của ĐTM là dự báo và giảm thiểu những tác động tiêu cực đến môi trường của dự án. Vì thế, đối với các dự án chỉ có tác động tích cực đến môi trường (như dự án trồng rừng, phủ xanh đồi núi trọc, dự án cải tạo đất…) hoặc những dự án có tác động đến môi trường không đáng kể thì yêu cầu lập báo cáo ĐTM là không cần thiết. Quy định như vậy sẽ tránh được những phiền hà và những chi phí không cần thiết đối với các chủ dự án trong những trường hợp đó. Bên cạnh đó, nếu như trong Luật BVMT năm 1993, bước tiến hành báo cáo ĐTM sơ bộ được coi là bắt buộc đối với các dự án trước khi có Luật Bảo vệ môi trường năm 2005, thì sau khi luật này có hiệu lực, bước này đã bị xoá bỏ.

Báo cáo ĐTM phải được lập đồng thời với báo cáo nghiên cứu khả thi của dự án. Tất cả các dự án thuộc trong danh mục nêu trên khi tiến hành lập dự án đầu tư đồng thời chủ dự án phải có trách nhiệm lập báo cáo ĐTM, các dự án nêu trên chỉ được phê duyệt, cấp phép đầu tư, xây dựng, khai thác sau khi báo cáo đánh giá tác động môi trường đã được phê duyệt.

Để thực hiện nghĩa vụ này, chủ dự án (tổ chức hoặc cá nhân) có thể tự mình lập báo cáo ĐTM hoặc thuê tổ chức dịch vụ tư vấn lập và chịu trách nhiệm về các số liệu, kết quả nêu trong báo cáo ĐTM. Trong trường hợp có những thay đổi về nội dung, quy mô, thời gian, địa điểm triển khai dự án thì chủ dự án phải có trách nhiệm giải trình với cơ quan phê duyệt; trường hợp cần thiết có thể lập báo cáo ĐTM bổ sung [33, khoản 3, khoản 4 Điều 9]. Các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan trước đây không quy định cụ thể vấn đề này mà chỉ dừng lại ở việc xác định trách nhiệm lập báo cáo ĐTM thuộc về chủ dự án. Điều đó dẫn đến tình trạng chất lượng và độ chính xác về khoa học của một số báo cáo ĐTM không được đảm bảo do chủ dự án thuê các chủ thể không đủ trình độ chuyên môn thực hiện. Bên cạnh đó, có rất nhiều dự án mở rộng quy mô hoạt động sau khi đã được cấp quyết định phê chuẩn báo cáo ĐTM mà không lập báo cáo ĐTM bổ sung nên khi triển khai dự án trên thực tế, những tác động tiêu cực đến môi trường của chính phần mở rộng đó đã không được giải quyết do không được dự báo trước và áp dụng các biện pháp để giảm thiểu. Điều này còn dẫn đến hiện tượng một số chủ dự án “lách luật” khi lập dự án trong việc xác định quy mô nhỏ hơn so với khi xây dựng trên thực tế. Những tồn tại này đã được khắc phục bởi các quy định mới của Luật Bảo vệ môi trường năm 2005. Luận văn: Thực trạng về thẩm định đánh giá tác động môi trường.

  • Nội dung cơ bản của Báo cáo ĐTM

Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 và các văn bản hướng dẫn thi hành quy định chi tiết hơn về nội dung của báo cáo ĐTM so với các quy định của pháp luật về môi trường trước đây. Theo quy định tại Điều 10 Nghị định số 175/CP hướng dẫn thi hành Luật BVMT năm 1993, có thể hiểu nội dung của báo cáo ĐTM bao gồm:

  • Đánh giá hiện trạng môi trường tại địa bàn hoạt động của dự án;
  • Dự báo những ảnh hưởng đến môi trường do hoạt động của dự án;
  • Kiến nghị các giải pháp để bảo vệ môi trường.

Trong khi đó, Điều 20 của Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 quy định chi tiết, cụ thể hơn về vấn đền này. Theo đó, ngoài những nội dung giống nội dung các quy định nêu trên, báo cáo ĐTM phải đề cập thêm các vấn đề như: Cam kết thực hiện các biện pháp bảo vệ môi trường trong quá trình xây dựng và vận hành công trình, danh mục công trình, chương trình quản lý và giám sát các vấn đề môi trường trong quá trình triển khai thực hiện dự án; ý kiến của Ủy ban nhân dân cấp xã, đại diện cộng đồng dân cư nơi thực hiện dự án; các ý kiến không tán thành việc đặt dự án tại địa phương hoặc không tán thành đối với các biện pháp bảo vệ môi trường của dự án…

Như vậy, về bản chất, những nội dung cơ bản của báo cáo ĐTM theo quy định hiện hành vẫn được đảm bảo. Tuy nhiên, một điều dễ nhận thấy trong báo cáo theo quy định mới chi tiết hơn, đánh giá theo nhiều góc độ phong phú và toàn diện hơn. Chẳng hạn, theo quy định của Luật BVMT năm 1993, nội dung đánh giá hiện trạng môi trường trong báo cáo chỉ bao gồm những đánh giá về chất lượng môi trường tại địa điểm thực hiện dự án. Còn theo quy định hiện hành thì nó còn bao gồm cả việc đánh giá chất lượng môi trường vùng kế cận cũng như mức độ nhạy cảm và sức chịu tải của môi trường… Đặc biệt hơn nữa, ý kiến của Ủy ban nhân dân cấp xã, của đại diện cộng đồng dân cư và các ý kiến không tán thành đối với dự án và dự báo rủi ro về sự cố môi trường do công trình gây ra cùng các biện pháp phòng ngừa, ứng phó sự cố môi trường cũng được nêu trong báo cáo.

Cấu trúc và yêu cầu về nội dung của báo cáo ĐTM được quy định cụ thể tại Phụ lục 4 ban hành kèm theo Thông tư số 05/2008/TT- BTNMT ngày 08 tháng 12 năm 2008 của Bộ Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường và cam kết bảo vệ môi trường.

  • Báo cáo ĐTM bổ sung Luận văn: Thực trạng về thẩm định đánh giá tác động môi trường.

Chủ dự án thuộc các trường hợp quy định tại điểm a khoản 1 Điều 13 Nghị định số 80/2006/NĐ-CP và khoản 6 Điều 1 của Nghị định số 21/2008/NĐ-CP có trách nhiệm lập báo cáo ĐTM bổ sung trình cơ quan đã phê duyệt báo cáo ĐTM trước đó của dự án để thẩm định và phê duyệt trước khi triển khai thực hiện. Cụ thể, đó là các dự án:

  • Có thay đổi về địa điểm, quy mô, công suất thiết kế, công nghệ của dự án;

Sau 24 tháng kể từ ngày báo cáo ĐTM được phê duyệt, dự án mới triển khai thực hiện. Trường hợp không có sự thay đổi về công suất thiết kế, công nghệ và môi trường xung quanh thì không phải lập báo cáo ĐTM bổ sung nhưng phải có văn bản giải trình với cơ quan phê duyệt.

Báo cáo ĐTM bổ sung được thể hiện theo cấu trúc và đáp ứng được những yêu cầu về nội dung quy định tại Phụ lục 10 ban hành kèm theo Thông tư số 05/2008/TT- BTNMT.

Số lượng, mẫu hồ sơ đề nghị thẩm định và phê duyệt báo cáo ĐTM trường bổ sung được quy định tại tiểu mục 10.3 mục 10 Phần III Thông tư số 05/2008/TT- BTNMT.

Luật BVMT năm 2005 không có điều khoản nào đề cập đến vấn đề ĐTM bổ sung. Trong khi đó, văn bản dưới luật hướng dẫn thi hành [14, 17, 4] lại quy định cụ thể, chi tiết về ĐTM bổ sung và báo cáo ĐTM bổ sung. Bởi lẽ, khi các quy định về ĐTM của Luật được áp dụng vào thực tiễn đã xuất hiện nhiều trường hợp sau khi báo cáo ĐTM đã được phê duyệt chủ dự án thay đổi nội dung dự án (như mở rộng quy mô, thay đổi công nghệ, thay đổi địa điểm…) so với khi thực hiện lập báo cáo ĐTM. Đặc biệt, có trường hợp việc thay đổi dự án của chủ đầu tư có nguy cơ gây tác động tiêu cực đến môi trường lớn hơn, có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường trên diện rộng thì không có quy định nào để điều chỉnh. Vì vậy, Chính phủ đã ban hành các quy định về ĐTM bổ sung để điều chỉnh các trường hợp đó. Có thể nói, ĐTM bổ sung là một hình thức thay thế trách nhiệm ĐTM đối với cơ sở đang hoạt động theo Luật Bảo vệ môi trường năm 1993.

2.1.2. Thẩm định Báo cáo Đánh giá tác động môi trường Luận văn: Thực trạng về thẩm định đánh giá tác động môi trường.

  • Chủ thể có quyền thẩm định Báo cáo ĐTM

Để đảm bảo tính chính xác về mặt khoa học, nội dung báo cáo ĐTM cần phải được cơ quan quản lý chuyên môn thẩm định. Trách nhiệm tổ chức việc thẩm định báo cáo ĐTM với dự án được quy định như sau:

  • Bộ Tài nguyên và Môi trường tổ chức hội đồng thẩm định hoặc tuyển chọn tổ chức dịch vụ thẩm định báo cáo ĐTM đối với các dự án do Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ quyết định, phê duyệt; dự án liên ngành, liên tỉnh;
  • Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ tổ chức hội đồng thẩm định hoặc tuyển chọn tổ chức dịch vụ thẩm định báo cáo ĐTM đối với các dự án thuộc thẩm quyền quyết định, phê duyệt của mình, trừ dự án liên ngành, liên tỉnh;
  • Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh tổ chức hội đồng thẩm định hoặc tuyển chọn tổ chức dịch vụ thẩm định báo cáo ĐTM đối với dự án trên địa bàn quản lý thuộc thẩm quyền quyết định, phê duyệt của mình và của Hội đồng nhân dân cùng cấp. [33, khoản 7 Điều 21]

Như vậy, việc thẩm định báo cáo ĐTM được phân làm hai cấp là cấp trung ương và cấp tỉnh, cụ thể:

  • Cấp trung ương:
  • Bộ Tài nguyên và Môi trường
  • Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ
  • Cấp địa phương: Ủy ban Nhân dân cấp tỉnh

Theo quy định của Luật Bảo vệ môi trường năm 1993 thì hoạt động thẩm định báo cáo ĐTM được thực hiện thông qua cơ quan bảo vệ nhà nước về bảo vệ môi trường hoặc thông qua hội đồng thẩm định trong một số trường hợp cần thiết [9]. Qua đó, việc thẩm định bằng hình thức Hội đồng thẩm định chỉ được áp dụng trong một số trường hợp cần thiết nhưng pháp luật về bảo vệ môi trường lúc đó không quy định cụ thể thế nào là trường hợp cần thiết. Điều này dẫn đến tình trạng không thống nhất trong việc lập Hội đồng thẩm định báo cáo ĐTM của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền lúc bấy giờ. Theo quy định của Luật Bảo vệ môi trường năm 2005, tất cả các báo cáo ĐTM đều phải được thẩm định và thẩm định thẩm định thông qua hai hình thức hoặc là Hội đồng thẩm định hoặc tổ chức dịch vụ thẩm định [33, khoản 1 Điều 21]. Như vậy, Luật BVMT năm 2005 có quy định thêm một hình thức thẩm định mới là tổ chức dịch vụ thẩm định. Đây là một tổ chức được tham gia thẩm định theo quyết định của cơ quan phê duyệt dự án và phải chịu trách nhiệm về ý kiến, kết luận thẩm định của mình. Quy định mới này tạo ra một cơ chế thông thoáng hơn trong việc thẩm định báo cáo ĐTM. Luận văn: Thực trạng về thẩm định đánh giá tác động môi trường.

  • Đối tượng được thẩm định

Đối tượng được thẩm định là Báo cáo ĐTM của dự án đầu tư do chủ dự án đề nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền thẩm định. Chủ dự án gửi hồ sơ đề nghị thẩm định báo cáo ĐTM đến cơ quan có thẩm quyền tổ chức việc thẩm định báo cáo ĐTM quy định tại điểm a và điểm b khoản 7 Điều 21 Luật Bảo vệ môi trường và khoản 5 Điều 1 của Nghị định số 21/2008/NĐ-CP. Báo cáo ĐTM phải được lập theo quy định của pháp luật. [4, mục 3 Phần I]

  • Hồ sơ đề nghị thẩm định Báo cáo ĐTM

Hồ sơ, thủ tục đề nghị thẩm định báo cáo ĐTM được quy định cụ thể tại các văn bản quy phạm pháp luật về bảo vệ môi trường [4, mục 3 Phần I]. Cụ thể, chủ dự án gửi hồ sơ đề nghị thẩm định báo cáo ĐTM đến cơ quan có thẩm quyền tổ chức việc thẩm định báo cáo ĐTM. Số lượng và mẫu hồ sơ đề nghị thẩm định được quy định như sau:

  • 01 (một) văn bản của chủ dự án đề nghị thẩm định và phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường theo mẫu [4, Phụ lục 6];

+ 07 (bảy) bản báo cáo ĐTM của dự án được đóng thành quyển theo mẫu quy định [4, Phụ lục 7] (kèm theo 01 bản được ghi trên đĩa CD). Trường hợp số lượng thành viên HĐTĐ nhiều hơn 07 (bảy) người, hoặc trong trường hợp cần thiết khác do yêu cầu của công tác thẩm định, chủ dự án phải cung cấp thêm số lượng báo cáo ĐTM theo yêu cầu của cơ quan tổ chức việc thẩm định;

  • 01 (một) bản báo cáo đầu tư hoặc báo cáo kinh tế – kỹ thuật hoặc dự án đầu tư hoặc tài liệu tương đương của dự án.

Thời điểm trình đề nghị thẩm định, phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường của các dự án được quy định như sau: (i) Chủ dự án đầu tư khai thác khoáng sản trình báo cáo ĐTM để được thẩm định, phê duyệt trước khi xin cấp giấy phép khai thác khoáng sản; (ii) Chủ dự án đầu tư xây dựng công trình hoặc có hạng mục xây dựng công trình trình báo cáo đánh giá tác động môi trường để được thẩm định, phê duyệt trước khi xin cấp giấy phép xây dựng, trừ các dự án nêu trên; (iii) Chủ các dự án đầu tư không thuộc các đối tượng quy định tại các trường hợp trên trình báo cáo đánh giá tác động môi trường để được thẩm định, phê duyệt trước khi khởi công dự án. [17, khoản 5 Điều 1] Luận văn: Thực trạng về thẩm định đánh giá tác động môi trường.

Trường hợp hồ sơ chưa hợp lệ, trong thời hạn không quá năm ngày làm việc, kể từ ngày nhận được hồ sơ, cơ quan tiếp nhận hồ sơ có trách nhiệm thông báo để chủ dự án bổ sung, hoàn chỉnh [14, khoản 6, Điều 9]

  • Hình thức thẩm định Báo cáo ĐTM

Báo cáo ĐTM được thẩm định thông qua hai hình thức thẩm định là Hội đồng thẩm định hoặc tổ chức dịch vụ thẩm định [33, khoản 1 Điều 21]. Sau khi nhận được hồ sơ đề nghị thẩm định và phê duyệt báo cáo ĐTM của chủ dự án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiến hành xem xét hồ sơ để xác định xem thẩm định bằng hình thức Hội đồng thẩm định hay thông qua tổ chức dịch vụ thẩm định để áp dụng cho báo cáo ĐTM của dự án đó.

  • Hội đồng thẩm định
  • Chức năng của Hội đồng thẩm định

Hội đồng thẩm định có chức năng tư vấn cho thủ trưởng hoặc người đứng đầu cơ quan có trách nhiệm tổ chức thẩm định hoặc được ủy quyền tổ chức thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường. Hội đồng thẩm định giúp thủ trưởng hoặc người đứng đầu cơ quan tổ chức việc thẩm định trong việc xem xét, đánh giá về chất lượng của báo cáo đánh giá tác động môi trường của dự án đầu tư để làm căn cứ xem xét, phê duyệt theo quy định [6, Điều 3]

  • Cơ quan thành lập Hội đồng thẩm định

Khi cơ quan thường trực Hội đồng trực thuộc cơ quan có thẩm quyền phê duyệt báo cáo ĐTM trình danh sách ủy viên HĐTĐ, Thủ trưởng hoặc người đứng đầu cơ quan tổ chức việc thẩm định và phê duyệt báo cáo ĐTM ra quyết định thành lập Hội đồng cho từng báo cáo ĐTM. Quyết định thành lập HĐTĐ được ban hành theo mẫu quy định [6, Phụ lục 1]. Cơ quan tổ chức việc thẩm định là cơ quan có thẩm quyền phê duyệt báo cáo ĐTM hoặc cơ quan được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt báo cáo ĐTM ủy quyền, cụ thể:

  • Bộ Tài nguyên và Môi trường tổ chức hội đồng thẩm định thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường đối với các dự án do Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ quyết định, phê duyệt; dự án liên ngành, liên tỉnh;
  • Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ tổ chức hội đồng thẩm định thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường đối với các dự án thuộc thẩm quyền quyết định, phê duyệt của mình, trừ dự án liên ngành, liên tỉnh;
  • Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tổ chức hội đồng thẩm định hoặc uỷ quyền cho cơ quan chuyên môn về bảo vệ môi trường cùng cấp tổ chức hội đồng thẩm định thẩm định báo cáo ĐTM của dự án đầu tư trên địa bàn.
  • Ban Quản lý khu kinh tế, khu công nghiệp, khu công nghệ cao, khu chế xuất (gọi chung là Khu kinh tế) được cơ quan nhà nước có thẩm quyền tổ chức thẩm định, phê duyệt báo cáo ĐTM của các dự án đầu tư trong Khu kinh tế ủy quyền [17, khoản 8 Điều 1] Luận văn: Thực trạng về thẩm định đánh giá tác động môi trường.

Trong Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 không có điều khoản nào quy định vấn đề uỷ quyền thẩm định, phê duyệt báo cáo ĐTM, việc quy định của Nghị định số 21/2008/NĐ-CP về vấn đề này xét về mục đích thì phù hợp với thực tế thực hiện, nhưng xét về nguyên tắc, quy định đó trái với Luật bảo vệ môi trường.

  • Hình thức thành lập Hội đồng thẩm định

Hội đồng thẩm định được thành lập dưới hình thức là bản quyết định được ban hành theo mẫu quy định tại Phụ lục 1 ban hành kèm theo Thông tư số 13/2009/TT- BTNMT.

  • Thành phần, cơ cấu của Hội đồng thẩm định

Đối với HĐTĐ, theo quy định trước đây, thành viên của hội đồng thẩm định báo cáo ĐTM được quy định chung cho tất cả các Hội đồng, không phân biệt HĐTĐ cấp trung ương hay địa phương. Về vấn đề này, Luật BVMT năm 2005 lại có quy định khác. Ngoài các chuyên gia có kinh nghiệm, trình độ chuyên môn phù hợp với nội dung, tính chất của dự án và đại diện các tổ chức, cá nhân khác do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thành lập HĐTĐ quyết định thì các thành viên khác trong HĐTĐ cấp trung ương và cấp địa phương có những khác biệt nhất định. Đó là, đại diện các cơ quan phê duyệt dự án, cơ quan chuyên môn bảo vệ môi trường của cơ quan phê duyệt dự án, cơ quan chuyên môn bảo vệ môi trường cấp tỉnh nơi thực hiện dự án đối với HĐTĐ cấp trung ương (được xác định trong trường hợp Bộ TNMT hoặc các Bộ, Cơ quan ngang bộ tổ chức hội đồng thẩm định) và đại diện Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cơ quan chuyên môn về bảo vệ môi trường của các sở ban chuyên môn cấp tỉnh có liên quan đối với HĐTĐ cấp địa phương (được xác định trong trường hợp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tổ chức HĐTĐ).

Bên cạnh đó, theo quy định HĐTĐ phải có trên năm mươi phần trăm (50%) số thành viên có chuyên môn về môi trường và lĩnh vực có liên quan đến nội dung dự án. Người trực tiếp tham gia lập báo cáo ĐTM không được tham gia HĐTĐ [33, khoản 2,3 Điều 21]. Đây là vấn đề chưa được đề cập trong các quy định về thẩm định báo cáo ĐTM của Luật BVMT năm 1993 làm ảnh hưởng không nhỏ đến kết quả thẩm định báo cáo ĐTM của một số HĐTĐ. Quy định mới này không chỉ khắc phục được tình trạng hiệu quả và độ chính xác, khách quan của kết quả thẩm định bị ảnh hưởng do thành phần của hội đồng có số thành viên quản lý và các thành viên khác chiếm đa số trong HĐTĐ mà thậm chí còn khắc phục được tình trạng kết quả thẩm định bị sai lệch do một hoặc nhiều thành viên HĐTĐ lại chính là người đã tham gia lập báo cáo đó (tình trạng “vừa đá bóng vừa thổi còi”).

Thành phần, cơ cấu và số lượng ủy viên của HĐTĐ báo cáo ĐTM theo quy định tại điểm 4.3 mục 4 Phần III Thông tư số 05/2008/TT-BTNMT, bao gồm: 01 (một) Chủ tịch Hội đồng, 01 (một) Ủy viên thư ký, 02 (hai) Ủy viên phản biện và các ủy viên khác; trường hợp cần thiết có thêm 01 (một) Phó Chủ tịch Hội đồng. Thành phần Hội đồng, kể cả Hội đồng do Ban Quản lý khu kinh tế, khu công nghiệp, khu công nghệ cao, khu chế xuất tổ chức theo ủy quyền, phải bảo đảm có sự tham gia ít nhất của 01 (một) đại diện cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường cấp tỉnh nơi thực hiện dự án. Quyền hạn và trách nhiệm của các thành viên Hội đồng thẩm định được quy định cụ thể từ Điều 9 đến Điều 15 Thông tư số 13/2009/TT – BTNMT.

Trong Thông tư số 13/2009/TT – BTNMT có một số quy định mới về Hội đồng thẩm định so với Quyết định số 13/2006/QĐ – BTNMT như: quy định về điều kiện lựa chọn các chức danh của Hội đồng; quy định rõ hơn trách nhiệm và quyền của các thành viên trong Hội đồng; tách quy định về cơ quan thường trực Hội đồng thành một chương riêng [6, Chương III]; quy định mới về việc lựa chọn đại biểu tham gia vào phiên họp chính thức của Hội đồng… Khoản 2, Điều 8 Thông tư số 13/2009/TT – BTNMT có quy định mới về điều kiện lựa chọn các chức danh của HĐTĐ. Việc quy định chi tiết, cụ thể các điều kiện, tiêu chuẩn của các thành viên để được lựa chọn giữ các cương vị trong Hội đồng thẩm định giúp đảm bảo và nâng cao chất lượng của HĐTĐ trong việc xem xét và thẩm định báo cáo ĐTM. Nhưng dựa vào tình hình thực tế của nước ta hiện nay, có điểm cần xem xét lại đối với các quy định đó. Hiện nay, đội ngũ chuyên gia về môi trường ở nước ta còn thiếu vế số lượng, yếu về chất lượng nên việc quy định chung tiêu chuẩn để lựa chọn các chức danh trong Hội đồng thẩm định áp dụng chung cho các cấp thẩm định là chưa thực sự hợp lý. Bởi lẽ, đối với cấp trung ương (Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ) khi lựa chọn các chức danh trong Hội đồng thẩm định có thể dễ đáp ứng đủ thành phần như yêu cầu của pháp luật vì ở đó tập trung nhiều nhà khoa học, nhiều chuyên gia về môi trường có thể mời tham gia HĐTĐ. Còn ở cấp địa phương, thì khó để có thể lựa chọn các chức danh của Hội đồng theo đúng điều kiện, tiêu chí đặt ra đặc biệt là ở các tỉnh vùng sâu, vùng xa, miền núi và có tỉnh hầu như không thể.

Tiếp đến, việc quy định thành phần của HĐTĐ báo cáo ĐTM ở cấp trung ương đối với các dự án liên ngành, liên tỉnh thì nhiều khi khó thực hiện, không cần thiết và kém hiệu quả. Chẳng hạn, dự án xây dựng một con đường đi qua 40 tỉnh thì tối thiểu số thành viên tham gia HĐTĐ phải là trên 41 người, chưa nói đến con số thành viên Hội đồng sẽ cao hơn nếu còn tính đến việc áp dụng quy định trên 50% số thành viên tham gia Hội đồng phải là người có chuyên môn về môi trường và lĩnh vực có liên quan đến nội dung dự án. Thiết nghĩ, nếu một Hội đồng có số lượng khoảng 60 thành viên thì cơ chế làm việc ra sao? Thời gian thẩm định như thế nào? Chất lượng hoạt động thẩm định như thế nào?… Luận văn: Thực trạng về thẩm định đánh giá tác động môi trường.

Một vấn đề đáng lưu ý nữa là thù lao cho các thành viên HĐTĐ báo cáo ĐTM chưa được quy định cụ thể và thực tế đang áp dụng là quá thấp. Hiện tại, các cơ quan có thẩm quền đang áp dụng chung mức thù lao theo quy định của Thông tư liên tịch số 114/2006/TTLT-BTC-BTNMT cho việc thẩm định các dự án nói chung. Ủy ban nhân dân các tỉnh căn cứ Thông tư này để áp dụng trên thực tế để trả thù lao cho các thành viên HĐTĐ báo cáo ĐTM. Theo đó, mức thù lao của thành viên hội đồng thẩm định cấp địa phương cho mỗi một ngày “ngồi” Hội đồng thường là: đối với Chủ tịch Hội đồng – 400.000đ, đối với ủy viên – 300.000đ; ủy viên phản biện – 350.000đ [11]. Khoản thù lao mà các chuyên gia, nhà khoa học được trả như vậy là quá thấp và chưa tương xứng với lượng chất xám, với thời gian mà họ đã bỏ ra để tham gia thẩm định. Đặc biệt là ở vùng sâu, vùng xa, nơi ít cán bộ khoa học thì khó có thể có cán bộ chuyên môn nào về đó để tham gia HĐTĐ với mức thù lao như vậy. Vì thế, khó để tổ chức được một HĐTĐ theo đúng quy định của pháp luật tại các tỉnh này [6]. Những vấn đề đó dẫn đến kết quả là chất lượng thẩm định báo cáo ĐTM thấp, đồng thời rất khó để quy trách nhiệm cho các thành viên HĐTĐ về chất lượng thẩm định báo cáo ĐTM, cũng như quyết định phê duyệt của cơ quan có thẩm quyền, bởi lẽ quyền lợi và trách nhiệm là không tương xứng.

Hiện nay, ở nước ta, số lượng chuyên gia, nhà khoa học có trình độ chuyên môn và về môi trường nói chung và đánh giá tác động môi trường nói riêng còn ít. Đặc biệt, ở cấp tỉnh, đội ngũ cán bộ thẩm định ĐTM vẫn còn yếu và thiếu, chưa đáp ứng được yêu cầu đa dạng về kiến thức khoa học môi trường có liên quan nhiều ngành khác nhau [38]. Do đó có thể dẫn đến hiện tượng, đối với HĐTĐ báo cáo ĐTM của dự án này thì ông là thành viên của HĐTĐ (ủy viên phản biện hoặc Chủ tịch Hội đồng…) còn tại HĐTĐ báo cáo ĐTM của dự án khác, người đó lại là nhà tư vấn lập báo cáo ĐTM. Với tình trạng “vòng luẫn quẩn” như vậy thì khó có thể đòi hỏi sự khách quan trong quá trình thẩm định và khi đưa ra quyết định liên quan đến báo cáo ĐTM. Bên cạnh đó, một số thành viên trong HĐTĐ còn thiếu kinh nghiệm, trình độ trong lĩnh vực ĐTM hoặc không chịu tìm hiểu, đọc các quy định pháp luật về quy trình thẩm định, quy định về báo cáo ĐTM nên chất lượng tham gia vào hoạt động thẩm định không cao.

  • Tổ chức dịch vụ thẩm định

Hình thức thẩm định bằng tổ chức dịch vụ thẩm định là một điểm mới của Luật Bảo vệ môi trường năm 2005. Quy định này nhằm mục đích xã hội hóa công tác bảo vệ môi trường và chuyển bớt gánh nặng, trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước cho xã hội. Đây là một quy định khá thoáng và tiến bộ, nó đã tạo ra một cơ chế thẩm định thông thoáng hơn mà vẫn có thể đảm bảo được tính chính xác, khách quan của kết quả thẩm định. Luận văn: Thực trạng về thẩm định đánh giá tác động môi trường.

Theo quy định tại khoản 5, Điều 21 Luật BVMT năm 2005, tổ chức dịch vụ thẩm định được tham gia thẩm định theo quyết định của cơ quan phê duyệt dự án và phải chịu trách nhiệm về ý kiến, kết luận thẩm định của mình.

Để trở thành đơn vị có thể tham gia vào quá trình tuyển chọn tổ chức dịch vụ thẩm định của cơ quan tuyển chọn tổ chức dịch vụ thẩm định, các tổ chức dịch vụ thẩm định phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện, tiêu chuẩn được quy định cụ thể tại Quyết định số 19/2007/QĐ-BTNMT ngày 26 tháng 11 năm 2007 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về điều kiện, quy chế tổ chức và hoạt động của tổ chức dịch vụ thẩm định. Các điều kiện về đội ngũ cán bộ khoa học, chuyên môn; các phương tiện, trang thiết bị… [8, Điều 6]

Thẩm định thông qua TCDVTĐ được áp dụng đối với báo cáo ĐTM của dự án đầu tư thuộc một trong các trường hợp như sau:

  1. Dự án có sử dụng một phần hoặc toàn bộ diện tích đất của vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên, khu dự trữ sinh quyển, khu di sản thế giới và khu di tích lịch sử, văn hoá đã được xếp hạng.
  2. Dự án thuộc một trong các lĩnh vực sau: điện nguyên tử, điện nhiệt hạch, lò phản ứng hạt nhân, thuỷ điện, thuỷ lợi có hồ chứa, nuôi trồng thuỷ sản ven biển, xây dựng cảng biển, xây dựng cảng sông, xây dựng sân bay hoặc cảng hàng không, lọc dầu, hoá dầu, sản xuất hoá chất cơ bản, sản xuất thuốc bảo vệ thực vật, sản xuất phân hoá học, có sử dụng chất phóng xạ hoặc phát sinh chất phóng xạ, khai thác dầu khí, khai thác khoáng sản đặc biệt và độc hại, tái chế chất thải, chôn lấp chất thải.
  3. Dự án mà chủ đầu tư hoặc chủ dự án có văn bản đề nghị được thẩm định theo hình thức dịch vụ thẩm định.
  4. Dự án phải lập báo cáo ĐTM bổ sung mà trước đây báo cáo ĐTM của dự án đó đã được thẩm định thông qua hình thức dịch vụ thẩm định. [8, Điều 5]

Nguyên tắc đối với hoạt động dịch vụ thẩm định

Tổ chức Việt Nam, tổ chức nước ngoài có đủ điều kiện quy định tại Quyết định số 19/2007/QĐ-BTNMT được đăng ký tuyển chọn thực hiện hoạt động dịch vụ thẩm định báo cáo ĐTM. Hoạt động dịch vụ thẩm định báo cáo ĐTM được thực hiện trên cơ sở hợp đồng được ký giữa cơ quan tuyển chọn dịch vụ thẩm định báo cáo ĐTM và tổ chức được tuyển chọn thực hiện hoạt động dịch vụ thẩm định. TCDVTĐ có thể mời các nhà quản lý, các chuyên gia về khoa học, công nghệ và kỹ thuật có trình độ và chuyên môn phù hợp tham gia thẩm định báo cáo ĐTM, trừ các trường hợp: (i) Tổ chức, cá nhân đã chủ trì hoặc tham gia lập báo cáo ĐTM của một dự án cụ thể sẽ không được chủ trì hoặc tham gia thực hiện thẩm định báo cáo ĐTM của dự án đó; (ii) Tổ chức, cá nhân đang bị khiếu nại, tố cáo về các hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường và các hành vi vi phạm pháp luật khác không được chủ trì hoặc tham gia hoạt động dịch vụ thẩm định báo cáo ĐTM [8].

  • Tuyển chọn tổ chức dịch vụ thẩm định Luận văn: Thực trạng về thẩm định đánh giá tác động môi trường.

Sau khi quyết định chọn hình thức thẩm định báo cáo ĐTM thông qua tổ chức dịch vụ thẩm định, cơ quan tuyển chọn dịch vụ thẩm định phải thông báo công khai trên ít nhất một (01) tờ báo hàng ngày phát hành trên toàn quốc và trên trang tin điện tử của cơ quan mình (nếu có) về việc tuyển chọn tổ chức dịch vụ thẩm định báo cáo ĐTM của dự án đầu tư.

Thủ tục, trình tự tuyển chọn tổ chức dịch vụ thẩm định phải thực hiện theo quy định của pháp luật [8, Điều 8 – 11]. Tổ chức nào trúng tuyển sẽ được ký hợp đồng dịch vụ thẩm định với cơ quan tuyển chọn.

Có thể nói, việc thẩm định báo cáo ĐTM thông qua hình thức TCDVTĐ là một điểm mới của pháp luật về ĐTM ở Việt Nam hiện nay. Nếu xét về mục đích thì rất tốt nhưng căn cứ vào thực tế của Việt Nam hiện nay khó có thể áp dụng có hiệu quả. Bởi lẽ, trên thực tế, đội ngũ chuyên gia có trình độ và kinh nghiệm về ĐTM của Việt Nam còn yếu và thiếu, chủ yếu công tác trong cơ quan nhà nước hoặc tại các trường đại học, viện nghiên cứu nên đòi hỏi một TCDVTĐ đủ trình độ chuyên môn cũng như kinh nghiệm để thẩm định báo cáo ĐTM là rất khó. Trong khi đó, hoạt động thẩm định báo cáo ĐTM đòi hỏi một khối lượng trí tuệ đa lĩnh vực và chuyên sâu cũng như cần nhiều kinh nghiệm. Bên cạnh đó, tổ chức dịch vụ thẩm định hoạt động dịch vụ vì mục tiêu lợi nhuận nên khó tránh khỏi phát sinh các tiêu cực trong quá trình tuyển chọn tổ chức dịch vụ thẩm định để thẩm định báo cáo ĐTM. Không những thế, kết quả thẩm định của hình thức thẩm định thông qua tổ chức dịch vụ thẩm định khó đảm bảo được tính chích xác, khách quan, khoa học do có thể chịu ảnh hưởng của “cơ chế kinh tế thị trường” mà biểu hiện là có thể có sự thông đồng giữa chủ dự án và tổ chức dịch vụ thẩm định khi thẩm định báo cáo ĐTM. Do đó, trên thực tế, hoạt động thẩm định báo cáo ĐTM dưới hình thực tổ chức dịch vụ thẩm định trong thời gian vừa qua có thể nhận thấy một số điểm sau: (i) ít có sự tham gia thẩm định của tổ chức dịch vụ thẩm định, với nhiều lý do như đã nêu; (ii) phát sinh nhiều tiêu cực trong quá trình tuyển chọn tổ chức dịch vụ thẩm định để thẩm định.[27]

Hoạt động thẩm định báo cáo ĐTM là một hoạt động thuộc chức năng quản lý nhà nước. Vì thế, theo quan điểm của tác giả, trong thời gian này chưa nên áp dụng hình thức thẩm định báo cáo ĐTM bằng tổ chức dịch vụ thẩm định. Việc đưa hình thức thẩm định này vào pháp luật ĐTM ở nước ta là hơi sớm nên chưa phát huy được mục đích, ý nghĩa của nó và dẫn đến tình trạng một số các quy định về vấn đề này hầu như bị “đóng băng”. Luận văn: Thực trạng về thẩm định đánh giá tác động môi trường.

  • Quy trình thẩm định Báo cáo ĐTM
  • Thẩm định báo cáo ĐTM thông qua Hội đồng thẩm định

Khi nhận được hồ sơ đề nghị thẩm định và phê duyệt báo cáo ĐTM của chủ dự án, cơ quan thường trực Hội đồng trực thuộc cơ quan có thẩm quyền phê duyệt báo cáo ĐTM nếu nhận thấy báo cáo ĐTM phải được thẩm định dưới hình thức HĐTĐ thì cơ quan này lập danh sách ủy viên Hội đồng theo đúng yêu cầu và tiêu chí được quy định tại Thông tư số 13/2009/TT-BTNMT và các quy định khác của pháp luật có liên quan, trình thủ trưởng hoặc người đứng đầu cơ quan có thẩm quyền xem xét, ra quyết định thành lập Hội đồng.

  • Họp Hội đồng thẩm định
  • Điều kiện tiến hành họp HĐTĐ

Phiên họp chính thức của HĐTĐ báo cáo ĐTM chỉ được tiến hành khi đã có đầy đủ các điều kiện sau:

  1. Có mặt ít nhất 2/3 (hai phần ba) số lượng ủy viên Hội đồng theo quyết định thành lập của cơ quan tổ chức việc thẩm định, trong đó, ít nhất phải có sự tham gia của Chủ tịch hoặc Phó Chủ tịch khi Chủ tịch vắng mặt và 01 (một) Ủy viên phản biện.
  2. Có mặt đại diện chủ dự án (cấp trưởng hoặc cấp phó). Trong trường hợp không thể tham dự, chủ dự án phải có văn bản ủy quyền cho người khác tham dự và chịu trách nhiệm về những ý kiến của người được ủy quyền trình bày hoặc phát biểu trong phiên họp chính thức của Hội đồng.
  3. Có đầy đủ hồ sơ theo quy định tại khoản 2 Điều 9 Nghị định số 80/2006/NĐ-CP; quyết định thành lập Hội đồng; bản nhận xét của ít nhất 01 (một) Ủy viên phản biện là chuyên gia môi trường.
  • Nội dung, trình tự phiên họp

Phiên họp chính thức của Hội đồng phải bảo đảm những nội dung chính và theo trình tự như sau:

  1. Ủy viên thư ký đọc quyết định thành lập Hội đồng thẩm định báo cáo ĐTM của dự án; giới thiệu các bên liên quan tham dự phiên họp chính thức; báo cáo tóm tắt về quá trình xử lý hồ sơ thẩm định báo cáo ĐTM của dự án.
  2. Chủ dự án (hoặc cơ quan tư vấn được chủ dự án uỷ quyền) trình bày tóm tắt nội dung báo cáo đánh giá tác động môi trường của dự án.
  3. Ủy viên thư ký báo cáo kết quả của hoạt động hỗ trợ thẩm định (nếu có).
  4. Phần hỏi đáp những vấn đề chưa rõ.
  5. Các Ủy viên phản biện trình bày bản nhận xét.
  6. Các ủy viên còn lại trình bày ý kiến nhận xét, đánh giá; Ủy viên thư ký đọc bản nhận xét của các ủy viên vắng mặt và ý kiến bằng văn bản của các cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường của địa phương nơi thực hiện dự án không có đại diện là ủy viên HĐTĐ (nếu có). Luận văn: Thực trạng về thẩm định đánh giá tác động môi trường.
  7. Các ủy viên HĐTĐ, đại biểu và chủ dự án tiến hành thảo luận.
  8. Trường hợp cần thiết, sau phần thảo luận công khai, HĐTĐ họp riêng để tiếp tục thảo luận và thống nhất về những kết luận của HĐTĐ.
  9. Người chủ trì phiên họp công bố kết quả kiểm phiếu đánh giá và đọc dự kiến kết luận của HĐTĐ.
  10. Các ủy viên HĐTĐ nêu kiến nghị (nếu có) về chỉnh sửa, bổ sung dự kiến kết luận của HĐTĐ.
  11. Chủ dự án phát biểu ý kiến.
  12. Người chủ trì phiên họp công bố kết luận chính thức của HĐTĐ [6, Điều 22].

Trường hợp cần thiết, trước khi tiến hành phiên họp chính thức của HĐTĐ, cơ quan có trách nhiệm tổ chức việc thẩm định có thể tiến hành các hình thức thẩm định hỗ trợ như sau:

  1. Khảo sát địa điểm thực hiện dự án và khu vực phụ cận;
  2. Lấy mẫu phân tích kiểm chứng;
  3. Lấy ý kiến của cộng đồng dân cư nơi thực hiện dự án;
  4. Lấy ý kiến phản biện của các chuyên gia ngoài Hội đồng thẩm định, cơ quan khoa học, công nghệ, tổ chức xã hội, nghề nghiệp, tổ chức phi chính phủ có liên quan;

Tổ chức các phiên họp đánh giá theo chuyên đề.

  • Kết quả thẩm định

Kết quả thẩm định báo cáo ĐTM được thể hiện dưới dạng biên bản phiên họp của HĐTĐ với đầy đủ các nội dung, kết luận, chữ ký của chủ tịch và của thư ký hội đồng. Kết luận của Hội đồng phải nêu rõ những nội dung cơ bản như sau:

  • Những mặt được, chưa được; những nội dung cần chỉnh sửa, bổ sung báo cáo đánh giá tác động môi trường của dự án;
  • Đánh giá về chất lượng của báo cáo theo một trong ba mức độ: thông qua không cần chỉnh sửa, bổ sung; thông qua nhưng cần chỉnh sửa, bổ sung; không thông qua;
  • Hình thức xem xét, xử lý hồ sơ báo cáo ĐTM sau khi kết thúc phiên họp chính thức của Hội đồng [6, Điều 23].

Báo cáo ĐTM chỉ được người chủ trì phiên họp kết luận thông qua (thông qua không cần phải chỉnh sửa, bổ sung hoặc thông qua nhưng cần phải chỉnh sửa, bổ sung) khi được ít nhất 2/3 (hai phần ba) tổng số ủy viên Hội đồng tham dự phiên họp và những người được ủy quyền [6, điểm a khoản 3 Điều 10] nhất trí và được ghi rõ trong phiếu đánh giá.

Hình thức xem xét, xử lý hồ sơ báo cáo ĐTM sau khi kết thúc phiên họp chính thức của Hội đồng được quy định cụ thể như sau:

  • Trường hợp báo cáo được thông qua nhưng cần chỉnh sửa, bổ sung, Hội đồng ủy nhiệm Cơ quan thường trực Hội đồng xem xét hồ sơ báo cáo đánh giá tác động môi trường đã được chủ dự án chỉnh sửa, bổ sung theo các yêu cầu của Hội đồng để triển khai các bước tiếp theo theo quy định của pháp luật;
  • Trường hợp báo cáo ĐTM không được thông qua, việc thẩm định lại được thực hiện theo quy định tại mục 7 Phần III Thông tư 05/2008/TT-BTNMT [6]. Luận văn: Thực trạng về thẩm định đánh giá tác động môi trường.

Sau khi tổ chức họp HĐTĐ, trong thời hạn không quá 03 (ba) ngày làm việc kể từ khi kết thúc phiên họp chính thức của Hội đồng, người chủ trì phiên họp thông qua Ủy viên thư ký chuyển giao cho Cơ quan thường trực Hội đồng toàn bộ hồ sơ, tài liệu liên quan đến hoạt thẩm định báo cáo ĐTM [6, Điều 25].

  • Tổ chức dịch vụ thẩm định

Trình tự thẩm định báo cáo ĐTM của tổ chức dịch vụ thẩm định được quy định cụ thể tại Điều 15 Quy định Về điều kiện và hoạt động dịch vụ thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường ban hành kèm theo Quyết định số 19/2007/QĐ- BTNMT ngày 26 tháng 11 năm 2007 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường, cụ thể gồm có các bước cơ bản như sau:

  • Tiếp nhận, nghiên cứu và xử lý hồ sơ thẩm định;
  • Khảo sát thực tế tại hiện trường thực hiện dự án:Trong trường hợp cần thiết;
  • Xử lý kết quả thẩm định và hoàn thiện báo cáo ĐTM;
  • Báo cáo và giao nộp hồ sơ thẩm định;
  • Hoàn chỉnh, nhân bản và gửi báo cáo đánh giá tác động môi trường.
  • Thời hạn thẩm định báo cáo ĐTM

Thời hạn thẩm định báo cáo ĐTM được quy định cụ thể tại Điều 12 Nghị định 80/2006/NĐ-CP. Theo đó, thời hạn thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường được quy định như sau:

  • Các dự án thuộc thẩm quyền quyết định, phê duyệt của Thủ tướng Chính phủ, Chính phủ, Quốc hội và các dự án liên ngành, liên tỉnh, thời hạn thẩm định tối đa là 45 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ.
  • Các dự án không thuộc diện quy định tại khoản 1 Điều 12 Nghị định số 80/2006/NĐ-CP, thời hạn thẩm định tối đa là 30 (ba mươi) ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ.
  • Trường hợp báo cáo ĐTM không được thông qua và phải thẩm định lại thì thời gian thẩm định lại thực hiện như quy định đã nêu trên. Luận văn: Thực trạng về thẩm định đánh giá tác động môi trường.
  • Trường hợp phải lập báo cáo ĐTM bổ sung thì thời hạn thẩm định là 30 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ [14, khoản 3 Điều 13].

Như vậy, thời hạn thẩm định báo cáo ĐTM theo pháp luật bảo vệ môi trường hiện nay được xác định cho hai loại dự án: dự án cấp Trung ương quyết định, phê duyệt có thời hạn thẩm định là 45 ngày; loại dự án còn lại có thời hạn thẩm định là 30 ngày. Trong khi đó, theo Luật BVMT năm 1993 và các văn bản hướng dẫn thi hành, thời hạn thẩm định “Báo cáo ĐTM chi tiết” áp dụng chung cho các dự án là 45 ngày. Bên cạnh đó, pháp luật bảo vệ môi trường hiện nay còn quy định thời hạn thẩm định báo cáo ĐMT bổ sung là 30 ngày. Quy định mới của pháp luật bảo vệ môi trường hiện này là phù hợp và hợp lý hơn so với Luật BVMT năm 1993. Đối với những dự án có quy mô nhỏ, mức độ tác động tiêu cực đến môi trường không lớn thì nội dung báo cáo ĐTM sẽ đơn giản hơn so với những dự án khác. Thế nên, quy định thời hạn thẩm định báo cáo ĐTM ngắn hơn (15 ngày) là hợp lý và tạo điều kiện thuận lợi cho dự án đầu tư được tiến hành sớm hơn… Theo nhu cầu của thực tiễn và mục tiêu của chương trình cải cách hành chính, việc rút ngắn thời gian thực hiện các thủ tục hành chính đang đặt ra với tất cả các cơ quan quản lý nhà nước ở tất cả các lĩnh vực. Ngay như thủ tục đăng ký kinh doanh, theo quy định của pháp luật về đăng ký kinh doanh, hiện giờ chỉ còn 10 ngày làm việc, thậm chí ở một số tỉnh, thành phố (như Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh…) thời gian để cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, Giấy chứng nhận đầu tư trên thực tế hiện nay chỉ rút lại còn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ. Do đó, quy định mức thời hạn thẩm định như trên dù đã ngắn hơn trước nhưng vẫn chưa thực sự đáp ứng được yêu cầu của tình hình mới. Thế nên, trong thời gian tới, một khi đã nâng cao được hiệu quả, chất lượng thẩm định báo cáo ĐTM thì đồng thời cũng phải rút ngắn hơn nữa thời gian thẩm định báo cáo ĐTM.

2.1.3. Phê duyệt Báo cáo Đánh giá tác động môi trường Luận văn: Thực trạng về thẩm định đánh giá tác động môi trường.

  • Chủ thể có thẩm quyền phê duyệt

Cơ quan thành lập HĐTĐ báo cáo ĐTM hoặc lựa chọn tổ chức dịch vụ thẩm định có trách nhiệm xem xét và phê duyệt báo cáo ĐTM sau khi đã được thẩm định [3, Điều 22]. Như vậy, các cơ quan có quyền phê duyệt gồm:

  • Bộ Tài nguyên và Môi trường phê duyệt báo cáo ĐTM đối với các dự án do Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ quyết định, phê duyệt; dự án liên ngành, liên tỉnh;
  • Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ phê duyệt báo cáo ĐTM đối với các dự án thuộc thẩm quyền quyết định, phê duyệt của mình, trừ dự án liên ngành, liên tỉnh;
  • Ủy ban nhân dân cấp tỉnh;
  • Ban Quản lý khu kinh tế, khu công nghiệp, khu công nghệ cao, khu chế xuất được cơ quan nhà nước có thẩm quyền ủy quyền thẩm định và phê duyệt báo cáo ĐTM của các dự án đầu tư trong các Khu kinh tế nói trên.

Trong quá trình xem xét hồ sơ đề nghị phê duyệt báo cáo ĐTM, cơ quan phê duyệt có trách nhiệm xem xét khiếu nại, kiến nghị của chủ dự án, cộng đồng dân cư, tổ chức, cá nhân liên quan trước khi phê duyệt.

Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày làm việc, kể từ ngày nhận được báo cáo ĐTM đã được chỉnh sửa đạt yêu cầu theo kết luận của hội đồng thẩm định, tổ chức dịch vụ thẩm định, thủ trưởng cơ quan quy định tại khoản 1 Điều 21 Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 phải xem xét, quyết định phê duyệt báo cáo ĐTM; nếu không phê duyệt thì phải trả lời bằng văn bản nêu rõ lý do cho chủ dự án biết.

Trong trường hợp xét thấy có khả năng xảy ra những tác động xấu về môi trường nhưng chưa được đánh giá một cách đầy đủ trong báo cáo ĐTM vì những nguyên nhân khách quan như: chưa có đủ số liệu về sức chịu tải của môi trường xung quanh, việc đánh giá rủi ro chưa đủ tin cậy và nguyên nhân bất khả kháng khác cho đến thời điểm phê duyệt báo cáo ĐTM, cơ quan có thẩm quyền phê duyệt phải có lưu ý ở phần các yêu cầu kèm theo của quyết định phê duyệt.

Báo cáo ĐTM đã được HĐTĐ thông qua và trình cơ quan có thẩm quyền phê duyệt thì kết quả có thể là: (i) Được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt không kèm theo yêu cầu tại quyết định phê duyệt (không kèm theo điều kiện) hoặc (ii) được phê duyệt nhưng có kèm theo yêu cầu tại quyết định phê duyệt (kèm theo điều kiện), hoặc (iii) không phê duyệt.

  • Hình thức phê duyệt Luận văn: Thực trạng về thẩm định đánh giá tác động môi trường.

Phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường được thể hiện dưới hình thức là bản Quyết định phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường theo mẫu quy định tại Phụ lục 8 ban hành kèm theo Thông tư 05/2008/TT-BTNMT.

  • Hậu quả pháp lý của quyết định phê duyệt

Các dự án quy định tại Điều 18 của Luật BVMT năm 2005 chỉ được phê duyệt, cấp phép đầu tư, xây dựng, khai thác sau khi báo cáo ĐTM đã được phê duyệt [33, khoản 4 Điều 21]. Do đó, báo cáo ĐTM được phê duyệt là cơ sở pháp lý để chủ dự án đầu tư được phê duyệt, cấp phép đầu tư hoặc là cơ sở để thi công xây dựng dự án, khai thác dự án.

Bên cạnh đó, báo cáo ĐTM được phê duyệt là cơ sở pháp lý để xác định trách nhiệm, nghĩa vụ của chủ dự án trong việc thực hiện các nội dung của báo cáo ĐTM (các biện pháp giảm thiểu, phòng ngừa sự cố môi trường, cam kết bảo vệ môi trường…) và các yêu cầu của quyết định phê duyệt. Đó cũng là cơ sở để xác định trách nhiệm pháp lý, áp dụng các chế tài khi chủ dự án vi phạm các nghĩa vụ của mình.

Tiếp đến, khi thông qua và phê duyệt báo cáo ĐTM, cơ quan có thẩm quyền công nhận rằng báo cáo ĐTM là hợp pháp, hợp lệ cả về mặt nội dung cũng như hình thức. Đây là căn cứ để xác định trách nhiệm đối với cơ quan (người có thẩm quyền) phê duyệt khi dự án có vấn đề về môi trường lúc đi vào hoạt động.

Như vậy, thẩm định và phê duyệt báo cáo ĐTM được pháp luật phân cấp cho Bộ Tài nguyên và Môi trường, các Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ (cấp trung ương) và Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh (cấp địa phương). Ở Bộ Tài nguyên và Môi trường, việc thẩm định lại được giao cho Vụ thẩm định nay thuộc Tổng Cục môi trường (trước đây Vụ thẩm định thuộc Bộ). Ở cấp tỉnh, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh lại ủy quyền cho Sở Tài nguyên và Môi trường (Giám đốc Sở) tổ chức Hội đồng thẩm định và thẩm định báo cáo ĐTM. Theo các chuyên gia, những ưu tiên về dự án đầu tư và phát triển kinh tế của cả Chính phủ, ngành và đặc biệt là các tỉnh, thành đã đặt các cơ quan (và cá nhân) chịu trách nhiệm thẩm định báo cáo ĐTM vào thế “không được làm trái ý cấp trên”, nhất là các dự án đầu tư quy mô lớn của nước ngoài nhưng tiềm ẩn rủi ro cao về môi trường như xây dựng thủy điện, cảng biển, khai thác khoáng sản, sửa chữa tàu biển, tái chế rác thải… Có thể nói, tính độc lập, phản biện và chịu trách nhiệm trước pháp luật, thể hiện qua trách nhiệm và quyền hạn của hội đồng thẩm định báo cáo ĐTM chưa được quy định rõ ràng. Vì thế, có những ý kiến băn khoăn rằng quyết định phê duyệt báo cáo ĐTM bị thiên lệch để phục vụ lợi ích của các nhà đầu tư hơn là lợi ích chung của cộng đồng và xã hội [38]. Thiết nghĩ, trong các dự án khai thác Bauxite ở Tây Nguyên vừa qua đã phần nào cho chúng ta nhận thấy điều đó.

2.2. Pháp luật về kiểm tra, giám sát việc thực hiện nội dung báo cáo Đánh giá tác động môi trường Luận văn: Thực trạng về thẩm định đánh giá tác động môi trường.

Hoạt động kiểm tra, giám sát việc thực hiện nội dung báo cáo ĐTM (hoạt động sau thẩm định) được hiểu một cách tổng quát là hoạt động được thực hiện bởi cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường ở các cấp và các cá nhân, cơ quan, tổ chức liên quan nhằm đảm bảo thực hiện những nội dung, biện pháp bảo vệ môi trường trong báo cáo ĐTM và các yêu cầu của quyết định phê duyệt báo cáo ĐTM. Các quy định của Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 về vấn đề thực hiện và kiểm tra việc thực hiện nội dung báo cáo ĐTM là những quy định mới so với Luật BVMT năm 1993. Những quy định mới này về cơ bản đã xác định được những quyền hạn, trách nhiệm của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và của chủ dự án đầu tư đối với giai đoạn hậu thẩm định báo cáo ĐTM. Từ đó, góp phần khắc phục những thiếu sót của Luật BVMT năm 1993 đồng thời góp phần đảm bảo báo cáo ĐTM được thực hiện có hiệu quả trong thực tiễn, ĐTM mới thực sự phát huy được ý nghĩa của mình.

2.2.1. Những nội dung cơ bản trong việc thực hiện nội dung báo cáo Đánh giá tác động môi trường

  • Trách nhiệm thực hiện của chủ dự án

Các chủ dự án có báo cáo ĐTM được phê duyệt có trách nhiệm thực hiện nội dung báo cáo ĐTM và các yêu của cơ quan có thẩm quyền phê duyệt trong quyết định phê duyệt [33, khoản 1 Điều 23]. Báo cáo ĐTM có nội dung được thực hiện là báo cáo ĐTM đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt.

Yêu cầu đối với chủ dự án khi thực hiện những nội dung trong báo cáo ĐTM là phải thực hiện đúng, đầy đủ nội dung công việc và đúng thời gian theo quy định của pháp luật và quyết định phê duyệt báo cáo ĐTM;

Những nội dung trong Báo cáo ĐTM mà chủ dự án phải thực hiện là các giải pháp, biện pháp cụ thể giảm thiểu các tác động xấu đối với môi trường; phòng ngừa, ứng phó sự cố môi trường; các cam kết thực hiện các biện pháp bảo vệ môi trường trong quá trình xây dựng và vận hành công trình. Bên cạnh đó, chủ dự án còn phải thực hiện những yêu cầu trong quyết định phê duyệt của cơ quan có thẩm quyền phê duyệt báo cáo ĐTM.

Sau khi báo cáo ĐTM được phê duyệt, chủ dự án có các trách nhiệm cụ thể khi thực hiện những nội dung trong Báo cáo ĐTM như sau: Luận văn: Thực trạng về thẩm định đánh giá tác động môi trường.

Trước hết, chủ dự án phải thực hiện các thủ tục như: (i) Có văn bản báo cáo Ủy ban nhân dân cấp huyện nơi thực hiện dự án về nội dung quyết định phê duyệt báo cáo ĐTM kèm theo bản sao quyết định phê duyệt; (ii) Niêm yết công khai tại địa điểm thực hiện dự án bản tóm tắt báo cáo ĐTM được phê duyệt, trong đó chỉ rõ: chủng loại, khối lượng các loại chất thải; công nghệ, thiết bị xử lý chất thải; mức độ xử lý theo các thông số đặc trưng của chất thải so với tiêu chuẩn quy định; các biện pháp khác về bảo vệ môi trường.

  • Thiết kế, xây lắp các công trình xử lý môi trường

Trên cơ sở sơ đồ nguyên lý của các công trình xử lý môi trường đề ra trong báo cáo ĐTM đã được phê duyệt, phải tiến hành việc thiết kế chi tiết và xây lắp các công trình này theo đúng quy định hiện hành về đầu tư và xây dựng;

Sau khi thiết kế chi tiết các công trình xử lý môi trường của dự án được phê duyệt, phải có văn bản báo cáo cơ quan nhà nước đã phê duyệt báo cáo ĐTM về kế hoạch xây lắp kèm theo hồ sơ thiết kế chi tiết của các công trình xử lý môi trường để theo dõi và kiểm tra.

  • Bảo vệ môi trường trong quá trình thi công dự án

Trong quá trình thi công dự án, chủ dự án phải triển khai thực hiện các biện pháp bảo vệ môi trường, biện pháp giảm thiểu những tác động tiêu cực đối với môi trường do dự án gây ra và tiến hành quan trắc môi trường theo đúng yêu cầu đặt ra trong báo cáo ĐTM được phê duyệt cũng như những yêu cầu khác nêu trong quyết định phê duyệt báo cáo ĐTM;

Trong quá trình triển khai các hoạt động thi công của dự án có những điều chỉnh, thay đổi về các nội dung, biện pháp bảo vệ môi trường đã được phê duyệt hoặc xác nhận, phải có báo cáo bằng văn bản gửi cơ quan đã phê duyệt hoặc đã xác nhận và chỉ được phép thực hiện sau khi có ý kiến chấp thuận bằng văn bản của cơ quan này;

Trong quá trình triển khai các hoạt động thi công và vận hành thử nghiệm dự án nếu xảy ra tình trạng ô nhiễm môi trường thì phải dừng ngay và báo cáo kịp thời cho Phòng Tài nguyên và Môi trường cấp huyện nơi thực hiện dự án và cơ quan phê duyệt báo cáo ĐTM; Luận văn: Thực trạng về thẩm định đánh giá tác động môi trường.

Bên cạnh đó, chủ dự án có trách nhiệm hợp tác và tạo điều kiện thuận lợi để cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường tiến hành các hoạt động giám sát, kiểm tra việc thực hiện các nội dung, biện pháp bảo vệ môi trường của dự án; cung cấp đầy đủ các thông tin, số liệu liên quan khi được yêu cầu.

  • Các trách nhiệm trong quá trình vận hành thử nghiệm các công trình xử lý môi trường.

Sau khi việc xây lắp các công trình xử lý môi trường đã hoàn thành và được nghiệm thu, chủ dự án phải tiến hành vận hành thử nghiệm các công trình xử lý môi trường để kiểm tra các thông số về kỹ thuật và môi trường theo thiết kế đặt ra;

Tiếp đến, chủ dự án phải xây dựng kế hoạch vận hành thử nghiệm và thông báo cho cơ quan đã phê duyệt báo cáo ĐTM, Sở Tài nguyên và Môi trường, phòng Tài nguyên và Môi trường cấp huyện và cộng đồng dân cư nơi thực hiện dự án để bố trí kế hoạch giám sát, kiểm tra. Sau khi kết thúc việc vận hành thử nghiệm, chủ dự án phải có văn bản báo cáo và đề nghị xác nhận kết quả vận hành thử nghiệm các công trình xử lý môi trường gửi cơ quan đã phê duyệt báo cáo ĐTM để xác nhận. [14, Điều 14]

Hồ sơ đề nghị kiểm tra, xác nhận bao gồm: (i) Văn bản đề nghị kiểm tra, xác nhận; (ii) Báo cáo mô tả các công trình, biện pháp bảo vệ môi trường nêu trong báo cáo ĐTM kèm theo hồ sơ thiết kế và các thông số kỹ thuật của các công trình, thiết bị bảo vệ môi trường; (iii) Công trình xử lý bảo vệ môi trường phải được giám định kỹ thuật trước khi đề nghị kiểm tra, xác nhận; (iv) Các chứng chỉ, chứng nhận, công nhận, giám định có liên quan.

  • (Các báo cáo, văn bản nêu trên đều phải được lập theo mẫu các phụ lục kèm theo Thông tư số 05/2008/TT-BTNMT).

Chủ dự án còn có trách nhiệm lập báo cáo ĐTM bổ sung trong các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 13 của Nghị định số 80/2006/NĐ-CP.

Trong thực tiễn, chủ dự án thực hiện các trách nhiệm của mình có tính đối phó, nhiều trường hợp không tuân thủ như các nội dung như đã cam kết; có thay đổi về nội dung dự án nhưng không báo cáo cơ quan nhà nước có thẩm quyền… Bên cạnh đó, thực tế có nhiều trường hợp dự án đã đi vào vận hành thực tế nhưng chưa được cơ quan phê duyệt báo cáo ĐTM xác nhận đã hoàn thành các công trình xử lý môi trường. Mặc dù trong báo cáo ĐTM, chủ đầu tư có trình bày các phương án hạn chế tác động có hại như xây dựng hệ thống xử lý nước thải, khí thải và chất thải rắn nguy hại… nhưng do tốn kém mà lại không bị kiểm tra nên chủ đầu tư dễ “lờ đi” khâu này [37, tr.5]. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến thực tế nêu trên, thí dụ như một số chủ dự án có ý thức kém, đội ngũ cán bộ kiểm tra, giám sát còn mỏng, bên cạnh đó các quy định pháp luật về kiểm tra, giám sát việc thực hiện nội dung ĐTM chưa thực sự cụ thể, rõ ràng. Luận văn: Thực trạng về thẩm định đánh giá tác động môi trường.

  • Trách nhiệm của cơ quan phê duyệt báo cáo ĐTM,

Sau khi báo cáo ĐTM đã được phê duyệt, cơ quan có thẩm quyền phê duyệt (hoặc cơ quan được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt ủy quyền) có trách nhiệm xác nhận và gửi hồ sơ báo cáo ĐTM đã phê duyệt, cụ thể:

  • Xác nhận vào mặt sau trang phụ bìa của từng bản báo cáo ĐTM;
  • Gửi báo cáo ĐTM được xác nhận kèm theo quyết định phê duyệt báo cáo ĐTM cho chủ dự án và các cơ quan liên quan khác theo quy định tại điểm 6.1, mục 6, phần III của Thông tư 05/2008/TT-BTNMT;
  • Gửi quyết định phê duyệt Báo cáo ĐTM của mình cho cơ quan quản lý nhà nước cấp có liên quan (Điểm a khoản 2 Điều 23 Luật Bảo vệ môi trường, khoản 1 và khoản 2 Điều 15 của Nghị định số 80/2006/NĐ-CP).

Bên cạnh đó, cơ quan phê duyệt báo cáo ĐTM còn có trách nhiệm kiểm tra việc thực hiện nội dung báo cáo ĐTM, các yêu cầu của quyết định phê duyệt. Nội dung này sẽ được đề cập cụ thể trong phần tiếp theo.

2.2.2 Pháp luật về kiểm tra, giám sát thực hiện nội dung báo cáo Đánh giá tác động môi trường

Như đã đề cập ở phần trên, các quy định về kiểm tra, giám sát việc thực hiện nội dung báo cáo ĐTM là những quy định mới của Luật BVMT năm 2005 về phần này so với Luật BVMT năm 1993. Vấn đề này được quy định tại khoản 2 Điều 23 Luật BVMT năm 2005 và được quy định cụ thể, chi tiết tại Nghị định số 80/2006/NĐ-CP, Thông tư số 05/2008/TT- BTNMT.

Các chủ thể có quyền và trách nhiệm kiểm tra, giám sát việc thực hiện nội dung báo cáo ĐTM gồm: cơ quan phê duyệt báo cáo ĐTM; cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường các cấp; cơ quan cảnh sát môi trường; cộng đồng.

  • Hoạt động kiểm tra, giám sát của cơ quan phê duyệt báo cáo ĐTM

Giai đoạn từ khi có quyết định phê duyệt báo cáo ĐTM đến khi có văn bản xác nhận của cơ quan phê duyệt (Giai đoạn thi công dự án). Luận văn: Thực trạng về thẩm định đánh giá tác động môi trường.

Trong giai đoạn này, trách nhiệm kiểm tra, giám sát việc thực hiện nội dung báo cáo ĐTM đã được phê duyệt được giao trọng trách chủ yếu cho cơ quan phê duyệt báo cáo ĐTM. Cơ quan nhà nước có thẩm quyền sau khi phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường có trách nhiệm thực hiện công việc được nêu tại khoản 2 Điều 23 của Luật BVMT năm 2005; khoản 3 Điều 15 của Nghị định số 80/2006/NĐ-CP; mục 12 Phần II Thông tư 05/2008/TT-BTNMT.

Ngoài trách nhiệm thông báo nội dung quyết định phê duyệt báo cáo ĐTM của mình như đã đề cập ở phần trên, cơ quan nhà nước có thẩm quyền sau khi phê duyệt có trách nhiệm chỉ đạo, tổ chức kiểm tra việc thực hiện các nội dung trong báo cáo ĐTM đã được phê duyệt. Cơ quan cấp trung ương chỉ đạo cơ quan quản lý nhà nước ở địa phương nơi thực hiện dự án thực hiện kiểm tra việc thực hiện nội dung trong báo cáo ĐTM của chủ dự án [33, Điều 121]. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chỉ đạo Ủy ban nhân dân cấp huyện nơi thực hiện dự án kiểm tra việc thực hiện nội dung trong Báo cáo ĐTM [33, Điều 122].

Cơ quan phê duyệt Báo cáo ĐTM có trách nhiệm tổ chức tiến hành kiểm tra, giám sát việc thực hiện các nội dung và biện pháp bảo vệ môi trường, đồng thời tổ chức kiểm tra, giám sát việc vận hành thử nghiệm các công trình xử lý môi trường của chủ dự án sau khi nhận được kế hoạch vận hành thử nghiệm của chủ dự án và xác nhận bằng văn bản về việc chủ dự án đã hoàn thành các nội dung của Báo cáo ĐTM đã được phê duyệt.

  • Trình tự và thủ tục kiểm tra

Cơ quan nhà nước có thẩm quyền sau khi phê duyệt báo cáo ĐTM có trách nhiệm theo dõi, kiểm tra việc thực hiện các nội dung báo cáo ĐTM đã được phê duyệt và các yêu cầu của quyết định phê duyệt trước khi dự án đi vào vận hành chính thức trên cơ sở nghiên cứu, xem xét các báo cáo, hồ sơ đề nghị xác nhận do chủ dự án gửi tới. Trong trường hợp cần thiết thì có thể thành lập đoàn kiểm tra để phối hợp với các cơ quan liên quan tiến hành kiểm tra tại địa điểm thực hiện dự án. Các công việc cụ thể như:

  1. Xem xét và đối chiếu hồ sơ thiết kế, xây lắp các công trình xử lý môi trường với báo cáo ĐTM đã được phê duyệt; trường hợp phát hiện những điểm không phù hợp với báo cáo ĐTM, trong thời hạn không quá 7 (bảy) ngày làm việc, kể từ ngày nhận được hồ sơ, báo cáo, phải có văn bản thông báo cho chủ dự án biết để điều chỉnh, bổ sung;
  2. Tiếp nhận và xử lý các ý kiến đề xuất, kiến nghị của chủ dự án, các tổ chức và cá nhân liên quan đến việc thực hiện các nội dung, biện pháp bảo vệ môi trường trong quá trình thi công, xây dựng dự án;
  3. Bố trí kế hoạch và tiến hành giám sát, kiểm tra việc thực hiện các nội dung và biện pháp bảo vệ môi trường; xử lý theo thẩm quyền hoặc kiến nghị xử lý những vi phạm xảy ra;
  4. Tổ chức kiểm tra, giám sát việc vận hành thử nghiệm các công trình xử lý môi trường của chủ dự án sau khi nhận được kế hoạch vận hành thử nghiệm của chủ dự án;
  5. Xem xét và xác nhận kết quả vận hành thử nghiệm các công trình xử lý môi trường;
  6. Lưu giữ và quản lý toàn bộ hồ sơ, văn bản về hoạt động sau thẩm định do chủ dự án, các cơ quan và cá nhân có liên quan gửi đến.[14, khoản 3 Điều 15] Luận văn: Thực trạng về thẩm định đánh giá tác động môi trường.

Hồ sơ, trình tự, thủ tục kiểm tra, xác nhận việc thực hiện các yêu cầu của quyết định phê duyệt báo cáo ĐTM được quy định tại Điều 16 Nghị định số 80/2006/NĐ-CP. Theo đó, trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày làm việc, kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ của chủ dự án, cơ quan đã ra quyết định phê duyệt báo cáo ĐTM có trách nhiệm kiểm tra và xác nhận bằng văn bản về việc chủ dự án đã hoàn thành các nội dung của báo cáo ĐTM đã được phê duyệt. Đối với dự án có vấn đề phức tạp cần kéo dài thời gian kiểm tra thì thời gian tăng thêm không được quá 10 (mười) ngày làm việc. Trường hợp qua kiểm tra, phát hiện chủ dự án không thực hiện đúng và đủ các nội dung của báo cáo ĐTM thì yêu cầu chủ dự án tiếp tục thực hiện và báo cáo để cơ quan ra quyết định phê duyệt báo cáo ĐTM tiếp tục xem xét, xác nhận.

Các nội dung cần kiểm tra, xác nhận đối với từng dự án cụ thể được thực hiện theo nội dung báo cáo ĐTM đã được phê duyệt, trong đó đặc biệt lưu ý các nội dung như: Hệ thống thu gom, xử lý nước thải; Các thiết bị thu gom, lưu giữ và biện pháp xử lý chất thải nguy hại; Các biện pháp quản lý chất thải rắn thông thường; Biện pháp, thiết bị xử lý thu gom khí thải, bụi thải; Biện pháp, thiết bị xử lý tiếng ồn, độ rung; Kế hoạch, biện pháp và điều kiện cần thiết phòng, chống sự cố môi trường.

Hiện nay, một số cơ quan có thẩm quyền phê duyệt báo cáo ĐTM đã uỷ quyền cho cơ quan chuyên môn về bảo vệ môi trường cùng cấp thực hiện tổ chức hội đồng thẩm định, xác nhận việc thực hiện các nội dung báo cáo ĐTM và các yêu cầu của quyết định phê duyệt báo cáo ĐTM theo quy định tại khoản 5 Điều 1 Nghị định số 21/2008/NĐ-CP. Chẳng hạn, Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội ngày 23/06/2009 đã ban hành Quyết định số 3115/QĐ-UBND về việc ủy quyền cho Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố Hà Nội ký quyết định thành lập Hội đồng thẩm định báo cáo ĐTM, Hội đồng thẩm định báo cáo ĐTM bổ sung; Giấy xác nhận việc thực hiện nội dung của báo cáo và yêu cầu tại quyết định phê duyệt báo cáo ĐTM, báo cáo ĐTM bổ sung do ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội ban hành. Việc ủy quyền như vậy nhằm mục đích phân cấp hợp lý công tác bảo vệ môi trường, giảm bớt gánh nặng cho Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố, tạo điều kiện cho quy trình thẩm định và phê duyệt báo cáo ĐTM cũng như xác nhận việc thực hiện nội dung của báo cáo ĐTM và yêu cầu tại quyết định phê duyệt báo cáo ĐTM được nhanh chóng hơn.

Trên thực tế, cơ quan phê duyệt báo cáo ĐTM không đủ điều kiện về nhân lực, thời gian để kiểm tra việc thực hiện nội dung tất các báo cáo ĐTM đã phê duyệt. Hiện nay, trung bình trong một tháng, cơ quan chuyên môn về bảo vệ môi trường cấp tỉnh như thành phố Hồ Chí Minh phải thẩm định trên 30 báo cáo ĐTM [35]. Như vậy, mỗi ngày bình quân cơ quan này phải thẩm định 01 bản báo cáo ĐTM, việc đọc và nghiên cứu kỹ hồ sơ về báo cáo ĐTM của cơ quan có thẩm quyền để thẩm định đã khó chứ chưa nói đến việc có đủ thời gian và nhân lực để tiến hành kiểm tra việc thực hiện nội dung báo cáo ĐTM. Bên cạnh đó, họ cũng chưa có đủ quyền để cưỡng chế việc thực thi các yêu cầu được ghi trong quyết định phê chuẩn báo cáo ĐTM. Mặc dù, pháp luật có quy định cơ quan nhà nước có thẩm quyền có quyền “xử lý theo thẩm quyền hoặc kiến nghị xử lý những vi phạm xảy ra” [14, điểm c khoản 3 Điều 15] nhưng cơ chế cụ thể để thực hiện quyền này thì không được pháp luật quy định cụ thể.

  • Giai đoạn dự án đi vào hoạt động Luận văn: Thực trạng về thẩm định đánh giá tác động môi trường.

Pháp luật chỉ quy định trách nhiệm kiểm tra, giám sát của cơ quan phê duyệt báo cáo ĐTM kể từ thời điểm báo cáo ĐTM được phê duyệt đến khi có văn bản xác nhận đã thực hiện nội dung báo cáo ĐTM. Trong giai đoạn dự án đi vào hoạt động, cơ quan phê duyệt Báo cáo ĐTM thực hiện chức năng của cơ quan quản lý nhà nước về môi trường theo quy định của Luật bảo vệ môi trường năm 2005 và các văn bản hướng dẫn thi hành. Việc kiểm tra, giám sát việc tuân thủ các nội dung trong Báo cáo ĐTM và các quy định về bảo vệ môi trường ở giai đoạn này chủ yếu được giao lại cho các cơ quan quản lý nhà nước về môi trường, cơ quan chuyên môn về bảo vệ môi trường (Sở TNMT, phòng TNMT) đảm nhận, bên cạnh có sự tham gia của lực lượng cảnh sát môi trường, cộng đồng dân cư nơi dự án hoạt động và các chủ thể khác (hiệp hội các doanh nghiệp, tổ chức chính trị –xã hội,…).

  • Hoạt động kiểm tra, giám sát của cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường các cấp (và các cơ quan chuyên môn về BVMT)

Cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường các cấp có Bộ Tài nguyên và Môi trường; Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ; Ủy ban nhân dân cấp tỉnh (Sở Tài nguyên và Môi trường), Ủy ban nhan dân cấp huyện (Phòng Tài nguyên và Môi trường) và các cơ quan chuyên môn về bảo vệ môi trường thuộc các bộ, ban, ngành.

  • Giai đoạn từ khi có quyết định phê duyệt báo cáo ĐTM đến khi có văn bản xác nhận của cơ quan phê duyệt (Giai đoạn thi công dự án).

Đối với cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường có quyền phê duyệt báo cáo ĐTM thì quyền hạn và trách nhiệm của cơ quan này đã được đề cập ở phần trên.

Quyền hạn, trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước về môi trường các cấp (không phê duyệt báo cáo ĐTM) về vấn đề kiểm tra, giám sát việc thực hiện nội dung báo cáo ĐTM không được quy định trong Luật BVMT năm 2005. Pháp luật chỉ quy định chung về trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường trong việc thanh tra, kiểm tra hoạt động bảo vệ môi trường nói chung. Trong giai đoạn xây dựng dự án, cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường thực hiện kiểm tra, giám sát việc thực hiện nội dung báo cáo ĐTM của chủ dự án theo sự chỉ đạo, ủy quyền của cơ quan phê duyệt báo cáo ĐTM.

Cơ quan phê duyệt báo cáo ĐTM có trách nhiệm chỉ đạo, tổ chức kiểm tra việc thực hiện các nội dung trong báo cáo đánh giá tác động môi trường đã được phê duyệt [33, khoản 2 Điều 23]. Như vậy, trách nhiệm thực hiện việc kiểm tra thuộc cơ quan phê duyệt báo cáo ĐTM, nhưng cơ quan phê duyệt cũng có trách nhiệm “chỉ đạo” thực hiện việc kiểm tra thực hiện các nội dung trong báo cáo ĐTM. Cơ quan được “chỉ đạo” là cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường các cấp. Các cơ quan này thực hiện việc kiểm tra, giám sát việc thực hiện nội dung báo cáo ĐTM của chủ dự án theo sự chỉ đạo, ủy quyền của cơ quan phê duyệt báo cáo ĐTM và có trách nhiệm phối hợp cùng cơ quan phê duyệt thực hiện công tác kiểm tra, giám sát.

Ngoài các quy định tại pháp luật BVMT, quyền hạn và trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước về môi trường các cấp được quy định cụ thể ở phần chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan này trong các văn bản pháp quy về tổ chức, hoạt động của các cơ quan này [14, 16]. Như vậy, quyền hạn và trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường được quy định tản mạn, không tập trung và không cụ thể. Điều đó gây khó khăn cho hoạt động bảo vệ môi trường nói chung, hoạt động kiểm tra và giám sát về bảo vệ môi trường nói riêng của các cơ quan này chưa thực sự phát huy hiệu quả.

  • Giai đoạn dự án đi vào hoạt động Luận văn: Thực trạng về thẩm định đánh giá tác động môi trường.

Hoạt động kiểm tra, giám sát việc thực hiện các biện pháp bảo vệ môi trường, các cam kết bảo vệ môi trường trong báo cáo ĐTM nói riêng, hoạt động bảo vệ môi trường nói chung của chủ dự án thuộc trách nhiệm chủ yếu của các cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường các cấp. Giai đoạn này, cơ quan quản lý nhà nước về môi trường các cấp, cơ quan chuyên môn về BVMT thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình theo quy định của pháp luật.

Các cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường các cấp có trách nhiệm theo dõi, kiểm tra việc thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trường đối với các tổ chức, cá nhân thuộc quyền quản lý và tổ chức, cá nhân hoạt động trong ngành, lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý; phát hiện và kiến nghị xử lý hoặc được xử lý theo thẩm quyền đối với các hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường; chủ trì giải quyết hoặc tham gia giải quyết theo thẩm quyền đối với các khiếu nại, tố cáo, tranh chấp về môi trường và bồi thường thiệt hại liên quan đến môi trường. [14, khoản 4 Điều 5]

Hiện nay, tình hình vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường ngày một tăng về số lượng và phức tạp hơn về tính chất. Trong khi đó, các chế tài xử lý các cá nhân, tổ chức vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường theo quy định hiện hành chưa đủ sức răn đe và chưa thỏa đáng. Vì vậy, cần tăng cường chế tài xử lý các hành vi vi phạm bảo vệ môi trường là điều hết sức cần thiết trong bối cảnh hiện nay.

  • Hoạt động kiểm tra, giám sát của cơ quan Cảnh sát môi trường

Ngày 29/11/2006, Bộ trưởng Bộ Công an ký Quyết định số 1899/2006/QĐ-BCA thành lập Cục Cảnh sát môi trường, và ngày 17/9/2007, Bộ trưởng đã ký Quyết định thành lập Phòng Cảnh sát môi trường thuộc công an các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương. Cơ quan cảnh sát môi trường có chức năng chức năng phòng ngừa, phát hiện, đấu tranh chống tội phạm; điều tra xử lý các vi phạm khác về môi trường theo quy định của pháp luật. Để thực hiện chức năng của mình, lực lượng cảnh sát môi trường (CSMT) có quyền yêu cầu các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân xuất trình các tài liệu, giải trình những vấn đề liên quan đến an toàn môi trường khi có dấu hiệu vi phạm pháp luật về môi trường hoặc được quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, công dân cung cấp thông tin, tài liệu, phối hợp làm rõ các hành vi vi phạm pháp luật về môi trường; tiến hành các biện pháp phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm và vi phạm pháp luật về môi trường trong sản xuất kinh doanh, xuất nhập khẩu, thăm dò, khai thác tài nguyên, môi trường sinh thái, khu bảo tồn thiên nhiên, khu dân cư…

Đây là một bước tiến quan trọng trong công tác bảo vệ môi trường ở nước ta thời gian vừa qua. Lực lượng CSMT góp phần hỗ trợ cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường thực hiện công tác bảo vệ môi trường.

Gần đây, Ủy ban thường vụ Quốc Hội đã cho phép cơ quan CSMT được quyền điều tra, khởi tố vụ án. Cụ thể tại khoản 3 Điều 1 Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự do Ủy ban Thường vụ Quốc Hội thông qua ngày 27/2/2009. Điều này góp phần mở rộng thẩm quyền cho cơ quan Cảnh sát môi trường tạo điều kiện cho cơ quan này thực hiện có hiệu quả hơn chức năng của mình và nhiệm vụ bảo vệ môi trường.

Hiện nay, quyền hạn và trách nhiệm của cơ quan CSMT không được quy định trong các văn bản pháp luật về bảo vệ môi trường, bởi lẽ cơ quan này mới được thành lập (năm 2006). Trên thực tế, mức độ tham gia kiểm tra, giám sát của lực lượng CSMT đối với từng giai đoạn của dự án là khác nhau. Trong giai đoạn thi công xây dựng dự án (khi có quyết định phê duyệt Báo cáo ĐTM đến khi có văn bản xác nhận của cơ quan phê duyệt), sự tham gia vào quá trình kiểm tra, giám sát việc thực hiện nội dung báo cáo ĐTM hầu như rất ít nếu không muốn nói là không có. Bởi lẽ, pháp luật bảo vệ môi trường không quy định quyền hạn và trách nhiệm của cơ quan cảnh sát môi trường trong vấn đề này. Trong giai đoạn này, trách nhiệm chủ yếu thuộc về cơ quan phê duyệt báo cáo ĐTM. Có chăng, cơ quan CSMT sẽ tham gia khi phát hiện thấy những vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong quá trình xây dựng dự án. Trong giai đoạn dự án đi vào hoạt động, sự tham gia của cơ quan CSMT vào hoạt động kiểm tra, giám sát việc thực hiện nghĩa vụ bảo vệ môi trường các dự án (lúc này là cơ sở hoạt động) chính là việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình. Luận văn: Thực trạng về thẩm định đánh giá tác động môi trường.

Trong quá trình thực hiện chức năng và nhiệm vụ của mình, lực lượng CSMT có quyền xử lý các tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường theo thẩm quyền. Hiện nay, vấn đề áp dụng các hình thức xử lý (chế tài) đối với các chủ thể vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường còn nhiều điểm bất cập cần phải quan tâm. Thậm chí, ngay việc cơ quan CSMT là cơ quan có chức năng điều tra, xử lý vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường nhưng mãi đến Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính ngày 02/04/2008 mới quy định quyền xử lý vi phạm hành chính của cơ quan CSMT và đến ngày 27/2/2009 mới quy định quyền điều tra, khởi tố vụ án hình sự [khoản 3 Điều 1 Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự do Ủy ban Thường vụ Quốc Hội thông qua ngày 27/2/2009]

Tiếp đến, các mức xử phạt hành chính được quy định trong Nghị định 81/2006/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường là chưa đủ sức răn đe và chưa thỏa đáng. Chế tài xử lý hành chính không những đã thấp nhưng bên cạnh đó lại rất khó xử lý hình sự đối tượng vi phạm vì còn vướng mắc trong các quy định của pháp luật hiện hành về vấn đề này [21]. Điều đó làm giảm hiệu quả cũng như công năng xử lý vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường, công tác bảo vệ môi trường của lực lượng CSMT nói riêng, các cơ quan nhà nước về bảo vệ môi trường nói chung.

  • Hoạt động giám sát của cộng đồng

Cộng đồng không phải là một chủ thể cụ thể mà là tất cả các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong xã hội. Trong hoạt động giám sát việc ĐTM, cộng đồng là tất cả các thành phần của xã hội nơi thực hiện dự án (nơi diễn ra hoạt động ĐTM) –những chủ thể trực tiếp chịu ảnh hưởng từ các tác động về môi trường do hoạt động của dự án gây nên. Sự tham gia của cộng đồng vào quá trình ĐTM nói chung, thẩm định báo cáo ĐTM và kiểm tra, giám sát việc thực hiện nội dung báo cáo ĐTM nói riêng có ý nghĩa rất quan trọng. Nó góp phần làm tăng sự minh bạch của ĐTM, thu thập những thông tin chưa được công bố, khai thác kiến thức bản địa,…. Bên cạnh đó, cộng đồng dân cư nơi triển khai dự án là những người gánh chịu những tác hại về môi trường lớn nhất do các dự án này gây ra. Do đó, cộng đồng dân cư thường có động lực nội tại thực thi, giám sát việc tuân thủ pháp luật BVMT của các chủ thể có liên quan [20]. Xuất phát từ những ý nghĩa đó, pháp luật bảo vệ môi trường hiện nay đã có những quy định cụ thể, chi tiết hơn về sự tham gia của cộng đồng vào hoạt động đánh giá tác động môi trường so với quy định trước đây. Cụ thể tại khoản 6 Điều 21 Luật Bảo vệ môi trường 2005; khoản 4 Điều 1 Nghị định số 21/2008/NĐ-CP; mục 2 Phần II Thông tư 05/2008/TT-BTNMT… Luận văn: Thực trạng về thẩm định đánh giá tác động môi trường.

Về khái niệm “cộng đồng”, chưa được pháp luật BVMT quy định thật sự rõ ràng. Nếu hiểu theo quy định tại khoản 6 Điều 21 Luật Bảo vệ môi trường 2005, cộng đồng bao gồm “tổ chức, cộng đồng dân cư, cá nhân”. Nhưng nếu theo quy định tại mục 2 Phần II Thông tư 05/2008/TT-BTNMT thì cộng đồng chỉ bao gồm Ủy ban nhân dân và Ủy ban Mặt trận tổ quốc cấp xã. Trong Ủy ban Mặt trận tổ quốc cấp xã có các tổ chức thành viên như: Hội nông dân, Hội phụ nữ, Đoàn thanh niên… Vậy, các thành phần khác như: cá nhân, hộ gia đình, khu dân cư, tổ chức xã hội, các hiệp hội, tổ chức dân sự khác có là thành phần của cộng đồng hay không? Xét về bản chất, Ủy ban nhân dân cấp xã là cơ quan quản lý Nhà nhà nước, còn Ủy ban Mặt trận tổ quốc là cơ quan đại diện cho nhân dân. Có chuyên gia cho rằng, thông thường, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc là cơ quan đại diện cho nhân dân. Nhưng bản thân cơ quan này ít quan tâm đến lĩnh vực môi trường và hoạt động mang tính chất nhà nước nhiều hơn. Liệu tổ chức này có hoàn toàn phù hợp khi đại diện cho cộng đồng trong hội đồng thẩm định báo cáo ĐTM [38]. Tác giả hoàn toàn đồng ý với quan điểm này.

Theo quan điểm của tác giả, cộng đồng bao gồm các tổ chức (tổ chức xã hội dân sự: Hội, hiệp hội, tổ chức kinh tế…; tổ chức chính trị – xã hội và bao gồm cả cơ quan Nhà nước như Ủy ban nhân dân cấp xã, Hội đồng nhân dân…), cộng đồng dân cư (hộ gia đình, khu dân cư, tổ dân phố…) và cá nhân. Khi Luật Bảo vệ môi trường coi cộng đồng như một chủ thể có vai trò quan trọng trong công tác BVMT, các quyền năng, sức mạnh của cộng đồng là do quyền năng, sức mạnh của từng cá nhân, hộ gia đình, cơ quan, tổ chức là thành viên của cộng đồng mang lại. Chính vì vậy, công cụ giám sát thực thi pháp luật BVMT của cộng đồng chính là các công cụ mà pháp luật đã quy định cho các cá nhân, hộ gia đình, cơ quan, tổ chức trong đó phải kể đến quyền khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, khởi kiện [33, 34].

Giai đoạn thẩm định báo cáo ĐTM, sự tham gia của cộng đồng được thể hiện trong quy định tại khoản 6 Điều 21 Luật Bảo vệ môi trường 2005, cụ thể các tổ chức, cộng đồng dân cư, cá nhân có quyền gửi yêu cầu, kiến nghị về bảo vệ môi trường đến cơ quan tổ chức việc thẩm định quy định tại khoản 7 Điều này; cơ quan tổ chức thẩm định có trách nhiệm xem xét yêu cầu, kiến nghị đó trước khi đưa ra kết luận, quyết định. Căn cứ vào tính chất của dự án và điều kiện cụ thể của việc thẩm định, cơ quan tổ chức việc thẩm định quyết định mời đại diện của cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường cấp huyện, đại diện Ủy ban nhân dân cấp xã, đại diện Ủy ban Mặt trận Tổ quốc cấp xã nơi thực hiện dự án, đại diện của cơ quan quản lý nhà nước quản lý ngành, lĩnh vực có liên quan đến dự án và đại diện các tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp tham gia phiên họp chính thức của Hội đồng [6, khoản 1 Điều 20]. Mặc dù đã có quy định cụ thể về sự tham vấn của cộng đồng trong quá trình ĐTM, thẩm định báo cáo ĐTM và kiểm tra, giám sát thực hiện nội dung báo cáo ĐTM nhưng trên thực tế, sự tham gia của cộng đồng thường mang tính hình thức, không thực sự phát huy được ý nghĩa của nó. Tại các thành phố lớn như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, công tác này được thực hiện khá nghiêm chỉnh; ở các vùng sâu, vùng xa còn nghèo nàn, lạc hậu, hoặc dân trí thấp thì hoạt động này hầu như không diễn ra, hoặc có thì cũng chỉ mang tính hình thức [38].

Trong giai đoạn thi công xây dựng dự án, pháp luật bảo vệ môi trường không quy định cụ thể sự tham gia của cộng đồng vào việc giám sát việc tuân thủ các nội dung trong báo cáo ĐTM của chủ dự án mà quy định gián tiếp về vấn đề này. Cụ thể, tại điểm b khoản 1 Điều 23 Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 quy định chủ dự án có trách nhiệm niêm yết công khai tại địa điểm thực hiện dự án về các loại chất thải, công nghệ xử lý, thông số tiêu chuẩn về chất thải, các giải pháp bảo vệ môi trường để cộng đồng dân cư biết, kiểm tra, giám sát. Tại điểm b khoản 5 Điều 14 Nghị Định 80/2006/NĐ – CP cũng có quy định “…phòng tài nguyên và môi trường cấp huyện và cộng đồng dân cư nơi thực hiện dự án để bố trí kế hoạch giám sát, kiểm tra”. Như vậy, sự tham gia giám sát của cộng đồng trong giai đoạn này mang tính chất thụ động bởi lẽ pháp luật không quy định trực tiếp quyền cũng như có chế để cộng đồng thực hiện quyền của mình. Đại diện cộng đồng dân cư (Ủy ban nhân dân cấp xã, Ủy ban Mặt trận tổ quốc cấp xã) có thể được mời tham gia vào đoàn thanh tra, kiểm tra của cơ quan có thẩm quyền thực hiện việc kiểm tra. Còn các chủ thể khác như cá nhân, tổ chức xã hội dân sự thực hiện giám sát dưới hình thức là khi phát hiện thấy hành vi vi phạm của chủ dự án trong việc thực hiện các biện pháp giảm thiểu, các cam kết bảo vệ môi trường hay hoạt động xây dựng dự án gây ô nhiễm, suy thoái môi trường… thì các chủ thể này có quyền kiến nghị, khiếu nại hoặc tố cáo với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để xử lý. Luận văn: Thực trạng về thẩm định đánh giá tác động môi trường.

Trong giai đoạn dự án đi vào hoạt động, sự giám sát của cộng đồng thể hiện ở việc theo dõi các hoạt động của dự án để xem có gây ô nhiễm môi trường, suy thoái môi trường hay không (như hoạt động xử lý chất thải, xả nước thải của dự án trên thực tế,…) để từ đó có thông tin cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo những phương thức đã nêu. Cộng đồng dân cư có thể thành lập tổ chức tự quản về bảo vệ môi trường theo quy định tại Điều 54 Luật Bảo vệ môi trường năm 2005. Cũng theo quy định tại điểm đ khoản 1 của điều này, cộng đồng dân cư (tổ chức tự quản) có nhiệm vụ tham gia giám sát việc thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trường của cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ trên địa bàn. Từ đó, thông báo cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý theo luật định. Ủy ban nhân dân cấp xã vừa có chức năng là cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường và là một chủ thể đại diện cho cộng đồng có quyền hạn và trách nhiệm được quy định tại khoản 3 Điều 122 Luật Bảo vệ môi trường năm 2005. Mặt trận tổ quốc Việt Nam có trách nhiệm “giám sát việc thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trường” [33, khoản 1 Điều 124]. Cơ chế để cộng đồng dân cư nơi đặt dự án thực hiện các quyền này chủ yếu theo các quy định tại Điều 128 Luật BVMT năm 2005, các quy định của Luật khiếu nại tố cáo. Nếu chủ dự án có hành vi vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường gây ảnh hưởng – thiệt hại – trực tiếp cho mình thì cộng đồng có quyền khởi kiện đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền (Tòa án) để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Thực tế hiện nay, cơ chế để giải quyết các tranh chấp dân sự trong lĩnh vực môi trường giữa chủ dự án (bên gây thiệt hại) và cộng đồng dân cư (bên bị thiệt hại) chưa thực sự được quy định rõ ràng và hợp lý. Vì vậy, bên bị thiệt hại không bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của mình, gây bức xúc trong xã hội hiện nay.

Gần đây, tại một số tỉnh, Hội đồng nhân dân (cơ quan đại diện cho nhân dân) đã có chương trình và cơ chế giám sát hàng năm việc thực hiện bảo vệ môi trường đối với các chủ thể hoạt động phát triển. Chẳng hạn, Thường trực HĐND tỉnh Đồng Nai trong năm 2008 đã tiến hành giám sát và tái giám sát hàng chục khu công nghiệp[40]. Điều đó đã góp phần rất lớn tới hiệu quả của công tác bảo vệ môi trường tại địa phương.

Một trong những điểm hạn chế trong các quy định pháp luật của nước ta hiện nay là pháp luật quy định rời rạc, tản mạn và không cụ thể quyền giám sát của cộng đồng đối với vấn đề bảo vệ môi trường. Đặc biệt, bên cạnh đó, chưa quy định cơ chế (trình tự, thủ tục) giải quyết kiến nghị của người dân liên quan đến công tác bảo vệ môi trường. Đồng thời còn thiếu cơ chế xử phạt các chủ thể không tuân thủ việc giải quyết các yêu cầu, khiếu nại, kiến nghị của người dân. Do đó dẫn đến tình trạng căng thẳng trong dư luận xã hội một số địa phương trong thời gian vừa qua về vấn đề này.

  • Mối quan hệ phối hợp giữa các chủ thể có trách nhiệm và quyền kiểm tra, giám sát việc thực hiện nội dung báo cáo ĐTM.
  • Giữa cơ quan phê duyệt và cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường (và các cơ quan chuyên môn về BVMT trực thuộc). Luận văn: Thực trạng về thẩm định đánh giá tác động môi trường.

Mối quan hệ giữa cơ quan phê duyệt và cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường là mối quan hệ trực thuộc giữa cấp trên và cấp dưới theo ngành dọc. Ví dụ, cơ quan phê duyệt báo cáo ĐTM ở cấp tỉnh là Ủy ban nhân dân cấp tỉnh (Chủ tịch UBND), cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường (cơ quan chuyên môn) là Sở Tài nguyên và Môi trường. Cơ quan chuyên môn về môi trường trực thuộc cơ quan phê duyệt báo cáo ĐTM có chức năng giúp cơ quan phê duyệt báo cáo ĐTM thực hiện công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực bảo vệ môi trường. “Sở Tài nguyên và Môi trường giúp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường trên địa bàn cấp tỉnh quy định tại các điểm b, c, d, đ, e và g khoản 1 Điều 122 Luật Bảo vệ môi trường’’[16, khoản 1 Điều 6]. Cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường thực hiện chức năng của mình theo quy định của pháp luật và theo sự ủy quyền của cơ quan phê duyệt báo cáo ĐTM.

  • Giữa cơ quan phê duyệt, cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường với cơ quan Cảnh sát môi trường.

Đây là mối quan hệ phối hợp giữa hai cơ quan độc lập với nhau về mặt tổ chức. Cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường có chức năng quản lý nhà nước trong lĩnh vực bảo vệ môi trường còn cơ quan Cảnh sát môi trường có chức năng chủ yếu là tiến hành các biện pháp phòng ngừa, phát hiện, đấu tranh chống tội phạm và các vi phạm pháp luật khác về môi trường. Sau một thời gian triển khai hoạt động, lực lượng Cảnh sát môi trường đã chủ động xây dựng các kế hoạch công tác và phối hợp với các cơ quan chức năng (Bộ Tài nguyên và Môi trường, các Bộ/ngành hữu quan, UBND các tỉnh, thành phố…) phát hiện, xử lý nhiều vụ việc vi phạm pháp luật về BVMT, gây bức xúc trong dư luận. Thực hiện Chỉ thị số 24/2008/CT-TTg ngày 08/8/2008 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường công tác phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường nên ngày 06/02/2009 giữa hai hệ thống cơ quan này (đứng đầu là Bộ Công an và Bộ Tài nguyên và Môi trường) đã ban hành Thông tư liên tịch số 02/2009/TTLT-BCA-BTNMT ngày 06/02/2009 hướng dẫn quan hệ phối hợp công tác phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường. Thông tư đã đưa ra được nguyên tắc phối hợp hoạt động giữa hai cơ quan đồng thời hướng dẫn các nội dung phối hợp cụ thể như: Phối hợp trao đổi thông tin; thanh tra, xử lý vi phạm pháp luật về BVMT; đấu tranh, phòng chống tội phạm về môi trường; phối hợp hoạt động tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật… Đây là một bước tiến mới góp phần thực hiện có hiệu quả việc phối kết hợp giữa các cơ quan chức năng trong công tác bảo vệ môi trường.

  • Giữa cơ quan phê duyệt, cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường và cơ quan Cảnh sát môi trường với cộng đồng.

Cộng đồng mà đại diện là các tổ chức hữu quan (Ủy ban nhân dân cấp xã, Ủy ban Mặt trận tổ quốc cấp xã) tham gia cùng cơ quan nhà nước về bảo vệ môi trường thực hiện kiểm tra, giám sát việc thực hiện nội dung báo cáo ĐTM khi được mời. Hiện nay, pháp luật nước ta chưa có quy định cụ thể về cơ chế kiểm tra, giám sát của cộng đồng đối với công tác bảo vệ môi trường. Cơ chế phối hợp kiểm tra, giám sát giữa các chủ thể này chủ yếu thông qua các công cụ mà pháp luật đã quy định cho các cá nhân, hộ gia đình, cơ quan, tổ chức trong đó phải kể đến quyền khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, khởi kiện liên quan đến công tác bảo vệ môi trường [33, 34].

Kết luận chương 2: Luận văn: Thực trạng về thẩm định đánh giá tác động môi trường.

Quy định ĐTM của Việt Nam lần đầu tiên được luật hóa trong Luật BVMT năm 1993, và đến nay đã có những điều chỉnh đáng kể. Luật BVMT sửa đổi ban hành ngày 29/11/2005 đã dành riêng một chương quy định về công tác đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường và cam kết bảo vệ môi trường.

Sau khi Luật BVMT năm 2005 có hiệu lực, hệ thống văn bản pháp luật liên quan đến công tác lập và thẩm định ĐTM đã được ban hành. Các quy định về lập và thẩm định Báo cáo ĐTM được quy định cụ thể, chi tiết hơn so với trước đây. Đồng thời, Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 và các văn bản hướng dẫn thi hành quy định về vấn đề trách nhiệm thực hiện nội dung báo cáo ĐTM của các chủ thể và kiểm tra, giám sát việc thực hiện nội dung báo cáo ĐTM một cách khá cụ thể, chi tiết. Về thực thi trên thực tế, nhìn chung, công tác thẩm định báo cáo ĐTM đã được chú ý cải tiến nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả, rút ngắn thời gian thẩm định, phê duyệt; thực hiện phân cấp mạnh công tác thẩm định báo cáo ĐTM cho địa phương, các địa phương đã thực hiện thẩm định báo cáo ĐTM đối với nhiều loại hình dự án và quy mô dự án lớn hơn nhiều so với trước đây. Theo đánh giá của các chuyên gia, năng lực thẩm định báo cáo ĐTM đã được nâng cao đáng kể do có nhiều cán bộ được đào tạo, tập huấn ở trong nước và nước ngoài cũng như khả năng “học thông qua hành” từ thực tiễn công việc. Đến nay, lực lượng cán bộ này đã có thể tự đảm đương được việc tổ chức thẩm định các báo cáo ĐTM theo mức độ được phân cấp [25].

Tuy nhiên, mặc dù đã được Nhà nước quan tâm, sửa đổi, bổ sung và cải tiến liên tục theo thời gian từ khi Luật BVMT năm 1993 được ban hành nhưng đến nay, hoạt động ĐTM, thẩm định báo cáo ĐTM và kiểm tra, giám sát việc thực hiện nội dung báo cáo ĐTM trên thực tế còn nhiều điểm bất cập về mặt pháp quy cũng như việc thực thi các quy định pháp luật trên thực tế. Hoạt động ĐTM và việc kiểm tra, giám sát hoạt động ĐTM chưa đáp ứng được đòi hỏi của thực tiễn hiện nay.

Cụ thể như, một số Hội đồng thẩm định còn thẩm định sai quy định hoặc chất lượng thẩm định không cao, thậm chí không đáp ứng yêu cầu đặt ra, gây tình trạng ách tắc, kéo dài thủ tục thiết lập dự án và vận hành dự án. Tiếp đến, hoạt động kiểm tra, giám sát việc thực hiện nội dung báo cáo ĐTM trên thực tế còn nhiều điểm bất cập. Chủ dự án thường có tính đối phó trong việc thực hiện nghĩa vụ của mình. Nhiều trường hợp, chủ dự án không tuân thủ như đã cam kết; hoặc có thay đổi các nội dung của dự án nhưng không báo cáo với cơ quan có thẩm quyền phê duyệt; hoặc có trường hợp dự án đã đi vào vận hành thực tế nhưng chưa được cơ quan phê duyệt báo cáo ĐTM xác nhận đã hoàn thành các công trình xử lý môi trường. Bên cạnh đó, cơ quan có thẩm quyền phê duyệt báo cáo ĐTM không đủ các nguồn lực cần thiết, nhất là nhân lực để kiểm tra, giám sát việc thực hiện nội dung báo cáo ĐTM cũng như thiếu các hướng dẫn kỹ thuật cần thiết. Hệ quả là dự án gây ô nhiễm, suy thoái môi trường xảy ra khi vận hành trong thực tế, xảy ra nhiều kiếu kiện phải giải quyết làm mất thời gian, tiền của.

  • Qua quá trình nghiên cứu, tác giả nhận thấy một số nhược điểm và đồng thời cũng là nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên, cụ thể như sau:

Thứ nhất, các ngành, các cấp chính quyền chưa nhận thức đầy đủ và sâu sắc tầm quan trọng của nhiệm vụ bảo vệ môi trường trong quá trình phát triển kinh tế -xã hội; bên cạnh đó, nhận thức và ý thức chấp hành pháp luật về bảo vệ môi trường của một bộ phận dân cư, cơ quan, tổ chức còn thấp; có nơi chính quyền địa phương còn coi trọng lợi ích kinh tế cục bộ trước mắt mà xem nhẹ yêu cầu bảo vệ môi trường, chưa kịp thời chỉ đạo áp dụng các biện pháp cần thiết để bảo vệ môi trường và không kiên quyết xử lý nghiêm minh các vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường…

Thứ hai, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về môi trường nói chung, về thẩm định báo cáo ĐTM và kiểm tra, giám sát việc thực hiện báo cáo ĐTM đã bộc lộ nhiều bất cập, chưa theo kịp với yêu cầu thực tiễn, đòi hỏi phải sớm có những điều chỉnh, bổ sung kịp thời. Bên cạnh đó còn thiếu các cơ chế, chính sách liên quan trong lĩnh vực kiểm tra, giám sát thực hiện nội dung báo cáo ĐTM làm cơ sở để các cơ quan chức năng thực hiện nhiệm vụ quản lý cũng như các chủ thể có thẩm quyền thực hiện quyền và trách nhiệm của mình.

Thứ ba, năng lực thẩm định báo cáo ĐTM của các Bộ, ngành và địa phương còn nhiều bất cập nên chất lượng thẩm định chưa cao [26]. Đặc biệt, ở cấp tỉnh, đội ngũ cán bộ thẩm định ĐTM vẫn còn yếu và thiếu, chưa đáp ứng được yêu cầu của hoạt động thẩm định trong thực tiễn. Việc theo dõi, kiểm tra tình hình thực hiện báo cáo ĐTM và các yêu cầu của quyết định phê duyệt báo cáo ĐTM chưa được đặt ra một cách tích cực. Vì vậy, kết quả thực hiện báo cáo ĐTM chủ yếu dựa vào sự tự giác của chủ đầu tư.

Thứ tư, lực lượng cán bộ làm công tác kiểm tra, thanh tra, nhất là ở các địa phương còn mỏng, năng lực lại hạn chế, chưa được trang bị đầy đủ các trang thiết bị, phương tiện cần thiết và chưa được bố trí kinh phí tương xứng để hoạt động. Hoạt động kiểm tra, thanh tra triển khai chưa thường xuyên; các vi phạm pháp luật về BVMT chưa được xử lý kịp thời và việc tổ chức cưỡng chế thi hành còn nhiều bất cập.

Thứ năm, hệ thống quan trắc và phân tích môi trường mặc dù đã được tăng cường trong thời gian gần đây song vẫn chưa đáp ứng được đòi hỏi của thực tiễn. Trong khi đó, vốn đầu tư xây dựng cơ bản chưa thỏa đáng cho xây dựng kết cấu hạ tầng về BVMT nói chung và hệ thống quan trắc môi trường nói riêng.

Thứ sáu, công tác truyền thông về môi trường cho các hộ gia đình, người dân (nhất là đồng bào dân tộc các vùng sâu, vùng xa) còn hạn chế, nhiều trường hợp còn chưa thật hiệu quả…

Những nguyên nhân này là cơ sở để đưa ra phương hướng và các giải pháp khắc phục và hoàn thiện các quy định về thẩm định báo cáo ĐTM, kiểm tra, giám sát việc thực hiện nội dung báo cáo ĐTM nói riêng, pháp luât về ĐTM nói chung. Đồng thời, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về vấn đề này trên thực tế. Những phương hướng và giải pháp cụ thể sẽ được tác giả đề cập trong chương tiếp theo. Luận văn: Thực trạng về thẩm định đánh giá tác động môi trường.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:  

===>>> Luận văn: Giải pháp về thẩm định đánh giá tác động môi trường

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464