Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Thực trạng pháp luật giới hạn đầu tư vốn tại ngân hàng hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Thực trạng áp dụng quy định pháp luật về giới hạn đầu tư vốn tại ngân hàng thương mại và một số kiến nghị dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
2.1 Đánh giá việc áp dụng quy định pháp luật về giới hạn đầu tư vốn trong thời gian qua
2.1.1 Hiệu quả của áp dụng quy định pháp luật về giới hạn đầu tư vốn
Các quy định của pháp luật về giới hạn đầu tư vốn đối với NHTM đã mang lại hành lang pháp lý vững chắc cho hoạt động đầu tư vốn của NHTM. Đây là cơ sở pháp lý giúp NHTM có chiến lược đầu tư kinh doanh mang lại hiệu quả cao.
Luật TCTD 2010 ra đời giúp các NHTM tuân thủ tốt các giới hạn về tỷ lệ đầu tư vốn. Nội dung liên quan đến đầu tư góp vốn, mua cổ phần, đầu tư trái phiếu và mua nắm giữ cổ phiếu của các TCTD khác, các quy định cũng nói đến các giới hạn tỷ lệ trong quá trình đầu tư vốn. Trên cơ sở Luật TCTD 2010, NHNN, bộ tài chính ban hành các thông tư hướng dẫn liên quan đến hoạt động của NHTM trong quá trình thực hiện đầu tư vốn. Chẳng hạn, Luật TCTD 2010 quy định NHTM chỉ được dùng vốn điều lệ và quỹ dự trữ để góp vốn, mua cổ phần giúp các NHTM tách bạch các nguồn vốn, để phòng ngừa việc các NHTM sử dụng không hiệu quả tài sản của chính NHTM.
Thông tư 36/2014/TT-NHNN và Thông tư 06/2015/TT-NHNN quy định một số hạn mức về giới hạn góp vốn, mua cổ phần của NHTM, Công ty tài chính, góp vốn, mua cổ phần giữa các Công ty con, Công ty liên kết, Công ty kiểm soát của NHTM, Công ty tài chính và việc NHTM mua, nắm giữ cổ phiếu của tổ chức tín dụng khác, tỷ lệ NHTM CP và NHTM NN được sử dụng vốn trên tổng vốn ngắn hạn để đầu tư TPCP.
Thông tư 22/2016/TT-NHNN quy định về việc NHTM mua TPDN đây là những quy định cơ bản giúp các NHTM có được những định hướng pháp lý để NHTM xây dựng phương hướng kinh doanh phù hợp với tình hình thực tế của thị trường và của chính các TCTD để giúp các NHTM có chiến lược kinh doanh hiệu quả, chính xác và đặc biệt tuân thủ tốt các quy định của pháp luật về các tỷ lệ đầu tư vốn. Một số điểm nổi bật liên quan đến quy định các tỷ lệ giới hạn đầu tư vốn.
Thứ nhất: Luật tổ chức tín dụng 2010 quy định rõ từng ngành nghề khác nhau thì NHTM phải lập các Công ty con, Công ty liên kết hay trường hợp NHTM được lập Công ty con, Công ty liên kết và những ngành nghề NHTM chỉ được góp vốn mua cổ phần, điều này giúp các NHTM không lập các Công ty con, Công ty liên kết đầu tư tràn lan trên nhiều ngành nghề, lĩnh vực dẫn đến không hiệu quả trong hoạt động kinh doanh. Ví dụ, góp vốn, mua cổ phần thành lập Công ty con tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam, các Công ty dưới đây đều thành lập đúng theo quy định tại Điều 103 Luật TCTD 2010:
Dựa trên các quy định của pháp luật hiện hành về đầu tư góp vốn, mua cổ phần các NHTM đã tiến hành tạo lập các Công ty con, Công ty liên kết sau. Luận văn: Thực trạng pháp luật giới hạn đầu tư vốn tại ngân hàng.
Theo thống kê tổng hợp tại phụ lục 1: Trong 10 NHTM thì đã có 9 NHTM có góp vốn đầu tư cổ phần vào các Công ty con, Công ty liên kết , chỉ có Pvcombank là không đầu tư góp vốn cổ phẩn vào các công ty. Trong đó nhiều nhất là NH Vietinbank với 8 Công ty con và 01 Công ty liên kết, Vietcombank có 5 Công ty con và 4 Công ty liên kết, BIDV có 6 Công ty con và 3 Công ty liên kết. Trong các Công ty con thì các NHTM đầu tư vào Công ty quản lý tài sản (AMC) chiếm phần lớn (8/10) NHTM có vốn đầu tư vào các loại hình Công ty này, 8/10 NHTM đầu tư vào Công ty chứng khoán, 4/10 NHTM đầu tư vào Công ty quản lý quỹ, 5/10 NHTM đầu tư vào Công ty cho thuê tài chính. Nhìn danh mục đầu tư vốn vào Công ty con của các NHTM ta thấy hầu hết các Công ty con đều hoạt động có liên quan đến NH, đặc biệt là các công ty hoạt động trên lĩnh vực quản lý tài sản và chứng khoán, các Công ty con này ở nhiều góc độ khác nhau đều có thể bổ trợ cho các NHTM hoạt động mạnh và có lợi thế hơn trong các hoạt động của NHTM.
Công ty quản lý tài sản và chứng khoán được các NHTM đầu tư, thành lập hầu như là toàn bộ, điều này cho thấy tầm quan trọng của 02 loại hình Công ty này. Các NHTM có khối lượng tài sản rất lớn, và phân bổ ở nhiều khía cạnh, liên quan đến nhiều danh mục, nên để giúp các NH quản lý tốt tài sản, thì các NHTM thường lập ra các Công ty quản lý tài sản để kiểm soát được tốt tài sản cho các NHTM. Hiện nay, để phù hợp với xu thế và đa dạng hóa các doanh mục kinh doanh, hầu hết các NH đều có các Công ty chứng khoán, đây là điều kiện rất tốt để các NH phát huy thế mạnh của chính NH mình. Các NHTM sẽ bổ trợ cho các Công ty chứng khoán phát huy tốt thế mạnh trong hoạt động kinh doanh.
Còn ở lĩnh vực đầu tư Công ty liên kết tổng hợp tại phụ lục 2, 10 NHTM có vốn điều lệ lớn nhất, tuy có đầu tư, nhưng nhìn chung không lớn, nhiều nhất là ngân hàng Vietcombank với 04 Công ty, BIDV với số lượng là 4 Công ty, trong đó ngân hàng BIDV liên doanh, hợp tác chủ yếu trên lĩnh vực NH, quản lý quỹ và chứng khoán. Ngân hàng SCB cũng đầu tư vào 4 Công ty liên doanh, liên kết, trong đó Công ty quản lý quỹ chiếm 2 Công ty và nhìn chung lĩnh vực quản lý quỹ và chứng khoán chiếm tỷ lệ cao trong các danh mục đầu tư của các NHTM. Trong các NHTM thì EIB, MBB, SHB, Techcombank không có đầu tư vào Công ty liên kết.
Nhìn vào phụ lục 1 và phụ lục 2 ta thấy việc đầu tư của NHTM trong 2 lĩnh vực Công ty con và Công ty liên kết thì các NHTM chú trọng vào việc đầu tư vào các Công ty con hơn là các Công ty liên kết.
Các quy định của pháp luật hiện nay như: Luật TCTD 2010, Thông tư 36/2014/TT-NHNN, Thông tư 06/2015/TT-NHNN… vẫn điều chỉnh tốt hoạt động đầu tư vốn và kiểm soát NHTM tuân thủ các quy định của pháp luật về góp vốn mua cổ phần, định hướng cho các NHTM trong việc thành lập các Công ty. Chẳng hạn các NHTM đã phải thành lập một số Công ty hoạt động tại các quy định tại Khoản 2, Điều 103 Luật TCTD 2010. Tại ngân hàng Vietinbank: Có Công ty cổ phần chứng khoán NHCT Việt Nam, Công ty TNHH MTV bảo hiểm NH TMCP Vietinbank; Ngân hàng BIBV: có Công ty cổ phần chứng khoán NH đầu tư và phát triển Việt Nam, Công ty TNHH MTV cho Thuê tài chính BIDV (BLC)…
Thứ hai: Luật TCTD 2010 quy định rõ về tỷ lệ tối đa sở hữu của cá nhân, tổ chức, tổ chức và người liên quan đối với một tổ chức tín dụng, các NHTM phần lớn đã thực hiện nghiêm theo các quy định về việc NHTM sở hữu cổ phiếu các TCTD khác. Thông tư 36/2014/TT-NHNN quy định rõ hơn các chế tài đối với việc sở hữu vượt các tỷ lệ cho phép, trên cơ sở đó các NHTM nghiêm túc thực hiện tái cơ cấu để giảm việc sở hữu lẫn nhau giữa các NHTM, tạo nên môi trường kinh doanh lành mạnh, minh bạch. Về cơ bản thì các NHTM đã thực hiện đúng tỷ lệ về sở hữu giữa các TCTD. Theo Khoản 6, Điều 26 Thông tư 36/2014/TT – NHNN cũng đã có quy định chuyển tiếp đối với những trường hợp các NHTM không giải quyết được vấn đề vượt trần sở hữu. Tại ngân hàng Saigonbank “có 02 NHTM cổ phần sở hữu là NHTM Vietinbank với tỷ lệ là 4.91% và NHTM Vietcombabk với tỷ lệ là 4.37%”, “Ngân hàng thương mại cổ phần Hàng Hải Việt Nam đã sở hữu 4.91% cổ phần của NHTM cổ phần quân đội‟.
Không những các NHTM tuân thủ các quy định về tỷ lệ sở hữu cổ phần tại các TCTD, mà các tổ chức kinh tế khác cũng tái cơ cấu để thực hiện đúng quy định của pháp luật. Tại tập đoàn Masan, trước thời điểm 30/12/2015 đã sở hữu vượt tỷ lệ cho phép tại NH Techcombank, ngày 30/12/2015, Công ty Cổ phần Tập đoàn Masan đã hoàn thành chuyển nhượng 39.985.283 cổ phần, tương đương 4,5% vốn điều lệ của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Kỹ thương Việt Nam – Techcombank. Sau khi chuyển nhượng, tỷ lệ sở hữu của Công ty Cổ phần Tập đoàn Masan tại Techcombank giảm xuống bằng 15% vốn điều lệ của NH đảm bảo tỷ lệ sở hữu của một cổ đông lớn là tổ chức không vượt giới hạn sở hữu tối đa 15% đúng theo quy định của Luật các tổ chức tín dụng 2010. Luận văn: Thực trạng pháp luật giới hạn đầu tư vốn tại ngân hàng.
Luật TCTD 2010 và Thông tư 36/2014/TT-NHNN đã định hướng cho các NHTM và tổ chức kinh tế thực hiện tái cơ cấu nhằm sở hữu đúng tỷ lệ theo quy định của pháp luật.
Các quy định của pháp luật hiện nay đã góp phần phát huy tác dụng, giúp NHNN làm tốt công tác giám sát và xử lý đối với hoạt động của NHTM. Tuy nhiên pháp luật hiện hành vẫn chưa thể điều chỉnh tốt các hoạt động đầu tư vốn của các NHTM vào các lĩnh vực, ngành nghề khác nhau và giải quyết triệt vấn đề liên quan đến sở hữu vượt cổ phần. Do đó tác giả nhận thấy cần làm rõ thêm một số nội dung trong việc đầu tư vốn của các NHTM.
2.1.2 Hạn chế của quy định pháp luật về giới hạn đầu tư vốn
Nhìn chung các NHTM áp dụng các quy định của pháp luật về giới hạn đầu tư tương đối hiệu quả và tuân thủ chặt chẽ, tuy nhiên vẫn có những quy định về tỷ lệ các giới hạn đầu tư của NHTM vẫn chưa đáp ứng được, đăc biệt là vấn đề sở hữu lẫn nhau giữa các NHTM và các TCTD. Đây là vấn đề rất cấp thiết và NHNN đã có những văn bản hướng dẫn xử lý nhưng các NHTM vẫn chưa thực hiện đúng.
Thứ nhất: Một trong những nội dung quan trọng của Thông tư 36/2014/TT- NHNN là nhằm giảm tình trạng sở hữu lẫn nhau giữa các NHTM. Thông tư 36 quy định: Một NHTM chỉ được nắm giữ cổ phiếu của tối đa không quá 02 TCTD và lượng cổ phần nắm giữ tối đa không quá 5% vốn cổ phần có quyền biểu quyết. Theo Thông tư 36/2014/TT-NHNN thì lộ trình phải hoàn thành trước ngày 01/02/2016. Tuy vậy hiện nay tình trạng sở hữu giữa các NHTM vẫn còn tồn tại.
Hiện tại NHTM CP Ngoại thương việt nam (Vietcombank) đang nắm giữ cổ phần của các NHTM: 7.04% NHTM CP Quân Đội (MB), 8.24% NHTM CP xuất nhập khẩu việt nam, 4.72 NHTM CP Phương Đông (OCB), 4.37% NHTM CP Sài gòn công thương (Saigonbank). Vậy VCB hiện đang sở hữu vượt số lượng các TCTD được nắm giữ là 2/4 TCTD, VCB cũng sở hữu vượt tỷ lệ mà Thông tư 36/2014/TT-NHNN cho phép là 5% (7.04% MB, 8.24% EIB) và VCB vẫn chưa khắc phục được tình trạng sở hữu này theo quy định của pháp luật.
Tại NH Xuất nhập khẩu việt nam (EIB) thì NH này hiện đang nắm giữ cổ phần 9.16% của STB đây là tỷ lệ vượt quá tỷ lệ cho phép của Thông tư 36/2014/TT-NHNN. Luận văn: Thực trạng pháp luật giới hạn đầu tư vốn tại ngân hàng.
Còn NH Vietinbank tại báo cáo tài chính năm 2015 thì vẫn sở hữu 5.48% cổ phần của Saigonbank, nhưng trong quý 2/2016 đã bán bớt cổ phần để giảm xuống còn 4.91% nhằm đáp ứng đúng quy định của Thông tư 36/2014/TT-NHNN.
Tình hình sở hữu vượt quy định về số lượng cũng như tỷ lệ phần trăm nắm giữ vẫn còn tồn tại ở các NHTM gây khó khăn cho công tác quản lý và hoạt động hiệu quả của chính các NHTM. Pháp luật hiện hành thiếu các quy định về xử lý sở hữu vượt cổ phần.
Thứ hai: Tại Điều 55 luật TCTD 2010 đã quy định về tỷ lệ sở hữu cổ phần tại các NHTM, nhưng vấn đề sở hữu vượt cổ phần vẫn còn tồn tại ở nhiều NH. Để dẫn đến tình trạng hiện nay các NHTM chưa khắc phục được việc các tổ chức cá nhân sở hữu vượt cổ phần cũng xuất phát từ một số nguyên nhân: Sở hữu cổ phần vượt trần được các NH lý giải là chuyện lịch sử để lại, bởi các cá nhân đều góp vốn trước thời điểm luật các tổ chức tín dụng năm 2010 có hiệu lực từ 01/01/2011 và theo Khoản 5, Điều 161 luật TCTD 2010, NHNN phải có hướng dẫn cụ thể thời hạn, trình tự, thủ tục chuyển tiếp với các tổ chức tín dụng để thực hiện quy định về tỷ lệ sở hữu cổ phần, nhưng NHNN chậm ban hành các văn bản hướng dẫn về vấn đề này khiến các NH không chịu sức ép và chưa có động lực để giảm tỷ lệ sở hữu vượt trần, bên cạnh đó các NHTM cũng khó tìm được người chuyển nhượng cổ phần.
Sau khi luật TCTD 2010 có hiệu lực thì NHNN ban hành Thông tư 36/2014/TT-NHNN có hiệu lực từ ngày 01/02/2015, tức là khoảng 4 năm sau khi luật TCTD 2010 có hiệu lực. NHNN mới ban hành thông tư hướng dẫn có quy định về NHTM mua cổ phiếu của các TCTD khác và chế tài đối với các cổ đông sở hữu vượt cổ phần tại các TCTD. Thông tư 06/2015/TT-NHNN của NHNN ban hành ngày 01/6/2015 quy định thời hạn, trình tự, thủ tục chuyển tiếp đối với trường hợp sở hữu cổ phần vượt giới hạn quy định tại Điều 55 Luật TCTD 2010 có hiệu lực 15/7/2015.
Tiếp đó NHNN ban hành Thông tư 06/2016/TT-NHNN có hiệu lực 01/7/2016 sửa đổi Thông tư 36/2014/TT-NHNN quy định chuyển tiếp về chế tài xử lý các trường hợp sở hữu vượt cổ phần tại các NHTM. Do đó chúng ta thấy việc chậm trễ trong ban hành các văn bản hướng dẫn gây khó khăn cho các NHTM trong việc xử lý tình trạng sở hữu vượt cổ phần. Bên cạnh đó, các thông tư NHNN ban hành chủ yếu mang tính chất chế tài chưa có hướng dẫn cụ thể chi tiết các NHTM về việc xử lý số cổ phần sở hữu vượt các tỷ lệ cho phép. Các NHTM phải tự xây dựng kế hoạch, biện pháp và lộ trình khắc phục việc sở hữu cổ phần vượt giới hạn. Điều này cũng gây khó khăn nhất định cho các NHTM, tổ chức cá nhân trong việc thoái vốn số cổ phần này.
Thứ ba: Theo Luật TCTD 2010 quy định “Cổ đông là cá nhân, cổ đông là tổ chức có người đại diện là thành viên Hội đồng quản trị, thành viên Ban kiểm soát, Tổng giám đốc (Giám đốc) của tổ chức tín dụng không được chuyển nhượng cổ phần của mình trong thời gian đảm nhiệm chức vụ”, điều này gây khó khăn cho trường hợp cổ đông là cá nhân hoặc cổ đông có người đại diện là thành viên HĐQT, Ban kiểm soát, Tổng giám đốc của TCTD hiện đang sở hữu vượt cổ phần quy định nhưng không thể chuyển nhượng cho tổ chức cá nhân khác, NHNN cần ban hành thông tư hướng dẫn xử lý việc các NHTM sở hữu vượt tỷ lệ cho phép của Luật TCTD 2010 và Thông tư 36/2014/TT-NHNN. Trong thông tư hướng dẫn phải quy định về thời hạn xử lý, biện pháp xử lý, nguyên tác chuyển nhượng số cổ phần sở hữu vượt tỷ lệ và cho các đối tượng quy định tại Khoản 1, Điều 56 luật TCTD 2010 được phép chuyển nhượng số cổ phần sở hữu vượt giới hạn.
2.2 Một số vấn đề vướng mắc trong quá trình áp dụng quy định giới hạn đầu tư vốn tại ngân hàng thương mại ở Việt nam Luận văn: Thực trạng pháp luật giới hạn đầu tư vốn tại ngân hàng.
Hiện luật đã có những quy định nhằm điều chỉnh các hoạt động đầu tư vốn của các NHTM, các quy định đã đưa ra được những điều kiện, giới hạn khác nhau khi NHTM muốn đầu tư vào các ngành nghề, lĩnh vực giúp NHNN thuận lợi trong việc giám sát quá trình đầu tư vốn. Tuy nhiên trong quá trình áp dụng các quy định của pháp luật về giới hạn đầu tư vốn vẫn có nhiều nội dung mà pháp luật hiện hành chưa làm rõ, gây nên những khó khăn nhất định và những hạn chế vướng mắc được bộc lộ sau khi các NHTM áp dụng vào quá trình hoạt động kinh doanh của mình.
2.2.1 Vướng mắc về nội dung đầu tư vốn của ngân hàng thương mại
Trước hết Luật cần làm rõ những nội dung về hoạt động đầu tư vốn của NHTM. Hiện này chưa có một văn bản nào quy định tổng thể về hoạt động đầu tư vốn của các NHTM. Những quy định được thể hiện trong Luật TCTD 2010, Luật Đầu tư 2014, Luật Doanh nghiệp 2014 hay các thông tư hướng dẫn của NHNN chỉ thể hiện trên những ngành nghề, hình thức nhất định, chưa có nội dụng quy định chung về hoạt động đầu tư vốn của các NHTM.
Trong tình hình hoạt động của các NH hiện nay, quy định tổng thể nội dung về hoạt động đầu tư vốn của các NHTM là rất cần thiết. Bởi vì trên cơ sở đó, mới có những tỷ lệ giới hạn điều kiện trong từng hoạt động đầu tư vốn của NHTM, đưa ra được những giới hạn chung về nguồn vốn đầu tư, tỷ lệ nguồn vốn đầu tư, các lĩnh vực được đầu tư khi NHNN xây dựng được những quy định đó, công tác quản lý sẽ tạo thành một cơ chế chuẩn mực và các NHTM chủ động thực hiện trên những tiêu chí đó, tạo hành lang pháp lý linh hoạt cho các NHTM. Luận văn: Thực trạng pháp luật giới hạn đầu tư vốn tại ngân hàng.
“Luật TCTD và Luật NHNN Việt Nam năm 2010 thiết kế khái niệm hoạt động ngân hàng theo phương pháp liệt kê theo ba nội dung chính của hoạt động ngân hàng: “hoạt động ngân hàng” là việc kinh doanh, cung cấp thường xuyên một hoặc một số các nghiệp vụ sau đây: Nhận tiền gửi, cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản”. Ngoài ra theo luật thương mại Trung Hoa ngày 10/5/1995 cũng liệt kê các nội dung hoạt động kinh doanh của NHTM bao gồm: Nhận tiền gửi, cấp các khoản vay ngắn, trung, dài hạn.
Chúng ta cần phân biệt “hoạt động ngân hàng” là những hoạt động được Luật TCTD 2010 quy định cụ thể và chỉ được thực hiện bởi các NHTM. Còn các hoạt động kinh doanh khác của NHTM không chỉ được thực hiện bởi các NHTM mà còn được thực hiện bởi các tổ chức khác. Chẳng hạn như đầu tư góp vốn mua cổ phần các DN khác, hoạt động này của NHTM khác xa với các DN thông thường, hoạt động của NHTM luôn bị điều chỉnh chặt chẽ bởi các quy định của pháp luật. Luật TCTD 2010 tuy có quy định các hoạt động của NHTM như: góp vốn, mua cổ phần, mua bán TPCP, TPDN, tư vấn tài chính DN, tư vấn mua, bán, hợp nhất, sáp nhập DN. Nhưng luật TCTD vẫn chưa quy định nội dung chung cho hoạt động đầu tư vốn.
Các lĩnh vực hoạt động của NHTM có nhiều hình thức kinh doanh giống như hoạt động của một ngân hàng đầu tư, như bảo lãnh chứng khoán, tư vấn hợp nhất, sát nhập DN.
Ngân hàng đầu tư (tiếng Anh: investment bank) được hiểu theo quan điểm truyền thống là một chủ thể trung gian thực hiện chức năng chính là tư vấn và huy động vốn cho khách hàng, mà khách hàng ở đây là các DN và bao gồm chính phủ các nước.
Theo trang www.investopedia.com có thể tạm dịch: Ngân hàng đầu tư là một bộ phận cụ thể của ngân hàng liên quan đến việc tìm vốn cho các công ty, chính phủ và các tổ chức khác. Ngân hàng đầu tư bảo lãnh nợ và chứng khoán vốn cho tất cả các tập đoàn, hỗ trợ trong việc bán chứng khoán, tư vấn để sáp nhập, mua lại, tái tổ chức và các ngành nghề môi giới cho cả tổ chức và các nhà đầu tư tư nhân. Ngân hàng đầu tư cũng hướng dẫn các tổ chức phát hành liên quan đến vấn đề, vị trí của chứng khoán.
Ta cũng dễ nhận thấy khách hàng của các Ngân hàng đầu tư chủ yếu là các Công ty, tổ chức và chính phủ, rất ít các khách hàng cá nhân.
Nếu như các hoạt động của ngân hàng đầu tư có danh mục tương đối rõ ràng trong hoạt động đầu tư của mình. Thì nội dung của hoạt động đầu tư vốn của NHTM chưa được quy định rõ là những hoạt động đầu tư nào, cần thiết phải luật hoá các nội dung của hoạt động đầu tư vốn của NHTM.
Các NHTM hiện nay tuy vẫn tiến hành các hoạt động đầu tư trên các lĩnh vực, ngành nghề khác nhau nhưng các hoạt động đó chủ yếu là các hoạt động riêng lẽ, chưa có một quy định hay định nghĩa nào về hoạt động đầu tư của các NHTM.
Theo Khoản 5 Điều 3 Luật Đầu tư 2014 thì “đầu tư kinh doanh là việc nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư để thực hiện hoạt động kinh doanh thông qua việc thành lập tổ chức kinh tế; đầu tư góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp của tổ chức kinh tế; đầu tư theo hình thức hợp đồng hoặc thực hiện dự án đầu tư”. Luận văn: Thực trạng pháp luật giới hạn đầu tư vốn tại ngân hàng.
Trong khi đó, theo quy định tại mục 2 chương IV các hoạt động của tổ chức tín dụng tại Luật TCTD 2010 đưa ra các quy định cụ thể về một số hình thức đầu tư của NHTM mà chưa có quy định bao quát về hoạt động đầu tư của NHTM. Các quy định tại Luật TCTD 2010 và các văn bản hướng dẫn đều chưa đưa ra các quy định cụ thể về các hình thức đầu tư của NHTM. Căn cứ vào các quy định có thể thấy NHTM được tiến hành các hoạt động đầu tư trực tiếp (theo Điều 107 Luật các TCTD) hoặc gián tiếp (thông qua Công ty con, Công ty liên kết) thực hiện các nghiệp vụ ngân hàng đầu tư (Điều 103).
Chỉ có hình thức góp vốn, mua cổ phần được quy định khá cơ bản trong điều 103 luật TCTD 2010, trong đó có quy định về tỷ lệ vốn đầu tư, nguồn vốn đầu tư và giới hạn lĩnh vực, hạn mức đầu tư khi các NHTM tiến hành hoạt động kinh doanh. Đây chỉ là một trong các hình thức được quy định trong hoạt động đầu tư vốn của NHTM. Ngoài ra còn có các hoạt động đầu tư trái phiếu, mua bán cổ phiếu của các TCTD khác luật vẫn chưa quy định rõ. Quy định tại Điều 103 Luật TCTD 2010 giúp ta thấy được các NHTM thực hiện các hoạt động ngân hàng đầu tư thông qua Công ty con, Công ty liên kết.
Tuy nhiên để hoạt động đầu tư vốn đi vào chuyên nghiệp, có sự quản lý tốt của NHNN, cần phải có quy định chung về hình thức, tỷ lệ đầu tư vốn, đây là nội dung để các NHTM xây dựng chiến lược kinh doanh đạt hiệu quả.
Pháp luật hiện hành đã quy định hạn mức tối đa mà các NHTM sử dụng nguồn vốn chủ sở hữu và các quỹ dự trữ để đầu tư góp vốn, mua cổ phần. Quy định hạn mức các DN được nhận góp vốn, mua cổ phần theo quy định tại Khoản 4 Điều 103 Luật TCTD 2010. Trong khi đó theo Điều 20 Thông tư 36/2014/TT-NHNN cũng đã quy định tỷ lệ các NHTM được nắm cổ phiếu có quyền biểu quyết đối với các TCTD khác, đây đều là những quy định mang tính chất riêng lẽ, chưa có quy định chung về hoạt động đầu tư vốn của NHTM.
Pháp luật hiện hành phải có các quy định chung về hoạt động đầu tư vốn của NHTM, các hình thức đầu tư, làm rõ nội hàm của hoạt động đầu tư vốn của NHTM. Để tách bạch hoạt động truyền thống của NH với chức năng kinh doanh tiền tệ, tài chính của chính các NHTM, đồng thời phải đặt ra các điều kiện cụ thể đối với các hình thức đầu tư của các NHTM.
2.2.2 Vướng mắc trong xác định giới hạn tổng mức nguồn vốn được sử dụng để đầu tư Luận văn: Thực trạng pháp luật giới hạn đầu tư vốn tại ngân hàng.
Hiện nay luật chỉ quy định về tỷ lệ vốn đối với các hình thức riêng lẻ mà các NHTM dùng để tiến hành các hoạt động đầu tư vốn đối với một số hình thức đầu tư, thành lập các tổ chức kinh tế khác, mua TPCP, TPDN. Theo đó, một số hình thức NHTM chỉ được dùng nguồn vốn chủ sở hữu và các quỹ dự trữ để thành lập, mua lại Công ty con, Công ty liên kết và góp vốn, mua cổ phần tại các lĩnh vực mà pháp luật quy định. Hạn mức tối đa mà các NHTM sử dụng nguồn vốn chủ sở hữu và các quỹ dự trữ để đầu tư là 40% (Điều 129 Luật các TCTD 2010) là chưa đầy đủ với hoạt động đầu tư vốn của các NHTM. Việc góp vốn, mua cổ phần vào các tổ chức kinh tế khác cũng được giới hạn là 11% vốn điều lệ của tổ chức được góp vốn, còn việc nắm giữ cổ phiếu của TCTD khác cũng không quá 5% cổ phần có quyền biểu quyết. Cần có quy định về giới hạn tổng mức nguồn vốn của NHTM được sử dụng trong việc thực hiện các hoạt động đầu tư chung cho các lĩnh vực, hình thức của NHTM, quy định tại điều 129 Luật TCTD 2010 chỉ mang tính đơn lẻ trong từng hình thức đầu tư, chưa nói lên được tính bao quát chung cho hoạt động đầu tư vốn của NHTM.
Các quy định của pháp luật liên quan đến đầu tư vốn của NHTM chưa có quy định giới hạn về tổng mức nguồn vốn được đầu tư. Các quy định hiện nay chỉ tập trung hạn chế tỷ lệ vốn của các NHTM đầu tư thông qua hình thức thành lập tổ chức kinh tế, góp vốn mua cổ phần, đầu tư TPCP mà chưa có một tỷ lệ cụ thể về tổng mức đầu tư vốn chung của NHTM.
Hoạt động đầu tư của các NHTM không chỉ dừng lại ở việc thành lập các công con, Công ty liên kết để kinh doanh các lĩnh vực tài chính tiền tệ như: Bảo hiểm, chứng khoán, vàng hoặc góp vốn, mua cổ phần của các DN khác. Rộng ra nữa là NHTM còn có thể tiến hành các hoạt động đầu tư thông qua các dự án hợp tác đầu tư, các hợp đồng đầu tư.
Đó là chưa tính đến hoạt động mua TPDN, TPCP và mua cổ phiếu của các TCTD khác, mặc dù là một hoạt động cấp tín dụng thuộc nghiệp vụ của NH nhưng là một hình thức mang tính chất đầu tư. Bởi lẽ, có nhiều loại trái phiếu có thể được chuyển đổi thì chính NHTM đang nắm giữ trái phiếu sẽ trở thành cổ đông góp vốn của tổ chức phát hành trái phiếu. Đây là một hình thức đầu tư góp vốn, mua cổ phần theo quy định của pháp luật.
Theo quy định tại Thông tư 06/2016/TT/NHNN thì các NHTM được sử dụng nguồn vốn ngắn hạn để đầu tư TPCP với tỷ lệ là 25% đối với NHTM NN và 35% đối với NHTM CP. NHTM đầu tư nắm giữ cổ phiếu của TCTD khác quy định tại Điều 20 Thông tư 36/2014/TT-NHNN không quá 5% vốn cổ phần có quyền biểu quyết của TCTD đó, đây chỉ là quy định riêng lẽ cho một trong những hình thức đầu tư.
Chính vì vậy, cùng với việc chưa quy định cụ thể nội dung về hoạt động đầu tư và các hình thức đầu tư cụ thể của các NHTM thì việc quy định về tổng mức nguồn vốn để đầu tư của các NHTM cũng chưa được quy định một cách đầy đủ và phù hợp. Đây là một hạn chế mà trong quá trình hoàn thiện quy định của pháp luật nhằm tạo hành lang pháp lý an toàn cho hoạt động đầu tư của các NHTM phải được khắc phục. Luận văn: Thực trạng pháp luật giới hạn đầu tư vốn tại ngân hàng.
2.2.3 Về cơ chế giám sát đối với dòng tiền của ngân hàng thương mại khi đầu tư vào các trái phiếu doanh nghiệp
Hiện nay để huy động vốn phục vụ sản xuất kinh doanh thì các DN có nhiều hình thức huy động vốn, có thể là vay từ các NHTM, phát hành trái phiếu, vay từ đối tác, hợp đồng hợp tác khác nhằm tìm kiếm nguồn vốn. Trong những hình thức đó các DN vẫn thường sử dụng việc phát hành trái phiếu để huy động vốn phục vụ sản xuất, đáp ứng nhu cầu vốn trong từng giai đoạn nhất định. Và khách hàng thường xuyên của DN là các NHTM, việc NHTM mua các trái phiếu của các DN cũng là một hoạt động đầu tư mang lại nhiều hiệu quả. Tuy nhiên, trong việc cấp tín dụng này đòi hỏi các NH phải có tính toán, kế hoạch trước khi mua trái phiếu của bất kỳ DN nào, trong đó việc các NHTM giám sát các khoản tiền mà các DN sử dụng hiệu quả là nội dung rất quan trọng, đối với sự phát triển của DN, khi DN sử dụng hiệu quả đồng vốn thì mới có cở sở để thanh toán tiền cho các chủ sở hữu trái phiếu.
Trên thực tế có rất nhiều DN phát hành TPDN để bán cho các NHTM, nhưng trong quá trình sử dụng nguồn vốn từ các NHTM thì không mang lại hiệu quả, dẫn đến nguy cơ các NHTM sẽ mất các nguồn tín dụng đã cấp hoặc trở thành nợ xấu, nên việc các NHTM giám sát được các nguồn tiền là rất cần thiết.
Trường hợp của Công ty cổ phần Hoàng Anh Gia Lai (HAGL) là một ví dụ. HAGL phát hành trái phiếu để huy động vốn thực hiện cho các dự án của mình, khi phát hành HAGL đã dùng chính cổ phiếu của ông Đoàn Nguyên Đức là chủ tịch HĐQT của HAGL để thể chấp đảm bảo cho khả năng trả nợ.
Cụ thể, Có thể kể đến một số trường hợp sau: 146 tỷ đồng trái phiếu bán cho NHTM CP Phương Đông (OCB) ngày 25/4/2013, với tài sản đảm bảo là 15,3 triệu cổ phiếu HAG của Chủ tịch HĐQT Đoàn Nguyên Đức. Tuy nhiên, theo thông tin mới nhất, ngày 27/08/2015, HAG đã chuyển 146,563 tỷ đồng cho OCB để mua lại lô trái phiếu trên (cả gốc và lãi). Hoạt động đầu tư trái phiếu HAG này của OCB đã được tất toán hoàn toàn. Tiếp theo là 1.761 tỷ đồng trái phiếu phát hành ngày 25/04/2012 với tài sản đảm bảo là 53,08 triệu cổ phiếu HAG của ông Đoàn Nguyên Đức. Lô trái phiếu này, sau nhiều lần đổi chủ, tính đến 30/06/2015 hiện thuộc về các bên: Bac A Bank (521 tỷ đồng); HDBank (200 tỷ đồng); Viet Capital Bank (240 tỷ đồng); Eximbank (800 tỷ đồng). HAG đã bán 950 tỷ đồng trái phiếu cho BIDV ngày 09/07/2013 với tài sản đảm bảo là 79,93 triệu cổ phiếu của Công ty nắm giữ bởi ông Đoàn Nguyên Đức và khoản tiền gửi tiết kiệm 120 tỷ đồng tại Chi nhánh BIDV Gia Lai; 650 tỷ đồng trái phiếu bán cho HDBank ngày 1/4/2014 với tài sản đảm bảo là 18,95 triệu cổ phiếu HAG của ông Đoàn Nguyên Đức và 50 triệu cổ phiếu HNG của Công ty. Luận văn: Thực trạng pháp luật giới hạn đầu tư vốn tại ngân hàng.
Vì tài sản đảm bảo để phát hành TPDN là các cổ phiếu HAG và HNG nên chắc chắn diễn biến thị giá của hai mã cổ phiếu này cũng sẽ tác động sống còn đến tính an toàn và khả năng thu hồi vốn đầu tư của các trái chủ. Thời gian qua, giá các cổ phiếu HAG, HNG đã xuống thấp hơn khi mà HAGL lấy làm bảo đảm phát hành trái phiếu và hiện nay đến thời điểm cập nhật thông tin thì rơi xuống dưới mệnh giá. Tại thời điểm tháng 7 năm 2013 giá cổ phiếu của HAG là khoảng 19.000 trên 01 cổ phiếu, còn hiện tại giá cổ phiếu của HAG cập nhập tháng 7 năm 2016 chỉ ở quanh vùng giá 6.500 trên 01 cổ phiếu. Ta dễ thấy được giá trị tài sản đảm bảo các trái phiếu mà Công ty HAGL đã phát hành cho tất cả các ngân hàng như BIDV, HDBank, VPBank, Bac A Bank, VietCapital Bank, Eximbank và CTCK EuroCapital đều đã rơi xuống dưới giá trị mệnh giá trái phiếu mà chúng lẽ ra phải đảm bảo được nghĩa vụ chi trả nếu bất trắc xảy ra. Rõ ràng là các NHTM đã thất thoát một khoản tiền lớn trong hoạt động đầu tư này và số tiền đầu tư vào TPDN có thể trở thành nợ xấu.
Vấn đề đặt ra ở đây là các NHTM đã không có phương án để giám sát đồng tiền khi đầu tư mua trái phiếu của DN. Theo Điều 5 Thông tư 22/2016/TT-NHNN có các điều khoản quy định về giám sát vốn của mình khi bỏ ra để đầu tư TPDN, rõ ràng các quy định về trách nhiệm của NHTM khi giám sát nguồn vốn được sử dụng hiệu quả hay không khi đầu tư vào trái phiếu của các DN chưa được phát huy.
Hoạt động đầu tư của các NHTM đối với trái phiếu của HAGL tiềm ẩn những rủi ro nhất định cho các nhà đầu tư. Bởi vì, cổ phiếu được đem ra đảm bảo hầu hết đã được niêm yết trên thị trường chứng khoán với giá cổ phiếu hoàn toàn phụ thuộc vào diễn biến của thị trường, sức khỏe của DN và sức khỏe của nền kinh tế nói chung. Nếu như giá cổ phiếu lên cao thì chắc chắn các nhà đầu tư không cần phải bận tâm với khả năng thanh toán của đơn vị phát hành trái phiếu, nhưng ngược lại khi đơn vị phát hành trái phiếu làm ăn gặp khó khăn thì giá trị của tài sản đảm bảo là các cổ phiếu của chính DN đó cũng giảm giá tỷ lệ thuận với hoạt động kinh doanh của DN phát hành. Như vậy, các nhà đầu tư sẽ bị thua lỗ và khả năng thu hồi nguồn vốn đầu tư là không cao.
Do đó, việc giám sát các nguồn tiền của các NHTM khi đầu tư vào TPDN là việc rất quan trọng, để nguồn tiền của các NHTM đầu tư được sử dụng đúng mục đích, mang lại hiệu quả cao. Tuy đã có quy định về việc các NHTM giám sát việc các DN sử dụng nguồn tiền của các NHTM, nhưng trên thực tế các NHTM vẫn chưa thể giám sát hết được. Điều 5, Thông tư 22/2016/TT-NHNN quy định trách nhiệm của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài quyền giám sát các DN sử dụng nguồn tiền thu được từ các hoạt động phát hành trái phiếu của DN phải đúng mục đích phù hợp với phương án pháp hành trái phiếu, để đảm bảo nguồn tiền đầu tư của NHTM được sử dụng đúng mục đích, thực tế có rất nhiều trường hợp các DN phát hành trái phiếu và sử dựng nguồn tiền đó không hiệu quả làm ảnh hưởng đến tình hình kinh doanh của NHTM, DN cần phải minh bạch, phải có công bố mục đích rõ ràng của việc phát hành trái phiếu để nhà đầu tư thấy được khi bỏ vốn vào.
Trước đó trong Thông tư 28/2011/TT-NHNN tại Khoản 5, Điều 5 quy định các NHTM tự xây dựng quy chế nội bộ các vấn đề liên quan đến mua bán TPDN, nhưng tác giả nhận thấy điều này dễ gây ra sự tự phát và mỗi NHTM đều có những quy định riêng không dựa trên một tiêu chuẩn chung, NHNN nên xây dựng một quy chế chung mang tính định hướng, đặc biệt chú trọng đến công tác thẩm định giá trị các TPDN, cách giám sát hiệu quả nguồn tiền mà các DN sử dụng từ việc phát hành trái phiếu.
Tại Điều 3 Thông tư 22/2016/TT-NHNN tiếp tục quy định về nguyên tắc mua trái phiếu có “quy định tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài mua trái phiếu doanh nghiệp phải có hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ, xếp hạng doanh nghiệp phát hành trái phiếu và ban hành quy định nội bộ về mua trái phiếu doanh nghiệp”. Theo đó thì NHTM được thẩm định, kiểm tra phương án và các điều kiện phát hành trái phiếu của DN để xem xét quyết định mua trái phiếu DN khi có đủ các điều kiện: Trái phiếu được phát hành theo đúng quy định của pháp luật, mục đích sử dụng tiền thu được từ phát hành trái phiếu của DN hợp pháp và phù hợp với ngành, lĩnh vực sản xuất, kinh doanh của DN, DN phát hành trái phiếu có khả năng tài chính để đảm bảo trả gốc và lãi trái phiếu đúng hạn theo cam kết và DN phát hành trái phiếu cam kết mua lại trái phiếu trước hạn thanh toán trong trường hợp DN vi phạm quy định pháp luật về phát hành TPDN, vi phạm phương án phát hành TPDN…
2.2.4 Về việc xử lý đối với các ngân hàng thương mại sở hữu vượt quá quy định Luận văn: Thực trạng pháp luật giới hạn đầu tư vốn tại ngân hàng.
Theo Điều 20 Thông tư 36/2014/TT-NHNN quy định một NHTM chỉ được nắm giữ cổ phiếu của tối đa không quá hai (02) TCTD khác trừ trường hợp TCTD khác là Công ty con của NH đó, đồng thời lượng cổ phần được nắm giữ tối đa này phải dưới 5% vốn cổ phần có quyền biểu quyết của TCTD đó (trừ trường hợp TCTD là Công ty con của ngân hàng hoặc NHTM tham gia tái cơ cấu, xử lý TCTD yếu kém theo chỉ định của NHNN). Và theo quy định trong Thông tư 36/2014/TT- NHNH thì các TCTD phải tính đến việc thoái vốn trong vòng một năm kể từ khi Thông tư 36/2014/TT-NHNN có hiệu lực tức là từ ngày 01/02/2015.
Do đó, việc NHNN ban hành Thông tư 36/2014/TT-NHNN và các quy định pháp luật khác nhằm kiểm soát hoạt động NHTM nắm giữ cổ phiếu của TCTD khác trong bối cảnh hiện này rất có ý nghĩa tạo hành lang pháp lý giải quyết các vấn đề kịp thời và mang lại hiệu qủa.
Như phân tích ở nội dung thứ nhất, mục 2.1.2 hiện nay vẫn còn một số NHTM sở hữu cổ phần của các TCTD vượt quá giới hạn cho phép theo quy định của pháp luật, trực tiếp là Thông tư 36/2014/TT-NHNN, đã quá thời hạn 01 năm (01/02/2016) các NHTM phải giảm tỷ lệ xuống theo quy định của pháp luật nhưng các NHTM vẫn chưa thực hiện được. Theo Khoản 6 Điều 26 Thông tư 36/2014/TT- NHNN thì các NHTM vi phạm tỷ lệ sở hữu về số lượng sở hữu và tỷ lệ sở hữu thì NHTM không được mua, nắm giữ cổ phiếu của tổ chức tín dụng khác và người đại diện theo ủy quyền phần vốn góp của NHTM là thành viên Hội đồng quản trị của tổ chức tín dụng nhận góp vốn phải làm đơn xin từ chức thành viên Hội đồng quản trị của TCTD nhận góp vốn và NHTM phải xây dựng phương án xử lý.
Thông tư 06/2015/TT-NHNN quy định về “thời hạn, trình tự, thủ tục chuyển tiếp đối với trường hợp sở hữu cổ phần vượt giới hạn quy định tại Điều 55 Luật các tổ chức tín dụng” là một nỗ lực của NHNN trong việc tạo sức ép yêu cầu các NHTM xử lý nhanh và dứt điểm các trường hợp sở hữu vượt quá tỷ lệ cho phép. Tuy nhiên các quy định này dường như chỉ có tác động đến các cổ đông cá nhân hoặc một nhóm cổ đông cá nhân, còn các cổ đông tổ chức vẫn có những giới hạn khó gỡ. Chẳng hạn các tập đoàn, tổng Công ty nhà nước hoặc các đoàn thể sở hữu cổ phần vượt quá quy định 15% vốn điều lệ ngân hàng như quy định tại Điều 55 Luật các tổ chức tín dụng 2010, thì không thể thoái vốn nếu không tìm được người nhận chuyển nhượng. Việc thoái vốn càng khó nếu các ngân hàng mà họ tham gia đầu tư chưa niêm yết. Ngoài ra việc chứng minh nhóm cổ đông có liên quan trong sở hữu cổ phần của một NH cũng không dễ. Nếu một cổ đông cá nhân lớn nhờ các cổ đông khác đứng tên, mà các cổ đông này là bạn bè, không phải người thân gồm cha mẹ, anh chị em, vợ chồng, con cái, cháu chắt… thì việc kê khai tên tuổi, số lượng cổ phần nắm giữ cũng không đưa đến đâu. Điều này phụ thuộc hoàn toàn vào sự tự nguyện tuân thủ pháp luật của mỗi cổ đông. Cách tốt nhất hiện nay để hạn chế tình trạng sở hữu lẫn nhau là công khai, minh bạch danh sách các ngân hàng đang tồn tại sở hữu chéo cũng như các cổ đông và nhóm cổ đông liên quan sở hữu cổ phần vượt quy định cho phép để dư luận xã hội có thể giám sát.
Ngoài những quy định trên NHNN cần có những biện pháp cụ thể kiên quyết xử lý liên quan đến việc sở hữu vượt quá tỷ lệ cho phép, cần xây dựng một thông tư xử lý các NHTM sở hữu vượt cổ phần, thông tư hướng dẫn phải có các nội dung cơ bản sau: Cần đấu giá công khai số cổ phần vượt quá tỷ lệ của các NHTN. Có thể yêu cầu các NHTM bán công khai cổ phần trên các thị trường chứng khoán, hoặc NHNN tổ chức đấu giá công khai (khi phí do NHTM sở hữu vượt tỷ lệ chi trả), số cổ phần vượt quá quy định cổ phần có quyền biểu quyết không được biểu quyết, chỉ được biểu quyết từ 5% trở xuống.
2.3 Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật Việt Nam về giới hạn đầu tư vốn của ngân hàng thương mại Luận văn: Thực trạng pháp luật giới hạn đầu tư vốn tại ngân hàng.
2.3.1 Cần có khái niệm cụ thể về đầu tư vốn và các hình thức đầu tư vốn của ngân hàng thương mại
Để có thể quản lý hoạt động đầu tư vốn của các NHTM một cách chặt chẽ thì cần thiết phải xây dựng các cơ sở pháp lý một cách đầy đủ và rõ ràng. Pháp luật hiện nay của chúng ta không có khái niệm về hoạt động đầu tư vốn của các NHTM. Chính vì không có khái niệm cụ thể, rõ ràng về hoạt động này nên chúng ta không thể xác định ngay được đâu là một hoạt động đầu tư và đâu là hoạt động kinh doanh thuộc nghiệp vụ NH một cách thuần túy. Việc không có quy định cụ thể rõ ràng thì chúng ta không thể kiểm soát và quản lý các hoạt động đầu tư của NHTM một cách có hệ thống và bao quát. Ngoài ra, khi các quy định của pháp luật rõ ràng chúng ta mới có căn cứ và cơ sở để xác định được đúng đắn các trường hợp vi phạm các quy định của pháp luật về đầu tư vốn của NHTM.
Trong khi đó hoạt động NHTM chủ yếu diễn ra ở thị trường tài chính nơi chỉ với một sai phạm của một NHTM đôi khi cũng đã đủ để xảy ra các ảnh hưởng to lớn đến toàn hệ thống. Mặc khác với nguồn vốn lớn và sức ảnh hưởng lớn đến nền kinh tế nếu không quản lý hoạt động đầu tư của các NHTM một cách chặt chẽ thì sẽ không thể đảm bảo được các yêu cầu về hệ số an toàn về vốn của các NHTM và đồng thời kéo theo các hệ lụy đối với nền kinh tế khi các hoạt động đầu tư đó tiềm ẩn những rủi ro. Như chúng ta đã biết hoạt động đầu tư luôn luôn có những rủi ro đi kèm, rủi ro càng lớn thì lợi nhuận càng cao. Một DN có thể đánh liều đặt cược hết vốn của mình vào một dự án đầu tư nhưng một NHTM cũng thực hiện theo cách này sẽ gây ảnh hưởng lớn cho cả nền kinh tế. Do đó phải đặt hoạt động đầu tư vốn của các NHTM trong khuôn khổ của pháp luật, mà muốn các hoạt động này trong khuôn khổ và được quản lý chặt chẽ thì càng phải có các quy định pháp luật thật rõ ràng và chặt chẽ.
Cần làm rõ nội dung của hoạt động đầu tư vốn. Theo đó, hoạt động đầu tư vốn của các NHTM giống với hoạt động đầu tư kinh doanh được quy định tại pháp luật về đầu tư, tuy nhiên hoạt động đầu tư vốn của các NHTM bị hạn chế về quy mô, lĩnh vực và cả cách thức tiến hành. Dựa vào khái niệm về hoạt động đầu tư kinh doanh đã được xây dựng chúng ta tiếp tục quy định một cách cụ thể về các hình thức mà NHTM có thể tiến hành để thực hiện hoạt động đầu tư.
Vì hoạt động đầu tư vốn của NHTM có nhiều hình thức trùng lập với các hoạt động NH thông thường. Ngoài ra, hoạt động đầu tư vốn của NHTM là hoạt động có sự hạn chế về quy mô, lĩnh vực đầu tư. Vì thế cần phải quy định cụ thể các hình thức đầu tư vốn của NHTM để xác định hoạt động nào phải đáp ứng các điều kiện về đầu tư vốn, hoạt động nào là phải đáp ứng các điều kiện về hoạt động NH. Luận văn: Thực trạng pháp luật giới hạn đầu tư vốn tại ngân hàng.
- Ta có thể xây dựng khái niệm về hoạt động đầu tư vốn của NHTM như sau:
Hoạt động đầu tư vốn của NHTM là việc sử dụng nguồn vốn để tiến hành các hoạt động đầu tư thông qua hình thức thành lập tổ chức kinh tế, góp vốn, mua cổ phần, giấy tờ có giá và các hoạt động đầu tư khác nhằm mục đích sinh lợi nhuận.
Cũng tại khái niệm về hoạt động đầu tư vốn của NHTM ta có thể xác định nguồn vốn mà các NHTM dùng vào hoạt động đầu tư được lấy từ nguồn vốn chủ sở hữu và các nguồn quỹ dự trữ, vốn vay ngắn hạn, việc xác định nguồn vốn được dùng để thực hiện các hoạt động đầu tư là rất quan trọng. Tùy theo hình thức đầu tư luật sẽ quy định nguồn vốn nào được sử dụng để đầu tư kinh doanh, có thể là vốn chủ sở hữu, các nguồn quỹ dự trữ, vốn ngắn hạn và ngoài các hình thức đầu tư trên, luật cũng có thể quy định thêm các hoạt động đầu tư khác có thể là đầu tư theo dự án, hợp đồng đầu tư, các hình thức ủy thác đầu tư, đầu tư trái phiếu chuyển đổi.
Để đáp ứng nhu cầu thực tế về phát triển kinh tế, đặc biệt là trong hệ thống tiền tệ luật cần có các quy định nhằm điều chỉnh rõ ràng hơn những hoạt động về đầu tư vốn của NHTM, thông qua đó có các giới hạn đầu tư cụ thể đối với từng ngành nghề, hình thức và các nội dung khác nhau.
2.3.2 Cần quy định cụ thể lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp mà ngân hàng thương mại được góp vốn, mua cổ phần
Các lĩnh vực được đầu tư theo hình thức góp vốn, mua cổ phần theo quy định tại Điểm b Khoản 4 Điều 103 Luật TCTD 2010 cần phải được làm rõ các ngành nghề nào là được phép tiến hành các hoạt động đầu tư, các hoạt động nào là bị hạn chế hoặc bị cấm tiến hành các hoạt động đầu tư, trình tự thủ tục của việc xin cấp phép để được hoạt động trong các lĩnh vực mà quy định buộc phải xin phép NHNN. Nếu như trong Điểm a, Khoản 4 Điều 103 Luật TCTD 2010 đã cụ thể hoá những ngành nghề NHTM được góp vốn, mua cổ phần là “Bảo hiểm, chứng khoán, kiều hối, kinh doanh ngoại hối, vàng, bao thanh toán, phát hành thẻ tín dụng, tín dụng tiêu dùng, dịch vụ trung gian thanh toán, thông tin tín dụng” thì trong Điểm b, Khoản 4 Điều 103 Luật TCTD 2010 không quy định cụ thể.
Pháp luật cần quy định rõ các ngành nghề để các NHTM chỉ cần chiếu theo các quy định của các văn bản đó để thực hiện. Trong khi đó, việc tiếp tục duy trì cơ chế xin cho trong lĩnh vực này như hiện nay sẽ tạo ra một sự bất bình đẳng trong việc tiếp cận các cơ hội hợp tác đầu tư của các NHTM, đồng thời làm tiết lộ thông tin về đối tác, về dự án hợp tác làm giảm khả năng cạnh tranh của chính các NHTM. Bên cạnh đó, hiện nay NHNN đang là chủ sở hữu lớn của nhiều NHTM CP trên thị trường thì việc để một cổ đông của một NH khác tiếp cận được với các thông tin về đầu tư của một NHTM khác thì rất khó để chấp nhận. Điều này làm mất đi tính cạnh tranh, bình đẳng của các DN trong nền kinh tế thị trường như hiện nay. Chính vì vậy chúng ta phải cụ thể hóa các ngành nghề, lĩnh vực được phép đầu tư của NHTM và các trình tự, thủ tục để được hoạt động đầu tư một cách cụ thể tại Điểm b, Khoản 4, Điều 103 Luật TCTD 2010 để đảm bảo tính khách quan, cạnh tranh trong hoạt động đầu tư của các NHTM trên thị trường. Luận văn: Thực trạng pháp luật giới hạn đầu tư vốn tại ngân hàng.
2.3.3 Xây dựng giới hạn tổng mức vốn được tiến hành đầu tư
Hiện nay, chúng ta đã có quy định về tổng mức vốn được sử dụng khi NHTM tiến hành thành lập Công ty con, Công ty liên kết, mua cổ phần các DN (Khoản 1, 2 Điều 129 Luật TCTD 2010). Đầu tư vào TPDN thì được tính vào tổng mức dư nợ cấp tín dụng đối với một khách hàng (Thông tư 22/2016TT/NHNN) và không quá 15% vốn tự có và người liên quan không quá 25% (Điều 128 Luật TCTD 2010). Đầu tư vào TPCP thì theo tỷ lệ sử dụng nguồn vốn ngắn hạn của NHTM theo Thông tư sửa đổi 06/2016/TT-NHNN đối với NHTM NN là 25% và NHTM CP là 35%.
Việc khống chế tỷ lệ tổng mức đầu tư vốn của các NHTM là hoàn toàn cần thiết để đảm bảo nguồn vốn tự có của NHTM không được sử dụng hết cho hoạt động đầu tư mà còn phải đảm bảo vốn đáp ứng các tiêu chuẩn về an toàn nguồn vốn đối với hoạt động kinh doanh của các NHTM. Việc xác định các tỷ lệ cụ thể là bao nhiêu chúng ta cần phải có những tính toán một cách khoa học và phù hợp với thực tiễn hoạt động đầu tư của các NHTM vừa để đảm bảo có một tỷ lệ an toàn cho hoạt động kinh doanh của NH vừa đảm bảo tỷ lệ đó là hợp lý để các NHTM có thể tiến hành các hoạt động đầu tư một cách thuận lợi.
Tuy nhiên, thực tế hiện nay mỗi hình thức đầu tư của NHTM lại sử dụng một nguồn vốn riêng để hoạt động, có thể là vốn chủ sở hữu, vốn vay ngắn hạn, các quỹ. Do đó để làm được điều này, thì nhất thiết các nhà làm luật phải xác định rõ được các hình thức đầu tư vốn hiện này và điều quan trọng nữa là nguồn vốn được sử dụng để đầu tư trong các hình thức khác nhau, nếu chúng ta xác định cụ thể được những vấn đề này thì mới đi đến hạn mức vốn chung cho tổng thể hoạt động đầu tư vốn của NHTM.
2.3.4 Hoàn thiện hơn nữa các quy định về nhóm mua bán trái phiếu doanh nghiệp, cổ phiếu các tổ chức tín dụng khác
Thứ nhất: Việc xem hoạt động mua bán trái phiếu của doanh nghiệp là một hoạt động đầu tư vốn của các NHTM là cần thiết phù hợp với bản chất của vấn đề, khi đó sẽ tạo điều kiện trong việc quản lý nguồn vốn đang đầu tư trái phiếu ở các DN. Theo đó, chúng ta cần phải kế thừa các quy định đã có về các hạn mức được phép đầu tư vào TPDN theo quy định tại Thông tư 22/2016/TT-NHNN và Thông tư 06/2016/TT-NHNN về việc các NHTM sử dụng vốn ngắn hạn để đầu mua TPCP.
Tuy đã có Khoản 3, Điều 5 Thông tư 22/2016/TT-NHNN về việc giám sát sử dụng tiền của các NHTM đối với các DN phát hành trái phiếu, nhưng trên thực tế quy định này vẫn chưa đủ cơ chế pháp lý cần thiết để các NHTM giám sát DN sử dụng tiền đúng mục đích hay không. Cần có các quy định pháp luật chặt chẽ hơn để giám sát được nguồn tiền mà các NHTM bỏ ra đầu tư trái phiếu của các DN. Phải có cơ chế giám sát để NHTM thường xuyên giám sát được số tiền của mình đầu tư vào trái phiếu của các DN hiện đang thực hiện đầu tư các công trình gì, dự án sản xuất kinh doanh, tiến độ đến đâu, chúng ta phải luật hóa các quy định này, để khi các NHTM muốn xem, kiểm soát được nguồn tiền mình đầu tư đang ở giai đoạn nào cũng dễ hơn.
Đồng thới phải có các quy định nhằm hạn chế tình trạng các DN sử dụng nguồn vốn từ việc phát hành trái phiếu để mua lại chính cổ phần các NHTM nhằm tăng khả năng sở hữu vốn tại các NHTM. Trên thực tế đã diễn ra tình trạng mà các Công ty của ông Nguyễn Đức Kiên sử dụng chính nguồn vốn do phát hành trái phiếu để góp vốn vào các TCTD khác.
Một dẫn chứng rất rõ là trong vụ án của Ông Nguyễn Đức Kiên, sau khi thành lập Công ty, Ông Kiên đã phát hành TPDN để thực hiện đầu tư kinh doanh trên lĩnh vực không được pháp luật cho phép, gây nên thoát thoát tiền của các NHTM, mà trực tiếp là NHTM ACB.
Theo kết luận điều tra của cơ quan cảnh sát điều tra – Bộ Công An ngày 01/8/2013: Công ty B&B được thành lập ngày 08/12/2008, người đại diện theo pháp luật là Nguyễn Đức Kiên Chủ tịch HĐQT, Công ty B&B không được Nhà nước cấp phép kinh doanh tài chính. Từ khi thành lập đến nay, Nguyễn Đức Kiên đã chỉ đạo Công ty B&B tiến hành các hoạt động kinh doanh tài chính sau đây: Luận văn: Thực trạng pháp luật giới hạn đầu tư vốn tại ngân hàng.
Ngày 30/11/2010, theo chỉ đạo của Nguyễn Đức Kiên, Đặng Ngọc Lan Tổng giám đốc Công ty B&B ký hợp đồng số 03/11/2010 về việc bán 10 triệu trái phiếu trị giá 1.000 tỷ đồng cho Ngân hàng ACB, kỳ hạn 10 năm. Mục đích phát hành trái phiếu nhằm đầu tư vào các định chế tài chính. Số tiền 1000 tỷ đồng đã được Ngân hàng ACB chuyển vào tài khoản của Công ty B&B mở tại Ngân hàng ACB. Sau đó, Công ty B&B sử dụng như sau: Từ ngày 04/9/2009 đến ngày 30/11/2010, Nguyễn Đức Kiên đã chỉ đạo Công ty B&B sử dụng góp 1.280 tỷ đồng vào Công ty cổ phần tập đoàn tài chính Á Châu (AFG), dùng 324,6 tỷ đồng ủy thác cho 3 người thân là: Đặng Ngọc Lan, Đào Văn Kiên, Nguyễn Anh Tuấn đứng tên mua cổ phiếu của Ngân hàng Vietbank; dùng 426,3 tỷ đồng mua lại cổ phiếu của Công ty Cổ phần bất động sản Hòa Phát Á Châu do Nguyễn Thúy Hương em ruột Kiên nắm giữ; Hành vi của Nguyễn Đức Kiên đã đủ yếu tố cấu thành tội Kinh doanh trái phép quy định tại Điều 159 Bộ luật hình sự.
Trong vụ án này, cần xem xét vai trò, trách nhiệm của các NHTM khi nghiên cứu hồ sơ của các Doanh nghiệp khi phát hành trái phiếu, tính hợp pháp của các doanh nghiệp phát hành trái. Các Công ty của Ông Nguyễn Đức Kiên đều mới thành lập nhưng dễ dàng phát hành trái phiếu. Các NHTM khi mua trái phiếu của Ông Nguyễn Đức Kiên đã dễ dàng thông qua, chúng ta thấy được NHTM ACB đã không hề giám sát đồng tiền mà NH đã bỏ ra để mua trái phiếu của Công ty Ông Nguyễn Đức Kiên. Do việc không giám sát kỹ DN sử dụng tiền vào mục đích gì, đúng quy định pháp luật hay không, nên dẫn đến Công ty Ông Kiên đã kinh doanh những ngành nghề không được phép, nên làm thất thoát rất lớn lượng tiền của NHTM ACB.
Thứ hai: Cần có quy định về việc hạn chế các NHTM mua trái phiếu dưới hình thức đảm bảo bằng chính cổ phiếu của DN đó hoặc người liên quan. Chúng ta vẫn cho phép các bên được thỏa thuận về cách thức đầu tư hợp tác với nhau nhưng cần có các quy định để kiểm soát việc đầu tư TPDN của các NHTM. Dựa trên cơ sở bảo đảm là cổ phiếu của tổ chức cá nhân liên quan đến DN. Vì trên thực tế dùng chính cổ phiếu của đơn vị phát hành trái phiếu để đảm bảo cho việc thanh toán các khoản nợ luôn có nhiều rủi ro. Do tính chất của giá cổ phiếu phụ thuộc vào yếu tố thị trường rất nhiều.
Cũng theo bản kết luận điều tra vụ án Ông Nguyễn Đức Kiên: Công ty ACBI thành lập ngày 10/11/2006, người đại diện theo pháp luật là Nguyễn Đức Kiên chủ tịch HĐQT, Trần Ngọc Thanh giám đốc, ngày 11/5/2010 Nguyễn Đức Kiên chỉ đạo Trần Ngọc Thanh đại diện Công ty CP Đầu tư ACB Hà Nội (Công ty ACBI) ký hợp đồng thế chấp 22,497 triệu cổ phần Công ty CP Thép Hòa Phát vào Ngân hàng ACB để đảm bảo cho việc phát hành trái phiếu 800 tỷ đồng. Đến tháng 4/2012, Nguyễn Đức Kiên là người trực tiếp giao dịch với các ông Trần Đình Long, Chủ tịch HĐQT và ông Trần Tuấn Dương, Tổng giám đốc Công ty cổ phần Tập đoàn Hòa Phát về việc bán 20 triệu cổ phiếu Công ty Cổ phần Thép Hòa Phát do Công ty ACBI đang sở hữu với giá 13.200 đồng/cổ phiếu tương ứng với tổng số tiền là 264 tỷ đồng cho Tập đoàn Hòa Phát, mặc dù chưa được Ngân hàng ACB và Công ty ACBS chấp thuận cho giải tỏa 20 triệu cổ phiếu trong tổng số 22,497 triệu cổ phiếu Công ty CP Thép Hòa Phát đang được thế chấp tại Ngân hàng ACB. Luận văn: Thực trạng pháp luật giới hạn đầu tư vốn tại ngân hàng.
Cho dù số cổ phiếu của thép Hoà Phát nhằm bảo đảm cho Công ty ACBI phát hành 800 tỷ trái phiếu vẫn nằm trong sự quản lý của NH ACB, nhưng đã gây rất nhiều khó khăn đối với NH ACB trong việc giải quyết đến số cổ phiếu trên đối với tập đoàn Hoà Phát.
Thứ ba: Với quy định hiện nay thì các NHTM “không được cấp vốn cho chính các các Công ty con, Công ty liên kết của mình hoạt động lĩnh vực chứng khoán”. Tuy luật đã quy định các NHTM không được cấp tín dụng cho các Công ty con hoạt động trên lĩnh vực chứng khoán. Để lách luật thì các NHTM sẽ không trực tiếp cấp tín dụng cho các Công ty con mà thông qua một bên thứ ba để thực hiện cấp tín dụng.
Trong vụ án của Ông Đức Kiên: Do thời điểm cuối năm 2009, giá cổ phiếu của Ngân hàng ACB bị giảm sút, trước sức ép của Cổ đông, để nâng giá trị Cổ phiếu của Ngân hàng ACB, ngày 02/11/2009 Thường trực Hội đồng quản trị Ngân hàng ACB họp bàn ra chủ trương dùng tiền của Ngân hàng ACB thông qua Công ty ACBS là Công ty do Ngân hàng ACB sở hữu 100% vốn điều lệ để mua Cổ phiếu Ngân hàng ACB và giao cho Nguyễn Đức Kiên, Chủ tịch Hội đồng đầu tư trực tiếp chỉ đạo việc mua cổ phiếu, chủ trương này được cụ thể bằng Thông báo số: 4478/CV-TH.09 ngày 05/11/2009 do Lê Vũ Kỳ thay mặt Thường trực Hội đồng quản trị Ngân hàng ACB ký.
Do biết pháp luật quy định Ngân hàng ACB không được cấp tín dụng cho Công ty ACBS, vì Công ty này là Công ty chứng khoán do Ngân hàng ACB sở hữu 100% vốn điều lệ. Nên để Công ty ACBS có tiền mua cổ phiếu Ngân hàng ACB, Nguyễn Đức Kiên đã chỉ đạo công ty này phát hành Trái phiếu với tổng trị giá 1.500 tỷ đồng bán cho Ngân hàng TMCP Kiên Long (viết tắt là Kienlongbank) 1000 tỷ đồng và Ngân hàng TMCP Việt Nam thương tín (viết tắt là Vietbank) 500 tỷ đồng, lãi suất trái phiếu các Công ty ACBS trả cho Ngân hàng Kienlongbank, Vietbank là từ 11,05% đến 14%/năm, đảm bảo bằng tín chấp. Để các Ngân hàng Kienlongbank, Vietbank có tiền mua trái phiếu của Công ty ACBS, Ngân hàng ACB đã chuyển cho các ngân hàng này tổng số tiền 1.500 tỷ đồng dưới hình thức là các ngân hàng này vay tiền của Ngân hàng ACB.
Vì vậy, chúng ta phải có quy định nhằm kiểm soát các NHTM trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua các hoạt động ủy thác đầu tư để cấp vốn cho các Công ty con kinh doanh chứng khoán, trong trường hợp trên là Công ty con của NH ACB mua cổ phiếu của chính NH ACB. Vì nếu không có quy định như thế thì các Công ty con, Công ty liên kết của các NHTM sẽ còn được các NHTM chống lưng về vấn đề vốn, làm lũng đoạn thị trường và như vậy là đi ngược lại với tinh thần của các quy định pháp luật về việc tách bạch các hoạt động của NH và lĩnh vực đầu tư chứng khoán.
2.3.5 Làm rõ quy định nghĩa vụ công bố thông tin Luận văn: Thực trạng pháp luật giới hạn đầu tư vốn tại ngân hàng.
Các quy định về công bố thông tin được quy định trong Luật Chứng khoán 2006 và sửa đổi tại Luật số 62/2010/QH12, Luật Doanh nghiệp 2014 và các quy định liên quan cần tiếp tục được kế thừa và tuân thủ, song vẫn cần phải hoàn thiện và điều chỉnh cho phù hợp với khuôn khổ giám sát khu vực NH.
Thông tư số 52/2012/TT-BTC của NHNN cấp ngày ngày 05 tháng 4 năm 2012 quy định về hướng dẫn về việc công bố thông tin trên thị trường chứng khoán tạo nên sự minh bạch trong vấn đề sở hữu của các NHTM trong mọi lĩnh vực, đặc biệt với quy định về công bố báo cáo tình hình quản trị Công ty, bên cạnh các báo cáo khác như báo cáo tài chính, báo cáo thường niên, biên bản họp Đại hội đồng cổ đông, và công bố thông tin về việc chào bán chứng khoán.
Thông tư số 155/2015/TT-BTC của Bộ tài chính cấp ngày 06 tháng 10 năm 2015 thay thế Thông tư 52/2012/TT-NHNN hướng dẫn công bố thông tin trên thị trường chứng khoán cũng chỉ yêu cầu phải công bố thông tin đối với tổ chức, cá nhân, nhóm người liên quan nắm giữ từ 5% trở lên số cổ phiếu có quyền biểu quyết của một Công ty đại chúng có thể không phù hợp. Và những cổ đông sở hữu 5% trở lên nếu có sự tăng hoặc giảm tỷ lệ sở hữu cổ phiếu, chứng chỉ quỹ đóng qua các ngưỡng 1% cũng phải công thông tin.
Trên thực tế đã có cá nhân bị xử phạt hành chính về vi phạm công bố thông tin trong lĩnh vực NH. Ngày 5/3/2015, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước ban hành Quyết định số 198/QĐ-XPVPHC về việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực chứng khoán và thị trường chứng khoán đối với ông Lê Đức Anh, cụ thể như sau: Không báo cáo theo quy định trước khi thực hiện giao dịch mua 74.900 cổ phiếu EIB của NHTMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam từ ngày 6/3/2014 đến ngày 14/5/2014.
Phạt tiền 35.000.000 đồng (Ba mươi lăm triệu đồng) theo quy định tại Điểm a Khoản 3 Điều 27 về “vi phạm quy định về giao dịch của cổ đông sáng lập, cổ đông nội bộ, nhà đầu tư nội bộ của quỹ đại chúng dạng đóng, cổ đông lớn, nhà đầu tư sở hữu từ 5% trở lên chứng chỉ quỹ của một quỹ đại chúng dạng đóng, người được ủy quyền công bố thông tin và người có liên quan” thuộc nghị định số 108/2013/NĐ-CP của Chính phủ cấp ngày 23 tháng 09 năm 2013 về quy định xử phạt hành chính trong lĩnh vực chứng khoán và thị trường chứng khoán.
Luật Các TCTC 2010 quy định một cổ đông cá nhân không được sở hữu quá 5% vốn điều lệ của NH, nhưng nếu các tổ chức cá nhân, thậm chí chính NHTM lách luật bằng cách để cho các cá nhân khác đứng tên sở hữu không đến 5% cổ phần trong các TCTD và tuỳ theo nguồn tài chính mạnh hay yếu nhóm cổ đông này có thể thâu tóm quyền kiểm soát các NHTM những vẫn đảm bảo được tỷ lệ về sở hữu và tỷ lệ về công bố thông tin như pháp luật quy định hiện nay.
Do đó, đối với lĩnh vực NH thì NHNN cần mở rộng đối tượng công bố thông tin ngoài những đối tượng quy định tại Điều 27 Nghị định số 108/2013/NĐ-CP gồm cổ đông sáng lập, cổ đông nội bộ, nhà đầu tư nội bộ của quỹ đại chúng dạng đóng, cổ đông lớn, nhà đầu tư sở hữu từ 5% trở lên chứng chỉ quỹ của một quỹ đại chúng dạng đóng, người được ủy quyền công bố thông tin và người có liên quan. Cần mở rộng đối tượng công bố thông tin không phải 5% trở lên mà là 1% trở lên, làm rõ người liên quan trong Điều 27 Nghị định 108/2013/NĐ-CP là những đối tượng nào. NHNN yêu cầu các tổ chức, cá nhân, và người có liên quan phải công bố thông tin bất thường trong một số trường hợp nhằm tăng cường khả năng kiểm tra giám sát của cơ quan chức năng. Quy định này sẽ giúp NHNN kiểm soát tốt hơn trong việc các NHTM sở hữu lẫn nhau.
2.3.6 Định nghĩa lại khái niệm người có liên quan, cổ đông lớn
Thứ nhất: Việc xác định chính xác, tách bạch người liên quan là rất cần thiết. Vì trong nhiều nội dụng cần xác định chính xác NHTM, Công ty con, Công ty liên kết và các đối tác khác, chủ thể nào được phép đầu tư vào các danh mục nhất định. Nếu chúng ta quy định rõ nội hàm người liên quan thì sẽ không dẫn đến tình trạng các NHTM thông qua những người liên quan này để tăng mức vốn đầu tư, hay tăng danh mục đầu tư nhằm thao túng, lũng đoạn, chẳng hạn quy định về NHTM được quyền nắm giữ cổ phiếu của các TCTD khác, nếu không quy định rõ ràng thì ngoài những chủ thể quy định tại Khoản 1, Điều 20 Thông tư 36/2014/TT-NHNN thì NHTM có thể thông qua các chủ thể khác để tăng cổ phần tại TCTD đó, NHTM có thể thông qua Công ty con, Công ty liên kết, người liên quan để tăng quyền sở hữu TCTD đó.
Khái niệm người có liên quan được quy định trong Luật TCTD 2010 tại Khoản 28 Điều 4 cần phải được định nghĩa lại trên cơ sở thống nhất với các khái niệm người có liên quan trong Luật Chứng khoán và Luật Doanh nghiệp. Người liên quan trong luật TCTD 2010 là tổ chức, cá nhân có quan hệ trực tiếp hoặc gián tiếp với tổ chức, cá nhân khác thuộc một trong các trường hợp Công ty mẹ với Công ty con, Công ty hoặc tổ chức tín dụng với người quản lý, Công ty hoặc tổ chức tín dụng với tổ chức, cá nhân sở hữu từ 5% vốn điều lệ, cá nhân với vợ, chồng, cha, mẹ, con, anh, chị, em của người này… chúng ta dễ thấy người liên quan chủ yếu là quan hệ giữa Công ty và cá nhân làm trong chính Công ty đó, ở đây luật vẫn chưa điều chỉnh hết được các mối liên hệ của các Công ty, cá nhân khác, đặc biệt là đối tác của chính các NHTM. Tuy nhiên, khái niệm người có liên quan trong hệ thống NHTM cần phải được hiểu rộng hơn và phải bao quát được các trường hợp khác, không chỉ là quan hệ gia đình, quan hệ sở hữu, mà còn cả các quan hệ kinh tế, đối tác kinh doanh của nhau, quan hệ lao động, và đặc biệt là các mối quan hệ xã hội. Làm rõ được nội hàm người liên quan cũng giúp các cơ quan bảo vệ pháp luật giám sát tình trạng kiểm soát lẫn nhau giữa các NHTM. Luận văn: Thực trạng pháp luật giới hạn đầu tư vốn tại ngân hàng.
Thứ hai: Điều chỉnh khái niệm cổ đông lớn của NHTM trong vấn đề góp vốn mua cổ phần của TCTD khác. Với ý nghĩa của quy định nhằm tránh tình trạng kiểm soát lẫn nhau trong hệ thống NH là để hạn chế những rủi ro cho toàn bộ hệ thống. Đặc biệt là trong thị trường tài chính tiền tệ thì sức ảnh hưởng là vô cùng lớn với toàn bộ nền kinh tế. Do đó vấn đề siết chặt tình trạng sở hữu lẫn nhau trong đầu tư vốn của các NHTM phải được thực hiện nghiêm túc và đầy đủ. Hiện nay, theo quy định tại Khoản 2 Điều 20 Thông tư 36/2014/TT-NHNN về các hạn chế đối với NHTM khi góp vốn vào một TCTD khác, bên cạnh các điều kiện đảm bảo an toàn về vốn thì còn có các điều kiện về chủ thể nhằm tránh tình trạng NHTM góp vốn sẽ chi phối NH được góp vốn. Các chủ thể bị hạn chế bao gồm:
“Chủ tịch và thành viên khác của Hội đồng quản trị, Chủ tịch và thành viên khác của Hội đồng thành viên, Tổng giám đốc (Giám đốc), Trưởng Ban và thành viên khác của Ban kiểm soát, cổ đông lớn của ngân hàng thương mại, Công ty con của ngân hàng thương mại và người có liên quan của những người này” không mua và không ủy thác cho tổ chức khác mua, nắm giữ vốn cổ phần có quyền biểu quyết của tổ chức tín dụng đó, quy định tại Điểm g và h Khoản 2 Điều 20 Thông tư 36/2014/TT/NHNN.
Trong các chủ thể được liệt kê ở trên thì có nhắc đến khái niệm cổ đông lớn của một NHTM không được đồng thời tham gia vào góp vốn mua cổ phần của một TCTD khi mà NHTM mà mình đang là cổ đông lớn đã tham gia góp vốn. Trong khi đó, cổ đông lớn theo khái niệm tại Khoản 26 Điều 4 Luật các TCTD 2010 thì “cổ đông lớn của tổ chức tín dụng cổ phần là cổ đông sở hữu trực tiếp, gián tiếp từ 5% vốn cổ phần có quyền biểu quyết trở lên của tổ chức tín dụng cổ phần đó”.
Việc quy định tỷ lệ hạn chế nắm giữ cổ phần của một NHTM đối với 1 TCTD khác là không quá 5% cổ phần (theo Khoản 3 Điều 20 Thông tư 36/2014) và Điều 55 Luật TCTD 2010 quy định tỷ lệ sở hữu cổ phần là nhằm mục đích hạn chế tình trạng kiểm soát của tổ chức cá nhân, NHTM đối với TCTD bị mua cổ phần nhưng quy định trên sẽ bị phá vỡ nếu như NHTM đó cùng với các cổ đông, sở hữu chưa tới 5% nên không phải là cổ đông lớn của cùng 01 NHTM góp vốn mua cổ phần vào 1 TCTD. Khi đó tỷ lệ 5% quy định để phân biệt là cổ đông lớn sẽ không còn ý nghĩa, nên NHTM cùng với các cổ đông này sẽ dễ hơn khi mua cổ phiếu của các TCTD khác. Như vậy, các NHTM và cổ đông của mình có khả năng sẽ chiếm quyền kiểm soát đối với TCTD được góp vốn.
Chúng ta cần tính toán một tỷ lệ nhất định các NHTM và các cổ đông của mình tham gia góp vốn vào cùng 1 TCTD để tránh tính trạng thao túng kiểm soát các TCTD lẫn nhau. Hiện nay, Luật các TCTD 2010 và Thông tư 36/2014/TT- NHNN chỉ mới có quy định về việc hạn chế các NHTM và các Công ty con, Công ty liên kết không được góp vốn lẫn nhau. Nhưng trường hợp các NHTM cùng với các cổ đông của mình chỉ cần là không phải cổ đông lớn của NHTM đó góp vốn, mua cổ phần vào TCTD khác thì chưa được quy định đến.
2.3.7 Cần kiểm soát chặt chẽ hơn thông qua các giao dịch liên kết của ngân hàng thương mại Luận văn: Thực trạng pháp luật giới hạn đầu tư vốn tại ngân hàng.
Theo Khoản 6, Điều 103 Luật TCTD 2010 thì “Ngân hàng thương mại, Công ty con của ngân hàng thương mại được mua, nắm giữ cổ phiếu của tổ chức tín dụng khác với điều kiện và trong giới hạn quy định của Ngân hàng Nhà nước”, nội dung này tiếp tục được NHNN thể hiện trong Điều 20 Thông tư 36/2014/TT-NHNN “Ngân hàng thương mại mua, nắm giữ cổ phiếu (bao gồm cả các khoản ủy thác cho tổ chức, cá nhân khác và cổ đông của ngân hàng thương mại mua, nắm giữ cổ phiếu) của tổ chức tín dụng khác”, những quy định trên vẫn chưa quy định chặt chẽ được việc các NHTM và các Công ty con cùng các đối tác của Công ty con mua, nắm giữ cổ phiếu của các TCTD khác.
Trong trường hợp này các NHTM không cần thông qua các con ty liên kết, Công ty con của mình để nắm giữ cổ phần của các NHTM hoặc TCTD. Các Công ty con của NHTM sử dụng các đối tác của mình, có thể là thông qua các hợp đồng kinh doanh, hay các Công ty có tư cách pháp nhân riêng mà các Công ty con của NHTM đã đầu tư mua cổ phần và chính các Công ty này sẽ mua cổ phiếu của các TCTD khác, khi đó NHTM vẫn có thể chi phối được các TCTD khác. Bởi lẽ, các Công ty con, Công ty liên kết là các Công ty mà NHTM có quyền chi phối trong hoạt động kinh doanh, cũng như hoạt động đầu tư.
Nếu như không có quy định cụ thể mở rộng hơn về các đối tác của các Công ty con, Công ty liên kết của cùng một NHTM góp vốn, mua cổ phần của một TCTD khác thì khả năng một NHTM thông qua các Công ty con, Công ty liên kết của mình để lách luật về hạn chế số lượng các TCTD được phép mua cổ phần (theo Khoản 3, Điều 20 Thông tư 36/2014/TT-NHNN NHTM chỉ được mua, nắm giữ cổ phiếu tối đa không quá hai (02) TCTD khác). Với tình trạng các NHTM thông qua các Công ty con, Công ty liên kết của mình để nắm giữ cổ phần của các TCTD khác sẽ làm mất đi ý nghĩa của việc hạn chế tình trạng sở hữu lẫn nhau trong hệ thống NH hiện nay mà quy định pháp luật đang hướng đến.
Cần quy định về việc cấm tình trạng NHTM tham gia thành lập, góp vốn, mua cổ phần của DN được thành lập bởi các Công ty con, Công ty liên kết của NHTM đó để hạn chế tình trạng sở hữu chồng chéo. Và các DN được thành lập bởi các Công ty con của NHTM cũng không được mua cổ phần của chính NHTM đó.
Chẳng hạn, thông qua việc phát hành trái phiếu, các Công ty con, Công ty liên kết hoạt động lĩnh vực chứng khoán vẫn có thể được NHTM cấp vốn, thông qua bên thứ ba khác. Công ty cổ phần chứng khoán Sài Gòn thương tín (mã SBS) công bố kế hoạch phát hành riêng lẻ 800 tỷ đồng trái phiếu chuyển đổi cho đối tác chiến lược vào năm 2011. Đến ngày 12/3/2012, SBS cho biết đã phát hành thành công cho Công ty cổ phần dịch vụ giá trị mới. Trái phiếu có thời hạn 3 năm, mỗi năm trả lãi 1 lần với lãi suất 13%/năm. Đến quý III/2011, khi SBS công bố báo cáo bán niên đã soát xét. Trong thuyết minh chỉ rõ “Công ty cổ phần dịch vụ giá trị mới không thực hiện thanh toán tiền mua trái phiếu mà chuyển nhượng cho NHTM CP Sài Gòn Thương tín theo thoả thuận chuyển đổi số 0703/2012/TTCN ngày 7 tháng 3 năm 2012. Cùng ngày, Công ty với tư cách là tổ chức phát hành đã xác nhận việc chuyển nhượng này. Đến ngày 9 tháng 3, NHTM CP Sài Gòn thương tín đã thanh toán 800 tỷ đồng tiền mua trái phiếu cho Công ty”. Luận văn: Thực trạng pháp luật giới hạn đầu tư vốn tại ngân hàng.
Với vụ việc trên cho thấy các NHTM hoàn toàn có thể thông qua các hợp đồng ủy thác đầu tư với một bên thứ 3 để tiếp vốn cho các Công ty con, Công ty liên kết của mình đang hoạt động lĩnh vực chứng khoán mà theo quy định của pháp luật là không được. Ở đây NH Sacombank đã vi phạm quy định tại Điểm e, Khoản 1, Điều 127 Luật TCTD 2010 về hạn chế cấp tín dụng. Vì NH Sacombank đã cấp tín dụng cho Công ty nhưng không có tài sản bảo đảm, cho dù NH Sacombank đã mua lại số trái phiếu từ đối tác khác.
2.3.8 Cần xây dựng thông tư hướng dẫn về góp vốn, mua cổ phần
Hoạt động góp vốn mua cổ phần của các NHTM ngày càng trở thành một hình thức đầu tư quan trọng trong hệ thống NHTM. Hệ thống các Công ty con, Công ty liên kết của các NHTM ngày càng nhiều và đa dạng, nên nhu cầu cần xây dựng một thông tư nhằm hướng dẫn việc các NHTM góp vốn mua cổ phần là cần thiết. Hiện nay trong luật TCTD 2010 chỉ có Điều 103 quy định về góp vốn mua cổ phần và chưa có văn bản hướng dẫn các quy định của luật TCTD 2010, Thông tư 36/2014/TT-NHNN có quy định về tỷ lệ các giới hạn được đầu tư vốn… tuy nhiên vẫn chưa có thông tư về hướng dẫn chung cho hoạt động góp vốn, mua của phần của các NHTM.
Trong thông tư hướng dẫn phải đáp ứng cơ bản các nội dung: Điều kiện để góp vốn mua, điều kiện về các NHTM về tình hình hoạt động, kinh doanh phải có lãi nhằm đảm bảo NHTM hoạt động phải có hiệu quả trước khi mở rộng sang các lĩnh vực khác, các điều kiện về việc đảm bảo tỷ lệ an toàn và tỷ lệ góp vốn mua cổ phần trước và sau khi góp vốn, mua cổ phần, điều kiện về năng lực quản trị, thông tư cũng cần quy định thêm về việc hoán đổi nợ thành góp vốn, mua cổ phần…
Ngoài ra trong thông tư hướng dẫn phải quy định rõ trong trường hợp lĩnh vực kinh doanh thì được thành lập Công ty con, Công ty liên kêt. Quy định phụ lục rõ những ngành nghề được góp vốn mua cổ phẩn, để các NHTM chủ động xây dựng chiến lược kinh doanh. Tuỳ theo mỗi hình thức tiến hành, thông tư hướng dẫn sẽ có các tỷ lệ đầu tư riêng. Việc thành lập Công ty con, Công ty liên kết đầu tư theo các ngành nghề, lĩnh vực liên quan đến tài chính NH, tiền tệ, chứng khoán, cho thuê tài chính, bảo hiểm, thông tư có thể quy định theo hướng tạo điều kiện để các NHTM đầu tư thành lập. Vì đây là những ngành nghề có liên quan đến hoạt động của các NHTM, nên các NHTM có thể hỗ trợ về khả năng quản trị, vốn…
Còn đối với hình thức góp vốn mua cổ phần vào các lĩnh vực ngoài ngành NH, tài chính, thông tư có thể quy định rõ những ngành nghề cụ thể, nhưng quản lý chặt và có các điều kiện thêm đối với hình thức đầu tư này. Khi đó những NHTM có đủ khả năng về quản trị, vốn, nhân lực mới đủ điều kiện để phát triển mở rộng sang các ngành nghề kinh doanh khác.
Kết luận chương 2 Luận văn: Thực trạng pháp luật giới hạn đầu tư vốn tại ngân hàng.
- Trong chương 2 tác giả chủ yếu đi vào phân tích, làm rõ các nội dung sau:
Đánh giá lại thực trạng pháp lý khi các NHTM trực tiếp đi vào áp dụng trên hai khía cạnh. Tác giả phân tích những hiệu quả khi các NHTM áp dụng trong hoạt động đầu tư vốn. Ngoài ra đi vào phân tích những hạn chế mà các NHTM gặp phải trong việc áp dụng các quy định pháp luật hiện hành: Các NHTM vẫn sở hữu vượt tỷ lệ cho phép và việc xử lý số cổ phần vượt quy định của pháp luật không hiệu quả cho dù NHNN đã có những chế tài.
Kế đến, tác giả đưa ra một số vướng mắc đối với quy định pháp luật hiện hành về giới hạn đầu tư vốn của các NHTM. Như nội dung về đầu tư vốn, giới hạn tổng mức được sử dụng nguồn vốn của NHTM chưa được quy định rõ. NHTM thương mại chưa giám sát chặt chẽ nguồn tiền các NHTM đầu tư vào TPDN và công tác xử lý các NHTM sở hữu vượt cổ phần cho phép chưa được kiên quyết.
Trên cơ sở đó, tác giả đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện hơn nữa pháp luật Việt nam về giới hạn đầu tư vốn của các NHTM. Các giải pháp đi vào trực tiếp cụ thể những vẫn đề còn thiết sót hiện nay: Cần xây dựng nội dung khái niệm về đầu tư vốn hiện nay, quy định cụ thể một số lĩnh vực luật chưa nêu rõ, cần làm rõ tổng mức vốn được đầu tư của NHTM, các giải pháp nhằm nâng cao hoạt động đầu tư vốn của NHTM nhưng trong các giới hạn an toàn, hiệu quả của pháp luật.
KẾT LUẬN
Việc nghiên cứu các tỷ lệ về giới hạn đầu tư vốn của NHTM có vai trò và ý nghĩa tích cực trong quá trình hoạt động kinh doanh của NHTM. Trên cơ sở nghiên cứu các nguồn tài liệu khác nhau từ những luận án, luận văn, các bài tạp chí, luận văn đã đóng góp các điểm mới sau: Đi sâu phân tích những quy định của pháp luật hiện hành liên quan đến giới hạn đầu tư vốn của các NHTM, đặc biệt là góp vốn, mua cổ phần, đầu tư TPDN, TPCP và mua cổ phiếu của các NHTM. Mỗi hình thức đầu tư vốn đều có những quy định riêng về tỷ lệ giới hạn đầu tư vốn nhằm tăng cường vai trò quản lý của NHNN.
Tác giả tiếp tục đi sâu vào những ưu khuyết điểm hệ thống pháp lý khi các NHTM áp dụng các quy định của pháp luật liên quan đến các giới hạn đầu tư vốn của NHTM. Thống qua việc nghiên cứu các văn bản pháp luật và thực tiễn hoạt động của các NHTM tác giả đưa ra một số vướng mắc trong các quy định của pháp luật: Nội dung hoạt động đầu tư vốn của NHTM chưa được quy định rõ, chưa làm rõ quy định về giới hạn tổng mức được sử dụng nguồn vốn để tiến hành hoạt động đầu tư, chưa phát huy cơ chế giám sát đối với dòng tiền của NHTM khi đầu tư vào các TPDN và việc xử lý đối với các NHTM sở hữu vượt quá quy định. Đây là những nội dung rất quan trọng mà luật cần làm rõ để các NHTM dễ áp dụng trong quá trình hoạt động đầu tư kinh doanh. Việc làm rõ nội dụng hoạt động đầu tư vốn và tổng mức nguồn vốn được sử dụng để đầu tư giúp các NHTM có cái nhìn tổng thể về hoạt động đầu tư vốn và có kế hoạch rõ ràng, cụ thể trong việc sử dụng nguồn vốn vào các hình thức đầu tư khác nhau.
Để giúp các NHTM tuân thủ đúng quy định của pháp luật về tỷ lệ giới hạn đầu tư vốn và đạt hiệu quả cao trong quá trình hoạt động kinh doanh, luận văn đã đưa ra được một số giải pháp nhằm tháo gỡ những vướng mắc hiện này và giúp các NHTM chủ động phương hướng kinh doanh, đạt hiệu quả cao, tránh đầu tư nhiều ngành nghề không hiệu quả, vi phạm các quy định của pháp luật về tỷ lệ đầu tư vốn của NHTM trong các hình thức khác nhau.
Luận văn đã nêu lên được nội dung đầu tư vốn của NHTM, làm rõ lĩnh vực các NHTM được góp vốn mua cổ phần, giúp các NHTM chủ động trong hoạt động đầu tư kinh doanh. Sự cần thiết xây dựng giới hạn tổng mức vốn được tiến hành đầu tư, tạo hành lang an toàn cho hoạt động đầu tư vốn của các NHTM. Luận văn cũng đi sâu hoàn thiện các quy định nhằm nâng cao việc các NHTM sử dụng nguồn vốn đầu tư vào TPDN, cổ phiếu các TCTD đạt hiệu quả cao. Bên cạnh đó luận văn cũng đã đưa ra các giải pháp nhằm hạn chế việc sở hữu qua lại giữa các NHTM và các đối tác liên quan, thông qua các Công ty con, Công ty liên kết. Luận văn: Thực trạng pháp luật giới hạn đầu tư vốn tại ngân hàng.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Quy định pháp luật giới hạn đầu tư vốn của Ngân hàng

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com
