Luận văn: Thực tiễn xác định Trách nhiệm bồi thường thiệt hại

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Thực tiễn xác định Trách nhiệm bồi thường thiệt hại hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Thực tiễn áp dụng các quy định về căn cứ xác định Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước theo pháp luật Việt Nam hiện nay và một số kiến nghị hoàn thiện dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

3.1. Thực trạng tình hình bồi thường theo quy định của Luật TNBTCNN và thực tiễn áp dụng căn cứ xác định Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước

3.1.1. Số liệu bồi thường nhà nước trong các lĩnh vực

Để đánh giá chính xác những tác động của căn cứ xác định Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện nay ta cần thực hiện việc thu thập, phân tích, đánh giá trên cơ sở số liệu về tình hình yêu cầu bồi thường và giải quyết bồi thường theo quy định của Luật TNBTCNN trong thời gian vừa qua. Trên cơ sở những phân tích, đánh giá đó để tìm ra những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế nhằm đưa ra các giải pháp, kiến nghị hoàn thiện các quy định của pháp luật về căn cứ xác định Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước nói riêng cũng như hoàn thiện các quy định của pháp luật Việt Nam về bồi thường nhà nước nói chung.

Theo Báo cáo của các Bộ, ngành, địa phương, từ khi Luật TNBTCNN có hiệu lực đến ngày 31/12/2015, các cơ quan có trách nhiệm bồi thường đã thụ lý, giải quyết 258 vụ việc yêu cầu bồi thường thiệt hại (trong đó cơ quan giải quyết bồi thường tại Trung ương giải quyết 05 vụ việc, tại cấp cấp tỉnh giải quyết 88 vụ việc, tại cấp huyện và cấp xã giải quyết 165 vụ việc), đã giải quyết được 204/258 vụ việc (đạt tỷ lệ 79%), với tổng số tiền nhà nước phải bồi thường là 111 tỷ 149 triệu 416 nghìn đồng, còn lại 54 vụ việc đang tiếp tục giải quyết [3,Tr 14].

Bên cạnh việc giải quyết bồi thường tại các cơ quan có trách nhiệm bồi thường, Tòa án nhân dân các cấp đã thụ lý 51 vụ án dân sự về bồi thường nhà nước (các vụ việc người bị thiệt hại không đồng ý với quyết định giải quyết bồi thường của cơ quan có trách nhiệm bồi thường và khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết bồi thường theo quy định tại điều 22 Luật TNBTCNN), đã giải quyết xong 39 vụ việc, với số tiền là 32 tỷ 529 triệu 484 nghìn đồng, còn 12 vụ việc đang nghiên cứu giải quyết [3, Tr 14].

Cụ thể về tình hình yêu cầu bồi thường và giải quyết bồi thường trong từng lĩnh vực như sau:

  • Lĩnh vực quản lý hành chính Luận văn: Thực tiễn xác định Trách nhiệm bồi thường thiệt hại.

Trong lĩnh vực quản lý hành chính, trong 6 năm các cơ quan quản lý hành chính đã thụ lý 57 vụ việc yêu cầu bồi thường, trong đó, số vụ việc đã giải quyết bồi thường là 45 vụ việc (đạt tỷ lệ 78,9 %) với tổng số tiền nhà nước phải bồi thường là 12 tỷ 742 triệu 442 nghìn đồng, còn 12 vụ việc đang tiếp tục giải quyết. Lĩnh vực phát sinh nhiều vụ việc bồi thường là: thuế, đất đai, xử lý vi phạm hành chính…[3,Tr 14].

  • Lĩnh vực tố tụng

Trong lĩnh vực tố tụng, các cơ quan tố tụng đã thụ lý, giải quyết 163 vụ việc, đã giải quyết xong 133 vụ việc, (đạt tỷ lệ 81,5 %), với tổng số tiền Nhà nước phải bồi thường là 56 tỷ 759 triệu 384 nghìn đồng, còn 30 vụ việc đang giải quyết, cụ thể:

Trong hoạt động tố tụng hình sự: Tòa án các cấp đã thụ lý, giải quyết 38 vụ việc, đã giải quyết xong 32 vụ việc, với số tiền phải bồi thường là 37 tỷ 772 triệu 742 nghìn đồng (trong đó có 7 tỷ 272 triệu 247 nghìn đồng của ông Nguyễn Thanh Chấn (Bắc Giang), 22 tỷ 977 triệu 183 nghìn đồng của ông Lương Ngọc Phi (Thái Bình), còn 06 vụ việc đang giải quyết; Viện kiểm sát các cấp đã thụ lý, giải quyết đối với 113 trường hợp yêu cầu bồi thường, đã giải quyết xong 93 trường hợp, với tổng số tiền phải bồi thường là 16 tỷ 415 triệu 005 nghìn đồng, còn 20 trường hợp đang giải quyết; Ngành Công an đã thụ lý, giải quyết 11 vụ việc, đã giải quyết xong 7 vụ việc, với số tiền phải bồi thường là 2 tỷ 221 triệu 637 nghìn đồng, còn 04 vụ việc đang tiếp tục giải quyết; cơ quan tiến hành tố tụng thuộc phạm vi quản lý của Bộ Quốc phòng đã thụ lý, giải quyết 01 vụ việc với số tiền bồi thường là 350 triệu đồng (Quân khu III) [3,Tr 15]. .

  • Lĩnh vực thi hành án

Giải quyết bồi thường trong hoạt động thi hành án bao gồm: thi hành án hình sự và thi hành án dân sự. Theo báo cáo của các Bộ, ngành quản lý công tác thi hành án thì yêu cầu bồi thường mới chỉ phát sinh trong lĩnh vực thi hành án dân sự và các trường hợp này hầu hết thuộc trách nhiệm của cơ quan thi hành án dân sự thuộc phạm vi quản lý của Bộ Tư pháp. Đến nay, tổng số vụ việc yêu cầu bồi thường đã được thụ lý trong lĩnh vực thi hành án dân sự là 38 vụ việc, trong đó, số vụ việc đã giải quyết là 26 vụ việc (chiếm tỷ lệ 68,4 %), với số tiền Nhà nước phải bồi thường là 9 tỷ 118 triệu 106 nghìn đồng, còn 12 vụ việc đang trong quá trình giải quyết [3,Tr 15].

3.1.2. Thực tiễn áp dụng quy định về căn cứ xác định Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước Luận văn: Thực tiễn xác định Trách nhiệm bồi thường thiệt hại.

Quy định về căn cứ xác định Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước theo quy định của Luật TNBTCNN hiện nay gặp phải vô số những khó khăn, vướng mắc, đặc biệt là sự khập khiễng trong các quy định của Luật TNBTCNN với các quy định của Hiến pháp năm 2013 và các văn bản pháp luật được sửa đổi, bổ sung, thay thế trong năm 2015 như Bộ luật Dân sự 2015, pháp luật tố tụng dân sự, tố tụng hành chính, tố tụng hình sự, pháp luật về khiếu nại, tố cáo. Trong quá trình áp dụng Luật TNBTCNN và thực hiện các hoạt động như khảo sát tình hình thực hiện Luật TNBTCNN thể hiện nhiều điểm còn tồn tại, hạn chế từ chính các quy định của Luật, trong đó có quy định về căn cứ xác định TNBTCNN, cụ thể:

Trong hoạt động quản lý hành chính, riêng trong lĩnh vực thuế, theo báo cáo khảo sát chuyên đề về yêu cầu bồi thường và giải quyết yêu cầu bồi thường trong lĩnh vực thuế tại một số tỉnh, thành phố năm 2012 của Cục Bồi thường nhà nước thì theo đánh giá của các cán bộ, công chức làm việc tại các cơ quan quản lý nhà nước trong lĩnh vực thuế và người làm công tác xét xử tại Tòa án nhân dân các cấp thì các nhóm quy định về bồi thường nhà nước hiện nay đều còn những hạn chế, bất cập, chưa thực sự phù hợp với tình hình giải quyết trên thực tế, trong đó 62.1% cho rằng những hạn chế, bất cập nằm ở nhóm quy định về phạm vi trách nhiệm bồi thường. Đặc biệt, khi khảo sát về hồ sơ yêu cầu bồi thường, các đối tượng được khảo sát nhận định rằng 66.7% hồ sơ yêu cầu bồi thường đã đầy đủ. Tuy nhiên, vẫn có khoảng hơn 30% số lượng hồ sơ yêu cầu bồi thường chưa đầy đủ, loại văn bản thường không được cung cấp đầy đủ là “văn bản xác định hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ” [18, Tr 65].

Trong hoạt động thi hành án dân sự, theo báo cáo khảo sát yêu cầu bồi thường và giải quyết bồi thường trong hoạt động thi hành án dân sự năm 2012 thì trong tổng số khiếu nại, tố cáo mà cơ quan nhà nước nhận được trong hoạt động thi hành án dân sự thì số lượng khiếu nại, tố cáo có căn cứ chỉ chiếm 27.2%. Số lượng cơ quan thi hành án dân sự nhận được yêu cầu bồi thường trên cơ sở kết quả giải quyết khiếu nại, tố cáo cũng không nhiều, trong đó hơn một nửa số lượng yêu cầu bồi thường không đầy đủ hồ sơ chiếm 53.2% và trong số này thì nguyên nhân thiếu văn bản của cơ quan có thẩm quyền xác định hành vi của người thi hành công vụ là trái pháp luật làm căn cứ yêu cầu bồi thường chiếm đến 44.8% [17, Tr 31]..

Trong hoạt động tố tụng (tố tụng hình sự, tố tụng dân sự, tố tụng hành chính), mặc dù chưa có một con số thống kê cụ thể trong việc áp dụng các quy định về căn cứ xác định Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước, tuy nhiên qua báo cáo của Tòa án nhân dân Tối cao thể hiện con số yêu cầu bồi thường và giải quyết yêu cầu bồi thường chiếm số lượng rất nhỏ, cụ thể theo báo cáo về tình hình yêu cầu bồi thường, giải quyết bồi thường trong ngành Tòa án nhân dân, Tòa án nhân dân tối cao thống kê sau ba năm thi hành Luật TNBTCNN, toàn ngành tiếp nhận 29 đơn yêu cầu bồi thường thuộc trách nhiệm bồi thường của Tòa án, trong đó đã giải quyết 20 đơn yêu cầu bồi thường, trong đó có 10 đơn yêu cầu không có đủ căn cứ yêu cầu bồi thường, 10 đơn được giải quyết theo đúng quy định của pháp luật, số vụ còn lại đang được xem xét giải quyết. Đối với việc giải quyết các vụ kiện đòi bồi thường do Tòa án có thẩm quyền giải quyết sau ba năm thi hành Luật TNBTCNN, ngành Tòa án đã thụ lý 34 đơn khởi kiện đối với đối tượng bị đơn là cơ quan công an, viện kiểm sát, cơ quan thi hành án, cơ quan quản lý hành chính. Số vụ đã được giải quyết là 18 trong đó có 4 vụ không đủ căn cứ để quyết định việc bồi thường, còn 14 vụ đã đủ căn cứ và được Tòa án giải quyết, các vụ còn lại Tòa đang tiếp tục giải quyết. [8, Tr 162].

Riêng với hoạt động thi hành án hình sự, theo thống kê từ Cục Bồi thường nhà nước thì cho đến nay chưa phát sinh vụ việc cụ thể nên chưa có cơ sở để đánh giá [8, Tr 25]. Tuy nhiên, với những quy định mới của pháp luật về thi hành án hình sự hiện nay, căn cứ xác định Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước trong hoạt động thi hành án hình sự cần được sửa đổi sao cho phù hợp. Luận văn: Thực tiễn xác định Trách nhiệm bồi thường thiệt hại.

3.1.3. Đánh giá tình hình yêu cầu bồi thường, giải quyết bồi thường nhà nước trong các lĩnh vực và việc áp dụng các quy định về căn cứ xác định Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước

Từ những số liệu về tình hình yêu cầu bồi thường và giải quyết bồi thường nêu trên, có thể thấy, lĩnh vực phát sinh Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước trong hoạt động tố tụng chiếm tỷ lệ lớn nhất, số vụ việc thụ lý giải quyết trong tố tụng xấp xỉ gấp 2,9 lần so với số lượng vụ việc trong quản lý hành chính và gấp gần 4,3 lần so với hoạt động thi hành án. Theo đó, số tiền bồi thường thiệt hại trong hoạt động tố tụng nhiều gấp 4,7 lần so với hoạt động quản lý hành chính và gấp 6,2 lần so với lĩnh vực thi hành án.

Tuy nhiên, với những quy định được cho là “nút thắt” về căn cứ xác định Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước là người bị thiệt hại phải có văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ theo quy định của Luật TNBTCNN như đã phân tích ở trên, câu hỏi đặt ra là những con số này đã phản ánh đúng thực tế hay chưa? Theo số liệu về tình hình yêu cầu bồi thường, có thể thấy, chưa có sự ăn khớp giữa số liệu vụ việc bồi thường và kết quả giải quyết khiếu nại tố cáo (trong khi đó theo quy định của Luật TNBTCNN thì kết quả giải quyết khiếu nại, tố cáo là một trong những căn cứ để người dân thực hiện quyền yêu cầu bồi thường của mình), cụ thể:

Trong 5 năm từ 2010 đến 2015, ngành Thanh tra đã tiếp nhận 609.999 đơn khiếu nại, tố cáo; đã giải quyết 214.113 vụ việc khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền. Trong khi đó, theo số liệu thống kê về tình hình yêu cầu bồi thường và giải quyết bồi thường theo trình tự, thủ tục của Luật TNBTCNN trong hoạt động quản lý hành chính thì tính đến thời điểm năm 2014, cả nước mới thụ lý giải quyết 57 vụ việc yêu cầu bồi thường, đã giải quyết bồi thường xong 45 vụ việc (đạt tỷ lệ 78,9 %). Các vụ việc phát sinh liên quan đến bồi thường nhà nước trong quản lý hành chính chủ yếu liên quan đến hoạt động quản lý nhà nước về đất đai, thuế, hải quan, xử lý vi phạm hành chính…[21]. Luận văn: Thực tiễn xác định Trách nhiệm bồi thường thiệt hại.

Qua đánh giá các con số cho thấy, số lượng vụ việc yêu cầu bồi thường trong quản lý hành chính theo trình tự, thủ tục của Luật TNBTCNN chênh lệch rất lớn so với số lượng các vụ việc khiếu nại, tố cáo được giải quyết, trong khi các cơ quan quản lý hành chính hàng năm phải giải quyết rất nhiều khiếu nại, tố cáo của cá nhân, tổ chức, đặc biệt là trong lĩnh vực bồi thường giải phóng mặt bằng, xử lý các vi phạm hành chính. Điển hình năm 2013, cả nước đã giải quyết trên 40 nghìn vụ việc khiếu nại, tố cáo, trong đó, có gần 40% khiếu nại và trên 50% tố cáo được cơ quan có thẩm quyền giải quyết cho rằng khiếu nại, tố cáo đúng hoặc đúng một phần [14, Tr.6] – tương đương với khoảng 20 nghìn số vụ khiếu nại, tố cáo là có cơ sở. Trong khi đó, so sánh số liệu này với số liệu về yêu cầu bồi thường và giải quyết bồi thường trong hoạt động quản lý hành chính như đã nêu trên thì có thể thấy hai con số này không tương xứng với nhau. Trong khi đó, so sánh số liệu này với số liệu về yêu cầu bồi thường và giải quyết bồi thường trong hoạt động quản lý hành chính chỉ có 19 vụ việc được giải quyết cho thấy sự bất hợp lý trong việc thụ lý và giải quyết vụ việc bồi thường nhà nước. Số liệu này thể hiện: số lượng vụ việc đã yêu cầu bồi thường và giải quyết bồi thường là quá ít so với số lượng khiếu nại tố cáo hàng năm; lý do để người dân khiếu nại, tố cáo là quyền và lợi ích của họ bị xâm phạm bởi các quyết định hành chính, hành vi hành chính trái pháp luật nhưng khi khiếu nại, tố cáo của họ được xác định là có căn cứ thì tại sao chỉ có 19 vụ việc yêu cầu bồi thường?

  • Sự chênh lệch số liệu như trên có thể do các nguyên nhân sau:

Do nhận thức pháp luật của người dân về Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước còn chưa đầy đủ, nhiều người dân còn chưa biết đến Luật TNBTCNN. Trên thực tế, có nhiều trường hợp người dân mặc dù thuộc trường hợp được bồi thường theo quy định của Luật TNBTCNN nhưng do không biết đến Luật nên họ không thực hiện quyền yêu cầu bồi thường của mình và đến khi biết đến Luật để thực hiện quyền yêu cầu bồi thường thì đã hết thời hiệu yêu cầu bồi thường hoặc có tình trạng người dân “ngại” yêu cầu chính cơ quan có cán bộ, công chức sai phạm bồi thường thiệt hại cho mình bởi suy nghĩ đơn giản là “chỉ mong cho xong việc”.

Nhiều vụ việc yêu cầu bồi thường đã được giải quyết thông qua thương lượng trực tiếp giữa ngươi thi hành công vụ gây ra thiệt hại và người bị thiệt hại. Kết quả là người thi hành công vụ đã tự bỏ tiền của chính mình ra để bồi thường thiệt hại thay vì thực hiện đúng trình tự, thủ tục về thụ lý đơn và giải quyết bồi thường, dẫn đến vụ việc không được thống kê để báo cáo cơ quan nhà nước có thẩm quyền [31]. Luận văn: Thực tiễn xác định Trách nhiệm bồi thường thiệt hại.

Nhiều vụ việc yêu cầu bồi thường đã được Tòa án thụ lý, giải quyết mà trước đó, vụ việc chưa được giải quyết bồi thường thông qua hoạt động thương lượng bắt buộc giữa người bị thiệt hại và cơ quan có trách nhiệm bồi thường. Những vụ việc giải quyết bồi thường như trên sẽ không được thống kê vào những vụ việc yêu cầu bồi thường theo quy định của Luật TNBTCNN bởi trình tự, thủ tục không được thực hiện đúng theo quy định của Luật TNBTCNN.

Sự chênh lệch về con số giải quyết bồi thường theo quy định của Luật TNBTCNN với số lượng các vụ việc theo con đường giải quyết khiếu nại, tố cáo và tố tụng do trình độ nhận thức của các cán bộ, công chức do không phân tách được yêu cầu bồi thường nhằm bù đắp những thiệt hại do thực hiện các chính sách Nhà nước hay yêu cầu bồi thường do hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ theo quy định của Luật TNBTCNN. Do đó, con số về bồi thường nhà nước chưa thể hiện được chính xác tình hình thực tế.

Việc thống kê số liệu vụ việc yêu cầu bồi thường chưa đầy đủ, thống nhất. Riêng trong hoạt động quản lý hành chính, việc yêu cầu bồi thường và giải quyết bồi thường được Luật TNBTCNN quy định có 3 cách thức gồm (i) yêu cầu bồi thường và giải quyết bồi thường theo quy định của Luật TNBTCNN; (ii) yêu cầu bồi thường và giải quyết bồi thường theo quy định của pháp luật về khiếu nại; (iii) yêu cầu bồi thường và giải quyết yêu cầu bồi thường theo quy định của pháp luật về thủ tục giải quyết các vụ án hành chính. Tuy nhiên, cho đến nay việc thống kê số liệu mới chủ yếu được thực hiện với các vụ việc yêu cầu bồi thường và giải quyết bồi thường theo quy định của Luật TNBTCNN mà rất hạn chế được thực hiện với các vụ việc yêu cầu bồi thường trong quá trình khiếu nại và yêu cầu bồi thường trong quá trình khởi kiện vụ án hành chính.

Đặc biệt, các quy định liên quan đến căn cứ xác định TNBTCNN đang làm khó cho cả phía cơ quan nhà nước cũng như cá nhân, tổ chức trong quá trình bảo vệ quyền lợi chính đáng của họ khi họ phải gánh chịu thiệt hại từ hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ. Để minh chứng cho nhận định này, sau đây là các tình huống có thật xảy ra trên thực tế liên quan đến quy định về căn cứ xác định Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước:

Vụ việc thứ nhất, liên quan đến văn bản xác định hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ làm căn cứ yêu cầu bồi thường Căn cứ Bản án dân sự phúc thẩm số 14/DSPT ngày 16/03/1998 của Tòa án nhân dân tỉnh QN, ông Lương Ngọc K đã có đơn gửi Chi cục Thi hành án dân sự thành phố HL yêu cầu bên phải thi hành án trả lại phần đất đã lấn chiếm trái phép và bồi thường thiệt hại cho gia đình ông K. Trên cơ sở đó Chi cục Thi hành án dân sự thành phố HL đã ra quyết định thi hành án theo yêu cầu của ông K nhưng trong quá trình thi hành án đã không kịp thời áp dụng các biện pháp cần thiết, kéo dài việc thi hành án, dẫn đến người phải thi hành án tẩu tán tài sản, gây thiệt hại cho gia đình ông K. Do đó, ông K đã có đơn gửi đến Chi cục Thi hành án dân sự thành phố HL khiếu nại, yêu cầu bồi thường đối với các thiệt hại phát sinh từ việc chấp hành viên Chi cục Thi hành án dân sự thành phố HL không kịp thời áp dụng các biện pháp thi hành án, kéo dài việc thi hành án, gây thiệt hại cho gia đình ông K. Ngày 17/06/2011, Chi cục Thi hành án dân sự thành phố HL ra Quyết định giải quyết khiếu nại số 49/QĐ-GQKNTHA (Quyết định số 49) trong đó chấp nhận một phần khiếu nại của ông K về việc Chi cục Tthi hành án dân sự thành phố HL chậm thi hành án, để vụ việc kéo dài, gây thiệt hại cho gia đình ông K nhưng phần yêu cầu của ông K về việc xác định rõ yếu tố lỗi của chấp hành viên không được nêu trong nội dung Quyết định. Vậy, Quyết định số 49 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố HL có được coi là văn bản của cơ quan có thẩm quyền xác định hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ làm căn cứ để gia đình ông K thực hiện quyền yêu cầu bồi thường theo quy định của Luật TNBTCNN hay không?

Theo quy định tại Điều 38 Luật TNBTCNN và Điều 6 Thông tư liên tịch số 17 thì việc để vụ việc kéo dài mà không giải quyết dứt điểm do không ra quyết định cưỡng chế thi hành án hay không tổ chức cưỡng chế thi hành án đã gây ra thiệt hại cho gia đình ông K thuộc phạm vi Nhà nước bồi thường trong hoạt động thi hành án dân sự.

Căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 4 Thông tư liên tịch số 17 thì trách nhiệm bồi thường nhà nước trong trường hợp người thi hành công vụ không ra quyết định hoặc không tổ chức thi hành quyết định về thi hành án dân sự quy định tại Điều 38 của Luật TNBTCNN chỉ phát sinh khi có đủ các điều kiện: có văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định hành vi của người thi hành công vụ là trái pháp luật thuộc phạm vi trách nhiệm bồi thường theo quy định tại Điều 38 Luật TNBTCNN; có thiệt hại thực tế xảy ra do hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ; có lỗi cố ý của người thi hành công vụ. Theo quy định tại Điều 3 Thông tư liên tịch số 17 thì Quyết định số 49 có hiệu lực pháp luật là văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định hành vi của người thi hành công vụ là trái pháp luật làm căn cứ để gia đình ông K thực hiện việc yêu cầu bồi thường. Tuy nhiên, trong trường hợp này Quyết định số 49 chưa có nội dung xác định lỗi cố ý của người thi hành công vụ nên chưa có đủ căn cứ xác định trách nhiệm bồi thường của Nhà nước theo quy định của Luật TNBTCNN.

Để có đầy đủ căn cứ xác định trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, gia đình ông K cần thực hiện thêm một thủ tục nữa là đề nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện việc xác định lỗi cố ý của người thi hành công vụ (căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 5 của Thông tư liên tịch số 17) để có đầy đủ căn cứ xác định trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong hoạt động Thi hành án dân sự trước khi giải quyết bồi thường. Đây là một trong những hạn chế của Luật TNBTCNN về căn cứ xác định Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước, cụ thể là làm khó người bị thiệt hại trong việc yêu cầu văn bản với nội dung xác định lỗi của người thi hành công vụ. Luận văn: Thực tiễn xác định Trách nhiệm bồi thường thiệt hại.

Vụ việc thứ hai, liên quan đến phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước Ông Trần Kim L và Bà Nguyễn Thị Th thỏa thuận mua bán căn nhà số C25/3 đường Trần Não, khu phố 1, phường K, quận 2, thành phố M với giá 700 triệu đồng, thể hiện tại Hợp đồng mua bán nhà ở số 9007/HĐ-MB. Tại thời điểm giao dịch ông L và bà Th đều biết căn nhà số C25/3 thuộc khu quy hoạch, không thể làm thủ tục sang tên nên hai bên thống nhất thực hiện dưới dạng hợp đồng ủy quyền cùng với hợp đồng công chứng về việc mua bán nhà để bà Th (người mua nhà) thay mặt ông L nhận mọi quyền lợi, tiêu chuẩn bồi thường, giải tỏa đối với diện tích nhà đất nêu trên. Ông L và bà Th đã thực hiện thủ tục công chứng Hợp đồng mua bán nhà ở số 9007/HĐ-MB và hợp đồng ủy quyền tại Phòng công chứng số 5, do Công chứng viên Nguyễn Mạnh C thực hiện. Sau khi bà Th nhận được 1.538.022.327 đồng tiền bồi thường, giải phóng mặt bằng, ông L đã gửi đơn khởi kiện lên Tòa án nhân dân quận 2 yêu cầu hủy bỏ hợp đồng ủy quyền giữa ông L và bà Th và Hợp đồng mua bán nhà số 9007/HĐ-MB. TAND quận 2 ra quyết định không chấp nhận yêu cầu của ông L. Thực hiện quyền kháng cáo, ông L gửi đơn kháng cáo lên Tòa án nhân dân thành phố M, Tòa án nhân dân thành phố M đã ra Bản án phúc thẩm số 719/2012/DSPT tuyên bố Hợp đồng số 9007/HĐ-MB vô hiệu (hợp đồng vi phạm điều cấm của pháp luật theo quy định tại Điều 128 Bộ luật Dân sự), Bản án còn quyết định sau khi cấn trừ nghĩa vụ của các bên, bà Th phải trả cho ông L số tiền là 419.011.000 đồng.

Cho rằng việc Công chứng viên Nguyễn Mạnh C công chứng Hợp đồng mua bán nhà ở số 9007/HĐ-MB là có hành vi vi phạm pháp luật. Việc chứng nhận hợp đồng mua bán trái pháp luật đã dẫn đến thiệt hại cho Ông L, nên Ông L yêu cầu giải quyết bồi thường theo quy định của Luật TNBTCNN đối với hành vi của Công chứng viên Nguyễn Mạnh C.

Để giải quyết vụ việc trên, cần xem xét các yếu tố vụ việc có đủ các căn cứ yêu cầu bồi thường theo quy định của Luật TNBTCNN hay không? Theo quy định tại Điều 13 Luật TNBTCNN; Điều 5 Thông tư liên tịch số 18 quy định về phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong hoạt động quản lý hành chính thì Nhà nước có trách nhiệm bồi thường trong hoạt động quản lý hành chính đối với các hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ gây ra được quy định cụ thể tại 11 khoản của Điều 13. Đối chiếu trương hợp sai phạm do hành vi công chứng hợp đồng bán nhà trái pháp luật của công chứng viên với 11 khoản tại Điều 13 Luật TNBTCNN thì hành vi sai phạm này không thuộc phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước. Tuy nhiên, tại khoản 12 Điều 13 có quy định mở “các trường hợp được bồi thường khác do pháp luật quy định”.

Dẫn chiếu sang điểm e Điều 13 Luật Khiếu nại năm 2011 quy định: “Người bị khiếu nại có nghĩa vụ bồi thường, bồi hoàn thiệt hại do quyết định hành chính, hành vi hành chính trái pháp luật của mình gây ra theo quy định của pháp luật về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước” và Điều 58 Luật Công chứng: “Công chứng viên vi phạm quy định của Luật này thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật”… Các quy định trên cần được hiểu là các quyết định hành chính, hành vi hành chính trái pháp luật gây ra thiệt hại thì nhà nước phải bồi thường nhưng phải tuân thủ các quy định của Luật TNBTCNN về phạm vi, căn cứ, trình tự, thủ tục… Luận văn: Thực tiễn xác định Trách nhiệm bồi thường thiệt hại.

Trên thực tế, vụ việc mặc dù có thiệt hại thực tế xảy ra do có hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ phát sinh trong hoạt động quản lý hành chính, nhưng các hành vi này không thuộc phạm vi được bồi thường theo quy định của Điều 13 Luật TNBTCNN. Do vậy, kể cả khi đương sự có quyết định giải quyết khiếu nại, kết luận giải quyết tố cáo có hiệu lực pháp luật của cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì cũng không thể thụ lý giải quyết yêu cầu bồi thường theo quy định của Luật TNBTCNN. Trên cơ sở đó, để thực hiện quyền của mình, người bị thiệt hại trong hai vụ việc trên có thể yêu cầu bồi thường theo quy định của pháp luật dân sự, tố tụng dân sự về yêu cầu bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng và có đơn khiếu nại đến cơ quan có thẩm quyền quản lý cán bộ để được xem xét giải quyết về yêu cầu kỷ luật cán bộ theo quy định. Đây là một trong những hạn chế của Luật TNBTCNN về phạm vi Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước, cụ thể là làm mất đi tính công bằng giữa những người bị thiệt hại khi họ cùng chịu thiệt hại từ hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ nhưng vì không thuộc phạm vi Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước nên họ không được Nhà nước bồi thường.

  • Vụ việc thứ ba, liên quan đến văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường

Đại diện Công ty TNHH VB (Công ty VB) có đơn gửi lên Sở Kế hoạch và đầu tư tỉnh H đề nghị cấp giấy phép kinh doanh cho Công ty VB. Tuy nhiên Sở Kế hoạch và đầu tư tỉnh H đã cố ý kéo dài thời gian, không cấp giấy phép kinh doanh, gây chậm trễ và gây thiệt hại cho Công ty VB. Do đó, Công ty VB đã có đơn gửi UBND tỉnh H khiếu nại về việc làm trên của Sở Kế hoạch và đầu tư tỉnh H. Ngày 20/04/2012, trên cơ sở đơn khiếu nại của Công ty VB, Chủ tịch UBND tỉnh H đã ra Quyết định số 05/QĐ-GQKN (Quyết định số 05) trong đó xác định việc Sở Kế hoạch và đầu tư tỉnh H không cấp giấy phép kinh doanh cho Công ty VB là chưa đúng quy định của pháp luật và đề nghị Công ty VB liên hệ lên Sở Kế hoạch và đầu tư tỉnh H để được giải quyết. Công ty VB đã nộp đơn và hồ sơ yêu cầu bồi thường đến Sở kế hoạch và đầu tư tỉnh H. Tuy nhiên, đại diện Sở Kế hoạch và đầu tư tỉnh H yêu cầu Công ty VB phải nộp bản chính Quyết định số 05 mới thụ lý giải quyết vụ việc. Vậy, văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định hành vi của người thi hành công vụ là trái pháp luật kèm theo hồ sơ yêu cầu bồi thường có bắt buộc phải là bản chính không? Luận văn: Thực tiễn xác định Trách nhiệm bồi thường thiệt hại.

Theo quy định tại khoản 11 Điều 13 Luật TNBTCNN thì việc Sở Kế hoạch và đầu tư tỉnh H không cấp giấy phép kinh doanh cho Công ty VB thuộc trường hợp được Nhà nước bồi thường trong trường hợp vụ việc đảm bảo đủ các điều kiện xác định trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong hoạt động quản lý hành chính được quy định tại Điều 6 Luật TNBTCNN, khoản 1 Điều 4 Thông tư liên tịch số 18, cụ thể: Có văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định hành vi của người thi hành công vụ là trái pháp luật thuộc phạm vi trách nhiệm bồi thường theo quy định tại Điều 13 Luật TNBTCNN, có thiệt hại thực tế xảy ra do hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ. Theo quy định tại Điều 3 Thông tư liên tịch số 18 thì Quyết định giải quyết khiếu nại của người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về khiếu nại là một trong các văn bản làm căn cứ xác định trách nhiệm bồi thường của Nhà nước. Đối chiếu với các quy định trên thì Quyết định số 05 của Chủ tịch UBND tỉnh H chính là văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định hành vi của người thi hành công vụ là trái pháp luật làm căn cứ để công ty TNHH VB yêu cầu bồi thường theo quy định của Luật TNBTCNN.

Để thực hiện quyền yêu cầu bồi thường, Công ty VB cần chuẩn bị đơn và hồ sơ yêu cầu bồi thường theo quy định tại Điều 16 Luật TNBTCNN, Điều 13 Thông tư liên tịch số 18, cụ thể: Đơn yêu cầu bồi thường theo Mẫu 01a, 01b hoặc 01c ban hành kèm theo Thông tư liên tịch số 18; Văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ; Giấy ủy quyền yêu cầu bồi thường hợp pháp, trong trường hợp người yêu cầu bồi thường là người đại diện theo ủy quyền của người bị thiệt hại và các tài liệu, chứng cứ kèm theo (nếu có).

Trường hợp người bị thiệt hại trực tiếp gửi hồ sơ yêu cầu bồi thường tại cơ quan có trách nhiệm bồi thường thì gửi bản photocopy văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ đồng thời mang theo bản chính để đối chiếu.

Trường hợp người bị thiệt hại gửi hồ sơ yêu cầu bồi thường đến cơ quan có trách nhiệm bồi thường thông qua đường bưu điện thì gửi bản sao có chứng thực văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ.

Như vậy, đối chiếu với các quy định trên thì để được giải quyết bồi thường theo quy định của Luật TNBTCNN, Công ty VB cần gửi đơn kèm hồ sơ yêu cầu bồi thường trong đó chỉ cần bản photocopy Quyết định số 05 đồng thời, mang theo bản chính để đối chiếu (trong trường hợp gửi trực tiếp tại cơ quan có trách nhiệm bồi thường) hoặc bản sao có chứng thực Quyết định số 05 (trong trường hợp gửi qua đường bưu điện) và Giấy ủy quyền yêu cầu bồi thường hợp pháp, trong trường hợp người yêu cầu bồi thường là người đại diện theo ủy quyền của Công ty VB đến cơ quan có trách nhiệm bồi thường là Sở Kế hoạch và đầu tư tỉnh H để được giải quyết.

Từ những ví dụ cụ thể như trên có thể thấy, việc đưa ra quy định về căn cứ xác định Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện nay (không đáp ứng điều kiện về hình thức văn bản, nội dung văn bản, phạm vi Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước…) đang còn rất nhiều bất cập. Cá nhân, tổ chức khi bị thiệt hại từ hành vi trái pháp luật muốn yêu cầu Nhà nước bồi thường cũng gặp phải vô vàn những khó khăn, qua rất nhiều điều kiện như buộc phải tuân thủ các quy định về phạm vi trách nhiệm bồi thường; trường hợp thuộc phạm vi nhưng cần phải có văn bản với nội dung và hình thức theo Luật định; thuộc phạm vi, có văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường nhưng phải chứng minh được thiệt hại từ hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ… trong khi đó trên thực tế, việc chứng minh thiệt hại hay cung cấp văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường lại vô hình chung đặt thêm cho người bị thiệt hại nhiều thủ tục có liên quan. Đây có lẽ là những hạn chế trong quy định của Luật TNBTCNN cần được sửa đổi kịp thời trong thời gian tới.

3.2. Những hạn chế, bất cập và nguyên nhân trong thực hiện các quy định về căn cứ xác định Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước Luận văn: Thực tiễn xác định Trách nhiệm bồi thường thiệt hại.

3.2.1. Những hạn chế, bất cập từ các quy định của pháp luật nói chung

3.2.1.1. Những hạn chế bất cập trên cơ sở những thay đổi của Hiến pháp và các văn bản pháp luật có liên quan

Luật TNBTCNN năm 2009 ra đời trên cơ sở nền tảng là Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) và các văn bản pháp luật có liên quan đang có hiệu lực vào thời điểm năm 2009, trong đó có Bộ luật Dân sự 2005. Tuy nhiên hiện nay các văn bản pháp luật trên đã có nhiều thay đổi, do đó các quy định của Luật TNBTCNN cũng không còn phù hợp tình hình phát triển kinh tế xã hội và các quy định pháp luật hiện nay, cụ thể:

Hiến pháp năm 2013 quy định “quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh, quốc qua, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng”. Như vậy quyền con người và quyền công dân nếu nhìn dưới góc độ hẹp là quyền yêu cầu Nhà nước bồi thường, nghĩa là quy định về phạm vi trách nhiệm bồi thường theo quy định của Luật TNBTCNN hiện nay không phù hợp với quy định của Hiến pháp năm 2013.

Một số quy định của Luật TNBTCNN còn chưa thống nhất, đồng bộ với các đạo luật mới được ban hành như: Luật khiếu nại năm 2011, Luật Tố cáo năm 2011, Bộ luật Dân sự năm 2015, Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Luật Tố tụng hành chính năm 2015, Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014)… Trong đó các vấn đề có liên quan trực tiếp đến các quy định của Luật TNBTCNN như đối tượng là cá nhân, tổ chức bị thiệt hại được mở rộng hơn, các loại thiệt hại được bồi thường được mở rộng, mức bồi thường thiệt hại được tăng lên…gây khó khăn trong việc áp dụng pháp luật và chưa tạo được thuận lợi cho người bị thiệt hại thực hiện quyền yêu cầu bồi thường.

Vẫn tồn tại hai mặt bằng pháp lý là trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi trái pháp luật của cán bộ, công chức theo quy định của Bộ luật Dân sự và Luật TNBTCNN. Theo đó, đối với quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do cán bộ, công chức gây ra và người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự gây ra theo quy định của Bộ luật Dân sự 2015 được dẫn chiếu sang Luật TNBTCNN. Tuy nhiên, các quy định của Luật TNBTCNN về các trường hợp được bồi thường bị giới hạn bởi phạm vi trách nhiệm bồi thường. Vậy, các trường hợp khác được giải quyết trên cơ sở nào? Trường hợp giải quyết trên cơ sở các nguyên tắc chung của Bộ luật Dân sự rất có thể sẽ gây khó khăn cho người bị thiệt hại khi cơ quan có trách nhiệm bồi thường chỉ căn cứ theo quy định của Luật TNBTCNN mà từ chối giải quyết bồi thường với lý do không thuộc phạm vi Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước. Luận văn: Thực tiễn xác định Trách nhiệm bồi thường thiệt hại.

Về yếu tố lỗi, hiện nay Luật TNBTCNN quy định trong một số trường hợp thì yếu tố “lỗi” là bắt buộc. Quy định này của Luật TNBTCNN được xây dựng dựa trên các quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005. Tuy nhiên, căn cứ xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng theo quy định của Bộ luật Dân sự 2015 hiện nay không đặt ra yêu cầu về yếu tố “lỗi”. Do đó, Luật TNBTCNN cần được sửa đổi nhằm thống nhất với quy định chung của Bộ luật Dân sự, bảo vệ quyền lợi của người bị thiệt hại do hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ.

Về thiệt hại được bồi thường, các loại thiệt hại được bồi thường và mức bồi thường theo quy định của Luật TNBTCNN hiện nay được xây dựng trên cơ sở các quy định về thiệt hại của Bộ luật Dân sự năm 2005. Tuy nhiên, hiện nay Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về thiệt hại được bồi thường theo hướng bổ sung và tăng mức thiệt hại được bồi thường cho người bị thiệt hại. Theo đó, các quy định về các loại thiệt hại được bồi thường và mức bồi thường theo quy định của Luật TNBTCNN đã không còn phù hợp và cần được xem xét sửa đổi sao cho phù hợp với các quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015.

3.2.1.2. Những hạn chế bất cập từ các quy định của Luật TNBTCNN

Với sự thay đổi cơ bản của Hiến pháp 2013 và các văn bản pháp luật có liên quan, đặc biệt các văn bản pháp luật có dẫn chiếu trực tiếp đến Luật TNBTCNN, các quy định của Luật TNBTCNN đã không còn phù hợp với tình hình hiện nay. Do đó, đòi hỏi Luật cần có sự sửa đổi, bổ sung, đặc biệt là sửa đổi, bổ sung những quy định liên quan về căn cứ xác định Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước, phạm vi trách nhiệm bồi thường, văn bản làm căn cứ xác định Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước, cụ thể: Luận văn: Thực tiễn xác định Trách nhiệm bồi thường thiệt hại.

  • Bất cập từ quy định về khái niệm người thi hành công vụ

Theo quy định tại khoản 1 Điều 1 Luật TNBTCNN thì người thi hành công vụ là người được bầu cử, phê chuẩn, tuyển dụng hoặc bổ nhiệm vào một vị trí trong cơ quan nhà nước để thực hiện nhiệm vụ quản lý hành chính, tố tụng, thi hành án hoặc người khác được cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao thực hiện nhiệm vụ có liên quan đến hoạt động quản lý hành chính, tố tụng và thi hành án. Tuy nhiên, quy định trên chưa giải thích được cụ thể trường hợp nào được cho là người khác được cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao thực hiện nhiệm vụ có liên quan đến hoạt động quản lý hành chính, tố tụng và thi hành án, trường hợp nào cũng thực hiện nhiệm vụ được Nhà nước giao trong quản lý hành chính, tố tụng, thi hành án nhưng khi có hành vi trái pháp luật gây thiệt hại không thuộc phạm vi Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước.

  • Bất cập từ quy định về hành vi trái pháp luật và phạm vi Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước

Luật TNBTCNN quy định chỉ những hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ được liệt kê tại các Điều 13, 26, 28, 38, 39 mà gây thiệt hại mới làm phát sinh Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước. Tuy nhiên, trong trường hợp có hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ dẫn đến thiệt hại nhưng hành vi đó không thuộc các trường hợp được bồi thường theo quy định tại các điều trên thì người bị thiệt hại sẽ phải thực hiện theo quy định của pháp luật nào để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình ? Trường hợp áp dụng các quy định của pháp luật dân sự về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng đã vô tình làm mất tính công bằng giữa những người cùng bị thiệt hại do hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ gây ra khi một bên được Nhà nước bồi thường toàn bộ, kịp thời, một bên khó có thể yêu cầu người có hành vi trái pháp luật bồi thường thiệt hại.

Theo quy định của Luật TNBTCNN, các hoạt động quản lý hành chính, tố tụng và thi hành án thuộc phạm vi Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước. Tương ứng với mỗi lĩnh vực hoạt động, Luật TNBTCNN lại liệt kê cụ thể từng trường hợp được bồi thường như đã phân tích ở trên. Các trường hợp cụ thể này lại độc lập với nhau theo một lát cắt ngang, mà chưa có quy định hàm chứa nội dung khái quát và toàn diện theo lát cắt dọc. Với cách quy định này, không phải bất kỳ hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ gây ra thiệt hại cho cá nhân, tổ chức đều phát sinh Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước. Cách liệt kê các trường hợp phát sinh trách nhiệm bồi thường của Luật TNBTCNN có một số hạn chế nhất định như: (1) Không bảo đảm tính thống nhất của pháp luật; (2) Gây ra tranh cãi và phản ứng của tổ chức, cá nhân và doanh nghiệp khi bị gây thiệt hại trong quá trình thực thi công vụ của công chức Nhà nước nhưng không được bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp thông qua cơ chế Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước; (3) Không bảo đảm tính khoa học, chính xác khi lý giải tại sao trường hợp này thuộc Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước, nhưng trường hợp khác có tình tiết tương tự nhưng lại không được liệt kê vào danh mục các trường hợp được bồi thường.. Luận văn: Thực tiễn xác định Trách nhiệm bồi thường thiệt hại.

3.2.2. Những bất cập, hạn chế phát sinh từ căn cứ xác định Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước theo quy định của Luật TNBTCNN

Từ những hạn chế trong các quy định của Luật TNBTCNN như trên đã dẫn đến việc áp dụng các quy định của Luật vào thực tiễn gặp nhiều khó khăn, cụ thể:

Việc Luật quy định về hồ sơ yêu cầu bồi thường phải có văn bản xác định và các tài liệu chứng cứ chứng minh dẫn đến khó khăn cho người bị thiệt hại khi không thể thu thập đủ căn cứ chứng minh dù thiệt hại có thực do hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ. Hầu hết các yêu cầu bồi thường đều gặp khó khăn do phải cung cấp văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ. Tuy nhiên, trên thực tế để có được văn bản xác định hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ, người bị thiệt hại bắt buộc phải qua thủ tục khiếu nại, tố cáo để có được quyết định giải quyết khiếu nại hoặc kết luận nội dung tố cáo trong đó chứa đựng nội dung xác định hành vi trái pháp luật của cán bộ, công chức hoặc thực hiện việc khởi kiện để có được bản án, quyết định của Tòa án xác định hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ làm căn cứ yêu cầu Nhà nước bồi thường. Như vậy, một quy định pháp luật tưởng chừng hết sức đơn giản nhưng lại vô tình đặt thêm thủ tục cho người bị thiệt hại trong quá trình yêu cầu bồi thường, dẫn đến tình trạng số lượng khiếu nại, khiếu kiện rất lớn nhưng thực tế số lượng tiếp nhận các yêu cầu bồi thường lại không tương xứng.

Một trong các căn cứ xác định Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước là phải có thiệt hại thực tế xảy ra. Tuy nhiên khi người bị thiệt hại thực hiện quyền yêu cầu bồi thường của mình phải cung cấp được các căn cứ chứng minh mình đã chịu thiệt hại từ hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ. Hơn nữa, việc yêu cầu cung cấp các tài liệu, chứng cứ có liên quan đến yêu cầu bồi thường hiện nay đang gây khó khăn cho người bị thiệt hại bởi trong quá trình chịu thiệt hại cũng như quá trình yêu cầu bồi thường có những khoản thiệt hại người yêu cầu bồi thường không thể cung cấp các hóa đơn, chứng từ có liên quan, nhiều tài liệu chứng cứ theo thời gian đã hư hỏng hoặc không còn hoặc thời gian xảy ra thiệt hại đã quá lâu không có cách nào xác định. Đặc biệt, việc chứng minh mối liên hệ nhân quả giữa thiệt hại thực tế và hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ làm căn cứ yêu cầu Nhà nước bồi thường rất khó khăn và thường bị từ chối giải quyết vì không đủ căn cứ.

Trong hoạt động tố tụng, việc pháp luật quy định căn cứ xác định TNBTTHCNN là phải có bản án, quyết định của Tòa án xác định người bị thiệt hại không phạm tội nhưng các cơ quan nhà nước có thẩm quyền luôn né tránh việc ra các bản án, quyết định với các nội dung quy định trong Luật TNBTCNN nhằm né tránh trách nhiệm bồi thường cho người bị thiệt hại.

Bất cập trong quy định về văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định hành vi của người thi hành công vụ là trái pháp luật. Luận văn: Thực tiễn xác định Trách nhiệm bồi thường thiệt hại.

Người bị thiệt hại phải chứng minh hành vi của người thi hành công vụ là trái pháp luật và phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền thừa nhận bằng hình thức văn bản.

Về hình thức, văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ phải là một trong các văn bản được quy định trong Luật TNBTCNN và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật.

Về nội dung, văn bản phải bao gồm nội dung xác định hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ. Trường hợp văn bản không có nội dung xác định hành vi của người thi hành công vụ, cụ thể là không có nội dung xác định lỗi cố ý của người thi hành công vụ, người bị thiệt hại phải thực hiện thêm một thủ tục nữa là đề nghị cơ quan có thẩm quyền ban hành văn bản trong đó có nội dung xác định lỗi cố ý của người thi hành công vụ.

Quy định này đã phần nào gây trở ngại cho người bị thiệt hại trong việc thực hiện quyền yêu cầu được bồi thường thiệt hại. Thông thường, các cơ quan nhà nước, người thi hành công vụ bất đắc dĩ mới thừa nhận mình sai, trong khi đó, việc chứng minh hành vi của người thi hành công vụ là trái pháp luật và gây ra thiệt hại thực tế là vấn đề hết sức phức tạp, khó khăn đối với người bị thiệt hại. Thực tiễn cũng cho thấy, trong nhiều trường hợp, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền né tránh bằng cách ban hành văn bản với hình thức không phù hợp với quy định của pháp luật mặc dù ngay trong nội dung của văn bản đó đã thể hiện tính trái pháp luật của hành vi.

Bên cạnh đó, khoản 3 Điều 6 Luật TNBTCNN đã quy định yếu tố lỗi của người bị thiệt hại là một điều kiện loại trừ trách nhiệm bồi thường trong khi lại quy định về yếu tố lỗi rất chung chung vì không làm rõ hình thức lỗi vô ý hay cố ý. Một số trường hợp còn phải chứng minh công chức có lỗi cố ý trong khi thi hành công vụ (ví dụ: Ra bản án, quyết định dân sự, hành chính mà biết rõ là trái pháp luật hoặc cố ý làm sai lệch hồ sơ vụ án; cố ý không ra quyết định thi hành án dân sự), trong khi để chứng minh lỗi cố ý trong những trường hợp này là rất khó, gần như Nhà nước đã đánh đố người dân khi thực hiện quyền yêu cầu bồi thường.

  • Bất cập trong quy định về thiệt hại được bồi thường

Các thiệt hại mà Nhà nước có trách nhiệm bồi thường gồm các thiệt hại được liệt kê từ Điều 45 đến Điều 51 Luật TNBTCNN. Tuy nhiên, thiệt hại được bồi thường trong các lĩnh vực khác nhau như quản lý hành chính, tố tụng và thi hành án theo quy định của Luật TNBTCNN chưa có sự thống nhất. Theo đó, việc khôi phục danh dự cho người bị thiệt hại chỉ được thực hiện với người bị thiệt hại trong hoạt động tố tụng hình sự mà không quy định trong các lĩnh vực khác như thi hành án, quản lý hành chính. Quy định này đang tạo thế mất cân bằng giữa những người bị thiệt hại trong hoạt động tố tụng hình sự với người bị thiệt hại trong các lĩnh vực khác. Cụ thể, trong hoạt động quản lý hành chính, hành vi trái pháp luật trong việc áp dụng các biện pháp xử lý hành chính đưa người vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục hoặc đưa người vào cơ sở chữa bệnh cũng gây ra cho người bị thiệt hại những tổn thất nhất định về tinh thần nhưng không được khôi phục danh dự. Hành vi trái pháp luật trên có thể dẫn đến hệ lụy là người bị thiệt hại bị gia đình, bạn xè, xã hội xa lánh…nhưng Luật TNBTCNN chưa có cơ chế bù đắp thiệt hại chính đáng cho những đối tượng này.

3.3. Nguyên nhân của những hạn chế, bất cập Luận văn: Thực tiễn xác định Trách nhiệm bồi thường thiệt hại.

3.3.1. Những nguyên nhân khách quan

Thứ nhất, pháp luật về TNBTCNN là một lĩnh vực mới, phức tạp, đòi hỏi tính liên ngành cao nhưng ý thức, trách nhiệm về công tác phối hợp của các Bộ, ngành, chưa được thực hiện hiệu quả, chưa xây dựng được cơ chế phối hợp hiệu quả trong hoạt động quản lý nhà nước, hoạt động giải quyết bồi thường nên khi người bị thiệt hại mặc dù đã đáp ứng các điều kiện về căn cứ xác định Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước nhưng không được giải quyết; trong khi người dân, tổ chức còn tồn tại tâm lý e dè, ngại va chạm với cơ quan nhà nước nên trong nhiều trường hợp mặc dù bị thiệt hại nhưng họ không yêu cầu bồi thường.

Thứ hai, trên thực tế nhận thức pháp luật của người dân về Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước vẫn chưa thực sự đầy đủ, toàn diện, thậm chí nhiều người dân còn chưa biết đến có Luật TNBTCNN. Do nhận thức chưa đầy đủ, toàn diện về Luật TNBTCNN nói chung cũng như quyền yêu cầu bồi thường của mình nói riêng nên nhiều người bị thiệt hại vẫn chưa thực hiện đúng quy định pháp luật về quyền yêu cầu bồi thường và quyền được hỗ trợ thực hiện quyền yêu cầu bồi thường. Trong một số trường hợp, người bị thiệt hại còn có tâm lý e ngại khi thực hiện việc khiếu kiện để yêu cầu Nhà nước bồi thường, chán nản khi phải thực hiện các thủ tục phức tạp trong một thời gian dài để có được một trong các căn cứ yêu cầu Nhà nước bồi thường là văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ, điều này dẫn đến tình trạng số lượng vụ việc yêu cầu bồi thường, giải quyết bồi thường còn thấp trong thời gian qua.

Thứ ba, trong quá trình triển khai thi hành luật, một số quy định của Luật TNBTCNN đã bộc lộ những hạn chế, bất cập so với yêu cầu của thực tế và sự thiếu thống nhất, đồng bộ với hệ thống pháp luật hiện hành, ảnh hưởng đến hiệu quả thực hiện quyền yêu cầu bồi thường và công tác giải quyết bồi thường.

Thứ tư, đội ngũ công chức làm công tác bồi thường nói chung, công chức thực hiện giải quyết bồi thường nói riêng chưa được sắp xếp, bố trí đảm bảo sự chuyên nghiệp, chuyên môn hóa nên dẫn đến việc thực thi Luật kém hiệu quả, cụ thể là việc người bị thiệt hại cung cấp được văn bản với nội dung xác định hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ nhưng không tiếp nhận giải quyết bồi thường vì cho rằng không thuộc một trong các văn bản được quy định trong Luật TNBTCNN. và văn bản hướng dẫn thi hành.

3.3.2. Những nguyên nhân chủ quan Luận văn: Thực tiễn xác định Trách nhiệm bồi thường thiệt hại.

Thứ nhất, một số Bộ, ngành, địa phương do chưa nhận thức đầy đủ và đúng mực về ý nghĩa, vai trò của Luật TNBTCNN nên chưa thực sự quan tâm, chỉ đạo thực hiện công tác bồi thường nhà nước một cách thường xuyên, có hiệu quả tại Bộ, ngành, địa phương mình [11, Tr.12]. Mặc dù hàng năm, Bộ tư pháp đều có văn bản đề nghị các địa phương phối hợp chỉ đạo triển khai Luật TNBTCNN nhưng các cơ quan, đơn vị nhà nước chưa có sự quan tâm đúng mực đối với vấn đề này. Mặt khác, số vụ việc mà các cơ quan giải quyết bồi thường nhà nước đã thụ lý, giải quyết trong cả ba lĩnh vực quản lý hành chính, tố tụng và thi hành án là không nhiều, chưa phản ánh thực chất tình hình vi phạm pháp luật của đội ngũ công chức, nhất là trong hoạt động quản lý hành chính. Theo báo cáo của các Bộ, ngành, UBND cấp tỉnh thì có tới 20 Bộ, cơ quan ngang Bộ và 39 địa phương không phát sinh vụ việc yêu cầu bồi thường trong lĩnh vực quản lý hành chính, trong khi các cơ quan quản lý hành chính, hàng năm phải giải quyết rất nhiều khiếu nại, tố cáo của cá nhân, tổ chức, đặc biệt trong lĩnh vực xử phạt vi phạm hành chính, cấp, thu hồi đất đai v.v… [3, Tr.21]. Do đó, nhiều cơ quan có tâm lý chủ quan, không thường xuyên nghiên cứu, tìm hiểu thấu đáo các quy định của pháp luật về Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước, chỉ đến khi có vụ việc mới phân công, chỉ đạo công chức tham mưu thực hiện, dẫn đến việc thiếu chủ động và không kịp thời trong thực hiện công tác bồi thường nhà nước.

Thứ hai, tổ chức, biên chế thực hiện công tác bồi thường nhà nước từ trung ương đến địa phương còn bất cập và thiếu đồng bộ. Đội ngũ cán bộ, công chức đảm nhiệm công tác bồi thường tại các cơ quan, đơn vị chủ yếu là kiêm nhiệm (808 công chức kiêm nhiệm trên tổng số 846 công chức được giao làm công tác bồi thường nhà nước, chỉ có 38 công chức chuyên trách thực hiện nhiệm vụ này, trong đó đã bao gồm 27 công chức, viên chức thuộc Cục Bồi thường nhà nước, Bộ Tư pháp) [3, Tr.19]. Do đó sự ổn định và chuyên sâu về nghiệp vụ chưa cao, ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng hoạt động. Theo kết quả khảo sát về tình hình đội ngũ công chức làm công tác bồi thường nhà nước trong hoạt động thi hành án dân sự được thực hiện năm 2012 tại 9 tỉnh, thành phố (Hải Phòng, Phú Yên, Lạng Sơn, Tuyên Quang, Yên Bái, Cần Thơ và An Giang) cho thấy có 376/1000 công chức trả lời là nắm vững kỹ năng, nghiệp vụ (chiếm 37,6%) và 557/1000 công chức trả lời chưa nắm vững nghiệp vụ (chiếm 55,7%) [20, Tr.9,10]. Luận văn: Thực tiễn xác định Trách nhiệm bồi thường thiệt hại.

Thứ ba, công tác phổ biến, giáo dục Luật TNBTCNN vẫn chưa thực sự được quan tâm đúng mức. Công tác này mới chủ yếu được thực hiện đối với đối tượng là cán bộ, công chức mà ít triển khai đến đối tượng là người dân, doanh nghiệp vì vậy nhận thức pháp luật của người dân còn chưa đầy đủ, thậm chí nhiều người dân còn chưa biết đến có Luật TNBTCNN [16, Tr.21]. Kinh phí dành cho phổ biến pháp luật về TNBTTHNN rất ít, các Báo cáo viên pháp luật cũng không phải là những người có trình độ chuyên môn sâu về pháp luật bồi thường nhà nước, nên hiệu quả phổ biến, giáo dục chưa cao. Bên cạnh đó, tại một số địa phương, do chưa thực sự nắm bắt được những tinh thần đổi mới của Luật TNBTCNN nên phát sinh tâm lý e ngại và cho rằng nếu tuyên truyền, phổ biến Luật TNBTCNN đến người dân thì sẽ làm phát sinh nhiều trường hợp yêu cầu bồi thường. Do đó, trên thực tế, còn một số địa phương không thực hiện việc phổ biến, tuyên truyền Luật TNBTCNN đến người dân hoặc thực hiện chỉ mang tính hình thức.

Thứ tư, ý thức trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong giải quyết bồi thường còn yếu kém; trình độ chuyên môn nghiệp vụ của các cán bộ công chức làm công tác bồi thường còn bộc lộ nhiều hạn chế. Theo Luật TNBTCNN, cơ quan giải quyết bồi thường được quy định theo mô hình phân tán, theo đó, cơ quan có trách nhiệm giải quyết bồi thường là cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ có hành vi trái pháp luật gây ra thiệt hại nên thực tiễn còn tình trạng đùn đẩy, né tránh trách nhiệm giải quyết bồi thường. Quy định như trên dẫn đến thiếu khách quan trong giải quyết bồi thường; người bị thiệt hại gặp khó khăn trong việc xác định cơ quan có trách nhiệm bồi thường hoặc phải yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xác định cơ quan có trách nhiệm bồi thường. Bên cạnh đó, công chức thực hiện giải quyết bồi thường không được đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng nghiệp vụ giải quyết bồi thường một cách bài bản, thiếu tính chuyên nghiệp, dẫn đến chất lượng giải quyết bồi thường còn thấp nên còn nhiều trường hợp, người bị thiệt hại không đồng ý với kết quả giải quyết bồi thường và khởi kiện ra tòa án.

3.4 Kiến nghị, đề xuất hoàn thiện chính sách và pháp luật Việt Nam về TNBTTHCNN và căn cứ xác định Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước

3.4.1. Yêu cầu chung về hoàn thiện chính sách pháp luật Việt Nam về trách nhiệm BTTHCNN và căn cứ xác định Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước

  • Yêu cầu phù hợp với các quy định của Hiến pháp năm 2013

Hiến pháp là văn bản có giá trị pháp lý cao nhất, là nền tảng cho các văn bản pháp luật của quốc gia trong đó bao gồm cả các quy định pháp luật về Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước. Hiến pháp 2013 quy định quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm thực hiện. Các quyền này chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội và sức khỏe của cộng đồng. Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật, không ai bị phân biệt đối xử trong đời sống chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội. Người bị thiệt hại có quyền được bồi thường về vật chất, tinh thần và phục hồi danh dự theo quy định của pháp luật . Do vậy, các quy định của pháp luật về Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước cần phải được sửa đổi, bổ sung hoặc xây dựng phù hợp với những quy định của Hiến pháp năm 2013, đặc biệt là quy định về căn cứ xác định Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước cần được sửa đổi sao cho phù hợp nhằm thể hiện được chủ trương tiến bộ của Nhà nước Việt Nam trong việc bảo về quyền và lợi ích hợp pháp của các cá nhân, tổ chức.

Phù hợp với các văn bản pháp luật khác trong hệ thống pháp luật Việt Nam Hiện nay, vấn đề bồi thường nhà nước đối với các cá nhân, tổ chức được quy định rải rác ở nhiều văn bản pháp luật khác nhau, đồng thời cũng có nhiều các văn bản pháp luật khác có liên quan đến việc thực hiện Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước như Luật Khiếu nại, Luật Tố cáo, Luật Thi hành án, Bộ luật Dân sự, Bộ luật Hình sự… Do vậy, việc hoàn thiện chế định Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước phải đảm bảo sự tương thích giữa các văn bản pháp luật với nhau. Trên cơ sở các quy định của Hiến pháp năm 2013, rất nhiều các văn bản pháp luật cũng được sửa đổi thay thế để phù hợp với các quy định của Hiến pháp, ví dụ Luật Khiếu nại 2011 đã mở rộng phạm vi khiếu nại, quyền yêu cầu bồi thường của người khiếu nại; Luật Tố cáo 2011 đã quy định mới hơn về việc thực hiện quyền tố cáo của công dân; Bộ luật Dân sự 2015 mở rộng phạm vi về căn cứ xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng; Bộ luật tố tụng dân sự 2015 mở rộng về trường hợp thiệt hại do việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời được bồi tường; Luật Thi hành án dân sự 2008 cũng đã được sửa đổi, bổ sung trong năm 2014 và một số đạo luật khác cũng đã sửa đổi và có nhiều thay đổi theo hướng mở rộng và tăng cường bảo vệ hơn quyền, lợi ích hợp pháp, phát huy cao tính dân chủ của tổ chức, công dân. Do vậy việc nghiên cứu sửa đổi các quy định về căn cứ xác định Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước, đặc biệt là sửa đổi, bổ sung về phạm vi Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước và các loại văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường cho phù hợp với Hiến pháp và các văn bản pháp luật có liên quan là hết sức cần thiết.

  • Phù hợp với thực tế kinh tế, xã hội; với tình hình chung của thế giới

Trong xu thế hội nhập về kinh tế – chính trị toàn cầu hiện nay, mối quan hệ giữa Việt Nam và quốc tế ngày càng trở nên phổ biến thường nhật và mật thiết hơn. Trong mối quan hệ đó, việc các cá nhân, tổ chức nước ngoài du nhập, sinh sống, làm việc, đầu tư kinh doanh, du lịch…ngày càng trở nên phổ biến. Chính vì vậy, trong bối cảnh nước ta đang tập trung xây dựng nền kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tích cực thu hút đầu tư nước ngoài, khuyến khích các thành phần kinh tế trong nước đầu tư phát triển kinh tế – xã hội thì việc xây dựng các quy định về căn cứ xác định Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước là hết sức cần thiết. Đồng thời, với những khó khăn, vướng mắc trên thực tiễn về bồi thường và yêu cầu bồi thường như hiện nay, đòi hỏi phải sửa đổi Luật TNBTCNN trên cơ sở quyền con người, quyền công dân được tôn trọng và bảo vệ.

3.4.2. Hoàn thiện pháp luật Luận văn: Thực tiễn xác định Trách nhiệm bồi thường thiệt hại.

Như đã phân tích ở trên, việc tiếp tục tồn tại nhiều mặt bằng pháp lý trong việc giải quyết bồi thường thiệt hại do hành vi trái pháp luật của công chức gây ra trong quá trình thực thi công vụ đã dẫn đến việc áp dụng Luật TNBTCNN, Bộ luật Dân sự, Bộ luật tố tụng dân sự, Luật tố tụng hành chính không có sự thống nhất, với những cách vận dụng pháp luật khác nhau. Điều này dẫn tới nhiều hệ quả không thể lường trước, mà trong đó, một trong những hệ quả trực tiếp nhất là không bảo vệ được quyền, lợi ích chính đáng của người bị thiệt hại hoặc không tạo ra sự công bằng trong việc giải quyết bồi thường, không đạt được mục tiêu mà Đảng và Nhà nước đã đề ra. Nhà làm luật cần xác định rõ trách nhiệm bồi thường do hành vi trái pháp luật của công chức gây ra trong quá trình thực thi công vụ là trách nhiệm của Nhà nước, không phải là trách nhiệm của từng cơ quan, đơn vị, từ đó rà soát các quy định của các đạo luật này để bảo đảm tính thống nhất trong hệ thống pháp luật nói chung và tính tương thích giữa quy định về căn cứ xác định Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước theo Luật TNBTCNN với các đạo luật có liên quan về Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước, đảm bảo quyền lợi chính đáng của người bị thiệt hại nói riêng, của cá nhân, tổ chức nói chung.

Theo đó, Luật TNBTCNN năm 2009 cần được sửa đổi, bổ sung hoặc được thay thế trên cơ sở những quy định về bảo đảm quyền con người, quyền công dân của Hiến pháp năm 2013 và các văn bản pháp luật có liên quan, trong đó tập trung sửa đổi các quy định về căn cứ xác định Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước với các vấn đề cụ thể sau đây:

Về phạm vi Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước, cần phải mở rộng phạm vi Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước sao cho phù hợp với quy định của Hiến pháp 2013 và các văn bản pháp luật có liên quan. Hiện nay pháp luật Việt Nam chỉ ghi nhận việc bồi thường thiệt hại đối với các cá nhân, tổ chức trong một số lĩnh vực hành pháp, tư pháp. Đối với các lĩnh vực khác như lập pháp, quản lý tài sản công, thực hiện dịch vụ công thì Nhà nước chưa ghi nhận trách nhiệm bồi thường của mình. Bên cạnh đó, ngay trong chính các lĩnh vực mà Nhà nước thực hiện trách nhiệm bồi thường thì Luật TNBTCNN quy định theo hướng liệt kê các trường hợp cụ thể phát sinh trách nhiệm bồi thường. Do đó, cần nghiên cứu để mở rộng phạm vi các trường hợp được bồi thường hoặc quy định theo hướng khái quát phạm vi trách nhiệm bồi thường nhưng vẫn đảm bảo phù hợp, cân đối giữa quyền, lợi ích chính đáng của cá nhân, tổ chức bị thiệt hại với khả năng ngân sách và điều kiện phát triển kinh tế, xã hội của Việt Nam hiện nay. Luận văn: Thực tiễn xác định Trách nhiệm bồi thường thiệt hại.

Về thiệt hại được bồi thường, cần sửa đổi, bổ sung các quy định về thiệt hại được bồi thường, theo đó mở rộng hơn các loại thiệt hại được bồi thường, đưa ra quy định đảm bảo người bị thiệt hại trong lĩnh vực quản lý hành chính, tố tụng và thi hành án được bồi thường công bằng, thỏa đáng đối với các thiệt hại mà họ phải gánh chịu. Việc mở rộng các thiệt hại được bồi thường cần được thực hiện theo hướng tôn trọng thực tế khách quan, nghĩa là các thiệt hại thực tế phát sinh mà người bị thiệt hại có thể chứng minh thì phải được bồi thường và mức bồi thường phải đảm bảo giá trị kinh tế tại thời điểm bồi thường nhằm bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của người bị thiệt hại, đảm bảo bù đắp phù hợp với những thiệt hại đã xảy ra.

Cần bổ sung quy định thêm một số thiệt hại được bồi thường để đảm bảo quyền lợi hợp pháp của người bị thiệt hại. Cụ thể như sau: thiệt hại do bị phạt hợp đồng; thiệt hại về chi phí để có văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường; thiệt hại trong trường hợp người bị thiệt hại chết bao gồm cả thiệt hại trước khi chết và các thiệt hại khác sau khi người bị thiệt hại chết; thiệt hại đối với thân nhân người bị thiệt hại; thiệt hại về tinh thần trong trường hợp công chức bị xử lý kỷ luật buộc thôi việc trái pháp luật; quy định cụ thể hơn cách thực hiện khôi phục danh dự, khôi phục các quyền, lợi ích hợp pháp khác và trả lại tài sản.

Đối với các khoản thiệt hại về tinh thần, với đặc trưng là khó xác định trên thực tế nên Nhà nước phải ấn định mức bồi thường cụ thể. Tuy nhiên, sẽ phát sinh hạn chế khi mức bồi thường được ấn định cụ thể trong Luật, một số trường hợp được cho là đã phù hợp, nhưng một số trường hợp sẽ không thực sự phù hợp, đặc biệt với những đối tượng trước khi xảy ra thiệt hại là các chủ doanh nghiệp, uy tín lớn… Do đó, cần tăng mức bồi thường thiệt hại về tinh thần, đưa ra quy trình cụ thể về xin lỗi công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng, đặc biệt cần bảo đảm cơ chế xin lỗi này đối với cả các đối tượng bị thiệt hại trong lĩnh vực thi hành án và quản lý hành chính.

Đồng thời, để tạo thuận lợi cho việc xác minh, thương lượng giá trị thiệt hại được bồi thường, nhất là những trường hợp khó xác minh thiệt hại hoặc người bị thiệt hại không thể cung cấp các tài liệu, chứng cứ thì cần lượng hóa mức bồi thường cho một số thiệt hại, rà soát quy định mức thiệt hại cho phù hợp với tình hình thực tế và quy định của pháp luật dân sự.

Về văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ, cần đưa ra các quy định mang tính khái quát trên cơ sở bảo đảm quyền lợi của người bị thiệt hại theo hướng người bị thiệt hại chỉ cần cung cấp văn bản trong đó có nội dung xác định hành vi của người thi hành công vụ là trái pháp luật, gây thiệt hại cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền mà không bị giới hạn về hình thức các loại văn bản được coi là văn bản xác định hành vi trái pháp luật như hiện nay của Luật TNBTCNN. Luận văn: Thực tiễn xác định Trách nhiệm bồi thường thiệt hại.

Trong hoạt động tố tụng dân sự, tố tụng hành chính và một số trường hợp trong hoạt động thi hành án dân sự, việc đưa ra quy định về văn bản xác định lỗi cố ý của người thi hành công vụ đang là rào cản gần như không thể vượt qua khiến cho người bị thiệt hại khó thực hiện quyền yêu cầu bồi thường của mình. Hơn nữa, pháp luật dân sự Việt Nam hiện nay không quy định người bị thiệt hại phải chứng minh có yếu tố lỗi trong hành vi trái pháp luật nên Luật TNBTCNN nên sửa đổi theo hướng bỏ quy định vê lỗi cố ý thực hiện hành vi trái pháp luật trên nhằm bảo đảm quyền lợi cho người bị thiệt hại.

Cần sửa đổi các quy định về hoàn trả nhằm nâng cao trách nhiệm thực thi công vụ của người thi hành công vụ. Theo đó, người thi hành công vụ trong tất cả các hoạt động đều phải bị xem xét trách nhiệm hoàn trả; có quy định cụ thể mức hoàn trả do lỗi vô ý, cố ý và cố ý mà bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Quy định thêm trách nhiệm hoàn trả trong một số trường hợp như người thi hành công vụ về hưu hoặc đã chết, việc miễn, giảm trách nhiệm hoàn trả và trách nhiệm của Thủ trưởng cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây ra thiệt hại trong việc phối hợp với cơ quan giải quyết bồi thường thực hiện hoàn trả.

Cần quy định cụ thể đặc thù nội dung xem xét kỷ luật trong lĩnh vực bồi thường nhà nước theo hướng đảm bảo mọi trường hợp người thi hành công vụ có hành vi trái pháp luật gây thiệt hại làm phát sinh Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước đều phải chịu trách nhiệm kỷ luật. Các hình thức kỷ luật phải tương xứng với hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ và mức thiệt hại mà Nhà nước phải bồi thường

3.4.3. Hoàn thiện cơ chế thực thi pháp luật Luận văn: Thực tiễn xác định Trách nhiệm bồi thường thiệt hại.

Về lâu dài cần nghiên cứu xây dựng mô hình cơ quan tập trung giải quyết yêu cầu bồi thường theo hướng xây dựng một cơ quan đại diện cho Nhà nước thực hiện Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước. Việc xây dựng mô hình cơ quan tập trung như trên sẽ đạt được một số kết quả tích cực sau:

Về phía người bị thiệt hại, theo cơ chế tập trung cơ quan giải quyết bồi thường người bị thiệt hại sẽ được hưởng một cơ chế giải quyết bồi thường tập trung và thuận tiện. Khi có thiệt hại phát sinh, thì người bị thiệt hại có thể dễ dàng xác định được cơ quan nào có thẩm quyền xem xét đối với yêu cầu bồi thường của họ. Bên cạnh đó cũng tránh được tình trạng, các cơ quan nhà nước tránh né, đùn đẩy trách nhiệm giải quyết bồi thường dẫn đến việc người bị thiệt hại đi hết cơ quan này đến cơ quan khác nhưng vẫn không được xem xét giải quyết bồi thường mặc dù đã đáp ứng đầy đủ các điều kiện theo quy định về căn cứ xác định Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước. Mô hình giải quyết bồi thường một cơ quan đảm bảo việc giải quyết bồi thường gọn nhẹ, hiệu quả đảm bảo tính kịp thời, đúng pháp luật; quyền và lợi ích hợp pháp của người bị thiệt hại được bảo vệ.

Về phía Nhà nước, áp dụng mô hình tập trung cơ quan giải quyết bồi thường sẽ đảm bảo sự thống nhất quản lý nhà nước trong công tác giải quyết bồi thường thiệt hại, tránh được tình trạng phân tán và khó khăn trong việc thực hiện quản lý Nhà nước về vấn đề này, đồng thời, tạo ra một cơ chế áp dụng pháp luật thống nhất, tránh tình trạng áp dụng các quy định về căn cứ xác định Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước khác nhau cho cùng một vụ việc có cùng tính chất dẫn đến các mức bồi thường khác nhau đối với những người bị thiệt hại, bảo đảm cho công tác quản lý của Nhà nước được ổn định, tránh gây sức ép tâm lý lên hoạt động nghiệp vụ của đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước.

Một cơ quan thống nhất, chuyên thực hiện chức năng đại diện cho Nhà nước thực hiện việc bồi thường thiệt hại, đảm bảo về trình độ chuyên môn cao của các cán bộ, công chức thực hiện công tác này sẽ đảm bảo cho các yêu cầu bồi thường được giải quyết kịp thời, tránh việc chậm trễ về mặt thời gian giải quyết bồi thường và áp dụng sai các quy định của pháp luật về Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước, đặc biệt là việc áp dụng chưa đúng quy định về căn cứ xác định Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước, tránh sai phạm tiếp nối sai phạm.

Về cơ bản việc xây dựng mô hình cơ quan giải quyết bồi thường tập trung sẽ mang lại những kết quả tích cực cho việc quản lý và thực hiện chế định Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi cho người bị thiệt hại được bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của mình, đồng thời, thể hiện được thái độ thiện chí và quan điểm của Nhà nước Việt Nam trong việc bảo vệ quyền con người và các quyền công dân theo quy định của Hiến pháp 2013, đồng thời việc quy định thu gọn một bước , giảm số lượng cơ quan giải quyết bồi thường nhằm nâng cao trách nhiệm của cơ quan quản l ý hành chính trong việc quản l ý, chỉ đạo , điều hành đối với cơ quan thuộc thẩm quyền quản l ý của mình khi người bị thiệt hại có đơn yêu cầu bồi thường và đáp ứng các điều kiện về căn cứ xác định Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước; góp phần hạn chế tình trạng né tránh, đùn đẩy trách nhiệm giải quyết bồi thường, cũng như các trường hợp không xác định được cơ quan có trách nhiệm bồi thường. Luận văn: Thực tiễn xác định Trách nhiệm bồi thường thiệt hại.

Bên cạnh việc hoàn thiện thể chế và nghiên cứu xây dựng một mô hình cơ quan có trách nhiệm bồi thường phù hợp hơn với tình hình kinh tế, văn hóa, xã hội của quốc gia, Việt Nam cần có biện pháp nhằm tăng cường trình độ hiểu biết cũng như trách nhiệm công vụ của cán bộ, công chức tại các cơ quan nhà nước, tránh tình trạng đùn đẩy giải quyết bồi thường.

Tăng cường hiểu biết pháp luật của người dân, cho đến thời điểm hiện nay, vẫn còn một bộ phận không nhỏ người dân không biết đến Luật TNBTCNN để thực hiện quyền yêu cầu bồi thường của mình. Do vậy, song song với việc tăng cường trách nhiệm công vụ, Đảng và Nhà nước cần quan tâm tới việc tuyên truyền và phổ biến pháp luật nói chung và pháp luật về bồi thường nhà nước nói riêng để nâng cao hiểu biết, nhận thức của người dân về quyền yêu cầu bồi thường, căn cứ yêu cầu Nhà nước bồi thường khi có thiệt hại do hành vi trái pháp luật của cán bộ, công chức Nhà nước; trình tự, thủ tục để có được một trong các văn bản làm căn cứ xác định Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước; là cơ chế hiệu quả, thiết thực giúp cho người dân tự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

KẾT LUẬN

Có thể nói, với mục tiêu xây dựng Nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì Nhân dân, việc xây dựng và hoàn thiện thể chế về Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước luôn là yêu cầu cấp bách, góp phần bảo đảm quyền và lợi ích chính đáng của cá nhân, tổ chức nói chung, của những người phải gánh chịu thiệt hại từ hành vi trái pháp luật trong thi hành công vụ của cán bộ, công chức nhà nước nói riêng; đảm bảo nguyên tắc mọi chủ thể đều bình đẳng trước pháp luật. Trong quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam, Luật TNBTCNN ra đời trước hết nhằm khắc phục những tồn tại, vướng mắc trong các quy định của hệ thống pháp luật trước đó về Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước, đồng thời đánh dấu bước phát triển trong chế định về THBTTHCNN Việt Nam hiện nay, đáp ứng các yêu cầu trên thực tiễn, tạo cơ chế pháp lý đồng bộ, hiệu quả, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của người bị thiệt hại cũng như góp phần nâng cao chất lượng công vụ của đội ngũ cán bộ, công chức Nhà nước.

Cho đến nay, sau hơn 6 năm thi hành trên thực tiễn, Luật TNBTCNN đã từng bước đi vào cuộc sống, việc thi hành Luật TNBTCNN đã đạt được những kết quả nhất định, góp phần đáng kể trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị thiệt hại, củng cố lòng tin của người dân vào hoạt động bộ máy nhà nước, nâng cao uy tín của Nhà nước trong xã hội và trên trường quốc tế. Tuy nhiên, trong quá trình triển khai thi hành Luật TNBTCNN trên thực tiễn, các quy định của Luật TNBTCNN đã bộc lộ nhiều hạn chế, vướng mắc đặc biệt là những hạn chế, vướng mắc liên quan đến quy định về căn cứ xác định Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước. Với những nội dung mới của Hiến pháp 2013 về bảo đảm quyền con người, quyền công dân và một loạt các thay đổi của các văn bản pháp luật có liên quan như Bộ luật Dân sự 2015, Bộ luật hình sự 2015, Bộ luật tố tụng dân sự 2015, Bộ luật tố tụng hình sự 2015, Luật tố tụng hành chính 2015, Luật thi hành án dân sự 2014… đã đặt ra yêu cầu cần sửa đổi Luật TNBTCNN sao cho phù hợp, nhằm bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất trong các quy định của pháp luật, đảm bảo tính khả thi trên thực tiễn, bảo vệ quyền lợi của cá nhân, tổ chức bị thiệt hại do hành vi trái pháp luật của cán bộ, công chức gây ra.

Trên cơ sở phân tích những hạn chế, bất cập từ các quy định của pháp luật về căn cứ xác định Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước và đánh giá những hạn chế, vướng mắc phát sinh trong quá trình triển khai quy định về căn cứ xác định Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước theo Luật TNBTCNN trên thực tế hiện nay, để pháp luật Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước đi vào đời sống xã hội, phát huy hơn nữa tinh thần bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các cá nhân, tổ chức cần đưa ra các giải pháp cụ thể trên từng lĩnh vực, trong từng giai đoạn, bảo đảm nguyên tắc khi xây dựng Luật là tạo cơ chế hiệu quả, thiết thực giúp cho các cá nhân, tổ chức nói chung, người bị thiệt hại nói riêng tự bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng đã được Nhà nước ghi nhận và bảo vệ; góp phần nâng cao chất lượng công vụ của Việt Nam hiện nay, đồng thời là tấm gương phản chiếu giúp Nhà nước hoàn thiện hơn nữa chất lượng phục vụ, hoàn thành tốt nhất các nhiệm vụ được Nhân dân tin tưởng giao phó, phát huy những tích cực của cơ chế BTTHCNN mà Đảng và Nhà nước đã đề ra. Luận văn: Thực tiễn xác định Trách nhiệm bồi thường thiệt hại.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:  

===>>> Luận văn: Xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464