Luận văn: Thực tiễn PL về cấp giấy phép lao động nước ngoài

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Thực tiễn PL về cấp giấy phép lao động nước ngoài hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Nội dung quy định của pháp luật Việt Nam và Thực tiễn áp dụng quy định pháp luật về cấp giấy phép lao động nước ngoài dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

2.1 Nội dung các quy định của pháp luật Việt Nam về cấp giấy phép cho người lao động nước ngoài.

2.1.1. Đối tượng áp dụng

  • Các hình thức lao động nước ngoài là đối tượng cấp giấy phép lao động.

Người nước ngoài vào Việt Nam làm việc dưới nhiều hình thức bao gồm cả người lao động nước ngoài làm việc theo hợp đồng lao động. Khoản 1 Điều 169 Bộ Luật Lao động do Quốc hội khóa XIII thông qua ngày 18/6/2012 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/5/2013 (sau đây viết tắt là Bộ luật Lao động năm 2012) quy định người nước ngoài vào làm việc tại Việt Nam là “công dân nước ngoài” (xác định bởi hai yếu tố “quốc tịch” và “tư cách công dân”) và đưa ra các điều kiện của công dân nước ngoài vào làm việc tại Việt Nam: “a) Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ. b) Có trình độ chuyên môn, tay nghề và sức khỏe phù hợp với yêu cầu công việc; c) Không phải là người phạm tội hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật Việt Nam và pháp luật nước ngoài; d) Có giấy phép lao động do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp, trừ các trường hợp theo quy định”. Bộ luật Lao động năm 2012 còn quy định chỉ được tuyển dụng lao động là công dân nước ngoài đối với công việc quản lý, giám đốc điều hành, chuyên gia và lao động kỹ thuật mà lao động Việt Nam chưa đáp ứng được theo nhu cầu, sản xuất kinh doanh và phải giải trình nhu cầu sử dụng và được sự chấp thuận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Người lao động nước ngoài vào Việt Nam làm việc theo nhiều hình thức khác nhau được bổ sung nhiều so với quy định trước đây nhằm phù hợp với cam kết WTO như: ký hợp đồng lao động, di chuyển nội bộ doanh nghiệp, nhà cung cấp dịch vụ theo hợp đồng, chào bán dịch vụ, v.v.

Cụ thể, Nghị định 11/2016/NĐ-CP tại Điều 2 quy định Lao động là công dân nước ngoài vào làm việc tại Việt Nam (sau đây viết tắt là người lao động nước ngoài) được liệt kê theo các hình thức sau đây:

Thực hiện hợp đồng lao động; Di chuyển trong nội bộ doanh nghiệp; Thực hiện các loại hợp đồng hoặc thỏa thuận về kinh tế, thương mại, tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, khoa học kỹ thuật, văn hóa, thể thao, giáo dục, giáo dục nghề nghiệp và y tế; Nhà cung cấp dịch vụ theo hợp đồng; Chào bán dịch vụ; Làm việc cho tổ chức phi chính phủ nước ngoài, tổ chức quốc tế tại Việt Nam được phép hoạt động theo quy định của pháp luật Việt Nam; Tình nguyện viên; Người chịu trách nhiệm thành lập hiện diện thương mại; Nhà quản lý, giám đốc điều hành, chuyên gia, lao động kỹ thuật; Tham gia thực hiện các gói thầu, dự án tại Việt Nam. Luận văn: Thực tiễn PL về cấp giấy phép lao động nước ngoài.

  • Các đối tượng phải xin cấp giấy phép lao động cho người lao động nước ngoài khi sử dụng lao động nước ngoài

Các đối tượng này vẫn giữ nguyên theo quy định cũ, theo khoản 2 điều 2 nghị định 11/2016/NĐ-CP, người sử dụng người lao động nước ngoài, bao gồm: Doanh nghiệp hoạt động theo Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư hoặc theo điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên; Nhà thầu nước ngoài hoặc trong nước tham dự thầu, thực hiện hợp đồng; Văn phòng đại diện, chi nhánh của doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức được cơ quan có thẩm quyền cấp phép thành lập; Cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp; Tổ chức phi chính phủ nước ngoài, tổ chức quốc tế tại Việt Nam; Tổ chức sự nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật; Văn phòng của dự án nước ngoài hoặc của tổ chức quốc tế tại Việt Nam; Văn phòng điều hành của nhà đầu tư nước ngoài trong hợp đồng hợp tác kinh doanh hoặc của nhà thầu nước ngoài được đăng ký hoạt động theo quy định của pháp luật; Các tổ chức hành nghề luật sư tại Việt Nam theo quy định của pháp luật; Hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã thành lập và hoạt động theo Luật Hợp tác xã; Hội, hiệp hội doanh nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật; Hộ kinh doanh, cá nhân được phép hoạt động kinh doanh theo quy định của pháp luật.

Thông tư 40/2016/TTBLĐTBXH: Quy định chi tiết hơn về một số đối tượng thuộc Điều 2 Nghị định số 11/2016/NĐ-CP như:

  • Người lao động nước ngoài là nhà cung cấp dịch vụ theo hợp đồng và chào bán dịch vụ. (khoản 2 điều 2)
  • Người sử dụng lao động nước ngoài trong một số trường hợp đặc biệt là các đối tượng theo quy định tại điểm c, d, đ và h khoản 1 Điều 2 Nghị định số 11/2016/NĐ-CP. (khoản 3 điều 2)

2.1.2. Đối tượng người lao động nước ngoài không phải cấp giấy phép lao động Luận văn: Thực tiễn PL về cấp giấy phép lao động nước ngoài.

  • Các đối tượng người lao động nước ngoài được miễn giấy phép lao động theo điều 172 Bộ luật Lao động 2012 gồm:

Thành viên góp vốn hoặc là chủ sở hữu của công ty trách nhiệm hữu hạn; Thành viên Hội đồng quản trị của công ty cổ phần; Trưởng văn phòng đại diện, dự án của tổ chức quốc tế, tổ chức phi chính phủ tại Việt Nam; Vào Việt Nam với thời hạn dưới 03 tháng để thực hiện chào bán dịch vụ; Vào Việt Nam với thời hạn dưới 03 tháng để xử lý những sự cố, tình huống kỹ thuật, công nghệ phức tạp nảy sinh làm ảnh hưởng hoặc có nguy cơ ảnh hưởng tới sản xuất, kinh doanh mà các chuyên gia Việt Nam và các chuyên gia nước ngoài hiện đang ở Việt Nam không xử lý được; Luật sư nước ngoài đã được cấp giấy phép hành nghề luật sư tại Việt Nam theo quy định của Luật luật sư;

Theo quy định của Điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên; Là học sinh, sinh viên học tập tại Việt Nam làm việc tại Việt Nam nhưng người sử dụng lao động phải báo trước 07 ngày với cơ quan quản lý nhà nước về lao động cấp tỉnh.

  • Các trường hợp người lao động nước ngoài khác không thuộc diện cấp giấy phép lao động theo điều 8 nghị định 11/2016/NĐ-CP:

Ngoài những trường hợp không thuộc diện cấp giấy phép lao động theo quy định cũ như: Di chuyển trong nội bộ doanh nghiệp thuộc phạm vi 11 ngành dịch vụ trong biểu cam kết dịch vụ của Việt Nam với Tổ chức Thương mại thế giới, bao gồm: kinh doanh, thông tin, xây dựng, phân phối, giáo dục, môi trường, tài chính, y tế, du lịch, văn hóa giải trí và vận tải; Vào Việt Nam để cung cấp dịch vụ tư vấn về chuyên môn và kỹ thuật hoặc thực hiện các nhiệm vụ khác phục vụ cho công tác nghiên cứu, xây dựng, thẩm định, theo dõi đánh giá, quản lý và thực hiện chương trình, dự án sử dụng nguồn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) theo quy định hay thỏa thuận trong các điều ước quốc tế về ODA đã ký kết giữa cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam và nước ngoài; Được Bộ Ngoại giao cấp giấy phép hoạt động thông tin, báo chí tại Việt Nam theo quy định của pháp luật; Được cơ quan, tổ chức của nước ngoài cử sang Việt Nam giảng dạy, nghiên cứu tại trường quốc tế thuộc phạm vi quản lý của cơ quan đại diện ngoại giao nước ngoài hoặc tổ chức quốc tế tại Việt Nam hoặc được Bộ Giáo dục và Đào tạo xác nhận vào giảng dạy, nghiên cứu tại các cơ sở giáo dục, đào tạo tại Việt Nam; Tình nguyện viên có xác nhận của cơ quan đại diện ngoại giao nước ngoài hoặc tổ chức quốc tế tại Việt Nam. Thông tư 41/2014/TT-BCT của Bộ Công Thương ngày 05/11/2014 (có hiệu lực ngày 22/12/2014) gọi tắt là thông tư 41/2014/TT-BCT, tại khoản 2 điều 4 quy định căn cứ để xác định người lao động nước ngoài di chuyển trong nội bộ doanh nghiệp nước ngoài thuộc các ngành dịch vụ được nêu bao gồm:

  • Doanh nghiệp nước ngoài đã thành lập hiện diện thương mại trên lãnh thổ Việt Nam.
  • Hiện diện thương mại của doanh nghiệp nước ngoài trên lãnh thổ Việt Nam hoạt động thuộc phạm vi 11 ngành dịch vụ tương ứng với từng vị trí. Luận văn: Thực tiễn PL về cấp giấy phép lao động nước ngoài.
  • Người nước ngoài đã được doanh nghiệp nước ngoài tuyển dụng ít nhất 12 tháng trước khi được cử sang Việt Nam làm việc tại hiện diện thương mại của doanh nghiệp nước ngoài này trên lãnh thổ Việt Nam.

Theo quy định của điều 3 thông tư 41/2014/TT-BCT, hiện diện thương mại của doanh nghiệp nước ngoài tại Việt Nam bao gồm các hình thức như hợp đồng hợp tác kinh doanh, doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài, văn phòng đại diện, chi nhánh của doanh nghiệp nước ngoài.

Theo quy định tại khoản 1 điều 5 thông tư 41/2014/TT-BCT, các giấy tờ chứng minh người nước ngoài thuộc trường hợp di chuyển trong nội bộ doanh nghiệp và không phải xin giấy phép lao động bao gồm:

  • Văn bản của doanh nghiệp nước ngoài cử sang làm việc cho hiện diện thương mại tại Việt Nam có ghi rõ thời hạn làm việc.
  • Văn bản xác nhận người nước ngoài là nhà quản lý, giám đốc điều hành, chuyên gia hoặc lao động kỹ thuật.
  • Văn bản chứng minh rằng người nước ngoài đã được doanh nghiệp nước ngoài tuyển dụng ít nhất 12 tháng trước khi cử sang Việt Nam làm việc.
  • Văn bản chứng minh hiện diện thương mại của doanh nghiệp nước ngoài tại Việt Nam hoạt động trong phạm vi các ngành dịch vụ theo quy định của pháp luật như giấy phép đầu tư, giấy chứng nhận đầu tư, giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, giấy phép thành lập văn phòng đại diện, chi nhánh do cơ quan có thẩm quyền cấp.

Các giấy tờ được liệt kê nêu trên nếu bằng tiếng nước ngoài thì được miễn hợp pháp hóa lãnh sự nhưng phải dịch ra tiếng Việt và chứng thực theo quy định của pháp luật Việt Nam.

Theo Nghị định 11/2016/NĐ-CP bổ sung những trường hợp người nước ngoài thuộc diện không phải cấp giấy phép lao động (Theo Khoản 2 Điều 7), cụ thể: Luận văn: Thực tiễn PL về cấp giấy phép lao động nước ngoài.

  • Người lao động được cơ quan, tổ chức của nước ngoài cử sang Việt Nam giảng dạy, nghiên cứu tại trường quốc tế thuộc phạm vi quản lý của cơ quan đại diện ngoại giao nước ngoài hoặc tổ chức quốc tế tại Việt Nam hoặc được Bộ Giáo dục và Đào tạo xác nhận vào giảng dạy, nghiên cứu tại các cơ sở giáo dục, đào tạo tại Việt Nam (điểm đ).
  • Những người vào Việt Nam làm việc tại vị trí chuyên gia, nhà quản lý, giám đốc điều hành hoặc lao động kỹ thuật có thời gian làm việc dưới 30 ngày và thời gian cộng dồn không quá 90 ngày trong 01 năm (điểm e).

Theo quy định trước đây (điểm e khoản 2 điều 7 Nghị định 102/2013/NĐ-CP) giới hạn là người có trình độ từ thạc sĩ trở lên hoặc tương đương thực hiện tư vấn, giảng dạy, nghiên cứu khoa học tại cơ sở giáo dục đại học, cơ sở dạy nghề trình độ cao đẳng với thời gian không quá 30 ngày).

  • Học sinh, sinh viên đang học tập tại các trường, cơ sở đào tạo ở nước ngoài có thỏa thuận thực tập trong các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp tại Việt Nam;
  • Thân nhân thành viên cơ quan đại diện nước ngoài tại Việt Nam làm việc sau khi được Bộ Ngoại giao cấp phép, trừ trường hợp điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác;
  • Người có hộ chiếu công vụ vào làm việc cho cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội;

Điều 9 thông tư 40/2016/TTBLĐTBXH giải thích cụ thể: Thời gian cộng dồn trong 1 năm quy định tại điểm e khoản 2 Điều 7 Nghị định số 11/2016/NĐ-CP được hiểu là trong thời gian đủ 12 tháng liên tục và được tính kể từ ngày người lao động nước ngoài bắt đầu làm việc tại Việt Nam.

Lưu ý: Người sử dụng lao động đề nghị Sở Lao động – Thương binh và Xã hội nơi người nước ngoài dự kiến làm việc xác nhận người lao động nước ngoài không thuộc diện cấp giấy phép lao động trước ít nhất 07 ngày làm việc, kể từ ngày người lao động nước ngoài bắt đầu làm việc, trừ các trường hợp: người lao động vào Việt Nam với thời hạn dưới 03 tháng để thực hiện chào bán dịch vụ, xử lý những sự cố, tình huống kỹ thuật, công nghệ phức tạp nảy sinh làm ảnh hưởng hoặc có nguy cơ ảnh hưởng tới sản xuất, kinh doanh mà các chuyên gia Việt Nam và các chuyên gia nước ngoài hiện đang ở Việt Nam không xử lý được và các chuyên gia, nhà quản lý, giám đốc điều hành hoặc lao động kỹ thuật có thời gian làm việc dưới 30 ngày và thời gian cộng dồn không quá 90 ngày trong 01 năm; vì việc chuẩn bị giấy tờ trong hồ sơ đề nghị cấp giấy phép lao động mất nhiều thời gian trong khi thời gian làm việc rất ngắn đặc biệt trong trường hợp để xử lý những sự cố, tình huống khẩn cấp. Đối với trường hợp không thuộc diện cấp giấy phép lao động, người nước ngoài vẫn cần phải có giấy xác nhận của Sở Lao động Thương Binh và Xã hội. Thời hạn xác nhận không thuộc trường hợp cấp giấy phép lao động là tối đa không quá 2 năm và theo thời hạn của một số trường hợp cụ thể (điều 8 nghị định 11/2016/NĐ-CP). Quy định cũ không quy định rõ thời hạn (điều 8 nghị định 102/2013/NĐ-CP). Luận văn: Thực tiễn PL về cấp giấy phép lao động nước ngoài.

Xác nhận người lao động nước ngoài không thuộc diện cấp giấy phép lao động Điều 8 nghị định 11/2016/NĐ-CP quy định:

  • Sở Lao động – Thương binh và Xã hội có thẩm quyền xác nhận người lao động nước ngoài không thuộc diện cấp giấy phép lao động.
  • Người sử dụng lao động đề nghị Sở Lao động – Thương binh và Xã hội nơi người nước ngoài dự kiến làm việc xác nhận người lao động nước ngoài không thuộc diện cấp giấy phép lao động trước ít nhất 07 ngày làm việc, kể từ ngày người lao động nước ngoài bắt đầu làm việc, trừ các trường hợp quy định tại Khoản 4, Khoản 5 Điều 172 của Bộ luật Lao động và Điểm e Khoản 2 Điều 7 Nghị định này.

Thời hạn xác nhận người lao động nước ngoài không thuộc diện cấp giấy phép lao động không quá 02 năm và theo thời hạn của một trong các trường hợp quy định tại Điều 11 Nghị định này.

Hồ sơ đề nghị xác nhận không thuộc diện cấp giấy phép lao động, bao gồm:

  • Văn bản đề nghị xác nhận người lao động nước ngoài không thuộc diện cấp giấy phép lao động;
  • Danh sách trích ngang về người lao động nước ngoài với nội dung: họ, tên; tuổi; giới tính; quốc tịch; số hộ chiếu; ngày bắt đầu và ngày kết thúc làm việc; vị trí công việc của người lao động nước ngoài;
  • Các giấy tờ để chứng minh người lao động nước ngoài không thuộc diện cấp giấy phép lao động;
  • Giấy tờ chứng minh người lao động nước ngoài không thuộc diện cấp giấy phép lao động là 01 bản chụp kèm theo bản gốc để đối chiếu hoặc 01 bản sao có chứng thực, nếu của nước ngoài thì miễn hợp pháp hóa lãnh sự, nhưng phải dịch ra tiếng Việt và chứng thực theo quy định của pháp luật Việt Nam.

Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ đề nghị xác nhận không thuộc diện cấp giấy phép lao động, Sở Lao động – Thương binh và Xã hội có văn bản xác nhận gửi người sử dụng lao động. Trường hợp không xác nhận thì có văn bản trả lời và nêu rõ lý do. Luận văn: Thực tiễn PL về cấp giấy phép lao động nước ngoài.

Theo quy định mới Khoản 2 Điều 8 Nghị định số 11/2016/NĐ-CP quy định cơ quan xem xét xác nhận người lao động nước ngoài không thuộc diện cấp giấy phép lao động là Sở Lao động – Thương binh và Xã hội “nơi người nước ngoài dự kiến làm việc”. Quy định này là phù hợp vì nếu theo quy định cũ là Sở lao động thương binh xã hội “nơi người lao động nước ngoài thường xuyên làm việc” là không thể xác định được nếu họ chưa vào Việt Nam làm việc. Giảm thiểu thủ tục hành chính trong quy định về những trường hợp không phải làm thủ tục xác nhận không thuộc diện cấp giấy phép lao động đối với: người lao động nước ngoài vào Việt Nam làm việc với thời hạn dưới 03 tháng để thực hiện chào bán dịch vụ, để xử lý những sự cố, tình huống kỹ thuật, công nghệ phức tạp nảy sinh mà các chuyên gia Việt Nam và các chuyên gia nước ngoài hiện ở Việt Nam không xử lý được; vào làm việc tại vị trí chuyên gia, nhà quản lý, giám đốc điều hành hoặc lao động kỹ thuật có thời gian làm việc dưới 30 ngày và thời gian cộng dồn không quá 90 ngày trong 01 năm.

Bổ sung thời hạn xác nhận người lao động nước ngoài không thuộc diện cấp giấy phép lao động theo thời hạn của từng trường hợp quy định và không quá 02 năm.

Về Hồ sơ đề nghị xác nhận không thuộc diện cấp giấy phép lao động cơ bản không thay đổi so với quy định cũ chỉ yêu cầu chặt chẽ hơn về giấy tờ chứng minh người lao động nước ngoài không thuộc diện cấp giấy phép lao động là “01 bản chụp kèm theo bản gốc để đối chiếu hoặc 01 bản sao có chứng thực” (điểm d).

2.1.3 Xác định công việc được sử dụng người lao động nước ngoài

  • Mục I chương II Nghị định 11/2016: Sử dụng người lao động nước ngoài (Điều 4 Nghị định 11/2016/NĐ-CP):

Theo quy định mới Nghị định số 11/2016/NĐ-CP Điểm a Khoản 1 Điều 4 bỏ quy định “hằng năm” người sử dụng lao động phải xác định nhu cầu sử dụng người lao động nước ngoài đối với từng vị trí công việc, vì thực tế điều này là bất hợp lý. Việc xác định trước nhu cầu trong một năm khó đảm bảo chính xác và nhu cầu sử dụng lao động còn có thể phát sinh đột xuất. Bổ sung điểm b khoản 1 về các trường hợp không phải xác định nhu cầu sử dụng người lao động nước ngoài. Đây chính là các trường hợp không thuộc diện cấp giấy phép lao động, quy định mới nhằm giảm bớt thủ tục hành chính cho đối tượng này. Quy định chủ thể có thẩm quyền xem xét chấp thuận nhu cầu sử dụng lao động nước ngoài là Chủ tịch UBND cấp tỉnh “nơi người lao động dự kiến làm việc”, vì nếu quy định như trước đây là Chủ tịch UBND cấp tỉnh nơi “người sử dụng lao động nước ngoài có trụ sở chính” thì không đảm bảo được hiệu quả quản lý (Ví dụ: Có nhiều trường hợp người lao động nước ngoài không làm việc tại trụ sở chính của người sử dụng lao động). Luận văn: Thực tiễn PL về cấp giấy phép lao động nước ngoài.

  • Sử dụng người lao động nước ngoài của nhà thầu (Điều 5 Nghị định 11/2016/NĐ-CP)

Trước thực tế về nhu cầu sử dụng lao động phổ thông của nhà thầu nước ngoài, nhà nước cũng bỏ quy định “cấm” sử dụng lao động nước ngoài thực hiện các công việc mà người lao động Việt Nam có khả năng thực hiện và đáp ứng yêu cầu của gói thầu đặc biệt là lao động phổ thông, lao động không qua đào tạo kỹ năng nghiệp vụ. Khoản 1 và 2 Điều 5 Nghị định số 11/2016/NĐ- CP tiếp tục quy định về việc ưu tiên tuyển dụng lao động Việt Nam và chỉ cho phép sử dụng lao động nước ngoài khi không tuyển dụng được lao động Việt Nam. Bỏ quy định “việc đánh giá, lựa chọn nhà thầu phải thực hiện các quy định về sử dụng lao động đã nêu trong hồ sơ mời thầu, hồ sơ yêu cầu và các quy định của pháp luật đấu thầu Việt Nam” vì không khả thi. Tăng trách nhiệm của chủ đầu tư trong việc “giám sát, yêu cầu nhà thầu thực hiện đúng nội dung đã kê khai về việc sử dụng người lao động Việt Nam và người lao động nước ngoài” (Khoản 3 Điều 5).

  • Báo cáo sử dụng người lao động nước ngoài (Điều 6 Nghị định 11/2016/NĐ-CP)

Bổ sung trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trong quản lý lao động nước ngoài:“Định kỳ hằng năm hoặc đột xuất theo yêu cầu, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm báo cáo Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội về nhu cầu sử dụng người lao động nước ngoài, chấp thuận nhu cầu sử dụng người lao động nước ngoài và tình hình quản lý người lao động nước ngoài làm việc trên địa bàn.” (Khoản 1 Điều 6).

2.1.4. Điều kiện cấp giấy phép lao động Luận văn: Thực tiễn PL về cấp giấy phép lao động nước ngoài.

Trong thời đại toàn cầu hóa, xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, nhất là khi Việt Nam đã trở thành thành viên của WTO, cùng ASEAN xây dựng một cộng đồng chính trị – kinh tế – xã hội chung, thì việc dần dần phải loại bỏ các rào cản, tiến tới mở cửa thị trường lao động là xu hướng không thể tránh khỏi. Vì thế, chúng ta không nên có thái độ cực đoan khi nhìn nhận hiện tượng người Lao động nước ngoài, cho dù từ bất kỳ quốc gia nào, có mặt hợp pháp tại Việt Nam. Nếu hiện nay ở nước ta có trên bảy vạn người nước ngoài đang làm việc, thì hàng năm cũng có bằng ấy người Việt ra nước ngoài lao động theo thỏa thuận của Chính phủ với các quốc gia. Tuy nhiên, nếu Lao động nước ngoài bất hợp pháp mà làm việc tại Việt Nam sẽ gây ra rất nhiều hệ lụy. Trước tiên, họ tước đi cơ hội việc làm của người lao động Việt Nam, trong khi sức ép giải quyết công ăn việc làm đang là gánh nặng cho Chính phủ và xã hội. Điều đáng buồn là đại đa số những lao động trái phép bị phát hiện lại đang làm những công việc giản đơn hoặc những loại việc mà người lao động Việt Nam hoàn toàn có thể đảm đương được. Thêm nữa, tình trạng này có thể tạo ra làn sóng nhập cư, định cư “lậu” khó kiểm soát, gây ra những vấn đề nan giải về xã hội, văn hóa, thậm chí là an ninh. Cần thiết có những điều kiện bắt buộc cho lao động nước ngoài làm việc hợp pháp pháp của Việt Nam thông qua việc cấp giấy phép lao động. Điều kiện để cấp phép lao động nước ngoài cũng cần phù hợp với điều kiện công việc và từng giai đoạn.

  • Nghị định 11/2016/NĐ-CP tại Điều 9 quy định điều kiện chung cấp giấy phép lao động nước ngoài:

Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ theo quy định của pháp luật; Có sức khỏe phù hợp với yêu cầu công việc; Là nhà quản lý, giám đốc điều hành, chuyên gia hoặc lao động kỹ thuật; Không phải là người phạm tội hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật Việt Nam và pháp luật nước ngoài; Được chấp thuận bằng văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về việc sử dụng người lao động nước ngoài.

Ngoài các điều kiện chung nêu trên như lao động Việt Nam, người lao động nước ngoài còn phải đáp ứng nhiều điều kiện riêng như việc yêu cầu trong hồ sơ cấp giấy phép lao động và được quy định đối với từng đối tượng cụ thể như:

Người làm công việc quản lý, điều hành ở những nơi mà người lao động Việt Nam chưa đáp ứng được vị trí công việc đó. Người làm việc theo hình thức di chuyển nội bộ phải có văn bản của doanh nghiệp nước ngoài cử sang Việt Nam làm việc, v.v. Trước đây theo Nghị định 102/2013-NĐ-CP, chuyên gia nước ngoài được được định nghĩa là cá nhân có bằng đại học trở lên và có ít nhất 5 năm kinh nghiệm làm việc. Theo Nghị định 11/2016-NĐ- CP, yêu cầu số năm kinh nghiệm tối thiểu giảm xuống còn 3 năm. Mặc dù có quy định về miễn giấy phép lao động, trong một số trường hợp người sử dụng lao động cần có xác nhận người nước ngoài không thuộc diện cấp giấy phép lao động trước ít nhất 07 ngày làm việc kể từ ngày người lao động nước ngoài bắt đầu làm việc/học tập/ giảng dạy. Luận văn: Thực tiễn PL về cấp giấy phép lao động nước ngoài.

Bên cạnh những khái niệm về vị trí công việc hiện tại, Nghị định 11/2016/NĐ-CP bổ sung thêm khái niệm đối với các vị trí khác mà người lao động nước ngoài đảm nhiệm.

Quy định mới đã bỏ điều kiện hành nghề đối với người lao động nước ngoài hành nghề khám bệnh, chữa bệnh, trực tiếp khám bệnh, chữa bệnh tại Việt Nam hoặc làm việc trong lĩnh vực giáo dục đào tạo và dạy nghề vì pháp luật chuyên ngành đã quy định.

  • Ngoài ra nghị định 11/2016/NĐ-CP có một số quy định mới về điều kiện cấp giấy phép lao động nước ngoài như sau:

Thay đổi điều kiện xác định là chuyên gia nước ngoài. Tại khoản 3 điều 3 Nghị định 11/2016/NĐ-CP quy định, Người lao động nước ngoài được xem là chuyên gia đáp ứng một trong hai điều kiện:

Có văn bản xác nhận là chuyên gia của cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp tại nước ngoài. (trước ngày 01 tháng 4 năm 2016 không bắt buộc);

Có bằng đại học trở lên hoặc tương đương và có ít nhất 3 năm kinh nghiệm làm việc trong chuyên ngành được đào tạo phù hợp với vị trí công việc mà người lao động nước ngoài dự kiến làm việc tại Việt Nam; trường hợp đặc biệt do Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định.

  • Quy định chi tiết về người lao động nước ngoài là Nhà quản lý, giám đốc điều hành

Trường hợp người lao động nước ngoài được xem là nhà quản lý, giám đốc điều hành:

  • Nhà quản lý là người quản lý doanh nghiệp theo quy định tại Khoản 18 Điều 4 Luật Doanh nghiệp hoặc là người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu của cơ quan, tổ chức; Luận văn: Thực tiễn PL về cấp giấy phép lao động nước ngoài.
  • Giám đốc điều hành là người đứng đầu và trực tiếp điều hành đơn vị trực thuộc cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp.

Theo thông tư 03/2014TT-BLĐTBXH: Nhà quản lý, giám đốc điều hành: Là người lao động nước ngoài trực tiếp tham gia quản lý trong tổ chức, doanh nghiệp bao gồm việc chỉ đạo tổ chức, doanh nghiệp hoặc đơn vị trực thuộc tổ chức, doanh nghiệp đó; giám sát và kiểm soát công việc của các nhân viên chuyên môn, nhân viên quản lý hoặc nhân viên giám sát khác (khoản 3 điều 2 thông tư 03/2014TT-BLĐTBXH).

Hiện nay điều kiện Cấp giấy phép lao động đối với giáo viên là người nước ngoài được quy định cụ thể điều kiện ít nhất phải có trình độ đại học sư phạm hoặc tương đương (có trình độ đại học và có chứng chỉ sư phạm hoặc chứng chỉ giảng dạy giáo dục phổ thông) giảng dạy tại các cơ sở giáo dục phổ thông.

Thủ tướng Chính phủ vừa có văn bản số 1493/TTg-KGVX ngày 19/8/2016 về việc triển khai thực hiện Nghị định số 11/2016/NĐ-CP.

Theo đó, căn cứ Nghị định số 124/2014/NĐ-CP sửa đổi Khoản 6 Điều 31 Nghị định số 73/2012/NĐ-CP của Chính phủ quy định về hợp tác, đầu tư của nước ngoài trong lĩnh vực giáo dục và Điểm b Khoản 3 Điều 3 Nghị định số 11/2016/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam;

Xét ý kiến của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội tại Văn bản số 2461/LĐTBXH-VL ngày 01/7/2016, Thủ tướng Chính phủ đã đồng ý trường hợp cấp giấy phép lao động đối với giáo viên là người nước ngoài ít nhất phải có trình độ đại học sư phạm hoặc tương đương (có trình độ đại học và có chứng chỉ sư phạm hoặc chứng chỉ giảng dạy giáo dục phổ thông) giảng dạy tại các cơ sở giáo dục phổ thông.

Có thể thấy điều kiện đối với người nước ngoài khi làm việc ở Việt Nam khá chặt chẽ, khắt khe và chỉ tuyển dụng lao động có trình độ, chuyên môn cao, không tuyển lao động phổ thông dù bỏ quy định “cấm” sử dụng lao động nước ngoài thực hiện các công việc mà người lao động Việt Nam có khả năng thực hiện và đáp ứng yêu cầu của gói thầu đặc biệt là lao động phổ thông, lao động không qua đào tạo kỹ năng nghiệp vụ nhưng quá trình thực thi rất khó khăn, đặc biệt sử dụng lao động phổ thông của nhà thầu nước ngoài. Luận văn: Thực tiễn PL về cấp giấy phép lao động nước ngoài.

2.1.5 Quy định trường hợp không phải thực hiện xác định nhu cầu sử dụng người lao động nước ngoài

Trường hợp người lao động nước ngoài vào Việt Nam với thời hạn dưới 03 tháng để thực hiện chào bán dịch vụ, xử lý những sự cố, tình huống kỹ thuật, công nghệ phức tạp nảy sinh làm ảnh hưởng hoặc có nguy cơ ảnh hưởng tới sản xuất, kinh doanh mà các chuyên gia Việt Nam và các chuyên gia nước ngoài hiện đang ở Việt Nam không xử lý được; Các chuyên gia, nhà quản lý, giám đốc điều hành hoặc lao động kỹ thuật có thời gian làm việc dưới 30 ngày và thời gian cộng dồn không quá 90 ngày trong 01 năm hoặc học sinh, sinh viên học tập tại Việt Nam làm việc tại Việt Nam nhưng người sử dụng lao động phải báo trước 07 ngày với cơ quan quản lý nhà nước về lao động cấp tỉnh (điểm b khoản 2 điều 4 nghị định 11/2016/NĐ-CP).

2.1.6. Về trình tự, thủ tục cấp giấy phép lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam

Vấn đề này được quy định rất cụ thể. Tuy nhiên việc thực hiện trên thực tế có nhiều sai phạm.

Quy định này chỉ áp dụng đối với người nước ngoài vào Việt Nam làm việc theo hình thức thực hiện hợp đồng lao động

  • Trình tự cấp giấy phép lao động (Điều 12 nghị định 11/2016/NĐ-CP)

Trước ít nhất 15 ngày làm việc, kể từ ngày người lao động nước ngoài dự kiến bắt đầu làm việc cho người sử dụng lao động thì người sử dụng lao động đó phải nộp hồ sơ đề nghị cấp giấy phép lao động cho Sở Lao động – Thương binh và Xã hội nơi người lao động nước ngoài dự kiến làm việc. Luận văn: Thực tiễn PL về cấp giấy phép lao động nước ngoài.

Trong thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ đề nghị cấp giấy phép lao động, Sở Lao động – Thương binh và Xã hội cấp giấy phép lao động cho người lao động nước ngoài theo mẫu do Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội quy định. Trường hợp không cấp giấy phép lao động thì có văn bản trả lời và nêu rõ lý do.

Đối với người lao động nước ngoài theo quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 2 Nghị định này, sau khi người lao động nước ngoài được cấp giấy phép lao động thì người sử dụng lao động và người lao động nước ngoài phải ký kết hợp đồng lao động bằng văn bản theo quy định của pháp luật lao động Việt Nam trước ngày dự kiến làm việc cho người sử dụng lao động.

Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày ký kết hợp đồng lao động, người sử dụng lao động phải gửi bản sao hợp đồng lao động đã ký kết tới Sở Lao động – Thương binh và Xã hội đã cấp giấy phép lao động đó.

Như vậy thời hạn cấp giấy phép lao động được rút ngắn: Theo quy định mới (khoản 2 điều 12 Nghị định 11/2016/NĐ-CP) thì “ Trong 7 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ đề nghị cấp giấy phép lao động, Sở Lao động – Thương binh và Xã hội cấp giấy phép lao động cho người lao động nước ngoài theo mẫu do Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội quy định. Trường hợp không cấp giấy phép lao động thì có văn bản trả lời và nêu rõ lý do”. Như vậy, thời gian xử lý hồ sơ xin cấp giấy phép lao động được rút ngắn từ 10 ngày làm việc (khoản 2 điều 12 Nghị định 102/2013/NĐ-CP) xuống 7 ngày làm việc kể từ ngày nộp đủ hồ sơ đề nghị cấp giấy phép lao động

2.1.7 Hồ sơ đề nghị cấp giấy phép lao động Luận văn: Thực tiễn PL về cấp giấy phép lao động nước ngoài.

Theo quy định tại Điều 10 Nghị định 11/2016/NĐ-CP quy định hồ sơ cấp giấy phép lao động gồm:

  1. Văn bản đề nghị cấp giấy phép lao động của người sử dụng lao động theo quy định của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội.
  2. Giấy chứng nhận sức khỏe hoặc giấy khám sức khỏe do cơ quan, tổ chức y tế có thẩm quyền của nước ngoài hoặc của Việt Nam cấp có giá trị trong thời hạn 12 tháng, kể từ ngày ký kết luận sức khỏe đến ngày nộp hồ sơ.
  3. Phiếu lý lịch tư pháp hoặc văn bản xác nhận người lao động nước ngoài không phải là người phạm tội hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự của nước ngoài cấp. Trường hợp người lao động nước ngoài đã cư trú tại Việt Nam thì chỉ cần phiếu lý lịch tư pháp do Việt Nam cấp. Phiếu lý lịch tư pháp hoặc văn bản xác nhận người lao động nước ngoài không phải là người phạm tội hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự được cấp không quá 06 tháng, kể từ ngày cấp đến ngày nộp hồ sơ.
  4. Văn bản chứng minh là nhà quản lý, giám đốc điều hành, chuyên gia hoặc lao động kỹ thuật

Đối với một số nghề, công việc, văn bản chứng minh trình độ chuyên môn, kỹ thuật của người lao động nước ngoài được thay thế bằng một trong các giấy tờ sau đây:

  1. Giấy công nhận là nghệ nhân đối với những ngành nghề truyền thống do cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài cấp;
  2. Văn bản chứng minh kinh nghiệm của cầu thủ bóng đá nước ngoài;
  3. Bằng lái máy bay vận tải hàng không do cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp đối với phi công nước ngoài;
  4. Giấy phép bảo dưỡng tàu bay do cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp đối với người lao động nước ngoài làm công việc bảo dưỡng tàu
  5. 02 ảnh mầu (kích thước 4cm x 6cm, phông nền trắng, mặt nhìn thẳng, đầu để trần, không đeo kính màu), ảnh chụp không quá 06 tháng tính đến ngày nộp hồ sơ.
  6. Bản sao có chứng thực hộ chiếu hoặc giấy tờ có giá trị thay hộ chiếu hoặc giấy tờ có giá trị đi lại quốc tế còn giá trị theo quy định của pháp luật. Luận văn: Thực tiễn PL về cấp giấy phép lao động nước ngoài.
  7. Các giấy tờ liên quan đến người lao động nước ngoài
  8. Đối với người lao động nước ngoài theo quy định tại Điểm b Khoản 1 Điều 2 Nghị định này phải có văn bản của doanh nghiệp nước ngoài cử sang làm việc tại hiện diện thương mại của doanh nghiệp nước ngoài đó trên lãnh thổ Việt Nam và văn bản chứng minh người lao động nước ngoài đã được doanh nghiệp nước ngoài đó tuyển dụng trước khi làm việc tại Việt Nam ít nhất 12 tháng;
  9. Đối với người lao động nước ngoài theo quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 2 Nghị định này phải có hợp đồng hoặc thỏa thuận ký kết giữa đối tác phía Việt Nam và phía nước ngoài, trong đó phải có thỏa thuận về việc người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam;
  10. Đối với người lao động nước ngoài theo quy định tại Điểm d Khoản 1 Điều 2 Nghị định này phải có hợp đồng cung cấp dịch vụ ký kết giữa đối tác phía Việt Nam và phía nước ngoài và văn bản chứng minh người lao động nước ngoài đã làm việc cho doanh nghiệp nước ngoài không có hiện diện thương mại tại Việt Nam được ít nhất 02 năm;
  11. Đối với người lao động nước ngoài theo quy định tại Điểm đ Khoản 1 Điều 2 Nghị định này phải có văn bản của nhà cung cấp dịch vụ cử người lao động nước ngoài vào Việt Nam để đàm phán cung cấp dịch vụ;
  12. Đối với người lao động nước ngoài theo quy định tại Điểm e Khoản 1 Điều 2 Nghị định này phải có giấy chứng nhận của tổ chức phi chính phủ nước ngoài, tổ chức quốc tế được phép hoạt động theo quy định của pháp luật Việt Nam;
  13. Đối với người lao động nước ngoài theo quy định tại Điểm h Khoản 1 Điều 2 Nghị định này phải có văn bản của nhà cung cấp dịch vụ cử người lao động nước ngoài vào Việt Nam để thành lập hiện diện thương mại của nhà cung cấp dịch vụ đó;
  14. Đối với người lao động nước ngoài theo quy định tại Điểm i Khoản 1 Điều 2 Nghị định này mà tham gia vào hoạt động của doanh nghiệp nước ngoài đã thành lập hiện diện thương mại tại Việt Nam thì phải có văn bản chứng minh người lao động nước ngoài được tham gia vào hoạt động của doanh nghiệp nước ngoài đó.
  15. Hồ sơ đề nghị cấp giấy phép lao động đối với một số trường hợp đặc biệt
  16. Đối với người lao động nước ngoài đã được cấp giấy phép lao động và đang còn hiệu lực mà làm việc cho người sử dụng lao động khác ở cùng vị trí công việc ghi trong giấy phép lao động theo quy định của pháp luật thì hồ sơ đề nghị cấp giấy phép lao động gồm giấy tờ quy định tại các Khoản 1, 5, 6 và 7 Điều này và giấy phép lao động hoặc bản sao chứng thực giấy phép lao động đã được cấp; Luận văn: Thực tiễn PL về cấp giấy phép lao động nước ngoài.
  17. Đối với người lao động nước ngoài đã được cấp giấy phép lao động và đang còn hiệu lực mà làm khác vị trí công việc ghi trong giấy phép lao động theo quy định của pháp luật nhưng không thay đổi người sử dụng lao động thì hồ sơ đề nghị cấp giấy phép lao động gồm các giấy tờ quy định tại các Khoản 1, 4, 5, 6 và 7 Điều này và giấy phép lao động hoặc bản sao chứng thực giấy phép lao động đã được cấp;
  18. Đối với người lao động nước ngoài đã được cấp giấy phép lao động nhưng hết hiệu lực theo quy định tại Điều 174 của Bộ luật Lao động mà có nhu cầu tiếp tục làm việc cùng vị trí công việc đã ghi trong giấy phép lao động theo quy định của pháp luật thì hồ sơ đề nghị cấp giấy phép lao động gồm các giấy tờ quy định tại các Khoản 1, 2, 3, 5, 6 và 7 Điều này và văn bản xác nhận đã thu hồi giấy phép lao động;
  19. Trường hợp người lao động nước ngoài tại các Điểm a, b và c Khoản này đã được cấp giấy phép lao động theo quy định tại Nghị định số 102/2013/NĐ-CP ngày 05 tháng 9 năm 2013 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam thì phải có văn bản chứng minh đáp ứng yêu cầu theo quy định tại Khoản 3 hoặc Khoản 4 hoặc Khoản 5 Điều 3 Nghị định này.
  20. Hợp pháp hóa lãnh sự, chứng thực các giấy tờ
  21. Các giấy tờ quy định tại các Khoản 2, 3 và 4 Điều này là 01 bản chụp kèm theo bản gốc để đối chiếu hoặc 01 bản sao có chứng thực.

Nếu các giấy tờ trên của nước ngoài thì phải được hợp pháp hóa lãnh sự, trừ trường hợp được miễn hợp pháp hóa lãnh sự theo điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước ngoài liên quan đều là thành viên hoặc theo nguyên tắc có đi có lại hoặc theo quy định của pháp luật; dịch ra tiếng Việt và chứng thực theo quy định của pháp luật Việt Nam.

Các giấy tờ theo quy định tại Khoản 7 Điều này là 01 bản chụp kèm theo bản gốc để đối chiếu hoặc 01 bản sao có chứng thực, nếu của nước ngoài thì miễn hợp pháp hóa lãnh sự, nhưng phải dịch ra tiếng Việt và chứng thực theo quy định của pháp luật Việt Nam.

Đối chiếu các quy định nêu trên có thể thấy theo quy định mới hồ sơ đề nghị cấp giấy phép lao động Quy định chi tiết hơn và đơn giản hóa thủ tục xin cấp giấy phép lao động: Luận văn: Thực tiễn PL về cấp giấy phép lao động nước ngoài.

  • Thứ nhất, đã giảm bớt lượng giấy tờ trong hồ sơ xin cấp giấy phép lao động.

Trước đây, văn bản chấp thuận sử dụng người lao động nước ngoài của Chủ tịch Ủy ban nhân dân (UBND) cấp tỉnh phải được cấp và nộp cùng bộ hồ sơ xin cấp giấy phép lao động (khoản 1 điều 10 nghị định 102/2013/NĐ-CP). Theo Nghị định 11/2016/NĐ-CP, văn bản chấp thuận sử dụng người lao động nước ngoài vẫn cần được cấp, tuy nhiên không yêu cầu phải nộp kèm theo bộ hồ sơ xin cấp giấy phép lao động. Văn bản chấp thuận sử dụng người lao động nước ngoài đã có tại cơ quan cấp giấy phép lao động, việc yêu cầu nộp lại giấy tờ này là không cần thiết và tăng thủ tục hành chính.

  • Thứ hai, Tại khoản 2 điều 10 Nghị định 11/2016/NĐ-CP quy định chi tiết về giấy chứng nhận sức khỏe phải có giá trị trong thời hạn 12 tháng, kể từ ngày ký kết luận sức khỏe, và vẫn hiệu lực tại thời điểm nộp hồ sơ đề nghị cấp phép lao động. Theo quy định cũ giấy chứng nhận sức khỏe chỉ có giá trị 6 tháng.
  • Thứ ba, Khoản 3 điều 10 nêu trên chỉ yêu cầu người lao động nước ngoài nộp một trong hai loại giấy xác nhận là phiếu lý lịch tư pháp hoặc văn bản xác nhận người lao động nước ngoài không phải là người phạm tội hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự do nước ngoài hoặc Việt Nam cấp. Quy định trên giúp giảm bớt thủ tục hành chính nhưng vẫn đảm bảo nhân thân của người lao động nước ngoài.

Theo quy định mới hiện nay thì đối với trường hợp người lao động nước ngoài đã cư trú tại Việt Nam thì chỉ cần phiếu lý lịch tư pháp do Việt Nam cấp, quy định này đã đơn giản hơn rất nhiều so với quy định trước đây (khi người lao động nước ngoài đã cư trú tại Việt Nam thì yêu cầu cả Phiếu lí lịch tư pháp tại Việt Nam và Phiếu lí lịch tư pháp cấp tại nước ngoài được hợp pháp hóa lãnh sự và dịch công chứng).

Phiếu lý lịch tư pháp do cơ quan có thẩm quyền ở nước ngoài cấp không yêu cầu trong trường hợp này. Tuy nhiên, chưa có quy định cụ thể về thời gian cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam trong trường hợp này cần bao nhiêu phải cấp phiếu lý lịch tư pháp.

Thứ tư, theo quy định mới tại khoản 4 điều 10 nêu trên quy định cần có giấy tờ chứng minh người lao động nước ngoài là nhà quản lý, giám đốc điều hành, chuyên gia hoặc lao động kỹ thuật, tuy nhiên, Nghị định lại không quy định rõ giấy tờ chứng minh ở đây được hiểu là những loại giấy tờ nào. Việc quy định chung chung như trên sẽ gây khó khăn cho doanh nghiệp Việt Nam, người lao động nước ngoài khi thực hiện nghĩa vụ chứng minh với Sở Lao động thương binh và Xã hội, trong khi đó quy định cũ trước đây (nghị định 102/2013/NĐ-CP) là chỉ cần văn bản xác nhận.

Cụ thể, theo khoản 3 điều 5 thông tư 03/2014TT-BLĐTBXH: Đối với người lao động nước ngoài là nhà quản lý, giám đốc điều hành thì phải có một trong các loại giấy tờ sau: Luận văn: Thực tiễn PL về cấp giấy phép lao động nước ngoài.

  • Giấy tờ chứng minh là nhà quản lý, giám đốc điều hành gồm: Giấy phép lao động hoặc hợp đồng lao động hoặc quyết định bổ nhiệm có xác nhận người lao động nước ngoài đó đã làm việc ở vị trí quản lý, giám đốc điều hành;
  • Văn bản xác nhận là nhà quản lý, giám đốc điều hành do cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp mà người lao động nước ngoài đó đã từng làm việc xác nhận.

Theo nghị định mới số 11/2016/NĐ-CP nêu định nghĩa riêng về nhà quản lý và giám đốc điều hành tại khoản 4 điều 3 quy định:

Nhà quản lý là người quản lý doanh nghiệp theo quy định tại Khoản 18 Điều 4 Luật Doanh nghiệp hoặc là người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu của cơ quan, tổ chức.

Giám đốc điều hành là người đứng đầu và trực tiếp điều hành đơn vị trực thuộc cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp.

Khoản 18 Điều 4 Luật Doanh nghiệp: Người quản lý doanh nghiệp là người quản lý công ty và người quản lý doanh nghiệp tư nhân, bao gồm chủ doanh nghiệp tư nhân, thành viên hợp danh, Chủ tịch Hội đồng thành viên, thành viên Hội đồng thành viên, Chỉ tịch công ty, Chủ tịch Hội đồng quản trị, thành viên Hội đồng quản trị, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và cá nhân giữ chức danh khác có thẩm quyền nhân danh công ty ký kết giao dịch của công ty theo quy định tại Điều lệ công ty.

Theo Thông tư mới ban hành (thông tư 40/2016/TT-BLĐTBXH) :Hồ sơ cấp giấy phép lao động đã nêu cụ thể các loại giấy tờ để chứng minh các vị trí:

Văn bản chứng minh là chuyên gia gồm một trong các giấy tờ sau (khoản 2 điều 6): Văn bản xác nhận là chuyên gia của cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp tại nước ngoài; Giấy tờ chứng minh theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 3 Nghị định số 11/2016/NĐ-CP.

Văn bản chứng minh là lao động kỹ thuật gồm các giấy tờ sau (khoản 3 điều 6): Giấy tờ chứng minh hoặc văn bản xác nhận của cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp tại nước ngoài về việc đã đào tạo chuyên ngành kỹ thuật hoặc chuyên ngành khác ít nhất 1 năm; Giấy chứng minh đã có ít nhất 3 năm kinh nghiệm làm việc trong chuyên ngành được đào tạo.

Văn bản chứng minh lao động nước ngoài đã được doanh nghiệp nước ngoài đó tuyển dụng trước khi làm việc tại Việt Nam ít nhất 12 tháng, là một trong các giấy tờ sau (khoản 4 điều 6): Văn bản xác nhận của người sử dụng lao động về việc đã tuyển dụng lao động nước ngoài; Hợp đồng lao động; Quyết định tuyển dụng người lao động nước ngoài; Giấy chứng nhận nộp thuế hoặc bảo hiểm. Luận văn: Thực tiễn PL về cấp giấy phép lao động nước ngoài.

Văn bản chứng minh người lao động nước ngoài đã làm việc cho doanh nghiệp nước ngoài không hiện diện thương mại tại Việt Nam được ít nhất 2 năm là một trong các giấy tờ sau khoản 5 điều 6): Văn bản xác nhận của người sử dụng lao động về việc đã tuyển dụng lao động nước ngoài; Hợp đồng lao động; Quyết định tuyển dụng; Giấy chứng nhận nộp thuế hoặc bảo hiểm;

Thứ năm, quy định mới tại khoản 5 nêu trên bỏ điều kiện khi chụp ảnh “không đeo kính” (khoản 5 điều 10 nghị định 102/2013/NĐ-CP) sửa đổi lại “không đeo kính màu”.

Thứ sáu, khoản 6 điều 10 Nghị định 11/2016/NĐ-CP bổ sung “Giấy tờ có giá trị đi lại quốc tế còn giá trị” thay cho cụm từ “giấy tờ có giá trị thay hộ chiếu còn giá trị theo quy định của pháp luật” đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế quy định cũ không nêu. Ngoài ra khoản này còn quy định rõ bản sao có chứng thực hộ chiếu chứ không yêu cầu chung chung “bản sao hộ chiếu” (khoản 7 điều 10 nghị định 102/2013/NĐ-CP).

Theo Luật Nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam năm 2014, tại khoản 3 điều 3 quy định: Giấy tờ có giá trị đi lại quốc tế là loại giấy tờ do cơ quan có thẩm quyền của một nước cấp cho người không quốc tịch đang cư trú tại nước đó và được cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam chấp thuận.

Thứ năm, Khoản 8 Điều 10 Nghị định 11/2016/NĐ-CP về hồ sơ đối với một số trường hợp đặc biệt, theo quy định mới được bổ sung, trước đây không có quy định này.

Ngoài ra, Về hợp pháp hóa lãnh sự các giấy tờ như giấy khám sức khỏe so cơ quan y tế nước ngoài cấp, Phiếu lý lịch tư pháp hoặc văn bản xác nhận người lao động nước ngoài không phải là người phạm tội hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự của nước ngoài cấp, văn bản chứng minh kinh nghiệm cần được hợp pháp hóa lãnh sự.

Chúng ta cũng cần tìm hiểu rõ tìm hiểu Hợp pháp hóa lãnh sự, Nghị định số: 111/2011/NĐ-CP của Chính phủ ngày 05 tháng 12 năm 2011 về chứng nhận lãnh sự, hợp pháp hóa lãnh sự, tại khoản 2 điều 2 quy định: “Hợp pháp hóa lãnh sự” là việc cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam chứng nhận con dấu, chữ ký, chức danh trên giấy tờ, tài liệu của nước ngoài để giấy tờ, tài liệu đó được công nhận và sử dụng tại Việt Nam. Luận văn: Thực tiễn PL về cấp giấy phép lao động nước ngoài.

Ví dụ Hợp pháp hóa lãnh sự chứng nhận kinh nghiệm làm của người lao động nước ngoài trong hồ sơ xin cấp giấy phép lao động về mặt hình thức là việc chứng thực chữ ký, con dấu trên chứng nhận kinh nghiệm làm việc do cơ quan hoặc tổ chức nước ngoài cấp để giấy tờ, tài liệu đó được công nhận và sử dụng tại Việt Nam. Về nguyên tắc, cơ quan Nhà nước Việt nam chỉ chấp nhận xem xét Chứng nhận kinh nghiệm làm việc đã được Hợp pháp hóa lãnh sự Chứng nhận kinh nghiệm làm việc , trừ trường hợp pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia có quy định khác.

Quy trình Hợp pháp hóa lãnh sự Chứng nhận kinh nghiệm làm việc gồm các bước cơ bản sau:

  • Bước 1: Tiếp nhận hồ sơ Chứng nhận kinh nghiệm làm việc từ Khách hàng và tiến hành dịch thuật tài liệu cần chứng;
  • Bước 2: Lấy dấu chứng thực tư pháp các bản dịch Chứng nhận kinh nghiệm làm việc
  • Bước 3: Lấy dấu Hợp pháp hóa lãnh sự Chứng nhận kinh nghiệm làm việc cho Chứng nhận kinh nghiệm làm việc
  • Bước 4: Lấy dấu đại sứ quán, lãnh sự quán cho Chứng nhận kinh nghiệm làm việc
  • Bước 5: Trả hồ sơ hợp pháp hóa Chứng nhận kinh nghiệm làm việc cho khách hàng.

Thời hạn của giấy phép lao động (Điều 11 Nghị định 11/2016/NĐ-CP).

Thời hạn của giấy phép lao động được cấp theo thời hạn của một trong các trường hợp sau đây nhưng không quá 02 năm:

Thời hạn của hợp đồng lao động dự kiến sẽ ký kết; Thời hạn của bên nước ngoài cử người lao động nước ngoài sang làm việc tại Việt Nam; Thời hạn hợp đồng hoặc thỏa thuận ký kết giữa đối tác Việt Nam và nước ngoài; Thời hạn hợp đồng hoặc thỏa thuận cung cấp dịch vụ ký kết giữa đối tác Việt Nam và nước ngoài; Thời hạn nêu trong văn bản của nhà cung cấp dịch vụ cử người lao động nước ngoài vào Việt Nam để đàm phán cung cấp dịch vụ; Thời hạn đã được xác định trong giấy chứng nhận của tổ chức phi chính phủ nước ngoài, tổ chức quốc tế được phép hoạt động theo quy định của pháp luật Việt Nam; Thời hạn trong văn bản của nhà cung cấp dịch vụ cử người lao động nước ngoài vào Việt Nam để thành lập hiện diện thương mại của nhà cung cấp dịch vụ đó; Thời hạn trong văn bản chứng minh người lao động nước ngoài được tham gia vào hoạt động của một doanh nghiệp nước ngoài đã thành lập hiện diện thương mại tại Việt Nam.

2.1.8. Cấp lại giấy phép lao động Luận văn: Thực tiễn PL về cấp giấy phép lao động nước ngoài.

Các trường hợp cấp lại giấy phép lao động theo Nghị định 11/2016-NĐ- CP quy định đầy đủ, rõ ràng hơn: Giấy phép lao động còn thời hạn bị mất, bị hỏng hoặc thay đổi nội dung ghi trong giấy phép lao động, trừ các trường hợp cấp giấy phép đặc biệt (Khoản 1 Điều 13). Nghị định số 102/2013/NĐ-CP quy định là giấy phép hết hạn là không chặt chẽ trong việc quản lý vì từ khi giấy phép hết hạn đến khi được cấp lại giấy phép là thời gian người lao động nước ngoài làm việc bất hợp pháp tại Việt Nam và điều này có thể nằm ngoài ý muốn chủ quan của họ.

Hồ sơ đề nghị cấp lại giấy phép lao động theo nghị định 11/2016/NĐ-CP được giảm thiểu và phù hợp với những sửa đổi khác trong nghị định. Đối với yêu cầu về giấy phép lao động đã được cấp: bổ sung xác nhận của cơ quan công an cấp xã của Việt Nam hoặc cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài theo quy định của pháp luật đối với giấy phép lao động bị mất và các giấy tờ chứng minh đối với trường hợp thay đổi nội dung ghi trên giấy phép lao động và đã được cấp giấy phép lao động theo nghị định số 102/2013/NĐ-CP (quy định tại Khoản 3 Điều 14 nghị định 11/2016/NĐ-CP). Nghị định 102/2013/NĐ-CP không quy định các trường hợp đã có giấy phép lao động còn hiệu lực hay hết hiệu lực được tiếp tục sử dụng giấy phép lao động đó để cấp giấy phép lao động nhưng thay đổi vị trí công việc.

Cấp lại giấy phép lao động trong trường hợp giấy phép lao động bị mất theo quy định mới giao cho cơ quan thẩm quyền xác nhận: Phải có xác nhận của cơ quan Công an cấp xã của Việt Nam hoặc cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài theo quy định của pháp luật (điểm a khoản 3 điều 14 nghị định 11/2016/NĐ-CP), còn theo quy định cũ: Người lao động nước ngoài phải có văn bản giải trình và được người sử dụng lao động xác nhận (khoản 3 điều 8 thông tư 03/2014TT-BLĐTBXH). Như vậy quy định mới chặt chẽ hơn và rõ ràng tránh việc lạm dụng hoặc gây khó dễ của người sử dụng lao động, nhưng hiện nay chưa có văn bản hướng dẫn thủ tục này. Luận văn: Thực tiễn PL về cấp giấy phép lao động nước ngoài.

Theo quy định mới: Tăng thời hạn được đề nghị cấp lại giấy phép lao động lên từ không quá 15 ngày (khoản 2 điều 15 Nghị định số 102/2013/NĐ- CP) lên không quá 45 ngày (Khoản 2 Điều 15 Nghị định 11/2016/NĐ-CP) nhằm tạo điều kiện cho người sử dụng lao động và người lao động nước ngoài chủ động kế hoạch và thời gian nộp hồ sơ đề nghị cấp giấy phép lao động trước khi giấy phép lao động hết hạn, tránh những vi phạm nằm ngoài ý muốn chủ quan của họ. Thời hạn của giấy phép lao động được cấp lại không thay đổi so với quy định tại Nghị định số 102/2013/NĐ-CP: Xác định theo từng trường hợp và không quá 02 năm (Điều 16 nghị định 11/2016/NĐ-CP)

  • Ngoài ra còn một số quy định khác về:

Thu hồi giấy phép lao động (điều 17 nghị định 11/2016/NĐ-CP)

  • Giấy phép lao động hết hiệu lực theo quy định tại các Khoản 1, 2, 3, 4, 5, 7 và 8 Điều 174 của Bộ luật Lao động.
  • Giấy phép lao động bị thu hồi do người sử dụng lao động hoặc người lao động nước ngoài không thực hiện đúng quy định tại Nghị định này.

Trình tự thu hồi giấy phép lao động

Đối với trường hợp quy định tại Khoản 1 Điều này thì người sử dụng lao động thu hồi giấy phép lao động của người lao động nước ngoài để nộp lại Sở Lao động – Thương binh và Xã hội đã cấp giấy phép lao động đó;

Đối với trường hợp quy định tại Khoản 2 Điều này thì Giám đốc Sở Lao động – Thương binh và Xã hội đã cấp giấy phép lao động ra quyết định thu hồi và thông báo cho người sử dụng lao động để thu hồi giấy phép lao động của người lao động nước ngoài và nộp lại Sở Lao động – Thương binh và Xã hội;

Sở Lao động – Thương binh và Xã hội có văn bản xác nhận đã thu hồi giấy phép lao động gửi người sử dụng lao động. Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội quy định chi tiết thủ tục thu hồi giấy phép lao động.

Nghị định số 11/2016/NĐ-CP bổ sung trường hợp thu hồi hồi giấy phép lao động do người sử dụng lao động hoặc người lao động nước ngoài không thực hiện đúng quy định tại Nghị định (Tại Khoản 2 Điều 17). Bổ sung trình tự thu hồi giấy phép lao động, tăng cường trách nhiệm của người sử dụng lao động và bổ sung trách nhiệm của Giám đốc Sở Lao động thương binh xã hội. Sở Lao động – Thương binh và Xã hội có văn bản xác nhận đã thu hồi giấy phép lao động gửi người sử dụng lao động. Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội quy định chi tiết thủ tục thu hồi giấy phép lao động (Khoản 3 Điều 17).

  • Trục xuất người lao động nước ngoài (Điều 18 Nghị định 11/2016/NĐ-CP):

Người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam không có giấy phép lao động hoặc không có văn bản xác nhận không thuộc diện cấp giấy phép lao động theo quy định tại Nghị định này (sau đây viết tắt là người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam không có giấy phép lao động) bị trục xuất theo quy định của pháp luật Việt Nam.

Sở Lao động – Thương binh và Xã hội đề nghị cơ quan công an trục xuất đối với trường hợp người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam không có giấy phép lao động. Luận văn: Thực tiễn PL về cấp giấy phép lao động nước ngoài.

Trường hợp tổ chức và cá nhân phát hiện người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam không có giấy phép lao động thì thông báo với Sở Lao động

  • Thương binh và Xã hội, nơi người đó làm việc.

Trong thời hạn 15 ngày làm việc, kể từ ngày xác định người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam không có giấy phép lao động thì Sở Lao động – Thương binh và Xã hội đề nghị cơ quan công an trục xuất người lao động nước ngoài đó.

Quy định mới không có thay đổi trong quy định về trục xuất người lao động nước ngoài so với quy định cũ.

Về trách nhiệm thi hành của các cơ quan nhà nước: Theo nghị định 11/2016/NĐ-CP, điểm b Khoản 1 Điều 20 bổ sung thêm trách nhiệm của Bộ Lao động thương binh và Xã hội nhằm tăng hiệu quả quản lý lao động nước ngoài và đảm bảo sự tương đồng về thẩm quyền hành chính cũng như tư cách ngoại giao. Trách nhiệm mới khắc phục được các bất cập không đáng có trước đây và đáp ứng kịp thời các yêu cầu thực tiễn (Ví dụ: giải quyết yêu cầu đối với các trường hợp người lao động nước ngoài làm việc cho các Bộ, ngành, cơ quan trung ương hay trong trường hợp người lao động nước ngoài làm việc ở nhiều tỉnh, thành phố). Khoản 2 Điều 20 bổ sung trách nhiệm của Bộ Công an về việc chia sẻ, cung cấp thông tin cần thiết để cùng phối hợp quản lý người lao động nước ngoài. Bổ sung trách nhiệm liên quan của Bộ Tài chính (Khoản 3). Bổ sung trách nhiệm của Bộ Công Thương hướng dẫn căn cứ, thủ tục để xác định người lao động nước ngoài di chuyển trong nội bộ doanh nghiệp thuộc phạm vi 11 ngành dịch vụ trong biểu cam kết dịch vụ của Việt Nam với Tổ chức Thương mại thế giới (Khoản 4).

Cuối cùng, các bên liên quan cần lưu ý các quy định hướng dẫn chuyển tiếp đối với các trường hợp đang sử dụng giấy phép còn hiệu lực và đang làm thủ tục trước ngày Nghị định 11/2016/NĐ-CP có hiệu lực (Khoản 3 Điều 19).

Ngoài ra cần lưu ý, một trong những điểm mới đáng lưu ý của Thông tư 40/2016/TT-BLĐTBXH hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định 11/2016/NĐ-CP: Luận văn: Thực tiễn PL về cấp giấy phép lao động nước ngoài.

Sửa đổi thẩm quyền chấp thuận nhu cầu sử dụng lao động nước ngoài của doanh nghiệp (trừ nhà thầu). Theo đó, nếu như trước đây thẩm quyền này là của Sở Lao động TB&XH thì nay thuộc về Bộ Lao động thương binh và Xã hội. (khoản 1 điều 3).

Đối với nhà thầu, thẩm quyền chấp thuận nhu cầu sử dụng lao động nước ngoài vẫn là UBND cấp tỉnh, không có thay đổi.

Thẩm quyền cấp giấy phép lao động đối với người nước ngoài làm việc tại các cơ quan, tổ chức sau đây cũng sẽ thay đổi từ Sở chuyển lên Bộ Lao động TB&XH: Tổ chức phi chính phủ nước ngoài, Tổ chức quốc tế tại Việt Nam; Văn phòng của dự án nước ngoài hoặc của tổ chức quốc tế tại Việt Nam; Hội, hiệp hội doanh nghiệp. (điều 3)

Người lao động nước ngoài đã được cấp giấy phép lao động và đang còn hiệu lực được cử đến làm việc tại tỉnh, thành phố khác để làm cùng vị trí công việc với thời hạn từ 10 ngày liên tục trở lên thì không phải xin giấy phép lao động mới nhưng người sử dụng lao động phải thông báo bằng văn bản với Sở Lao động nơi người nước ngoài đến làm việc (khoản 2 điều 18).

Người lao động nước ngoài là chuyên gia hoặc lao động kỹ thuật đã được cấp giấy phép lao động thì giấy phép lao động đang còn hiệu lực được coi là văn bản chứng minh đáp ứng yêu cầu theo quy định tại điểm d khoản 8 Điều 10 và điểm d khoản 3 Điều 14 Nghị định số 11/2016 trong hồ sơ cấp, cấp lại giấy phép lao động. (khoản 3 điều 18).

2.2. Thực tiễn áp dụng các qui định pháp luật về cấp giấy phép cho người lao động nước ngoài Luận văn: Thực tiễn PL về cấp giấy phép lao động nước ngoài.

2.2.1. Một số kết quả đạt được

Việc ban hành 11/2016/NĐ-CP với những quy định mới đã góp phần khắc phục được những bất cập trong các văn bản pháp luật trong thời gian qua, phù hợp và tương đồng với hệ thống văn bản pháp luật lao động về lao động nước ngoài, thủ tục xin cấp giấy phép lao động trở nên đơn giản, thuận tiện hơn với người sử dụng lao động. Việc mở rộng đối tượng được miễn xin cấp giấy phép lao động cũng tạo cơ hội cho người nước ngoài vào Việt Nam làm việc tự do, phát huy được điều kiện sức người, sức của, giảm bớt thủ tục rườm rà cho doanh nghiệp, tạo hiệu quả lao động và góp phần phát triển doanh nghiệp. Cụ thể như:

Điều chỉnh lại điều kiện đối với chuyên gia và lao động kỹ thuật vào làm việc tại Việt Nam phải đáp ứng yêu cầu về trình độ chuyên môn phù hợp với công việc đảm nhận hoặc phải có số năm kinh nghiệm nhất định.

Làm rõ các trường hợp cấp, cấp lại giấy phép lao động cho phù hợp; bổ sung quy định miễn giấy phép lao động nhằm kế thừa giá trị sử dụng của một số giấy tờ trong hồ sơ đề nghị cấp giấy phép lao động. Phân loại nhóm đối tượng điều chỉnh để giảm bớt một số giấy tờ cho một số nhóm lao động có trình độ chuyên môn càng cao thì càng đơn giản về thủ tục và giấy tờ trong hồ sơ đề nghị cấp giấy phép lao động. Nhóm đối tượng lao động nước ngoài làm việc tại dự án đang trong quá trình xây lắp thì có cơ chế quản lý linh hoạt phù hợp với đặc thù lao động có số lượng lớn, làm việc ngắn hạn và đảm bảo yêu cầu chất lượng và tiến độ của dự án.

Giảm số ngày xem xét, cấp giấy phép lao động của cơ quan cấp giấy phép lao động (từ 10 ngày làm việc xuống 07 ngày làm việc); mở rộng khoảng thời gian đề nghị cấp lại cấp giấy phép lao động từ 15 ngày lên 45 ngày trước khi giấy phép lao động đã cấp hết hạn.

Đơn giản hóa một số giấy tờ trong thành phần hồ sơ cấp giấy phép lao động như miễn hợp pháp hóa lãnh sự, điều chỉnh cách lấy lý lịch tư pháp và giấy khám sức khỏe cho phù hợp. [8, tr 5-6]

Tuy nhiên vẫn còn một số hạn chế bất cập nhất định trong một số quy định chưa được cụ thể cần được kiểm nghiệm thêm trong thực tế. Sắp tới, khi ban hành các văn bản hướng dẫn (thông tư), cơ quan chức năng cần xem xét để tạo điều kiện thuận lợi hơn nữa cho người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam, đồng thời vẫn đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật trong điều chỉnh thị trường lao động.

Quy định mới đã Luật hóa các quy định về các trường hợp không thuộc diện cấp giấy phép lao động, các trường hợp giấy phép lao động hết hiệu lực. Bỏ quy định về việc giới hạn số lượng và tỷ lệ khi tuyển dụng lao động nước ngoài. Bỏ quy định về việc gia hạn giấy phép lao động Luận văn: Thực tiễn PL về cấp giấy phép lao động nước ngoài.

2.2.2. Những hạn chế bất cập về cấp giấy phép cho người lao động nước ngoài

  • Thứ nhất, tình trạng nhiều lao động người nước ngoài không có giấy phép hay còn gọi là lao động “chui”:

Số lượng lao động nước ngoài di chuyển vào thị trường lao động Việt Nam ngày càng tăng nhanh qua các năm và đa dạng hơn, số lượng lao động nước ngoài bất hợp pháp (lao động chưa có giấy phép) hay còn gọi là lao động “chui” tại Việt Nam cũng còn rất lớn qua các năm gần đây.

Tính đến năm 2013 có khoảng 77.359 người nước ngoài làm việc tại Việt Nam. Trong đó, số lao động đã được cấp phép là 40.529 người, không thuộc diện cấp phép là 5.500 người và chưa được cấp phép là 31.330 người. Tuy nhiên, chính bản thân cơ quan này cũng phải thừa nhận một thực tế, số lao động là người nước ngoài làm việc “chui” tại Việt Nam cao hơn con số đó rất nhiều. Hiện đang có hàng chục nghìn lao động phổ thông nước ngoài vào làm việc tại các công trình xây dựng, nhất là các dự án do Trung Quốc trúng thầu, tại nhiều tỉnh như Nhà máy nhiệt điện Quảng Ninh, Hải Phòng, Cà Mau, xi măng Ninh Bình… mà chưa được cấp phép. [42]

Đến cuối năm 2014 cả nước có 76.309 lao động nước ngoài đang làm việc, trong đó, số lao động không thuộc diện cấp giấy phép lao động là 5.610 người (chiếm 7,35%/), lao động thuộc diện cấp giấy phép là 70.699 người (chiếm 92,65%): số người đã được cấp giấy phép là 55.263 người (chiếm 78,18%), 15.436 người (chiếm 21,83%) gồm những người đã nộp hồ sơ chờ cấp giấy phép hoặc đang hoàn thiện các giấy tờ. Lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam đến từ 74 quốc gia, trong đó quốc tịch châu Á (Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Malaysia, Đài Loan…) chiếm 58%; quốc tịch châu Âu chiếm 28,5% và các nước khác chiếm 13,5%. Luận văn: Thực tiễn PL về cấp giấy phép lao động nước ngoài.

Bên cạnh đó, các quy định về người nước ngoài làm việc ở doanh nghiệp FDI cũng chưa chặt chẽ dẫn tới hiện tượng người nước ngoài cư trú ngay trong văn phòng làm việc ở các khu công nghiệp để vừa giảm chi phí vừa né tránh được sự kiểm tra, giám sát của các cơ quan chức năng địa phương. Nhiều người nước ngoài dùng hộ chiếu du lịch để làm việc trong các dự án. Số này chủ yếu là lao động phổ thông thuộc diện không khuyến khích, thậm chí họ còn lập xóm, phố ở một vài địa phương với nếp sinh hoạt khác biệt, nhiều khi xảy ra những xô xát với người địa phương và việc, ngoài ra trên báo chí cũng nêu rất nhiều cầu thủ đá bóng nhất là châu Phi ồ ạt sang Việt Nam với nhiều mục đích khác nhau để tìm kiếm cơ hội thành cầu thủ chuyên nghiệp nhưng không đáp ứng được chuyên môn họ không được tiếp nhận nhưng họ không về nước mà vẫn ở Việt Nam dẫn đến nhiều hệ lụy về an ninh trật tự xã hội. [43]

Tính đến năm 2015, cả nước có hơn 76.000 lao động nước ngoài đang làm việc. Lao động nước ngoài đến từ 74 quốc gia, trong đó, người lao động châu Á chiếm 58%, người châu Âu chiến 28.5%. Đây là kết quả thống kê mà Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội đưa ra nhưng trên thực tế con số có thể lớn hơn rất nhiều, bởi tình trạng người nước ngoài làm việc không giấy phép lao động tại Việt Nam rất nhiều. Đó có thể là người nước ngoài nhập cư trái phép hoặc người nước ngoài nhập cảnh vào Việt Nam theo diện du lịch nhưng vẫn đang làm việc tại Việt Nam. Tính ra, con số đó có thể chiếm đến hơn 30% con số đã đưa ra trên.[48]. Ví dụ, báo chí đưa tin xuất hiện tình trạng lao động Trung Quốc làm việc “chui” tại Vĩnh Tân, “lách” bằng cách cư trú ở Ninh Thuận nhưng qua Bình Thuận làm việc và rất nhiều người không có giấy phép lao động… Trước đó vào tháng 6-2015, Tuổi Trẻ đã từng phản ánh tình trạng nhà thầu Trung Quốc rao tuyển 1.844 người, nhưng đưa các yêu cầu tuyển dụng “trên trời” về ngoại ngữ, kinh nghiệm… với mức lương chỉ khoảng 12- 15 triệu đồng/tháng nên không tuyển được bao nhiêu lao động người Việt Nam.

Và theo quy định hiện nay, trong thời hạn tối đa hai tháng kể từ ngày nhận được đề nghị tuyển từ 500 lao động trở lên mà phía Việt Nam không giới thiệu hoặc cung ứng lao động cho nhà thầu, chủ tịch UBND cấp tỉnh xem xét, quyết định việc nhà thầu được tuyển người lao động nước ngoài.

Việc xuất hiện tình trạng lao động Trung Quốc làm việc “chui” tại Vĩnh Tân, theo kiểu “lách” là cư trú ở Ninh Thuận nhưng qua Bình Thuận làm việc, được xem là bước chuẩn bị cho việc hợp thức hóa các quy định liên quan đến việc tuyển lao động nước ngoài của nhà thầu này. Luận văn: Thực tiễn PL về cấp giấy phép lao động nước ngoài.

Theo nguồn tin của Tuổi Trẻ, số lao động Trung Quốc của tổng thầu EPC Nhà máy nhiệt điện Vĩnh Tân 1 hiện tại có 289 người (cư trú tại Cà Ná, Ninh Thuận và Tuy Phong, Bình Thuận). Thế nhưng chỉ có 159 người trong số này được ký kết hợp đồng và đóng bảo hiểm, số còn lại (gồm nhiều người cư trú ở Ninh Thuận nhưng làm việc tại Bình Thuận) không có giấy phép lao động.

Nguồn tin này cũng cho biết số lao động không có giấy phép này đang được tổng thầu EPC Nhà máy nhiệt điện Vĩnh Tân 1 làm hồ sơ để được cấp phép. Đặc biệt, trong năm 2016, số lao động người Trung Quốc hoạt động tại Vĩnh Tân là gần 500 người, tăng hơn gấp rưỡi so với năm 2015 là 310 người. [49]

Theo báo Dân trí ngày 21/11/2015 Công an TP Đà Nẵng từng ra quyết định xử phạt đối với 64 người Trung Quốc lao động “chui” tại công trình khách sạn JW Marriott (đường Võ Nguyên Giáp, P.Khuê Mỹ, Q.Ngũ Hành Sơn) và buộc xuất cảnh về nước.[50]

Tính đến tháng 5/2016 cả nước có tổng 82,585 lao động nước ngoài đang làm việc tại Việt Nam Theo Báo lao động thủ đô hơn 82,5 nghìn lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam, thông tin trên được Thứ trưởng Bộ Lao động thương binh và Xã hội Đào Hồng Lan công bố tại cuộc họp mặt với báo chí nhân dịp 91 năm ngày báo chí Cách mạng Việt Nam. [51]

Ví dụ đầu năm 2016, qua kiểm tra, Tổng cục Du lịch phát hiện tại Công ty TNHH Thương mại và Dịch vụ Silent Bay, hoạt động trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa đã để xảy ra hàng loạt sai phạm; trong đó, có việc 64 người nước ngoài làm việc không có giấy phép lao động. Tổng cục Du lịch ra quyết định thu hồi giấy phép kinh doanh lữ hành quốc tế của Công ty Silent Bay; Chủ tịch UBND tỉnh Khánh Hòa Lê Đức Vinh yêu cầu các cơ quan chức năng xử lý nghiêm các sai phạm của công ty này.

  • Câu hỏi đặt ra: Trên thực tế, Khánh Hòa còn bao nhiêu DN có những sai phạm kiểu như Silent Bay?

Theo số liệu của ngành Du lịch tỉnh Khánh Hòa, hiện trên địa bàn toàn tỉnh có 27 đơn vị, DN lữ hành chuyên hoạt động đưa đón khách nước ngoài, chủ yếu là khách Trung Quốc. Trong số đó, có bảy DN có trụ sở chính đóng tại Nha Trang, còn lại là các văn phòng đại diện, đại lý lữ hành. Thực tế, chỉ có một số DN kinh doanh đúng chức năng, còn lại, nhiều DN do người Việt Nam làm chủ nhưng cho người nước ngoài thuê tư cách pháp nhân để kinh doanh lữ hành quốc tế. Trên danh nghĩa của DN Việt Nam, người nước ngoài trực tiếp đứng ra đàm phán, thỏa thuận, tổ chức toàn bộ các hoạt động từ việc đặt tua; đặt khách sạn, nhà hàng; thuê phương tiện… Được hưởng một khoản lợi nhỏ, song, mọi vướng mắc liên quan đến pháp luật hoặc rủi ro trong kinh doanh…, DN Việt Nam đứng tên đều phải chịu trách nhiệm. Luận văn: Thực tiễn PL về cấp giấy phép lao động nước ngoài.

Hiện, tại Nha Trang nổi lên tình trạng người nước ngoài mượn danh đi du lịch để lao động, làm việc trái phép trong lĩnh vực du lịch. Theo lãnh đạo Phòng Quản lý xuất, nhập cảnh, Công an tỉnh Khánh Hòa, các đối tượng này sử dụng thị thực du lịch có thời hạn ba tháng, nhưng thực chất là sang Việt Nam hoạt động du lịch “chui”. Dẫu biết họ có hoạt động trái phép như vậy, nhưng không dễ để bắt quả tang và xử lý những đối tượng này. Họ đi cùng các đoàn khách, làm việc với vai trò nhân viên công ty du lịch như trưởng đoàn, HDV…, nhưng khi lực lượng chức năng kiểm tra, họ sẽ đóng vai khách du lịch bình thường đi trong đoàn.

Ngành du lịch tỉnh Khánh Hòa chưa thống kê được trên địa bàn hiện có bao nhiêu Doanh nghiệp làm ăn theo kiểu “hợp tác”, mượn danh. Kèm theo đó là bao nhiêu hệ lụy, vi phạm về thuế; về an ninh, quản lý khách đến, đi; về HDV du lịch… Những sai phạm này không những gây thất thoát nguồn thu cho ngân sách nhà nước, ảnh hưởng tiêu cực đến chất lượng phát triển kinh tế du lịch mà còn làm xấu đi hình ảnh đất nước, con người Việt Nam trong mắt bạn bè quốc tế.

Câu chuyện Sở Du lịch Đà Nẵng nhận được tư liệu ghi lại hình ảnh một HDV người nước ngoài xuyên tạc lịch sử, văn hóa Việt Nam đang làm “nóng” dư luận. Những thông tin sai lệch của những HDV như vậy đã có tác động xấu đến du khách. Không được kiểm chứng, du khách nghĩ gì về đất nước, con người Việt Nam qua những thông tin bịa đặt, không đúng sự thật ấy? Tỉnh Khánh Hòa cũng phải có kế hoạch điều tra xem có những câu chuyện tương tự như vậy hay không để kịp thời đưa ra giải pháp ngăn chặn.

Trước mắt, Khánh Hòa cần tiến hành tổng rà soát, kiểm tra hoạt động kinh doanh lữ hành, các cơ sở kinh doanh du lịch có yếu tố nước ngoài; kịp thời chấn chỉnh, siết chặt quản lý; xử lý nghiêm các DN, cá nhân người Việt Nam tiếp tay cho người nước ngoài hoạt động du lịch bất hợp pháp.[53]

Ngày 6/8/2016, lãnh đạo của Bộ Công an cho biết cơ quan nghiệp vụ của Bộ đã tiến hành kiểm tra và phát hiện hơn 450 người lao động Trung Quốc đang làm việc tại Công ty TNHH giấy Lee & Man VN (thuộc Tập đoàn Lee & Man Paper Hồng Kông – Trung Quốc) đầu tư tại ấp Phú Thanh, xã Phú Hữu A (H.Châu Thành, tỉnh Hậu Giang), trong đó chỉ có hơn 100 lao động được cấp phép. Cũng theo cơ quan công an, hàng trăm lao động của công ty trên nhập cảnh không đúng quy định nên không được cấp phép. Vì vậy, số lao động người Trung Quốc làm “chui” ở công ty này đối phó với cơ quan chức năng bằng cách nhập cảnh theo visa dạng du lịch, cư ngụ tại địa bàn TP.Cần Thơ. Đáng chú ý, từ khi thực hiện dự án đến nay đã xảy ra 3 vụ tai nạn lao động làm 3 người chết và hơn 10 người bị thương. Tại Công ty TNHH giấy Lee & Man từng có thời gian có tới khoảng 1.000 lao động Trung Quốc.Bộ Công an đề nghị số lao động “chui” Trung Quốc tại công ty này phải được cấp phép hoạt động lao động theo đúng pháp luật, nếu không sẽ bị trục xuất về nước.[52] Luận văn: Thực tiễn PL về cấp giấy phép lao động nước ngoài.

Có thể nhận thấy hằng năm người lao động nước ngoài vào làm việc tại Việt Nam ngày càng tăng, chưa có số liệu chính xác số lượng lao động “chui” năm 2016 nhưng thực tế việc này vẫn rất lớn, theo số liệu thống kê Từ năm 2013-2015 số lao động số lượng lao động nước ngoài chưa được cấp giấy phép chiếm 30-40% tổng số lao động nước ngoài tại Việt Nam. Lao động bất hợp pháp bằng nhiều cách, mượn danh nghĩa du lịch, không khai báo…Chủ yếu tập trung tại các thành phố lớn và các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và nhà thầu nước ngoài lao động “chui” vẫn đang là một trong những vấn đề nổi cộm gây tốn rất nhiều thời gian, công sức của các tổ chức và cá nhân mà còn ảnh hưởng đến an ninh chính trị và việc làm của lao động trong nước.

  • Thứ hai, khó khăn về thủ tục cấp giấy phép lao động và không thuộc diện cấp phép lao động

Theo quy định tại Nghị định 11/2016/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 03/2/2016, các đơn vị muốn được sử dụng lao động nước ngoài (LĐNN) thì phải có sự chấp thuận bằng văn bản của Chủ tịch UBND cấp tỉnh.

Việc cấp giấy chấp thuận này sẽ được thực hiện dựa trên báo cáo giải trình hàng năm của các đơn vị về nhu cầu sử dụng Lao động nước ngoài.

Trong hồ sơ để xin giấy phép lao động (GPLĐ) kể từ ngày 1/04/2016 (ngày nghị định 11/2016/NĐ-CP có hiệu lực) đã giảm bớt giấy tờ không cần văn bản chấp thuận việc sử dụng Lao động nước ngoài của Chủ tịch UBND cấp tỉnh trong hồ sơ để xin giấy phép lao động (GPLĐ nhưng vẫn phải làm Thủ tục xin phép được sử dụng Lao động nước ngoài.

Mặt khác, đối với những Người lao động thuộc diện không phải xin Giấy phép Lao động, Nghị định cũng yêu cầu họ phải làm thủ tục để được cấp Giấy xác nhận không thuộc diện cấp Giấy phép Lao động.

Như vậy, theo Nghị định trên, Người lao động nước ngoài muốn làm việc ở Việt Nam dù thuộc trường hợp nào cũng phải xin phép cơ quan lao động: “xin Giấy phép Lao động”hoặc “xin giấy xác nhận không cần phải có Giấy phép Lao động”.

Ngoài ra, một trong các quy định không phù hợp mà các công ty đa quốc gia phải đối mặt là gửi nhân viên nước ngoài đến Việt Nam trong một thời gian ngắn để thực hiện các công việc thuộc trường hợp người lao động nước ngoài không thuộc diện cấp giấy phép lao động, ví dụ tại điểm e điều 7 Nghị định 11/2016/NĐ-CP quy định: Vào Việt Nam làm việc tại vị trí chuyên gia, nhà quản lý, giám đốc điều hành hoặc lao động kỹ thuật có thời gian làm việc dưới 30 ngày và thời gian cộng dồn không quá 90 ngày trong 01 năm; Theo quy định trong thời gian rất ngắn yêu cầu họ phải thực hiện thủ tục không thuộc diện xin giấy phép lao động là không phù hợp với thực tế vì thủ tục hành chính rườm ra, thời gian xử lý hồ sơ lâu trong khi đó họ chỉ ở Việt Nam một vài ngày hoặc một vài tuần. Có khi nhận được chấp thuận không thuộc diện xin giấy phép lao động thì họ đã không còn làm việc tại Việt Nam. Luận văn: Thực tiễn PL về cấp giấy phép lao động nước ngoài.

  • Thứ ba, bất cập về trường hợp không thuộc diện cấp giấy phép lao động:

Tại Khoản 1 Điều 7 Nghị định 11/2016/NĐ-CP các trường hợp người lao động nước ngoài không thuộc diện cấp giấy phép lao động bao gồm: “Người lao động nước ngoài quy định tại Khoản 1, Khoản 2, Khoản 3, Khoản 4, Khoản 5, Khoản 6, Khoản 7 và Khoản 8 Điều 172 của Bộ luật Lao động”.Tại Khoản 3 Điều 172 Bộ luật lao động 2012 quy định “Là Trưởng văn phòng đại diện, dự án của tổ chức quốc tế, tổ chức phi chính phủ tại Việt Nam”. Như vậy đúng theo nghĩa đương nhiên Trưởng văn phòng đại diện của thương nhân nước ngoài tại Việt Nam sẽ không cần phải xin giấy phép lao động. Về cơ bản nội dung quy định là như nhau nhưng hiện nay đối tượng Trưởng văn phòng đại diện của tổ chức thương nhân nước ngoài tại Việt Nam vẫn phải xin giấy phép lao động bình thường như những lao động nước ngoài khác. Điều này đã gây ra nhiều bất cập và phiền hà cho những người thuộc đối tượng trên.

Trường hợp không thuộc diện cấp giấy phép lao động tại Khoản 2 Điều 7 Nghị định 11/2016/NĐ-CP quy định “Di chuyển trong nội bộ doanh nghiệp thuộc phạm vi 11 ngành dịch vụ trong biểu cam kết dịch vụ của Việt Nam với Tổ chức Thương mại thế giới, bao gồm: kinh doanh; thông tin; xây dựng; phân phối; giáo dục; môi trường; tài chính; y tế; du lịch; văn hóa giải trí và vận tải”. Trong trường hợp này muốn miễn giấy phép lao động thì chủ doanh nghiệp phải làm văn bản gửi Bộ công thương để yêu cầu xác nhận là ngành nghề kinh doanh của doanh nghiệp thuộc 11 ngành dịch vụ trong Biểu cam kết dịch vụ của Việt Nam với Tổ chức Thương mại thế giới, khi có trả lời của Bộ Công Thương bằng văn bản thì doanh nghiệp tiếp tục làm hồ sơ xin xác nhận không thuộc diện cấp giấy phép lao động cho người lao động. Điều này ảnh hưởng lớn đến các doanh nghiệp FDI khi họ luân chuyển lao động. Về cơ bản những ngành nghề kinh doanh nào thuộc Biểu cam kết thì trong Biểu cam kết đã thể hiện rõ theo mã ngành CPC, doanh nghiệp chỉ cần đối chiếu với quy định tại Biểu cam kết là có thể biết được ngành nghề của doanh nghiệp có nằm trong 11 ngành cam kết hay không. Hơn thế nữa điều này rất dễ vì khi thực hiện đăng ký dự án đầu tư để xin cấp phép đầu tư, tất cả doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, doanh nghiệp đăng ký đầu tư điều áp dụng mã CPC nên việc xác định thuộc hay không thuộc rất đơn giản. Vậy việc làm công văn hỏi Bộ công thương là một bước thừa trong quy trình này gây lãng phí thời gian và công sức của doanh nghiệp.Với lý do trên nhiều doanh nghiệp đã lựa chọn hình thức cấp phép lao động cho người thuộc diện miễn trừ này, thủ tục chỉ thực hiện 1 bước tại cơ quan lao đông nếu người lao đông có đầy đủ hồ sơ yêu cầu.

  • Thứ tư, quá khắt khe về điều kiện xin cấp giấy phép lao động

Với những quy định ngặt nghèo và thiếu thực tế hiện nay các quy định về điều kiện xin giấy phép lao động tại Việt Nam có những quy định rất khắt khe làm hạn chế khả năng xin giấy phép lao động cho người nước ngoài có trình độ mà hiện tại nguồn nhân lực của Việt Nam còn thiếu. Luận văn: Thực tiễn PL về cấp giấy phép lao động nước ngoài.

Nếu như trước đây từ theo Nghị định số 34/2008/NĐ-CP và Nghị định số 46/2011/NĐ-CP , Nghị định số 102/2013/NĐ-CP, Thông tư 03/2014/TT- Bộ Lao động thương binh và Xã hội, đến nay kể cả Nghị định 11/2016 đã đặt ra một số quy định chưa phù hợp với thực tế về điều kiện xin cấp giấy phép lao động cho người nước ngoài tại Việt Nam.

Hiện nay Việt Nam cần sử dụng các nhân sự là người nước ngoài đối với những người có trình độ chuyên môn cao mà Việt Nam chưa đáp ứng hoặc chưa được đào tạo, nhưng với quy định hiện nay các lao động nước ngoài dù có tốt nghiệp các trường đại học danh giá nhất thế giới vẫn không đáp ứng điều kiện xin giấy phép lao động làm việc tại Việt Nam. Theo quy định hiện tại, vị trí chuyên gia ngoài Bằng tốt nghiệp đại học trở lên nếu người lao động không chứng minh được 03 năm kinh nghiệm thì không được cấp giấy phép lao động (Khoản 3 điều 3 Nghị định 11/2016/NĐ-CP). Trong khi đó có những trường hợp được xác nhận kinh nghiệm mang tính hình thức chưa xác định được mức độ đào tạo cụ thể do ai kiểm chứng vẫn đủ điều kiện xin cấp giấy phép lao động.

Đối với lao động là giao viên dạy ngoại ngữ cũng phải chứng minh 03 năm kinh nghiệm giảng dạy tại nước ngoài trong khi đó nhu cầu giáo viên dạy ngoại ngữ của Việt Nam là cần những người thành thạo ngôn ngữ của họ mà giáo viên dạy ngoại ngữ Việt Nam không đáp ứng được. Chỉ cần họ có bằng cấp sư phạm là hoàn toàn đáp ứng nhu cầu giảng dạy ngoại ngữ tại Việt Nam.

Theo những quy định cho thấy người lao động nước ngoài muốn làm việc tại các cơ quan, tổ chức trong nước yêu cầu phải cung cấp đầy đủ văn bằng chứng chỉ xác nhận trình độ chuyên môn kỹ thuật cao, các giấy tờ chứng minh kinh nghiệm.

Nhưng thực tế nhiều lao động được các công ty trong và ngoài nước trọng dụng, mặc dù chỉ qua đào tạo ở trường nghề tại nước ngoài vẫn có tay nghề rất vững. Kết quả là việc thuyết phục nhiều cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam chấp thuận là điều rất khó khăn vì họ chỉ có bằng nghề hoặc thậm chí không có bằng cấp gì, trường hợp khác nứa là do các doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức khác thuê và trả lương. Luận văn: Thực tiễn PL về cấp giấy phép lao động nước ngoài.

Bên cạnh đó, đối với những người có năng lực, kinh nghiệm thật nhưng không có bằng cấp thì phải được cơ quan có thẩm quyền xác nhận lại. Nhưng thực tế việc thừa nhận này là hoàn toàn không khả thi vì cơ quan nhà nước của nước ngoài không thể trực tiếp can thiệp vào thị trường lao động tại Việt Nam được.

  • Thứ năm, không quy định rõ thời hạn cư trú để xin lý lịch tư pháp

Theo quy định tại khoản 1 Điều 7 Luật Lý lịch tư pháp năm 2009, người nước ngoài đã hoặc đang cư trú tại Việt Nam có quyền yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp của mình. Luật Lý lịch tư pháp và các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật này không quy định về thời gian cư trú tại Việt Nam của người nước ngoài là bao lâu thì được quyền yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp. Như vậy, trường hợp người nước ngoài đã hoặc đang cư trú tại Việt Nam, nếu đáp ứng đủ các điều kiện về thủ tục theo pháp luật quy định đều có quyền yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp của mình.

Luật Lý lịch tư pháp cũng không quy định những trường hợp cụ thể người nước ngoài cần phải có Phiếu lý lịch tư pháp. Các trường hợp mà người nước ngoài phải có Phiếu lý lịch tư pháp khi tham gia vào các quan hệ xã hội hoặc thực hiện các thủ tục hành chính được quy định tại các văn bản pháp luật chuyên ngành như Luật Nuôi con nuôi, Luật Quốc tịch Việt Nam, pháp luật về lao động nước ngoài tại Việt Nam…

Theo quy định tại khoản 3 Điều 10 Nghị định số 11/2016/NĐ-CP ngày 03/2/2016 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Bộ luật lao động về lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam, trong hồ sơ đề nghị cấp giấy phép lao động, ngoài văn bản đề nghị cấp giấy phép, giấy chứng nhận sức khỏe còn phải có “văn bản xác nhận không phải là người phạm tội hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật Việt Nam ngoài có giá trị trong thời hạn 06 tháng, tính đến thời điểm nộp hồ sơ”. Luận văn: Thực tiễn PL về cấp giấy phép lao động nước ngoài.

Có thể thấy, quy định người nước ngoài phải nộp Phiếu lý lịch tư pháp trong thời gian cư trú tại Việt Nam để xin cấp phép lao động là cần thiết. Tuy nhiên, việc không quy định thời gian cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam là bao lâu thì mới cần có Phiếu lý lịch tư pháp do Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia hoặc Sở Tư pháp cấp đã thực sự gây khó khăn cho người lao động nước ngoài tại Việt Nam. Thời gian qua, một số người nước ngoài vào Việt Nam trong thời gian rất ngắn (2, 3 ngày hoặc có thời gian cư trú không liên tục, mỗi lần chỉ một vài ngày) đã đến Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia hoặc Sở Tư pháp để yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp nhằm hoàn thiện hồ sơ xin cấp giấy phép lao động tại Việt Nam. Tình trạng này đã gây khó khăn cho lao động nước ngoài tại Việt Nam, gây lãng phí về thời gian cũng như vật chất không cần thiết.

Thực tế giải quyết cấp Phiếu lý lịch tư pháp cho người nước ngoài có thời gian cư trú tại Việt Nam rất ngắn (vài ba ngày) cho thấy những trường hợp này thường không có án tích vì nếu họ có phạm tội thì khoảng thời gian tối thiểu của một quy trình tố tụng (từ điều tra, truy tố, xét xử) cũng phải là vài tháng. Một điểm bất cập từ khi Thông tư 03/2014/TT-BLĐTBXH trước đây là những lao động đến Việt Nam dù chỉ một ngày cũng phải xin phiếu lý lịch tư pháp của địa phương. Trong khi thời gian này quá ngắn nên nhiều cơ quan chức năng đã từ chối cấp lý lịch tư pháp. Như vậy, người nước ngoài chỉ khi cư trú một thời gian nhất định như quy định trước đây là 06 tháng nếu đã cung cấp được lý lịch tư pháp tại nước họ chưa quá 06 tháng đến ngày nộp hồ sơ là đã đủ điều kiện xin cấp giấy phép lao động thì sẽ hợp lý hơn. Vì chưa có thông tư thay thế thông tư 03/2014TT-BLĐTBXH. Trên thực tế, trường hợp người nước ngoài đang cư trú tại Việt Nam thì thời gian xin phiếu lí lịch tư pháp của Việt Nam thường kéo dài hoặc không xin được vì thời gian quá ngắn nên chưa có cơ sở để cấp Phiếu lí lịch tư pháp. Việc xin lý lịch tư pháp Việt Nam theo quy định là không quá 10 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu hợp lệ (khoản 1 điều 48 Luật Lý lịch tư pháp năm 2009) nhưng thực tế còn kéo dài và chưa thực sự tuân thủ pháp luật, có khi kéo dài đến 1-2 tháng.

  • Thứ sáu, về giấy khám sức khỏe hay chứng nhận sức khỏe

Theo quy định hiện hành hồ sơ đề nghị cấp giấy phép lao động phải có văn bản xác nhận và giấy chứng nhận sức khỏe được cấp ở nước ngoài hoặc ở Việt Nam theo quy định của Bộ Y tế (khoản 2 điều 10 nghị định 11/2016/NĐ- CP). Theo quy định của Luật nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam thì phải có giấy phép lao động sau đó mới được cấp thị thực lao động như vậy người lao động nước ngoài phải có giấy phép lao động trước khi nhập cảnh vào Việt Nam.

Trường hợp khám sức khỏe tại Việt Nam thì không thực hiện được vì lúc đó người lao động nước ngoài chưa nhập cảnh vào Việt Nam. Còn nếu khám ở nước ngoài thì Việt Nam chưa ký thỏa thuận với nước ngoài nên rất khó.

Nếu người nước ngoài khám sức khỏe tại Việt Nam thì cần được khám tại 1 trong cách bệnh viện có tên trong danh sách theo công văn số 143/KCB – PHCN & GĐ ngày 05 tháng 02 năm 2015 của Cục Khám chữa bệnh – Bộ Y tế ban hành danh sách các cơ sở đủ điều kiện khám sức khỏe có yếu tố nước ngoài theo thông tư số 14/2013/TT-BYT. Trong khi một vài bệnh viện có bác sĩ khám không biết ngoại ngữ, khi ấy buộc phải có phiên dịch đi cùng tốn kém nhiều chi phí và mất thời gian. Vì người nước ngoài đến từ nhiều quốc gia và sử dụng tiếng bản ngữ của mình, không phải ai cũng thành thạo ngôn ngữ giao tiếp như tiếng anh.

  • Thứ bảy, việc chênh lệch giữa thời hạn hiệu lực của giấy phép lao động và hợp đồng lao động.

Giấy phép lao động trước đây có thời hạn là 3 năm, nhưng giờ đây giá trị của giấy phép lao động chỉ 2 năm, thể hiện việc không ổn định của pháp luật, trường hợp người sử dụng lao động và lao động nước ngoài ký hợp đồng không xác định thời hạn trong khi giấy phép lao động có thời hạn tối đa 02 năm.

  • Thứ tám, khó khăn trong quy định về hợp pháp hoá lãnh sự

Theo quy định, các giấy tờ liên quan đến lao động nước ngoài phải được hợp pháp hóa lãnh sự và nó chỉ được chấp nhận tại cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam sau khi được dịch và chứng thực tại UBND cấp quận, huyện sau khi dịch và chứng thực. Trong khi đó các UBND chưa thể đáp ứng được tính chính xác về khả năng dịch các văn bản, giấy tờ thì việc dịch, chứng thực chính xác với bản gốc vẫn không được công nhận. Ngoài ra, phải so sánh giữa bản dịch và chứng thực sao y với bản gốc nhưng như thế là khá rắc rối vì những giấy tờ này đã được các cơ quan thẩm quyền nước ngoài và cả Bộ Ngoại giao Việt Nam hợp pháp hóa. Chính vì thế, những trường hợp nào đã trót không đem theo bằng cấp gốc để đối chiếu sẽ lại phải quay về nước để lấy.

2.2.3. Nguyên nhân chủ yếu của những bất cập của pháp luật cấp giấy phép cho người lao động nước ngoài Luận văn: Thực tiễn PL về cấp giấy phép lao động nước ngoài.

Những khó khăn bất cấp của lao động nước ngoài khi xin giấy phép lao động nước ngoài tại Việt Nam, bởi những nguyên nhân chủ yếu sau đây:

  • Các quy định cũ về pháp luật lao động nước ngoài đã tỏ ra lạc hậu:

Bộ luật lao động năm 2012 đã cũ các nhà lập pháp chưa tính hết được các các tình huống phát sinh trong tương lai. Các quy định cho người nước ngoài làm việc tại Việt Nam đặc biệt là quy đinh về cấp phép lao động chưa đủ, còn chồng chéo tiếu đồng bộ giữa Bộ luật lao động và các văn bản hướng dẫn và các văn bản luật chuyên ngành khác, vẫn còn nhiều quy định nặng tính hành chính, hình thức và việc thực thi của các cơ quan liên quan còn quá nhiều hạn chế.

Một trong những nguyên nhân dẫn đến sự vi phạm của các đơn vị sử dụng Lao động nước ngoài là do sự hạn chế trong nhận thức về các quy định của pháp luật Việt Nam liên quan và sự thiếu ý thức pháp luật trong việc chấp hành những quy định này. Chính vì vậy, cần phải đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật liên quan để nâng cao nhận thức và ý thức pháp luật cho người sử dụng lao động, đặc biệt là đối với các doanh nghiệp nước ngoài trúng thầu tại Việt Nam và đây là một khâu quan trọng trong tổ chức thực hiện pháp luật. Ví dụ như Đại tá Nguyễn Văn Anh, Trưởng Phòng Quản lý xuất nhập cảnh (PA72) Công an TPHCM cho biết, từ ngày 1-1-2015, người nước ngoài vào Việt Nam nói chung, TPHCM nói riêng để du lịch, thì chỉ được du lịch. Trong thời gian du lịch, nếu có cơ quan, tổ chức, cá nhân mời làm việc cũng không được làm việc, kể cả đã có giấy phép lao động.

Bởi, người nước ngoài không được chuyển đổi mục đích nhập cảnh ngay trên lãnh thổ Việt Nam. Khi hết hạn thị thực du lịch, người nước ngoài phải xuất cảnh rồi muốn làm việc thì nhập cảnh trở lại Việt Nam bằng visa làm việc, lúc đó mới được chấp nhận. Luận văn: Thực tiễn PL về cấp giấy phép lao động nước ngoài.

Đại tá Nguyễn Văn Anh cho biết, nhiều doanh nghiệp khi tuyển lao động nước ngoài vẫn vô tư tuyển người có visa du lịch, visa thăm thân nhân, khiến doanh nghiệp tự rơi vào trường hợp “khó”: không thể làm các thủ tục tiếp theo như xin giấy phép lao động, xin thị thực lao động cho người nước ngoài.[44]

  • Sự thiếu thống nhất, sự lỏng của quản lý của các cơ quan quản lý, thực thi về lao lao động.

Trên thực tế, các doanh nghiệp, tổ chức không khai báo việc sử dụng lao động thời vụ trước bảy ngày theo quy định thì cơ quan quản lý nhà nước cũng không thể giám sát được. Việc một số nhà thầu nước ngoài nhận thầu thi công các dự án như dự án cải thiện môi trường nước, các dự án xây dựng cầu đường… sử dụng một lực lượng chuyên gia, lao động phổ thông hùng hậu nhưng ngành chức năng không theo dõi, quản lý sát sao. Những khó khăn trong việc nắm thông tin, quản lý và cấp giấy phép lao động cho người nước ngoài là do thiếu sự phối hợp của các ngành liên quan. Đây có thể nói là điểm yếu kém nhất trong tổ chức thực hiện pháp luật liên quan đến sử dụng Lao động nước ngoài tại Việt Nam một cách hiệu quả.

Do vậy, cần có sự phối kết hợp một cách chặt chẽ và hiệu quả giữa các cơ quan có thẩm quyền trong quá trình triển khai thực hiện các quy định của pháp luật và quá trình quản lý Lao động nước ngoài trong thực tiễn.

Ý thức chấp hành pháp luật của người sử dụng và người lao động còn kém. Người nước ngoài vào Việt Nam ngày càng tăng, đặc biệt việc sử dụng lao động của các nhà thầu, do yếu tố địa lý và điều kiện kinh tế mỗi địa phương có sự khác nhau; chính sách pháp luật của ta còn những nội dung chưa phù hợp (chưa có quy định cụ thể về quản lý lao động nước ngoài làm việc cho các nhà thầu); một số địa phương chưa quan tâm đầy đủ đến quản lý lao động nước ngoài làm việc trên địa bàn.

Còn thiếu nhân lực giỏi về chuyên môn và ngoại ngữ, ứng dụng công nghệ thông tin có thể đáp ứng tốt nhu cầu công việc của cơ quan quản lý cấp giấy phép lao động. Vì trong qua trình hội nhập số lượng hồ sơ cấp phép lao động sẽ rất lớn cần thời gian công sức sự phối hợp đồng bộ của nhiều người, nhiều đơn vị, để xử lý các tình huống phát sinh cần nhanh nhạy, chuyên nghiệp, đạo đức nghề nghiệp và sự hỗ trợ tốt về các công cụ thực hiện công việc.

Lao động trong nước chưa đáp ứng đủ chuyên môn, đặc biệt là ngoại ngữ vì vậy lao động trong nước bị cạnh tranh với lao động nước ngoài với cả những công việc lao động Việt Nam có thể làm được, điều này dẫn đến việc lao động nước ngoài không có giấy phép hay lao động “chui” là điều khó tránh khỏi. Luận văn: Thực tiễn PL về cấp giấy phép lao động nước ngoài.

Với kỹ năng làm việc tốt, tiếng Anh lưu loát… lao động người nước ngoài đến Việt Nam ngày càng nhiều và cuộc cạnh tranh việc làm trên sân nhà ngày càng nóng bỏng.

Từ cuối năm 2015, Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) đã chính thức hình thành. AEC cho phép và tạo sự thuận lợi cho việc tự do di chuyển và quyền tự do làm việc tại các nước trong khu vực đối với 8 nhóm ngành nghề: kế toán, kiến trúc sư, nha sĩ, bác sĩ, kỹ sư, y tá, vận chuyển và nhân viên ngành du lịch. Một chuyên gia trong ngành nhân lực cho biết số lượng lao động nước ngoài đến Việt Nam ngày càng nhiều. Người nước ngoài tham gia vào các vị trí cấp cao hay cấp trung và cả những công việc lao động phổ thông như giúp việc nhà, chăm em bé…

“Họ có khả năng ngoại ngữ, kỷ luật làm việc và sự chuyên nghiệp mà nhiều lao động Việt Nam thiếu hụt. Người lao động Việt Nam đang bị cạnh tranh ngay trên sân nhà”, chuyên gia này nhận định. Ông Phạm Bình An, Giám đốc Trung tâm WTO TP.HCM, cho rằng nguy cơ mất việc trên sân nhà hoàn toàn có khả năng xảy ra. “Tự do hóa lao động nhưng chúng ta làm thuê nhiều hơn thì cũng đáng lo”.[45]

Qua việc so sánh các quy định pháp luật Việt Nam về cấp giấy phép lao động nước ngoài, đặc biệt là việc so sánh nghị định mới số 11/2016/NĐ-CP với quy định cũ (nghị định số 102/2013/NĐ-CP, thông tư 03/2014TT- Bộ Lao động thương binh và Xã hội)… Có thể thấy, quy định mới đã góp phần khắc phục được những bất cập trong các quy định cũ, phù hợp và tương đồng với hệ thống văn bản pháp luật lao động về lao động nước ngoài, thủ tục xin cấp giấy phép lao động trở nên đơn giản, thuận tiện hơn với người sử dụng lao động. Việc mở rộng đối tượng được miễn xin cấp giấy phép lao động cũng tạo cơ hội cho người nước ngoài vào Việt Nam làm việc tự do, phát huy được điều kiện sức người, sức của, giảm bớt thủ tục rườm rà cho doanh nghiệp, tạo hiệu quả lao động và góp phần phát triển doanh nghiệp. Ví dụ nghị định 11/2016/NĐ-CP có những quy định mới: Mở rộng các hình thức lao động tại việt Nam: ký hợp đồng lao động, di chuyển nội bộ doanh nghiệp, nhà cung cấp dịch vụ theo hợp đồng, chào bán dịch vụ…(điều 2); điều chỉnh lại điều kiện đối với chuyên gia và lao động kỹ thuật vào làm việc tại Việt Nam phải đáp ứng yêu cầu về trình độ chuyên môn phù hợp với công việc đảm nhận hoặc phải có số năm kinh nghiệm nhất định (điều 3); Làm rõ các trường hợp cấp, cấp lại giấy phép lao động cho phù hợp; bổ sung quy định miễn giấy phép lao động nhằm kế thừa giá trị sử dụng của một số giấy tờ trong hồ sơ đề nghị cấp giấy phép lao động điều 7). Phân loại nhóm đối tượng điều chỉnh để giảm bớt một số giấy tờ cho một số nhóm lao động có trình độ chuyên môn càng cao thì càng đơn giản về thủ tục và giấy tờ trong hồ sơ đề nghị cấp giấy phép lao động (điều 10); Nhóm đối tượng lao động nước ngoài làm việc tại dự án đang trong quá trình xây lắp thì có cơ chế quản lý linh hoạt phù hợp với đặc thù lao động có số lượng lớn, làm việc ngắn hạn và đảm bảo yêu cầu chất lượng và tiến độ của dự án; Giảm số ngày xem xét, cấp giấy phép lao động của cơ quan cấp giấy phép lao động từ 10 ngày làm việc xuống 07 ngày làm việc (điều 12); mở rộng khoảng thời gian đề nghị cấp lại cấp giấy phép lao động từ 15 ngày lên 45 ngày trước khi giấy phép lao động đã cấp hết hạn (điều 15); Đơn giản hóa một số giấy tờ trong thành phần hồ sơ cấp giấy phép lao động như miễn hợp pháp hóa lãnh sự, điều chỉnh cách lấy lý lịch tư pháp và giấy khám sức khỏe cho phù hợp (điều 10)…

Tuy nhiên vẫn còn một số hạn chế bất cập nhất định trong một số quy định chưa được cụ thể cần được kiểm nghiệm thêm trong thực tế, qua đó tìm hiểu rõ nguyên nhân nhằm khắc phục. Khi ban hành các văn bản hướng dẫn (thông tư) và sửa đổi, bổ sung các văn bản pháp luật có liên quan, cơ quan chức năng cần xem xét để tạo điều kiện thuận lợi hơn nữa cho người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam, đồng thời vẫn đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật trong điều chỉnh thị trường lao động hiệu quả hơn. Luận văn: Thực tiễn PL về cấp giấy phép lao động nước ngoài.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:  

===>>> Luận văn: Giải pháp PL về cấp giấy phép lao động nước ngoài

One thought on “Luận văn: Thực tiễn PL về cấp giấy phép lao động nước ngoài

  1. Pingback: Luận văn: Pháp luật VN về cấp giấy phép lao động nước ngoài

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464