Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Thực tiễn pháp luật về thẩm quyền xét xử sơ thẩm hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Quy định của pháp luật và thực tiễn thực thi pháp luật về thẩm quyền xét xử sơ thẩm dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
2.1. Quy định của pháp luật về thẩm quyền xét xử sơ thẩm
Cách mạng tháng Tám 1945 thành công đã đánh dấu một bước tiến nhảy vọt trong lịch sử tiến hoá của dân tộc Việt Nam. Một kỷ nguyên mới của lịch sử dân tộc đã mở ra, kỷ nguyên giải phóng dân tộc gắn liền với giải phóng giai cấp công nhân và nhân dân lao động, kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, xoá bỏ hoàn toàn chế độ quân chủ chuyên chế đã tồn tại gần ngàn năm lập ra Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa (ngày nay là Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam) là Nhà nước độc lập, dân chủ và thực sự của nhân dân. Thắng lợi của Cách mạng tháng Tám là thành công rực rỡ của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc vô cùng anh dũng gần một trăm năm của nhân dân ta. Đó là thắng lợi của chủ nghĩa Mác-Lênin ở Việt Nam, là thắng lợi của đường lối cách mạng dân tộc dân chủ đúng đắn do Đảng ta vạch ra và lãnh đạo nhân dân cả nước thực hiện”.
TAND nằm trong hệ thống cấu thành bộ máy Nhà nước, luôn là một công cụ đắc lực của chính quyền nhân dân trong cuộc đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm góp phần giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, làm hậu thuẫn cho quá trình thực hiện các nhiệm vụ kinh tế xã hội mà Đảng và Nhà nước đề ra. Trải qua bao nhiêu khó khăn, biến cố hệ thống pháp luật về tòa án nói chung và TAND cấp cấp sơ thẩm nói riêng dần dần hoàn thiện đáp ứng nhu cầu của nước ta trong giai đoạn hội nhập nền kinh tế thế giới. Tuy nhiên cần nghiên cứu có hệ thống quy luật hình thành và phát triển của chế định thẩm quyền xét xử sơ thẩm của TA các cấp để có cái nhìn khách quan, tổng quát nhất.
Thực hiện thẩm quyền của mình, gần 60 năm qua, các TA đã thực sự là công cụ hữu hiệu của Nhà nước trong cuộc đấu tranh phòng chống và phòng ngừa tội phạm góp phần giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ các quyền và lợi ích của công dân. Tuy vậy, thực tiễn xét xử cũng chỉ rõ những tồn tại trong việc quy định thẩm quyền xét xử của TA các cấp. Để góp phần khắc phục những tồn tại đó, cần nghiên cứu một cách có hệ thống các quy định của pháp luật, cũng như quá trình thực hiện thẩm quyền xét xử sơ thẩm của TA các cấp theo giai đoạn lịch sử của đất nước.
2.1.1. Giai đoạn từ sau Cách mạng tháng tám 1945 đến khi Quốc hội ban hành BLTTHS năm 1988 Luận văn: Thực tiễn pháp luật về thẩm quyền xét xử sơ thẩm.
Sau khi cách mạng tháng Tám thành công chúng ta đã khẩn trương phá huỷ đến tận gốc rễ bộ máy hành chính quan liêu, hệ thống nhà tù, trại giam, bộ máy tư pháp của chế độ thực dân phong kiến. Ngay những ngày đầu tháng 9/1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký ban hành Sắc lệnh số 18 ngày 8/9/1945 bãi bỏ hoàn toàn ngạch học quan; Sắc lệnh 32/S1 ngày 13/9/1945 bãi bỏ hai ngạch quan hành chính và quan tư pháp. Đồng thời Đảng và Nhà nước ta khẩn trương xây dựng bộ máy Nhà nước cách mạng, trong đó có TAND.
Ở giai đoạn đầu của cách mạng tháng tám, Sắc lệnh số 33C ngày 13/9/1945 và sau đó bổ sung bằng sắc lệnh số 21 ngày 24/1/1946 của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà thiết lập các TAQS nhằm trừng trị tất cả những người nào xâm hại đến nền độc lập của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. TAQS là công cụ chuyên chính của chính quyền cách mạng, được thành lập dựa trên sự phối hợp của các Bộ Quốc phòng, Nội vụ và Tư pháp. Các TAQS ban đầu, chưa phải là tổ chức chuyên trách, thường trực, mà chỉ khi có vụ án thì lập ra TA để xét xử.
TAQS có thẩm quyền xét xử “tất cả những người nào vi phạm vào một việc gì có phương hại đến nền độc lập của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà.
Trừ khi phạm nhân là binh sĩ thì thuộc về nhà binh xử theo quân luật” (Điều 2). Ngoài ra “ở những nơi xa các Tòa án Quân sự đã lập rồi, Chính phủ, trong những trường hợp đặc biệt có thể cho Uỷ ban nhân dân địa phương thành lập một toà án quân sự có quyền xử trong một thời kỳ và theo đúng những nguyên tắc định trong sắc lệnh này” (Điều 7). Bản án của TAQS được đem thi hành ngay, người phạm tội không có quyền chống án, trừ trường hợp nếu như bản án tuyên tử hình thì tội nhân có quyền đệ đơn lên Chủ tịch Chính phủ xin ân giảm… Luận văn: Thực tiễn pháp luật về thẩm quyền xét xử sơ thẩm.
Để tránh việc tranh chấp về thẩm quyền giữa các TA trong Sắc lệnh 33C ngày 26/9/1945 Chủ tịch nước đã ban hành Sắc lệnh số 37 ngày 26/9/1945 ấn định địa phương thẩm quyền của các TAQS thiết lập do Sắc lệnh ngày 13 tháng 9 năm 1945 như sau:
- TAQS Hà Nội: Thành phố Hà Nội và các tỉnh Hòa Bình, Phú Thọ, Sơn Tây, Hà Đông, Vĩnh Yên, Phúc Yên, Hưng Yên, Bắc Ninh và Bắc Giang.
- TAQS Hải Phòng: thành phố Hải Phòng và các tỉnh Hải Dương, Kiến An, Quảng Yên và Hải Ninh.
- TAQS Thái nguyên: Thái Nguyên, Lạng Sơn, Cao Bằng, Bắc Cạn, Tuyên Quang, Hà Giang, Yên Bái, Lào Cai, Lai Châu và Sơn La.
- TAQS Ninh Bình: Ninh Bình, Nam Định, Hà Nam và Thái Bình.
- TAQS Vinh: Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh và Quảng Bình.
- TAQS Huế: Quảng Trị, Thừa Thiên và Quảng Nam (kể cả Đà Nẵng). TAQS Quảng Ngãi: Các tỉnh Trung bộ ở phía Nam tỉnh Quảng Nam. TAQS Sài Gòn: thành phố Sài Gòn – Chợ lớn và các tỉnh: Gia Định, Tân Bình, Tây Ninh, Biên Hoà, Bà Rịa, Ô Cấp (Cap Saint ques) Gò Công, Tân An và Côn Đảo.
- TAQS Mỹ Tho: Các tỉnh khác thuộc Nam Bộ (Điều 1).
Sau một thời gian nhằm đáp ứng yêu cầu của công tác xét xử Chủ tịch Hồ Chí Minh lại ban hành thêm 2 sắc lệnh: Sắc lệnh số 40 ngày 29/9/1945 đặt thêm một TAQS ở Nha Trang xét xử các vụ án ở các tỉnh Khánh Hoà, Đắc Lắc, Haut-Donnai, Phan Rang, Phan Thiết (Điều 2) còn TAQS Quảng Ngãi chỉ phụ trách các tỉnh Quảng Ngãi, Kon Tum, Bình Định, Phú Yên (Điều 3); Sắc lệnh số 77 ngày 28/12/1945 đặt thêm một TAQS tại Phan Thiết và thẩm quyền của các TAQS Quảng Ngãi, Nha Trang, Phan Thiết sẽ do Uỷ ban nhân dân Trung Bộ ấn định. Các TA này đã cùng các cơ quan nhà nước khác ngay từ đầu đã phát huy vai trò góp phần không nhỏ trong việc trấn áp kẻ thù, giữ gìn các thành quả của cách mạng đồng thời bảo vệ lợi ích của nhân dân.
Để tăng cường bộ máy tư pháp, Chính phủ đã ban hành Sắc lệnh số 13/SL ngày 24/1/1946 của Chủ tịch Chính phủ lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hoà quy định về mô hình tổ chức hệ thống TA như sau:
- Ở cấp Trung ương: Tòa thượng thẩm có ở ba kỳ (Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ) đóng tại Hà Nội, Huế và Sài Gòn có thẩm quyền xét xử những việc kháng cáo bản án sơ thẩm của các TA đệ nhị cấp.
- Ở cấp tỉnh: Các TA đệ nhị cấp ở các tỉnh, thành phố trực thuộc TW và cấp tương đương có thẩm quyền xét xử chung thẩm những án vi cảnh của TA sơ cấp bị kháng cáo, xét xử sơ thẩm những việc tiểu hình và đại hình. Những việc tiểu hình là những việc có thể bị phạt tù từ 6 ngày đến 5 năm, hay phạt bạc trên 9 đồng.
- Ở cấp huyện: các TA sơ cấp ở các huyện, thị xã, châu, phủ có thẩm quyền xét xử chung thẩm những án phạt bạc từ 0,5 đồng đến 9 đồng, những án xử bồi thường không quá 150 đồng. Có quyền xét xử sơ thẩm những vụ án phạt giam từ 1 đến 5 ngày, những vụ án xử bồi thường quá 150 đồng hoặc những việc xin bồi thường quá số tiền ấy.
Thời kỳ này còn có cấp khu nên có tư pháp khu. Khi xét xử phúc thẩm có hội đồng phúc án của tư pháp khu.
Để phân biệt thẩm quyền của TA, Chính phủ đã ra sắc lệnh số 51 ngày 17/4/1946 quy định các TA sơ cấp và đệ nhị cấp có thẩm quyền xét xử sơ thẩm đồng thời cả chung thẩm, còn TA thượng thẩm chỉ xét xử phúc thẩm. Hệ thống TA tư pháp do Bộ Tư pháp quản lý. Bộ trưởng Bộ Tư pháp từng bước quyết định thiết lập dần dần các TA ở các nơi tuỳ điều kiện thuận lợi. Những nơi chưa có điều kiện thành lập TA, việc tư pháp vẫn do uỷ ban hành chính đảm nhiệm.
Ngày 23/8/1946, Chính phủ đã ra Sắc lệnh số 163/SL ngày 23/8/1946 thành lập TA binh lâm thời, trụ sở đặt tại Hà Nội. Các TA binh này đều thuộc quyền quản lý của Uỷ ban kháng chiến – hành chính khu và về chuyên môn do Cục quân pháp – Bộ quốc phòng đảm nhiệm. Thẩm quyền của TA binh là xét xử những quân nhân phạm tội, những người có hành vi gây thiệt hại cho quân đội hoặc có liên quan đến quân đội và các tội phạm xảy ra ở nơi đóng quân của quân đội. Có thể thấy sắc lệnh 163 là một trong những văn bản pháp luật đầu tiên quy định về tổ chức, thẩm quyền của các TA binh. Đây là văn bản pháp luật làm tiền đề cho việc quy định tổ chức, thẩm quyền của các TAQS hiện nay. Như vậy trong thời gian này, song song tồn tại các loại TA: TAQS, TA binh và hệ thống các TA tư pháp. Luận văn: Thực tiễn pháp luật về thẩm quyền xét xử sơ thẩm.
Hệ thống TA tư pháp theo sắc lệnh số 13 chỉ tồn tại đến năm 1950. Tuy là TA cách mạng nhưng hệ thống và cơ cấu tổ chức về cơ bản vẫn theo thời Pháp. Trong những năm 50, có những biến đổi quan trọng về tổ chức và hoạt động của TA cách mạng, Đảng và Nhà nước ta đã tiến hành cải cách bộ máy tư pháp, nâng cao vị trí của TA trong bộ máy Nhà nước, Sắc lệnh 85 ngày 22/5/1950 quy định cải cách bộ máy tư pháp và luật tố tụng. Đó là việc xây dựng nền tư pháp nhân dân và mô hình tổ chức hệ thống TA. Các TA theo Sắc lệnh 13 trước đây được đổi tên thành các TAND. Các TA sơ cấp, đệ nhị cấp, TA thượng thẩm được đổi thành TAND huyện, TAND tỉnh và các TAND liên khu. Hội đồng phúc án đổi thành Tòa phúc thẩm, còn các Phụ thẩm nhân dân được đổi thành Hội thẩm nhân dân. Khi xét xử, Hội thẩm nhân dân có quyền xem xét hồ sơ và ngang quyền với Thẩm phán khi biểu quyết. Các Thẩm phán được bổ nhiệm là những người có công với cách mạng, thành phần cốt cán có thành tích xuất sắc trong chiến đấu và lao động. Ngoài ra, trong thời kỳ này còn có các TAQS, TA đặc biệt (TA đặc biệt chỉ được tổ chức trong thời kỳ tiến hành giảm tô và cải cách ruộng đất).
Sắc lệnh 156 ngày 22/10/1950 đã giao cho các TAND liên khu thẩm quyền xét xử những tội phản cách mạng thay thế cho các TAQS.
Đặc biệt do địch đang tạm thời chiếm nhiều vùng trên lãnh thổ nước ta nên Chủ tịch nước đã ban hành Sắc lệnh số 157 ngày 17/11/1950 về TA vùng tạm bị địch chiếm đóng “Toà án nhân dân vùng tạm bị chiếm đóng có thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện, Tòa án nhân dân tỉnh và Tòa án Quân sự…Về việc hình và hộ, Tòa án nhân dân vùng tạm bị chiếm thuộc quyền điều khiển của Toà án nhân dân tỉnh. Nếu quản hạt của Tòa án nhân dân vùng tạm bị chiếm là một tỉnh thì trực thuộc điều khiển của Tòa án nhân dân liên khu hoặc của Tòa phúc thẩm. Về việc xét xử các việc thuộc thẩm quyền Tòa án quân sự, Toà án nhân dân vùng tạm bị chiếm thuộc quyền điều khiển của Tòa án quân sự liên khu và Uỷ ban kháng chiến hành chính liên khu. Nếu có Tòa án nhân dân liên khu thì thuộc quyền điều khiển của Toà án nhân dân liên khu” (Điều 3). Việc thành lập và mở rộng thẩm quyền cho TAND vùng tạm bị chiếm đã đáp ứng yêu cầu của vùng bị địch tạm chiếm tạo điều kiện cho nhu cầu đấu tranh và phòng chống tội phạm. Luận văn: Thực tiễn pháp luật về thẩm quyền xét xử sơ thẩm.
Để đảm bảo việc thi hành chính sách ruộng đất, giữ gìn trật tự xã hội, củng cố chính quyền nhân dân, đẩy kháng chiến đến thắng lợi. Ngày 12/4/1953 Hồ Chủ Tịch đã ra Sắc lệnh số 150 thành lập TAND đặc biệt ở những nơi phát động quần chúng thi hành chính sách ruộng đất. Tòa án đặc biệt có nhiệm vụ:
- Trừng trị những kẻ phản cách mạng, những cường hào gian ác, những kẻ chống lại hoặc phá hoại chính sách ruộng đất.
- Xét xử những vụ tranh chấp về tài sản, ruộng đất liên quan đến các vụ án trên.
- Xét xử những vụ tranh cãi về phân định thành phần giai cấp
- TAND đặc biệt chỉ có nhiệm vụ xét xử trong lúc và ở những nơi phát động quần chúng thi hành chính sách ruộng đất. Khi làm xong nhiệm vụ, TAND đặc biệt sẽ giải tán.
- TAND đặc biệt không xử những vụ hình và hộ thuộc TAND thường.
Những vụ án phản cách mạng phức tạp và phải xét xử lâu dài thì do Uỷ ban kháng chiến hành chính liên khu quyết định chuyển sang TAND thường xét xử (Điều 2).
Sau khi hòa bình lập lại, tháng 4/1958 Quốc hội đã quyết định thành lập TANDTC và Viện công tố nhân dân Trung ương. Hai cơ quan này trực thuộc Hội đồng Chính phủ. Sau đó ngày 14/12/1958 Thủ tướng Chính phủ có Thông tư số 556/TTg cụ thể hoá nhiệm vụ của các cơ quan bảo vệ pháp luật bao gồm: Công an, Công tố, TA. Tinh thần các quy định của các văn bản pháp luật này được ghi nhận vào Hiến pháp năm 1959 và Luật tổ chức TAND năm 1960.
Trong công cuộc cải tạo XHCN và xây dựng CNXH, thông qua xét xử các vụ án, ngành TA đã góp phần to lớn trong việc bóc trần âm mưu của các phần tử phản cách mạng, phá hoại công cuộc xây dựng CNXH ở nước ta, gây chia rẽ trong nội bộ nhân dân.
Ngày 31/12/1959, tại kỳ họp thứ 11, Quốc hội đã chính thức thông qua bản Hiến pháp mới. Đây là bản Hiến pháp xã hội chủ nghĩa đầu tiên ở nước ta.
Hiến pháp 1959 đã có những sửa đổi cơ bản so với Hiến pháp 1946 theo đó hệ thống tòa án bao gồm:
Tòa án nhân dân tối cao của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, các Tòa án nhân dân địa phương, các Tòa án quân sự là những cơ quan xét xử của nước Việt Nam dân chủ công hòa. Trong trường hợp cần xét xử những vụ án đặc biệt, Quốc hội có thể quyết định thành lập tòa án đặc biệt [35, Điều 98]. Luận văn: Thực tiễn pháp luật về thẩm quyền xét xử sơ thẩm.
Căn cứ vào các quy định của Hiến pháp 1959, ngày 14/7/1960 Quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đã thông qua Luật tổ chức TAND năm 1960 trong đó quy định hệ thống TAND gồm có: TAND tối cao, TAND địa phương, TAQS.
Các TAND địa phương gồm có: TAND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương hoặc đơn vị hành chính tương đương,TAND huyện, thành phố thuộc tỉnh, thị xã hoặc đơn vị hành chính tương đương, TAND ở các khu vực tự trị. Ở các khu vực tự trị, tổ chức các TAND địa phương sẽ do Hội đồng nhân dân khu vực tự trị quy định, căn cứ vào Điều 95 của Hiến pháp và những nguyên tắc tổ chức TAND quy định trong luật này. Tổ chức các TAQS sẽ do Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định riêng, căn cứ vào những nguyên tắc tổ chức TAND định trong luật này (Điều 2).
Để kiện toàn tổ chức TAND các cấp và bảo đảm việc xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Ngày 23/3/1961, Ủy ban thường vụ Quốc hội thông qua Pháp lệnh quy định cụ thể về tổ chức của TANDTC và tổ chức của các TAND địa phương.
Nhìn chung các nguyên tắc hoạt động xét xử của TAND trước đây đươc quy định trong Pháp lệnh và Luật tổ chức TAND đều được kế thừa, ghi nhận đầy đủ, chính xác, rõ ràng hơn các Sắc lệnh trước đó. Ví dụ: Nguyên tắc mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật; nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; nguyên tắc xét xử công khai…
Tại Điều 97 trong chương VIII của Hiến pháp 1959 quy định: Hệ thống xét xử của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa gồm có: “Tòa án nhân dân tối cao, các Tòa án địa phương và Tòa án quân sự. Trong trường hợp cần thiết Quốc hội có thể quyết định thành lập Tòa án đặc biệt”. Do đặc điểm về tổ chức hành chính, các TA địa phương ở nước ta thời kỳ này, ngoài các TAND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và cấp tương đương, các TAND cấp huyện còn có các TA khu tự trị. Ở khu tự trị Việt Bắc và khu tự trị Tây Bắc, tổ chức các TA địa phương sẽ do Hội đồng nhân dân khu tự trị quy định căn cứ vào Hiến pháp 1959 và Luật tổ chức TAND năm 1960, còn việc quản lý TA địa phương được giao cho TA tối cao.
Chế định về thẩm quyền xét xử sơ thẩm của TAND các cấp được ghi nhận cụ thể và phù hợp với tình hình chính trị lúc đó nhằm góp phần “bảo vệ chế độ dân chủ nhân dân, trật tự xã hội, tài sản xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và sự nghiệp đấu tranh thống nhất nước nhà”. Luận văn: Thực tiễn pháp luật về thẩm quyền xét xử sơ thẩm.
Thẩm quyền này được các văn bản pháp luật quy định cụ thể đối với các cấp TA như sau:
- Thẩm quyền xét xử sơ thẩm hình sự của Tòa án nhân dân cấp huyện
Tại Luật tổ chức TAND năm 1960 quy định thẩm quyền của TAND huyện như sau:
Toà án nhân dân huyện, thành phố thuộc tỉnh, thị xã hoặc đơn vị hành chính tương đương xử sơ thẩm những vụ án hình sự và dân sự do pháp luật quy định thuộc thẩm quyền của các Toà án đó. Toà án nhân dân huyện, thành phố thuộc tỉnh, thị xã hoặc đơn vị hành chính tương đương có nhiệm vụ hoà giải những vụ tranh chấp về dân sự, phân xử những việc hình sự nhỏ không phải mở phiên toà và hướng dẫn công tác hoà giải ở xã và khu phố [36, Điều 16].
Như vậy, đây mới chỉ là quy định mang tính chất nguyên tắc một cách chung chung. Do đó để cụ thể hoá vấn đề này ngày 23/3/1961 Uỷ ban thường vụ Quốc hội đã thông qua Pháp lệnh 13-PL quy định cụ thể về tổ chức của TANDTC và tổ chức của các TAND địa phương theo đó: “Tòa án nhân dân thành phố thuộc tỉnh, thị xã, huyện hoặc đơn vị hành chính tương đương có thẩm quyền… Sơ thẩm những việc hình sự nhỏ không phải mở phiên tòa… Sơ thẩm những vụ án hình sự có thể phạt từ hai năm tù trở xuống” (Điều 12 điểm b, d). Sau đó TAND tối cao đã ban hành Thông tư số 1080/TC ngày 25/9/1961 và Thông tư số 1071/TC ngày 7/9/1965 hướng dẫn về “những việc hình sự nhỏ” không phải mở phiên tòa nhằm giải quyết những vướng mắc nảy sinh trong quá trình thực hiện Luật tổ chức TAND 1960 và Pháp lệnh 18. Những việc đó là những vi phạm pháp luật mà mức độ nguy hại cho xã hội của hành vi phạm pháp không lớn, có mức án phạt không quá giá trị năm ngày gạo (nếu là phạt tiền) và không quá năm ngày (nếu là phạt giam). TANDTC lưu ý các TAND huyện khi xét xử phải chấp hành đường lối xét xử của Nhà nước ta đối với những người là nhân dân lao động phạm pháp nhẹ. Đó là lấy giáo dục thuyết phục làm chính, chỉ xử những người thật đáng tội, không xử thì nhân dân không đồng tình. Đối với những người xử cũng được, không xử cũng được thì không xử mà dựa vào quần chúng, dùng biện pháp hành chính, nghiêm khắc phê bình, cảnh cáo hoặc có thể quản chế một thời gian.
Để trừng trị nghiêm khắc, kịp thời những tội lấy cắp tài sản xã hội chủ nghĩa làm ăn phi pháp và gây rối trật tự chung ngày 22/5/1974 Bộ công an, VKSND tối cao và TANDTC đã nhất trí về “đơn giản hoá thủ tục tố tụng đối với một số án hình sự ít quan trọng” và để các TA huyện xét xử một cách chính xác, nghiêm minh TANDTC đã ra Thông tư số 10-TATC ngày 8/7/1974 hướng dẫn về thủ tục rút ngắn nêu rõ loại tội áp dụng thủ tục này phải là tội ít nghiêm trọng, phạm pháp quả tang, đơn giản rõ ràng, hình phạt mà TA có thể quyết định là từ 2 năm trở xuống.
Sau khi miền Nam được hoàn toàn giải phóng Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã ban hành Sắc lệnh số 01/SL ngày 15/3/1976 về tổ chức TA ở Miền Nam, sắc lệnh quy định TA cấp huyện có thẩm quyền xét xử những vụ án hình sự có thể phạt từ 2 năm tù trở xuống nhưng trong tình hình miền Nam mới được giải phóng hệ thống TA còn chưa ổn định, đội ngũ Thẩm phán vừa yếu vừa thiếu không tương thích với thẩm quyền mà pháp luật quy định vì vậy Bộ tư pháp Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã ra Thông tư 01/BTP-TT ngày 28/3/1976 về tổ chức TAND quy định chỉ giao cho TAND cấp huyện xét xử những vụ án hình sự đơn giản, ít quan trọng, không được xét xử những tội phản cách mạng; những tội gây tổn thương đến sức khoẻ của nhiều người hoặc gây chết người, hoặc xâm phạm nghiêm trọng đến tài sản công cộng, tài sản riêng công dân, những vụ án mà việc xác định tội phạm có nhiều khó khăn và những vụ án có ảnh hưởng chính trị lớn. Việc hạn chế thẩm quyền đối với TAND các tỉnh miền Nam mới được giải phóng là hoàn toàn phù hợp với yêu cầu thực tiễn đặt ra. Luận văn: Thực tiễn pháp luật về thẩm quyền xét xử sơ thẩm.
Việc hạn chế thẩm quyền của TA cấp huyện chỉ được xử những vụ án có mức phạt từ 02 năm trở xuống đã làm cho số lượng những vụ án thuộc thẩm quyền xét của của TA cấp tỉnh tăng lên, chỉ riêng những vụ án có mức án dưới 5 năm tù đã chiếm tới 70% tổng số án đã xét xử.
Luật tổ chức TAND năm 1981 đã kế thừa và phát triển Luật tổ chức TAND năm 1960 và có những nội dung mới. Điều 36 quy định: “Các Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh có thẩm quyền sơ thẩm những vụ án hình sự, trừ: Những tội xâm phạm an ninh quốc gia và những tội phạm hình sự khác có tính chất nghiêm trọng, gây hậu quả lớn”.
Thẩm quyền mới của TA đã xác định theo sự việc chứ không bị khống chế bởi mức hình phạt tù, không giao cho TAND cấp huyện xét xử những tội có tính chất nghiêm trọng.
Sau khi Luật này có hiệu lực, để các TA thực hiện tốt thẩm quyền xét xử, ngày 6/2/1982 TANDTC, VKSNDTC, Bộ Tư pháp, Bộ Nội vụ ban hành Thông tư liên ngành hướng dẫn thực hiện thẩm quyền của TA cấp huyện. Theo thông tư này, các TAND quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh được xét xử những tội phạm về hình sự quy định tại khung 1 có mức hình phạt từ 7 năm trở xuống, nếu là hình phạt quy định trong khung 2 nhưng thực tế chỉ cần xử phạt tương đương với khung 1 vì có nhiều tình tiết giảm nhẹ thì TAND huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh cũng có thẩm quyền giải quyết. TAND huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh không được xét xử những tội phạm phản cách mạng, những vụ án có tính chất nghiêm trọng, phức tạp hoặc gây hậu quả lớn.
Để tạm thời giảm bớt lượng án thuộc thẩm quyền cấp tỉnh, Ngày 26/7/1986, VKSNDTC, TANDTC, Bộ Tư pháp và Bộ Nội vụ ra Thông tư liên ngành số 01/TTLL hướng dẫn các TAND cấp huyện được xét xử một số tội mà pháp luật quy định hình phạt từ 7 năm tù trở xuống nhưng có tình tiết giảm nhẹ cho phép phạt từ 5 năm tù trở xuống. Tuy nhiên, cách giải quyết này cũng chỉ là tạm thời, vì vẫn có điểm bất hợp lý là cho phép TA dự kiến mức hình phạt trước khi xét xử.
- Thẩm quyền xét xử sơ thẩm hình sự của Tòa án nhân dân cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương
Theo quy định của Luật tổ chức TAND năm 1960 và sau đó là Pháp lệnh Tổ chức TANDTC và TAND địa phương ngày 23/3/1961, TAND cấp huyện được xét xử những vụ án có thể xử phạt 2 năm tù trở xuống nên ngoài công việc này ra, những công việc còn lại thuộc thẩm quyền của TAND cấp tỉnh tức là những vụ án hình sự có thể phạt trên 2 năm tù hoặc những vụ án thuộc thẩm quyền cấp dưới nhưng TAND cấp tỉnh lấy lên để xét xử.
Theo quy định của Luật tổ chức TAND năm 1981, các TAND cấp huyện được xét xử các tội phạm có khung hình phạt từ 5 năm tù trở xuống và cả một số tội có khung hình phạt từ 7 năm tù trở xuống nhưng có nhiều tình tiết giảm nhẹ. Thẩm quyền xét xử của TAND cấp huyện được mở rộng hơn đã làm cho số lượng các vụ án phải xét xử sơ thẩm của TAND cấp tỉnh giảm đi nhiều. Quy định này hợp lý hơn vì nếu việc xét xử của TAND cấp tỉnh giảm đi thì TAND cấp tỉnh có điều kiện tập trung thực hiện chức năng phúc thẩm các bản án, quyết định sơ thẩm của TAND cấp dưới bị kháng cáo kháng nghị.
Thời kỳ này ở nước ta còn tổ chức đơn vị hành chính khu tự trị bao gồm nhiều tỉnh trong khu. Phù hợp với mô hình tổ chức khu tự trị cần phải có TAND khu. Do đó, năm 1963 Quốc hội quyết định thành lập các TAND khu ở những khu tự trị. Hai khu tự trị Việt Bắc và Tây Bắc đã thành lập các TAND khu. Luận văn: Thực tiễn pháp luật về thẩm quyền xét xử sơ thẩm.
Tại Điều 2 của Điều lệ quy định cụ thể về tổ chức của TAND các cấp trong khu tự trị Việt Bắc được Uỷ ban tư vấn Quốc hội phê chuẩn ngày 02/3/1963 quy định: “Tòa án nhân dân khu có thẩm quyền sơ thẩm những vụ án hình sự và dân sự thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp dưới, nhưng xét thấy quan trọng hoặc phức tạp cần lấy lên để xem xét”. Điều này cũng được quy định tại Điều lệ quy định cụ thể về tổ chức TAND các cấp trong khu tự trị Tây Bắc. Thực hiện thẩm quyền này, các TAND khu tự trị đã xét xử được nhiều vụ án phức tạp làm giảm một phần công việc của TAND tỉnh trong khu, tạo điều kiện cho các TA này giải quyết tốt các vụ án khác. Điều đó cho thấy việc thành lập TAND khu tự trị đã đáp ứng được với hoàn cảnh đất nước thời kỳ đó, kịp thời xét xử các vụ án hình sự trong điều kiện đi lại khó khăn của miền núi.
- Thẩm quyền xét xử sơ thẩm hình sự của Tòa án nhân dân tối cao
Hiến pháp năm 1959 của nước ta quy định: “Tòa án nhân dân tối cao là cơ quan xét xử cao nhất của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Tòa án nhân dân tối cao giám đốc việc xét xử của Tòa án nhân dân địa phương, Tòa án quân sự và Tòa án đặc biệt” [35, Điều 103].
Về thẩm quyền xét xử sơ thẩm hình sự của TANDTC, Luật tổ chức TAND ngày 14/7/1960 quy định: “Tòa án nhân dân tối cao có thẩm quyền sơ thẩm những vụ án do pháp luật quy định thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân và những vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp dưới mà Tòa án nhân dân tối cao lấy lên để xét xử” [36, Điều 21].
- Để cụ thể hơn thẩm quyền xét xử của TANDTC và TAND địa phương ngày 23/3/1961 quy định:
Tòa hình sự Tòa án nhân dân tối cao có quyền sơ thẩm đồng thời chung thẩm những vụ án do pháp luật quy định thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân tối cao và những vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp dưới nhưng Tòa án nhân dân tối cao xét thấy cần lấy lên để xử bản án sơ thẩm đồng thời là chung thẩm có hiệu lực thi hành ngay, bị cáo không có quyền chống án.
Những vụ án hình sự thuộc thẩm quyền xét xử sơ thẩm đồng thời là chung thẩm là những vụ án mà bị cáo phạm tội đặc biệt nghiêm trọng, chứng cứ rõ ràng, gây căm phẫn lớn trong nhân dân, dư luận quần chúng đòi hỏi phải xử lý thật nghiêm khắc.
Việc giải quyết theo thủ tục này đòi hỏi phải thật khẩn trương, có tác dụng tích cực ngăn chặn tội phạm xảy ra, góp phần đấu tranh, phòng chống tội phạm, bảo vệ quyền lợi chính đáng của nhân dân, do đó có tác dụng phục vụ kịp thời nhiệm vụ chính trị Quốc gia. Luận văn: Thực tiễn pháp luật về thẩm quyền xét xử sơ thẩm.
Đối với những vụ án thuộc thẩm quyền của TAND cấp dưới (thông thường là án thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND cấp tỉnh, thành phố), nhưng TAND tối cao lấy lên để xét xử là những vụ án nghiêm trọng hoặc những vụ án liên quan đến nhiều cấp, nhiều ngành ở Trung ương mà TA tối cao thấy để xử ở cấp dưới sẽ gặp nhiều khó khăn nên lấy lên để xử.
Pháp luật quy định thẩm quyền xét xử sơ thẩm đồng thời là chung thẩm đối với TAND tối cao đã có ý nghĩa rất thiết thực, góp phần quan trọng vào việc phòng chống tội phạm, nhất là trong thời kỳ này, khi cách mạng đã chuyển sang giai đoạn xây dựng chủ nghĩa xã hội mà trong đó pháp chế xã hội chủ nghĩa đang trở thành công cụ đắc lực bảo đảm cho việc bảo vệ và xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Đến năm 1981, Quốc hội ban hành Luật tổ chức TAND mới quy định TAND tối cao có thẩm quyền xét xử sơ thẩm đổng thời là chung thẩm những vụ án đặc biệt nghiêm trọng hoặc phức tạp. Nhưng phải đến ngày 22/12/1981 Liên ngành TANDTC, VKSNDTC, Bộ Nội vụ, Bộ Tư pháp ra Thông tư số 05/1TLN mới hướng dẫn những vụ án đặc biệt nghiêm trọng, phức tạp cần đưa ra xét xử thủ tục sơ thẩm đồng thời là chung thẩm phải thoả mãn 4 điều kiện sau:
- Về loại tội: Là những tội xâm phạm ninh quốc gia, xâm phạm sở hữu XHCN, xâm phạm tính mạng, sức khoẻ.
- Về đối tượng: Bị cáo là những tên phản cách mạng, lưu manh côn đồ, những tên chuyên làm ăn phi pháp, cán bộ công nhân viên xa đọa, biến chất.
- Về chứng cứ vụ án: Phải có chứng cứ rõ ràng và thường ít bị cáo.
- Về hình phạt: Thường áp dụng hình phạt cao nhất là tử hình.
Với thẩm quyền xét xử sơ thẩm đồng thời là chung thẩm, chúng ta đã trấn áp kịp thời những bọn phản cách mạng, lưu manh côn đồ hung hãn, giữ vững chính quyền, bảo vệ trật tự an toàn xã hội. Tuy vậy, việc quy định thẩm quyền này không đảm bảo được quyền kháng cáo của bị cáo, không đảm bảo được nguyên tắc mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật nên ngày càng bị hạn chế và sau đó đã bị xoá bỏ
Tóm lại: Nhìn chung trong giai đoạn này các TAND đã hoàn thành tốt chức năng xét xử của mình cũng như những nhiệm vụ được giao, góp phần to lớn vào nhiệm vụ trấn áp bọn phản cách mạng, xét xử kịp thời, trừng trị nghiêm khắc những hành vi phạm tội khác phá hoại công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, gây chia rẽ nội bộ nhân dân góp phần to lớn vào thắng lợi trong công cuộc cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh và hợp tác xã nông nghiệp.
2.1.2. Giai đoạn từ năm 1988 đến trước năm 2003 Luận văn: Thực tiễn pháp luật về thẩm quyền xét xử sơ thẩm.
Ngày 28/6/1988 Quốc hội đã thông qua BLTTHS đầu tiên của nước ta có hiệu lực ngày 01/01/1989, đã kế thừa và phát triển những thành tựu của Luật TTHS Việt Nam, đáp ứng yêu cầu bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, phục vụ sự nghiệp đổi mới đất nước, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, xử lý kiên quyết và triệt để mọi hành vi phạm tội.
Thẩm quyền của TAND cấp huyện và TAQS khu vực xét xử sơ thẩm những tội phạm mà BLHS quy định hình phạt từ 7 năm tù trở xuống, trừ những tội sau:
- Các tội đặc biệt nguy hiểm xâm phạm an ninh quốc gia;
- Các tội quy định tại các Điều 89, 90, 91, 92, 93, 101 (khoản 3), 102, 179, 231, 232 Bộ luật hình sự.
Thẩm quyền của TAND cấp tỉnh và TAQS cấp quân khu xét xử sơ thẩm những vụ án hình sự về những tội phạm không thuộc thẩm quyền của TAND cấp huyện và TAQS khu vực hoặc những vụ án thuộc thẩm quyền của cấp dưới mà mình lấy lên xét xử.
Tòa hình sự TANDTC, TAQS Trung ương xét xử sơ thẩm đồng thời chung thẩm những vụ án đặc biệt nghiêm trọng, phức tạp.
TAQS xét xử những bị cáo thuộc thẩm quyền xét xử của mình theo quy định của pháp luật.
- Thẩm quyền xét xử theo đối tượng
Điều 3 Pháp lệnh tổ chức TAQS năm 1993 quy định: Các TAQS có thẩm quyền xét xử những vụ án hình sự mà bị cáo là:
Quân nhân tại ngũ, công nhân viên quốc phòng, quân nhân dự bị trong thời gian tập trung huấn luyện hoặc kiểm tra tình trạng sẵn sàng chiến đấu với quân đội và những người được trưng tập làm nhiệm vụ quân sự do các đơn vị quân đội trực tiếp quản lý;
Những người không thuộc các đối tượng quy định ở trên phạm tội có liên quan đến bí mật quân sự hoặc gây thiệt hại cho quân đội. Luận văn: Thực tiễn pháp luật về thẩm quyền xét xử sơ thẩm.
- Thẩm quyền xét xử theo lãnh thổ
TA có thẩm quyền xét xử vụ án hình sự là TA nơi thực hiện tội phạm.
Trong trường hợp không xác định được nơi thực hiện tội phạm thì thẩm quyền xét xử của TA là nơi kết thúc điều tra.
Trong trường hợp bị cáo phạm tội ở nước ngoài thì thẩm quyền xét xử của TAND được xác định như sau: Bị cáo phạm tội ở nước ngoài nếu xét xử ở Việt Nam thì do TAND cấp tỉnh nơi cư trú cuối cùng của bị cáo ở trong nước xét xử. Nếu không xác định được nơi cư trú cuối cùng ở trong nước của bị cáo thì tuỳ trường hợp, Chánh án TAND tối cao ra quyết định giao cho TAND thành phố Hà Nội hoặc TAND thành phố Hồ Chí Minh xét xử. Bị cáo phạm tội ở nước ngoài nếu thuộc thẩm quyền xét xử của TAQS thì do TAQS quân khu trở lên xét xử theo quyết định của Chánh án TAQS Trung ương. Đối với những vụ án xảy ra trên máy bay, tàu biển của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đang hoạt động ở nước ngoài thì TAND ở Việt Nam nơi có sân bay, bến cảng mà máy bay, tàu biển đó trở về đầu tiên trên lãnh thổ Việt Nam hoặc nơi máy bay, tàu biển đó đăng ký có thẩm quyền xét xử.
Như vậy, cho đến trước khi ban hành BLTTHS 2003, BLTTHS 1988 đã được sửa đổi, bổ sung 3 lần: lần 1 vào 30/6/1990, lần 2 vào 22/12/1992 và lần 3 vào 9/6/2000. Về thẩm quyền xét xử, các lần sửa đổi, bổ sung này đã xóa bỏ thẩm quyền xét xử sơ thẩm đồng thời chung thẩm của TAND tối cao nhưng không đặt vấn đề sửa đổi, bổ sung thẩm quyền của TAND cấp huyện. Qua gần 15 năm thực hiện các quy định tại khoản 1 Điều 145 BLTTHS 1988 về thẩm quyền xét xử, TAND các cấp đã đem lại những kết quả nhất định. Song thực tiễn điều tra, truy tố cho thấy số vụ án mà TA xét xử ngày càng nhiều. Do vậy, việc thay đổi thẩm quyền cho phù hợp với thực tế là một yêu cầu khách quan. Đó là lý do BLTTHS 2003 ra đời đã thay đổi một bước đáng kể thẩm quyền xét xử của TA.
2.1.3. Quy định của Bộ luật tố tụng hình sự 2003 về thẩm quyền xét xử sơ thẩm
Để tiếp tục thực hiện chủ trương cải cách tư pháp và thực hiện Nghị quyết số 08/NQ-TW ngày 2/1/2002 của Bộ Chính trị về “một số nhiệm vụ trọng tâm của công tác tư pháp trong thời gian tới”, để đáp ứng được các yêu cầu đổi mới về mọi mặt của đất nước, nâng cao chất lượng khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án, BLTTHS năm 2003 đã được Quốc hội thông qua ngày 26/11/2003 và có hiệu lực thi hành từ 1/7/2004. Sự ra đời của BLTTHS 2003 đã đánh dấu một bước quan trọng trong quá trình xây dựng và phát triển của pháp luật Việt Nam. Các quy định trong BLTTHS 2003 đã có những đổi mới sâu sắc, mang tính chất tích cực và hoàn thiện hơn về thẩm quyền xét xử của TAND, góp phần thể chế hóa đường lối của Đảng cộng sản Việt Nam trong giai đoạn phát triển mới. Luận văn: Thực tiễn pháp luật về thẩm quyền xét xử sơ thẩm.
Thẩm quyền chung của TA và thẩm quyền xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự được quy định trên cơ sở chức năng nhiệm vụ của ngành TAND. Sự phân định thẩm quyền là một trong những điều kiện cần thiết bảo đảm cho mọi hoạt động của bộ máy Nhà nước được vận hành đồng bộ, tránh chồng chéo và đương nhiên trong đó có hoạt động của cơ quan TAND.
- Thẩm quyền xét xử sơ thẩm theo sự việc
Thẩm quyền xét xử theo sự việc là sự phân định thẩm quyền xét xử giữa các cấp TA với nhau dựa trên tính chất của tội phạm hoặc của vụ án.
Tính chất của tội phạm phản ánh mức độ đặc biệt nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, nghiêm trọng hay ít nghiêm trọng của từng loại tội phạm cụ thể. Mức độ nghiêm trọng của tội phạm càng cao thì hình phạt áp dụng với tội phạm đó càng nghiêm khắc, thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật. Trong thực tế xét xử các vụ án hình sự, chỉ cần thông qua loại và mức hình phạt được TAND áp dụng với tội phạm đó ta có thể biết được tính chất của tội phạm.
Trong BLTTHS có phân định thẩm quyền xét xử các vụ án hình sự thành các cấp sau đây: TAND quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (gọi chung là TAND cấp huyện) và TAQS khu vực; TAND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (gọi tắt là TAND cấp tỉnh) và TAQS quân khu, quân chủng; TANDTC và TAQS Trung ương có chung thẩm quyền xét xử các vụ án hình sự theo vụ việc.
- Thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân cấp huyện
Nghị quyết số 08/NQ-TW về “Một số nhiệm vụ trọng tâm của công tác tư pháp trong thời gian tới” ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng nêu rõ: “Khẩn trương chuẩn bị tốt điều kiện để thực hiện việc tăng thẩm quyền cho Tòa án cấp huyện…” (điểm c khoản 2 mục B – Một số nhiệm vụ trọng tâm của công tác tư pháp trong thời gian tới).
Trên cơ sở này, BLTTHS năm 2003 có quy định về thẩm quyền xét xử của TAND các cấp. Theo đó, thẩm quyền của TAND cấp huyện được quy định theo hướng mở rộng: Luận văn: Thực tiễn pháp luật về thẩm quyền xét xử sơ thẩm.
Tòa án nhân dân cấp huyện và Tòa án quân sự khu vực xét xử sơ thẩm những vụ án hình sự về những tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng và tội phạm rất nghiêm trọng, trừ những tội sau đây:
- Các tội phạm xâm phạm an ninh quốc gia;
- Các tội phạm phá hoại hoà bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh
- Các tội phạm quy định tại Điều 93, 95, 96, 172, 216, 217, 218, 219, 221, 222, 224, 225, 226, 263, 293, 294, 295, 296, 322, 323 của BLHS [41, Điều 170, Khoản 1].
Như vậy, so với BLTTHS 1998 thì BLTTHS năm 2003 đã tăng thẩm quyền cho TAND cấp huyện được xét xử cả những tội phạm rất nghiêm trọng, là tội phạm gây nguy hại rất lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến 15 năm tù (trừ những tội phạm được quy định tại điểm a, b, c Điều 170 BLTTHS). Đây là chủ trương mới và rất kịp thời của Đảng và Nhà nước ta nhằm chuyên môn hóa hoạt động của TA các cấp, có ý nghĩa chiến lược trong quá trình cải cách tư pháp theo Nghị định 49/NĐ-TW của Bộ Chính trị và đường lối xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN ở nước ta.
Cũng theo quy định tại Điều 170 BLTTHS thì TAND cấp huyện không được xét xử các tội phạm xâm phạm an ninh quốc gia (quy định tại chương XI), tội phá hoại hoà bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh (quy định tại Chương XXIV) và các tội: Tội vi phạm quy định điều khiển tàu bay (Điều 216); tội cản trở giao thông đường không (Điều 217); tội đưa vào sử dụng phương tiện giao thông không đảm bảo an toàn (Điều 218); tội điều động hoặc giao cho người không đủ điều kiện điều khiển các phương tiện giao thông đường không (Điều 219); tội chiếm đoạt tàu bay, tàu thuỷ (Điều 221); tội tạo ra và lan truyền, phát tán các chương trình virút tin học (Điều 224); tội vi phạm các quy định về vận hành, khai thác và sử dụng máy tính điện tử (Điều 225); tội sử dụng trái phép thông tin trên mạng (Điều 226); tội đầu hàng địch (Điều 322); tội khai báo hoặc tự nguyện làm việc cho địch hoặc bị bắt làm tù binh (Điều 323). Sở dĩ Nhà nước chưa quy định việc xét xử các tội phạm trên cho TAND cấp huyện bởi việc xử lý những tội phạm này đòi hỏi phải có sự chỉ đạo, phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan điều tra, truy tố, xét xử và các cơ quan hữu quan khác. Hơn nữa, đó đều là những tội phạm mang tính chất phức tạp như xâm phạm đến những quan hệ xã hội có tầm quan trọng lớn, xâm phạm đến an ninh, chính trị, đối nội, đối ngoại của Nhà nước ta, vi phạm các quy định về biên giới quốc gia, bảo đảm an toàn giao thông đường hàng không, hàng hải, vi phạm bảo vệ bí mật Nhà nước… Hoặc những tội mà việc đánh giá chứng cứ, định tội danh khó khăn dễ gây nhầm lẫn sang tội đặc biệt nghiêm trọng khác. Một trong các căn cứ để các nhà làm luật xem xét quy định các tội phạm trên không được xét xử ở TAND cấp huyện là do trình độ nghiệp vụ của Thẩm phán cũng như cơ sở vật chất của cơ quan tiến hành tố tụng cấp huyện.
So với BLTTHS năm 1988, số tội được loại trừ không thuộc thẩm quyền xét xử của TAND cấp huyện trong BLTTHS năm 2003 được bổ sung hơn khá nhiều. BLTTHS năm 1988 chỉ quy định những tội được loại trừ bao gồm các tội xâm phạm đến an ninh quốc gia và 10 tội khác. Luận văn: Thực tiễn pháp luật về thẩm quyền xét xử sơ thẩm.
Ngoài ra, theo quy định tại Điều 50 BLHS năm 1999 (đã được sửa đổi bổ sung năm 2009), TA cấp huyện có thẩm quyền xét xử những vụ án hình sự mà bị cáo bị xét xử về nhiều tội mà mỗi tội được quy định trong BLHS có mức cao nhất của khung hình phạt là đến 15 năm tù, hoặc hình phạt khác nhẹ hơn (trừ những tội phạm quy định tại điểm a, b, c khoản 1 Điều 170 BLTTHS). Khi tổng hợp hình phạt đối với các vụ án hình sự trên thì TA cấp huyện có quyền tuyên hình phạt chung là trên 15 năm tù nhưng không được vượt quá 30 năm tù. Nếu bị cáo phạm nhiều tội mà có tội thuộc thẩm quyền xét xử của TAND cấp huyện, có tội thuộc thẩm quyền xét xử của TAND cấp tỉnh thì việc xét xử thuộc về thẩm quyền của TAND cấp tỉnh. Ví dụ: A phạm tội cố ý gây thương tích theo khoản 4 Điều 104 BLHS (thuộc thẩm quyền xét xử của TAND cấp tỉnh) đồng thời phạm tội trộm cắp tài sản theo khoản 1 Đ138 BLHS (thuộc thẩm quyền xét xử của TAND cấp huyện) thì vụ án A phạm tội cố ý gây thương tích và trộm cắp tài sản nêu trên sẽ thuộc thẩm quyền xét xử của TAND cấp tỉnh.
Nếu một người đang phải chấp hành hình phạt của một bản án nhưng lại bị đưa ra xét xử sơ thẩm về một tội phạm khác thuộc thẩm quyền xét xử của TAND cấp huyện thì vụ án này vẫn thuộc thẩm quyền của TAND cấp huyện, nhưng nếu người đó đang chấp hành bản án có hình phạt là tù chung thân hoặc tử hình mà chưa được giảm thời hạn chấp hành hình phạt lại bị đưa ra xét xử sơ thẩm về tội phạm khác thì việc xét xử đó lại thuộc thẩm quyền của TAND cấp tỉnh.
Với việc tăng thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ án hình sự cho TAND cấp huyện đã cơ bản khắc phục được tình trạng tồn đọng án ở TAND cấp tỉnh và tòa phúc thẩm TAND tối cao, phù hợp với các chủ trương của Đảng đã được nêu trong các Nghị quyết của Đảng. Đây cũng là một bước cải cách phù hợp với tình hình của ngành TA hiện nay khi trình độ chuyên môn của thẩm phán TAND cấp huyện đang từng bước được nâng cao, cơ sở vật chất cũng được hoàn thiện hơn và bảo đảm hơn cho việc xét xử. Việc tăng thẩm quyền xét xử cho các TA cấp huyện cũng phù hợp với thực tiễn xét xử và quy định pháp luật TTHS nhiều nước trên thế giới. Ở những nước này, TA được tổ chức theo cấp xét xử trong đó các TA cấp sơ thẩm là TA được xét xử sơ thẩm tất cả mọi tội phạm, các TA phúc thẩm chỉ xét xử phúc thẩm, TAND tối cao xét xử giám đốc thẩm.
Để thực hiện được quy định mới về thẩm quyền xét xử của TA cấp huyện trong điều kiện tổ chức bộ máy, cơ sở vật chất của TA cấp huyện chưa kịp thời đáp ứng được, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết số 24/2003/QH11 quyết định việc thi hành BLTTHS theo lộ trình đến ngày 1/7/2009. Theo đó: Luận văn: Thực tiễn pháp luật về thẩm quyền xét xử sơ thẩm.
Kể từ ngày BLTTHS năm 2003 có hiệu lực, những Tòa án nhân dân cấp huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, Tòa án quân sự có đủ điều kiện thực hiện thì giao thẩm quyền xét xử mới quy định tại khoản 1 Điều 170 BLTTHS. Những Tòa án nhân dân cấp huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, Tòa án quân sự chưa đủ điều kiện thì thực hiện thẩm quyền xét xử sơ thẩm những vụ án hình sự về tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng, trừ những tội quy định tại điểm a, b, c Điều 170 BLTTHS nhưng chậm nhất đến ngày 1/7/2009, tất cả các Tòa án nhân dân cấp huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, Tòa án quân sự khu vực thực hiện thống nhất thẩm quyền mới quy định tại khoản 1 Điều 170 BLTTHS năm 2003.
Như vậy, thẩm quyền của TA cấp huyện theo quy định tại Điều 170 BLTTHS năm 2003 đã được mở rộng hơn so với quy định tại Điều 145 BLTTHS năm 1988. Đây là một chủ trương mới và rất kịp thời của Đảng và Nhà nước ta nhằm chuyên môn hóa hoạt động của các cấp TA và có ý nghĩa chiến lược trong quá trình cải cách tư pháp. Việc tăng thẩm quyền cho TA cấp huyện là một quy định đúng đắn, kịp thời, phù hợp với hoàn cảnh thực tế của đất nước nói chung và ngành tư pháp nói riêng.
- Thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân cấp tỉnh
Thẩm quyền xét xử của TAND cấp tỉnh được quy định tại khoản 2 Điều 170 BLTTHS quy định:“Toà án nhân dân cấp tỉnh và Toà án quân sự quân khu xét xử sơ thẩm những vụ án hình sự về những tội phạm không thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện và Tòa án quan sự khu vực hoặc những vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án cấp dưới mà mình lấy lên để xét xử”.
Như vậy, theo quy định này, TAND cấp tỉnh có thẩm quyền xét xử những tội phạm mà BLHS quy định hình phạt tù từ 15 năm trở lên; những tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, các tội xâm phạm an ninh quốc gia, các tội phá hoại hoà bình, chống loài người, tội phạm chiến tranh và các tội quy định tại các Điều 93, 95, 96, 172, 216, 217, 218, 219, 221, 222, 223, 225, 226, 263, 293, 294, 295, 296, 322 và 323 của BLHS năm 1999. Còn những vụ án thuộc thẩm quyền của tòa án cấp dưới mà TAND cấp tỉnh lấy lên để xét xử là những vụ án tuy có khung hình phạt dưới 15 năm tù nhưng do tính chất của vụ án có nhiều phức tạp nên để đảm bảo tính chính xác, sự thật khách quan của vụ án cũng như đảm bảo quyền và lợi ích của những người tham gia tố tụng, TAND cấp tỉnh lấy lên để xét xử. Tuy nhiên quy định này không nêu rõ những vụ án cụ thể như thế nào thì TAND cấp tỉnh lấy lên để xét xử.
Hiện nay, những vụ án thuộc thẩm quyền của TA cấp huyện mà TA cấp tỉnh lấy lên để xét xử vẫn được các cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện theo tinh thần của Thông tư liên ngành số 02/TTLN ngày 12/1/1989 của TANDTC, VKSNDTC – Bộ Tư pháp hướng dẫn thi hành một số quy định của BLTTHS năm 1988, bao gồm các vụ án sau:
Những vụ án có tính chất phức tạp (có nhiều tình tiết khó đánh giá thống nhất về tính chất vụ án hoặc liên quan đến nhiều cấp, nhiều ngành); Luận văn: Thực tiễn pháp luật về thẩm quyền xét xử sơ thẩm.
Ví dụ, đó có thể là những vụ án có nhiều đối tượng tham gia, có nhiều tình tiết định khung tăng nặng, phạm tội có tổ chức, phạm tội có tính chất chuyên nghiệp, côn đồ…Với những vụ án này, nếu để TAND cấp huyện xét xử có thể sẽ làm ảnh hưởng đến tính khách quan, kịp thời trong quá trình giải quyết vụ án (căn cứ vào chuyên môn nghiệp vụ của thẩm phán và cơ sở vật chất của TAND cấp huyện).
Những vụ án mà bị cáo là Thẩm phán, Kiểm sát viên, Sĩ quan công an, cán bộ lãnh đạo chủ chốt ở cấp huyện, người nước ngoài, người có chức sắc cao trong tôn giáo… Những vụ án này thường mang tính chất phức tạp, ảnh hưởng đến tính độc lập của thẩm phán do bị chi phối bởi nhiều yếu tố và đôi khi việc xét xử ở TAND cấp huyện sẽ diễn ra không khách quan.
Như vậy, khi có các vụ án thuộc vào trường hợp nêu trên thì CQĐT cấp huyện trao đổi với VKS cùng cấp và chuyển hồ sơ vụ án lên CQĐT cấp tỉnh để điều tra. Khi xác định vụ án thuộc trường hợp nêu trên mà VKS đã truy tố, xét xử ở TAND cấp huyện thì TAND cấp huyện trả hồ sơ lại cho VKSND cùng cấp để VKS chuyển hồ sơ lên VKS cấp trên để truy tố trước TAND cấp tỉnh.
Trong thực tiễn xét xử các vụ án hình sự còn có những bị cáo phạm nhiều tội. Đây là trường hợp một người thực hiện hai tội phạm trở lên, được BLHS định tội danh một cách độc lập và người phạm tội chưa bị xét xử về tội phạm nào trong số các tội phạm đó. Bị cáo phạm nhiều tội thuộc thẩm quyền của TA khác cấp là trường hợp bị cáo thực hiện hai tội phạm trở lên, trong đó có tội phạm thuộc thẩm quyền xét xử của TAND cấp huyện hoặc TAQS khu vực và tội phạm khác thuộc thẩm quyền xét xử của TAND cấp tỉnh hoặc TAQS cấp quân khu. Từ thực tế này, BLTTHS đã quy định thẩm quyền xét xử đối với bị cáo phạm nhiều tội của TA khác cấp. Theo đó, Điều 173, BLTTHS đã quy định cụ thể như sau: “Khi bị cáo phạm nhiều tội, trong đó có tội phạm thuộc thẩm quyền xét xử của Toà án cấp trên, thì Toà án cấp trên xét xử toàn bộ vụ án”.
Như vậy, việc phân tích các quy định của BLTTHS 2003 sẽ giúp chúng ta có được cái nhìn toàn diện về thẩm quyền xét xử theo sự việc của TAND các cấp. Từ đó có thể thấy: tính chất, đặc điểm của các vụ án hình sự cũng như hành vi, đối tượng thực hiện tội phạm…sẽ là căn cứ giúp chúng ta phân biệt thẩm quyền xét xử của TAND cấp huyện và thẩm quyền xét xử của TAND cấp tỉnh.
Những quy định về thẩm quyền xét xử của TA có lịch sử phát triển lâu dài và phát triển qua từng thời kỳ cũng với sự thay đổi của đất nước. Trong đó, thẩm quyền của TA cấp huyện không ngừng được mở rộng, TA cấp tỉnh được giảm bớt một phần công việc. Việc xét lại các bản án, quyết định đã có hiêu lực pháp luật của TA ngày càng được chú trọng.
Kế thừa và phát huy những các quy định của pháp luật TTHS trước đây, BLTTHS năm 2003 quy định về thẩm quyền của TA tương đối đầy đủ và đã khắc phục được những hạn chế, vướng mắc trong các văn bản pháp luật TTHS cũ. Việc tăng thẩm quyền cho TA cấp huyện, giảm tải khối lượng công việc cho TA cấp tỉnh đã góp phần khắc phục được tình trạng tồn đọng án.
TAND tối cao tập trung hơn vào công tác tổng kết kinh nghiệm xét xử và hướng dẫn công tác xét xử. Mặt khác, đã tiết kiệm chi phí cho hoạt động tố tụng và đảm bảo tốt hơn quyền tham gia tố tụng cho tổ chức và công dân.
- Thẩm quyền xét xử theo đối tượng Luận văn: Thực tiễn pháp luật về thẩm quyền xét xử sơ thẩm.
Theo từ điển giải thích thuật ngữ Luật học, thì thẩm quyền xét xử theo đối tượng là “thẩm quyền xét xử của Tòa án được xác định bởi đối tượng phạm tội” [64, tr. 223].
Thẩm quyền xét xử theo đối tượng là loại thẩm quyền được phân định giữa TAND với TAQS dựa trên tiêu chí là người phạm tội. BLTTHS không quy định loại thẩm quyền này, thẩm quyền xét xử theo đối tượng được phân định gián tiếp qua quy định về thẩm quyền xét xử của TAQS của Pháp lệnh tổ chức TAQS. Điều 3 Pháp lệnh tổ chức TAQS năm 2002 quy định:
Các Toà án quân sự có thẩm quyền xét xử những vụ án hình sự mà bị cáo là:
- Quân nhân tại ngũ, công chức, công nhân quốc phòng, quân nhân dự bị trong thời gian tập trung huấn luyện hoặc kiểm tra tình trạng sẵn sàng chiến đấu; dân quân tự vệ phối thuộc với quân đội trong chiến đấu, phục vụ chiến đấu và những người được trưng tập làm nhiệm vụ quân sự do các đơn vị quân đội trực tiếp quản lý;
- Những người không thuộc các đối tượng quy định tại khoản 1 Điều này mà phạm tội có liên quan đến bí mật quân sự hoặc gây thiệt hại cho quân đội.
Theo quy định tại khoản 1 Điều 3 Pháp lệnh tổ chức TAQS thì những vụ án hình sự mà người phạm tội là các đối tượng sau đây đều thuộc thẩm quyền xét xử của TAQS mà không phụ thuộc vào việc họ phạm tội gì và phạm tội ở đâu: Quân nhân tại ngũ bao gồm sĩ quan, hạ sĩ quan, binh sĩ và quân nhân chuyên nghiệp được quy định trong Luật nghĩa vụ quân sự, Luật sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam; Công chức quốc phòng bao gồm những công dân được tuyển dụng vào phục vụ trong quân đội hoặc từ sĩ quan chuyển sang và do các đơn vị doanh nghiệp quân đội trực tiếp quản lý theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức và Luật sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam; Công nhân quốc phòng bao gồm những công dân được tuyển dụng thuộc biên chế của các đơn vị doanh nghiệp quân đội, những công dân có hợp đồng lao động không xác định thời hạn trong các đơn vị, doanh nghiệp quân đội, nếu họ phạm tội khi đang thực hiện nhiệm vụ quốc phòng theo hợp đồng; Quân nhân dự bị trong thời gian tập trung huấn luyện, diễn tập hoặc kiểm tra tình trạng sẵn sàng động viên, tình trạng sẵn sàng chiến đấu theo quy định của pháp luật về lực lượng dự bị động viên; Dân quân tự vệ trong thời gian phối hợp với quân đội trong chiến đấu, phục vụ chiến đấu theo quy định của pháp luật về dân quân, tự vệ; Những người được trưng tập làm nhiệm vụ quân sự do các đơn vị quân đội trực tiếp quản lý, bao gồm những công dân do nhu cầu chiến đấu, phục vụ chiến đấu hoặc do nhiệm vụ quân sự khác được các đơn vị quân đội trưng tập và trực tiếp quản lý họ để đáp ứng các nhu cầu đó.
Bí mật quân sự được quy định tại khoản 2 Điều 3 Pháp lệnh tổ chức TAQS là bí mật của quân đội về an ninh quốc phòng được xác định là bí mật quân sự và được quy định trong các văn bản do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành; Gây thiệt hại cho quân đội được hiểu là gây thiệt hại đến tính mạng, sức khoẻ, tự do, danh dự, uy tín của những người được quy định tại khoản 1 Điều 3 của Pháp lệnh hoặc tài sản của những người này được quân đội cấp phát để thực hiện nhiệm vụ quân sự, gây thiệt hại đến tài sản, danh dự, uy tín của quân đội. Tài sản của quân đội là tài sản do quân đội quản lý, kể cả trường hợp quân đội giao tài sản đó cho dân quân tự vệ hoặc bất kỳ người nào khác quản lý, sử dụng để chiến đấu hoặc thực hiện nhiệm vụ quân sự. Cũng được coi là gây thiệt hại cho quân đội trong trường hợp người đang bị tạm giữ, tạm giam và đang chấp hành hình phạt tù trong nhà tạm giữ, tạm giam, trại giam do quân đội quản lý mà lại tiếp tục phạm tội.
Những người không còn phục vụ trong quân đội mà phát hiện tội phạm của họ được thực hiện trong thời gian phục vụ trong quân đội hoặc những người đang phục vụ trong quân đội mà phát hiện tội phạm mà họ thực hiện trước khi vào quân đội theo Điều 4 Pháp lệnh tổ chức TAQS thì TAQS xét xử những tội phạm có liên quan đến bí mật quân sự hoặc gây thiệt hại cho quân đội, những tội phạm khác do TAND xét xử. Luận văn: Thực tiễn pháp luật về thẩm quyền xét xử sơ thẩm.
Trường hợp trong cùng vụ án vừa có người phạm tội hoặc tội phạm thuộc thẩm quyền xét xử của TA quân sự, vừa có người phạm tội hoặc tội phạm thuộc thẩm quyền xét xử của TAND thì TAQS xét xử những người phạm tội và tội phạm thuộc thẩm quyền xét xử của mình theo quy định tại Điều 3 và Điều 4 Pháp lệnh tổ chức TAQS, người phạm tội và tội phạm khác thuộc thẩm quyền xét xử của TAND, cụ thể như sau:
Chỉ được tách vụ án để điều tra, truy tố, xét xử riêng, nếu việc tách đó không ảnh hưởng đến việc xác định sự thật khách quan, toàn diện của vụ án. Khi xét thấy cần tách vụ án để xét xử riêng, thì TAQS đã thụ lý vụ án phải trao đổi với VKS quân sự có nhiệm vụ thực hành quyền công tố tại phiên tòa đó. Nếu VKS quân sự thống nhất với ý kiến của TAQS, thì TAQS chuyển trả hồ sơ vụ án cho VKS quân sự để giải quyết theo thẩm quyền. Trường hợp VKS quân sự không thống nhất với ý kiến của TAQS, thì TAQS đã thụ lý vụ án phải xét xử toàn bộ vụ án.
Thẩm quyền xét xử người khác phạm tội có liên quan đến bí mật quân sự hoặc gây thiệt hại cho quân đội được xác định tùy từng trường hợp cụ thể. Nếu vụ án có những tình tiết cần điều tra liên quan đến bí mật quốc phòng như; địa điểm, thiết bị, kế hoạch quân sự… thì TAQS xét xử. Nếu có tranh chấp về thẩm quyền giữa TAND và TAQS thì Chánh án TAND tối cao xem xét và quyết định.
- Thẩm quyền xét xử theo lãnh thổ
Thẩm quyền theo lãnh thổ là sự phân định thẩm quyền xét xử căn cứ vào nơi tội phạm được thực hiện và nơi kết thúc điều tra. Thông thường, vụ án hình sự được xét xử ở TA nơi tội phạm thực hiện. Trong trường hợp tội phạm thực hiện ở nhiều nơi khác nhau hoặc không xác định được nơi thực hiện tội phạm thì TA có thẩm quyền xét xử là TA nơi kết thúc việc điều tra.
BLTTHS năm 2003 quy định cụ thể như sau: “Tòa án có thẩm quyền xét xử vụ án hình sự là Tòa án nơi tội phạm được thực hiện. Trong trường hợp tội phạm được thực hiện tại nhiều nơi khác nhau hoặc không xác định được nơi thực hiện tội phạm thì Tòa án có thẩm quyền xét xử là Tòa án nơi kết thúc việc điều tra”[41, Điều 171, Khoản 1].
Việc quy định cụ thể này đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc xét xử như đảm bảo sự có mặt của những người tham gia tố tụng, dễ dàng cho việc xem xét tại chỗ nơi xảy ra tội phạm và các vật chứng không thể đưa đến phiên tòa được.
Trường hợp bị cáo phạm tội ở nước ngoài, bị đưa về nước xét xử thì thẩm quyền xét xử của TAND được xác định theo khoản Điều 171 như sau: Luận văn: Thực tiễn pháp luật về thẩm quyền xét xử sơ thẩm.
Bị cáo phạm tội ở nước ngoài nếu xét xử ở Việt Nam thì do Tòa án nhân dân cấp tỉnh nơi cư trú cuối cùng của bị cáo ở trong nước xét xử. Nếu không xác định được nơi cư trú cuối cùng ở trong nước của bị cáo thì tuỳ trường hợp, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao ra quyết định giao cho Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội hoặc Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh xét xử.
Bị cáo phạm tội ở nước ngoài, nếu thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự thì do Tòa án quân sự cấp quân khu trở lên xét xử theo quyết định của Chánh án Tòa án quân sự Trung ương.
Như vậy, vụ án về các tội phạm xảy ra ở nước ngoài bị đưa về nước xét xử sẽ thuộc thẩm quyền của TA cấp tỉnh mà không phụ thuộc vào loại tội phạm được thực hiện. Bởi vì, chỉ có TA cấp tỉnh mới đủ điều kiện đảm bảo cho các hoạt động tố tụng ở nước ngoài, các quan hệ với các cơ quan tố tụng nước ngoài trong ủy thác hoạt động tư pháp, trong tương trợ hoạt động tư pháp, dẫn độ tội phạm…
Việc quy định thẩm quyền xét xử thuộc về TA nơi tội phạm được thực hiện nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ quan tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng. Các cơ quan tiến hành tố tụng sẽ tiết kiệm được nhiều thời gian hơn trong việc tiến hành các hoạt động điều tra; thu thập chứng cứ; triệu tập người làm chứng; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan…Mặt khác, việc xử lý vụ án tại nơi tội phạm được thực hiện đảm bảo tốt hơn sự có mặt của những người tham gia tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử.
Đối với những tội phạm xảy ra trên tàu bay hoặc tàu biển của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đang hoạt động ngoài không phận hoặc lãnh hải của Việt Nam.
- BLTTHS năm 2003 đã quy định:
Những tội phạm xảy ra trên tàu bay hoặc tàu biển của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đang hoạt động ngoài không phận hoặc lãnh hải Việt Nam thuộc thẩm quyền xét xử của Toà án Việt Nam, nơi có sân bay hoặc bến cảng trở về đầu tiên hoặc nơi tàu bay, tàu biển đó được đăng ký [41, Điều 172].
Theo quy định của pháp luật quốc tế thì tàu bay, tàu biển mang quốc tịch quốc gia nào, dù đang hoạt động ngoài không phận hoặc lãnh hải của quốc gia đó vẫn được coi là một bộ phận lãnh thổ quốc gia mà nó mang quốc tịch. Do vậy, tội phạm xảy ra trên tàu bay, tàu biển của Việt Nam đã rời khỏi không phận hoặc lãnh hải của Việt Nam vẫn là tội phạm thuộc thẩm quyền xét xử của TA Việt Nam. TA có thẩm quyền xét xử là TA nơi có sân bay, bến cảng mà tàu bay, tàu biển đó trở về đầu tiên ở trong nước hoặc TA nơi tàu bay, tàu biển đó được đăng ký. Tùy vào tội phạm đó là tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng hay tội phạm đặc biệt nghiêm trọng để xác định cấp TA xét xử là TA cấp huyện hay cấp tỉnh.
Trên cơ sở kế thừa các quy định của pháp luật trước đó và đã có sửa đổi, bổ sung, thẩm quyền xét xử theo lãnh thổ được quy định trong BLTTHS năm 2003 khá chặt chẽ và hợp lý, phù hợp với thực tiễn xét xử, giúp cho việc thực hiện đạt được hiệu quả cao hơn, các tranh chấp về thẩm quyền xét xử hoặc tình trạng TA đùn đẩy việc cho nhau được khắc phục về cơ bản.
Có thể nói, BLTTHS năm 2003 đã đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong sự phát triển các quy định của pháp luật về thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ án hình sự của TA, góp phần không nhỏ trong việc tăng cường hiệu quả của công cuộc đấu tranh phòng chống các loại tội phạm từ thực tiễn xét xử của TA. Luận văn: Thực tiễn pháp luật về thẩm quyền xét xử sơ thẩm.
2.1.4. Thẩm quyền xét xử theo pháp luật tố tụng hình sự năm 2015
Trong những năm qua Đảng và Nhà nước ta luôn chú trọng đến thẩm quyền xét xử của TA. Các chủ trương đường lối của Đảng và Nhà nước ta được thể hiện qua các văn kiện của Đảng lần thứ VI, VII,VIII, IX, X, XI. Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24 tháng 5 năm 2005 của Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương khóa IX về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 đã xác định: “Nhìn chung hệ thống pháp luật nước ta vẫn chưa đồng bộ, thiếu thống nhất, tính khả thi thấp, chậm đi vào cuộc sống, cơ chế xây dựng, sửa đổi pháp luật còn nhiều bất hợp lý, chưa được coi trọng đổi mới, hoàn thiện”; Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02 tháng 6 năm 2005 của Bộ Chính trị về Cải cách tư pháp đến năm 2020. Nghị quyết đã đề ra xây dựng nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công lý, từng bước hiện đại, phục vụ nhân dân, phụng sự Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; hoạt động tư pháp mà trọng tâm là hoạt động xét xử được tiến hành có hiệu quả và hiệu lực cao.
Để phù hợp với quan điểm đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước chúng ta cần hoàn thiện những quy định còn thiếu sót và không còn phù hợp của BLTTHS 2003 để khắc phục một phần nào những hạn chế các cơ quan áp dụng pháp luật đã mắc phải và để phù hợp với tình hình thực tế hiện nay. Góp phần hoàn thiện thẩm quyền xét xử của TA nói chung, thẩm quyền xét xử sơ thẩm của TA nói riêng.
Thực tiễn áp dụng pháp luật cũng cho thấy thẩm quyền xét xử của TA nói chung, thẩm quyền xét xử sơ thẩm của TA nói riêng còn tồn tại những hạn chế, bất cập cần phải được khắc phục, hoàn thiện để đảm bảo hiệu quả hiệu quả xét xử của TA.
Chính vì lẽ đó, BLTTHS năm 2015 ban hành vào ngày 27/11/2015 và có hiệu lực vào ngày 01/7/2016 cùng với Hiến pháp năm 2013, Luật tổ chức TAND năm 2014 quy định về thẩm quyền xét xử sơ thẩm như sau:
- Thẩm quyền xét xử theo vụ việc
Trên phương diện tổ chức trong hệ thống TA ở nước ta, TAND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương và TAQS khu vực (gọi chung là TA cấp huyện) là cấp xét xử thấp nhất chỉ có thẩm quyền xét xử sơ thẩm. TAND tỉnh, thành phố trực thực thuộc trung ương, TAQS cấp quân khu (gọi chung là TA cấp tỉnh) là TA cấp thứ hai và cũng là TA cấp cuối cùng có thẩm quyền xét xử sở thẩm. Vì vậy, thẩm quyền xét xử theo sự việc được nói tới ở đây chính là việc phân định thẩm quyền xét xử sơ thẩm giữa TA cấp huyện và TA cấp tỉnh. Luận văn: Thực tiễn pháp luật về thẩm quyền xét xử sơ thẩm.
- Thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện
Từ trước tới nay, TAND cấp huyện luôn được coi là cấp xét xử thấp nhất. Việc phân định thẩm quyền của TAND cấp huyện có ý nghĩa rất quan trọng việc xác định thẩm quyền của TA cấp tỉnh, TAND tối cao, TAND cấp cao. Do vậy, nếu thẩm quyền của TA cấp huyện được quy định hợp lý, chặt chẽ thì phần lớn tội phạm xảy ra sẽ được xử lý kịp thời, phát huy được tác dụng giáo dục, răn đe và góp phần bảo vệ trật tự xã hội. Theo từng giai đoạn lịch sử lập pháp và qua thực tiễn xét xử các vụ án hình sự ở nước ta cho thấy, thẩm quyền xét xử của TAND cấp huyện ngày càng mở rộng một cách hợp lý điều đó chứng tỏ rằng Tòa án cấp huyện đóng vai trò rất quan trọng trong hoạt động xét xử hình sự. Vì vậy, tại BLTTHS năm 2015 đã quy định:
Tòa án nhân dân cấp huyện và Tòa án quân sự khu vực xét xử sơ thẩm những vụ án hình sự về tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng và tội phạm rất nghiêm trọng, trừ những tội phạm:
- Các tội xâm phạm an ninh quốc gia;
- Các tội phá hoại hoà bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh;
- Các tội quy định tại các điều 123, 125, 126, 227, 277, 278, 279, 280, 282, 283, 284, 286, 287, 288, 337, 368, 369, 370, 371, 399 và 400 của Bộ luật hình sự;
Các tội phạm được thực hiện ở ngoài lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam [46, Điều 268, Khoản 1]
Theo quy định trên thì TAND huyện có thẩm quyền xét xử sơ thẩm những vụ án hình sự về những tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng và tội phạm rất nghiêm trọng (mà theo quy định của BLHS năm 2015 thì đó là các tội phạm mà khung hình phạt từ 15 năm tù trở xuống), trừ những tội phạm mà việc điều tra, truy tố, xét xử các tội phạm đó có khó khăn không phù hợp với năng lực hiện có của TAND cấp huyện cũng như các cơ quan bổ trợ khác do tính chất phức tạp của những loại tội này xâm phạm đến những quan hệ xã hội có tầm quan trọng lớn như xâm phạm đến an ninh quốc gia, phá hoại hoà bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh, xâm phạm đến tính mạng người khác, vi phạm các quy định về bảo vệ tài nguyên quốc gia, về bảo đảm an toàn giao thông hàng không, hàng hải, về bảo vệ bí mật Nhà nước, về sử dụng thông tin trên mạng hoặc xâm phạm các hoạt động tư pháp và xâm phạm nghĩa vụ trách nhiệm quân nhân.
Nếu một điều luật có nhiều khoản thì TAND cấp huyện có thẩm quyền xét xử đối với các khoản thuộc loại tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng và tội phạm rất nghiêm trọng trừ những tội phạm quy định tại các điểm a, b, c, d khoản 1 Điều 268 BLTTHS không kể đó là khoản nào trong điều luật đó. Luận văn: Thực tiễn pháp luật về thẩm quyền xét xử sơ thẩm.
TAND cấp huyện có thẩm quyền xét xử cùng một lần cùng một người phạm nhiều tội nếu các tội đó đều thuộc loại tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng và tội phạm rất nghiêm trọng trừ các tội phạm quy định tại các điểm a, b, c, d khoản 1 Điều 268 Bộ luật TTHS.
Trong trường hợp một người đang chấp hành hình phạt theo bản án của bất cứ TA cấp nào mà lại bị truy tố về tội thuộc thẩm quyền xét xử của TAND cấp huyện thì các TA đó cũng có thẩm quyền xét xử, trừ trường hợp người bị kết án đã bị tuyên án tử hình hoặc tù chung thân mà chưa được giảm thời hạn chấp hành hình phạt. Trong các trường hợp trên khi tổng hợp hình phạt tù có thời hạn, TAND cấp huyện có quyền quyết định hình phạt chung không đuợc vượt quá 30 năm tù. Như vậy, thẩm quyền của TAND cấp huyện so với BLTTHS năm 2003 thì ở BLTTHS năm 2015 không mở rộng thậm trí còn bị thu hẹp bởi vì BLTTHS năm 2003 không quy định đối với “Các tội phạm được thực hiện ở ngoài lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” không thuộc thẩm quyền xét xử của TAND cấp huyện như vậy ngầm hiểu nếu các tội được thực hiện ở ngoài lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có thể do cấp huyện xét xử. Tuy nhiên, thực tế những vụ án trên đều chuyển cho TA tỉnh xét xử. Nhưng với quy định không chặt chẽ như vậy sẽ dẫn đến nhiều cách hiểu khác nhau. Khắc phục những hạn chế trên BLTTHS năm 2015 quy định rõ ràng, chặt chẽ hơn.
- Thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân cấp tỉnh
Theo BLTTHS năm 2015 thì thẩm quyền của TAND cấp tỉnh được quy định tại khoản 2 Điều 268 theo đó: “Tòa án nhân dân cấp tỉnh và Tòa án quân sự cấp quân khu xét xử sơ thẩm những vụ án:
- Vụ án hình sự về các tội phạm không thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện và Tòa án quân sự khu vực;
- Vụ án hình sự có bị cáo, bị hại, đương sự ở nước ngoài hoặc tài sản có liên quan đến vụ án ở nước ngoài;
- Vụ án hình sự thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân cấp huyện và Tòa án quân sự khu vực nhưng có nhiều tình tiết phức tạp khó đánh giá, thống nhất về tính chất vụ án hoặc liên quan đến nhiều cấp, nhiều ngành; vụ án mà bị cáo là Thẩm phán , Kiểm sát viên, Điều tra viên, cán bộ lãnh đạo chủ chốt ở huyện , quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh , thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương, người có chức sắc trong tôn giáo hoặc có uy tín cao trong dân tộc ít người [46, Điều 268, khoản 2]. Luận văn: Thực tiễn pháp luật về thẩm quyền xét xử sơ thẩm.
Như vậy, TAND cấp tỉnh có thẩm quyền xét xử những vụ án hình sự về những tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, tức là những vụ án về những tội phạm mà BLHS năm 2015 quy định mức cao nhất của khung hình phạt trên 15 năm tù; những vụ án không thuộc thẩm quyền xét xử của TAND cấp huyện được quy định tại điểm a, b, c, d khoản 1 Điều` 268 BLTTHS; những án có bị cáo, bị hại, đương sự ở nước ngoài hoặc tài sản có liên quan đến vụ án ở nước ngoài; những vụ án theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 268 BLHTTHS. Như vậy, với quy định như trên cho thấy thẩm quyền xét xử sơ thẩm của TAND tỉnh cụ thể rõ ràng hơn, tranh chấp về thẩm quyền xét xử sơ thẩm của TAND cấp huyện và TAND cấp tỉnh khó xảy ra trong thực tiễn xét xử.
- Thẩm quyền theo lãnh thổ
Thẩm quyền xét xử theo lãnh thổ là sự phân định thẩm quyền xét xử vụ án hình sự theo dấu hiệu địa điểm thực hiện tội phạm hoặc địa điểm kết thúc việc điều tra vụ án. Thông thường vụ án hình sự được xét xử ở TA nơi tội phạm thực hiện. Trong trường hợp tội phạm được thực hiện ở nhiều nơi khác nhau hoặc không xác định được nơi thực hiện tội phạm thì TA có thẩm quyền xét xử là TA nơi kết thúc việc điều tra. Với quy định trên của BLTTHS năm 2015 không thay đổi so với quy định về thẩm quyền theo lãnh thổ của BLTTHS năm 2003.
- Hiện nay, thẩm quyền theo lãnh thổ của TA các cấp được quy định tại Điều 269 BLTTHS năm 2015.
Khoản 1 Điều 269 quy định: ” Tòa án có thẩm quyền xét xử vụ án hình sự là Tòa án nơi tội phạm được thực hiện. Trường hợp tội phạm được thực hiện tại nhiều nơi khác nhau hoặc không xác định được nơi thực hiện tội phạm thì Tòa án có thẩm quyền xét xử là Tòa án nơi kết thúc việc điều tra” [46]. Việc quy định thẩm quyền thuộc về TA nơi tội phạm được thực hiện là nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc xét xử như tạo điều kiện cho sự có mặt của những người tham gia tố tụng tại phiên toà, cho việc xem xét những vật chứng không thể đưa đến phiên toà được cũng như khi cần xem xét tại chỗ nơi xảy ra tội phạm. Nhưng không phải khi nào tội phạm cũng chỉ xảy ra tại một địa bàn cố định như các băng cướp giật gây án trên địa bàn liên tỉnh và cũng có những trường hợp không xác đinh được nơi tội phạm xảy ra do các điều kiện khách quan cũng như chủ quan khi đó việc quy định TA nơi kết thúc việc điều tra có thẩm quyền xét xử là hoàn toàn hợp lý.
- Trường hợp bị cáo phạm tội ở nước ngoài thì thẩm quyền của TAND được xác định theo BLTTHS năm 2015 quy định như sau: Luận văn: Thực tiễn pháp luật về thẩm quyền xét xử sơ thẩm.
Bị cáo phạm tội ở nước ngoài nếu xét xử ở Việt Nam thì do Tòa án nhân dân cấp tỉnh nơi cư trú cuối cùng của bị cáo ở trong nước xét xử. Nếu không xác định được nơi cư trú cuối cùng ở trong nước của bị cáo thì tùy trường hợp, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao ra quyết định giao cho Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội hoặc Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh hoặc Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng xét xử [46, Điều 269, Khoản 2].
Như vậy, vụ án về các tội phạm xảy ra ở nước ngoài bị đưa về nước xét xử sẽ thuộc thẩm quyền của TA cấp tỉnh mà không phụ thuộc vào loại tội phạm được thực hiện. Bởi vì, chỉ có TA cấp tỉnh mới có đủ điều kiện đảm cho các hoạt động tố tụng ở nước ngoài, các quan hệ với các cơ quan tố tụng nước ngoài trong ủy thác hoạt động tư pháp, trong tương trợ hoạt động tư pháp, trong dẫn độ tội phạm…
Việc quy định thẩm quyền xét xử thuộc về TA nơi tội phạm được thực hiện nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ quan tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng. Các cơ quan tiến hành tố tụng sẽ tiết kiệm được nhiều thời gian hơn trong việc tiến hành các hoạt động điều tra, thu thập chứng cứ, triệu tập người làm chứng hoặc những người liên quan trong vụ án. Mặt khác, việc xử lý vụ án tại nơi tội phạm được thực hiện cũng đảm bảo tốt hơn sự có mặt của những người tham gia tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử.
Đối với những tội phạm xảy ra trên tàu bay hoặc tàu biển của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đang hoạt động ngoài không phận hoặc lãnh hải của Việt Nam, Điều 270 BLTTHS quy định:
Những tội phạm xảy ra trên tàu bay hoặc tàu biển của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đang hoạt động ngoài không phận hoặc lãnh hải Việt Nam thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án Việt Nam, nơi có sân bay hoặc bến cảng trở về đầu tiên hoặc nơi tàu bay, tàu biển đó được đăng ký.
Theo quy định của pháp luật quốc tế thì tàu bay, tàu biển mang quốc tịch quốc gia nào, dù đang hoạt động ngoài không phận hoặc ngoài lãnh hải của quốc gia đó vẫn được coi là một bộ phận lãnh thổ quốc gia mà nó mang quốc tịch. Đây cũng là điểm mới so với BLTHS năm 2003. Do vậy, tội phạm xảy ra trên tàu bay, tàu biển của Việt Nam đã rời khỏi không phận hoặc ngoài lãnh hải của Việt Nam vẫn là tội phạm thuộc thẩm quyền xét xử của TA Việt Nam. TA có thẩm quyền xét xử là TA nơi có sân bay bến cảng mà tàu bay, tàu biển đó trở về đầu tiên ở trong nước hoặc TA nơi tàu bay, tàu biển đó được đăng ký. Tùy vào tội phạm đó là tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hay đặc biệt nghiêm trọng để xác định cấp TA xét xử là TA cấp huyện hay TA cấp tỉnh. Luận văn: Thực tiễn pháp luật về thẩm quyền xét xử sơ thẩm.
Trong thực tiễn xét xử các vụ án hình sự còn có những bị cáo phạm nhiều tội. Đây là trường hợp một người thực hiện hai tội phạm trở lên, được BLHS định tội danh một cách độc lập và người phạm tội chưa bị xét xử về tội phạm nào trong số các tội phạm đó. Bị cáo phạm nhiều tội thuộc thẩm quyền của TA khác cấp là trường hợp bị cáo thực hiện hai tội phạm trở lên, trong đó có tội phạm thuộc thẩm quyền xét xử của TAND cấp huyện hoặc TAQS khu vực và tội phạm khác thuộc thẩm quyền xét xử của TAND cấp tỉnh hoặc TAQS cấp quân khu. Từ thực tế này, BLTTHS đã quy định thẩm quyền xét xử đối với bị cáo phạm nhiều tội của TA khác cấp. Theo đó, Điều 271 BLTTHS năm 2015 đã quy định cụ thể như sau: “Khi bị cáo phạm nhiều tội, trong đó có tội phạm thuộc thẩm quyền xét xử của Toà án cấp trên, thì Toà án cấp trên xét xử toàn bộ vụ án” [46, Điều 271].
Như vậy, việc phân tích các quy định của BLTTHS năm 2015 sẽ giúp chúng ta có được cái nhìn toàn diện về thẩm quyền xét xử theo sự việc của TAND các cấp. Từ đó có thể thấy: tính chất, đặc điểm của các vụ án hình sự cũng như hành vi, đối tượng thực hiện tội phạm … sẽ là căn cứ giúp chúng ta phân biệt thẩm quyền xét xử của TAND cấp huyện và thẩm quyền xét xử của TAND cấp tỉnh.
- Thẩm quyền xét xử theo đối tượng
BLTTHS năm 2015 không có điều luật nào quy định loại thẩm quyền này mà thẩm quyền xét xử theo đối tượng được phân định gián tiếp quy định về thẩm quyền xét xử của TAQS trong Pháp lệnh tổ chức TAQS.
Điều 3 Pháp lệnh tổ chức TAQS năm 2002 quy định: “Các tòa án quân sự có thẩm quyền xét xử những vụ án hình sự mà bị cáo là:
- Quân nhân tại ngũ, công chức, công nhân quốc phòng, quân nhân dự bị trong thời gian tập trung huấn luyện hoặc kiểm tra tình trạng sẵn sàng chiến đấu; dân quân tự vệ phối thuộc với quân đội trong chiến đấu, phục vụ chiến đấu và những người được trưng tập là nhiệm vụ quân sự do các đơn vị quân đội quản lý trực tiếp.
- Những người không thuộc các đối tượng quy định tại khoản 1 Điều này mà phạm tội có liên quan đến bí mật quân sự hoặc gây thiệt hại cho Quân đội.
Để thực hiện đúng và thống nhất các quy định của Pháp lệnh tổ chức TAQS, Thông tư liên tịch số 01/2005 của TANDTC, VKSNDTC, Bộ Quốc phòng, Bộ Công an ngày 18/4/2005 đã hướng dẫn cụ thể về các đối tượng theo quy định tại Điều 3 Pháp lệnh như sau:
- Theo quy định tại khoản 1 Điều 3 của Pháp lệnh thì những vụ án hình sự mà người phạm tội là các đối tượng sau đây thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự không phụ thuộc vào việc họ phạm tội gì và phạm tội ở đâu:
- Quân nhân tại ngũ bao gồm sĩ quan, hạ sĩ quan, binh sĩ và quân nhân chuyên nghiệp được quy định trong Luật nghĩa vụ quân sự, Luật sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam; Luận văn: Thực tiễn pháp luật về thẩm quyền xét xử sơ thẩm.
- Công chức quốc phòng bao gồm những công dân được tuyển dụng vào phục vụ trong Quân đội hoặc từ sĩ quan chuyển sang và do các đơn vị doanh nghiệp quân đội trực tiếp quản lý theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức và Luật sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam;
- Công nhân quốc phòng bao gồm:
- Những công dân được tuyển dụng thuộc biên chế của các đơn vị, doanh nghiệp quân đội;
- Những công dân có hợp động lao động không xác định thời hạn trong các đơn vị, doanh nghiệp quân đội, nếu họ phạm tội khi đang thực hiện nhiệm vụ quốc phòng theo hợp đồng;
Quân nhân dự bị trong thời gian tập trung huấn luyện, diễn tập hoặc kiểm tra tình trạng sẵn sàng động viên, tình trạng sẵn sàng chiến đấu theo quy định của pháp luật về lực lượng dự bị động viên;
- e) Dân quân, tự vệ trong thời gian phối thuộc với Quân đội trong chiến đấu, phục vụ chiến đấu theo quy định của pháp luật về dân quân, tự vệ;
- g) Những người được trưng tập làm nhiệm vụ quân sự do các đơn vị quân đội trực tiếp quản lý bao gồm những công dân do nhu cầu chiến đấu, phục vụ chiến đấu hoặc do nhiệm vụ quân sự khác được các đơn vị quân đội trưng tập và trực tiếp quản lý họ để đáp ứng các nhu cầu đó”.
- Theo quy định tại khoản 2 Điều 3 của Pháp lệnh, những vụ án hình sự mà người phạm tội không thuộc các đối tượng quy định tại khoản 1 Điều 3 của Pháp lệnh chỉ thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự, nếu họ phạm tội có liên quan đến bí mật quân sự hoặc gây thiệt hại cho Quân đội, cụ thể là:
- Bí mật quân sự là bí mật của Quân đội bí mật về an ninh quốc phòng được xác định là bí mật quân sự và được quy định trong các văn bản do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành.
- Gây thiệt hại cho Quân đội là gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe, tự do, danh dự, nhân phẩm của những người quy định tại khoản 1 Điều 3 của Pháp lệnh hoặc tài sản của những người này được Quân đội cấp phát để thực hiện nhiệm vụ quân sự; gây thiệt hại đến tài sản, danh dự, uy tín của Quân đội. Tài sản của Quân đội là tài sản do Quân đội quản lý, sử dụng, kể cả trường hợp Quân đội giao tài sản đó cho dân quân, tự vệ hoặc bất kỳ người nào khác quản lý, sử dụng để chiến đấu, phục vụ chiến đấu hoặc thực hiện nhiệm vụ quân sự. Cũng được coi là gây thiệt hại cho Quân đội trong trường hợp người đang bị tạm giữ, tạm giam và chấp hành hình phạt tù trong nhà tạm giữ, trại tạm giam, trại giam do Quân đội quản lý mà lại tiếp tục phạm tội. Luận văn: Thực tiễn pháp luật về thẩm quyền xét xử sơ thẩm.
Tại Điều 4 của Pháp lệnh cũng quy định: Đối với những người không còn phục vụ trong Quân đội mà phát hiện hành vi phạm tội của họ đã được thực hiện trong thời gian phục vụ trong Quân đội hoặc những người đang phục vụ trong Quân đội mà phát hiện hành vi phạm tội của họ đã được thực hiện trước khi vào Quân đội, thì TAQS xét xử những tội phạm có liên quan đến bí mật quân sự hoặc gây thiệt hại cho Quân đội; những tội phạm khác do TAND xét xử.
Trong trường hợp vụ án vừa có bị cáo hoặc tội phạm thuộc thẩm quyền xét xử của TAQS, vừa có bị cáo hoặc tội phạm thuộc thẩm quyền xét xử của TAND thì thẩm quyền xét xử được thực hiện như sau:
Trong trường hợp có thể tách vụ án thì TAQS xét xử những bị cáo và tội phạm theo quy định tại khoản 1 Điều 3 và Điều 4 của Pháp lệnh này; những bị cáo và tội phạm khác thuộc thẩm quyền xét xử của TAND; trong trường hợp không thể tách vụ án thì TAQS xét xử toàn bộ vụ án (Điều 5 Pháp lệnh tổ chức TAQS năm 2002). Tuy nhiên, chỉ được tách vụ án để điều tra, truy tố, xét xử riêng, nếu việc tách đó không làm ảnh hưởng đến việc xác định sự thật khách quan, toàn diện của vụ án. Khi xét thấy cần tách vụ án để xét xử riêng, thì TAQS đã thụ lý vụ án phải trao đổi với VKS quân sự có nhiệm vụ thực hành quyền công tố tại phiên tòa đó. Nếu VKS quân sự thống nhất với ý kiến của TAQS thì chuyển trả hồ sơ cho VKS quân sự để giải quyết theo thẩm quyền. Trường hợp Viện kiểm sát quân sự không thống nhất với ý kiến của TAQS thì TAQS đã thụ lý vụ án phải xét xử toàn bộ vụ án.
Thẩm quyền xét xử người khác phạm tội có liên quan đến bí mật quân sự hoặc gây thiệt hại cho quân đội được xác định tùy từng trường hợp cụ thể. Nếu vụ án có những tình tiết cần điều tra liên quan đến bí mật quốc phòng như địa điểm, thiết bị, kế hoạch quân sự…thì TAQS đã thụ lý vụ án phải xét xử toàn bộ vụ án.
Thẩm quyền xét xử người khác phạm tội có liên quan đến bí mật quân sự hoặc gây thiệt hại cho quân đội được xác định tùy từng trường hợp cụ thể. Nếu vụ án có những tình tiết cần điều tra liên quan đến bí mật quốc phòng như địa điểm, thiết bị, kế hoạch quân sự… thì để TAQS xét xử. Những việc phạm tội khác, TAQS có thể chuyển vụ án cho TAND. Nếu có tranh chấp về thẩm quyền giữa TAND và TAQS thì Chánh án TANDTC xem xét và quyết định.
Như vậy, có thể thấy thẩm quyền xét xử TAND theo quy định của BLTTHS năm 2015 có thẩm quyền rộng hơn, xét xử hầu hết các đối tượng phạm tội, trừ những đối tượng thuộc thẩm quyền xét xử của TAQS đã được quy định trong Pháp lệnh tổ chức TAQS năm 2002.
BLTTHS năm 2015 ra đời đã đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong sự phát triển các quy định của pháp luật về thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ án hình sự của TA, góp phần không nhỏ trong việc tăng cường hiệu quả của công cuộc đấu tranh phòng chống các loại tội phạm từ thực tiễn xét xử của TA.
2.2. Thực tiễn áp dụng thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Tòa án nhân dân trên địa bàn tỉnh Hà Giang Luận văn: Thực tiễn pháp luật về thẩm quyền xét xử sơ thẩm.
2.2.1. Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên của Hà Giang
Hà Giang là tỉnh vùng cao biên giới cực bắc của Tổ quốc, có vị trí chiến lược trọng yếu về An ninh Quốc gia, nơi tập trung chủ yếu dân tộc thiểu số sinh sống, có trên 277km đường biên giới kéo dài trên 34xã/7huyện biên giới; có một cặp cửa khẩu quốc tế Thanh Thủy (Việt Nam) – Thiên Bảo (Trung Quốc) và nhiều cặp cửa khẩu phụ, lối mở, đường mòn qua lại biên giới; Phía Bắc và Tây tiếp giáp với nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa; phía Đông giáp tỉnh Cao Bằng; phía Nam giáp tỉnh Tuyên Quang; phía Tây và Tây Nam giáp tỉnh Lào Cai và Yên Bái.
Hà Giang có diện tích tự nhiên là 7.884,37 km2, trong đó theo đường chim bay, chỗ rộng nhất từ tây sang đông dài 115 km và từ Bắc xuống Nam dài 137 km. Tại điểm cực Bắc của lãnh thổ Hà Giang, cũng là điểm cực Bắc của Tổ quốc, cách Lũng Cú chừng 3 km về phía Đông, có vĩ độ 23013’00”; điểm cực Tây cách Xín Mần khoảng 10 km về phía Tây nam, có kinh độ l04024’05”; mỏm cực Đông cách Mèo Vạc 16 km về phía Đông – Đông Nam có kinh độ l05030’04”.
Hà Giang có địa hình rất phức tạp và hiểm trở, phía Tây nằm trên cao nguyên Bắc Hà, có độ cao trung bình từ 1.200 đến 1.600m với nhiều dãy núi đồ sộ, cao nhất là đỉnh Tây Côn Lĩnh (2.431m). Phía Bắc của tỉnh là cao nguyên đá Đồng Văn, độ cao trung bình là 1.600m. Phía Đông một phần nằm trong vòng cung sông Gâm, chạy dài trên 100km từ bắc đến nam, nối liền với tỉnh Tuyên Quang. Do địa hình phần lớn là những dãy núi đá vôi hùng vĩ, nối nhau trùng điệp, xen lẫn với núi là những thung lũng và những dải đất hẹp. Vì thế, hệ thống đường giao thông đi lại ở đây gặp nhiều khó khăn, đường nhỏ, hẹp và dốc. Khí hậu ở Hà Giang về cơ bản thuộc vùng nhiệt đới gió mùa. ở các huyện vùng cao phía Bắc khí hậu rất khắc nghiệt, số ngày mưa và ngày giá lạnh chiếm phần lớn thời gian trong năm. Cấu trúc địa hình đã tạo ra cho Hà Giang có nhiều sông, suối, hồ phục vụ cho đời sống dân cư và tưới tiêu đồng ruộng. Sông ở Hà Giang có độ nông, sâu không đều, độ dốc lớn, nhiều thác ghềnh, không thuận lợi cho giao thông đường thuỷ, đáp ứng được nhu cầu sinh hoạt và sản xuất nông nghiệp của dân cư trong tỉnh. Tuy nhiên, do sự phân bố không đều nên vùng cao núi đá phía Bắc của tỉnh rất ít sông suối, hàng năm vào mùa khô thường thiếu nước nghiêm trọng. Với đặc điểm tự nhiên như vậy, nhưng Hà Giang vẫn là vùng đất giàu tiềm năng thiên nhiên, là chỗ dựa vững chắc cho đời sống kinh tế đồng bào dân tộc thiểu số [73].
2.2.2. Tình hình kinh tế – xã hội Luận văn: Thực tiễn pháp luật về thẩm quyền xét xử sơ thẩm.
- Tình hình kinh tế
Hà Giang là một tỉnh miền núi cao điều kiện tự nhiên không thuận lợi, những yếu tố kìm hãm, cản trở sự phát triển kinh tế – xã hội còn rất lớn. Mặc dù vậy, hơn 20 năm đổi mới, đặc biệt từ khi chia cắt tỉnh (1991), Đảng bộ nhân dân các dân tộc trong tỉnh đã lập được nhiều thành tựu và phát triển kinh tế. Đời sống nhân dân từng bước được ổn định, cải thiện; chuyển dịch cơ cấu kinh tế đúng hướng; kết cấu hạ tầng được quan tâm xây dựng và tu bổ.
Hà Giang là một trong những tỉnh nghèo nhất trong cả nước (tỷ lệ hộ nghèo năm theo điều tra năm 2014 là 40,8%, trong đó người nghèo là NDTTS có 129.262 hộ = 272.885 khẩu chiếm 48,49%; hộ cận nghèo là NDTTS chiếm 15,83%), kinh tế chậm phát triển, sản xuất còn mang tính tự cung, tự cấp, sản xuất hàng hoá ở trình độ thấp. Tiến độ chuyển dịch cơ cấu cấy trồng, vật nuôi chậm phát triển. Sản xuất nông, lâm nghiệp chiếm tỷ trọng lớn (49%) còn mang tính độc canh… công nghiệp và dịch vụ chưa phát triển. Tổng sản phẩm bình quân đầu người 16,2 triệu đồng/người/năm (tăng 11,3% tương đương 1,65 triệu đồng). Tổng vốn đầu tư phát triển trên địa bàn ước 5.245,5 tỷ đồng, tăng 5,9% so với năm 2014. Nguồn thu ngân sách rất hạn hẹp và thấp, chưa đáp ứng nhu cầu chi hàng năm, phần lớn các nguồn chi của Hà Giang đều do ngân sách Trung ương trợ cấp. Kết cấu hạ tầng (giao thông, y tế, giáo dục…) còn yếu kém, chưa phát triển, nhất là các huyện vùng sâu, vùng xa, đường xá đi lại khó khăn, trường học, trạm xá, trang thiết bị còn thô sơ, thiếu thốn [62].
- Tình hình văn hoá – xã hội
Trong sự nghiệp đổi mới với sự quyết tâm cao, dưới sự tận tình giúp đỡ của Trung ương, Đảng bộ, quân và nhân dân tỉnh Hà Giang đã vượt qua những khó khăn thử thách, từng bước vươn lên đạt những thành tựu đáng khích lệ trên nhiều mặt của đời sống kinh tế – chính trị, văn hoá – xã hội. Riêng công tác xoá mù chữ đạt tỷ lệ (100%) đến nay đã xoá xong lớp học 3 ca. Tỷ lệ huy động trẻ em (từ 6 – 14 tuổi) đến trường đạt 100%. Đến nay 100% xã đã có đường giao thông, 23% số thôn bản có đường bê tông nông thôn, 45% số xã có kiên cố hoá kênh mương, có 195/195 xã phường, thị trấn và 100% số hộ trong toàn tỉnh có điện lưới Quốc gia, 195 xã, phường có điện thoại (chiếm 100%); tốc độ tăng trưởng GDP đạt 12,05%, giá trị sản xuất công nghiệp đạt 170 tỷ đồng, giá trị hàng hoá xuất khẩu và có tính chất xuất khẩu đạt 8.702,1 triệu USD. Thu ngân sách trên địa bàn đạt 160 tỷ đồng, tỷ lệ thu phát thanh đạt 97.5%, tỷ lệ phủ sóng truyền hình đạt 90%, giảm tỷ lệ đói nghèo 5% năm.
Các lĩnh vực văn hoá nghệ thuật, thể dục thể thao phát triển khá. Mức hưởng thụ văn hoá của nhân dân được nâng lên rõ rệt. Các giá trị văn hoá và truyền thống dân tộc được giữ vững, phát huy như các lễ hội: chợ tình Khâu Vai của người Mông, lễ hội Lồng Tồng của người Tày và những nét văn hoá đạc sắc của các dân tộc như: hát Then của dân tộc Tày, hát Kháng của người Dao, các điệu nhảy, múa của người Mông…được tổ chức thường xuyên, bảo tồn. Mặc dù đời sống văn hoá của người dân tộc thiểu số ngày được nâng cao, song vẫn còn khoảng cách khá xa về mức sống giữa vùng sâu, vùng xa với vùng thấp, giữa nông thôn với thành thị, giữa Hà Giang với cả nước, trình độ dân trí trong tỉnh chưa đồng đều; các dịch vụ y tế, giáo dục chất lượng nhìn chung chưa cao [62]. Luận văn: Thực tiễn pháp luật về thẩm quyền xét xử sơ thẩm.
2.2.3. Khái quát về tổ chức, bộ máy hoạt động của Tòa án nhân ở dân tỉnh Hà Giang
TAND tỉnh Hà Giang được tái lập vào năm 1991 khi tỉnh Hà Giang được tái thành lập, từ đó đến nay TAND tỉnh Hà Giang đã cùng các cơ quan bảo vệ pháp luật của tỉnh có nhiều đóng góp vào việc đảm bảo an ninh chính trị trật tự an toàn xã hội, thúc đẩy sự phát triển kinh tế của tỉnh Hà Giang. Theo Luật tổ chức TAND năm 2014, TAND ở tỉnh Hà Giang trực thuộc và chịu sự chỉ đạo thống nhất của Chánh án TAND tối cao; cơ cấu tổ chức gồm 11 Tòa các huyện, thành phố và 03 phòng trực thuộc TAND tỉnh.
Tổng số cán bộ công chức ngành TAND tỉnh Hà Giang hiện có 136/137 trong đó đơn vị TAND cấp tỉnh 47/47 người (gồm 10 Thẩm phán, 16 Thẩm tra viên, 10 Thư ký, chức danh khác 11); Trình độ đại học 38/47; Trung cấp, cao đẳng 6; Sơ cấp 3. Về 11 đơn vị TAND cấp huyện thành phố 89 người (Thẩm phán 34, Thư ký 30, Thẩm tra viên 11, chức danh khác 14). Nhìn chung đội ngũ cán bộ, Đảng viên có mặt bằng tương đối đồng đều về trình độ chuyên môn Trình độ cao học 01, Trình độ đại học 111/136, về trình độ chính trị 39/136. Đội ngũ cán bộ đảng viên của ngành luôn có ý thức chấp hành tốt Điều lệ Đảng, pháp luật Nhà nước và các Quy chế làm việc của cơ quan, có lối sống lành mạnh trung thực luôn có lập trường, tư tưởng vững vàng, kiên định với chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước.
Về tổ chức Đảng, chính quyền và các đoàn thể: Đảng bộ TAND tỉnh Hà Giang hiện nay có 05 chi bộ, tổng số đảng viên là 38/47 người, đội ngũ Đảng viên có trình độ chuyên môn Cao học 1/38, Đại học 34/38, Trung cấp 2/38 người. Trình độ lý luận chính trị Cử nhân 4/38, Cao cấp 8/38 Trung cấp 3/38. Các tổ chức Đảng, công đoàn, chính quyền đều hoạt động theo quy chế làm việc đã được xây dựng, hàng năm Đảng bộ, các chi bộ, công đoàn chính quyền đều đạt tiêu chuẩn trong sạch vững mạnh hoàn thành tốt nhiệm vụ [53]. Luận văn: Thực tiễn pháp luật về thẩm quyền xét xử sơ thẩm.
Thực hiện Nghị quyết 49-NQ/TW ngày 02/06/2005 của Bộ chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, trong những năm qua, được sự quan tâm của TAND tối cao, của cấp uỷ địa phương, TAND tỉnh Hà Giang đã quan tâm đến công tác đào tạo nâng cao năng lực chuyên môn, nghiệp vụ, trình độ lý luận chính trị cho cán bộ TA. Tuy nhiên, so với yêu cầu nhiệm vụ mới, lực lượng Thẩm phán vẫn còn chưa đáp ứng được yêu cầu đặt ra, trình độ, năng lực của Thẩm phán chưa đáp ứng được yêu cầu cải cách tư pháp, kiến thức quản lý nhà nước, kiến thức hội nhập kinh tế quốc tế, tin học, ngoại ngữ còn nhiều bất cập…
2.2.4. Những kết quả việc thực hiện thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân
Trong những năm gần đây, từ khi áp dụng các quy định của BLTTHS năm 2003 về thẩm quyền xét xử của TAND, TAND tỉnh Hà Giang đã đạt được những kết quả nhất định. Mặc dù tình hình tội phạm ngày càng phức tạp và có xu hướng tăng lên, số lượng vụ án mà TA thụ lý không giảm nhưng tốc độ giải quyết vụ án hình sự ở các cấp xét xử được đẩy mạnh hơn, hạn chế thấp nhất lượng án tồn đọng. Đặc biệt, chất lượng xét xử ngày càng được nâng cao so với thời gian trước, số vụ án bị sửa và hủy do lỗi chủ quan cũng chiếm tỷ lệ thấp. Nghiên cứu thực tiễn xét xử tại TAND tỉnh Hà Giang, chúng tôi thấy rằng số lượng các vụ án hình sự được đưa ra xét xử sơ thẩm ngày càng tăng và chiếm phần lớn số vụ án hình sự toàn ngành TA phải xét xử theo các cấp xét xử. Cụ thể: năm 2011, công tác xét xử và giải quyết các vụ án hình sự, TAND tỉnh Hà Giang đã thụ lý và xét xử 246 vụ, trong đó xét xử sơ thẩm là 225 vụ (chiếm 91,5%); năm 2012 thụ lý và xét xử 260 vụ, trong đó xét xử sơ thẩm là 245 vụ (chiếm 94,2%); năm 2013 thụ lý và xét xử 323 vụ, xét xử sơ thẩm là 304 vụ (chiếm 94,1%); năm 2014 thụ lý và xét xử 355 vụ, xét xử sơ thẩm là 331 vụ (chiếm 93,2%); năm 2015 thụ lý và xét xử 386 vụ, xét xử sơ thẩm là 350 vụ (chiếm 90,8%). Qua các năm, tỷ lệ số vụ án được đưa ra xét xử sơ thẩm ngày một nhiều hơn. Nếu như năm 2011 chỉ có 245 vụ thì đến năm 2015 xét xử sơ thẩm là 350 vụ (tăng 105 vụ so với năm 2010). Chúng ta có thể thấy rõ điều đó qua bảng số liệu sau:
- Bảng 2.1: Tình hình xét xử của Tòa án các cấp tại tỉnh Hà Giang (2011 – 2015)
Theo bảng số liệu trên, TA cấp sơ thẩm đã giải quyết, xét xử được rất nhiều vụ án hình sự, năm nào cũng giải quyết, xét xử được phần lớn vụ án của toàn ngành. Bên cạnh đó, số vụ án xét xử phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm chiếm tỷ lệ nhỏ: năm 2011 có 21 vụ (chiếm tỷ lệ 8,5%); năm 2014 có 36 vụ (chiếm tỷ lệ 9,32%). Số vụ án bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm chiếm tỷ lệ nhỏ. Năm 2011, số vụ án được đưa ra xét xử sơ thẩm là 225 vụ, nhưng chỉ có 21 vụ bị kháng cáo, kháng nghị (chiếm tỷ lệ 8,5%). Những năm tiếp theo tỷ lệ này có sự thay đổi theo xu hướng có năm giảm, có năm tăng giảm qua các năm, cụ thể: năm 2012 tỷ lệ bị kháng cáo, kháng nghị là 5,8% (so với năm 2011 giảm 2,7%); năm 2013 tỷ lệ bị kháng cáo, kháng nghị là 5,9% (tăng 1% so với năm 2012); năm 2014 tỷ lệ bị kháng cáo, kháng nghị là 6,8% (tăng 0,9%) và năm 2015 là 9,32%. Như vậy, so với năm 2011 thì sau 5 năm, năm 2015 tỷ lệ các vụ án bị kháng cáo, kháng nghị tăng (0,82%).
- Bảng 2.2: Tình hình xét xử sơ thẩm án hình sự của Tòa án hai cấp tỉnh Hà Giang từ 2011 – 2015
Như vậy, có thể thấy rằng, tỷ lệ số vụ án bị kháng cáo, kháng nghị qua các năm chiếm tỷ lệ nhỏ. Năm 2011 là 9,3%; năm 2012 chỉ còn 5,7% (giảm 3,6%). Tuy nhiên, đến năm 2013 lượng án tăng lên thì số vụ án kháng cáo, kháng nghị cũng tăng cụ thể: năm 2013, án thụ lý sơ thẩm là 305 vụ có 19 vụ án có kháng cáo, kháng nghị (tỷ lệ 6,2%) và đến năm 2014, án thụ lý sơ thẩm có 333 vụ có 24 vụ kháng cáo, kháng nghị (tỷ lệ 7,2%); năm 2015, án kháng cáo, kháng nghị là 36 vụ (tỷ lệ 10,2%). Thực tế chất lượng xét xử của ngành TA Hà Giang ngày một nâng lên rõ rệt, trình độ chuyên môn nghiệp vụ của các Thẩm phán ngày càng được hoàn thiện, các vụ án được xét xử đúng người, đúng tội đúng pháp luật, hạn chế tối đa được tình trạng áp dụng pháp luật chưa đúng. Trong các bản án bị kháng cáo, kháng nghị thì bản án chủ yếu là án bị kháng cáo. Với đặc điểm án xét xử của ngành TAND tỉnh Hà Giang chủ yếu là người dân tộc thiểu số chiếm trên 85% trong tổng số án xét xử. Tỷ lệ kháng cáo do một vài nguyên nhân: trình độ nhận thức pháp luật của người dân hạn chế, đặc biệt đồng bảo dân tộc thiểu số sống ở vùng sâu vùng xa, vùng kinh tế đặc biệt khó khăn. Khi nhận được bản án họ cho rằng họ bị oan, hành vi của họ chỉ bị xử lý bằng quan hệ pháp luật khác chứ không bị xử lý về hình sự. Ví dụ: ở các làng, bản vùng sâu, vùng xa họ lấy nhau rất sớm mặc dù đã được tuyên truyền pháp luật nhưng ở độ tuổi 14 đến 15, họ về chung sống với nhau như vợ, chồng đến khi đủ tuổi mới đi đăng ký kết hôn. Tuy nhiên, khi xảy ra mâu thuẫn thì họ thường bị tố cáo đến Cơ quan có thẩm quyền giải quyết. Điều này lý giải vì sao tội “Giao cấu với trẻ em” theo quy định tại Điều 115 BLHS ngày một tăng ở Hà Giang. Khi bị xét xử về tội danh nêu trên thì họ cho rằng họ không phạm tội vì họ đã được hai bên gia đình đồng ý, thậm chí chính quyền biết nên có bản án là kháng cáo kêu oan hoặc xin giảm nhẹ hình phạt. Tiếp đó, do đặc điểm tâm lý của người dân tộc thiểu số dễ tin người vì vậy một số phần tử xấu lợi dụng xúi bẩy họ. Khi họ bị TA cấp sơ thẩm xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật vẫn làm đơn kháng cáo kêu oan… Đây là một số nguyên nhân mà bản án sơ thẩm bị kháng cáo ngày một tăng nhưng hầu hết TA cấp Phúc thẩm đều y án sơ thẩm, rất ít bản án bị cải sửa hay hủy án. Những bản án hủy chủ yếu vi phạm nghiêm trọng về thủ tục tố tụng; còn bản án cải sửa chủ yếu theo hướng là giảm nhẹ hình phạt hoặc tăng phần bồi thường trách nhiệm dân sự. Luận văn: Thực tiễn pháp luật về thẩm quyền xét xử sơ thẩm.
Ví dụ 1: Lục Đình Thức phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại khoản 3 Điều 104 BLHS. Theo nội dung cáo trạng của VKSND huyện Vị Xuyên thì: vào khoảng 16 giờ ngày 10/10/2014 tại nhà Lục Văn Tân, trú tại thôn Lang Lầu, xã Phú Linh, huyện Vị Xuyên, Lục Văn Tân, Lục Văn Kiều, Lục Văn Chính, Lục Đình Thức, Lý Văn Dũng, Lục Văn Trình và Lục Ngọc Minh cùng nhau tham gia đánh bạc bằng hình thức chơi xóc đĩa được thua bằng tiền. Quá trình chơi đánh bạc giữa ông Kiều và ông Tân xảy ra mâu thuẫn, ông Tân dùng dao chém vào mặt ông Kiều, Thức thấy bố bị đánh nên vào can ngăn và giằng co với ông Tân, trong khi giằng co Thức sờ lên mũi thấy chảy máu. Bực tức Thức dùng tay phải nhặt một đoạn củi gỗ (chiều dài 47cm, đường kính 06cm, một đầu đã bị đốt cháy thành than, một đầu vát nhọn) trong bếp củi nhà ông Tân vụt 03 phát vào người ông Tân. Bà Tiên thấy ông Tân bị đánh nên đã vào can ngăn, tay phải cầm 01 thanh tre (đũa cả) dài 70cm, rộng 05cm vụt 02 phát vào lưng ông Kiều. Khi được bà Tiên đẩy ra, Thức quay lại thì thấy ông Lục Ngọc Minh (anh trai Tân) tiến về phía Thức, cách thức 40cm, tư thế đối diện. Tưởng ông Minh vào giúp ông Tân đánh mình nên đang cầm sẵn đoạn củi gỗ trên tay, Thức vụt 01 phát về phía ông Minh với mục đích ngăn cản không cho ông Minh đánh Thức, nhưng đã trúng vào khu vực bên trái đầu làm ông Minh bị chấn thương sọ não nặng: dập não, tụ máu ngoài màng cứng lớn vùng thái dương đỉnh trái, tụ máu trong não vùng thái dương chấm trái, vỡ xương vòm sọ vùng thái dương đỉnh trái theo Bản kết luận giám định pháp y tử thi số 115/TT-PYHG ngày 11/10/2014 của Trung tâm giám định pháp y tỉnh Hà Giang. Hậu quả, ông Minh chết nằm ngoài ý muốn của Thức.
Tại bản án số: 11/2015/HSST ngày 05/5/2015 của TAND huyện Vị Xuyên. Xét xử bị cáo Lục Đình Thức về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại khoản 3 Điều 104 BLHS. Áp dụng khoản 3 Điều 104, điểm b, p khoản 1 Điều 46 BLHS. Xử phạt bị cáo Thức từ 05 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt ngày 11/10/2014. Áp dụng Điều 42BLHS; Điều 605, Điều 610; khoản 2 Điều 612; khoản 2 Điều 305 BLDS.
Buộc bị cáo Thức bồi thường cho người đại diện gia đình bị hại bà Xuân Thị Hiệp tiền tổn thất về tinh thần (sau khi đã khấu trừ vào số tiền nhà bị cáo Thức bồi thường: 69.442.000đ). Số tiền bồi thường còn lại là: 19.008.000đ.
Buộc bị cáo Thức cấp dưỡng nuôi bà Lý Thị Ngần, sinh năm 1927 (mẹ đẻ ông Minh) số tiền 300.000đ/tháng tính từ ngày 11/10/2014 đến khi bà Ngần chết. Bà Hiệp là người nhận số tiền cấp dưỡng.
Buộc bị cáo Thức cấp dưỡng nuôi ông Lý Văn Chài, sinh năm 1954 bị tàn tật (chú ruột của ông Minh) là 300.000đ/tháng tính từ ngày 11/10/2014 đến khi ông Chài chết. Bà Hiệp là người nhận số tiền cấp dưỡng.
Bác một phần khoản tiền gia định bị hại đưa ra gồm: Tiền lương của ông Minh số tiền: 180.000.000đ; Tiền công, tiền ăn, tiền thầy cúng các loại: 54.323.000đ. Luận văn: Thực tiễn pháp luật về thẩm quyền xét xử sơ thẩm.
Sau khi nhận được bản án sơ thẩm của TAND huyện Vị Xuyên, đại diện hợp pháp của người bị hại kháng cáo với nội dung: đề nghị tăng hình phạt và mức bồi thường trách nhiệm dân sự đối với bị cáo Thức.
Ngày 08/8/2015, bản án số 09/2015 của TAND tỉnh Hà Giang giữ nguyên mức hình phạt đối với bị cáo Thức, tăng mức bồi thường thiệt hại trách nhiệm dân sự cho đại diện hợp pháp của bị hại với số tiền: 70.000.000 đ. Ví dụ 2: vụ Trần Thị Ánh Hồng cùng đồng bọn phạm tội: “Cố ý gây thương tích”. Theo nội dung Cáo trạng của VKND huyện Vị Xuyên: do trước đó nghi ngờ chị Nguyễn Thị Thao có quan hệ bất chính với anh Vũ Đức Giang (anh Giang là chồng của bị can Trần Thị Ánh Hồng, bố đẻ của bị can Vũ Thị Kim Yến) nên vào khoảng 10 giờ, 45 phút ngày 17/02/2014, tại sân nhà ông Nguyễn Trọng Bốn thuộc tổ 12 thị trấn Vị Xuyên, huyện Vị Xuyên, Trần Thị Ánh Hồng đã dùng phần gót giầy đánh nhiều phát về phía chị Thao, còn Vũ Thị Kim Yến dùng tay, chân để đánh đấm chị Thao (các bị can Yến, Hồng đều không xác định được đánh vào vị trí nào trên người chị Thao).
Hậu quả chị Thao bị rách môi trên và gãy hai răng cửa hàm dưới R3.1 và R4.1, được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa huyện Vị Xuyên.
Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 16/TgT ngày 25/3/2014 và Công văn số 20/CV-PY về việc tính riêng rẽ các tổn hại phần trăm sức khỏe của Trung tâm pháp y tỉnh Hà Giang kết luận và trả lời về tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định của chị Nguyễn Thị Thao là: 16% (sẹo phần mềm vùng mặt ảnh hưởng đến thẩm mỹ là: 15%; gẫy mất răng R3.1 và R4.1 đã lắp răng giả là: 0,75%).
Bản án số: 04/2015/HSST ngày 01/3/2015 của TAND huyện Vị Xuyên. Xét xử bị cáo: Trần Thị Ánh Hồng và đồng bọn về tội: “Cố ý gây thương tích” theo Điều 104 BLHS. Áp dụng khoản 2 Điều 104, điểm b, p khoản 1 Điều 46; Điều 53 BLHS. Xử phạt bị cáo Trần Thị Ánh Hồng 16 tháng tù.
Áp dụng khoản 2 Điều 104, điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 47, Điều 53; Điều 69; khoản 1 Điều 74; khoản 1, 2 Điều 60 BLHS. Xử phạt bị cáo Vũ Thị Kim Yến 10 tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 20 tháng.
Sau khi nhận được bản án sơ thẩm bị cáo Hồng kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Tại bản án số 08/2015/HSST ngày 20/7/2015, chấp nhận kháng cáo của bị cáo Hồng. Áp dụng khoản 2 Điều 104, điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 53; khoản 1, khoản 2 Điều 60 BLHS. Xử phạt bị cáo Trần Thị Ánh Hồng 16 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 32 tháng. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án phúc thẩm. Luận văn: Thực tiễn pháp luật về thẩm quyền xét xử sơ thẩm.
Qua số liệu trên và ví dụ chứng minh cho thấy, việc xét xử của TAND tỉnh Hà Giang đã phần nào đáp ứng được yêu cầu đấu tranh, phòng chống tội phạm của đất nước, đảm bảo không bỏ lọt tội phạm, không làm oan người vô tội…Các vụ án hình sự được đưa ra xét xử sơ thẩm tại tỉnh Hà Giang thường là những tội như: các tội xâm phạm sở hữu (chủ yếu là tội trộm cắp tài sản theo quy định tại Điều 138 BLHS); các tội xâm phạm trật tự (chủ yếu là tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng, quy định tại Điều 175 BLHS); tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự của con người (chủ yếu là tội giết người theo Điều 93 BLHS, tội cố ý gây thương tích theo Điều 104 BLHS; tội giao cấu với trẻ em, Điều 115 BLHS; đặc biệt Hà Giang là vùng giáp biên với Trung Quốc nên tội phạm mua bán người; tội mua bán trẻ em theo Điều 119, 120 xảy ra nhiều); các tội xâm phạm an toàn trật tự công cộng (chủ yếu là tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ, Điều 202 BLHS); các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế (ví dụ như; tội tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả, Điều 180 BLHS) hoặc tội phạm về ma túy (ví dụ tội tàng trữ, mua bán trái phép chất ma túy, Điều 194 BLHS). Những tội phạm khác trong 5 năm (2011 – 2015) xảy ra trên địa bàn tỉnh Hà Giang ít thậm chí có một số tội không xảy ra. Ví dụ: tội phạm về môi trường, tội phạm công nghệ cao…
Cũng theo bảng số liệu nêu trên, số vụ án các cấp còn tồn lại có sự thay đổi qua các năm, có năm không có án tồn đọng, có năm vẫn còn án tồn nhưng chiếm tỷ lệ rất nhỏ, không đáng kể. Cụ thể, năm 2011, số vụ án tòa án đã thụ lý là 225 vụ và đã giải quyết, xét xử sơ thẩm hết tất cả 225 vụ, như vậy số án tồn đọng năm 2011 là không có. Năm 2012, số án tồn lại chỉ có 01 vụ, chiếm tỷ lệ rất nhỏ là 0,4%. Năm 2013 cũng chỉ còn 01 vụ tồn chiếm 0,33%. Năm 2014, có 02 án tồn đọng chiếm tỷ lệ là 0,6%. Năm 2015 số án tồn lại là 03 vụ trên tổng số 353 vụ TA cấp sơ thẩm đã thụ lý và 350 vụ được đưa ra xét xử chiếm 8,5%. Như vậy, số vụ án được thụ lý ngày càng tăng nhưng số lượng án tồn không vì thế mà tăng lên, ngược lại có những năm không có án tồn, hoặc nếu có thì chiếm tỷ lệ nhỏ. Điều đó cho thấy số lượng án đã được giải quyết, xét xử nhiều. Trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của Thẩm phán và cách thức làm việc đang có sự thay đổi lớn phù hợp với tình hình thực tế trên địa bàn tỉnh Hà Giang.
Trong 5 năm gần đây, TA cấp huyện đã xét xử được rất nhiều tội phạm và chiếm phần lớn số lượng vụ án trong tổng số vụ án được giải quyết theo thủ tục sơ thẩm. Các TA cấp huyện được tăng thẩm quyền theo BLTTHS 2003 cơ bản đã hoàn thành tốt nhiệm vụ, đáp ứng nhu cầu đặt ra. Nếu so sánh số lượng vụ án hàng năm TA cấp huyện xét xử sơ thẩm với số vụ án TA cấp tỉnh xét xử sơ thẩm có thể thấy, TA cấp huyện xét xử nhiều vụ án hơn so với TA cấp tỉnh. Năm 2011, số vụ án TA cấp huyện đã giải quyết, xét xử sơ thẩm là 156 vụ, chiếm tỷ lệ 69,3%. Năm 2012, số vụ án TA cấp huyện đã giải quyết, xét xử sơ thẩm là 169 vụ, chiếm tỷ lệ 69%. Năm 2013, số vụ án TA cấp huyện đã giải quyết, xét xử sơ thẩm là 206 vụ, chiếm tỷ lệ 67,8%. Năm 2014 số vụ án TA cấp huyện đã giải quyết, xét xử sơ thẩm là 244 vụ, chiếm tỷ lệ 73,7%. Năm 2015 số vụ án TA cấp huyện đã giải quyết, xét xử sơ thẩm là 260 vụ, chiếm tỷ lệ 74,3% (tăng 5% so với năm 2011). Điều đó thể hiện ở bảng số liệu sau:
- Bảng 2.3: Tình hình thụ lý, xét xử sơ thẩm án hình sự của Tòa án cấp huyện tỉnh Hà Giang từ năm 2011 – 2015
Từ bảng số liệu chúng ta có thể thấy, tỷ lệ án tồn đọng ở TAND cấp huyện qua các năm đều rất ít. Năm 2010, không có án tồn lại; năm 2011, 2012, 2013 mỗi năm tồn 01 vụ; năm 2015 án còn tồn 02 vụ. Như vậy, về cơ bản, TAND cấp huyện đã giải quyết tốt công tác xét xử của cấp mình. Việc đưa vụ án ra xét xử đều trong thời hạn luật định. Số vụ án đã đưa ra xét xử sơ thẩm ở cấp huyện hàng năm lớn, trong 5 năm, tỷ lệ trung bình (2011 – 2015) là 70,8 % trong tổng số vụ án TA các cấp đã giải quyết, xét xử sơ thẩm. Như vậy, TA nhân dân cấp huyện đã phát huy tốt vai trò, nhiệm vụ của mình để hoàn thành tốt nhiệm vụ xét xử, đảm bảo hạn chế thấp nhất án tồn đọng xảy ra. Luận văn: Thực tiễn pháp luật về thẩm quyền xét xử sơ thẩm.
Đối với TAND cấp tỉnh, tỷ lệ số vụ án đã giải quyết, xét xử thấp hơn so với TAND cấp huyện. Năm 2011, tỷ lệ số vụ án đã đưa ra xét xử ở Toàn án nhân dân cấp huyện là 69,3% thì ở TAND cấp tỉnh tỷ lệ này là 30,7%. Năm 2012, TAND cấp huyện đã xét xử với tỷ lệ 69% còn ở TAND cấp tỉnh đã xét xử với tỷ lệ 31%. Năm 2013, TAND cấp huyện xét xử với tỷ lệ 67,8%, TAND cấp tỉnh xét xử 32,2%. Năm 2014, số vụ án đã được đưa ra xét xử ở TAND cấp huyện là 73,7%, ở cấp tỉnh là 26,3%. Năm 2015, số vụ án xét xử ở TAND cấp huyện là 74,3%, ở cấp tỉnh là 25,7%. Sở dĩ có sự chênh lệch này một phần là do quy định của BLTTHS năm 2003 về thẩm quyền xét xử của TAND cấp huyện và TAND cấp tỉnh. Theo đó, TAND cấp huyện đã được tăng thẩm quyền xét xử so với trước đây (trước khi BLTTHS 2003 có hiệu lực) và được xét xử các vụ án có khung hình phạt từ 15 năm tù trở xuống (trừ một số tội nhất định đã được quy định cụ thể trong BLTTHS).
- Bảng 2.4: Tình hình thụ lý, xét xử sơ thẩm án hình sự của Tòa án cấp tỉnh từ 2011 – 2015
Tỷ lệ án tồn đọng ở TAND tỉnh Hà Giang không có, trong 5 năm gần đây chỉ có hai năm có hai vụ án tồn, mỗi năm tồn một vụ đó là năm 2014 và 2015, còn lại các năm khác như năm 2011, năm 2012, năm 2013 đều không có án tồn lại. Như vậy, TAND tỉnh Hà Giang đã giải quyết rất tốt công tác xét xử của mình.
Đánh giá một cách toàn diện những kết quả đã đạt được từ khi thực hiện BLTTHS năm 2003, có thể thấy việc tăng thẩm quyền làm cho số lượng các vụ án hình sự mà TAND cấp huyện đã xét xử tăng lên đáng kể. Số vụ án bị kháng cáo, kháng nghị chiếm tỷ lệ nhỏ. Điều đó cho thấy trình độ chuyên môn nghiệp vụ của Thẩm phán được nâng cao, chất lượng xét xử có nhiều tiến bộ. Số lượng án tồn đọng ở cả TAND cấp huyện và TAND cấp tỉnh đều rất ít, có năm không có án tồn đọng. Có thể thấy, công tác xét xử ở cả hai cấp đã đáp ứng được công tác đấu tranh, phòng chống tội phạm. TAND cấp huyện và TAND cấp tỉnh tại tỉnh Hà Giang đã làm khá tốt nhiệm vụ xét xử của mình. Những kết quả đạt được trong thực tiễn thực hiện thẩm quyền xét xử của TAND tỉnh Hà Giang đã khẳng định chủ trương của Đảng và Nhà nước mở rộng thêm thẩm quyền cho Tòa án cấp huyện cũng như các cơ quan tiến hành tố tụng cấp huyện là đúng đắn, phù hợp với tiến trình cải cách tư pháp.
2.3. Những bất cập vướng mắc trong việc thực hiện thẩm quyền xét xử sơ thẩm Luận văn: Thực tiễn pháp luật về thẩm quyền xét xử sơ thẩm.
Quy định của BLTTHS 2003 về thẩm quyền xét xử của TAND tỉnh Hà Giang được thi hành trong thực tế đã đem lại những thành công đáng kể, đáp ứng được nhu cầu của xã hội trong giai đoạn hiện nay. Tuy nhiên, qua một thời gian áp dụng vẫn gặp phải những vướng mắc, hạn chế ngay trong các quy định pháp luật cũng như thực tiễn áp dụng, cụ thể như sau:
2.3.1. Bất cập trong các quy định của pháp luật và thực tiễn áp dụng về thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ án hình sự của Tòa án nhân dân các cấp
Thứ nhất, sự chưa rõ ràng và cụ thể trong việc quy định thẩm quyền lấy vụ án từ cấp huyện lên cấp tỉnh để xét xử. Theo quy định tại khoản 2 Điều 170 BLTHS năm 2003, TAND cấp tỉnh có quyền lấy những vụ án thuộc thẩm quyền xét xử của TAND cấp dưới lên để xét xử ở cấp mình. Tuy nhiên, trong BLTHS lại không quy định những trường hợp nào thì TAND cấp tỉnh được lấy những vụ án thuộc thẩm quyền của TAND cấp huyện lên để xét xử. Trước đây, Thông tư liên ngành số 02/TTLN ngày 12/01/21989 hướng dẫn thi hành một số quy định của BLTTHS năm 1988 có hướng dẫn về những trường hợp TAND cấp tỉnh được phép lấy những vụ án thuộc thẩm quyền của TAND cấp huyện lên để xét xử nhưng văn bản này đã hết hiệu lực và cho đến nay vẫn chưa có bất kỳ văn bản nào hướng dẫn vấn đề này. Đây chính là lỗ hổng pháp luật gây ra những khó khăn và sự thiếu thống nhất giữa các cơ quan tiến hành tố tụng, nhiều Tòa án áp dụng tùy tiện, thiếu tính khách quan.
Tuy nhiên, những khó khăn vướng mắc nêu trên đã được BLTTHS năm 2015 đã giải quyết thấu đáo cụ thể tại điểm b, c quy định: b. Vụ án hình sự có bị cáo, bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án ở nước ngoài hoặc tài sản có liên quan đến vụ án ở nước ngoài;
Những vụ án tuy thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân cấp huyện và Tòa án quân sự khu vực nhưng có nhiều tình tiết phức tạp khó đánh giá, thống nhất về tính chất vụ án hoặc liên quan đến nhiều cấp, nhiều ngành; những vụ án mà bị cáo là Thẩm phán, Kiểm sát viên, Điều tra viên, cán bộ lãnh đạo chủ chốt ở cấp huyện, người có chức sắc trong tôn giáo hoặc có uy tín cao trong dân tộc ít người [46, Điều 268, Khoản 2].
Với quy định cụ thể rõ ràng nêu trên đã khắc phục được lỗ hổng của BLTTHS năm 2003 để tránh xảy ra tranh chấp thẩm quyền xét xử giữa cấp huyện và cấp tỉnh. Luận văn: Thực tiễn pháp luật về thẩm quyền xét xử sơ thẩm.
Thứ hai, chưa quy định cụ thể về thủ tục chuyển vụ án khi xác định không thuộc thẩm quyền của mình. Tại đoạn hai Điều 174 BLTTHS quy định “Chỉ được chuyển vụ án cho Tòa án khác khi vụ án chưa được xét xử… nếu vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án quân sự hoặc Tòa án cấp trên thì vụ án đã được đưa ra xét xử vẫn phải chuyển cho Tòa án có thẩm quyền”. Với cách diễn đạt như thế này sẽ tạo mâu thuẫn trong điều luật, làm cho người sử dụng dễ bị nhầm lẫn, hiểu sai tư tưởng của điều luật dẫn đến áp dụng không chính xác gây hậu quả bất lợi. Hơn nữa, không có quy định trong BLTTHS và văn bản hướng dẫn nào hướng dẫn về trình tự, thủ tục chuyển vụ án hình sự dẫn đến việc thực hiện quy định này thiếu thống nhất. Có trường hợp TA trả về cho VKS để VKS chuyển cho cấp có thẩm quyền truy tố; có trường hợp TA chuyển thẳng cho TA có thẩm quyền.
Thứ ba: Các quy định trong BLTTHS 2003 về thẩm quyền xét xử của TAND đang bộc lộ nhiều bất cập, ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình xét xử vụ án hình sự của Thẩm phán. Về việc TAND cấp tỉnh có thẩm quyền lấy vụ án của cấp dưới lên để xét xử được quy định tại khoản 2 Điều 170 BLTTHS, đã có vướng mắc trong thực tiễn áp dụng. Khi TA cấp trên lấy vụ án lên để xét xử sẽ kéo theo một số khó khăn cho việc giải quyết vụ án như việc phải làm lại cáo trạng truy tố vì VKS cấp dưới không thể ủy nhiệm cho VKS cấp trên thực hành quyền công tố và kiểm sát được, do đó hồ sơ vụ án sẽ phải chuyển qua chuyển lại nhiều lần gây mất thời gian. Ngoài ra, thực tế nhiều vụ án thuộc thẩm quyền xét xử của TA cấp huyện nhưng lại do CQĐT cấp tỉnh khởi tố, điều tra, kết luận nên VKS cấp tỉnh cũng truy tố ra TA cấp tỉnh và đương nhiên TA cấp tỉnh cũng thụ lý và xét xử. Thực tiễn xét xử cho thấy chỉ có TA cấp huyện chuyển vụ án cho TA cấp tỉnh để xét xử, rất ít trường hợp TA cấp tỉnh thấy không thuộc thẩm quyền của mình thì chuyển cho TA cấp huyện. Bởi vì nếu TA cấp huyện xét xử sai thẩm quyền thì chắc chắn án sẽ bị hủy, còn TA cấp trên nếu xét xử sai thẩm quyền sẽ không bị hủy vì cho rằng thuộc trường hợp “lấy lên để xét xử” theo khoản 2 Điều 170 BLTTHS. Hơn nữa, việc hướng dẫn những vụ án nào thuộc trường hợp TA cấp trên lấy lên để xét xử không được quy định rõ ràng, cụ thể. Việc quy định một cách chung chung như vậy đã dẫn đến sự tùy nghi trong việc áp dụng pháp luật và không có sự thống nhất cao trên thực tế.
Một số quy định khác trong BLTTHS 2003 về thẩm quyền xét xử cũng chưa được quy định rõ ràng, thống nhất. Ví dụ: liên quan đến vấn đề tranh chấp về thẩm quyền xét xử, mặc dù đã được quy định tại Điều 174 BLHS và Điều 175 BLHS nhưng thực tiễn xét xử vẫn còn nhiều trường hợp giữa TAND và VKSND không thống nhất với nhau về thẩm quyền xét xử, nên việc chuyển vụ án từ TA này sang TA khác không thực hiện được và vụ án đã không được xét xử đúng thẩm quyền. Ví dụ: Tòa án huyện Vị Xuyên thấy vụ án không thuộc thẩm quyền xét xử của TA mình nên đã chuyển vụ án cho TA huyện Bắc Quang để xét xử. Tòa án huyện Bắc Quang tiếp nhận vụ án cũng thấy vụ án thuộc thẩm quyền xét xử của mình nhưng VKS huyện Bắc Quang không đồng ý, nên không thay đổi bản cáo trạng truy tố bị cáo ra trước TA huyện Bắc Quang. Vì vậy, TA huyện BQ không thể xét xử vụ án đúng thẩm quyền được. Hơn nữa, BLTTHS chưa quy định rõ về thủ tục chuyển vụ án nên việc chuyển vụ án cho TA có thẩm quyền để xét xử không được thực hiện theo một thủ tục thống nhất. Có trường hợp TA chuyển trả hồ sơ cho VKS để VKS chuyển cho cấp có thẩm quyền truy tố nhưng cũng có trường hợp TA lại chuyển thẳng cho TA có thẩm quyền để trả hồ sơ cho VKS cùng cấp truy tố lại. Sự không thống nhất này gây ra sự xáo trộn trong việc áp dụng pháp luật của các cấp TA.
Thứ tư, chưa quy định cụ thể thẩm quyền xét xử vụ án có yếu tố nước ngoài. Việc chưa quy định cụ thể vấn đề này trong BLTTHS hiện hành đã làm cho các cơ quan tiến hành tố gặp phải những vướng mắc, lúng túng trong việc xác định thẩm quyền xét xử các vụ án trong trường hợp này. BLTHS năm 2003 mới chỉ quy định thẩm quyền xét xử sơ thẩm đối với người Việt Nam phạm tội ở nước ngoài bị đưa về Việt Nam, phạm tội ở nước ngoài bị đưa về nước xét xử mà chưa có quy định cụ thể về thẩm quyền xét xử sơ thẩm đối với người nước ngoài phạm tội trên lãnh thổ Việt Nam, hay trường hợp vừa thực hiện tội phạm ở nước ngoài và thực hiện ở trong nước. Trên thực tế, các vụ án mà bị can, bị cáo là người nước ngoài, các vụ án mà tội phạm vừa thực hiện trong nước, vừa thực hiện ở nước ngoài thì do TA cấp tỉnh xét xử. Các vụ án mà người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự là người nước ngoài thì chưa thống nhất nhưng cũng thường do TA cấp tỉnh xét xử.
Khắc phục những khó khăn, vướng mắc nêu trên, BLTTHS năm 2015 quy định tại điểm d khoản 1 Điều 268: “Các tội phạm được thực hiện ở ngoài lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”.
Tiếp đó tại điểm b BLTTHS năm 2015 quy định: “Vụ án có bị cáo, bị hại, đương sự ở nước ngoài hoặc tài sản có liên quan đến vụ án ở nước ngoài” [46, Điều 268, Khoản 2]. Luận văn: Thực tiễn pháp luật về thẩm quyền xét xử sơ thẩm.
Thứ năm, quy định về thẩm quyền xét xử bị cáo phạm tội trên tàu bay, tàu biển khi tàu bay, tàu biển đã rời khỏi sân bay, bến cảng Việt Nam sẽ thuộc thẩm quyền xét xử của TA nơi có sân bay, bến cảng mà tàu bay, tàu biển trở về đầu tiên ở trong nước hoặc TA nơi tàu bay, tàu biển đó đăng ký. Quy định như vậy dễ dẫn đến việc tranh chấp hoặc đùn đẩy lẫn nhau giữa các TA nói trên. Mặt khác, việc quy định cả TA nơi đăng ký tàu bay, tàu biển có thẩm quyền xét xử chắc chắn sẽ gây khó khăn cho việc điều tra, thu thập chứng cứ vì thực tế nếu có tội phạm xảy ra trên tàu bay, tàu biển mà người phạm tội bị bắt quả tang hay khẩn cấp thì khi tàu bay, tàu biển trở về sân bay, bến cảng đầu tiên ở trong nước, do không có thẩm quyền điều tra vụ án nên người chỉ huy tàu bay, tàu biển phải bàn giao ngay người bị bắt cho cơ quan điều tra có thẩm quyền, chính là cơ quan điều tra sở tại, cho nên thực chất hoạt động điều tra ban đầu như: lập biên bản phạm tội quả tang, biên bản nhận người bị bắt, nhận bàn giao vật chứng (nếu có)…đã được thực hiện ngay khi CQĐT nhận người bị bắt.
2.3.2. Bất cập về tổ chức cán bộ và cơ sở vật chất
Thứ nhất, đa số những người làm công tác xét xử dày dạn về chuyên môn nghiệp vụ lẫn kinh nghiệm xét xử và có phẩm chất đạo đức tốt, niềm tin nội tâm vững vàng, uy tín nghề nghiệp cao. Tuy nhiên, bên cạnh đó còn có bộ phận nhỏ đội ngũ cán bộ, Thẩm phán TAND còn yếu về chuyên môn nghiệp vụ chưa ngang tầm với yêu cầu nhiệm vụ, còn bất cập, hạn chế về một số lĩnh vực khác: kiến thức về kinh tế, về pháp luật quốc tế, trình độ ngoại ngữ, tin học… Mặt khác cũng theo thủ tục bổ nhiệm thẩm phán còn mang tính hình thức. Có sự mâu thuẫn trong bổ nhiệm cán bộ, công chức. Công chức bộ máy hành chính Nhà nước được bổ nhiệm bằng hình thức thi tuyển và phải có thời gian tập sự, trong khi đó Thẩm phán để thực hiện ngay nhiệm vụ quan trọng, liên quan trực tiếp đến lợi ích xã hội, con người thì lại được bổ nhiệm qua Hội đồng tuyển chọn mà không phải là Hội đồng thi tuyển để kiểm tra trình độ, năng lực thực sự. Việc bổ nhiệm Thẩm phán với nhiệm kỳ năm năm cũng là điều đáng bàn. Việc chưa coi Thẩm phán là một nghề mà chỉ như một chức danh được bổ nhiệm theo nhiệm kỳ nhất định tạo ra một tâm lý thiếu ổn định, thiếu sự học tập nâng cao trình độ và kỹ năng nghề nghiệp của Thẩm phán; không đảm bảo cho Thẩm phán thực hiện triệt để nguyên tắc “độc lập xét xử và chỉ tuân theo pháp luật”. Không những vậy đội ngũ Thẩm phán TAND hiện nay một bộ phận còn thiếu ý thức phấn đấu, tu dưỡng, đã có những biểu hiện sa sút về phẩm chất chính trị đạo đức, vi phạm pháp luật, vi phạm các nguyên tắc nghề nghiệp, làm giảm lòng tin của quần chúng nhân dân.
Trong khi đó công tác quản lý cán bộ, quản lý nghiệp vụ ở nhiều đơn vị Tòa án cấp các cấp chưa tốt nên không kịp thời kiểm tra uốn nắn những sai phạm trong nghiệp vụ hoặc những biểu hiện không vô tư khách quan trong công tác xét xử của Thẩm phán; việc xử lý đối với Thẩm phán yếu kém hoặc có sai phạm trong công tác nghiệp vụ chưa nghiêm, chưa chính xác, làm cho tính giáo dục kém hiệu quả. Luận văn: Thực tiễn pháp luật về thẩm quyền xét xử sơ thẩm.
Trong công tác xét xử Hội thẩm nhân dân cũng là người có vai trò quan trọng và ý nghĩa trong việc thực hiện thẩm quyền xét xử của TA “trước hết Hội thẩm tham gia xét xử các vụ án hình sự là sự giám sát trực tiếp của nhân dân với đối với hoạt động tư pháp thông qua việc xét xử công khai, dân chủ tại phiên toà. Thứ hai Hội thẩm là những người có thể bổ sung cho Thẩm phán chuyên nghiệp những vốn sống, kinh nghiệm xã hội, dư luận quần chúng để góp phần giải quyết vụ án hình sự chính xác hơn, toàn diện và khách quan hơn vì họ là những người đại diện cho sự hiểu biết pháp luật và đánh giá các hiện tượng pháp luật ở mức trung bình của nhân dân.
Tuy nhiên, trong thực tế Hội thẩm chỉ tham gia cho đủ thành phần Hội đồng xét xử, rất hình thức chứ không quyết định được vấn đề gì “khi thẩm vấn không ít người đặt câu hỏi không có tác dụng hoặc chỉ mang nặng về cách giải thích, có khi giải thích sai pháp luật, thậm chí có vị Hội thẩm trong suốt quá trình xét xử vụ án kể cả giai đoạn nghị án không nói một câu nào. Trong khi đó pháp luật quy định khi nghị án, các vị Hội thẩm được phát biểu trước, sau đến Thẩm phán chủ tọa phiên tòa phát biểu và cuối cùng là biểu quyết theo đa số. Nhưng trong thực tế thì do trình độ của Hội thẩm rất thấp nên Thẩm phán phải gợi ý cho Hội thẩm phát biểu và lời phát biểu sau cùng cuả Thẩm phán thường có tính chất quyết định đối với việc giải quyết vụ án.
Thứ hai, cơ sở vật chất chưa đáp ứng đầy đủ nhiệm vụ của ngành Năm 2002 Nghị quyết số 08/NQ-TW đã chỉ ra rằng “cơ sở vật chất và điều kiện làm việc của cơ quan tư pháp nhất là ở cấp huyện nhiều nơi trụ sở còn chật trội, phương tiện làm việc vừa thiếu vừa lạc hậu”.
Đến Nghị quyết số 49/-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 cũng nêu lên một trong những nguyên nhân làm cho công tác tư pháp trong thời gian qua còn nhiều hạn chế là do “cơ sở vật chất, phương tiện làm việc của cơ quan tư pháp còn thiếu thốn lạc hậu”.
Cơ sở vật chất, trang thiết bị làm việc cũng như kinh phí hoạt động của ngành Tòa án cũng là một trong những vấn đề ảnh hưởng đến thực tiễn xét xử. Mô hình TA hiện nay đang được thay đổi dần theo tinh thần Nghị quyết 49/NQ-TW khiến cho việc đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị làm việc để phục vụ cho mô hình mới ngày càng lớn. Tuy nhiên, hiện nay, kinh phí cấp cho ngành TA nhìn chung còn thấp, đặc biệt là các TA cấp huyện. Cơ sở còn nghèo nàn, trang thiết bị làm việc chưa đáp ứng được yêu cầu, một số trụ sở làm việc của TA cấp huyện còn nhỏ hẹp, phương tiện đi lại phục vụ cho các TA vẫn còn thiếu… Nhìn chung, về cơ bản trang thiết bị của phần lớn các TA đều cũ kỹ, lạc hậu cho nên khó khăn trong việc thực hiện thẩm quyền của mình, nhất là đối với công tác lưu trữ hầu hết được thực hiện thủ công nên vừa mất thời gian lại khó bảo quản, thêm nữa việc tra cứu văn bản cũng không được thuận tiện, dễ dàng, chủ yếu cập nhật bằng con đường công báo, đối với những huyện vùng cao như: Hà Giang, Cao Bằng, Điện Biên, Lai Châu… giao thông cách trở đây thực sự là một vấn đề nan giải… TA hiện nay gặp không ít khó khăn trong hoạt động xét xử, nhất là trong các phiên tòa lưu động chưa có xe phục vụ công tác này. Đây chính là một trong những trở ngại khách quan đối với việc thực thi thẩm quyền xét xử của TAND đặc biệt là TA cấp huyện. Vì vậy, cần phải sớm có những giải pháp thiết thực giải quyết vấn đề này nhằm đáp ứng yêu cầu của công cuộc cải cách tư pháp của nước ta hiện nay. Luận văn: Thực tiễn pháp luật về thẩm quyền xét xử sơ thẩm.
- Bên cạnh đó còn một số bất cập khác như:
Thứ nhất, chế độ chính sách đối với cán bộ, công chức còn chưa hợp lý. Trong những năm gần đây cùng với sự phát triển của nền kinh tế đời sống vật chất và tinh thần của đội ngũ Thẩm phán nước ta đã được cải thiện hơn trước rất nhiều làm cho đội ngũ Thẩm phán cũng yên tâm hơn trong việc thực hiện thẩm quyền do Đảng và Nhà nước giao phó.
Nhìn chung đời sống của đội ngũ cán bộ công chức ngành TA các cấp còn gặp nhiều khó khăn, nhất là đời sống của cán bộ công chức TAND cấp huyện… Bởi vì, dù đã có nhiều cải thiện nhưng mức lương và các chế độ ưu đãi so với đời sống thành thị hoặc những nơi kinh tế phát triển là quá thấp không đủ để trang trải cho cuộc sống gia đình, còn nếu so với những vùng xa xôi hẻo lánh thì lại không đủ để bù đắp những khó khăn khổ cực, thiếu thốn mà họ phải trải qua khi thực hiện nhiệm vụ của mình.
Thứ hai, sự phối hợp giữa các cơ quan tiến hành tố tụng với nhau cũng như giữa các cơ quan tiến hành tố tụng với các cơ quan hữu quan khác cũng ảnh hưởng đến quá trình xác định thẩm quyền của TAND các cấp. Các cơ quan tiến hành tố tụng chưa có sự phối hợp chặt chẽ trong việc xác định, phát hiện, xử lý các vụ án hình sự có những yếu tố phức tạp, khó xác định thẩm quyền. Cho đến nay chưa có một cơ chế thực sự hiệu quả, hợp lý để giúp cho các cơ quan có thẩm quyền phát hiện, xử lý các trường hợp giải quyết vụ án sai thẩm quyền xét xử.
2.4. Nguyên nhân của những hạn chế trong việc thực hiện thẩm quyền xét xứ sơ thẩm vụ án hình sự của Tòa án
Thứ nhất, xuất phát từ những quy định của pháp luật. BLTTHS hiện hành và các văn bản hướng dẫn vẫn chưa được đầy đủ, còn nhiều vấn đề tồn tại trên thực tế vẫn chưa được đề cập đến, đó là những lỗ hổng, những thiếu sót làm cho pháp luật không theo kịp với bước phát triển của xã hội. Có nhiều nội dung chưa được đưa vào BLTTHS mà chỉ quy định trong các văn bản dưới luật làm cho hiệu lực của quy định không cao và giảm tính phổ biến của các quy định pháp luật.
Thứ hai, nhận thức pháp luật của những người tiến hành tố tụng chưa được cao. Vấn đề thẩm quyền thường không được những người tiến hành tố tụng quan tâm nghiên cứu và cập nhật các văn bản liên quan. Hệ thống các cơ quan tiến hành tố tụng ở nước ta chia làm hai, một thuộc về hệ thống các cơ quan tiến hành tố tụng trong quân đội, một thuộc về các cơ quan tiến hành tố tụng thông thường. Do đó, những người tiến hành tố tụng thường chỉ quan tâm đến mảng công việc của mình đang hoạt động mà ít quan tâm đến những vấn đề khác. Thêm vào đó, BLTTHS chưa thể quy định một cách toàn diện và chi tiết các nội dung liên quan đến tố tụng hình sự mà có rất nhiều nội dung chỉ được quy định trong các văn bản dưới luật, Pháp lệnh tổ chức Tòa quân sự.
Mặt khác, ở các cơ quan tiến hành tố tụng ở cấp huyện, công tác đảm bảo vật chất còn rất hạn chế, trình độ của Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán của một số nơi còn thấp, số lượng án không đồng đều gây khó khăn cho hoạt động tố tụng. Điều nay đã dẫn đến những sai phạm trong khi xác định thẩm quyền xét xử hoặc lúng túng, thiếu kiên quyết khi xử lý những tranh chấp về thẩm quyền xét xử. Các nhà tạm giữ, tạm giam của CQĐT cấp huyện chưa được đảm bảo để thực hiện các biện pháp tạm giam được áp dụng ngày càng nhiều khi TA cấp huyện đã được tăng thẩm quyền.
Thứ ba, nhận thức của công dân về các quy định của pháp luật về thẩm quyền xét xử còn kém dẫn đến những vi phạm về thẩm quyền khi thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo đối với vụ án hoặc những vấn đề khác liên quan đến quyền lợi của họ.
Thứ tư, giữa các cơ quan tiến hành tố tụng chưa có sự phối hợp chặt chẽ trong việc xác định, phát hiện và xử lý những vụ án có những yếu tố phức tạp, khó xác định thẩm quyền xét xử. Luận văn: Thực tiễn pháp luật về thẩm quyền xét xử sơ thẩm.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Giải pháp pháp luật về thẩm quyền xét xử của Tòa án

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Luận văn: Thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Tòa án về Luật Tố tụng