Luận văn: Quy định pháp luật giới hạn đầu tư vốn của Ngân hàng

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Quy định pháp luật giới hạn đầu tư vốn của Ngân hàng hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Quy định pháp luật về giới hạn đầu tư vốn của Ngân hàng thương mại ở Việt Nam dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

PHẦN MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài

Nước ta đang trong thời kỳ hội nhập với thế giới, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế, hệ thống tài chính cũng đã có những bước tiến vững chắc và đóng góp chung vào sự phát triển của đất nước. Ngân hàng thương mại là một trong những mắt xích quan trọng của hệ thống tài chính, một mặt là công cụ điều tiết dòng tiền lưu thông vào hoạt động sản xuất, giúp nhà nước quản lý tốt hơn hệ thống tiền tệ. Mặt khác, ngân hàng thương mại ngoài chức năng đã được Luật tổ chức tín dụng 2010 quy định thì ngân hàng thương mại còn thực hiện các hoạt động đầu tư kinh doanh để tăng thêm lợi nhuận và tăng thêm sức cạnh tranh với các tổ chức tài chính khác. Trong nền kinh tế hiện nay, hoạt động của các ngân hàng thương mại rất đa dạng, bên cạnh hoạt động cấp tín dụng, nhận tiền gửi và thanh toán qua tài khoản thì ngân hàng thương mại còn thực hiện đầu tư vào nhiều ngành nghề, lĩnh vực với các hình thức khác nhau. Đây là cơ hội để các ngân hàng thương mại nâng cao lợi nhuận, đa dạng hóa hoạt động kinh doanh, nhưng cũng là thách thức cho các ngân hàng thương mại tồn tại và phát triển trong giai đoạn hiện nay. Vì tầm quan trọng của các ngân hàng thương mại nên việc ngân hàng thương mại tiến hành các hoạt động đầu tư vốn đòi hỏi các cơ quan quản lý nhà nước phải có đầy đủ các quy định để điều chỉnh các hoạt động này, đảm bảo tốt cho chính các ngân hàng thương mại và hệ thống tài chính. Hoạt động đầu tư vốn của các ngân hàng thương mại rất đa dạng, trên nhiều lĩnh vực, nhiều hình thức. Thực tế cho thấy việc đầu tư vốn của các ngân hàng thương mại không phải ngân hàng nào cũng đạt kết quả tốt. Trong thời gian qua, có các ngân hàng thương mại đầu tư kinh doanh thua lỗ ảnh hưởng rất lớn đến nền kinh tế. Việc ngân hàng thương mại được thực hiện một số hoạt động đầu tư đã cho thấy Ngân hàng Nhà nước cũng đã tạo điều kiện để các ngân hàng thương mại đa dạng hóa hoạt động kinh doanh của mình. Nhiều ngân hàng thương mại thông qua hoạt động đầu tư vốn dẫn đến tình trạng các ngân hàng thương mại đầu tư tràn lan, quá nhiều ngành nghề và chính bản thân các ngân hàng thương mại cũng không quản lý được, nên đòi hỏi cơ quản quản lý nhà nước cần có các quy định về tỷ lệ giới hạn đầu tư vốn trong hoạt động của ngân hàng thương mại. Các giới hạn về hoạt động này có thể là giới hạn về nguồn vốn đầu tư, các hình thức đầu tư, ngành nghề… đây là những quy định giúp Ngân hàng Nhà nước quản lý tốt hơn hoạt động đầu tư vốn và cũng giúp chính các ngân hàng thương mại chủ động hơn trong hoạt động đầu tư kinh doanh của mình.

Hiện nay, dù đã có rất nhiều nỗ lực của các cơ quan quản lý nhà nước thông qua hàng loạt các văn bản pháp luật, văn bản hướng dẫn nhưng có thể khẳng định các công cụ pháp luật hiện nay vẫn chưa đủ để các cơ quan quản lý, trực tiếp là Ngân hàng Nhà nước có thể chủ động nắm bắt và điều chỉnh vấn đề đầu tư vốn của các ngân hàng thương mại. Nếu tình hình này không nhanh chóng được khắc phục trong thời gian tới thì tác động và hậu quả của nó lên nền kinh tế sẽ rất lớn. Việc điều chỉnh vấn đề đầu tư vốn của các ngân hàng thương mại đòi hỏi phải có các quy định pháp luật đầy đủ và hoàn thiện, phù hợp tình hình thực tế qua đó mới kiểm soát được một cách triệt để. Việc nghiên cứu quy định của pháp luật Việt Nam về đầu tư vốn của các ngân hàng thương mại là hết sức cần thiết và phù hợp với yêu cầu của thực tiễn. Do đó, tác giả chọn đề tài “Quy định pháp luật về giới hạn đầu tư vốn của ngân hàng thương mại ở việt nam” làm đề tài luận văn thạc sỹ Luật học.

2. Tình hình nghiên cứu của đề tài: Luận văn: Quy định pháp luật giới hạn đầu tư vốn của Ngân hàng.

Hiện tại có một số luận án, luận văn, các bài viết liên quan đến vấn đề mà bản thân đang nghiên cứu, có thể kể tới:

Luận án tiến sĩ kinh tế “hoạt động đầu tư kinh doanh trái phiếu của ngân hàng thương mại Việt Nam‟‟ năm 2015 của nghiên cứu sinh Vũ Hoàng Nam trường Học Viện Ngân Hàng. Luận án đã hệ thống hoá các lý luận cơ bản về hoạt động đầu tư kinh doanh trái phiếu, xây dựng được các chỉ tiêu, mô hình đánh giá, sau đó tác giả đưa ra những giải pháp. Do luận án chỉ viết về khía cạnh kinh tế nên đã không đưa vào các quy định của pháp luật hiện hành về kinh doanh trái phiếu, nên phần giải pháp chỉ nêu hoàn thiện chung về hệ thống pháp lý, không đi vào phân tích hoàn thiện các vấn đề cụ thể của pháp luật hiện hành. Tuy nhiên, trên cở sở luận án này, tác giả có cái nhìn tổng quan hơn về lý thuyết hoạt động kinh doanh trái phiếu. Luận án đã giúp tác giả đi sâu vào phân tích các mặt pháp lý liên quan đến hoạt động đầu tư vốn của ngân hàng thương mại về trái phiếu, chẳng hạn về tỷ lệ, nguồn vốn, giám sát nguồn tiền của ngân hàng thương mại khi đầu tư vào trái phiếu doanh nghiệp.

Luận án tiến sỹ kinh tế “Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại Nhà nước Việt Nam hiện nay” năm 2006 của nghiên cứu sinh Phạm Thị Bích Lương trường Đại học Kinh tế Quốc dân. Luận án đã nêu lên những vấn đề lý thuyết cơ bản về hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại, hoạt động tín dụng, cho vay, huy động vốn. Trong luận án cũng nói lên hoạt động đầu tư của ngân hàng thương mại, như chứng khoán, trái phiếu, bảo lãnh, kinh doanh tiền tệ, góp vốn mua cổ phần và có nội dung liên quan đến hoạt động của ngân hàng đầu tư. Luận án cũng giúp tác giả hiểu được tổng thể các hoạt động của các ngân hàng thương mại. Dựa trên những cơ sở lý luận của luận án, giúp tác giả đưa ra các nội dung liên quan đến pháp lý nhằm điều chỉnh các vấn đề ở khía cạnh kinh tế của luận án đã nêu.

Luận văn thạc sỹ “Góp vốn thành lập công ty theo pháp luật Việt Nam” năm 2014 của Học viên Nguyễn Thị Liễu Hạnh trường Đại Học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, đề tài đã phân tích được một số nội dung về đặc điểm, ý nghĩa, cách thức, quyền góp vốn vào các loại hình Công ty khác nhau. Đề tài nghiên cứu trên vấn đề chung là doanh nghiệp theo Luật Doanh nghiệp 2005. Đề tài đã giúp tác giả có cái nhìn tổng quan về góp vốn thành lập Công ty nói chung, trên cơ sở đó giúp tác giả đi vào phân tích đầy đủ nội dụng góp vốn thành lập Công ty, mua cổ phần của các ngân hàng thương mại trong luận văn.

Luận văn thạc sỹ “Tăng cường hoạt động huy động vốn tại ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn Thường Tín SACOMBANK” năm 2008 của học viên Trần Thị Diệu Hằng trường Đại học Kinh Tế Quốc Dân, đề tài có nói đến hoạt động sử dụng vốn của ngân hàng thương mại, trong đó có hoạt động đầu tư trực tiếp góp vốn liên doanh, liên kết, đầu tư vào trang thiết bị. Đề tài chỉ nêu lên được một số cách đầu tư vốn, chưa đi vào phân tích nội dung bên trong của các hình thức đầu tư. Trên cơ sở đó tác giả sẽ đi sâu vào phân tích nội dung bên trong các hình thức này ở khía cạnh pháp lý.

Đề tài nghiên cứu khoa học cấp ngành của trường Đại Học Ngân hàng Quan hệ sở hữu giữa tổ chức tín dụng và các Công ty con, công ty liên kết thực trạng và giải pháp” tháng 10 năm 2014 của tiến sỹ Trần Dục Thức (chủ nhiệm đề tài). Đề tài đã khái quát nội dung về tình hình góp vốn, mua cổ phần Công ty con, Công ty liên kết của các tổ chức tín dụng, nêu lên vấn đề sở hữu chéo trong tình hình thực tế hiện nay, tuy nhiên đề tài nghiên cứu chủ yếu trên khía cạnh kinh tế, không đi sâu phân tích những vấn đề về các giới hạn của ngân hàng thương mại trong đầu tư vốn. Các giải pháp của đề tài chủ yếu đi vào vài trò giám sát, quản lý của Ngân hàng Nhà nước, không nêu lên các giải pháp pháp lý. Trên cơ sở đó giúp tác giả đi sâu vào phân tích các giới hạn đầu tư vốn của ngân hàng thương mại và đưa ra được các giải pháp pháp lý nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư vốn của ngân hàng thương mại. Luận văn: Quy định pháp luật giới hạn đầu tư vốn của Ngân hàng.

Bài viết trên tạp chí ngân hàng số 11 tháng 6 năm 2011 trang 35 „‟quản lý rủi ro trong hoạt động kinh doanh trái phiếu của ngân hàng thương mại và bài hoc kinh nghiệm‟ bài tạp chí đã đúc kết một số biện pháp để tạo môi trường an toàn trong việc đầu tư trái phiếu của các ngân hàng thương mại trên thế giới: hạn mức giao dịch đối với đối tác và nhà phát hành, hạn mức cắt lỗ tối đa mà một giao dịch viên được phép, hạn mức đầu tư vào từng loại trái phiếu. Tuy nhiên bài tạp chí chỉ đưa ra các hạn mức chung khi các ngân hàng thương mại tiến hành đầu tư trái phiếu. Trên cơ sở đó tác giả đi vào phân tích cụ thể về hạn mức, nguồn vốn được đầu tư đối với hoạt động đầu tư trái phiếu doanh nghiệp và trái phiếu chính phủ.

Các công trình nghiên cứu luận án, luận văn, các bài tạp chí, chuyên đề đã nêu lên được tổng quan các vấn đề liên quan đến ngân hàng, hoạt động đầu tư tài chính của ngân hàng thương mại, đầu tư chứng khoán, đầu tư trái phiếu và góp vốn liên doanh với các tổ chức tín dụng khác. Nhưng nội dung phân tích chủ yếu tập trung vào mảng kinh tế, hoạt động đầu tư của các ngân hàng thương mại, chưa đi sâu vào vấn đề pháp lý, các chuyên đề cũng chưa làm rõ được điều kiện, các hình thức, lĩnh vực mà ngân hàng thương mại được phép đầu tư chứng khoán, góp vốn, liên kết thành lập Công ty…

3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

3.1 Mục đích nghiên cứu

Luận văn sẽ làm rõ:

  • Xác lập khung pháp lý về giới hạn đầu tư vốn của ngân hàng thương mại.
  • Đưa ra các giải pháp pháp lý nhằm năng cao hoạt động đầu tư vốn của ngân hàng thương mại.

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

  • Làm sáng tỏ những vấn đề lý luận cơ bản về giới hạn đầu tư vốn của NHTM .
  • Đánh giá thực trạng pháp luật về giới hạn đầu tư vốn của ngân hàng thương mại.
  • Luận văn sẽ làm sáng tỏ một số hạn chế vướng mắc về mặt pháp lý ảnh hưởng đến giới hạn đầu tư vốn.
  • Trên cơ sở phân tích các vấn đề liên quan đến giới hạn đầu tư vốn, luận văn sẽ đưa ra một số đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về giới hạn đầu tư vốn của ngân hàng thương mại.

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

4.1 Đối tượng nghiên cứu Luận văn: Quy định pháp luật giới hạn đầu tư vốn của Ngân hàng.

Khi nghiên cứu đề tài này, tác giả hướng đến các quy định pháp luật Việt Nam về giới hạn đầu tư vốn của ngân hàng thương mại trên ba nội dung sau.

  • Quy định về góp vốn, mua cổ phần của các ngân hàng thương mại.
  • Quy định về đầu tư trái phiếu của ngân hàng thương mại.
  • Quy định về việc các ngân hàng thương mại được mua và nắm giữ các cổ phiếu của các tổ chức tin dụng khác.

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Trong phạm vi nghiên cứu các giới hạn về đầu tư vốn của ngân hàng thương mại tác giả nghiên cứu chủ yếu ba nội dung chính sau:

  • Nghiên cứu đến hoạt động góp vốn, mua cổ phần của ngân hàng thương mại.
  • Đầu tư trái phiếu doanh nghiệp và trái phiếu chính phủ của ngân hàng thương mại.
  • Ngân hàng thương mại mua cổ phiếu của các tổ chức tín dụng khác.

Đề tài được nghiên cứu dưới góc độ pháp lý, những vấn đề chuyên môn mang tính nghiệp vụ và phản ánh đến lĩnh vực kinh tế trong ngân hàng luận văn không đề cập đến.

5. Phương pháp nghiên cứu của đề tài

  • Luận văn được thực hiện trên cơ sở sử dụng tổng hợp nhiều phương pháp:

Phương pháp phân tích: Đây là phương pháp mà tác giả sử dụng nhiều trong đề tài. Trên cơ sở phân tích đánh giá những văn bản pháp luật hiện hành, thực trạng hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại liên quan đến hoạt động đầu tư vốn. Từ đó tác giả phân thành các hình thức, làm rõ các điều kiện, giới hạn trong từng hoạt động đầu tư vốn. Đánh giá những ưu điểm, khuyết điểm của quy định pháp luật hiện hành và đưa ra một số ý kiến đề xuất.

Phương pháp thống kê: Tác giả sử dụng phương pháp này để đánh giá, thống kê những số liệu báo cáo tài chính của các ngân hàng thương mại. Từ đó sử dụng các số liệu để chứng minh cho những nhận định của tác giả.

Phương pháp tổng hợp: Thông qua các luận án, luận văn, bài báo có liên quan, báo cáo tài chính của các ngân hàng thương mại và các nguồn tài liệu trên mạng Internet tác giả bổ sung vào đề tài những nội dung còn thiếu, hoàn thiện một số nội dung trong đề tài. Luận văn: Quy định pháp luật giới hạn đầu tư vốn của Ngân hàng.

Phương pháp chuyên gia: Tham khảo ý kiến từ các chuyên gia về lĩnh vực ngân hàng, đặc biệt là lĩnh vực đầu tư vốn của ngân hàng thương mại.

6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

6.1 Ý nghĩa khoa học

  • Luận văn nghiên cứu toàn diện về cơ sở lý luận, các quy định của pháp luật về giới hạn đầu tư vốn của ngân hàng thương mại.
  • Luận văn có giá trị trong việc nghiên cứu hoàn thiện thêm các quy định liên quan đến giới hạn đầu tư vốn của ngân hàng thương mại.

6.2. Ý nghĩa thực tiễn

Việc nghiên cứu giúp các ngân hàng thương mại thấy rõ giới hạn, điều kiện trong hoạt động đầu tư vốn nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động đầu tư.

Các ngân hàng thương mại thấy rõ khung pháp lý về hoạt động đầu tư vốn, hạn chế tình trạng đầu tư tràn lan không hiệu quả, mất cân bằng trong hệ thống tài chính.

Ổn định thị trường tài chính phát triển bền vững.

7. Bố cục của đề tài

Ngoài phần lời mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, đề tài được kết cấu thành hai chương với nội dung chính như sau:

  • Chương 1: Tổng quan về đầu tư vốn của ngân hàng thương mại và quy định của pháp luật về giới hạn đầu tư vốn
  • Chương 2: Thực trạng áp dụng quy định pháp luật về giới hạn đầu tư vốn tại ngân hàng thương mại và một số kiến nghị

CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ ĐẦU TƯ VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ GIỚI HẠN ĐẦU TƯ VỐN

1.1 Tổng quan về đầu tư vốn của ngân hàng thương mại

1.1.1 Khái niệm đầu tư vốn của ngân hàng thương mại Luận văn: Quy định pháp luật giới hạn đầu tư vốn của Ngân hàng.

NHTM xét ở góc độ pháp lý vẫn là một DN, nhưng đây là một loại hình DN đặc biệt, là một trong các định chế tài chính quan trọng nhất của nền kinh tế. NH bao gồm nhiều loại (NHTM CP, NHTM NN), tùy thuộc vào sự phát triển của nền kinh tế nói chung và hệ thống tài chính nói riêng. Trong đó NHTM thường chiếm tỷ trọng lớn về quy mô tài sản, thị phần và số lượng các NH. NHTM có một quá trình phát triển lâu dài từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp. Khi mới ra đời, tổ chức và nhiệm vụ của NH tương đối đơn giản nhưng càng về sau theo đà phát triển của kinh tế hàng hóa, tổ chức của các NH cũng như nhiệm vụ của nó ngày càng đa dạng phát triển hơn. NHTM là một tổ chức tài chính trung gian mà hoạt động chủ yếu là tiếp nhận các khoản tiền nhàn rỗi trong nền kinh tế với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng nguồn tiền đó cho vay, thực hiện các hoạt động chiết khấu, làm phương tiện thanh toán, cung cấp các dịch vụ tài chính cho các DN, cá nhân trong xã hội. Đa số các nhà kinh tế học đều cho rằng NHTM là một loại hình DN hoạt động và kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ.

NHTM cũng hoạt động vì mục đích lợi nhuận nhưng là tổ chức kinh tế đặc biệt vì đối tượng kinh doanh là tiền tệ. Hệ thống các NH trong nền kinh tế cùng với các định chế tài chính khác tạo thành một hệ thống kinh tế của mỗi quốc gia.

Hoạt động chủ yếu của NHTM được Luật quy định rất cụ thể đó là: “Hoạt động cấp tín dụng, nhận tiền gửi và cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản”. Trong đó hoạt động tín dụng là hoạt động chủ yếu truyền thống được thực hiện bằng cách thu hút vốn tiền tệ trong xã hội để cho khách hàng vay tiền phục vụ sản xuất kinh doanh.

Trong điều kiện kinh tế hiện nay, để tăng cường sức cạnh tranh các NHTM phải tiến hành đa dạng hoá các hoạt động đầu tư vốn để tăng thêm lợi nhuận cho chính các NHTM. Không giống như các DN thông thường các NHTM khi tiến hành đầu tư vốn để tăng thêm lợi nhuận cho chính các NHTM đều phải chịu sự điều chỉnh rất chặt chẽ của hệ thống pháp luật hiện hành.

Các NHTM có thể sử dụng vốn điều lệ, vốn tự có để tiến hành đầu tư góp vốn, mua cổ phẩn của các DN hoạt động trên các ngành nghề, lĩnh vực được pháp luật cho phép nhằm tạo ra lợi nhuận. Bên cạnh đó NHTM cũng có thể sử dụng các nguồn tiền khác nhau của mình để tiến hành đầu tư mua cổ phiếu, trái phiếu của các tổ chức khác để sinh lợi trong một thời gian nhất định. Nhìn chung việc NHTM tiến hành đầu tư vốn để tạo ra lợi nhuận là phù hợp với xu thế phát triển của nền kinh tế.

Hiện nay chưa có một văn bản pháp luật nào quy định cụ thể về đầu tư vốn của NHTM. Tuy nhiên chúng ta có thể hiểu đầu tư vốn của NHTM là việc NHTM sử dụng vốn của mình đầu tư vào các tài sản như: giấy tờ có giá của Nhà nước, trái phiếu, chứng khoán của Công ty, bên cạnh đó NHTM còn góp vốn, mua cổ phần để hình thành nên Công ty con, Công ty liên kết. Tuỳ theo loại hình kinh doanh mà các NHTM được sử dụng các nguồn vốn khác nhau để đầu tư.

Thực hiện nghiệp vụ này, các NHTM chủ yếu nhằm mục đích sinh lời, kế đến là đa dạng hoá các danh mục đầu tư nhằm hạn chế rủi ro, nâng cao khả năng thanh khoản và đa dạng hoá các hoạt động kinh doanh của NH.

Do NHTM là một DN mang tính đặc thù và hiệu quả hoạt động của nó ảnh hưởng đến rất nhiều các lĩnh vực khác trong nền kinh tế, nên khi các NHTM tiến hành đầu tư vốn đều phải chịu sự điều chỉnh rất chặt chẽ của hệ thống pháp luật hiện hành, về nguồn vốn được đầu tư, tỷ lệ được đầu tư, ngành nghề được đầu tư…. nhằm đảm bảo an toàn, hoạt động hiệu quả cho hệ thống NH. Trong phạm vi đề tài này, tác giả chỉ nghiên cứu các hoạt động: Góp vốn, mua cổ phần, đầu tư trái phiếu, mua cổ phiếu của các TCTD khác.

1.1.2 Đặc điểm pháp lý của đầu tư vốn tại ngân hàng thương mại Luận văn: Quy định pháp luật giới hạn đầu tư vốn của Ngân hàng.

Để hiểu rõ hơn tính chất riêng biệt, đặc trưng hoạt động đầu tư vốn của NHTM, chúng ta cần đánh giá, phân tích hoạt động này trên mối tương quan với hoạt động kinh doanh của các DN nói chung về các nội dung nguồn vốn được đầu tư, lĩnh vực được đầu tư, hình thức được đầu tư từ đó sẽ thấy rõ hơn việc đầu tư vốn của NHTM cần phải thực hiện đúng các giới hạn, hạn mức đầu tư mà NHTM được phép.

  • Hình thức đầu tư vốn của ngân hàng thương mại luôn bị giới hạn

Hình thức đầu tư của NHTM chủ yếu thực hiện đầu tư góp vốn mua cổ phần, đầu tư TPDN, TPCP, nắm giữ cổ phiếu của các TCTD khác. Tuy nhiên khi đi sâu phân tích NHTM được góp vốn mua cổ phần các loại hình DN nào thì luật quy định rất chặt chẽ, có nhiều ngành nghề NHTM không được góp vốn mua cổ phần, có những ngành nghề yêu cầu các NHTM muốn tiến hành đầu tư phải tạo lập một pháp nhân mới, hoặc những ngành nghề cần có sự đồng ý của NHNN, đối với đầu tư trái phiếu và nắm giữ cổ phiếu của các TCTD khác cũng vậy, luật cũng quy định về tỷ lệ vốn DN được nhận và những định mức khác khi NHTM muốn đầu tư vào.

Còn hình thức đầu tư của DN rất rộng bao gồm việc góp vốn tại các tổ chức kinh tế để hưởng lợi nhuận hoặc thông qua việc sở hữu vốn trong tổ chức kinh tế để tiến hành các hoạt động kinh doanh có lợi cho chính DN góp vốn; hình thức đầu tư thành lập các tổ chức kinh tế mới là mô hình lựa chọn của khá nhiều DN nhằm xây dựng các mô hình Công ty mẹ, con có sự liên kết trong nhiều lĩnh vực kinh doanh, tiến tới việc hình thành các tập đoàn kinh tế; hình thức đầu tư vào các dự án, hợp đồng là mô hình đầu tư theo hướng mở cho các DN. Với mô hình này DN có rất nhiều lựa chọn để tiến hành đầu tư với nhiều lĩnh vực và đối tác khác nhau. Luận văn: Quy định pháp luật giới hạn đầu tư vốn của Ngân hàng.

Theo quy định tại Điều 7 Luật Doanh nghiệp 2014 các DN được quyền tự do lựa chọn hình thức, phương thức huy động, phân bổ và sử dụng vốn. Pháp luật DN về đầu tư đều không có quy định về việc hạn chế lĩnh vực mà DN được phép đầu tư chỉ cần đảm bảo lĩnh vực đầu tư là lĩnh vực không bị cấm kinh doanh và ngành nghề kinh doanh có điều kiện.

Tùy đặc thù của từng DN, các DN tự lựa chọn hình thức kinh doanh để phù hợp với thế mạnh của mình. Điều 8 Luật Doanh nghiệp 2014 quy định quyền của DN rất rộng “Các Doanh nghiệp được tự chủ kinh doanh; chủ động lựa chọn ngành, nghề, địa bàn, hình thức kinh doanh, đầu tư; chủ động mở rộng quy mô và ngành, nghề kinh doanh; được lựa chọn hình thức, phương thức huy động, phân bổ và sử dụng vốn. Được chủ động tìm kiếm thị trường, khách hàng và ký kết hợp đồng. Được tự chủ quyết định các công việc kinh doanh và quan hệ nội bộ”.

Chúng ta dễ thấy, đối với việc đầu tư vốn của NHTM luôn có sự điều chỉnh chặt chẽ các quy định của pháp luật, vì NHTM cũng là một DN nhưng là một DN đặc thù. Sự phát triển bền vững của hệ thống NHTM có ảnh hưởng rất lớn đến chính các DN khác và rộng hơn nữa là đến toàn bộ nền kinh tế của xã hội. Các NHTM không thể muốn thành lập, đầu tư góp vốn hay đầu tư trái phiếu vào bất kỳ Công ty nào cũng được. Với nguồn tài chính khổng lồ sẽ dẫn đến việc các NHTM đầu tư tràn lan vào nhiều lĩnh vực, kìm hãm sự phát triển của các DN khác, dễ gây độc quyền thị trường, không tạo được sự cạnh tranh minh bạch trong nền kinh tế. Như vậy, lĩnh vực đầu tư của NHTM có phần hạn chế hơn so với các DN cũng là điều phù hợp. Ngoài ra tuỳ theo từng lĩnh vực góp vốn mua cổ phần các NHTM phải được sự đồng ý của NHNN để tiến hành hoạt động đầu tư kinh doanh.

  • Nguồn vốn để tiến hành đầu tư vốn của ngân hàng thương mại được xác lập khác nhau

Tuỳ theo từng hình thức đầu tư vốn của NHTM mà nguồn vốn để phục vụ hoạt động đó cũng được quy định khác nhau, có thể là vốn điều lệ, qũy dự trữ hay tiền gửi ngắn hạn của khách hàng.

Đối với hoạt động góp vốn, mua cổ phần của NHTM: Trong hoạt động góp vốn mua cổ phần để thành lập Công ty con, Công ty liên kết NHTM chỉ được dùng vốn điều lệ và quỹ dữ trữ để đầu tư góp vốn mua cổ phần của các DN khác.

Theo Khoản 6 Điều 4 Luật Doanh nghiệp 2014 thì: Vốn điều lệ là số vốn do các thành viên, cổ đông góp hoặc cam kết góp trong một thời gian nhất định và được ghi vào điều lệ Công ty. Luận văn: Quy định pháp luật giới hạn đầu tư vốn của Ngân hàng.

Hiện nay vốn điều lệ của các NHTM phải đáp ứng được bằng mức vốn tối thiểu do NHNN ấn định. Mức vốn pháp định này theo quy định của NHNN là 3.000 tỷ đồng (Quy định tại Nghị định 10/2011/NĐ-CP ngày 26 tháng 1 năm 2011 của Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 141/2006/NĐ-CP ngày 22 tháng 11 năm 2006 về ban hành danh mục mức vốn pháp định của các tổ chức tín dụng (Nghị định 10/2011). Vốn điều lệ của mỗi NH được hình thành do tính chất sở hữu của NH quyết định, tức là nguồn vốn này có thể do Nhà nước cấp hoặc huy động từ các cá nhân trong xã hội.

Các quỹ dự trữ được quy định tại nghị định số 57/2012/NĐ-CP của Chính phủ cấp ngày 20 tháng 7 năm 2012 về chế độ tài chính đối với tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài: Gồm các quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ, quỹ dự phòng tài chính, quỹ đầu tư phát triển nghiệp vụ, quỹ dự phòng tài chính và quỹ đầu tư phát triển nghiệp vụ được trích lập từ lợi nhuận sau thuế, lợi nhuận không chia.

Đối với hoạt động đầu tư TPDN: Hoạt động đầu tư TPDN theo Thông tư số 36/2014/TT-NHNN của NHNN cấp ngày 20 tháng 11 năm 2014 quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài thì thuộc vào nghiệp vụ cấp tín dụng của NHTM, theo Khoản 1 Điều 128 Luật TCTD 2010 thì Tổng mức dư nợ cấp tín dụng đối với một khách hàng không được vượt quá 15% vốn tự có của NHTM, chi nhánh ngân hàng nước ngoài.

Đối với hoạt động đầu tư TPCP: Theo điều khoản sửa đổi bổ sung tại Khoản 18 Điều 1 Thông tư số 06/2016/TT-NHNN của NHNN cấp ngày 25 tháng 7 năm 2016 quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài sửa đổi Thông tư 36/2014/TT-NHNN thì TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài được sử dụng nguồn vốn ngắn để đầu tư TPCP, tỷ lệ nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng trên tổng nguồn vốn ngắn hạn là 25% đối với NHTM NN và 35% đối với NHTM CP. Như vậy nguồn vốn mà các NHTM dùng để mua TPCP là nguồn vốn ngắn hạn của NHTM và hạn mức tùy thuộc vào NHTM NN hay NHTM CP.

Đối với hoạt động đầu tư cổ phiếu của TCTD khác: Theo khoản 1, Điều 14 của Thông tư 36/2014/TT-NHNN quy định việc NHTM cấp tín dụng cho khách hành để đầu tư kinh doanh cổ phiếu. Và tại Điều 20 Thông tư 36/2014/TT-NHNN quy định về điều kiện, giới hạn số lượng tỷ lệ đầu tư vào cổ phiếu của TCTD và quy định NHTM được nắm giữ 5% cổ phiếu có quyền biểu quyết của TCTD, số lượng không quá 02 TCTD.

Còn nguồn vốn kinh doanh của DN: Vốn kinh doanh của DN được hiểu là số tiền ứng trước về toàn bộ tài sản hữu hình và tài sản vô hình phục vụ cho sản xuất, kinh doanh của DN nhằm mục đích kiếm lời.

  • Căn cứ vào mối quan hệ sở hữu về vốn: Gồm có nguồn vốn chủ sở hữu và nợ phải trả.
  • Căn cứ vào thời gian huy động và sử dụng vốn: Gồm nguồn vốn thường xuyên và nguồn vốn tạm thời.
  • Căn cứ vào phạm vi huy động vốn: Gồm nguồn vốn bên trong DN và nguồn vốn bên ngoài DN.

Các DN có thể huy động mọi nguồn vốn để đầu tư hoạt động sản xuất kinh doanh. Còn NHTM phải tuân theo những quy định rất khắt khe về nguồn vốn được sử dụng để đầu tư so với DN trong từng hình thức khác nhau của NHTM. Đây là một đặc tính pháp lý rất riêng biệt của các NHTM so với các DN nói chung. Với các quy định này chúng ta thấy được sự khoa học chuyên nghiệp trong việc quản lý sử dụng các nguồn vốn của các NHTM. Mỗi nguồn vốn đều có mục đích sử dụng riêng, dành cho các khoản đầu tư khác nhau, chẳng hạn không thể lấy tiền từ vốn điều lệ đi mua TPCP. Mỗi nguồn tiền đều được quy định sử dụng cho các danh mục đầu tư vốn khác nhau. Các NHTM không thể tuỳ tiện sử dụng sai nguyên tác về phân bổ nguồn vốn. NH không thể lấy tiền gửi của ngưởi dân để mở các Công ty nhằm tạo ra lợi nhuận, việc này dễ gây ra tình trạng mất cán cân thanh toán của NHTM dễ tạo ra khủng hoảng tiền tệ và mất khả năng thanh toán của các NHTM. Các NHTM sử dụng các nguồn vốn này phải đáp ứng các điều kiện về giới hạn của nguồn vốn, quy định về hạn mức cấp tín dụng cho một khách hàng, tổng mức đầu tư vào một Công ty, và tỉ lệ phần trăm nhất định so với vốn điều lệ của Công ty nhận góp vốn…

1.1.3 Lĩnh vực đầu tư vốn của ngân hàng thương mại bị hạn chế

NHTM cũng được đầu tư rất nhiều lĩnh vực như chứng khoán, bảo hiểm, ngoại tệ, kinh doanh vàng. Tuy nhiên khi NHTM muốn bỏ vốn đầu tư vào các ngành nghề này đều phải chịu sự chi phối, điều chỉnh của pháp luật. Pháp luật quy định rất rõ về các lĩnh vực được đầu tư của NHTM. Có những lĩnh vực đầu tư đòi hỏi cần phải có ý kiến chấp thuận của phía NHNN thì NHTM mới được tiến hành hoạt động kinh doanh. Luận văn: Quy định pháp luật giới hạn đầu tư vốn của Ngân hàng.

Trong khi đó đối với các ngành nghề, lĩnh vực được kinh doanh của DN. Theo Khoản 1, 2, 3 Điều 7 Luật Doanh nghiệp 2014 đã thể hiện rất rõ quyền của DN: Tự do kinh doanh trong những ngành, nghề mà luật không cấm, tự chủ kinh doanh và lựa chọn hình thức tổ chức kinh doanh; chủ động lựa chọn ngành, nghề, địa bàn, hình thức kinh doanh; chủ động điều chỉnh quy mô; Lựa chọn hình thức, phương thức huy động, phân bổ và sử dụng vốn.

Theo Khoản 1 Điều 5 Luật Đầu tư 2014 cũng khẳng định “nhà đầu tư được quyền thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh trong các ngành, nghề mà luật này không cấm”. Đây là cơ sở rất quan trọng để các DN lựa chọn ngành nghề kinh doanh phù hợp mà pháp luật không cấm. Do đó, các ngành nghề về cơ bản được chia thành ba nhóm: Ngành nghề kinh doanh bị cấm, ngành nghề có điều kiện và ngành nghề được tự do kinh doanh. Tùy thuộc vào điều kiện kinh tế xã hội từng thời điểm mà luật quy định cụ thể các lĩnh vực bị cấm và khuyến khích kinh doanh.

“Hoạt động kinh doanh của các TCTD có đối tượng là những tài sản, tài chính, tiền tệ (Nguồn vốn, giấy tờ có giá, ngoại tệ vàng) và cung cấp trong dịch vụ lĩnh vực tài chính, tiền tệ. Chính sự khác biệt về đối tượng kinh doanh nên lĩnh vực hoạt động Ngân hàng luôn hàm chứa nhiều rủi ro‟. Đây là đặc điểm cơ bản nhất để phân biệt lĩnh vực kinh doanh của NHTM với các lĩnh vực kinh doanh khác của DN. Nếu như hoạt động đầu tư kinh doanh của các DN nói chung có thể trải rộng trên nhiều lĩnh vực khác nhau có thể là bất động sản, nông nghiệp, thuỷ sản thì các NHTM thực hiện các hoạt động đầu tư vốn vào các lĩnh vực đó rất hạn chế và có những quy định riêng biệt, NHTM có thể cấp tín dụng cho khách hàng hoạt động kinh doanh trên lĩnh vực đó. Hoạt động của NHTM vào các lĩnh vực ngoài hoạt động truyền thống của NHTM được pháp luật kiểm soát rất chặt chẽ, nên việc NHTM mở rộng các ngành nghề kinh doanh đòi hỏi phải đảm bảo về điều kiện đối với từng ngành nghề muốn kinh doanh.

NHNN không khuyến khích việc các NHTM đầu tư vốn vào các ngành nghề không phải là thế mạnh của NHTM. Vì việc đầu tư dàn trải trên nhiều lĩnh vực có thể làm cho NHTM không có khả năng quản lý các danh mục đầu tư, đầu tư không hiệu quả dẫn đến việc kinh doanh thua lỗ của NHTM sẽ ảnh hưởng đến mọi mặt đời sống kinh tế xã hội. Với xu thế hiện nay, nếu các NH chỉ đơn thuần hoạt động về tín dụng thì sẽ không có khả năng cạnh tranh với các các NH và quỹ đầu tư khác. Do đó, một số NHTM có tiềm lực tài chính, đủ điều kiện được kinh doanh thêm các ngành nghề vẫn được phép hoạt động đầu tư vốn. Nhưng hoạt động kinh doanh của NHTM chịu sự chi phối rất lớn bởi chính sách tiền tệ của NHNN.

Khi các NHTM đầu tư vào các lĩnh vực khác nhau thì tuỳ trường hợp Luật bắt buộc NHTM phải thành lập Công ty con, hay Công ty liên kết, đây là điều khác biệt đối với các DN thông thường. Các DN khi có điều kiện và nhu cầu muốn kinh doanh thêm các ngành nghề khác chỉ “phải thông bảo với cơ quan đăng ký kinh doanh”, để được bổ sung trong hồ sơ đăng ký DN mà không phải đăng ký thay đổi nội dung đăng ký kinh doanh để được cấp Giấy chứng nhận đăng ký DN mới. Chẳng hạn, khi NHTM muốn đầu tư vào lĩnh vực chứng khoán thì phải thành lập Công ty con dưới dạng một tư cách pháp nhân khác, mục đích của việc này là dễ dàng kiểm soát hoạt động, vì NHTM chịu sự kiểm soát của NHNN còn Công ty chứng khoán chịu sự kiểm soát của Uỷ ban chứng khoán. Điều này nhằm giúp tách bạch các hoạt động và đồng thời đảm bảo quản lý tốt rủi ro. NHTM là tổ chức nhận tiền gửi do đó ảnh hưởng của nó rất lớn đến thị trường tài chính, khi các NHTM đổ vốn đầu tư vào các công cụ tài chính đem lại lợi nhuận cao thì đồng thời cũng mang lại rủi ro cao. Đây cũng là lý do vì sao NHTM có thể đầu tư vốn nhưng phải chịu sự điều chỉnh chặt chẽ của pháp luật. Luận văn: Quy định pháp luật giới hạn đầu tư vốn của Ngân hàng.

  • Luôn có hạn mức đầu tư vốn của ngân hàng thương mại

Khi tiến hành đầu tư vốn, tuỳ theo hoạt động đầu tư, NHTM phải tuân thủ các quy định về hạn mức đầu tư vốn khác nhau theo quy định của pháp luật. NHTM phải tuân thủ nghiêm các giới hạn về đầu tư, NHTM không thể bỏ vốn ra để mua 100% vốn của một DN khác, mà phải xét đến lĩnh vực kinh doanh của DN, từ đó sẽ có tổng mức vốn được mua và hạn mức vốn DN được nhận. Hay việc mua TPCP, NHTM không được sử dụng hết vốn ngắn hạn để thực hiện đầu tư trái phiếu, NHTM chỉ được đầu tư TPCP, TPDN trong một giới hạn do luật quy định.

NHTM không được phép sử dụng hết nguồn vốn để đầu tư vào một hình thức nhất định, mỗi hình thức, ngành nghề luật đều có hạn mức vốn đối với hoạt động đầu tư của NHTM.

Chẳng hạn theo Khoản 2 Điều 129 Luật TCTD 2010 và Khoản 2 Điều 18 Thông tư 36/2014/TT/NHNN thì tổng số vốn dùng để đầu tư vào góp vốn mua cổ phần không vượt quá 40% vốn điều lệ và các nguồn quỹ dự trữ. Trong đó đối với trường hợp góp vốn, mua cổ phần vào “một doanh nghiệp hoạt động trên lĩnh vực được quy định tại Khoản 4 Điều 103 Luật tổ chức tín dụng không được vượt quá 11% vốn điều lệ của doanh nghiệp nhận vốn góp”.

Trong khi đó đối với DN thì không có hạn mức về vấn đề đầu tư của mình, nếu có cũng chỉ là hạn mức do chính DN đặt ra cho mình. Về nguyên tắc DN có thể sử dụng 100% vốn của mình để thực hiện các hoạt động đầu tư, các DN cũng có thể huy động vốn từ nhiều kênh khác nhau để đầu tư kinh doanh, nguồn vốn đó có thể là vốn vay từ các NHTM. Việc quy định về tỷ lệ đầu tư vốn nhất định đối với từng hình thức, ngành nghề khác nhau cũng giúp chính các NHTM phân tán được các rủi ro hoạt động đầu tư.

1.1.4 Vai trò đầu tư vốn của ngân hàng thương mại Luận văn: Quy định pháp luật giới hạn đầu tư vốn của Ngân hàng.

Thứ nhất: Việc đầu tư vốn giúp các NHTM đa dạng hoá các hoạt động kinh doanh. Ngoài các hoạt động truyền thống là nhận tiền gửi, cấp tín dụng và cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản. NHTM sẽ thực hiện thêm các hoạt động kinh doanh khác. Theo quy định của pháp luật hiện hành có những hoạt động NHTM có thể trực tiếp kinh doanh nhưng cũng có những hoạt động nếu NHTM muốn tiến hành kinh doanh thì bắt buộc phải thông qua các Công ty con, Công ty liên kết, điều này giúp các NHTM mở rộng hơn các mảng kinh doanh của mình. Có một số lĩnh vực như: kinh doanh vàng, chứng khoán, bất động sản, bảo hiểm, tư vấn tài chính, môi giới tiền tệ thì các NHTM thực hiện các hoạt động kinh doanh khác thông qua hệ thống các Công ty con, Công ty liên kết. Việc mở rộng hoạt động kinh doanh giúp các NHTM có thể phát huy lợi thế của mình.

Ví dụ, khi các NHTM thành lập thêm các Công ty hoạt động trên lĩnh vực chứng khoán thì các Công ty này sẽ phát huy tốt được lợi thế của mình như kinh nghiệm trong công tác quản lý, hỗ trợ nhà đầu tư, cấp tín dụng cho nhà đầu tư, đây là những lợi thế mà các Công ty chứng khoán khác không thuộc các NHTM có được.

Thứ hai: Việc đầu tư vốn còn giúp các NHTM sử dụng nguồn vốn huy động được một cách hiệu quả. Các NHTM có thể thông qua việc góp vốn mua cổ phần và đầu tư chứng khoán, TPDN, TPCP để giải ngân nguồn vốn, đầu tư trong nhiều lĩnh vực khác nhau để tìm kiếm lợi nhuận. Trong tình hình tín dụng tăng trưởng thấp, NHTM có thể sử dụng nguồn vốn ngắn hạn để mua TPCP. NHTM có được lợi nhuận từ hoạt động đầu tư vốn sẽ góp phần bổ sung nguồn vốn để NHTM thực hiện các nghiệp vụ truyền thống của NH.

Thứ ba: Việc đầu tư vốn thành lập các Công ty con, Công ty liên kết cũng góp phần giúp các NHTM tăng khả năng huy động vốn. Thông qua nguồn vốn được huy động từ các Công ty con, Công ty liên kết các NHTM có thể bảo đảm thanh khoản hoặc cho vay khi việc huy động vốn của NHTM gặp khó khăn.

Thứ tư: Từ việc đầu tư vốn cũng giúp các NHTM sử dụng có hiệu quả các nguồn lực vốn có (như là vốn, cơ sở vật chất kỹ thuật, nhân lực) để phát triển, mở rộng hoạt động kinh doanh. Đồng thời khi thành lập các Công ty con, Công ty liên kết để kinh doanh trong các lĩnh vực cụ thể cũng giúp cho việc kinh doanh đạt hiệu quả hơn so với việc NHTM phải trực tiếp quản lý và tiến hành nhiều hoạt động kinh doanh cùng lúc. Luận văn: Quy định pháp luật giới hạn đầu tư vốn của Ngân hàng.

  • Sự cần thiết quy định giới hạn đầu tư vốn của ngân hàng thương mại

Với các đặc điểm riêng biệt của NHTM, bên cạnh những quy định chung cho hoạt động của NHTM, NHNN ban hành các quy định nhằm giới hạn việc đầu tư vốn của NHTM cũng là điều cần thiết đóng vài trò là công cụ hữu ích để NHNN giám sát, quản lý. Việc ban hành các quy định liên quan đến giới hạn đầu tư vốn ở một khía cạnh nào đó cũng đã phần nào đáp ứng được nhu cầu đa dạng hoá, tính năng động, linh hoạt trong hoạt động kinh doanh của các NHTM. Một số luật hiện hành, như Luật Doanh nghiệp, Luật TCTD, Luật Đầu tư vẫn chưa điều chỉnh hết được các hoạt động đầu tư vốn của NHTM. Do đó, NHNN đã ban hành thêm các thông tư, hướng dẫn nhằm đảm bảo việc đa dạng đầu tư của NHTM những vẫn quản lý giám sát được các hoạt động đầu tư kinh doanh thêm của các NHTM.

NHNN đưa các hoạt động đầu tư vốn của NHTM vào một khuôn khổ, khung pháp lý nhất định nhằm tạo hành lang an toàn cho chính các NHTM, và xa hơn nữa NHNN muốn giữ vững sự ổn định của hệ thống tài chính, để không vì các hoạt động đầu tư kinh doanh của NHTM dễ dẫn đến khủng hoảng tài chính trong toàn bộ nền kinh tế.

Các quy định về giới hạn đầu tư vốn nhằm giúp NHTM hạn chế sự đổ vỡ tín dụng. NHTM thực hiện hoạt động đầu tư vốn đều có các quy định pháp luật về tiêu chuẩn, tỷ lệ nhất định trong các loại hình đầu tư và nguồn vốn được sử dụng cho các hình thức đầu tư cũng khác nhau. Đây là tỷ lệ nhằm giữ cho hoạt động đầu tư vốn mang lại hiệu quả và ổn định cho hệ thống NHTM. Nên khi NHTM thực hiện đúng các quy định về tỷ lệ an toàn đầu tư vốn sẽ hạn chế sự đổ vỡ tín dụng, giúp cho hệ thống tín dụng của các NHTM được an toàn, ổn định.

Việc quy định các tỷ lệ an toàn trong đầu tư vốn đảm bảo quyền và lợi ích chính đáng của chủ sở hữu nguồn vốn. Sở hữu một NHTM bao gồm các tổ chức, cá nhân khác nhau, tuỳ theo quy định và năng lực tài chính các chủ sở hữu sẽ có phần vốn góp khác nhau đối với từng NHTM. Do đó, việc quy định tỷ lệ an toàn trong đầu tư vốn không chỉ giúp NHTM hoạt động ổn định và hiệu quả mà còn giúp chính các chủ sở hữu các NHTM được đảm bảo quyền và các lợi ích chính đáng khi đầu tư vào các NHTM.

Hệ thống các quy định của pháp luật về giới hạn đầu tư vốn đóng vai trò rất quan trọng, giúp giữ ổn định và phát triển bền vững hoạt động đầu tư vốn của NHTM. Các giới hạn về đầu tư vốn được thể hiện trên nhiều khía cạnh đó là những giới hạn về hình thức đầu tư, tỷ lệ đầu tư vào các danh mục, ngành nghề khác nhau.

1.2 Nội dung pháp luật về giới hạn đầu tư vốn của ngân hàng thương mại Luận văn: Quy định pháp luật giới hạn đầu tư vốn của Ngân hàng.

1.2.1 Giới hạn hình thức đầu tư vốn của ngân hàng thương mại

Hoạt động đầu tư của một DN được thể hiện qua rất nhiều hình thức, có thể là góp vốn thành lập một tổ chức kinh tế mới, hình thành nên các liên doanh nhà đầu tư trong nước và nước ngoài, đầu tư theo các hợp đồng hợp tác kinh doanh, đầu tư theo hình thức góp vốn mua cổ phần. Đối với NHTM ngoài những hoạt động thông thường như nhận tiền gửi, cấp tín dụng thì NH cũng có những hình thức đầu tư như: Góp vốn mua cổ phần, đầu tư mua bán trái phiếu, chứng khoán trên thị trường. Nhìn chung những hoạt động kinh doanh đầu tư của NHTM chủ yếu liên quan đến tài chính, đây là đặc trưng mà không phải DN nào cũng có. Tùy vào hình thức đầu tư của NHTM mà Luật lại có những quy định thêm để nâng cao việc kiểm soát của NHNN.

  • Đối với việc góp vốn mua cổ phần của ngân hàng thương mại

Một trong những hình thức đầu tư phổ biến mà các NHTM thường lựa chọn là góp vốn, mua cổ phần vào các DN khác hoặc thành lập các Công ty con, Công ty liên kết để tiến hành các hoạt động kinh doanh ở lĩnh vực khác với lĩnh vực kinh doanh truyền thống của NHTM. Hình thức này cũng được pháp luật hiện hành cho phép các NHTM được thực hiện. Tuy vậy, việc thực hiện hình thức đầu tư bằng việc góp vốn, mua cổ phần của các DN khác hoặc thành lập các Công ty con, Công ty liên kết của các NHTM mang tính đặc thù riêng biệt hơn so với các DN nói chung.

Đối với các DN thì việc đầu tư là hoàn toàn tự do mang tính tự quyết tự chủ, các DN có quyền đầu tư vào các lĩnh vực được phép kinh doanh và tự quyết định tỷ lệ đầu tư, hình thức đầu tư của mình. Trong khi đó đối với việc góp vốn, mua cổ phần thành lập các Công ty con, Công ty liên kết của các NHTM thì phải tuân thủ các quy định nghiêm ngặt mang tính hạn chế của cơ quan nhà nước. Các NHTM chỉ được đầu tư góp vốn, mua cổ phần của các DN khác hoặc thành lập các Công ty con trong các lĩnh vực nhất định và tùy theo từng lĩnh vực khác nhau có thể phải có ý kiến chấp thuận chủ trương đầu tư của NHNN, bên cạnh đó các NHTM cũng chỉ được đầu tư trong hạn mức đã được ấn định, nguồn vốn được dùng để đầu tư cũng được quy định cụ thể.

  • Trường hợp ngân hàng thương mại góp vốn, mua cổ phần hình thành công ty con

Đây là hình thức mà NHTM sử dụng vốn điều lệ và quỹ dự trữ đề thành lập Công ty con và NHTM trực tiếp quản lý hoạt động kinh doanh này. Có thể nói lĩnh vực mà các NHTM đầu tư vào các Công ty con đều là những kênh đầu tư trọng điểm của các NHTM, nó liên quan đến hoạt động chung của toàn hệ thống NHTM. Các Công ty con có thể thực hiện một số hoạt động nghiệp vụ, làm tăng tính chuyên môn cho hoạt động của NHTM, nâng cao chất lượng cho dịch vụ, ngoài ra khi Chính phủ thực hiện chính sách thắt chặt tín dụng thì đầu tư bằng hình thức thành lập Công ty con là một trong những giải pháp mang lại hiệu quả cao để giải quyết những khó khăn trước mắt. Luận văn: Quy định pháp luật giới hạn đầu tư vốn của Ngân hàng.

Chẳng hạn, khi các NHTM tạo lập các Công ty con hoạt động trên lĩnh vực chứng khoán thì đương nhiên các NHTM muốn nắm quyền kiểm soát hết hoạt động của chính Công ty này vì nó liên quan đến rất nhiều khía cạnh như: Sự phối hợp đề ra chính sách của NHTM và Công ty con, NHTM có thể tạo điều kiện cho các nhà đầu tư cổ phiếu vay tiền với thủ tục nhanh, tiện lợi đối với các nhà đầu tư chứng khoán. NHTM có thể chủ động linh hoạt trong việc đề ra chính sách hoạt động của chính Công ty chứng khoán.

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 189 Luật Doanh nghiệp 2014 thì một Công ty được coi là Công ty mẹ của Công ty khác nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây: Sở hữu trên 50% vốn điều lệ hoặc tổng số cổ phần phổ thông của Công ty đó; Có quyền trực tiếp hoặc gián tiếp quyết định bổ nhiệm đa số hoặc tất cả thành viên Hội đồng quản trị, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc của Công ty đó; Có quyền quyết định việc sửa đổi, bổ sung Điều lệ của công ty đó. Khi đã sở hữu các Công ty của mình thì các NHTM và các Công ty con, Công ty liên kết sẽ hình thành một mô hình tập đoàn kinh tế theo quy định tại Khoản 1 Điều 188 Luật Doanh nghiệp 2014, theo đó “Tập đoàn kinh tế, tổng Công ty thuộc các thành phần kinh tế là nhóm công ty có mối quan hệ với nhau thông qua sở hữu cổ phần, phần vốn góp hoặc liên kết khác.

Do đó, đối với hình thức thành lập Công ty con thì NHTM có quyền rất lớn trong việc điều hành quản lý hoạt động. Theo Khoản 30, Điều 4 của Luật TCTD 2010 Công ty con của các NHTM là khi NHTM sở hữu trên 50% vốn điều lệ hoặc trên 50% vốn cổ phần có quyền biểu quyết; NHTM có quyền trực tiếp hoặc gián tiếp bổ nhiệm đa số hoặc tất cả thành viên Hội đồng quản trị, Hội đồng thành viên hoặc Tổng giám đốc (Giám đốc) của Công ty con; NHTM có quyền sửa đổi, bổ sung điều lệ của Công ty con; NHTM và người có liên quan của NHTM trực tiếp hay gián tiếp kiểm soát việc thông qua nghị quyết, quyết định của Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị, Hội đồng thành viên của Công ty con. Nên ta thấy tùy theo phần vốn góp mà NHTM có thể trực tiếp tham gia quản lý hoạt động đầu tư hoặc không. Luận văn: Quy định pháp luật giới hạn đầu tư vốn của Ngân hàng.

Theo Điều 103 Luật TCTD 2010 việc thành lập các Công ty con có thể là khuyến khích hoặc bắt buộc, đặc biệt là trong một số lĩnh vực thì NHTM được hoặc phải thành lập Công ty con trên các lĩnh vực: Tiêu dùng, cho thuê tài chính, bao thanh toán… việc thành lập Công ty con nhằm chuyên môn hoá hoạt động, tách biệt rủi ro và quản lý rủi ro với hoạt động của NHTM.

  • Trường hợp ngân hàng thương mại góp vốn, mua cổ phần hình thành công ty liên kết

NHTM góp vốn vào các DN để hình thành nên các Công ty liên kết, đây là các Công ty mà NHTM không trực tiếp điều hành quản lý. Tùy theo từng lĩnh vực, ngành nghề tầm quan trọng mà NHTM hình thành nên Công ty con hay Công ty liên kết. Công ty liên kết của một NHTM là “Công ty trong đó NHTM hoặc NHTM và người có liên quan của tổ chức tín dụng sở hữu trên 11% vốn điều lệ hoặc trên 11% vốn cổ phần có quyền biểu quyết, nhưng không phải là Công ty con của tổ chức tín dụng đó”. Do đó, Công ty liên kết không phải là Công ty con của NHTM, có nghĩa trong Công ty liên kết tổng số vốn điều lệ hoặc số vốn cổ phần có quyền biểu quyết của NHTM sở hữu phải trên 11% và nhỏ hơn hoặc bằng 50%. Nên NHTM không điều hành trực tiếp các hoạt động của các Công ty liên kết.

Các Công ty liên kết tăng sức cạnh tranh cho các NHTM trên thị trường, việc NHTM đầu tư vào một số lĩnh vực thông qua Công ty liên kết giúp NHTM cùng nhau chung sức phát triển hoạt động kinh doanh, vượt qua được những khó khăn trong thời điểm nền kinh tế gặp nhiều khó khăn chung.

Công ty liên kết có ưu thế vượt trội hơn hẳn so với các Công ty đơn thuần khác ở chỗ nguốn vốn khá dồi dào và ổn định vì được cung cấp, đảm bảo bởi nhiều nguồn khác nhau, thêm vào đó Công ty liên kết còn có thể được hưởng thị phần của các Công ty thành viên của chính các NHTM.

Đối với loại hình Công ty liên kết, các NHTM không nắm quyền kiểm soát, chi phối nên không hoàn toàn chủ động trong quản lý rủi ro hoặc đưa ra những quyết định quan trọng trong kiểm soát, xử lý rủi ro. Khi các mối quan hệ sở hữu trở nên phức tạp hơn thì có thể NHTM sẽ bị thao túng gián tiếp thông qua các Công ty liên kết. Do đó đối với hình thức thành lập Công ty liên kết thì NHTM không điều hành trực tiếp các hoạt động.

Trong một số các lĩnh vực đầu tư các NHTM cũng có thể không thành lập các Công ty con và Công ty liên kết, nhưng có thể góp vốn, mua cổ phần vào các DN mà luật cho phép để mở rộng hoạt động kinh doanh. Như các NHTM được quyền góp vốn mua cổ phần của các DN hoạt động trên các lĩnh vực quy định tại Khoản 4, Điều 103 Luật TCTD 2010 mà không phải nhất thiết thành lập Công ty con hay Công ty liên kết. Luận văn: Quy định pháp luật giới hạn đầu tư vốn của Ngân hàng.

Cho dù là hình thức đầu tư của các NHTM như thế nào nhưng việc NHTM bỏ vốn đầu tư vào các Công ty con, Công ty liên kết là một hình thức đầu tư kinh doanh. Đây vẫn là hoạt động mà các NHTM bỏ vốn trực tiếp ra để đầu tư kinh doanh, nhằm tăng doanh thu cho chính các NHTM, nên việc NHTM bỏ vốn đầu tư vào các Công ty con, Công ty liên kết là một hình thức đầu tư kinh doanh.

  • Đầu tư trái phiếu

Đầu tư trái phiếu luôn chiếm tỷ trọng rất lớn trong tổng mức đầu tư của NHTM. Tổng hợp số liệu 05 NHTM đầu tư trái phiếu tại phụ lục 3 ta thấy các NHTM đều có tỷ lệ đầu tư vào TPCP, TPDN và chứng khoán nợ do các TCTD trong nước phát hành đều có tổng mức đầu tư rất lớn. Chẳng hạn, tổng kết năm 2015 NH Vietcombank đầu tư 32.178 nghìn tỷ vào TPCP và 100 tỷ vào TPDN, Vietinbank đầu tư 39.464 nghìn tỷ vào TPCP và 51.326 nghìn tỷ vào TPDN. Hoạt động mua bán trái phiếu không hẳn là thuộc hoạt động cấp tín dụng mà còn là một hình thức đầu tư vốn của các NHTM. Trong luận văn tác giả nghiên cứu 02 nội dung, mua TPDN và TPCP.

  • Trường hợp đầu tư trái phiếu Doanh nghiệp

Hiện nay, đối với việc các DN phát hành trái phiếu chuyển đổi thì loại trái phiếu này có thể chuyển đổi thành cổ phần phổ thông của tổ chức phát hành trái phiếu và người chủ sở hữu của trái phiếu đó sẽ trở thành cổ đông của đơn vị phát hành trái phiếu. Như vậy, việc nắm giữ các trái phiếu chuyển đổi của các DN phát hành thì người nắm giữ sẽ trở thành cổ đông của đơn vị phát hành trong tương lai và tỷ lệ cổ phần nắm giữ căn cứ vào tỷ lệ trái phiếu nắm giữ và phương án chào bán trái phiếu đã được các bên thống nhất. Việc các NHTM mua trái phiếu chuyển đổi của các DN cũng phải được xem là một hình thức đầu tư vì ngay sau khi kết thúc thời gian nhất định thì NHTM sẽ trở thành cổ đông góp vốn vào DN phát hành trái phiếu căn cứ vào tỷ lệ trái phiếu nắm giữ. Xét cho cùng thì đây cũng là hình thức góp vốn, mua cổ phần vào DN khác của các NHTM. Do vậy, chúng ta cần phải xem hình thức mua trái phiếu chuyển đổi của các NHTM là một hình thức đầu tư vốn vào DN khác.

Trái phiếu doanh nghiệp: “Trái phiếu doanh nghiệp là loại chứng khoán nợ do doanh nghiệp phát hành, xác nhận nghĩa vụ trả gốc, lãi và các nghĩa vụ khác (nếu có) của doanh nghiệp đối với chủ sở hữu trái phiếu” theo Khoản 1, Điều 2, Thông tư số 22/2016/TT-NHNN của NHNN cấp ngày 30 tháng 6 năm 2016 thay thế Thông tư 28/2011/TT-NHNN quy định việc TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài mua trái phiếu DN. Luận văn: Quy định pháp luật giới hạn đầu tư vốn của Ngân hàng.

Theo Luật TCTD 2010 quy định về đầu tư trái phiếu của NHTM chưa được quy định rõ ràng, hoạt động này có nằm trong việc cấp tín dụng của NHTM hay không. Vì theo Luật TCTD 2010 thì “Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh NH và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác”. Nếu quy định đầu tư TPDN là một trong những hình thức cấp tín dụng thì đó có thể nằm trong vế “các nghiệp vụ cấp tín dụng khác” nhưng đây cũng là điều mà Luật TCTD 2010 quy định chưa rõ ràng. Thông tư 36/2014/TT-NHNN quy định tại Khoản 12 Điều 3 thì cấp tín dụng: Cấp tín dụng bao gồm nghiệp vụ cho vay, bảo lãnh, chiết khấu, tái chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, đầu tư TPDN, phát hành thẻ tín dụng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác theo quy định của NHNN. Và theo Khoản 14 Điều 3 của Thông tư 36/2014/TT-NHNN thì Đầu tư trái phiếu là việc mua hoặc ủy thác cho tổ chức khác (bao gồm cả tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài khác) mua trái phiếu.

Tuy nhiên, theo tác giả thì đây vẫn là một trong những hình thức đầu tư vốn của NHTM vì tính đặc thù của nó, đây có thể là hình thức mà doanh nghiệp hay tổ chức huy động vốn nhanh nhất tiền từ các NHTM để phục vụ phát triển kinh tế thông qua việc phát hành TPDN, đây có thể là cách tìm nguồn vốn để phục vụ sản xuất kinh doanh rất nhanh và trực tiếp của các DN, có thể theo thông tư 36/2014/TT-NHNN thì đây là hình thức cấp tín dụng, nhưng theo tác giả thì đây là hình thức cấp tín dụng đặc biệt và cũng có thể xem là một hình thức đầu tư vốn của NHTM.

  • Theo Khoản 3, Điều 107 Luật TCTD 2010 thì NHTM “Được mua, bán trái phiếu Chính phủ, trái phiếu doanh nghiệp.

Trước đây tại Điểm a, Khoản 1, Điều 1 Thông tư số 28/2011/TT-NHNN của NHNN cấp ngày 01 tháng 9 năm 2011 quy định việc tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài mua trái phiếu doanh nghiệp quy định “Thông tư này quy định việc tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài mua trái phiếu doanh nghiệp phát hành để bán lần đầu cho các đối tượng mua trên thị trường sơ cấp trong lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (sau đây gọi là mua TPDN), bao gồm cả trường hợp tổ chức tín dụng mua số TPDN còn lại chưa bán hết cho đối tượng mua theo cam kết bảo lãnh phát hành trái phiếu doanh nghiệp”. Còn tại Thông tư 22/2016/TT-NHNN thay thế cho Thông tư 28/2011/TT-NHNN quy định “Thông tư này quy định việc tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài mua trái phiếu doanh nghiệp trong lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”.

Ta dễ thấy ở đây có sự khác biệt giữa 02 Thông tư, Thông tư 22/2016/TT- NHNN chỉ quy định các NHTM mua TPDN trong lãnh thổ Việt Nam, không quy định là TPDN phát hành để bán lần đầu cho các đối tượng mua trên thị trường sơ cấp. Thông tư 22/2016/TT-NHNN đã mở rộng hơn phạm vi mua TPDN không chỉ bị hạn chế đối với TPDN phát hành lần đầu mà đó là những loại TPDN nói chung. Điều này cho thấy các quy định của phát luật đã mở rộng hơn nữa về phạm vị kinh doanh của NHTM trong lĩnh vực đầu tư TPDN.

  • Trường hợp đầu tư trái phiếu Chính phủ Luận văn: Quy định pháp luật giới hạn đầu tư vốn của Ngân hàng.

Việc các NHTM đầu tư các loại trái phiếu do chính phủ phát hành là một kênh đầu tư tương đối an toàn của các NHTM, theo Thông tư sửa đổi 06/2016/TT- NHNN thì các NHTM được dùng “vốn ngắn hạn” để đầu tư TPCP, đầu tư TPCP có tính an toàn cao và ít rủi ro. Mặc dù lãi suất của TPCP có thể thấp hơn những hoạt động đầu tư khác của NHTM. Nhưng TPCP vẫn được các NHTM quan tâm đầu tư, một lý do nữa là tính thanh khoản rất cao của TPCP. Khi cần tiền, các NHTM có thể bán lại hoặc thế chấp để chuyển thành tiền mặt.

Ngoài ra các NHTM phải có “dự trữ bắt buộc”, để đảm bảo người dân gửi tiết kiệm cần rút tiền bất cứ lúc nào cũng thanh toán được ngay. Nếu NHTM dự trữ bằng tiền mặt thì không có lãi. Trong nhiều giai đoạn việc cấp tín dụng tăng trưởng chậm thì hoạt động đầu tư TPCP giúp các NHTM tăng dự trữ tiền mà vẫn có lời. Việc các NHTM mua TPCP cần tuân thủ các quy định về sử dụng nguồn vốn để đầu tư TPCP.

Hoạt động đầu tư TPDN hay TPCP phủ vẫn là một kênh đầu tư vốn tạo ra lợi nhuận cho các NHTM, vừa giúp dòng tiền của NH có tính thanh khoản cao, vừa giúp các chủ thể phát hành trái phiếu có thêm nguồn tiền để mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh, ổn định kinh tế vĩ mô.

Theo Điều 104 Luật TCTD 2010 thì “Ngân hàng thương mại được tham gia đấu thầu tín phiếu Kho bạc, mua, bán công cụ chuyển nhượng, trái phiếu Chính phủ, tín phiếu Kho bạc, tín phiếu Ngân hàng Nhà nước và các giấy tờ có giá khác trên thị trường tiền tệ”. Chúng ta thấy được về phương diện Luật quy định thì NHTM được phép mua những loại giấy tờ có giá từ chính phủ và kho bạc nhà nước, thể hiện được quyền và phạm vi của NHTM trong việc mua các loại TPCP, giấy tờ có giá do chính phủ phát hành.

Theo Điều 7 về đối tượng mua trái phiếu quy định tại Nghị định số 01/2011/NĐ-CP của Chính phủ cấp ngày 05 tháng 01 năm 2011 về phát hành trái phiếu Chính phủ, trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh và trái phiếu chính quyền địa phương thì đối tượng mua trái phiếu là tổ chức, cá nhân Việt Nam và tổ chức, cá nhân nước ngoài và Khoản 2, Điều 7 quy định tổ chức của Việt Nam không được sử dụng kinh phí do ngân sách nhà nước cấp để mua trái phiếu, theo quy định trên đây thì NHTM nằm trong tổ chức được quyền mua các loại TPCP, trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh và trái phiếu chính quyền địa phương theo quy định.

  • Các loại TPCP phủ hiện nay mà NHTM có thể mua được:

Trái phiếu Chính phủ: “Trái phiếu Chính phủ là loại trái phiếu do Bộ Tài chính phát hành nhằm huy động vốn cho ngân sách nhà nước hoặc huy động vốn cho chương trình, dự án đầu tư cụ thể thuộc phạm vi đầu tư của Nhà nước”.

Trái phiếu Chính phủ có 03 loại được quy định tại Điều 10 Nghị định 01/2011/NĐ-CP các loại trái phiếu Chính phủ gồm: Tín phiếu kho bạc, trái phiếu kho bạc và công trái xây dựng Tổ quốc.

Trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh: “Trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh là loại trái phiếu do DN, tổ chức tài chính, tín dụng, ngân hàng chính sách của nhà nước thuộc đối tượng quy định tại Điều 32 Luật Quản lý nợ công phát hành và được Chính phủ bảo lãnh thanh toán‟. Luận văn: Quy định pháp luật giới hạn đầu tư vốn của Ngân hàng.

Trái phiếu chính quyền địa phương: “Trái phiếu chính quyền địa phương là loại trái phiếu do Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi là Ủy ban nhân dân cấp tỉnh) phát hành nhằm huy động vốn cho công trình, dự án đầu tư của địa phương”.

Trái phiếu do các TCTD phát hành: Để tăng cường hoạt động việc huy động vốn thì nhà nước vẫn cho các TCTD phát hành các loại trái phiếu; chẳng hạn ngày 10-6-2015 NHNN cho phép NHCP Kỹ thương được phát hành trái phiếu với tổng mệnh giá là 6.500 ỷ đồng theo quyết định 1155/QĐ-NHNN.

Quy định pháp luật cho phép NHTM được mua tất cả các TPCP nhằm giúp NHTM có nhiều kênh đầu tư, làm đa dạng hoá các danh mục đầu tư của các NHTM. Ngược lại đối với các chủ thể phát hành TPCP sẽ có được một khoản kinh phí lớn để thực nhiện các dự án phát triển kinh tế, tạo dòng tiền lưu thông trong hệ thống kinh tế.

  • Đối với việc ngân hàng thương mại mua cổ phiếu của các tổ chức tín dụng khác

Bên cạnh việc góp vốn, mua cổ phần các DN và hoạt động đầu tư trái phiếu của NHTM, thì hình thức NHTM mua cổ phiếu của các TCTD khác vẫn được tiến hành, đây cũng là một kênh đầu tư mang lại lợi nhuận cho các NHTM, nhưng hoạt động đầu tư này có độ rủi ro hơn so với hoạt động đầu tư trái phiếu đặc biệt là TPCP, vì giá trị cổ phiếu của các TCTD khác có thể lên hay xuống tuỳ theo thị trường, kết quả kinh doanh của chính TCTD đó. Khi đầu tư vào hình thức này thì NHTM có thể nhanh chóng chuyển các cổ phiếu thành tiền mặt bằng cách bán các cổ phiếu này trên thị trường chứng khoán khi NH cần lượng tiền mặt để hoạt động.

Theo Thông tư 36/2014/TT-NHNN, có điều khoản liên quan đến hoạt động NHTM mua cổ phiếu của các TCTD khác. Theo đó thì NHTM không được sở hữu cổ phiếu của hơn 02 TCTD, và việc sở hữu không quá 5% cổ phiếu có quyền biểu quyết.

1.2.2 Giới hạn về các tỷ lệ đầu tư vốn của ngân hàng thương mại Luận văn: Quy định pháp luật giới hạn đầu tư vốn của Ngân hàng.

Vì tính đặc thù đầu tư vốn của NHTM, nên pháp luật điều chỉnh rất cụ thể và chặt chẽ những vấn đề liên quan đến hoạt động này, đó là các giới hạn về tỷ lệ đầu tư vốn của NHTM. Các NHTM đều phải tuân thủ theo các giới hạn về tỷ lệ phần vốn được bỏ ra cũng như giới hạn về tỷ lệ vốn mà các DN, tổ chức được nhận khi các NHTM đầu tư vào.

  • Tỷ lệ giới hạn đối với góp vốn mua cổ phần của ngân hàng thương mại

Trong tỷ lệ về giới hạn góp vốn, mua cổ phần của các NHTM vào các Công ty, tổ chức kinh tế chúng ta phải xét ở hai khía cạnh: Tỷ lệ mức vốn được đầu tư của NHTM và tỷ lệ được nhận góp vốn của các tổ chức kinh tế.

  • Tỷ lệ mức vốn được đầu tư của của ngân hàng thương mại

Nguồn vốn được sử dụng để thực hiện hình thức đầu tư góp vốn, mua cổ phần của NHTM để thành lập các Công ty con, Công ty liên kết được pháp luật quy định là vốn điều lệ và quỹ dữ trữ của các NHTM. Việc quy định về nguồn vốn được sử dụng góp vốn mua cổ phần của các NHTM là một quy định nhằm ưu tiên trước hết là việc đảm bảo nguồn vốn cho các hoạt động kinh doanh truyền thống của các NHTM là huy động tiền gửi và cấp tín dụng.

Tuỳ theo một số hình thức đầu tư thì NHNN đã có các quy định về việc sử dụng nguồn vốn để thực hiện hoạt động đầu tư, nhằm giúp tránh việc các NHTM sử dụng nguồn tiền từ việc người dân gửi vào để thực hiện các hoạt động đầu tư dễ tạo nên tiềm ẩn rủi ro rất lớn. Vì ngay cả trong nghiệp vụ cấp tín dụng của các NH đã tồn tại các khoản nợ có khả năng không thu hồi được mặc dù trước khi bắt đầu cấp tín dụng đã phải trải qua những bước thẩm định, quy trình rất chặt chẽ về kế hoạch kinh doanh và khả năng trả nợ. Có thể cùng với một hình thức đầu tư đó nhưng khi có lãi rất lớn nhưng cũng có khi là mất trắng. Nếu cho phép sử dụng nguồn tiền gửi của người dân để tiến hành các hoạt động đầu tư vốn nhiều khả năng dẫn đến các NHTM không thể đảm bảo được các hạn mức an toàn về vốn cho chính các nghiệp vụ kinh doanh truyền thống của mình. Do đó, việc quy định sử dụng vốn điều lệ, quỹ dự trữ của các NHTM để tiến hành các hoạt động đầu tư góp vốn mua cổ phần của các DN khác, thành lập các Công ty con, Công ty liên kết là hợp lý.

Để tránh trường hợp các NHTM đầu tư dàn trải, cũng như sử dụng nguồn vốn không hiệu quả, nên luật quy định cụ thể về hạn mức góp vốn trong từng trường hợp cụ thể. Căn cứ theo Khoản 2, Điều 129 Luật TCTD 2010 “Tổng mức góp vốn mua cổ phần của NHTM vào các DN, kể cả Công ty con, công ty liên kết không quá 40% giá trị vốn điều lệ và quỹ dự trữ của NHTM”. Ta dễ thấy khi các NHTM thực hiện hoạt động góp vốn, mua cổ phần thì luật quy định cho tổng mức vốn là không quá 40% giá trị vốn điều lệ và quỹ dự trữ. Luận văn: Quy định pháp luật giới hạn đầu tư vốn của Ngân hàng.

Cho thấy pháp luật không khuyến khích NHTM được sử dụng hết số vốn điều lệ và qũy dự trữ đề đầu tư trong việc góp vốn, mua cổ phần vào DN khác hoặc đầu tư vào Công ty con và Công ty liên kết. Đây là quy định cần thiết nhằm bảo đảm an toàn trong việc đầu tư vốn của NH, vốn điều lệ và quỹ dự trữ không thể để sử dụng hết cho hoạt động đầu tư này, đây là số tiền mà NHTM có thể dùng để mua sắm cơ sở vật chất, phục vụ yêu cầu công việc cũng như thực hiện các chương trình phúc lợi nâng cao đời sống cho cán bộ công nhân viên. Do đó, việc quy định tỷ lệ cụ thể số lượng vốn được đầu tư đối với hình thức có ý nghĩa hết sức quan trọng trong hoạt động tổ chức của NHTM.

Trên thực tế quy định này được các NHTM tuân thủ rất đúng: Tại ngân hàng công thương Việt nam (Vietinbank) đến thời điểm báo cáo năm 2015 ngày 31/12/2015 tổng vốn điều lệ và quỹ dự trữ là 55.867.720 tỉ đổng, ngân hàng Vietinbank đã đầu tư vào các Công ty con và Công ty liên kết là 3.892.314 ti đồng chiếm 6.96% vốn điều lệ và quỹ dữ trữ đảm bảo đúng quy định pháp luật của nhà nước.

  • Tỷ lệ được nhận góp vốn của các tổ chức kinh tế

Tùy thuộc vào loại hình các Công ty nhận góp vốn mà mức góp vốn có tỷ lệ khác nhau, có thể là Công ty liên kết, Công ty con. NHTM có thể thành lập, mua lại Công ty con, Công ty liên kết như tại quy định Khoản 2, 3 Điều 103 Luật TCTD 2010. Hình thức này tùy thuộc NHTM đầu tư vào loại hình Công ty nào. Công ty nhận góp vốn là Công ty con thì mức nhận góp vốn của loại hình Công ty này có thể là trên 50% vốn điều lệ hoặc trên 50% vốn cổ phần có quyền biểu quyết.

Còn Công ty nhận góp vốn là Công ty liên kết của NHTM thì mức nhận vốn góp là trên 11% vốn điều lệ hoặc trên 11% vốn cổ phần có quyền biểu quyết, nhưng không phải là Công ty con của tổ chức tín dụng đó.

Tuy nhiên không phải các Công ty nhận vốn góp đều có tỷ lệ như trên mà luật cũng quy định tùy thuộc vào từng lĩnh vực hoạt động của từng Công ty mà các NHTM được góp vốn ở các mức khác nhau. Đối với các ngành nghề quy định tại Khoản 4 Điều 103 thì tỷ lệ không quá 11% vốn điều lệ của DN nhận góp vốn là tỷ lệ không cao, không thể giúp NHTM kiểm soát được các DN nhận góp vốn. Có thể thấy NHNN không khuyến khích các NHTM góp vốn, mua cổ phần lại những DN hoạt động trên các lĩnh vực quy định tại Khoản 4 Điều 103 Luật TCTD 2010.

Theo Điểm b, Khoản 4, Điều 103 Luật TCTD 2010 có nêu các lĩnh vực khác, chúng ta dễ hiểu là NHTM có thể xin chủ trương của NHNN để đầu tư các lĩnh vực khác không phải là lĩnh vực liên quan đến tiền tệ để đầu tư kinh doanh, quy định này hạn chế các NHTM muốn đầu tư thêm những lĩnh vực không phải là sở trường của các NHTM. Điều này cũng là điều dễ hiểu, vì nếu luật cho phép NH được đầu tư trên 50% vốn điều lệ của DN nhận góp vốn, sẽ dẫn đến tình trạng thâu tóm của những NH có tiềm lực tài chính lớn đối với những DN khác dẫn đến lũng đoạn thị trường. Ngoài ra việc không khuyến khích các NHTM đầu tư ngoài những Công ty con của NH sẽ tạo điều kiện cho NH tập trung tốt hơn về nhân lực và vật lực để phát triển các Công ty mà NH nắm quyền kiểm soát. Tuy nhiên trong một số trường hợp các NHTM có tiềm lực về vốn, con người, kỹ thuật… việc đầu tư ra các ngành nghề khác sẽ mang lại lợi nhuận cho chính các NHTM thì quy định này lại là một rào cản không tạo được thế chủ động trong chiến lược kinh doanh của NHTM. Luận văn: Quy định pháp luật giới hạn đầu tư vốn của Ngân hàng.

  • Giới hạn tỷ lệ về đầu tư trái phiếu

Đầu tư TPDN và TPCP luôn chiếm số vốn rất lớn trong danh mục đầu tư của NHTM. Việc NHNN quy định về tỷ lệ vốn được đầu tư vào các loại trái phiếu nhằm duy trì trong việc quản lý nguồn tiền đầu tư vào các danh mục khác nhau của NHTM.

  • Tỷ lệ giới hạn đầu tư trái phiếu Doanh nghiệp

Theo Khoản 12 Điều 3 Thông tư 36/2014/TT-NHNN thì cấp tín dụng bao gồm nghiệp vụ cho vay, bảo lãnh, chiết khấu, tái chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, đầu tư TPDN, phát hành thẻ tín dụng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác theo quy định của NHNN. Do đó, đầu tư TPDN là một trong những hình thức cấp tín dụng cho một khách hàng.

Theo quy định tại Điều 128 Luật TCTD 2010 thì tổng mức cấp tín dụng đối với một khách hàng không quá 15% vốn tự có, khách hàng và người liên quan không quá 25%. Theo Khoản 1, Điều 6 Thông tư 22/2016/TT-NHNN cũng tiếp tục quy định “tổng số dư mua trái phiếu doanh nghiệp được tính vào tổng mức dư nợ cấp tín dụng đối với một khách hàng, đối với một khách hàng và người có liên quan theo quy định tại Điều 128 Luật các tổ chức tín dụng và quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài”. Và ngoài ra Theo Khoản 2, Điều 6 Thông tư 22/2016/TT-NHNN thì tổ chức tín dụng, chi nhánh NN nước ngoài quy định cụ thể các giới hạn mua TPDN: Mua trái phiếu của một DN phát hành; mua trái phiếu của một DN phát hành và DN liên quan phát hành; mua TPDN có bảo đảm, không có bảo đảm; mua TPDN với mục đích để bán, để đầu tư và giữ đến ngày đáo hạn.

  • Tỷ lệ giới hạn đầu tư trái phiếu Chính phủ

Trái phiếu chính phủ là một trong những hình thức mà chính phủ huy động tiền từ các tổ chức cá nhân trong toàn xã hội để tạo nguồn kinh phí giúp chính phủ duy trì các hoạt động, thúc đẩy sản xuất kinh doanh. Đây cũng là hình thức đầu tư tốt, tạo ra lợi nhuận ổn định cho các NHTM. Việc NHNN quy định các vấn đề liên quan đến hoạt động đầu tư TPCP như nguồn vốn đầu tư, tỷ lệ vốn được đầu tư giúp chính các NHTM chủ động trong việc đầu tư mang lại hiệu quả.

Theo quy định tại Thông tư 06/2016/TT-NHNN các NHTM được sử dụng nguồn vốn ngắn hạn để đầu tư mua TPCP lần lượt tỷ lệ là 25% đối với NHTM NN, 35% đối với NHTM CP. Quy định này giúp các NHTM chủ động và phân phối nguồn vốn ngắn hạn vào các đối tượng cấp tín dụng. Nhìn vào tỷ lệ trong việc sử dụng vốn vay ngắn hạn để đầu tư TPCP là tỷ lệ rất lớn, lớn hơn việc cấp tín dụng thông thương cho một khách hàng và người liên quan. Việc quy định tỷ lệ vốn đầu tư TPCP là cần thiết vì nếu không quy định cụ thể thì dẫn đến tình trạng các NHTM sử dụng hết nguồn vốn ngắn hạn để mua TPCP phủ tạo ra sự mất cân bằng trong việc phân bổ nguồn vốn cho các khách hàng trong hoạt động sản xuất kinh doanh.

Ngoài ra, với tỷ lệ trên, các NHTM sẽ không chỉ đầu tư TPCP mà bỏ qua việc phát triển các khách hàng khác. Bên cạnh đó, trong giai đoạn tín dụng tăng trưởng chậm các NHTM không chỉ nhìn vào việc đầu tư TPCP mà phải năng động tích cực tìm các khách hàng mới. Luận văn: Quy định pháp luật giới hạn đầu tư vốn của Ngân hàng.

  • Giới hạn tỷ lệ mua cổ phiếu các tổ chức tín dụng khác

Trong tình hình nền tài chính hiện nay, quá trình hoạt động của NHTM hầu hết đều thành lập các Công ty chứng khoán (8/10 NHTM có vốn điều lệ lớn nhất đều có), việc mua bán cổ phần giữa các NHTM là điều khó tránh khỏi, một mặt thúc đẩy sự liên kết giữa các NHTM, nhưng mặt khác cũng tiềm ẩn nhiều nguy cơ, và nguy cơ các NHTM sở hữu cổ phần lẫn nhau đã và đang tồn tại. Trên cơ sở đó, để kiểm soát chặt chẽ hơn nữa việc nắm giữ cổ phiếu giữa các NHTM thì NHNN đã quy định về điều kiện, tỷ lệ nắm giữa cổ phiếu các TCTD, nhằm hạn chế tình trạng sở hữu cổ phiếu giữa các NHTM tạo môi trường lành mạnh trong việc phát triển và cạnh tranh của các NHTM.

Theo Khoản 1, Điều 20 của Thông tư 36/2014/TT-NHNN thì NHTM được nắm giữa cổ phiếu của các tổ chức tín dụng khác. Các quy định tại điều này cho thấy NHNN không khuyến khích việc mua cổ phiếu lẫn nhau giữa các NHTM, nên NHTM đưa ra các điều kiện rất khắt khe. Muốn sở hữu cổ phiếu các NHTM khác thì NHTM đó phải đáp ứng được các điều kiện:

  • Về tỷ lệ nắm giữ cố phiếu

“Chỉ được mua, nắm giữ cổ phiếu tối đa không quá hai (02) TCTD khác, trừ trường hợp TCTD khác là Công ty con của NHTM đó; Chỉ được mua, nắm giữ cổ phiếu của một TCTD khác dưới 5% vốn cổ phần có quyền biểu quyết của TCTD khác đó; NHTM không được cử người tham gia hội đồng quản trị tại TCTD mà NHTM đã mua, nắm giữ cổ phiếu, trừ trường hợp TCTD đó là Công ty con của NHTM hoặc NHTM tham gia tái cơ cấu, xử lý TCTD yếu kém theo chỉ định của NHNN”.

Những quy định trên ta thấy rõ NHNN không muốn các NHTM sở hữu cổ phiếu lẫn nhau. Các quy định nhằm ngăn ngừa các NHTM sở hữu chằng chéo. Bên cạnh đó NHTM cũng chỉ mua được dưới 5% cổ phiếu có quyền biểu quyết của các TCTD và không được cử người tham gia HĐQT tại các TCTD đó. Quy định này nhằm tránh việc các NHTM trở thành các cổ đông lớn của các TCTD khác tạo nên sự chi phối giữa các TCTD với nhau.

  • Về điều kiện để mua, nắm giữ cổ phiếu của tổ chức tín dụng khác

Theo quy định tại Điều 20 Thông tư 36/2014/TT-NHNN quy định NHTM mua, nắm giữ cổ phiếu của TCTD khác phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện sau đây tại thời điểm mua, nắm giữ cổ phiếu:

“Giá trị thực của vốn điều lệ không thấp hơn vốn điều lệ đã đăng ký; Đảm bảo các giới hạn và tỷ lệ an toàn theo quy định; Có tỷ lệ nợ xấu dưới 3%; Có quy trình xét duyệt, thẩm định, đánh giá rủi ro đối với việc mua, nắm giữ cổ phiếu của TCTD khác; Từng khoản mua, nắm giữ cổ phiếu của TCTD khác phải được Hội đồng quản trị, Hội đồng thành viên thông qua; Không bị xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động ngân hàng trong thời gian 1 năm trước ngày mua, nắm giữ cổ phiếu; Chủ tịch và thành viên khác của Hội đồng quản trị, Chủ tịch và thành viên khác của Hội đồng thành viên, Tổng giám đốc (Giám đốc), Trưởng Ban và thành viên khác của Ban kiểm soát, cổ đông lớn của NHTM, Công ty con của NHTM và người có liên quan của những người này không mua, nắm giữ vốn cổ phần có quyền biểu quyết của TCTD đó”.

Đây là những quy định thuộc về chủ thể chính là NHTM, khi các NHTM tiến hành mua cổ phiếu của các TCTD khác thì bản thân NHTM phải đó có tiềm lực tài chính, cách quản trị và có bản lý lịch tốt. Quy định này là cần thiết để sàng lọc ra những NHTM có đủ điều kiện về vốn, khả năng quản lý để nắm giữ cổ phiếu của các TCTD khác. Việc này nhằm hạn chế các NHTM yếu kém nắm giữ cổ phiếu của các TCTD khác, từ đó ảnh hưởng đến chính hoạt động kinh doanh của chính NH đó và xa hơn nữa là cả hệ thống tài chính. Luận văn: Quy định pháp luật giới hạn đầu tư vốn của Ngân hàng.

1.2.3 Giới hạn về lĩnh vực đầu tư vốn của ngân hàng thương mại

Do NHTM là một định chế tài chính quan trọng bậc nhất của mỗi quốc gia. NHTM là tổ chức kinh doanh tiền tệ mà nhiệm vụ chủ yếu là nhận tiền gửi của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả, sử dụng số tiền đó cho vay thực hiện nghiệp vụ NH và làm phương tiện thanh toán.

Các NHTM ngày càng phải hoạt động trong sự cạnh tranh gay gắt nên sản phẩm và phương thức kinh doanh của các NHTM cũng có sự thay đổi, theo đó, sản phẩm của NH còn bao gồm các dịch vụ khác như: Bảo lãnh, chứng khoán, đầu tư trái phiếu, cổ phiếu, đầu tư, góp vốn vào các Công ty con, Công ty liên kết.

Vì tầm quan trọng của hệ thống NH trong toàn bộ nền kinh tế, cũng như tạo ra những định chế an toàn cho hoạt động của NH, nên Luật quy định chặt chẽ những lĩnh vực mà NH được thực hiện hoạt động kinh doanh, những lĩnh vực này được quy định rõ ràng trong những quy định của pháp luật hiện hành.

Như chúng ta đã biết, hoạt động NH hiện nay không đơn thuần là cho vay tiền và nhận tiền gửi, để phù hợp với xu thế phát triển kinh tế hiện nay, nhằm tăng sức cạnh tranh giữa NH và các Công ty tài chính, luật quy định NHTM cần phải thành lập hoặc mua lại các Công ty con, Công ty liên kết để thực hiện các hoạt động kinh doanh khác ngoài các hoạt động NH truyền thống.

  • Ngân hàng thương mại phải thành lập hoặc mua lại các công ty hoạt động trên các lĩnh vực

Theo Luật TCTD 2010 thì NHTM phải thành lập hoặc mua lại Công ty con, Công ty liên kết để thực hiện hoạt động kinh doanh sau đây: Bảo lãnh phát hành chứng khoán, môi giới chứng khoán; quản lý, phân phối chứng chỉ quỹ đầu tư chứng khoán; quản lý danh mục đầu tư chứng khoán và mua, bán cổ phiếu; Cho thuê tài chính và bảo hiểm. Đây là các lĩnh vực ngành nghề mà các NHTM khi muốn hoạt động kinh doanh bắt buộc phải thành lập hoặc mua lại Công ty con, Công ty liên kết để thực hiện hoạt động kinh doanh, điều này nhằm giúp cho các NHTM có được cách quản lý chuyên nghiệp, chuyên trách đối với từng mảng hoạt động nâng cao hiệu quả đầu tư.

Các lĩnh vực quy định trên ta dễ thấy các ngành nghề này chủ yến liên quan đến hoạt động kinh doanh chứng khoán, mua bán cổ phiếu, đây là mảng kinh doanh đòi hỏi sự chuyên nghiệp, đội ngũ cán bộ nhanh nhạy, có trình độ để cạnh tranh với các Công ty chuyên hoạt động về chứng khoán Bên cạnh đó, mối quan hệ giữa các NHTM với Công ty chứng khoán luôn có mối quan hệ mật thiết với nhau, nên pháp luật quy định cho các NHTM thành lập, hoặc mua cổ phần các Công ty hoạt động trên các lĩnh vực trên cũng là điều dễ hiểu và việc yêu cầu các NHTM phải thành lập hoặc mua lại các Công ty hoạt động trên lĩnh vực trên cũng phù hợp. Luận văn: Quy định pháp luật giới hạn đầu tư vốn của Ngân hàng.

Đối với ngành nghề cho thuê tài chính và bảo hiểm cũng vậy đòi hỏi các NHTM cũng phải thành lập hoặc mua lại Công ty con, Công ty liên kết nếu muốn hoạt động đầu tư kinh doanh. Thực tế tại phụ lục 1 thì các NHTM đã thực hiện đầu tư vào các Công ty con hoạt động vào lĩnh vực chứng khoán chiếm 8/10 NHTM có vốn điều lệ lớn nhất, điều này cho thấy tầm quan trọng của lĩnh vực này và đòi hỏi sự quản lý chặt chẽ của hệ thống pháp luật cũng như của chính các NHTM.

  • Ngân hàng thương mại được thành lập, mua lại các công ty hoạt động trên các lĩnh vực

Ngoài những lĩnh vực được quy định tại Khoản 2, Điều 103 nói trên thì các NHTM mại được thành lập, mua lại Công ty con, Công ty liên kết hoạt động trên các lĩnh vực: Quản lý tài sản bảo đảm, kiều hối, kinh doanh ngoại hối, vàng, bao thanh toán, phát hành thẻ tín dụng, tín dụng tiêu dùng, dịch vụ trung gian thanh toán, thông tin tín dụng. Đây là các lĩnh vực không phải bắt buộc các NHTM phải thành lập các Công ty con, Công ty liên kết khi muốn tiến hành đầu tư kinh doanh trên các lĩnh vực này. Nhưng không phải dựa vào quy định trên để đưa ra nhận định các ngành nghề quy định tại khoản 2 quan trọng hơn khoản 3. Xét ở góc độ khác thì ta thấy rõ, các NHTM sẽ dễ dàng thực hiện hoạt động kinh doanh hơn khi đầu tư vào các lĩnh vực quy định tại Khoản 3 Điều 103 Luật TCTD 2010.

Đối với trường hợp ở khoản 2 thì bắt buộc NHTM chọn một trong hai hình thức thành lập hoặc mua lại Công ty con, Công ty liên kết nếu muốn hoạt động trên lĩnh vực mà Khoản 2, Điều 103 Luật TCTD 2010 quy định. Còn Khoản 3 thì không nhất thiết NHTM chọn một trong hai trường hợp thành lập hoặc mua lại mà NHTM có thể chọn cả hai trường hợp đó để thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh quy định tại Khoản 3, Điều 103 Luật TCTD 2010.

  • Ngân hàng thương mại có thể góp vốn, mua cổ phần các công ty hoạt động trên các lĩnh vực

Tại Khoản 4, Điều 103 Luật TCTD 2010, thì các NHTM chỉ cần góp vốn mua cổ phần hoạt động trên lĩnh vực bảo hiểm, chứng khoán, kiều hối, kinh doanh ngoại hối, vàng, bao thanh toán, phát hành thẻ tín dụng, tín dụng tiêu dùng, dịch vụ trung gian thanh toán, thông tin tín dụng và các lĩnh vực khác.

Nếu Khoản 2, 3 Điều 103 Luật TCTD 2010 quy định các NHTM thành lập, mua lại Công ty con, Công ty liên kết thì Khoản 4 Điều 103 là điều khoản mở cho các NHTM không muốn thành lập các Công ty con, Công ty liên kết thì có thể góp vốn, mua cổ phần vào các DN hoạt động trên các lĩnh vực “ bảo hiểm, chứng khoán, kiều hối, kinh doanh ngoại hối, vàng, bao thanh toán, phát hành thẻ tín dụng, tín dụng tiêu dùng, dịch vụ trung gian thanh toán, thông tin tín dụng‟ và lĩnh vực khác không quy định tại điểm a khoản này. Tuy nhiên khi các NHTM góp vốn vào các DN theo hình thức này thì sẽ hạn chế trong vấn đề kiểm soát hoạt động của các Công ty này. Luận văn: Quy định pháp luật giới hạn đầu tư vốn của Ngân hàng.

Việc quy định tại Điểm a Khoản 4 Điều 103 Luật TCTD 2010 giúp các NHTM khi muốn hoạt động đầu tư các ngành nghề trên vẫn có thể tiến hành được nhưng không nhất thiết phải thành lập hay mua lại Công ty con, Công ty liên kết.

Những ngành nghề quy định tại Khoản 3 và Điểm a, Khoản 4 có nhiều ngành nghề trùng nhau chỉ khác nhau về quản lý tài sản bảo đảm của Khoản 3 và bảo hiểm, chứng khoán tại điểm a Khoản 4. Cho thấy NHTM vẫn tạo điều kiện cho NHTM đầu tư kinh doanh có thể thành lập Công ty hay góp vốn, mua cổ phần vào các DN khác hoạt động trên các lĩnh vực trên.

Nội dung tại Điểm b, Khoản 4 Điều 103 Luật các TCTD 2010, luật cho phép các NHTM được mở rộng ngành nghề kinh doanh, đáp ứng nhu cầu đa dạng hoá các lĩnh vực đầu tư của NHTM, nhưng các lĩnh vực kinh doanh này cần có sự “đồng ý của NHNN”. Và trong tình hình kinh tế hiện nay các NHTM mở rộng hoạt động kinh doanh đối với các lĩnh vực không liên quan đến tài chính tiền tệ cũng không phải là hiếm, mà đang được mở rộng.

NH hiện sở hữu cổ phần trong các DN: Danh sách Công ty do Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á Châu (ACB) nắm giữ.

Trên đây là một số Công ty mà NHTM ACB đang nắm giữ, nhưng chúng ta dễ nhận thấy những Công ty trên không thuộc các ngành nghề tài chính NH hay liên quan đến hoạt động nghiệp vụ của NH. Do đó, căn cứ vào Điểm b, Khoản 4 Điều 103 Luật TCTD 2010 thì NH ACB đã xin chủ trương và được sự đồng ý của NHNN về các danh mục đầu tư trên để đầu tư vào một số DN như: Xi măng Vicen Bút sơn, Đầu Tư Dầu Khí Sao Mai…

  • Ngân hàng thương mại không được kinh doanh bất động sản

Riêng trong lĩnh vực kinh doanh bất động sản, thì theo điều 132 Luật các TCTD 2010 đã nêu rõ, TCTD không được kinh doanh bất động sản, trừ các trường hợp: Mua, đầu tư, sở hữu bất động sản để sử dụng làm trụ sở kinh doanh, địa điểm làm việc hoặc cơ sở kho tàng phục vụ trực tiếp cho các hoạt động nghiệp vụ của tổ chức tín dụng; Cho thuê một phần trụ sở kinh doanh chưa sử dụng hết, thuộc sở hữu của tổ chức tín dụng; Nắm giữ bất động sản do việc xử lý nợ vay. Trong thời hạn 03 năm, kể từ ngày quyết định xử lý tài sản bảo đảm là bất động sản, TCTD phải bán, chuyển nhượng hoặc mua lại bất động sản này để bảo đảm tỷ lệ đầu tư vào tài sản cố định. Bởi vì khi cho phép NHTM được phép kinh doanh bất động sản thì các dự án bất động sản rất dễ trở thành sân sau của các NH, nên nguy cơ nợ xấu, rủi ro cho hệ thống NH rất cao. Bên cạnh đó, mối quan hệ giữa các NH với dự án bất động sản không rõ ràng, minh bạch luôn tiềm ẩn nguy cơ. Một cá nhân hay một nhóm lợi ích rất dễ lợi dụng các bất động sản, dự án bất động sản không đủ tiêu chuẩn để thế chấp vay tiền NH.

Trong tình hình hiện nay, thị trường bất động sản và NH có mối liên hệ mật thiết với nhau, nếu như luật cho phép NH được kinh doanh bất động sản sẽ dẫn đến lung đoạn thị trường và tạo ra những cạnh tranh không công bằng, dễ tạo ra bong bóng bất động sản và nguy cơ tạo ra nợ xấu cho NH là hoàn toàn có thể xẩy ra. NH có thể sử dụng nguồn lực tài chính của mình để thâu tóm các dự án, sau đó nâng giá lên, hay sử dụng nguồn vốn của mình để mua cổ phần của các Công ty hoạt động trên lĩnh vực bất động sản, sau đó sử dụng nhiều thủ thuật để cấp tín dụng cho các dự án bất động sản của các Công ty này những không đảm bảo tài sản thế chấp và dễ gây nên tình trạng nợ xấu trên hệ thống.

Ngoài những quy định về lĩnh vực các NHTM phải hoặc được thành lập, góp vốn mua cổ phần Công ty con, Công ty liên kết và các DN khác thì pháp luật cũng quy định các điều kiện chặt chẽ về một số lĩnh vực mà các NHTM muốn làm cổ đông sáng lập thì phải đáp ứng các tiêu chí nhất định. Theo Thông tư 30/2015/TT-NHNN quy định tại điểm V Khoản 2 Điều 11 từ 08/02/2016, các NHTM Việt Nam khi muốn làm cổ đông sáng lập của Công ty tài chính, Công ty cho thuê tài chính phải đảm bảo các điều kiện:

Có tổng tài sản tối thiểu 100.000 tỷ đồng, tuân thủ đầy đủ các quy định về quản trị rủi ro và trích lập dự phòng đầy đủ theo quy định tại thời điểm nộp hồ sơ đề nghị cấp Giấy phép và đến thời điểm nộp hồ sơ bổ sung để được xem xét cấp Giấy phép;

  • Không vi phạm các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động theo quy định của Ngân hàng Nhà nước trong năm liền kề trước năm nộp hồ sơ đề nghị cấp Giấy phép và đến thời điểm nộp hồ sơ bổ sung để được xem xét cấp Giấy phép;
  • Đảm bảo tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu sau khi góp vốn thành lập tổ chức tín dụng phi ngân hàng;
  • Không bị xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiền tệ và hoạt động ngân hàng trong 02 năm liền kề trước năm nộp hồ sơ đề nghị cấp Giấy phép và đến thời điểm nộp hồ sơ đề nghị cấp Giấy phép”.

Ngoài ra NHTM phải đáp ứng được các điều kiện sau: Chịu trách nhiệm về tính hợp pháp của nguồn vốn góp, cam kết hỗ trợ về tài chính để giải quyết khó khăn trong trường hợp tổ chức tín dụng phi ngân hàng khó khăn về vốn hoặc khả năng chi trả, thanh khoản, không phải là cổ đông chiến lược, cổ đông sáng lập, chủ sở hữu, thành viên sáng lập của tổ chức tín dụng khác được thành lập và hoạt động tại Việt Nam, có khả năng về tài chính để góp vốn thành lập tổ chức tín dụng phi ngân hàng; không được dùng vốn ủy thác, vốn huy động, vốn vay của các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, tổ chức, cá nhân khác để góp vốn. Luận văn: Quy định pháp luật giới hạn đầu tư vốn của Ngân hàng.

Như vậy, với Thông tư 30/2015/TT-NHNN NHNN sẽ siết chặt các quy định trong việc thành lập các Công ty tài chính nhằm tránh các NHTM thành lập ồ ạt các Công ty tài chính trên thị trường, nhưng hoạt động không hiệu quả.

Nhìn chung các quy định về việc góp vốn, mua cổ phần của NHTM đối với các tổ chức kinh tế khác đều được pháp luật kiểm soát rất chặt chẽ bằng việc quy định về điều kiện góp vốn, tỷ lệ góp vốn và lĩnh vực có thể được đầu tư. Tất cả các quy định trên đều tạo thành một hành lang pháp lý vững chắc để buộc các NH không được chăm chút và chạy theo giá trị của các khoản đầu tư nằm ngoài hoạt động NH truyền thống mà phải có sự kiểm soát để đảm bảo cung ứng hoạt động NH một cách tốt nhất.

Việc NHTM thành lập, mua lại các Công ty con, Công ty liên kết hay mua cổ phần của các DN khác đều là những hoạt động đầu tư vốn của NHTM, nhằm đa dạng hoá hoạt động kinh doanh, tăng lợi nhuận của NHTM. Tuy nhiên tuỳ theo mỗi lĩnh vực đầu tư mà các NHTM có các hình thức đầu tư khác nhau.

Có thể nói hoạt động thành lập, mua lại Công ty con, Công ty liên kết được quy định tại Khoản 2, 3 Điều 103 Luật TCTD 2010 thể hiện được quyền kiểm soát rất cao của các NHTM đối với các hình thức đầu tư này, ngoài ra còn đòi hỏi các NHTM phải chuyển bị tốt về cơ sở vật chất kỹ thuật, trình độ của nhân viên, cách quản trị điều đó cho ta thấy các ngành nghề quy định tại các khoản nên trên có vài trò ý nghĩa rất quan trọng đối với hoạt động kinh doanh của chính các NHTM.

Còn các hoạt động góp vốn mua cổ phần của các DN được quy định tại Khoản 4 Điều 103 Luật TCTD 2010. Đây là hình thức giúp các NHTM chủ động linh hoạt trong việc mở rộng hoạt động đầu tư kinh doanh. Việc mua cổ phần các DN khác đòi hỏi các NHTM cần chuyển bị các điều kiện về con người, cơ sở vật chất, khả năng quản trị và quan trọng là NHTM phải nghiên cứu tổng thể về DN nhận góp vốn và có đủ nguồn vốn để đầu tư.

Kết luận chương 1 Luận văn: Quy định pháp luật giới hạn đầu tư vốn của Ngân hàng.

Trong chương 1 tác giả đã làm rõ được một số nội dung sau:

Tổng quan về vốn, đầu tư vốn, vốn được đầu tư đối với các hình thức khác nhau của các NHTM, đi sâu phân tích những quy định của pháp luật hiện hành liên quan đến hoạt động đầu tư vốn của các NHTM, đặc biệt là góp vốn, mua cổ phần và đầu tư trái phiếu, cổ phiếu của các NHTM.

Nói lên được tầm quan trọng và sự cần thiết những quy định của pháp luật về các tỷ lệ giới hạn đầu tư vốn trong hoạt động kinh doanh của các NHTM.

Phân tích các đặc tính pháp lý trên nhiều khía cạnh (hình thức, nguồn vốn, lĩnh vực đầu tư, giới hạn về các tỷ lệ) giữa NHTM và DN nói chung. NHTM xét ở góc độ pháp lý vẫn là một DN, nên có những đặc điểm chung với các DN, nhưng vì tầm quan trọng trong nền kinh tế và lĩnh vực hoạt động đặc thù của NHTM là tiền tệ và hoạt động của NHTM liên quan, ảnh hưởng đến các ngành nghề khác nên hoạt động của NHTM vẫn có những đặc điểm riêng biệt với DN nói chung về giới hạn các hình thức đầu tư, lĩnh vực đầu tư và các tỷ lệ an toàn trong đầu tư vốn của NHTM.

Tuỳ theo hình thức đầu tư có thể là góp vốn, mua cổ phần, đầu tư trái phiếu NHNN sẽ có những quy định pháp luật riêng lẽ về tỷ lệ vốn, tổng nguồn vốn, nguồn vốn được sử dụng để đầu tư nhằm tăng cường vai trò quản lý giám sát của NHNN đối với hoạt động đầu tư của NHTM, đây là một trong các nội dung quan trọng cần thiết để giúp các NHTM tự xây dựng phương hướng kế hoạch đầu tư vốn và giúp các NHNN giám sát dễ hơn hoạt động đầu tư của NHTM. Các quy định hiện hành của NHNN tuy đã phát huy hiệu quả trong việc điều chỉnh các hoạt động đầu tư của các NHTM, nhưng trong từng quy định vẫn chưa thực sự phù hợp đối với quá trình hoạt động kinh doanh của các NHTM. Luận văn: Quy định pháp luật giới hạn đầu tư vốn của Ngân hàng.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:  

===>>> Luận văn: Thực trạng pháp luật giới hạn đầu tư vốn tại ngân hàng

One thought on “Luận văn: Quy định pháp luật giới hạn đầu tư vốn của Ngân hàng

  1. Pingback: Luận văn: Thực trạng pháp luật giới hạn đầu tư vốn tại ngân hàng

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464