Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Pháp luật VN về cấp giấy phép lao động nước ngoài hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Hoàn thiện các quy định của pháp luật Việt Nam về cấp giấy phép lao động nước ngoài dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Trong điều kiện hội nhập kinh tế toàn cầu là xu thế khách quan, di cư quốc tế là vấn đề của nhiều quốc gia. Hiện nay nhà nước đang thực hiện các chính sách khuyến khích các doanh nghiệp, doanh nhân nước ngoài đầu tư vào Việt Nam, làm cho môi trường đầu tư, kinh doanh tại nước ta không ngừng phát triển. Kéo theo đó là sự phát triển của việc ứng khoa học công nghệ vào sản xuất, kinh doanh và đòi hỏi tất yếu là cần nguồn lao động có tay nghề cao, đã được đào tạo chuyên môn để điều hành, vận hành. Khi lao động Việt Nam chưa đáp ứng được nhu cầu đó thì việc di chuyển chất xám từ nước ngoài vào trong nước để phục vụ nền kinh tế là điều cần thiết. Việc số lao động nước ngoài tăng mạnh trong khi thủ tục pháp lý bị buông lỏng đã bộc lộ sự bất cập trong việc quản lý lao động nước ngoài tại Việt Nam, đặc biệt Giấy phép lao động là công cụ quản lý hữu hiệu người lao động nước ngoài, là căn cứ để trục xuất người lao động không có giấy phép. Vì vẫn còn tình trạng rất nhiều lao động không có giấy phép đang ở Việt Nam. Không chỉ lao động cao cấp và kỹ thuật vào Việt Nam mà lao động phổ thông các nước cũng bắt đầu đến Việt Nam để hành nghề, cho dù đến thời điểm này chúng ta chưa cho phép lao động phổ thông nước ngoài làm việc tại Việt Nam.
Gần đây, báo chí trong nước liên tục phản ánh về tình trạng lao động nước ngoài làm việc bất hợp pháp tại Việt Nam. Thực tế này đặt ra nhiều câu hỏi về năng lực quản lý, giám sát của các cơ quan chức năng về việc sử dụng lao động nước ngoài trong các tổ chức, doanh nghiệp.
Vấn đề lao động nước ngoài tại Việt Nam, bên cạnh nhiều tác động tích cực thì cũng có những tác động tiêu cực đến thị trường lao động Việt Nam, áp lực cạnh tranh, đến các vấn đề xã hội, an ninh trật tự cũng như vấn đề ô nhiễm môi trường từ công nghệ bẩn, chất thải… Đặc biệt với việc hình thành cộng đồng kinh tế chung Asean vào 31/12/2015, hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) đàm phán thành công sẽ tạo điều kiện cho người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam càng tăng mạnh. TPP không những sẽ tạo ra hàng triệu việc làm mới cho công nhân 12 nước mà sẽ còn khuyến khích việc quan tâm tới các vấn đề về môi trường cũng như lao động, điều giúp cho thoả thuận khung này mang tính lâu dài cho nhiều thế hệ tương lai. Luật lao động năm 2012 và nghị định 11/2016/NĐ-CP ra đời thay thế nghị định cũ. Do được nghiên cứu và thảo luận sâu rộng và đúc rút từ quá trình thực hiện lâu dài của Luật lao động 2012 và nghị định 102/2013/NĐ-CP, nghị định mới năm 2016 hứa hẹn sẽ mang lại những điều kiện thuận lợi trong việc cấp giấy phép lao động cho người nước ngoài làm việc tại Việt Nam. Tuy nhiên thực tế luôn luôn đa dạng và biến đổi từng ngày nên cần được kiểm nghiệm trên thực tế trong một thời gian mới có thể phát hiện những vướng mắc bất cập phát sinh và kể những bất cập còn tồn tại từ nghị định 102/2013/NĐ-CP về cấp giấy phép lao động nước ngoài đến nghị định 11/2016/NĐ-CP chưa được sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với tình hình hiện nay.
Vì vậy, tác giả chọn đề tài “Hoàn thiện các quy định của pháp luật Việt Nam về cấp giấy phép lao động nước ngoài” nhằm đánh giá thực trạng cấp giấy phép lao động nước ngoài ở Việt Nam, tìm ra những bất cập về việc cấp giấy phép động nước ngoài để từ đó đưa ra những kiến nghị nhằm góp phần hoàn thiện các quy định pháp luật và thực tiễn áp dụng được hiệu quả hơn. Với nhận thức còn hạn chế, thời gian nghiên cứu còn hạn hẹp nên còn nhiều thiếu sót, em rất mong nhận những góp ý và giúp đỡ của các thày cô.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài: Luận văn: Pháp luật VN về cấp giấy phép lao động nước ngoài.
Nghiên cứu các quy định của pháp luật Việt Nam về cấp giấy phép lao động nước ngoài là một đề tài khá mới mẻ trên cả bình diện lý luận và thực tiễn. Đã có một vài công trình và bài báo đề cập về vấn đề này:
- Luận văn thạc sỹ luật học (2011), “pháp luật về sử dụng lao động nước ngoài tại Việt Nam”, học viên Trần Thu Hiền, chuyên ngành Luật Kinh tế, Khoa Luật, ĐHQGHN.
- Luận văn thạc sỹ luật học (2014), “Hoàn thiện pháp luật về quyền của người lao động di trú ở Việt Nam”, học viên Bùi Thị Hòa, chuyên ngành Pháp luật về quyền con người, Khoa Luật, ĐHQGHN.
- Luận văn thạc sỹ luật học (2015), “Pháp luật về sử dụng lao động nước ngoài tại Việt Nam”, học viên Trần Thu Hiền, chuyên ngành Luật Kinh tế, Khoa Luật, ĐHQGHN.
- Luận văn thạc sỹ luật học (2015), “ Hoàn thiện pháp luật về quản lý lao động nước ngoài tại Việt Nam”, học viên Phạm Thị Hương Giang, chuyên ngành Luật Kinh tế, Khoa Luật, ĐHQGHN.
Ngoài ra, còn một số bài báo cũng đề cập đến lao động nước ngoài tại Việt Nam như Cao Nhất Linh (2009), “Về giấy phép lao động cho người nước ngoài ở Việt Nam”, Nhà nước và Pháp luật -Viện Nhà nước và Pháp luật (02), tr. 26 – 29, 34 và ngoài ra một số bài báo trên Internet nêu ra một vấn đề mang tính tản mạn chưa khái quát thành một hệ thống.
Tuy nhiên, những công trình nghiên cứu, một số tạp chí và bài báo, chủ yếu tiếp cận vấn đề từ khía cạnh xã hội mà chưa quan tâm nhiều đến khía cạnh pháp lý hoặc chỉ nêu chung chung một vấn đề quản lý lao động nước ngoài tại Việt Nam. Do vậy, có thể nói rằng, đề tài ” Hoàn thiện các quy định của pháp luật Việt Nam về cấp giấy phép lao động nước ngoài ” là công trình nghiên cứu một cách có hệ thống, việc nghiên cứu có hệ thống vấn đề này mang tính thời sự cao. Với kết quả đạt được, luận văn hy vọng là tài liệu tham khảo hữu ích cho những người làm công tác nghiên cứu, học tập, thực thi pháp luật, những người muốn tìm hiểu về cấp giấy phép lao động nước ngoài tại Việt Nam.
3. Phạm vi nghiên cứu đề tài:
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những vấn đề pháp lý liên quan đến cấp giấy phép lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam. Phạm vi nghiên cứu của luận văn là toàn bộ các quy định của pháp luật hiện tại của Việt Nam liên quan đến việc cấp giấy phép lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam. Cụ thể, luận văn nghiên cứu về các quy định mới của pháp luật hiện nay. Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực trạng pháp luật về cấp giấy phép lao động nước ngoài, tác giả đưa ra một số giải pháp và khuyến nghị cụ thể nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về cấp giấy phép lao động nước ngoài.
4. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của đề tài:
Luận văn được trình bày dựa trên cơ sở vận dụng lý luận của chủ nghĩa Mác – Lenin về nhà nước và pháp luật và những quan điểm của Đảng và Nhà nước về phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN trong thời kỳ đổi mới.
Trong quá trình nghiên cứu và trình bày, luận văn sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu khoa học khác nhau bao gồm: phương pháp duy vật biện chứng, phương pháp duy vật lịch sử, phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp so sánh đối chiếu…để giải quyết vấn đề khoa học của luận văn. Luận văn: Pháp luật VN về cấp giấy phép lao động nước ngoài.
Trong luận văn thạc sĩ tác giả sẽ tập trung giải quyết những nhiệm vụ sau:
- Phân tích và làm sáng tỏ các quy định về các quy pháp luật và thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật về cấp giấy phép lao động nước ngoài tại Việt Nam, đặc biệt những quy định được bổ sung trong nghị định mới năm
- Đưa ra một số giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực thi các quy pháp luật về cấp giấy phép lao động nước ngoài tại Việt Nam.
5. Dự kiến những kết quả nghiên cứu mới của luận văn:
Trong khuôn khổ một luận văn thạc sĩ tác giả sẽ phân tích, so sánh, đánh giá một các tổng quát về thực trạng và những hạn chế các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành về cấp giấy phép lao động nước ngoài, phân tích nhưng điểm mới và chỉ ra những điểm còn chưa hợp lý từ đó đưa ra phương hướng hoàn thiện trong thời gian tới. Phù hợp với tình hình thực tế, là một trong những cách thức quan trọng góp phần quản lý người lao động nước ngoài vào làm việc tại Việt Nam. So sánh để thấy rõ những điểm tiến bộ của nghị định số 11/2016/NĐ-CP ngày 03/02/2016 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam (gọi tắt là nghị định 11/2016/NĐ-CP) so với nghị định 102/2013/NĐ-CP đặc biệt tập trung vào vấn đề liên quan đến các quy định pháp luật về cấp giấy phép lao động nước ngoài. Từ đó rút ra được những bài học áp dụng thực tế hiện nay, có thể góp phần hoàn thiện thông tư hướng dẫn nghị định 11/2016/NĐ-CP trong năm 2016. Đề tài được lựa chọn mang tính cập nhật, có tính thời sự cao, đặc biệt khi Việt Nam là thành viên của khối cộng đồng ASEAN thành lập 31/12/2015 và tham gia Hiệp định Hợp tác kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP) gồm 12 quốc gia thành viên trong đó có Việt Nam, đã kết thúc đàm phán đang hoàn thiện quá trình phê chuẩn.
6. Cơ cấu của luận văn
Ngoài mục lục, danh mục các từ viết tắt, lời nói đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo luận văn được kết cấu 3 chương như sau:
- Chương 1: Tổng quan pháp luật Việt Nam về cấp giấy phép lao động nước ngoài và pháp luật của một số quốc gia.
- Chương 2: Nội dung quy định của pháp luật Việt Nam và Thực tiễn áp dụng quy định pháp luật về cấp giấy phép lao động nước ngoài. Luận văn: Pháp luật VN về cấp giấy phép lao động nước ngoài.
- Chương 3: Một số giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật Việt Nam về cấp giấy phép lao động nước ngoài.
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ CẤP GIẤY PHÉP LAO ĐỘNG NƯỚC NGOÀI VÀ PHÁP LUẬT CỦA MỘT SỐ QUỐC GIA
1.1. Lao động nước ngoài và chế định pháp luật cấp giấy phép lao động ngoài tại Việt Nam
1.1.1. Khái niệm về lao động nước ngoài và giấy phép lao động của người nước ngoài.
- Khái niệm quan hệ lao động có yếu tố nước ngoài
Khoản 6 điều 2 Bộ luật lao động năm 2012 định nghĩa: “Quan hệ lao động là quan hệ xã hội phát sinh trong việc thuê mướn, sử dụng lao động, trả lương giữa người lao động và người sử dụng lao động”. Bộ luật này không có định nghĩa về quan hệ lao động có yếu tố nước ngoài.
Tuy vậy, căn cứ điều 1 và Điều 758 Bộ luật dân sự năm 2005, thì có thể hiểu: “Quan hệ lao động có yếu tố nước ngoài là quan hệ lao động có ít nhất một trong các bên tham gia là cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài hoặc là các quan hệ lao động giữa các bên tham gia là công dân, tổ chức Việt Nam nhưng căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ lao động đó theo pháp luật nước ngoài, phát sinh tại nước ngoài hoặc tài sản liên quan đến quan hệ đó ở nước ngoài”.
Như vậy, các yếu tố nước ngoài trong quan hệ lao động có yếu tố nước ngoài bao gồm:
- Công dân Việt Nam làm việc trong các doanh nghiệp nước ngoài tại Việt Nam, trong khu công nghiệp, khu kinh tế và khu chế xuất, trong các cơ quan, tổ chức nước ngoài hoặc quốc tế tại Việt Nam hoặc làm việc cho cá nhân là công dân nước ngoài tại Việt Nam phải tuân theo pháp luật Việt Nam và được pháp luật bảo vệ (Khoản 2 điều 68 Bộ luật lao động năm 2012). Luận văn: Pháp luật VN về cấp giấy phép lao động nước ngoài.
- Lao động là công dân nước ngoài làm việc tại Việt Nam theo quy định của pháp luật lao động Việt Nam hoặc theo thỏa thuận quốc tế giữa Việt Nam và các đối tác nước ngoài liên quan.
Quan hệ lao động có yếu tố nước ngoài còn có thể là quan hệ lao động của công dân Việt Nam đi là việc ở nước ngoài theo hợp đồng [22, 405-406]
Như vậy, yếu tố nước ngoài trong pháp luật lao động thể hiện ở quốc tịch của người lao động khác với “quốc tịch” của người sử dụng lao động hoặc quốc gia mà họ đang làm việc.
- Khái niệm người lao động nước ngoài
Công ước quốc tế về bảo vệ quyền của tất cả những người lao động di trú và các thành viên của gia đình họ (được thông qua theo Nghị quyết A/RES/45/158 ngày 18/12/1990 của Đại Hội đồng Liên Hợp Quốc), khoản 1 Điều 2 Công ước quy định: Người lao động nước ngoài cũng có thể giải thích bằng thuật ngữ “người lao động di trú” để chỉ một người đã, đang và sẽ làm một công việc có hưởng lương tại một quốc gia mà người đó không phải là công dân.
Theo Công ước về Lao động di trú (số 97) Công ước về người lao động di trú (xét lại năm 1949) của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) (ngày có hiệu lực: 22/1/1952) tại Điều 11 quy định theo mục đích của Công ước này, từ “lao động di trú” là chỉ một người di trú từ một nước này sang một nước khác nhằm làm thuê cho người khác; Thuật ngữ “người di trú vì việc làm” được hiểu là một người di cư từ một quốc gia này tới quốc gia khác để tìm kiếm việc làm, bao gồm bất kỳ người nào được tuyển dụng một cách lâu dài như là một người di trú vì việc làm. Công ước này không áp dụng với những người lao động qua lại ở các vùng biên giới; những nghệ sỹ và người có chuyên môn hành nghề tự do đến làm việc ở nước khác trong thời gian ngắn; các thủy thủ. Theo Công ước số 143 (1975) về lao động di cư (Công ước về di trú trong những điều kiện bị lạm dụng và về xúc tiến bình đẳng cơ may và đối xử đối với người lao động di trú), thuật ngữ “người lao động di trú” có nghĩa là người di cư hoặc đã di cư từ một nước này sang một nước khác vì mục đích được tuyển dụng lao động chứ không phải tự lực lao động, và bao gồm cả những người được chính thức tuyển làm lao động di trú. Hai Công ước 97 và 143 của ILO điều chỉnh người lao động nước này đi làm việc ở một nước khác. Pháp luật lao động của Việt Nam không gộp chung trong một khái niệm “người lao động di trú” mà tách riêng quy định về người Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài và về người nước ngoài làm việc ở Việt Nam.
Theo nghị định 11/2016/NĐ-CP, lao động nước ngoài là công dân nước ngoài làm việc tại Việt Nam theo hình thức hợp đồng lao động và các hình thức khác. Dựa trên việc phân tích các quy định trong Công ước Quốc tế về bảo vệ quyền của tất cả người lao động di trú và thành viên gia đình họ năm 1990, lao động nước ngoài được hiểu là người lao động không có quốc tịch ở nước sở tại. Luận văn: Pháp luật VN về cấp giấy phép lao động nước ngoài.
Nghị định 11/2016/NĐ-CP tại Điều 3 định nghĩa: “Người lao động nước ngoài là người di chuyển trong nội bộ doanh nghiệp, tình nguyện viên, chuyên gia, nhà quản lý, giám đốc điều hành và lao động kỹ thuật”.
- Khái niệm của giấy phép lao động nước ngoài
Định nghĩa theo nghĩa hẹp: Giấy phép lao động theo quy định là loại giấy tờ pháp lý căn cứ theo Bộ luật lao động của Việt Nam cho phép người nước ngoài đến Việt Nam làm việc, lâu dài và hợp pháp.
Định nghĩa theo nghĩa rộng:
Giấy phép lao động của người nước ngoài tại Việt Nam hay còn gọi là Giấy phép lao động nước ngoài là một loại giấy phép, chứng nhận do cơ quan nhà nước hoặc cơ quan có thẩm quyền tại Việt Nam cấp cho một người nước ngoài cụ thể cho phép người đó được lao động hợp pháp với một ngành nghề và thời gian nhất định tại Việt Nam và chịu sự điều chỉnh của pháp luật Việt Nam.
1.1.2. Các dạng giấy phép lao động của người nước ngoài tại Việt Nam Luận văn: Pháp luật VN về cấp giấy phép lao động nước ngoài.
- Giấy phép lao động gồm 3 dạng:
Cấp mới giấy phép lao động (Theo quy định pháp luật và khoản 8 điều 10 Nghị định số 11/2016/NĐ-CP):
- Người lao động chưa từng có giấy phép lao động.
- Người lao động đã có giấy phép lao động còn hiệu lực, làm việc cho người sử dụng lao động khác, cùng vị trí công việc.
- Người lao động đã có giấy phép lao động còn hiệu lực, làm việc cho người sử dụng lao động cũ, khác vị trí công việc.
- Người lao động có giấy phép lao động hết hiệu lực, muốn tiếp tục làm việc cùng vị trí.
- Người lao động có giấy phép lao động được cấp trước ngày 1/4/2016 thời điểm Nghị định số 11/2016/NĐ-CP ngày 03/02/2016 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam (có hiệu lực ngày 01/4/2016).
Cấp lại giấy phép lao động (điều 13 Nghị định số 11/2016/NĐ-CP):
- Giấy phép lao động còn thời hạn bị mất, bị hỏng hoặc thay đổi nội dung ghi trong giấy phép lao động, trừ các trường hợp đặc biệt.
- Giấy phép lao động còn thời hạn ít nhất 5 ngày nhưng không quá 45 ngày.
Không thuộc diện cấp giấy phép lao động: Theo Điều 7 của Nghị định số 11/2016/NĐ-CP, có rất nhiều trường hợp được miễn cấp giấy phép lao động, nhưng yêu cầu người lao động nước ngoài phải làm thủ tục xác nhận với Sở LĐ-TB&XH.
1.1.3. Vai trò của cấp giấy phép Lao động nước ngoài:
- Giấy phép lao động được xem là điều kiện pháp lý cơ bản mà người lao động nước ngoài phải có nếu muốn làm việc hợp pháp và lâu dài tại Việt Nam. Luận văn: Pháp luật VN về cấp giấy phép lao động nước ngoài.
- Là căn cứ để gải quyết vấn đề lao động “chui”- lao động bất hợp pháp, là một trong những biện pháp quan trọng trong việc quản lý lao động nước ngoài tại Việt Nam.
Đối với tất cả các trường hợp người lao động nước ngoài vào Việt Nam làm việc theo hợp đồng lao động thì bắt buộc phải có giấy phép lao động, phải xuất trình giấy phép lao động khi làm thủ tục liên quan đến xuất, nhập cảnh và khi có yêu cầu, không có giấy phép lao động sẽ bị trục xuất. Người sử dụng lao động chịu trách nhiệm về điều kiện giấy phép, nếu bị phát hiện sử dụng công dân nước ngoài làm việc cho mình không có giấy phép lao động sẽ bị xử lý.
Vấn đề lao động nước ngoài không phép tràn lan đã và đang là vấn đề nhức nhối của Bộ LĐTBXH, cũng như các bộ, ngành có liên quan từ nhiều năm nay. Lực lượng lao động “chui” này không chỉ gây mất trật tự an ninh xã hội, mà còn cạnh tranh không lành mạnh với lao động Việt Nam.
Theo Bộ luật Lao động Việt Nam năm 2012 tại Điều 171 quy định:
- Người lao động là công dân nước ngoài phải xuất trình giấy phép lao động khi làm các thủ tục liên quan đến xuất cảnh, nhập cảnh và xuất trình theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
- Công dân nước ngoài vào làm việc tại Việt Nam không có giấy phép lao động sẽ bị trục xuất khỏi lãnh thổ Việt Nam theo quy định của Chính phủ.
- Người sử dụng lao động sử dụng công dân nước ngoài mà không có giấy phép lao động làm việc cho mình thì bị xử lý theo quy định của pháp luật.
- Đảm bảo cho quyền lợi hợp pháp của người lao động trong nước và an ninh trật tự xã hội.
Đối với cả người sử dụng lao động và người lao động nước ngoài thì việc tiến hành các thủ tục để được cấp Giấy phép lao động cho người lao động nước ngoài là hành vi tuân thủ pháp luật và là cơ sở pháp lý để bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng cho mình. vì ở nước ta chưa cấp giấy phép cho lao động phổ thông nước ngoài nhưng nhiều lao động “chui” cũng chỉ có trình độ tương đương lao động trong nước sẽ tạo ra sức ép cạnh tranh không cần thiết với lao động trong nước.
Ngoài ra có thể hạn chế tội phạm lừa đảo lao động, nạn buôn người núp bóng lao động di trú… cũng như bảo vệ quyền lợi của người lao động di trú, đặc biệt trong không gian Cộng đồng ASEAN vừa thành lập mà Việt Nam nước thành viên.
- Tận dụng nguồn lực chất xám, lao động chất lượng cao của lao động nước ngoài.
Nước ta đang trong quá trình hội nhập, việc đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nước nhà bằng việc ứng dụng khoa học công nghệ để phát triển đất nước, mục tiêu đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp nên rất cần lao động động tay nghề cao, trình độ kỹ thuật cao trong khi lao động Việt Nam chưa đáp ứng được nhu cầu đó thì việc di chuyển chất xám từ nước ngoài vào trong nước để phục vụ nền kinh tế là điều cần thiết.
- Đảm bảo quyền lợi của người sử dụng lao động Luận văn: Pháp luật VN về cấp giấy phép lao động nước ngoài.
Theo quy định của pháp luật Việt Nam (BLLĐ 2012 và Nghị định 11/2016-NĐ-CP) thì người nước ngoài muốn lao động hợp pháp ở Việt Nam phải tiến hành thủ tục xin cấp giấy phép lao động. Doanh nghiệp, tổ chức sử dụng lao động nước ngoài phải có trách nhiệm xin cấp giấy phép lao động cho người nước ngoài (gồm thủ tục cấp mới giấy phép lao động và thủ tục cấp lại giấy phép lao động), lúc đó các khoản chi lương cho người nước ngoài mới được đưa vào chi phí hợp lý cho đơn vị sử dụng lao động…
- Lược sử của chế định pháp luật sử dụng lao động nước ngoài có liên quan đến cấp giấy phép lao động nước ngoài tại Việt Nam
- Giai đoạn trước khi có Bộ luật lao động
Trong giai đoạn này, với sự hợp tác trên tinh thần giúp đỡ các tổ chức kinh tế Việt Nam cũng như nền kinh tế Việt Nam sau chiến tranh, nhiều chuyên gia nước ngoài đã đến Việt Nam làm việc chủ yếu trong các xí nghiệp quốc doanh và xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Sau khi Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1987 ra đời, Nghị định 233-HĐBT ngày 22/06/1990 của Hội đồng Bộ trưởng ban hành Quy chế Lao động đối với các xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và Thông tư 19-LĐTBXH/TT ngày 31/12/1990 hướng dẫn thi hành Quy chế Lao động đối với các xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đã tạo cơ sở pháp lý thống nhất về việc sử dụng lao động nước ngoài tại Việt Nam.
- Giai đoạn sau khi Bộ luật Lao động được ban hành
- Giai đoạn từ 1994 đến 2001:
Bộ luật có quy mô, điều chỉnh nhiều vấn đề của lĩnh vực lao động nhưng các quy định dành cho lao động nước ngoài lại rất khiêm tốn, trong một mục chung dành cho “lao động cho tổ chức, cá nhân nước ngoài tại Việt Nam, người nước ngoài lao động tại Việt Nam, lao động ở nước ngoài” (Mục V – Chương XI – Bộ luật Lao động năm 1994) và rải rác từ Điều 131 đến Điều 133 và Điều 184. Hướng dẫn Bộ luật Lao động về lĩnh vực này có hai văn bản là Nghị định 58/CP ngày 03/10/1996 của Chính phủ về cấp Giấy phép lao động cho người nước ngoài làm việc tại các doanh nghiệp, tổ chức ở Việt Nam và Thông tư 09/LĐTBXH-TT ngày 18/03/1997 của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội hướng dẫn thực hiện việc cấp Giấy phép lao động cho người nước ngoài làm việc tại các doanh nghiệp, tổ chức ở Việt Nam; Nghị định 169/1999/NĐ-CP ngày 03/12/1999 sửa đổi, bổ sung một 08/2000/TT- BLĐTB&XH ngày 29/03/2000 thay thế Thông tư 09/LĐTBXH-TT.
- Giai đoạn từ 2002 đến 2006: Luận văn: Pháp luật VN về cấp giấy phép lao động nước ngoài.
Năm 2002, Bộ luật Lao động được sửa đổi, bổ sung, mặc dù chỉ sửa đổi, bổ sung hai điều nhưng với những nội dung rất quan trọng. Đó là quy định về tỉ lệ lao động nước ngoài mà các doanh nghiệp, tổ chức được phép tuyển dụng, thời hạn của Giấy phép lao động, các trường hợp phải xin cấp Giấy phép lao động và các đối tượng được phép sử dụng lao động nước ngoài tại Việt Nam. Trên cơ sở đó, Chính phủ ban hành Nghị định 105/2003/NĐ-CP ngày 17/09/2003 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về tuyển dụng và quản lý lao động nước ngoài tại Việt Nam thay thế Nghị định 58/CP và Nghị định 196/1999/NĐ-CP. Tiếp sau đó, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội ban hành Thông tư 04/2004/TT- Bộ Lao động thương binh và Xã hội ngày 10/03/2004 hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định 105/2003/NĐ-CP ngày 17/09/2003 về tuyển dụng và quản lý lao động nước ngoài tại Việt Nam thay thế Thông tư 09/LĐTBXH-TT và Thông tư 08/2000/TTBLĐTBXH. Hai văn bản này điều chỉnh các vấn đề về tuyển dụng và quản lý lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam chứ không chỉ về việc cấp Giấy phép lao động như các văn bản trước đây.
- Giai đoạn từ 2007 đến 2011:
Từ ngày 11/01/2007 Việt Nam chính thức là thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO). Theo thông lệ quốc tế và quy định của pháp luật Việt Nam, tất cả các cam kết của Việt Nam khi gia nhập WTO phải được ưu tiên áp dụng so với pháp luật quốc gia. Theo cam kết WTO, nhiều đối tượng là người lao động nước ngoài chưa được pháp luật lao động trước đó điều chỉnh. Khắc phục thiếu sót đó, Nghị định 34/2008/NĐ-CP ngày 25/03/2008 quy định về tuyển dụng và quản lý số điều của Nghị định 58/CP về cấp Giấy phép lao động cho người nước ngoài làm việc tại các doanh nghiệp, tổ chức ở Việt Nam và Thông tư người nước ngoài làm việc tại Việt Nam và Thông tư 08/2008/TTBLĐTBXH ngày 10/06/2008 hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định 34/2008/NĐ-CP ngày 25/03/2008 của Chính phủ quy định về tuyển dụng và quản lý người nước ngoài làm việc tại Việt Nam được ban hành.
- Giai đoạn từ 2012 đến nay Luận văn: Pháp luật VN về cấp giấy phép lao động nước ngoài.
Ngày 05/9/2013, Chính phủ ban hành Nghị định số 102/2013/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam (sau đây viết tắt là Nghị định số 102/2013/NĐ- CP). Bộ luật Lao động năm 2012 và Nghị định số 102/2013/NĐ-CP đã kịp thời điều chỉnh quan hệ lao động với người lao động nước ngoài, tạo điều kiện thuận lợi để doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức tuyển dụng người lao động nước ngoài, đồng thời giúp cho công tác quản lý người lao động nước ngoài được chặt chẽ hơn. Chính phủ cũng ban hành một loạt các nghị quyết, nghị định quan trọng: Nghị quyết số 47/NQ-CP ngày 08/7/2014 Phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 6/2014 trong đó quy định điều kiện đối với lao động là người nước ngoài vào làm việc tại Việt Nam; Nghị định số 95/2013/NĐ-CP ngày 22/8/2013 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội, đưa người lao động Việt Nam đi làm; Nghị định số 88/2015/NĐ-CP ngày 7/10/2015 sửa đổi, bổ sung Nghị định 95/2013/NĐ-CP; Nghị định số 73/2012/NĐ-CP ngày 26/09/2012 quy định về hợp tác, đầu tư của nước ngoài trong lĩnh vực giáo dục; Nghị định số 87/2014/NĐ-CP ngày 22/9/2014 về thu hút cá nhân hoạt động khoa học và công nghệ là người Việt Nam ở nước ngoài và chuyên gia nước ngoài tham gia hoạt động khoa học và công nghệ tại Việt Nam; Nghị định số 63/2014/NĐ-CP ngày 26/06/2014 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đấu thầu…
Bộ Lao động Thương binh và xã hội ban hành Thông tư số 03/2014/TT- Bộ Lao động thương binh và Xã hội ngày 20/1/2014 hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số 102/2013/NĐ-CP. Các Bộ, ngành liên quan cũng đã ra các văn bản hướng dẫn tạo thành khung pháp lý đồng bộ về vấn đề này: Thông tư liên tịch số 01/2012/TTLT/BCA-BNG ngày 03/01/2012 sửa đổi, bổ sung Thông tư liên tịch số 04/2002/TTLT/BCA-BNG ngày 29/01/2002 và Thông tư liên tịch số 05/2009/TTLT/BCA-BNG ngày 12/5/2009 trong lĩnh vực xuất nhập cảnh; Thông tư liên tịch số 04/2012/TTLT-BTP-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BQP ngày 10/05/2012 về hướng dẫn trình tự, thủ tục tra cứu, xác minh, trao đổi, cung cấp thông tin lý lịch tư pháp; Thông tư 02/2012/TT-BCA ngày 05/01/2013 về việc ban hành, hướng dẫn sử dụng và quản lý các loại mẫu giấy tờ liên quan đến công tác quản lý xuất, nhập cảnh; Thông tư số 25/2013/TT-BCA ngày 12/06/2014 sửa đổi, bổ sung Điều 2 của Thông tư số 02/2012/TT-BCA; Thông tư 04/2015/TT-BCA ngày 5/1/2015 quy định mẫu giấy tờ liên quan đến việc nhập cảnh xuất cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam; Thông tư số 31/2015/TT-BCA ngày 6/7/2015 hướng dẫn một số nội dung về cấp thị thực, cấp thẻ tạm trú, cấp giấy phép xuất nhập cảnh, giải quyết thường trú cho người nước ngoài vào Việt Nam.
Trong quá trình thực hiện Nghị định số 102/2013/NĐ-CP và Thông tư số 3/2014/TT-BLĐTBXH thì thực tiễn có phát sinh một số vấn đề pháp lý: Có một số quy định bất hợp lý, khó thực hiện hoặc gây vướng mắc, một số thủ tục hành chính cần phải cải cách và rút gọn hơn nữa để tạo điều kiện thuận lợi cho các bên; ngược lại, cần bổ sung một số quy định để quản lý người lao động nước ngoài chặt chẽ hơn. [41] Luận văn: Pháp luật VN về cấp giấy phép lao động nước ngoài.
Nghị quyết số 36a/NQ-CP ngày 14/10/2015 của Chính phủ về Chính phủ điện tử; Ngày 3/2/2016 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 11/2016/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Bộ Luật Lao động về lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam (sau đây viết tắt là Nghị định số 11/2016/NĐ-CP) thay thế cho Nghị định số 102/2013/NĐ-CP. Nghị định số 11/2016/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 1/4/2016; ngày 25/10/2016 Bộ Lao động thương binh và Xã hội ban hành Thông tư 40/2016/TT-BLĐTBXH hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định 11/2016/NĐ-CP về lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam; Thông tư 35 ngày 28/12/2016 của Bộ công thương Quy định việc xác định người lao động nước ngoài di chuyển trong nội bộ doanh nghiệp thuộc phạm vi mười một ngành dịch vụ trong biểu cam kết cụ thể về dịch vụ của Việt Nam với tổ chức thương mại thế giới không thuộc diện cấp giấy phép lao động. Các văn bản pháp luật vừa ban hành với những điểm mới quan trọng trong việc điều chỉnh người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam trong đó có nhiều điểm mới về cấp giấy phép lao động cho người nước ngoài tại Việt Nam.
1.2. Pháp luật quy định về cấp phép lao động của một số quốc gia. Luận văn: Pháp luật VN về cấp giấy phép lao động nước ngoài.
Việc tiếp nhận lao động nước ngoài đến nước mình làm việc được các nước điều tiết chặt chẽ. Việc các nước tư bản phát triển ngày càng hạn chế lao động nước ngoài đến nước họ tìm kiếm việc làm và chính vì vậy mà trình tự thủ tục cấp phép cho lao động nước ngoài càng trở nên nghiêm ngặt hơn..[22, tr 408-409].
- Cộng hòa Pháp
Bộ luật Lao động của Pháp có riêng một phần về “lao động nước ngoài và việc bảo vệ lợi ích của lao động trong nước”. Theo điều 341-2 để được thuê làm việc tại Pháp, ngoài hộ chiếu, thị thực và các giấy tờ tùy thân khác, người nước ngoài cần phải xuất trình cho cơ quan có thẩm quyền cuả Pháp hợp đồng lao động, được cơ quan hành chính phê duyệt hoặc cấp giấy phép lao động và chứng nhận y tế. Phần này của Bộ luật lao động Pháp còn quy định: Việc bảo vệ quyền của người nước ngoài khi được thuê làm việc trái với quy định của pháp luật; thủ tục xử phạt đối với những người thuê lao động vi phạm quy định về thuê người nước ngoài; nghiêm cấm thu của người nước ngoài các khoản lệ phí phi pháp vì lợi ích của người thuê lao động. Tất cả các hoạt động liên quan đến việc thuê và tuyển dụng lao động nước ngoài đến Pháp làm việc hay việc làm thủ tục cho bất kỳ người nước nào ra nước ngoài làm việc do cục nhập cư quốc gia quản lý.[22, tr 408-409]
- Cộng hòa nhân dân Bungari và Cộng hòa dân chủ Đức
Các quy định pháp luật về sử dụng lao động Việt Nam của hai nước này quy định rất cụ thể về điều kiện tuyển chọn; Các giấy tờ cần thiết khi đến làm việc; Hình thức lao động; Quyền lợi và nghĩa vụ và Quản lý lao động tại các đơn vị sản xuất.
- Malaixia Luận văn: Pháp luật VN về cấp giấy phép lao động nước ngoài.
Từ tháng 2 năm 2002, Chính phủ Malaixia thực hiện chính sách mới về việc tiếp nhận lao động nước ngoài. Theo đó, việc tuyển dụng lao động nước ngoài phải dựa trên các Hiệp định cấp Chính phủ giữa hai nước về cung ứng và tiếp nhận lao động. Trong đó, mỗi Hiệp định sẽ có những thỏa thuận cụ thể về quyền, nghĩa vụ của người lao động nhưng thời hạn lao động theo hợp đồng lao động tối đa là 3 năm và được gia hạn 2 năm đối với lao động phổ thông và 3 năm đối với lao động chuyên môn
- Hàn Quốc
Năm 2003, Hàn Quốc ban hành Luật Cấp phép cho người lao động nước ngoài, trong đó quy định cụ thể về đối tượng áp dụng, cơ quan quản lý, kế hoạch tuyển dụng, quy trình tuyển dụng, thời hạn làm việc, quyền và nghĩa vụ của người lao động nước ngoài khi làm việc tại Hàn Quốc.
- Đài Loan
Lao động nước ngoài tại nước này chịu sự điều chỉnh của Luật Tiêu chuẩn lao động Đài Loan. Ngoài các quyền, nghĩa vụ cơ bản của người lao động nước ngoài, văn bản này còn quy định cụ thể về việc khám sức khỏe định kỳ, việc cấp Giấy phép lao động và Thẻ cư trú và nghĩa vụ nộp thuế của người lao động nước ngoài.[26]
- Trên cơ sở việc tìm hiểu pháp luật của một số quốc gia nêu trên có thể đánh giá một cách chung nhất, có thể nhận thấy:
Thứ nhất, pháp luật việt Nam cần có văn bản pháp luật quốc gia về việc cấp giấy phép lao động nước ngoài một thống nhất đồng thời ký Hiệp định về việc cấp giấy phép lao động với các nước.
Thứ hai, pháp luật Việt Nam cần có chế định riêng quy định cụ thể trong Bộ Luật Lao động hoặc tách ra thành đạo luật riêng về cấp giấy phép lao động nước ngoài.
Có thể thấy pháp luật Việt Nam chưa có văn bản pháp luật nào có định nghĩa chung về cấp giấy phép lao động nước ngoài, quy định về cấp giấy phép lao động nằm trong văn bản luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1987, tiếp theo là Bộ luật lao động sửa đổi và các văn bản pháp luật có liên quan, mới nhất trong Bộ luật Lao động năm 2012 và nghị định 11/2016/NĐ- CP . Vai trò của việc cấp giấy phép Lao động không chỉ quan trọng với Việt Nam, mà còn quan trọng với bất kỳ quốc gia nào trong việc quản lý lao động. Với việc tham khảo pháp luật về cấp giấy phép lao động của một số quốc gia và việc thực thi pháp luật về cấp giấy phép Lao động nước ngoài của nước ta hiện nay, sẽ giúp cho việc sửa đổi, bổ sung các quy định pháp luật về vấn đề này của Việt Nam trong thời gian tới sát với thực tiễn hơn. Luận văn: Pháp luật VN về cấp giấy phép lao động nước ngoài.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Thực tiễn PL về cấp giấy phép lao động nước ngoài

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Luận văn: Giải pháp PL về cấp giấy phép lao động nước ngoài