Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Hoàn thiện quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài ở VN hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Thực trạng và những kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật Việt Nam và điều chỉnh quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
3.1. Tình hình kết hôn có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam:
3.1.1. Thực trạng kết hôn có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam
Năm 1993, văn bản pháp luật đầu tiên điều chỉnh quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài ra đời, đó là Pháp lệnh hôn nhân và gia đình giữa công dân Việt Nam và người nước ngoài. Văn bản này đánh dấu mốc quan trọng trong sự phát triển quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài, tiếp đó là Nghị định 184/NĐ – CP ngày 30/11/1994 quy định chi tiết về thủ tục đăng ký kết hôn, nuôi con nuôi, nhận đỡ đầu giữa công dân Việt nam với người nước ngoài. Đến năm 1995, chúng ta bắt đầu thực hiện văn bản pháp luật điều chỉnh quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài này. Kể từ đó, quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài gia tăng nhanh chóng và phân thành 02 nhóm [Kết hôn với người nước ngoài vì mục đích kinh tế – thực trạng và những vấn đề tư pháp quốc tế cần giải quyết – Nguyễn Quốc Cường]:
- Việc kết hôn giữa công dân Việt Nam với người Việt Nam ở nước ngoài (gọi tắt là Việt Kiều) chiếm khoảng 45% tổng số, trong đó, chủ yếu là với Việt Kiều cư trú tại Hoa Kỳ, Đức, Úc, Canada, Pháp.
- Việc kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài chiếm khoảng 55% tổng số với hơn 40 quốc tịch khác nhau (công dân Pháp kết hôn với công dân Việt Nam khoảng 1200 trường hợp từ 1995 đến nay).
Trong mấy năm gần đây, số việc kết hôn có yếu tố nước ngoài tăng cao đột biến không chỉ ở các tỉnh phía Nam mà một số tỉnh phía Bắc cũng tăng đáng kể. Tổng số việc kết hôn trong cả nước tính đến năm 2006 đã có khoảng 180.000 công dân Việt Nam kết hôn với người nước ngoài. 4 năm trở lại đây, từ 2003 đến năm 2006 đã lên tới 72.224 việc, tăng rất nhiều so với những năm trước. Cụ thể, số lượng việc kết hôn có yếu tố nước ngoài ở một số tỉnh từ năm 2003 đến năm 2006:
Hiện tượng kết hôn với người nước ngoài xuất phát từ nhiều mục đích khác nhau, không hoàn toàn vì mục đích tiến tới hôn nhân tự nguyện, bình đẳng, tiến bộ đã dẫn đến sự chuyển dịch nhân khẩu trong xu thế toàn cầu hoá. Đồng thời, trong những năm gần đây, xu hướng kết hôn với người nước ngoài gia tăng đột biến nhất là ở các tỉnh phía Nam nước ta. Theo thống kê trên, công dân Việt Nam kết hôn với người nước ngoài tập trung ở một số tỉnh, thành phố, chủ yếu là các tỉnh phía Nam.
Tại thành phố Hồ Chí Minh, phần lớn các trường hợp kết hôn có yếu tố nước ngoài là giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài và với người Việt Nam định cư ở nước ngoài (99,61%), cụ thể: Luận văn: Hoàn thiện quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài ở VN.
- Kết hôn giữa công dân Việt Nam trong nước với người nước ngoài chiếm 40,82%.
- Kết hôn giữa công dân Việt Nam trong nước với người Việt Nam định cư ở nước ngoài 58,79%.
- Chỉ có rất ít trường hợp kết hôn giữa người nước ngoài với nhau đang sinh sống, làm việc tại thành phố Hồ Chí Minh.
Trong đó kết hôn với người Đài Loan chiếm tỷ lệ rất lớn 86,2% tổng số phụ nữ Việt Nam kết hôn với người nước ngoài và chiếm 48,1% tổng số công dân Việt Nam kết hôn với người nước ngoài. Tuy nhiên, mấy năm trở lại đây, xu hướng lấy chồng Đài Loan giảm rõ rệt, ngược lại phụ nữ Việt Nam lấy chồng Hàn Quốc lại tăng lên nhanh một cách đột biến và có nhiều diễn biến phức tạp. Qua phản ánh của các địa phương, thì đa số các trường hợp kết hôn giữa phụ nữ Việt Nam và đàn ông Hàn Quốc được đăng ký kết hôn tại Hàn Quốc với thủ tục quá đơn giản, dễ dàng và hầu hết phía phụ nữ Việt Nam vắng mặt khi đăng ký kết hôn. Tình hình đó càng tạo cơ hội cho các công ty môi giới hôn nhân Hàn Quốc hoạt động mạnh mẽ và sử dụng những hình thức quảng cáo xâm phạm đến danh dự nhân phẩm của phụ nữ Việt Nam và làm ảnh hưởng đến uy tín quốc gia Việt Nam như dư luận báo chí đã phản ánh trong thời gian gần đây.
Tại một số tỉnh phía Bắc, số lượng việc kết hôn có yếu tố nước ngoài mặc dù ít hơn so với các tỉnh phía Nam nhưng cũng đang có xu hướng tăng lên rõ rệt. Chúng ta có thể thấy qua bảng số liệu trên.
Nói đến tình hình kết hôn có yếu tố nước ngoài phải kể đến tình trạng phụ nữ Việt Nam kết hôn với người Đài Loan, người Hàn Quốc một cách không bình thường. Từ năm 1995 đến năm 2003, đã có 60265 trường hợp kết hôn giữa công dân Việt Nam và người Đài Loan. Riêng trong mấy năm từ 2000 – 2003, số lượng phụ nữ Việt Nam kết hôn với người Đài Loan tăng mạnh chiếm 68%tổng số trường hợp đã được đăng ký kết hôn trong 09 năm. Số phụ nữ Việt Nam kết hôn với người Đài Loan tập trung chủ yếu ở 12 tỉnh phía Nam: thành phố Hồ Chí Minh, Cần Thơ, Tây Ninh, Đồng Nai, Đồng Tháp, An Giang, Tiền Giang, Long An, Bến Tre, Bạc Liêu, Vĩnh Long, Sóc Trăng. Số lượng giải quyết tại 12 tỉnh nói trên chiếm 89% tổng số đã giải quyết trên toàn quốc trong 09 năm. Trong đó, hai tỉnh có số lượng giải quyết nhiều nhất là thành phố Hồ Chí Minh 22% và tỉnh Cần Thơ 17% tổng số phụ nữ Việt Nam kết hôn với người Đài Loan trên cả nước. Đến hết năm 2006, số công dân Việt Nam kết hôn với người Hàn Quốc tăng lên rất nhiều, đặc biệt tỷ lệ ghi chú kết hôn ở Hàn Quốc tại Việt Nam tăng mạnh như: Hậu Giang có tới 90% trường hợp ghi chú kết hôn với người Hàn Quốc, Đồng Nai có 60% phụ nữ kết hôn với người Hàn Quốc, người Đài Loan trong tổng số phụ nữ trong tỉnh kết hôn với người nước ngoài. Luận văn: Hoàn thiện quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài ở VN.
- Số lượng các vụ kết hôn có yếu tó nước ngoài tại tỉnh Cần Thơ
Theo thống kê trên, số phụ nữ Việt Nam tại tỉnh Cần Thơ kết hôn với người Ðài Loan chiếm tý lệ rất cao khoảng 92% so với số vụ kết hôn với người nước ngoài.
Việc kết hôn giữa các cô gái Việt Nam với người Ðài Loan, người Trung Quốc xuất phát từ mục đích giúp đỡ gia đình về kinh tế và trở thành trào lưu. Các cô gái Việt Nam kết hôn với người nước ngoài thông qua nhiều cách làm quen đa dạng. Họ làm quen qua họ hàng, những người này thực hiện một cách có trách nhiệm trong việc giới thiệu không vì mục đích lợi nhuận. Làm quen qua người quen những thực chất là môi giới nhỏ lẻ. Hoặc không có người quen giới thiệu thì chấp nhận qua môi giới, thường là những cô gái có trình độ học vấn thấp, mới lớn, chưa nhận thức được những rủi ro trước mắt đang chờ. Trước khi Nghị định 68/NÐ – CP được thi hành, các doanh nghiệp được phép hoạt động môi giới hôn nhân, môi giới, giới thiệu kết hôn, tư vấn hỗ trợ kết hôn và dịch vụ tỗ chức lễ hội. Các doanh nghiệp thực hiện môi giới làm đầy đủ các thủ tục pháp lý và nghi thức giữa hai bên đễ đi đến kết hôn. Sau khi Nghị định này ra đời, các doanh nghiệp không được thực hiện các hoạt động trên và chuyễn sang đăng ký tỗ chức nghi lễ tiệc cưới, tư vấn hôn nhân. Ðồng thời, Nghị định số 68/NÐ – CP ngày 10/7/2002 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam về quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài cho phép thành lập các Trung tâm hỗ trợ kết hôn thuộc Hội liên hiệp phụ nữ cấp tỉnh. Việc môi giới hôn nhân của các doanh nghiệp vì mục tiêu lợi nhuận rất khó phát hiện, các doanh nghiệp này gây khó khăn cho các cơ quan chức năng trong việc phát hiện vì họ đưa khách đến các nơi công cộng: quán nước, công viên, khu vui chơi giải trí, không có dấu hiệu nào đễ cơ quan công an bắt. Tuy nhiên, thực tế, công an một số tỉnh, thành phố phối hợp với Sở Tư Pháp đã phát hiện hình thức tỗ chức đường dây môi giới từ nước ngoài về Việt Nam và không những thực hiện việc môi giới còn lo luôn cả việc làm hồ sơ đăng ký kết hôn và xuất cảnh.
Xét về điều kiện kết hôn có yếu tố nước ngoài của các cấp cô dâu – chú rễ có một số đặc điễm sau:
- Tuỗi của cô dâu, chú rễ tham gia kết hôn:
Sự chênh lệch tuỗi tác giữa cô dâu và chú rễ theo thống kê trên toàn quốc, cô dâu Việt Nam có độ tuỗi dưới 20 chiếm khoảng 41,43%; từ 20 – 30 chiếm khoảng 53,57%; trên 50 chỉ có vài trường hợp. Trong khi đó, độ tuỗi chú rễ lại khá cao, không có ai dưới 20 tuỗi; từ 31 – 40 chiếm khoảng 50,91%; trên 50 tuỗi chiếm 6,98%. Có trường hợp các cô gái Việt Nam 16 –17 tuỗi van làm thủ tục kết hôn được vì họ làm lại giấy khai sinh hoặc dùng giấy khai sinh của chị gái nhưng dán ảnh của mình nư: tỉnh Vĩnh Long có 21 trường hợp tráo ảnh và dùng chứng minh nhân dân của chị gái hoặc làm lại giấy khai sinh bị phát hiện. Một số cô gái Việt Nam đồng ý kết hôn với người nước ngoài khi còn đang đi học. Có trường hợp cô gái Việt Nam lấy chồng Ðài Loan chênh lệch tuỗi quá nhiều, chồng 78 tuỗi. Những trường hợp hợp này, Sở Tư Pháp tỉnh đã tiến hành phỏng vấn kỹ lưỡng, cẫn thận có dấu hiệu kết hôn vì mục đích lợi nhuận, không có sự tự nguyện thì cán bộ tư pháp cũng giải thích, thuyết phục cô gái từ bỏ cuộc hôn nhân đó. Luận văn: Hoàn thiện quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài ở VN.
- Trình độ học vấn và hình thức của cô dâu, chủ rễ:
Nhìn chung, các cô dâu Việt Nam có trình độ học vấn thấp, chỉ học hết tiễu học, trung học cơ sở, những người trình độ đại học và sau đại học không đáng kễ. Do vậy, các cô dâu Việt Nam không tự mình làm các thủ tục pháp lý đễ tiến hành kết hôn với người nước ngoài mà phải qua môi giới dan đến hiện tượng môi giới hôn nhân phỗ biến. Bù lại, họ lại có hình thức ưa nhìn.
Trình độ học vấn của chú rễ nước ngoài có nhỉnh hơn cô dâu một ít nhưng so với trình độ học vấn chung trong nước, họ thuộc nhóm có học vấn thấp, chuyên môn không cao.
- Nghề nghiệp của cô dâu, chú rễ:
Với học vấn không cao nên các cô gái Việt Nam không có nghề nghiệp ỗn định, hoặc chỉ làm nội trợ. Thu nhập thấp không phụ giúp được bố mẹ nên họ muốn lấy chồng nước ngoài đễ đỗi đời, báo hiếu với bố mẹ. Bù lại, chú rễ nước ngoài có công việc có thu nhập đủ sống, là ông chủ nhỏ, công nhân, làm cơ quan nhà nước, thợ hồ, làm mướn, có khả năng đảm bảo kinh tế cho gia đình phù hợp với mức sống trung bình trong nước. Chi phí cưới cô dâu Việt Nam phù hợp với khả năng tài chính của họ, thấp hơn nhiều lần so với chi phí cưới cô dâu bản xứ.
- Tình trạng sức khoẻ của cô dâu, chú rễ Luận văn: Hoàn thiện quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài ở VN.
Trong quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài, Giấy chứng nhận sức khoẻ của cơ sở y tế cấp tỉnh là một trong những thủ tục bắt buộc đễ đảm bảo tình trạng sức khoẻ cho hôn nhân hạnh phúc. Những kết quả khám sức khoẻ cho thấy, các cô dâu Việt Nam có sức khoẻ rất tốt. Ða số họ là những cô gái trẻ, khoẻ, sống ở nông thôn nên cuộc sống khép kín, không tiếp xúc với xã hội nhiều, không bị mắc các bệnh xã hội, mắc bệnh lây qua đường tình dục.
Các chú rễ nước ngoài, một số bị mắc bệnh lưu, giang mai và một số bệnh lây qua đường tình dục nhưng chưa có trường hợp nào bị nhiễm HIV như một số báo đưa tin. Một số ít chú rễ là người khuyết tật, có người phải ngồi xe lăn nhưng van muốn kết hôn.
- Tình trạng hôn nhân của những người tham gia quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài
Thực tế nghiên cứu cho thấy, có một số trường hợp vi phạm Luật hôn nhân và gia đình kết hôn trong khi đang có vợ hoặc có chồng. Sở Tư Pháp tỉnh Cần Thơ đã giải quyết kết hôn cho 07 đàn ông và 01 phụ nữ đang có gia đình; 01 trường hợp ở Tiền Giang; 01 trường hợp ở Hậu Giang. Như vậy, về thủ tục pháp lý của chúng ta chưa chặt chẽ hay do trình độ cán bộ thực thi pháp luật?
- Thời gian tiến hành hôn nhân
Thời gian tiến hành hôn nhân đối với các cặp cô dâu Việt Nam, chú rễ Ðài Loan, Hàn Quốc rất vội vã, nhanh chóng. Chỉ một số phụ nữ Việt Nam có điều kiện trực tiếp quen biết, có thời gian tìm hiễu trước khi quyết định kết hôn. Phần lớn các trường hợp kết hôn với người Ðài Loan, Hàn Quốc, thời gian từ khi nam giới Ðài Loan, Hàn Quốc lần đầu tiên gặp mặt và đồng ý cho đến khi làm đám cưới, hoàn thành thủ tục đăng ký kết hôn rất ngắn qua vài lần gặp mặt. Thậm chí pháp luật Hàn Quốc cho phép đăng ký kết hôn vắng mặt cô dâu Việt nam nên việc gặp mặt có khi là không có.
- Ngôn ngữ, phong tục, tập quán của hai bên cô dâu – chú rễ
Ða số cặp cô dâu Việt Nam – chú rễ nước ngoài phải nhờ đến phiên dịch khi trao đỗi, phỏng vấn tại Sở Tư Pháp tỉnh nhưng họ van khẳng định họ yêu nhau, tự nguyện đến với nhau và muốn tiến tới hôn nhân. Thậm chí họ phải dùng cử chỉ, ký hiệu đễ trao đỗi với nhau. Qua đó cho thấy, việc hiễu các phong tục tập quán của nhau càng khó khăn, đồng thời thời gian tiến hành kết hôn quá ngắn lại càng không thễ hiễu nhau. Luận văn: Hoàn thiện quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài ở VN.
- Vấn đề môi giới trong hôn nhân có yếu tố nước ngoài
Những đặc điễm kinh tế – xã hội đã tạo lực đẫy nguồn lao động ra khỏi các tỉnh, thành phố của nước ta. Ðồng thời sự khác biệt về các mặt kễ trên nên môi giới hôn nhân đóng vai trò nhất định trong quan hệ hôn nhân xuyên quốc gia. Chính vì vậy, cũng đã hình thành các tỗ chức môi giới hôn nhân có tính lợi nhuận.
Qua nghiên cứu thực tế quan hệ hôn nhân Việt – Ðài; Việt – Hàn, hầu hết các quan hệ này được xác lập thông qua hoạt động môi giới của các cá nhân, tỗ chức. Hoạt động môi giới hôn nhân bất hợp pháp là nguyên nhân trực tiếp tạo nên sự thương mại hoá và những hiện tượng tiêu cực trong quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài. Các cá nhân, tỗ chức môi giới hoạt động chuyên nghiệp thu được lợi nhuận rất cao từ việc trục lợi đối với cả người Ðài Loan, người Hàn Quốc và từ phụ nữ Việt Nam. Các cá nhân, tỗ chức này lôi kéo cả các cán bộ hộ tịch tham đễ môi giới hôn nhân như ở Tây Ninh có 01 cán bộ đã bị phát hiện, bắt tạm giam về tội nhận hối lộ. Ðễ tện thu từ hoạt động này, một số cá nhân, tỗ chức đã thiết lập đường dây dịch vụ khép kín có sự tham gia của cả người Việt và người Ðài, người Hàn đễ thực hiện việc tuyễn chọn chị em phụ nữ từ nông thôn trẻ khoẻ, hoàn cảnh kinh tế khó khăn, không có việc làm đễ quảng cáo, giới thiệu hình ảnh cho nam giới Hàn Quốc, Ðài Loan có nhu cầu. Môi giới dụ dỗ, hứa hẹn hoặc ràng buộc chị em phụ nữ phải kết hôn với người nước ngoài bằng các thủ đoạn: ứng trước các loại chi phí, cho cha mẹ vay trước một khoản tiền đễ giải quyết công việc cấp bách có cớ ép cha mẹ họ. Ở Tây Ninh đã phát hiện 07 trường hợp kết hôn qua môi giới. Hoạt động bất hợp pháp của các đường dây này vừa xâm hại mục tiêu xây dựng chế độ hôn nhân tốt đẹp của Nhà nước ta, vừa gây mất trật tự an ninh, xã hội.
Bên cạnh hình thức môi giới có tổ chức, hình thức môi giới đơn lẻ, tự phát đang dần chiếm ưu thế, tạo niềm tin đối với cả hai phía. Người thực hiện là các cô gái đã lấy chồng Hàn Quốc, Đài Loan giới thiệu cho họ hàng thân thích hoặc chú rể nước ngoài giới thiệu cho bạn bè mình lấy vợ Việt Nam. Đây là nguyên nhân giảm cục bộ tại thành phố Hồ Chí Minh và tăng đột biến tại một số tỉnh khác.(Nguyễn Quốc Cường). Luận văn: Hoàn thiện quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài ở VN.
- Nguyên nhân của tình trạng trên
- Nguyên nhân khách quan:
Nguyên nhân trước tiên và chủ yếu là do hoàn cảnh gia đình các cô gái Việt Nam quá khó khăn, nghèo nàn, lạc hậu. Các cô gái lấy chồng nước ngoài thường xuất thân từ các gia đình nghèo tập trung ở những khu vực có điều kiện kinh tế – xã hội thấp và điều kiện địa lý không thuận lợi. Như vùng đồng bằng sông Cửu Long là khu vực có tỷ lệ kết hon với người nước ngoài cao nhất điều kiện thiên nhiên khắc nghiệt, quanh năm sống chung với nước, mưa lũ nhiều. Đồng thời, sự hạn chế về cơ sở sản xuất và khả năng phát triển các ngành nghề phi nông nghiệp đã cản trở người dân tạo thu nhập. Các gia đình này chủ yếu sống bằng nghề nông nhưng lại không có đất, phải đi thuê đất, không cớ cơ may thay đổi cuộc sống. Thêm vào đó, các gia đình này thường đông con nên lại càng nghèo.
Mức sống trung bình của các hộ gia đình có con gái lấy chồng nước ngoài thường rất thấp, thuộc loại hộ nghèo hoặc rất nghèo. Do vậy, họ không tự trang trải cho cuộc sống gia đình mình đặc biệt khi gặp sự cố từ thiên tại hoặc gia đình có người ốm kéo dài là rơi vào tình cảnh không có khả năng chi phí.
- Do trình độ học vấn thấp
Chính vì cái nghèo nên bản thân cha mẹ và các cô gái lấy chồng nước ngoài không được học hành, nhận thức thấp. Cơ hội nghề nghiệp càng khó khăn, họ không có khả năng tự tạo công việc phi nông nghiệp khi không có đất canh tác. Cộng với phong tục tập quán địa phương lạc hậu, quan niệm cổ hủ, ít tiếp xúc xã hội nên suy nghĩ của họ rất ngắn. Họ chỉ thấy lợi ích vật chất trước mắt là cuộc sống dư dả hơn, xây được nhà, mua đất, phương tiện đi lại,…nhưng họ không thấy được nguy cơ con gái của họ có thể rơi vào tay bọn buôn bán phụ nữ, hoặc bị chồng ngược đãi,….
- Nguồn thông tin và dư luận xã hội
Một yếu tố nữa cũng tác động vào các cô gái lấy chồng nước ngoài là nguồn thông tin về vấn đề kết hôn với người nước ngoài trở nên phổ biến ở nơi họ sinh sống. Thông qua mối quan hệ gia đình, bạn bè, hàng xóm, các cô gái đã làm quen và kết hôn với người nước ngoài. Đồng thời dư luận xã hội của người dân ở khu vực các cô sống về vấn đề này là thái độ chấp nhận.
Chính thái độ thờ ơ của cộng đồng đã tác động thêm trong các quyết định lấy chồng nước ngoài của các cô gái Việt Nam.
- Nguyên nhân chủ quan Luận văn: Hoàn thiện quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài ở VN.
Các cô gái và gia đình khi quyết định lấy chồng nước ngoài hoặc cho con lấy chồng nước ngoài đều xuất phát từ nhiều lý do khác nhau. Chủ yếu họ muốn giúp đỡ gia đình mình thoát nghèo hoặc có cuộc sống sung túc hơn. Việt Nam ảnh hưởng nền văn hoá phương Đông nên luôn có quan niệm: con phải báo hiếu cha mẹ. Do vậy, các cô gái lấy chồng nước ngoài trước tiên muốn báo hiếu cho cha mẹ, giúp đỡ gia đình về kinh tế, thoát khỏi cuộc sống nghèo nàn trước đây. Các cô hy vọng lấy chồng, nhập cư sang nước ngoài để tìm công việc có thu nhập gửi về cho cha mẹ hoặc lấy được ông chồng giàu có. Thứ hai, các cô cũng muốn hưởng cuộc sống sung sướng, thoát khỏi số phận khổ cực, được đi đây đi đó. Số người kết hôn với người nước ngoài nói chung và các cô gái lấy chồng nước ngoài nói riêng xuất phát từ tình cảm không nhiều. Thường là những Việt kiều về nước định cư và sinh sống hoặc người Việt Nam du học, làm việc ở nước ngoài cũng như làm việc trong nước với người nước ngoài nên có thời gian tìm hiểu lâu và có tình cảm với nhau nên đi đến hôn nhân.
3.1.2. Thực trạng pháp luật điều chỉnh quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam:
Trong xu thế hội nhập quốc tế, các quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài phát triển ngày càng đa dạng, phức tạp. Các quy định pháp luật Việt Nam đã bộc lộ một số bất cập trong việc điều chỉnh quan hệ này.
Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam 2000, Nghị định số 68/NĐ – CP ngày 10/7/2002 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài, Nghị định số 69/NĐ – CP ngày 21/7/2006 sửa đổi, bổ sung Nghị định số 68/NĐ – CP ngày 10/7/2002, Thông tư số 07/TT – BTP ngày 16/12/2002 hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số 68/NĐ – CP ngày 10/7/2002 quy định điều chỉnh quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài chưa toàn diện, đầy đủ. Cụ thể, Điều 103 Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam quy định về kết hôn có yếu tố nước ngoài nhưng chỉ giải quyết xung đột pháp luật về điều kiện kết hôn chứ chưa có quy định giải quyết xung đột pháp luật về hình thức kết hôn. Vấn đề này chỉ được quy định gián tiếp qua việc công nhận việc kết hôn đã được tiến hành ở nước ngoài tại khoản 1 Điều 20 Nghị định 68/NĐ -CP ngày 10/7/2002 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài, được sửa đổi, bổ sung theo Nghị định 69/NĐ – CP ngày 21/7/2006: “Việc kết hôn giữa công dân Việt Nam với nhau hoặc với người nước ngoài đã được đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài, phù hợp với pháp luật của nước đó thì được công nhận tại Việt Nam, nếu vào thời điểm kết hôn công dân Việt Nam không vi phạm quy định của pháp luật Việt nam về điều kiện kết hôn và các trường hợp cấm kết hôn”. Việc kết hôn có yếu tố nước ngoài được tiến hành phù hợp với pháp luật của nước ngoài thì sẽ được công nhận tại Việt Nam. Sự phù hợp ở đây là phù hợp cả về các điều kiện kết hôn và phù hợp cả về nghi thức kết hôn. Tuy nhiên đây chỉ là vấn đề công nhận nghi thức kết hôn ở nước ngoài chứ không phải là quy định về chọn luật áp dụng về nghi thức kết hôn. Hiện nay, Điều 11 Nghị định 68/NĐ – CP ngày 10/7/2002 quy định chi tiết thi hành Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài và Điều 14 Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam 2000 chỉ quy định về việc kết hôn có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam theo nghi thức nào (nghi thức dân sự).
Về thủ tục kết hôn có yếu tố nước ngoài theo nghi thức mà pháp luật Việt Nam quy định hai trường hợp: trước cơ quan có thẩm quyền tại Việt Nam và tại cơ quan Ngoại giao, cơ quan Lãnh sự của Việt Nam ở nước ngoài.
Điều 13 Nghị định 68/NĐ – CP ngày 10/7/2002 quy định chi tiết thi hành Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài được sửa đổi, bổ sung trong Nghị định số 69/NĐ – CP ngày 21/7/2006 và Thông tư số 07/TT – BTP ngày 16/12/2002 quy định phải có: Luận văn: Hoàn thiện quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài ở VN.
Tờ khai đăng ký kết hôn theo mẫu quy định, có xác nhận chưa quá 06 tháng tính đến ngày nhận hồ sơ của cơ quan có thẩm quyền về việc hiện tại đương sự là người không có vợ hoặc chồng.
Đối với công dân Việt Nam thường trú ở trong nước thì do cơ quan có thẩm quyền xác nhận theo quy định pháp luật về đăng ký hộ tịch.
Đối với công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài thì do cơ quan có thẩm quyền của nước nơi người đó định cư hoặc do cơ quan đại diện ngoại giao hoặc cơ quan lãnh sự của Việt Nam tại nước đó xác nhận.
Đối với người nước ngoài thường trú ở nước ngoài thì do cơ quan có thẩm quyền của nước nơi người đó có quốc tịch hoặc thường trú xác nhận. Nếu pháp luật nước ngoài không quy định xác nhận vào tờ khai đăng ký kết hôn hoặc không cấp giấy tờ xác nhận về tình trạng hôn nhân thì thay thế bằng văn bản tuyên thệ của người đó là hiện tại họ không có vợ hoặc không có chồng. Đối với người nước ngoài thường trú tại Việt Nam thì do UBND cấp xã nơi người đó đang thường trú xác nhận.
Việc quy định giấy xác nhận tình trạng hôn nhân phải do cơ quan có thẩm quyền xác nhận và chưa quá 06 tháng tính đến ngày nhận hồ sơ chưa chặt chẽ. Thứ nhất, cơ quan có thẩm quyền xác nhận loại giấy này đối với người Việt Nam định cư ở nước ngoài và đối với người nước ngoài thường trú ở nước ngoài là cơ quan có thẩm quyền nơi những người này định cư hoặc thường trú. Vậy các cơ quan có thẩm quyền nơi những người đó hiện tại đang thường trú có thể nắm rõ tình trạng của họ trước đây không. Bởi có người định cư hoặc thường trú từ nhỏ đến khi lấy vợ, chồng nhưng cũng có người chỉ mới sang định cư hoặc thường trú ở nước ngoài trong vòng một vài năm hoặc vài tháng trước khi kết hôn. Những thời gian trước đó, cơ quan có thẩm quyền nơi những người này định cư hoặc thường trú có biết được họ đã có hoặc chưa có vợ, chồng không. Rất khó khăn xác nhận trong trường hợp này. Đến ngay các cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam xác nhận tình trạng hôn nhân cho người Việt Nam hiện đang ở Việt Nam để kết hôn với người nước ngoài còn sai sót dẫn đến vi phạm chế độ hôn nhân tiến bộ một vợ, một chồng. Cụ thể, Sở Tư Pháp tỉnh Cần Thơ đã giải quyết kết hôn cho 07 đàn ông và 01 phụ nữ đang có gia đình; 01 trường hợp ở Tiền Giang; 01 trường hợp ở Hậu Giang. Như vậy, về thủ tục pháp lý của chúng ta chưa chặt chẽ hay do trình độ cán bộ thực thi pháp luật? Luận văn: Hoàn thiện quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài ở VN.
Thứ hai, giấy xác nhận tình trạng hôn nhân phải được xác nhận chưa quá 06 tháng tính đến ngày nhận hồ sơ. Việc pháp luật quy định như vậy để tạo điều kiện cho các bên đương sự hoàn tất hồ sơ nhưng cũng tạo kẽ hở cho những kẻ xấu lợi dụng. Có trường hợp, trong vòng 06 tháng, sau khi xác nhận tình trạng hôn nhân là chưa có vợ, chồng đã kết hôn nhưng vẫn nộp hồ sơ đăng ký kết hôn có yếu tố nước ngoài để được ra nước ngoài làm ăn.
Thứ ba, đối với những người đã ly hôn hoặc goá vợ, goá chồng muốn kết hôn có yếu tố nước ngoài, ngoài giấy xác nhận tình trạng hôn nhân, pháp luật còn quy định phải có bản sao bản án giải quyết ly hôn hoặc giấy chứng tử của vợ, chồng đã chết. Quy định này có cần thiết không? Theo tác giả, quy định này làm cho thủ tục hành chính càng rườm rà trong khi chúng ta đang thực hiện cải cách hành chính, không cần thiết phải có.
Về giấy xác nhận tình trạng sức khoẻ của các bên đương sự tham gia quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài chỉ mang tính hình thức. Dễ phát sinh việc làm giấy tờ giả để đăng ký kết hôn. Đồng thời thiếu quy định về thủ tục xác định người mất năng lực hành vi.
Trong trình tự, thủ tục đăng ký kết hôn có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam có quy định mới về thực hiện phỏng vấn trực tiếp tại Sở Tư Pháp tại khoản 1 Điều 16 Nghị định số 68/NĐ – CP ngày 10/7/2002 được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 69/NĐ – CP ngày 21/7/2006 để kiểm tra, làm rõ về sự tự nguyện kết hôn của hai bên, về khả năng giao tiếp bằng ngôn ngữ chung và mức độ hiểu biết về hoàn cảnh của nhau. Quy định này đã phần nào hạn chế tình trạng kết hôn với người nước ngoài thành trào lưu. Qua phỏng vấn các bên nam – nữ đăng ký kết hôn, các cán bộ Sở Tư Pháp đã phát hiện một số trường hợp kết hôn qua môi giới như ở Tây Ninh hoặc lợi dụng việc kết hôn để mua bán phụ nữ nhẹ dạ, cả tin, kết hôn giả tạo để nhập cảnh ra nước ngoài làm ăn. Đồng thời, thực tế thực hiện việc phỏng vấn, nhiều trường hợp không có khả năng giao tiếp bằng ngôn ngữ chung và mức độ hiểu biết về hoàn cảnh của nhau rất ít vì họ chỉ gặp nhau một vài lần trước khi kết hôn. Như vậy sẽ không đảm bảo cuộc sống gia đình hạnh phúc ấm no. Luận văn: Hoàn thiện quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài ở VN.
Về điều kiện độ tuổi kết hôn của các bên đương sự tham gia quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài, các nhà làm luật cần nghiên cứu để hạn chế việc lợi dụng pháp luật kết hôn có yếu tố nước ngoài gây mất trật tự an ninh –xã hội. Pháp luật quy định phải đủ tuổi kết hôn mới được tham gia quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài. Không chỉ pháp luật Việt Nam mà các nước đều chỉ quy định tuổi tối thiểu được tham gia quan hệ này mà không quy định giới hạn độ tuổi tối đa nên dẫn đến tình trạng chênh lệch tuổi tác quá nhiều giữa cô dâu và chú rể. Có cô gái Việt Nam trẻ kết hôn với đàn ông Đài Loan 78 tuổi, chênh nhau mấy chục tuổi một cách không bình thường. Để hạn chế việc này, chúng ta phải có biện pháp gì?
Luật hôn nhân và gia đình 2000, Điều 103 khoản 2 quy định “ Nghiêm cấm lợi dụng việc kết hôn có yếu tố nước ngoài để buôn bán phụ nữ, xâm phạm tình dục đối với phụ nữ hoặc vì mục đích trục lợi”. Và khoản 2 Điều 18 Nghị định số 68/NĐ – CP ngày 10/7/2002 quy định chi tiết thi hành Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 69/NĐ – CP ngày 21/7/2006 quy định: “ Việc đăng ký kết hôn cũng bị từ chối, nếu kết quả phỏng vấn, thẩm tra, xác minh cho thấy việc kết hôn thông qua môi giới bất hợp pháp, kết hôn giả tạo không nhằm mục đích xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, bền vững; kết hôn không phù hợp với thuần phong mỹ tục của dân tộc; lợi dụng việc kết hôn để mua bán phụ nữ, xâm phạm tình dục đối với phụ nữ hoặc vì mục đích trục lợi khác”. Vấn đề môi giới hôn nhân bất hợp pháp là một trong những vấn đề nhức nhối nhất hiện nay. Rất nhiều trường hợp kết hôn qua môi giới mà các cơ quan có thẩm quyền khó phát hiện ra. Các đường dây môi giới khép kín xuyên quốc gia được thành lập, hoạt động rất tinh vi với lợi nhuận cao. Pháp luật quy định cấm “kết hôn không phù hợp với thuần phong mỹ tục của dân tộc” và “kết hôn vì mục đích trục lợi khác” để hạn chế lợi dụng việc kết hôn có yếu tố nước ngoài xâm hại đến lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của các bên đương sự tham gia quan hệ nhưng chưa có quy định giải thích rõ. Thuần phong mỹ tục là gì, có phải là những phong tục, tập quán, nét đẹp truyền thống của dân tộc; trục lợi khác là gì?
Xu thế hội nhập quốc tế đã tác động mạnh mẽ đến quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam làm quan hệ này phát triển đa dạng và phức tạp. Hiện nay, công dân Việt Nam có quan hệ kết hôn với hơn 40 nước trên thế giới, trong đó có rất nhiều nước mà chúng ta chưa ký kết Điều ước quốc tế với họ về vấn đề này. Điều này gây khó khăn cho công dân Việt Nam cũng như các cơ quan có thẩm quyền Việt Nam trong việc tìm hiểu quy định pháp luật nước ngoài và quản lý việc kết hôn có yếu tố nước ngoài.
Từ những phân tích trên cho thấy Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam 2000 và các văn bản hướng dẫn thi hành đã bộc lộ rõ những bất cập cần sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với thực tế quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài.
Đây là một trong những vấn đề nhạy cảm, sâu sắc không chỉ đơn thuần là quan hệ tư mà liên quan đến chính sách ngoại giao với các nước nên cần giải quyết nhanh chóng, kịp thời.
3.2. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật điều chỉnh quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam: Luận văn: Hoàn thiện quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài ở VN.
3.2.1 Hoàn thiện pháp luật Việt Nam điều chỉnh quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài:
Qua tình hình kết hôn có yếu tố nước ngoài và thực trạng pháp luật điều chỉnh quan hệ này, theo tác giả cần phải hoàn thiện pháp luật Việt Nam điều chỉnh quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài với những quy định đầy đủ, chặt chẽ hơn, bao quát hơn đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, công dân Việt Nam và người nước ngoài.
Trước tiên, sửa đổi, bổ sung Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam 2000 về quy định giải quyết xung đột pháp luật về hình thức kết hôn có yếu tố nước ngoài. Bên cạnh quy định giải quyết xung đột pháp luật về điều kiện kết hôn, bổ sung một khoản quy định giải quyết xung đột pháp luật về hình thức kết hôn để đảm bảo sự điều chỉnh đồng bộ của pháp luật và phù hợp với Điều ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết. Các Hiệp định tương trợ (trừ Hiệp định với Trung Quốc, với Cộng hoà Pháp, với Hàn Quốc ) quy định nguyên tắc chọn luật nơi tiến hành kết hôn để giải quyết xung đột về nghi thức kết hôn. Đây là nguyên tắc phổ biến mà các nước trên thế giới đều áp dụng.
Thứ hai, bổ sung quy định giải thích rõ trường hợp từ chối hay cấm kết hôn khi việc kết hôn vi phạm “thuần phong mỹ tục” hoặc vì mục đích “trục lợi khác” tạo điều kiện cho các cán bộ thực thi pháp luật áp dụng đúng quy định, đồng thời tránh để kẻ xấu lợi dụng vi phạm lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.
Thứ ba, trong thủ tục xác nhận tình trạng hôn nhân của các bên đương sự, các cán bộ hộ tịch phải kiểm tra, xác minh cẩn thận, chính xác tình trạng hôn nhân đảm bảo chế độ hôn nhân tiến bộ. Kiểm tra, phỏng vấn kỹ càng, nếu có dấu hiệu nghi ngờ môi giới hôn nhân bất hợp pháp, hôn nhân giả tạo, vì mục đích trục lợi đề nghị cơ quan công an điều tra, làm rõ sự việc. Đối với trường hợp xác nhận tình trạng hôn nhân của người Việt Nam định cư ở nước ngoài hoặc người nước ngoài thường trú ở nước ngoài tại cơ quan có thẩm quyền nơi người Việt Nam định cư hoặc người nước ngoài thường trú thì:
Ngoài giấy xác nhận tình trạng hôn nhân do cơ quan có thẩm quyền nơi người Việt Nam định cư hoặc nơi người nước ngoài thường trú cấp, người Việt nam định cư ở nước ngoài và người nước ngoài phải có thêm xác nhận về tình trạng hôn nhân trước khi sang định cư ở nước ngoài đối với người Việt Nam và xác nhận tình trạng hôn nhân ở nơi ngay trước nơi họ đang thường trú tại thời điểm đăng ký kết hôn.
Thứ tư, nghiên cứu sửa đổi một số quy định chỉ mang tính hình thức hoặc chưa phát huy hiệu quả như tác giả đã phân tích ở trên.
Bên cạnh sửa đổi Luật hôn nhân và gia đình 2000, và các văn bản hướng dẫn, chúng ta nên ký kết các văn bản pháp lý thiết lập hệ thống thông tin hai chiều giữa Chính Phủ Việt Nam và Chính Phủ các nước có nhiều công dân Việt Nam cư trú để năm bắt tình hình và quyền lợi của phụ nữ Việt Nam ở nước ngoài.
3.2.2. Kiến nghị mở rộng việc ký kết các Điều ước quốc tế điều chỉnh quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài Luận văn: Hoàn thiện quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài ở VN.
Dựa trên tình hình thực tế quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam, rất nhiều công dân Việt Nam kết hôn với người Việt Nam định cư ở nước ngoài và với công dân nhiều nước trên thế giới. Trong các quan hệ hôn nhân này, nhiều trường hợp đạt mục đích hôn nhân nhưng cũng có nhiều trường hợp không đạt được do gặp khó khăn trong thủ tục pháp lý, bị lừa dối, ép buộc,…Để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các bên đương sự, đồng thời đảm bảo thực hiện đúng đường lối, chính sách hội nhập quốc tế trên mọi lĩnh vực, theo tác giả, Việt Nam nên ký kết một số Hiệp định tương trợ tư pháp với các nước có đông người Việt Nam cư trú. Vì theo thống kê, có khoảng 45% người Việt Nam cư trú ở nước ngoài như Hoa Kỳ, Úc, Canada, Đức,…. kết hôn với công dân Việt Nam. Đồng thời, các nhà làm luật cũng nên nghiên cứu việc gia nhập Công ước La Haye 1902 về …Qua nghiên cứu Công ước La Haye 1902, tác giả thấy các nguyên tắc giải quyết xung đột về điều kiện kết hôn và nghi thức kết hôn cũng tương thích với nguyên tắc giải quyết xung đột pháp luật điều chỉnh quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài của Việt Nam. Hơn nữa, Công ước này được ký kết giữa nhiều nước, nếu chúng ta tham gia thì sẽ giải quyết được vấn đề kết hôn giữa công dân Việt Nam với công dân các nước thành viên Công ước mà không phải ký nhiều Hiệp định tương trợ tư pháp . Đây là những việc làm cần thiết tính về lâu dài.
3.2.3. Kiến nghị trong quản lý nhà nước về quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài
Quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài bị phức tạp bởi yếu tố nước ngoài nên cần quản lý chặt chẽ. Hiện nay, theo quy định, loại quan hệ này thuộc sự quản lý của UBND cấp tỉnh, cấp xã và các cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự của Việt Nam ở nước ngoài. Để quản lý việc kết hôn có yếu tố nước ngoài, các cơ quan nhà nước của ta có một đội ngũ cán bộ hộ tịch chuyên trách. Tuy nhiên, vừa qua có một số cán bộ không đủ năng lực hay lợi dụng chức vụ, quyền hạn thông đồng với bọn môi giới để đăng ký kết hôn cho công dân Việt nam với người nước ngoài. Do vậy, cần lựa chọn, bố trí cán bộ có đủ năng lực, phẩm chất và trình độ chuyên môn đảm nhận công tác hộ tịch. Thực hiện tốt việc tiếp nhận, kiểm tra hồ sơ và tăng cường việc phỏng vấn hai bên nam, nữ kết hôn, kể cả trong trường hợp công nhận việc kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài đã được đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài, mà công dân Việt Nam vắng mặt khi làm thủ tục đăng ký kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài. Thực hiện tốt niêm yết việc kết hôn có yếu tố nước ngoài khi có văn bản đề nghị của Sở Tư pháp. Luận văn: Hoàn thiện quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài ở VN.
Sở Tư Pháp giúp UBND cấp tỉnh quản lý nhà nước về quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài phối hợp với Công an, các tổ chức xã hội cấp tỉnh: Hội liên hiệp phụ nữ cấp, Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, UB mặt trận tổ quốc, Họi cựu chiến binh, Liên đoàn lao động, cùng Sở văn hoá thông tin, Sở lao động – thương binh và xã hội tổ chức tuyên truyền giáo dục sâu, rộng đến người dân, nhất là dân ở vùng nông thôn, vùng sâu, sát biên giới về các quy định pháp luật điều chỉnh quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài và về những thủ đoạn của bọn môi giới để người dân có kiến thức pháp luật cơ bản và có cái nhìn rõ hơn về quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài. Có những biện pháp tuyên truyền phù hợp với tình hình từng địa phương.
Thành lập nhiều Trung tâm hỗ trợ kết hôn theo Nghị định 68/NĐ – CP ngày 10/7/2002 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài. Hiện nay, chúng ta đã 09 tỉnh, thành phố thành lập Trung tâm hỗ trợ kết hôn nhưng mới có 05 Trung tâm chính thức đi vào hoạt động ở: Thành phố Hồ Chí Minh, Bình Phước, Tây Ninh, Cà Mau, Hải Phòng. Các Trung tâm này hoạt động rất hiệu quả và đang được nhân rộng ra cả nước.
Chúng ta nên thực hiện giải pháp: biên soạn các tài liệu, thông tin cần thiết về phong tục, tập quán, thói quen sinh hoạt của các nước mà công dân Việt nam có quan hệ kết hôn với công dân nước đó. Sau đó phân phối cho những người có nhu cầu, có thể qua trang báo điện tử hoặc phân phối trực tiếp.
Tăng cường hợp tác, chia sẻ kinh nghiệm với các nước về quản lý quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài, hỗ trợ các cặp kết hôn ở nước ngoài hoà nhập cộng đồng để mang lại hạnh phúc. Các cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự của Việt Nam ở nước ngoài cần phải giữ mối liên hệ, thông tin về tình hình hôn nhân của người Việt Nam ở nước ngoài nhất là thông tin về quyền lợi của phụ nữ Việt Nam để có biện pháp bảo vệ kịp thời khi bị xâm phạm.
Bên cạnh các giải pháp trên, giải pháp kinh tế là một trong những giải pháp rất quan trọng để hạn chế tình trạng kết hôn với người nước ngoài vì mục đích kinh tế. Nhà nước ta phải thực hiện chuyển đổi cơ cấu kinh tế xã hội ở khu vực nông thôn một cách tích cực và có hiệu quả. Luận văn: Hoàn thiện quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài ở VN.
Đầu tư phát triển công nghiệp địa phương, tạo công ăn việc làm lâu bền. Đẩy mạnh xoá đói giảm nghèo.
- Phát triển mạnh mẽ văn hoá – xã hội khu vực:
Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, đẩy mạnh các dịch vụ văn hoá, hỗ trợ người dân trong y tế, giáo dục, làm cho trẻ được đến trường học và học cao hơn, tiếp cận kiến thức văn hoá, khoa học, công nghệ, thông tin văn hoá – xã hội thì mới có nghề nghiệp.
Mở cơ sở dạy nghề cho nam nữ đến tuổi trưởng thành không có điều kiện học lên tiếp, đặc biệt ưu tiên diện chính sách.
- Đẩy mạnh công tác kế hoạch hoá gia đình.
Mặc dù trong xu thế hội nhập, chúng ta vẫn phải phát huy giá trị chuẩn mực truyền để tác động đến hành vi con người mạnh hơn nữa.Nếu so sánh giữa văn hoá miền Bắc với miền Nam có thấy sự khác biệt rất lớn, văn hoá miền Nam với nhiều tầng cổ xưa có nguồn gốc khác với miền Bắc, và mới đây lại giao thoa với cả văn hoá phương Tây. Miền Bắc với sự bảo lưu những giá trị chuẩn mực truyền thống nên đã ràng buộc người dân vùng đồng bằng Bắc Bộ với những biện pháp chế tài không chính thức: lời dị nghị, sự dèm pha, việc làm mất uy tín bằng nhiều hình thức, không cho họ vi phạm một cách dễ dàng. Sự kiểm soát xã hội ở đồng bằng sông Cửu Long không chặt chẽ như vậy nên diễn ra tình trạng trên.
Trên đây, tác giả đã đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật điều chỉnh quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài. Rất mong các nhà làm luật nghiên cứu sửa đổi, bổ sung luật hôn nhân và gia đình Việt Nam và các văn bản hướng dẫn thi hành để tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho các bên đương sự tham gia quan hệ này nói chung và cho công dân Việt Nam nói riêng.
KẾT LUẬN Luận văn: Hoàn thiện quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài ở VN.
Trong phạm vi đề tài “Quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam trong thời kỳ hội nhập quốc tế”, tác giả đã nghiên cứu và phân tích rõ một số vấn đề cơ bản của đề tài: lý luận chung về quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài, những quy định của pháp luật hiện hành điều chỉnh quan hệ này ở Việt Nam, thực trạng và kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật điều chỉnh quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam.
Quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài là quan hệ kết hôn giữa: Công dân Việt Nam và người nước ngoài (ở Việt Nam hoặc nước ngoài); Công dân Việt Nam với nhau tại nước ngoài hoặc ít nhất một bên định cư ở nước ngoài; người nước ngoài với nhau thường trú tại Việt Nam. Quan hệ này được điều chỉnh bởi nhiều loại nguồn pháp luật khác nhau nhưng có mối quan hệ khăng khít, tương hỗ nhau gồm: pháp luật trong nước, Điều ước quốc tế và tập quán quốc tế. Điều quan trọng nhất cần giải quyết khi phân tích các quy định pháp luật điều chỉnh quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài là phải chỉ ra nguyên tắc giải quyết xung đột pháp luật hay nói một cách khác là chọn luật áp dụng. Theo các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành, nguyên tắc giải quyết xung đột pháp luật về điều kiện kết hôn có yếu tố nước ngoài là Luật quốc tịch, Luật nơi cư trú và Luật nơi thực hiện hành vi; giải quyết xung đột pháp luật về hình thức kết hôn chưa được quy định chính thức trong Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam. Theo các Điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết điều chỉnh quan hệ này thì áp dụng Luật quốc tịch và Luật nơi thực hiện hành vi để giải quyết xung đột pháp luật về điều kiện kết hôn và nghi thức kết hôn. Hiện nay, Việt Nam mới chỉ ký các Hiệp định tương trợ tư pháp (trừ Hiệp định TTTP với Trung Quốc, Pháp, Hàn Quốc) điều chỉnh quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài, chưa ký kết Điều ước quốc tế đa phương nào. Bên cạnh việc phân tích các quy định pháp luật, tác giả còn phân tích thực trạng của quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam nhằm đưa ra các kiến nghị. Tác giả đã đưa ra một bức tranh chung về việc kết hôn của các công dân Việt Nam với người nước ngoài; giữa người nước ngoài với nhau thường trú ở Việt Nam. Đồng thời, phân tích những bất cập của các quy định pháp luật trong việc điều chỉnh quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài. Trên cở sở đó, tác giả đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật Việt Nam điều chỉnh quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài.
Trong quá trình nghiên cứu, với sự hạn chế về thời gian và trình độ nên không thể tránh khỏi còn thiếu sót. Tác giả rất mong được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô và bạn bè để luận văn được hoàn thiện hơn nữa. Luận văn: Hoàn thiện quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài ở VN.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Luận văn: Thực trạng quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài ở VN