Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Hoàn thiện góp vốn quyền sử dụng đất là tài sản chung hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Hoàn thiện pháp luật về góp vốn bằng quyền sử dụng đất là tài sản chung của vợ chồng dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
3.1. Sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật về góp vốn bằng quyền sử dụng đất là tài sản chung của vợ chồng
Theo Luật hôn nhân – Gia đình 2014, ” Kết hôn là việc nam và nữ xác lập quan hệ vợ chồng với nhau theo quy định của Luật này về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn”. Như là một tất yếu của cuộc sống chung, vợ và chồng thực hiện những quan hệ về tài sản nhằm đáp ứng những nhu cầu tồn tại và phát triển của gia đình. Đây là những quan hệ xảy ra phổ biến trong xã hội và chịu sự điều chỉnh trực tiếp của pháp luật về hôn nhân và gia đình, trong một quy chế được gọi là Chế độ tài sản của vợ chồng. Có một câu hỏi lớn đặt ra là: Chế độ tài sản của vợ chồng sẽ được xác lập theo luật pháp hay theo sự thỏa thuận của vợ chồng? Tài sản của vợ chồng trong pháp luật về hôn nhân và gia đình (HN&GĐ) của các nước trên thế giới được quy định gắn liền với các điều kiện kinh tế – xã hội, chế độ sở hữu, truyền thống, phong tục, tập quán, tâm lý, nguyện vọng của người dân…Do đó, giữa các nước khác nhau thường có những quy định khác biệt về tài sản của vợ chồng. Tuy nhiên, về cơ bản tài sản của vợ chồng được xác định dựa trên hai căn cứ: Sự thỏa thuận bằng văn bản của vợ chồng (chế độ tài sản ước định) và theo các quy định của pháp luật (chế độ tài sản pháp định).
Ngoài ra, đất đai là tài nguyên của quốc gia, con người không thể tạo ra mà chỉ có thể cải tạo nó. Đất đai có ý nghĩa rất lớn cho nhu cầu cuộc sống của mỗi người dân và của cả cộng đồng. Do đó, quyền sử dụng đất trở thành một loại tài sản có giá trị lớn mà ai cũng muốn sở hữu. Đối với những cặp vợ chồng ở nước ta, với ý nghĩ “an cư mới lạc nghiệp”, thì việc để có được mảnh đất xây dựng nhà ở, làm ăn sinh sống là hết sức cần thiết. Việc phân định đâu là tài sản chung, đâu là tài sản riêng của vợ chồng tưởng chừng không quan trọng, nhưng trong cuộc sống có thể nảy sinh rất nhiều vấn đề cần đến việc xác định tài sản chung, riêng của vợ chồng để bảo vệ quyền lợi cho vợ, chồng, con cái trong gia đình cũng như người thứ ba có liên quan (như các chủ nợ).
Tuy nhiên, hiện nay, việc xác định quyền sử dụng đất là tài sản chung, riêng của vợ chồng cũng gặp không ít khó khăn do đây là loại tài sản đặc thù nên khi xác định là tài sản chung, riêng cũng có điểm riêng biệt phức tạp hơn so với các loại tài sản thông thường khác; quan trọng hơn nữa là quy định của pháp luật hiện hành về xác định tài sản chung, riêng còn dễ gây ra các cách hiểu khác nhau và khó áp dụng. Chính vì vậy, trong phạm vi luận văn, chúng tôi xin được đưa ra một số vấn đề khi xác định tài sản chung, tài sản riêng là quyền sử dụng đất của vợ chồng để cùng xem xét, trao đổi.
3.2 Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về góp vốn bằng quyền sử dụng đất là tài sản chung của vợ chồng Luận văn: Hoàn thiện góp vốn quyền sử dụng đất là tài sản chung.
3.2.1 Những kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về chế độ tài sản của vợ chồng
3.2.1.1 Đối với tài sản chung của vợ chồng
- Thứ nhất, về căn cứ xác lập tài sản chung của vợ chồng
Theo Điều 33 Luật HN&GĐ năm 2014, căn cứ xác lập tài sản chung của vợ chồng, trước hết dựa vào “thời kỳ hôn nhân”, những tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của vợ, chồng trong thời kỳ hôn nhân là tài sản chung của vợ, chồng.
Thông thường quy định này được áp dụng cho các cặp vợ chồng trong thực tế. Tuy nhiên, theo quy định của pháp luật dân sự và HN&GĐ, trong một số trường hợp cụ thế, việc xác định “thời kỳ hôn nhân” chưa được luật dự liệu; các văn bản hướng dẫn áp dụng của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền cũng chưa đề cập tới các vấn đề liên quan đến nguyên tắc xác lập tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân đối với các trường hợp này.
Trường hợp vợ, chồng bị Tòa án tuyên bố chết, mà sau đó lại trở về (Điều 67 Luật HN&GĐ năm 2014); pháp luật mới chỉ dự liệu quan hệ hôn nhân được khôi phục (nếu người chồng, vợ kia chưa kết hôn với người khác), còn về vấn đề tài sản chung của vợ chống được xác định như thể nào? Đây là vấn đề còn nhiều quan điểm chưa thống nhất về mặt lý thuyết.
Theo yêu cầu của người bị Tòa án tuyên bố là đã chết mà lại trở về, những người đã được chia di sản thừa kế của người đó phải trả lại những tài sản hiện còn; nếu có tình giấu giếm nhằm chiếm giữ tài sản đó thì họ phải trả lại toàn bộ giá trị tài sản, kể cả hoa lợi, lợi tức thu được từ tài sản đó. Quy định về hậu quả này được pháp luật của nhiều nước ghi nhận (Điều 130, Điều 131 Bộ luật Dân sự của Cộng hòa Pháp; Điều 32 Bộ luật Dân sự Nhật Bản…). Trong chừng mực nhất định, hậu quả về tài sản của người bị Tòa án tuyên bố chết mà lại trở về có nội dung khác với Điều 93 Bộ luật Dân sự của Nhà nước ta. Ví dụ: Điều 55 Bộ luật Dân sự và Thương mại Thái Lan quy định: “… một người đã nhận được tài sản sau việc tuyên bố mất tích, nhưng mất quyền của mình sau khi hủy bỏ lời tuyên bố đó, phải hoàn lại tài sản đó chi trong chừng mực người đó đã trở lên giàu có nhờ tài sản đó”. Tương tư, Điều 32 Bộ luật Dân sự Nhật Bản dự liệu rằng: “Người được hưởng tài sản từ tuyên bố mất tích sẽ bị mất các quyền của mình khi tuyên bố này bị hủy bỏ. Tuy nhiên, người này chỉ chịu trách nhiệm trả lại tài sản đã nhận, tùy thuộc vào mức độ giàu lên hiện . . “. Luận văn: Hoàn thiện góp vốn quyền sử dụng đất là tài sản chung.
Tuy nhiên, vấn để tuyên bố vợ, chồng chết mà sau này lại trở về, về hậu quả pháp lý của sự kiện này có liên quan đến cả quan hộ nhân thân và tài sản của vợ chồng. Trong đó thời điểm “phục hồi” quan hệ hôn nhân và Chế độ tài sản giữa vợ chồng theo hệ thống pháp luật của nhiều nước không quy định cụ thể (BLDS Nhật Bản, Bộ luật Dân sự và Thương mại Thái Lan, Dân luật Bắc Kỳ ở Việt Nam…).
Riêng Bộ luật Dân sự Cộng hòa Pháp (1804), giải pháp mà nhà làm luật lựa chọn trong trường hợp này là “không phục hồi quan hệ hôn nhân”. Theo Điều 132 quy định: “Hôn nhân của người mất tích bị chấm dứt, ngay cả khi bản án tuyên bố mất tích đã bị hủy”. Như vậy, nếu đã không thể phục hồi quan hệ hôn nhân, thì chế độ tài sản giữa vợ chồng cũng không thể khôi phục. Cũng có nghĩa rằng chế độ tài sản của vợ chồng sẽ đương nhiên chấm dứt khi phán quyết của Tòa án tuyên bố vợ, chồng đã chết có hiệu lực (theo Điều 128 Bộ luật Dân sự Cộng hòa Pháp thì bản án tuyên bố mất tích, sau khi đã được ghi vào số sách, có đầy dù hiệu lực như khi người ấy chết).
Chúng tôi cho rằng, Điều 67 Luật HN&GĐ năm 2014 của Nhà nước ta nên chính sửa theo hưởng: khi phán quyết của Tòa án tuyên bố vợ, chồng Chết có hiệu lực pháp luật, quan hệ hôn nhân chấm dứt; kể cả trường hợp sau này, vì lý do nào đó mà người vợ, chồng đã bị tuyên bố chết lại trở về cũng không thể “đương nhiên” phục hồi quan hệ hôn nhân được (dù người chồng, vợ kia chưa kết hôn với người khác). Nếu vợ, chồng muốn tái hợp chung sống với nhau, họ phải đăng ký kết hôn theo thủ tục chung. Tức là sẽ phát sinh một quan hệ hôn nhân mới, thời kỳ hôn nhân mới, đủ chủ thể vẫn là vợ, chồng đó. Như vậy, chế độ tài sản mới giữa vợ chống được phát sinh theo luật định, áp dụng trong thời kỳ hôn nhân mới này.
- Xác định tài sản chung của vợ chồng trong trường hợp vợ, chồng bị Tòa án tuyên bố mất tích.
Theo Điều 89 Bộ luật Dân sự, vợ, chồng bị tuyên bố mất tích không làm chấm dứt quan hệ giữa vợ chồng trước pháp luật, kể từ ngày phán quyết của Tòa án tuyên bố vợ, chồng bị mất tích có hiệu lực pháp luật, quan hệ hôn nhân vẫn đang tồn tại trước pháp luật. Theo nguyên tắc chung tại Điều 33 Luật HN&GĐ năm 2014, những tài sản do vợ (chồng) tạo ra trong thời kỳ hôn nhân thuộc khổi tài sản chung của vợ chồng. Vậy nên, tất cả những tài sản do vợ, chồng (kể cả người vợ, chồng dù bị tuyên bố mất tích hay không) tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất kinh doanh… của vợ chồng đều được tính thuộc tài sản chung của vợ chồng. Luận văn: Hoàn thiện góp vốn quyền sử dụng đất là tài sản chung.
Theo yêu cầu của người chồng, vợ (không bị tuyên bổ mất tích) hoăc của những người có quyền lợi liên quan, xét thấy có căn cứ, Tòa ăn ra quyết định tuyên bố người vợ, chồng bị mất tích. Người chồng, vợ kia có quyền quản lý tài sản chung của vợ chồng, sử dụng tài sản chung bảo đảm nhu cầu đời sống chung của gia đình. Trong trường hợp này, các giao dịch mà người vợ, chồng (không bị tuyên bố mất tích) kết ước với người khác vì lợi ích chung của gia đình được bảo đảm bằng khổi tài sản chung của vợ chồng (Điều 27 và khoản 2 Điều 33 Luật HN &GĐ năm 2014 được áp dụng).
Trường hợp người chồng, vợ (không bị tuyên bố mất tích) khi quản lý và sử dụng, định đoạt tài sản chung không nhằm bảo đảm nhu cầu thiết yếu của gia đình (như có hành vi giấu giếm, tẩu tán tài sản…) thì theo yêu cầu của người vợ, chồng bị tuyên bố mất tích mà sau này lại trở về hoặc yêu cầu của những người có quyền lợi liên quan: Tòa án xác định nghĩa vụ của người chồng, vợ kia phải “đền bù” cho khối tài sản chung của vợ chồng. Trường hợp người chồng, vợ (không bị tuyên bố mất tích) có yêu cầu ly hôn với người vợ, chồng bị tuyên bố mất tích, Tòa án giải quyết theo hướng dẫn tại mục 8 Điểm b của Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP ngày 23/12/2000. Nếu Tòa án giải quyết cho ly hôn với người bị tuyên bố mất tích thì căn chủ ý giải quyết việc quản lý tài sản của người bị tuyên bố mất tích theo đúng quy định tại Điều 89 Bộ luật Dân sự; theo đó, tài sản của người mất tích được giao cho con đã thành niên hoặc cha, mẹ của người mất tích quản lý; nếu không có những người này, thì giao cho người thân thích của người mất tích quản lý; nếu không có người thân thích thì Tòa án chỉ định người khác quản lý tài sản.
Xác định tài sản chung của vợ chồng trong trường hợp vợ chồng đã chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân, sau đó lại khôi phục chế độ tài sản chung.
Luật HN&GĐ năm 2014 (Điều 38, Điều 40) không quy định rõ vấn để khôi phục Chế độ tài sản chung của vợ chồng sau khi đã chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân.
- Chúng tôi cho rằng cần phải sửa đổi, bổ sung vào Luật HN&GĐ những vấn đề sau:
Những lý do chính đáng để vợ chồng chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân bao gồm những lý do nào.
Việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân (có thể) do vợ chồng tự thỏa thuận với nhau nhưng dứt khoát phải được Tòa án công nhận hoặc phải được công chứng, chứng thực theo quy định của pháp luật, nhằm hạn chế tối đa hành vi của vợ chồng lợi dụng việc chia tài sản chung để tẩu tán tài sản, trốn tránh nghĩa vụ tài sản đòi với người khác. Quy định này nhằm kiểm soát chặt chẽ các trường hợp chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân.
Sau khi chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân (dù chia một phần hay toàn bộ tài sản chung của vợ chồng) thì chế độ tài sản chung của vợ chồng phải được coi là chấm dứt; phần tài sản mà vợ, chồng đã được chia, kể cả các hoa lợi, lợi tức từ các tài sản được chia đó; những thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất kinh doanh hoặc những thu nhập hợp pháp khác của vợ, chồng trong thời kỳ hôn nhân phải được coi là tài sản riêng của mỗi bên vợ, chồng (trừ phần tài sản chung và các hoa lợi, lợi tức thu được từ tài sản chung chưa chia; những tài sản mà vợ chống được tặng cho chung, được thừa kế chung hoặc những tài sản mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung). Nói cách khác, “thời kỳ hôn nhân” trong trường hợp này không được coi là căn cứ xác lập tài sản chung của vợ chồng; Vì đây là trường hợp đặc biệt ngoại lệ.
Chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân không làm chấm dứt quan hệ vợ chồng trước pháp luật. Có trường hợp vợ chồng tự thỏa thuận hoặc yêu cầu Tòa ăn chia một phân hoặc toàn bộ tài sản chung. Có trường hợp sau khi đã chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, vợ, chồng vẫn cùng sống chung hoặc đã ở riêng “mỗi người mỗi ngả”. Luật cần dự liệu về nghĩa vụ của vợ chống đối với nhau, đối với con chung và nghĩa vụ đóng góp tài sản chung nhằm bảo đảm đời sống chung của gia đình. Luận văn: Hoàn thiện góp vốn quyền sử dụng đất là tài sản chung.
Mặt khác, luật cần dự liệu trường hợp sau khi đã chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, một thời gian sau vợ chồng mới có yêu cầu ly hôn hoặc một bên vợ, chồng chết trước, những tài sản nào thuộc khối tài sản chung của vợ chồng thì mới chia.
Vấn để khôi phục chế độ tài sản chung của vợ chồng cần dự liệu rõ thêm vấn đề về khôi phục tài sản chung của vợ chồng sau khi đã chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân. Đây không chỉ là việc thỏa thuận của vợ chồng xem xét những tài sản nào là tài sản chung của vợ chồng (vì theo luật, vợ chồng có thể thỏa thuận chia một phần hoặc toàn bộ tài sản chung thì khi khôi phục chế độ tài sản chung cũng có thể là khôi phục một phần hoặc toàn bộ tài sản của họ, coi như chưa có việc chia tài sản chung đó trong thời kỳ hôn nhân); mà ở đây cần phải hiểu rằng việc khôi phục chế độ tài sản chung của vợ chồng là “khôi phục căn cứ pháp lý xác lập tài sản chung của vợ chồng”. Bởi lẽ, theo nguyên tắc chung, những tài sản mà vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh… trong thời kỳ hôn nhân (trừ nguồn gốc là tài sản riêng) đều thuộc khối tài sản chung của vợ chồng. Căn cứ này đã tạm chấm dứt khi vợ chồng thỏa thuận chia tài sản chung của mình nong thời kỳ hôn nhân (Điều 40 Luật HN&GĐ năm 2014; Điều 14 Nghị định số 126/2014/NĐ-CP). Sau khi đã chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân thì những tài sản mà vợ, chồng được chia từ khôi tài sản chung; các hoa lợi, lợi tức từ tài sản được chia; thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của mỗi bên sau khi chia tài sản chung là tài sản riêng của vợ, chồng. Nay khôi phục chế độ tài sản chung của vợ chồng, căn cứ xác lập tài sản chung của vợ chồng theo Điều 33 Luật HN&GĐ năm 2014 phải được áp dụng, khôi phục lại). Các quy định tại Điều 40 của Luật HN&GĐ năm 2014, Điều 14 Nghị định số 126/2014/NĐ-CP không áp dụng nữa. Luận văn: Hoàn thiện góp vốn quyền sử dụng đất là tài sản chung.
Luật HN&GĐ sửa đổi cần quy định về thủ tục chia tài sản chung hoặc khôi phụ chế độ tài sản chung của vợ chồng. Theo đó, khi chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân hoặc khôi phục chế độ tài sản chung của vợ chồng cần phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác nhận. Việc chia tài sản chung hoặc khôi phục chế độ tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân phải được ghi chú bên lề giấy chứng nhận kết hôn và giấy khai sinh của hai vợ chồng. Bởi lẽ, vấn đề này liên quan trực tiếp đến quyền lợi của những người khác khi ký kết các hợp đồng liên quan đến tài sản của vợ, chồng và lợi ích của gia đình. Vấn đề này được pháp luật của một số nước quy định (xem Điều 305 Bộ luật Dân sự Cộng hòa Pháp…).
Đối với trường hợp vợ chồng đã ly hôn, sau đó kết hôn lại với nhau (khoản 1 Điều 9 Luật HN&GĐ năm 2014) cần phải xác định những tài sản của vợ, chống được chia từ khối tài sản chung khi ly hôn thuộc Sở hữu riêng của mỗi bên vợ, chồng. Chế độ tài sản chung của vợ chống được xác lập từ khi kết hôn lại với nhau (bắt đầu một thời kỳ hôn nhân mới) [1, Điều 9]. Theo nguyên tắc chung tại khoản 1 Điều 33 Luật HN&GĐ năm 2014, nguồn gốc tài sản được tính thuộc khối tài sản chung của vợ chồng bao gồm những tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân… và những tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung [1, Điều 33]. Như vậy, khối tài sản chung của vợ chồng (sau khi đã ly hôn mà kết hôn lại với nhau) bao gồm toàn bộ những tài sản theo khoản 1 Điều 33 quy định)
Cũng có thể vợ, chồng thỏa thuận nhập tất cả những tài sản đã được chia riêng trước đây khi ly hôn, vào khối tài sản chung của vợ chồng (khoản 1 Điều 33 Luật HN&GĐ năm 2014). Trong trường hợp đó, khôi tài sản chung của vợ chồng sẽ bao gồm cả những tài sản mà vợ chồng tạo ra… trong thời kỳ hôn nhân mới, kể từ khi kết hôn lại với nhau, và những tài sản được chia riêng cho mỗi bên vợ, chồng khi ly hôn trước đây. Điều đó dẫn tới quy kết là: chưa bao giờ có việc chia tài sản chung giữa hai vợ chồng vì mặc dù trước đây khi vợ chồng ly hôn, tài sản chung đã được chia cho mỗi bên vợ, chồng; nhưng nay vợ chồng kết hôn lại với nhau và họ thỏa thuận những tài sản đã được chia đó vẫn thuộc khổi tài sản chung của vợ chồng.
Vấn đề đặt ra là: Pháp luật HN&GĐ của Nhà nước ta có nên chấp nhận chế độ tài sản của vợ chồng theo sự thỏa thuận của vợ chống (chế độ tài sản ước định) hay không? Luận văn: Hoàn thiện góp vốn quyền sử dụng đất là tài sản chung.
Cần khẳng định rằng, hệ thống pháp luật HN&GĐ của Nhà nước ta từ năm 1945 đến nay không dự liệu về loại chế độ tài sản này giữa vợ chồng. Quy định tại khoản 1 Điều 33 Luật HN&GĐ năm 2014 với cụm từ “…và những tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung” cần được hiểu: Quy định này có tính chất “mở” cho phép vợ, chồng được linh hoạt khi thực hiện quyền Sở hữu của mình, tự nguyện nhập tài sản riêng vào khổi tài sản chung của vợ chồng; hoặc do tính chất của quan hệ hôn nhân được xác lập, quá trình sống chung giữa vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, sẽ phát sinh loại tài sản mà khi có tranh chấp, không thể xác định được là tài sản riêng hoặc tài sản chung, có nguồn gốc từ đâu; vì vậy vợ, chồng có thể thỏa thuận những tài sản đó là tài sản chung của vợ chồng; hoặc pháp luật suy đoán là tài sản chung của vợ chồng [3, Điều 33]. Quy định này không phải là gián tiếp chấp nhận chế độ tài sản theo thỏa thuận giữa vợ chống (chế độ tài sản uớc định).
Đối với trường hợp chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân (Điều 39, Điều 40 Luật HN&GĐ năm 2014; Điều 14 Nghị định số 126/2014/NĐ-CP) thực chất là đã chấp nhận “chế độ biệt sản” giữa vợ chồng, sau khi đã chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân. Mặc dù Vậy, nó vẫn phải được điều chỉnh bởi pháp luật, chứ không phụ thuộc vào sự thỏa thuận của vợ chồng. Trường hợp đã chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, sau đó vợ chồng muốn khôi phục lại chế độ tài sản chung, vẫn phải tuân theo những quy định của pháp luật.
Nghiên cứu cụ thể vấn đề này, xét theo bản chất của chế độ tài sản của vợ chồng, vai trò, ý nghĩa của chế độ tài sản của vợ chống đối với lợi ích của vợ chồng, gia đình và xã hội; Sự phát triển của các điều kiện kinh tế – xã hội hiện nay và truyền thống, tập quán của gia đình Việt Nam, chúng tôi cho rằng: thực tế giải quyết các tranh chấp về tài sản giữa vợ chồng, nguyên tắc tôn trọng và bảo đảm quyền tự định đoạt của vợ chồng về tài sản, tôn trọng sự thỏa thuận của vợ chồng về việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân hoặc khi vợ chồng ly hôn đã luôn được pháp luật quy định. Vậy, nên chăng Luật cần thiết dự liệu, trong một số trường hợp “ngoại lệ”, vẫn có thể cho phép vợ chồng tự lựa chọn một chế độ tài sản phù hợp, theo nguyên tắc sự thỏa thuận lựa chọn chế độ tài sản đó không trái với đạo đức xã hội, bảo đảm được lợi ích của gia đình, của các con.
Ví dụ: vợ chồng có thể thỏa thuận lựa chọn chế độ tài sản của mình là chế độ cộng đồng toàn sản. Đây là loại chế độ tài sản đã được áp dụng nhiều năm ở nước ta trước đây (theo Dân luật Bắc Kỳ năm 1931, Dân luật Trung Kỳ năm 1936, Luật Gia đình năm 1959 dưới thời Ngô Đình Diệm và Luật HN&GĐ năm 1959 của Nhà nước ta).
Trong chừng mực nhất định, loại chế độ tài sản này cũng có nhiều ưu điểm và phù hợp với khá nhiều gia đình truyền thống Việt Nam. Việc áp dụng loại chế độ tài sản này trong thực tế có nhiều thuận lợi, đặc biệt là giải quyết các tranh chấp về tài sản giữa vợ chồng với nhau và với người khác. Luận văn: Hoàn thiện góp vốn quyền sử dụng đất là tài sản chung.
- Về nguyên tắc chia đôi tài sản chung của vợ chồng: Điều 59 của Luật HN&GĐ năm 2014 quy định nguyên tắc chia đôi tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn.
Để có quan điểm thống nhất khi áp dụng, theo chúng tôi, Luật HN&GĐ cẩn dự liệu cụ thể nguyên tắc chia đôi tài sản chung của vợ chồng trong cả ba trường hợp chia tài sản chung của vợ chồng theo luật định. Nguyên tắc này xuất phát từ đặc điểm của sở hữu chung hợp nhất, tài sản chung của vợ chồng được tạo dựng không phụ thuộc bởi công sức, mức thu nhập cao, thấp, nhiều, ít khác nhau giữa vợ chồng và nguyên tắc vợ chồng bình đẳng khi thực hiện quyền sở hữu đổi với tài sản chung, trong đó tỷ lệ phân quyền Sở hữu của vợ chống đối với tài sản chung luôn được tính là bằng nhau. Nguyên tắc chia đôi tài sản chung của vợ chồng đã được áp dụng nhiều năm nay ở nước ta, kể từ khi Nhà nước ta ban hành Luật HN&GĐ năm 1959.
- Nghĩa vụ chung về tài sản của vợ, chồng:
Theo các quy định tại Điều 27, Điều 35, Điều 37 và Điều 59 của Luật HN&GĐ năm 2014, nghĩa vụ chung về tài sản của vợ, chồng chưa được luật định cụ thể.
Về trách nhiệm liên đới của vợ, chống đối với giao dịch dân sự hợp pháp do một trong hai người thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt thiết yếu của gia đình (Điều 37); Luật cần dự liệu “nhu cầu sinh hoạt thiểt yếu của gia đình” bao gồm các như cầu về ăn, ở, mặc, học hành, khám chữa bệnh và các chi phí thông thường cần thiết khác để bảo đảm cuộc sống của các thành viên trong gia đình.
Luật cần dự liệu cụ thể (bổ sung khoản 2 Điều 37 Luật HN&GĐ năm 2014) về tài sản chung của vợ chống được bảo đảm thực hiện các nghĩa vụ chung của vợ chồng, bao gồm:
- Các khoản nợ phát sinh nhằm đáp ứng như cầu sinh hoạt thiết yếu của gia đình;
- Các khoản nợ liên quan đến việc tạo lập, quản lý, sử dụng, định đoạt tài sản chung của vợ chồng;
- Các khoản nợ liên quan đến tài sản riêng của vợ, chồng đã được đưa vào sử dụng chung mà hoa lợi, lợi tức từ tài sản riêng đó là nguồn sống duy nhất của gia đình;
- Các khoản nợ phát sinh có liên quan đến công việc mà cả hai vợ chồng cũng thực hiện;
- Các khoản nợ theo thỏa thuận của hai vợ chồng.
3.2.1.2. Về góp vốn là quyền sử dụng đất Luận văn: Hoàn thiện góp vốn quyền sử dụng đất là tài sản chung.
Một là, sau khi xóa bỏ nền kinh tế kế hoạch hóa, tập trung, Đảng và Nhà nước ta ban hành nhiều chính sách về kinh tế. Kinh tế trang trại ra đời là sản phẩm của sự đổi mới các chủ trương, chính sách kinh tế của Đảng và Nhà nước ta. Kinh tế trang trại được khuyến khích phát triển nhằm khai thác có hiệu quả đất trống, đồi núi trọc và đất hoang hóa. Kinh tế trang trại là hình thức sản xuất mới có tác dụng thúc đẩy quá trình phát triển nông nghiệp, nông thôn ở nước ta hiện nay. Mà một trong những tiền đề của việc phát triển kinh tế trang trại là nhu cầu vốn để phát triển sản xuất, kinh doanh, để giải quyết nhu cầu này Nhà nước cần quy định cho hộ gia đình, cá nhân được Nhà nước giao đất, cho thuê đất có quyền góp vốn bằng quyền sử dụng đất.
Hai là, hiện nay Nhà nước ta thực hiện chính sách “mở cửa” nhằm thu hút các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào Việt Nam và cho phép các doanh nghiệp Việt Nam được góp vốn liên doanh để sản xuất, kinh doanh với các nhà đầu tư nước ngoài. Tuy nhiên, trên thực tế do khả năng tài chính hạn chế nên doanh nghiệp Việt Nam gặp khó khăn về nguồn vốn trong thực hiện liên doanh đối với các đối tác trong và ngoài nước để sản xuất, kinh doanh. Trong khi đó, các doanh nghiệp này lại được Nhà nước giao hoặc cho thuê những diện tích đất rất lớn có giá trị hàng ngàn tỉ đồng. Do đó, để giải quyết khó khăn về nguồn vốn đầu tư cho sản xuất của các doanh nghiệp này được quyền góp vốn bằng quyền sử dụng đất.
Ba là, trên thực tế có một bộ phận gia đình, cá nhân ở nông thôn là các hộ nghèo. Để giúp các hộ gia đình, cá nhân này nâng cao mức sống và giảm sự nghèo đói, Nhà nước thực hiện chủ trương cho các hộ gia đình, cá nhân nghèo được vay vốn với lãi suất ưu đãi để đầu tư cho sản xuất. Tuy nhiên, để vay được nguồn vốn của Nhà nước thì một trong những biện pháp nhằm bảo toàn nguồn vốn cho vay là hệ thống ngân hàng và các tổ chức tín dụng yêu cầu các hộ gia đình, cá nhân này phải có tài sản thế chấp. Mà đối với các hộ gia đình, cá nhân nghèo không có tài sản có giá trị nào khác ngoài đất đai. Tuy nhiên, đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý; người sử dụng đất chỉ được quyền sử dụng đất ổn định, lâu dài. Vì vậy, cho phép các hộ gia đình, cá nhân nghèo được thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất sẽ tạo điều kiện nâng cao năng lực sản xuất của đối tượng sử dụng này.
Bốn là, hiện nay nhu cầu về nhà ở đang có chiều hướng ngày càng gia tăng trong xã hội, do Nhà nước xóa bỏ chế độ bao cấp về nhà ở đối với cán bộ, công nhân viên chức khiến số lượng người có nhu cầu về nhà ở tăng lên. Trước đòi hỏi thực tế, nhiều tổ chức kinh tế đã được Nhà nước giao đất hoặc cho thuê đất để xây dựng kết cấu hạ tầng nhằm giải quyết các nhu cầu về nhà ở cho nhân dân. Tuy nhiên để thực hiện được mục đích này, đòi hỏi các tổ chức kinh tế phải có tiềm lực tài chính dồi dào. Các tổ chức kinh tế này thường có xu hướng hợp tác với các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước hoặc vay vốn tại các tổ chức tín dụng nhằm huy động các nguồn vốn. Vì vậy phải có các quy định để tạo thuận lợi cho các tổ chức sử dụng đất này được thực hiện việc góp vốn bằng quyền sử dụng đất để sản xuất, kinh doanh.
Năm là, Nhà nước thực hiện công khai hóa quy hoạch, kế hoạch, cùng những chính sách thông thoáng khác đã tạo nên sự an tâm cho các tổ chức, cá nhân mạnh dạn đầu tư sản xuất kinh doanh. Bằng các nguồn vốn khác nhau như tiền mặt, giá trị quyền sử dụng đất… các chủ thể trên tham gia vào thị trường ở các mức độ khác nhau, có thể là độc lập tiến hành hoạt động sản xuất, kinh doanh hay hợp tác với nhau.
3.2.2. Kiến nghị nhằm áp dụng có hiệu quả quy định mới của pháp luật hôn nhân và gia đình Luận văn: Hoàn thiện góp vốn quyền sử dụng đất là tài sản chung.
Được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, pháp luật HN&GĐ hiện hành đã có sự phát triển cao hơn, đáp ứng được tốt hơn các yêu cầu khách quan trong sự phát triển của xã hội và gia đình (chế độ tài sản của vợ chồng là một trong những chế định của Luật HN&GĐ phản ảnh rõ nét nhất vấn đề này). Tuy nhiên, thực tiễn pháp lý cho thấy, các qui định nói chung, chế độ tài sản của vợ chồng nói riêng trong pháp luật HN&GĐ hiện hành còn chưa thực sự đi vào đời sống xã hội, chưa thành những chuẩn mực pháp lý trong xử sự của các thành viên trong gia đình. Nguyên nhân thì có nhiều, song theo chúng tôi, nguyên nhân cơ bản nhất không phải là do thiếu các quí định pháp luật, hay các qui định pháp luật chưa cụ thể mà là do còn quá nhiều hạn chế trong công tác tổ chức và áp dụng Luật HN&GĐ. Sự yếu kém trong công tác tổ chức và áp dụng Luật HN&GĐ, trong đó có chế độ tài sản của vợ chồng xuất phát từ những lý do chủ quan hoặc khách quan khác nhau và để khắc phục hiện tượng này, theo chúng tôi cần tiến hành đồng bộ những giải pháp sau:
Thứ nhất, xuất phát từ đặc thù của quan hệ HN&GĐ, các tranh chấp liên quan đến tài sản của vợ chồng cũng mang những đặc điểm riêng biệt so với các tranh chấp tài sản khác. Song trong tổ chức và hoạt động của Tòa án, Tòa dân sự giải quyết cả hai loại việc dân sự và HN&GĐ. Do đó, kỹ năng xét xử các vụ việc dân sự thường áp dụng chung cho cả các tranh chấp HN&GĐ và tranh chấp liên quan đến tài sản của vợ chồng. Thực tế này cũng tạo nhiều thuận lợi trong công tác tổ chức và hoạt động của Tòa án, tuy nhiên trong nhiều vụ việc lại không phù hợp với đặc thù của tranh chấp từ các quan hệ HN&GĐ. Để nâng cao hiệu quả của công tác giải quyết các loại tranh chấp này, theo chúng tôi, ngành Tòa án cần xây dụng một đội ngũ thẩm phán chuyên trách cả về chuyên môn và nghiệp vụ xét xử về các vụ việc HN&GĐ và thành lập Tòa án HN&GĐ.
Thứ hai, một trong những khó khăn mà Toà án nhân dân các cấp thường gặp trong xét xử các vụ việc này là do các qui định của pháp luật hoặc thiểu hoặc không cụ thể. Để khắc phục tình trạng này, Tòa án cần đa dạng hóa việc áp dụng pháp luật, đặc biệt vận dụng các phong tục, tập quán truyền thông tốt đẹp trong đời sóng xã hội về HN &GĐ. Ngoài ra, cũng cẩn thiết phải khẩn trương triển khai hình thức án lệ áp dụng cho các quan hệ mới phát sinh khi chưa có qui định pháp luật điều chính hoặc đã có qui định pháp luật nhưng việc điều chính không còn phù hợp với thực tế. Trên thực tế, Toà án nhân dân TC hàng năm đều có các công văn hoặc báo cáo công tác ngành để tổng kết rút kinh nghiệm, hướng dẫn công tác xét xử cho Tòa án các cấp. Đây là hoạt động rất cẩn thiết song chưa đủ, bên cạnh những hoạt động đó, ‘I’AND cần định kỳ ban hành các tập hợp án lệ điển hình để Tòa án các cấp học tập và rút kinh nghiệm trong hoạt động xét xử, cũng như phục vụ cho công tác nghiên cứu khoa học, tiến tới xây dụng các Tập án lệ về HN&GĐ. Luận văn: Hoàn thiện góp vốn quyền sử dụng đất là tài sản chung.
Thứ ba, việc xác định chủ quyền hoặc định giá tài sản đang là đối tượng của tranh chấp (đặc biệt đối với tài sản tranh chấp là bất động sản) hiện còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc. Có thể do giá cả thị trường luôn biến động, sự phối hợp không hiệu quả giữa Tòa án và các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan. Vì vậy, cần thành lập một cơ quan định giá tài sản chuyên nghiệp và thống nhất làm chức năng tham mưu cho các hoạt động quản lý nhà nước nói chung và hoạt động xét xử của Tòa ăn nói riêng; cũng như đáp ứng các yêu cầu của xã hội về định giá tài sản. Ngoài ra, cần làm rõ trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trong việc phối hợp với Tòa án giải quyết các tranh chấp liên quan đến tài sản của vợ chồng;
Thứ tư, tăng cường và đổi mới công tác phổ biến, tuyên truyền, giáo dục pháp luật HN&GĐ của các cơ quan, tổ chức, đoàn thể. Việc nâng cao sự hiểu biết của nhân dân về pháp luật HN &GĐ nói chung và chế định tài sản của vợ chồng nói riêng được Nhà nước rất quan tâm, Bộ Tư pháp đã ban hành Chỉ thị số 3176/QĐ-BTP ngày 28/11/2014 về việc tổ chức thi hành Luật HN &GĐ năm 2014, trong đó xác định: “Công tác phổ biến, tuyên truyền Luật HN&GĐ phải được tiến hành thường xuyên, sâu rộng trong cán bộ, công chức, viên chức, chiến sĩ thuộc lực lượng vũ trang nhân dân và trong nhân dân…”.
Qua thực tiễn áp dụng Luật HN &GĐ qui định trên đã được thực hiện nghiêm túc. Tuy nhiên, việc phổ biến, tuyên truyền, giáo dục Luật HN&GĐ chưa toàn diện, hầu như mới chỉ tập trung vào các qui định về kết hôn, quyền và nghĩa vụ về nhân thân của vợ chồng, của cha mẹ và con, ly hôn… Theo chúng tôi, bên cạnh việc phổ biến, tuyên truyền, giáo dục các qui định trên cần chú trọng đến việc phổ biến, tuyên truyền, giáo dục các qui định của pháp luật về quyền sở hữu trong gia đình, quyền của người vợ, người phụ nữ liên quan đến tài sản. Nếu làm tốt việc này mới hạn chế các tranh chấp về tài sản trong gia đình, sự công bằng, bình đẳng, tiến bộ giữa vợ và chồng về Sở hữu mới được nhân dân “nắm bắt” và thực hiện.
3.2.3. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật về góp vốn bằng quyền sử dụng đất là tài sản chung của vợ chồng
- Hoàn thiện các quy định của pháp luật về giá đất làm cơ sở cho việc góp vốn bằng quyền sử dụng đất là tài sản chung của vợ chồng Luận văn: Hoàn thiện góp vốn quyền sử dụng đất là tài sản chung.
Nhà nước ban hành khung giá đất làm cơ sở cho các bên thương thảo, thỏa thuận làm vốn góp nhưng không được thấp hơn mức giá đất trong khung giá đất do Nhà nước ban hành. Điều này có thể được hiểu là giá đất mà Nhà nước quy định chỉ có giá trị tham khảo đối với các bên khi thỏa thuận về quyền sử dụng đất được tính ra bằng giá trị tiền để làm vốn góp.
- Từ những nghiên cứu ở trên có thể đặt ra việc đổi mới khung pháp luật về quản lý giá đất như sau:
Một là, sự thừa nhận của pháp luật đối với giá đất trên thị trường. Sự tồn tại của giá đất trên thị trường là một yếu tố khách quan. Pháp luật đã thừa nhận quyền chuyển nhượng đất đai trên thị trường thì cũng phải thừa nhận giá đất gắn với chuyển nhượng đó. Vấn đề phức tạp hơn là làm sao để giá đất do Nhà nước quy định phải phù hợp thị trường khi giá đất có nhiều biến động cả không gian và thời gian. Vấn đề này sẽ xem xét tiếp ở phần sau, nhưng để làm mọi việc theo bất kỳ cơ chế nào thì chúng ta cũng cần một hành lang pháp lý để buộc giá đất trên thị trường phải xuất hiện trên các hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Có làm được điều này thì chúng ta mới có được một cơ sở dữ liệu giá đất trên thị trường và từ đó mới có cơ hội xác định giá đất của Nhà nước theo một quy tắc nào đó để đạt được nguyên tắc phù hợp thị trường.
Theo kinh nghiệm ở các nước, Luật Đất đai năm 2013 cần có dẫn chiếu phù hợp với Luật dân sự năm 2015 về quy định quyền tiên mãi của Nhà nước đối với quyền sử dụng đất. Quyền này được áp dụng đối với mọi hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất trước khi các bên được quyền thực hiện, cũng có thể được áp dụng đối với mọi thửa đất dựa trên giá đất do người sử dụng đất đăng ký. Trong hoàn cảnh Việt Nam hiện nay, quyền này chỉ nên áp dụng tại các đô thị phát triển (loại 3 trở lên) và vùng quy hoạnh thành đô thị phát triển để tránh đi các phức tạp trong triển khai tại những nơi dân trí còn thấp.
- Luật Đất đai năm 2013 đã có quy định này, cần có thêm quy định tiếp về phạm vi áp dụng.
Hai là, sự hình thành giá đất của Nhà nước và phạm vi áp dụng Giá đất của Nhà nước có thể vẫn để dưới dạng khung giá của Chính phủ và bảng giá của UBND cấp tỉnh. Nhiều ý kiến thảo luận đã tập trung vào vấn đề “cần hay không cần khung giá đất của Chính phủ”. Sự thực, ý kiến thảo luận này cũng không phải là nội hàm của vấn đề. Thực tế hiện nay là các đô thị phát triển đang để giá đất của Nhà nước quá thấp và lấy lý do vì khung giá đất của Chính phủ để quá thấp. Vậy giải pháp phải là điều chỉnh lại khung giá đất của Chính phủ sao cho phù hợp với giá đất trên thị trường.
Một vấn đề mang tính bản chất hơn là thực hiện nguyên tắc “giá đất do Nhà nước quy định phải phù hợp giá đất trên thị trường”. Để bàn về việc thực hiện nguyên tắc này, chúng ta cần xem xét phạm vi áp dụng giá đất của Nhà nước. Luật Đất đai cần quy định giá đất của Nhà nước được áp dụng để tính các loại thuế, phí, mức phạt hành chính có liên quan tới đất đai, các trường hợp khác đều phải định giá đất cụ thể tại thời điểm thực hiện. Về nguyên tắc, nên đặt phạm vi áp dụng giá đất của Nhà nước bao gồm các trường hợp mà giá đất đó thấp hơn giá thực tế trên thị trường cũng không thiệt hại cho dân.
Khi đã xác định phạm vi áp dụng giá đất của Nhà nước thì có thể đặt ra chu kỳ xác định giá đất của Nhà nước là 5 năm; giá đất của Nhà nước là giá trung bình theo không gian có cùng mức giá trị trong thời gian 5 năm trước đó. Khi đã có cơ sở dữ liệu về giá đất trên thị trường thì việc xây dựng khung giá đất của Chính phủ và bảng giá đất của UBND cấp tỉnh không gặp khó khăn gì.
Ba là, hành lang pháp lý đối với việc định giá đất phù hợp thị trường trong những trường hợp không áp dụng giá đất do Nhà nước quy định. Luận văn: Hoàn thiện góp vốn quyền sử dụng đất là tài sản chung.
Hiện nay, theo quy định của Nghị định số 44/2014/NĐ-CP Chính phủ đã quy định 5 phương pháp định giá đất: phương pháp thu nhập, phương pháp so sánh, phương pháp thặng dư và phương pháp chiết trừ và phương pháp hệ số điều chỉnh giá đất. Bộ Tài chính đã ban hành Tiêu chuẩn quốc gia về định giá đã quy định thêm 2 phương pháp định giá nữa là phương pháp chi phí và phương pháp lợi nhuận. Trên thực tế, phương pháp thu nhập đang được áp dụng để định giá đối với đất nông nghiệp làm cho giá đất nông nghiệp được xác định rất thấp, thấp hơn giá đất nông nghiệp chuyển nhượng trên thị trường tại những khu dân cư hoặc tại những khu vực đất nông nghiệp được quy hoạch chuyển thành đất phi nông nghiệp. Chính phủ đã quy định thêm phần hỗ trợ (lớn hơn phần được bồi thường) đối với nông dân bị thu hồi đất nông nghiệp, nhưng nhiều người bị thu hồi đất nông nghiệp vẫn chưa hài lòng. Mặt khác, trên thực tế đang có nhiều phương pháp định giá mới (dưới dạng cải tiến các phương pháp định giá hiện hành) sẽ khó có thể được áp dụng vào thực tế. Ở hầu hết các nước, pháp luật có quy định trên nguyên tắc giao cho Hiệp hội định giá quy định chuẩn định giá, bao gồm cả phương pháp định giá sao cho phù hợp chuẩn quốc tế hoặc chuẩn khu vực.
Như vậy, giải pháp đưa ra là giao cho Hiệp hội định giá quy định về tiêu chuẩn định giá, bao gồm cả phương pháp định giá. Hiện nay, Việt Nam chưa quen với cơ chế giao cho các hiệp hội nghề nghiệp có thẩm quyền quyết định về tiêu chuẩn nghề nghiệp, các thẩm quyền này vẫn giao cho cơ quan hành chính của Nhà nước vì cho rằng các hiệp hội nghề nghiệp không đủ năng lực. Cách tư duy này cần được đổi mới cho phù hợp với cách quản lý phổ cập hiện nay trên thế giới.
Hiện nay, cơ quan có thẩm quyền ban hành các quyết định cuối cùng về giá đất là UBND cấp tỉnh, kể cả trường hợp có tranh chấp hoặc khiếu nại về giá đất. Đây là một cơ chế không tạo được tính hợp lý, trung lập và công bằng trong định giá đất. Các cơ quan hành chính thường nghiêng về quyền lợi của Nhà nước hơn là nghiêng về quyền lợi của người bị thu hồi đất.
Trên cơ sở kinh nghiệm của các nước, giải pháp đưa ra là áp dụng cơ chế Hội đồng để quyết đinh giá (Chính phủ quyết định thành lập Hội đồng định giá đất đai và bất động sản cấp quốc gia và UBND cấp tỉnh quyết định thành lập Hội đồng định giá đất đai và bất động sản cấp tỉnh). Hội đồng cấp tỉnh có thẩm quyền: ban hành quyết định về giá đất đai, bất động sản; ban hành quyết định giải quyết lần đầu đối với tranh chấp giá đất đai, bất động sản; quyết định cấp chứng chỉ hành nghề cho định giá viên về đất đai, bất động sản mới đăng ký hành nghề. Hội đồng cấp quốc gia có thẩm quyền ban hành quyết định giải quyết khiếu nại về giá đất do Hội đồng cấp tỉnh quyết định; giải quyết lần cuối đối với tranh chấp giá đất đai, bất động sản; quyết định cấp chứng chỉ hành nghề cho định giá viên bậc cao về đất đai, bất động sản. Điều quan trọng là thành phần của Hội đồng phải bao gồm chủ yếu là các định giá viên có cấp hạng cao. Giải pháp này cho phép giảm nguy cơ tham nhũng và giảm khiếu kiện của dân về giá đất. Luận văn: Hoàn thiện góp vốn quyền sử dụng đất là tài sản chung.
- Thống nhất về điều chỉnh góp vốn bằng quyền sử dụng đất tại các văn bản luật
Theo quan điểm của pháp luật La Mã được thể hiện trong luật dân sự một số quốc gia Châu Âu thì quyền sở hữu tài sản bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt. Quyền sử dụng là quyền khai thác công dụng và hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản. Với những lợi ích đem lại từ việc sử dụng tài sản đã làm cho quyền sử dụng trở thành đối tượng của giao dịch, trong đó có góp vốn. Cũng như các tài sản khác, chủ sở hữu đất đai có quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt. Ở Việt Nam, đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu thống nhất quản lý. Nhà nước không trực tiếp sử dụng đất mà chuyển giao cho các chủ thể khác thông qua giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất (QSDĐ). Mặc dù, đất đai thuộc sở hữu toàn dân nhưng việc thực thi một số quyền của chủ sở hữu lại thuộc về người sử dụng đất (NSDĐ). Với quy định của pháp luật hiện nay cho thấy, quyền của Người sử dụng đất ở nước ta đã tiệm cận đến quyền sở hữu đất đai. Quyền sử dụng đất không chỉ là quyền sử dụng đất đai, mà còn là quyền sở hữu một loại tài sản đặc biệt. Chính vì thế, Người sử dụng đất có thể góp vốn trên phương diện quyền sử dụng đất đai và trên phương diện quyền sở hữu tài sản. Do đó, góp vốn bằng Quyền sử dụng đất vừa có đặc trưng của hình thức góp vốn bằng quyền sử dụng tài sản, vừa có đặc trưng của hình thức góp vốn bằng quyền sở hữu tài sản. Với cách tiếp cận này, pháp luật Việt Nam ghi nhận hai hình thức góp vốn là góp vốn chuyển Quyền sử dụng đất và góp vốn không chuyển Quyền sử dụng đất.
- Thứ nhất, hình thức góp vốn không chuyển quyền sử dụng đất
Trên phương diện này, Quyền sử dụng đất là quyền khai thác và sử dụng đất đai. Do mục đích của các bên trong quan hệ này là khai thác và sử dụng đất đai, vì thế, bên góp vốn chỉ chuyển giao quyền sử dụng đất đai cho bên nhận góp vốn mà không chuyển giao các quyền khác của Người sử dụng đất. Do chỉ chuyển giao quyền sử dụng đất đai, nên bên góp vốn vẫn có thể thực hiện các quyền khác của Người sử dụng đất như thế chấp, để lại thừa kế, tặng cho Quyền sử dụng đất.
Theo khoản 3, khoản 4 Điều 730 Bộ luật Dân sự năm 2005 thì bên góp vốn “được nhận lại quyền sử dụng đất đã góp vốn theo thỏa thuận hoặc khi thời hạn góp vốn đã hết”; “hủy bỏ hợp đồng và yêu cầu bồi thường thiệt hại nếu bên nhận góp vốn không thực hiện thanh toán phần lợi nhuận đúng thời hạn hoặc thanh toán đầy đủ” [4, Điều 730]. Khoản 3 Điều 732 Bộ luật Dân sự 2005 quy định, bên nhận góp vốn có quyền “được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất… trừ trường hợp góp vốn trong hợp đồng hợp tác kinh doanh” [3, Điều 732]. Còn theo điểm a khoản 4 Điều 80 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều, khoản của Luật Đất đai: “Trường hợp hết thời hạn góp vốn hoặc do thỏa thuận của các bên về chấm dứt việc góp vốn thì bên góp vốn quyền sử dụng đất được tiếp tục sử dụng đất đó trong thời hạn còn lại”.
Như vậy, hình thức góp vốn này sẽ không chuyển Quyền sử dụng đất từ bên góp vốn sang bên nhận góp vốn. Bên góp vốn sẽ nhận lại Quyền sử dụng đất theo thỏa thuận hoặc khi hết thời hạn góp vốn. So với thuê đất, hình thức góp vốn bằng Quyền sử dụng đất này có một số điểm giống nhau: (i) Góp vốn bằng Quyền sử dụng đất và thuê đất đều không chuyển Quyền sử dụng đất, nhưng có thay đổi chủ thể sử dụng đất, vì vậy, bên góp vốn, bên cho thuê phải đăng ký biến động đất đai. Do không chuyển Quyền sử dụng đất, nên bên nhận góp vốn, bên thuê đất không được cấp giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất (trừ trường hợp thuê đất giữa Nhà nước với Người sử dụng đất); (ii) Do không chuyển Quyền sử dụng đất nên bên góp vốn, bên cho thuê vẫn có thể thực hiện các quyền khác của Người sử dụng đất như tặng cho, để lại thừa kế, thế chấp; (iii) Góp vốn bằng Quyền sử dụng đất và thuê đất đều có thời hạn, thời hạn góp vốn, thuê đất không được vượt quá thời hạn sử dụng đất.
Mặc dù, góp vốn bằng Quyền sử dụng đất và thuê đất có điểm tương đồng, song hai hình thức này có nhiều điểm khác nhau. Với góp vốn, bên góp vốn dùng giá trị Quyền sử dụng đất góp vốn và trở thành đồng sở hữu đối với bên nhận góp vốn. Thuê đất, bên cho thuê sử dụng tiền thuê vào mục đích khác mà không phải góp vốn. Do cùng mục đích kinh doanh, nên giữa bên góp vốn với bên nhận góp vốn có quan hệ chặt chẽ hơn so với giữa bên cho thuê và bên thuê đất. Bên góp vốn được hưởng lợi ích theo sự thỏa thuận giữa các bên và tỷ lệ tương ứng theo phần vốn góp mà không cố định như trong thuê đất.
- Thứ hai, hình thức góp vốn có chuyển quyền sử dụng đất Luận văn: Hoàn thiện góp vốn quyền sử dụng đất là tài sản chung.
Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu thống nhất quản lý. Ngoài diện tích đất do Nhà nước sử dụng vì mục đích công cộng, phần lớn đất đai do các chủ thể khác sử dụng. Nhà nước chuyển giao Quyền sử dụng đất cho các chủ thể khác thông qua giao đất, cho thuê đất, công nhận Quyền sử dụng đất. Quyền sử dụng đất trị giá được bằng tiền và có thể chuyển giao trong giao dịch là đối tượng của giao dịch trong đó có góp vốn. Trên phương diện này, góp vốn bằng Quyền sử dụng đất giống với góp vốn bằng quyền sở hữu tài sản cho dù người góp vốn không có quyền sở hữu đất đai.
Mặc dù, Luật Đất đai năm 2013 không có quy định phân biệt hình thức góp vốn là quyền sử dụng đất đai và hình thức góp vốn là quyền sở hữu tài sản, nhưng căn cứ quy định về quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng góp vốn bằng Quyền sử dụng đất được quy định trong Bộ luật Dân sự năm 2015, Luật Doanh nghiệp năm 2014 và Luật Đất đai năm 2013 có thể thấy: Khoản 13 Điều 4 Luật Doanh nghiệp năm 2014 quy định: “Góp vốn là việc góp tài sản để tạo thành vốn điều lệ của công ty” [13, Điều 4]. Góp vốn bao gồm góp vốn để thành lập doanh nghiệp hoặc góp thêm vốn điều lệ của doanh nghiệp đã được thành lập. Về tài sản góp vốn có thể là đồng Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng, giá trị quyền sử dụng đất (khoản 1 Điều 35 Luật Doanh nghiệp năm 2014). Với từng loại hình doanh nghiệp, pháp luật quy định về trình tự, thủ tục góp vốn khác nhau. Đối với tài sản đăng ký hoặc giá trị Quyền sử dụng đất, thì người góp vốn phải làm thủ tục chuyển quyền sở hữu tài sản hoặc quyền sử dụng đất cho công ty tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền (điểm a khoản 1 Điều 36 Luật Doanh nghiệp năm 2014). Bên nhận góp vốn được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trong trường hợp bên nhận góp vốn là pháp nhân. Theo khoản 10 Luật Đất đai năm 2013 thì: “Chuyển quyền sử dụng đất là việc chuyển giao quyền sử dụng đất từ người này sang người khác thông qua các hình thức chuyển đổi, chuyển nhượng, thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất và góp vốn bằng Quyền sử dụng đất”. Nhà nước cấp giấy chứng nhận QSDĐ, quyền sở hữu nhà và tài sản khác gắn liền với đất cho người được chuyển đổi, nhận chuyển nhượng, được thừa kế… nhận góp vốn bằng Quyền sử dụng đất (điểm c khoản 1 Điều 99 Luật Đất đai năm 2013). Tổ chức kinh tế, doanh nghiệp liên doanh nhận chuyển quyền sử dụng đất thông qua góp vốn bằng quyền sử dụng đất (điểm c khoản 1 Điều 169 Luật Đất đai năm 2013). Luận văn: Hoàn thiện góp vốn quyền sử dụng đất là tài sản chung.
Với quy định trên cho thấy, hình thức góp vốn bằng Quyền sử dụng đất trên phương diện quyền sở hữu tài sản là để thành lập doanh nghiệp hoặc góp vốn vào doanh nghiệp đã được thành lập. Đặc trưng của hình thức góp vốn này là có sự chuyển Quyền sử dụng đất từ bên góp vốn sang bên nhận góp vốn. Khi góp vốn hoàn thành, tùy thuộc vào loại hình doanh nghiệp mà bên góp vốn trở thành thành viên của công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh; cổ đông của công ty cổ phần; xã viên của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã. Khi trở thành thành viên của công ty hoặc xã viên hợp tác xã, bên góp vốn có quyền tham gia hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
So với hình thức góp vốn không chuyển Quyền sử dụng đất thì hình thức góp vốn này có một số điểm khác: (i) Bên góp vốn trở thành chủ sở hữu hoặc đồng sở hữu doanh nghiệp mới thành lập hoặc doanh nghiệp đang hoạt động, có quyền tham gia quyết định các vấn đề sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Khi doanh nghiệp làm ăn hiệu quả, vốn góp bằng Quyền sử dụng đất sẽ tăng theo giá trị của doanh nghiệp; (ii) Bên nhận góp vốn trong trường hợp này là doanh nghiệp mới thành lập hoặc doanh nghiệp đang hoạt động sẽ được cấp giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất. Bên nhận góp vốn có thể sử dụng Quyền sử dụng đất thế chấp tại các tổ chức tín dụng để vay vốn nhằm phát triển sản xuất, kinh doanh. Cũng như tài sản khác, khi góp vốn, Quyền sử dụng đất không chỉ được phát huy trên phương diện sử dụng, mà còn được phát huy trên phương diện vốn; (iii) Ba là, so với hình thức góp vốn không chuyển Quyền sử dụng đất, thì hình thức góp vốn này mang tính bền vững hơn. Do Quyền sử dụng đất được chuyển sang doanh nghiệp mới nên việc chuyển nhượng, rút vốn ra khỏi doanh nghiệp chịu sự kiểm soát của các thành viên trong doanh nghiệp và sự điều chỉnh của Luật Doanh nghiệp, Luật Phá sản.
Hai hình thức góp vốn bằng Quyền sử dụng đất có đặc thù riêng, nhưng pháp luật lại không có những quy định đặc thù áp dụng cho mỗi hình thức góp vốn nên thực tiễn áp dụng gặp rất nhiều vướng mắc, cụ thể như sau:
Một là, theo khoản 4 Điều 730 Bộ luật Dân sự năm 2015, thì bên góp vốn được quyền hủy bỏ hợp đồng góp vốn và yêu cầu bồi thường thiệt hại nếu bên nhận góp vốn không thực hiện việc thanh toán lợi nhuận đúng thời hạn hoặc thanh toán không đầy đủ. Quy định này không phù hợp với hợp đồng góp vốn. Bởi lẽ, với góp vốn có chuyển Quyền sử dụng đất, thì Quyền sử dụng đất là tài sản của bên nhận góp vốn khi được cấp giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất. Nếu bên nhận góp vốn vi phạm nghĩa vụ thanh toán lợi nhuận thì sẽ được giải quyết bằng một vụ án kinh doanh, thương mại. Với góp vốn không chuyển Quyền sử dụng đất thì căn cứ để hủy hợp đồng nêu trên cũng không phù hợp, bởi lẽ, khi góp vốn bằng Quyền sử dụng đất bên nhận góp vốn phải đầu tư để phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh, nếu chỉ vì nghĩa vụ chậm thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ mà hủy hợp đồng góp vốn bằng Quyền sử dụng đất sẽ gây thiệt hại cho bên nhận góp vốn khi mà họ đã đầu tư tài sản trên đất và tài sản này không thể di dời. Luận văn: Hoàn thiện góp vốn quyền sử dụng đất là tài sản chung.
Hai là, theo quy định tại khoản 3 Điều 730 Bộ luật Dân sự năm 2015, thì bên góp vốn được nhận lại Quyền sử dụng đất theo thỏa thuận hoặc theo khi hết thời hạn góp vốn. Quy định này chỉ phù hợp với góp vốn không chuyển Quyền sử dụng đất. Đối với góp vốn bằng Quyền sử dụng đất để thành lập doanh nghiệp hoặc góp vốn vào doanh nghiệp đã được thành lập, thì Quyền sử dụng đất trở thành tài sản của doanh nghiệp hình thành từ góp vốn. Theo nguyên lý chung của góp vốn bằng quyền sở hữu tài sản, thì bên góp vốn không được nhận lại tài sản đã góp vốn. Việc nhận lại vốn góp được thực hiện theo quy định của Luật Doanh nghiệp tương ứng với từng loại hình doanh nghiệp.
Ba là, theo khoản 2 Điều 730 Bộ luật Dân sự năm 2015, thì bên góp vốn được để lại thừa kế phần vốn góp bằng giá trị Quyền sử dụng đất. Do không quy định cụ thể nên việc áp dụng quy định này đối với góp vốn không chuyển Quyền sử dụng đất gặp nhiều vướng mắc. Trường hợp góp vốn không chuyển Quyền sử dụng đất, di sản thừa kế của người góp vốn bao gồm phần đó là phần vốn đã góp và Quyền sử dụng đất sau khi hết thời hạn góp vốn. Người góp vốn bằng Quyền sử dụng đất có thể để lại thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật. Vì thế, di sản là phần vốn góp và Quyền sử dụng đất có thể được chia cho hai chủ thể khác nhau. Ví dụ, năm 2012 ông A góp vốn bằng quyền sử dụng 1.000 m2 đất trong thời hạn 20 năm trị giá 1 tỷ đồng với ông B để thành lập Công ty TNHH X, vốn góp của ông A tương đương với 50% vốn điều lệ của Công ty X. Năm 2014, ông A chết, trước khi chết ông A lập di chúc để cho bà M được thừa kế phần vốn góp vào Công ty X. Do ông A góp vốn không chuyển Quyền sử dụng đất nên Quyền sử dụng đất sau khi hết hạn góp vốn sẽ được chia theo pháp luật. Trong khi các thừa kế theo pháp luật của ông A yêu cầu chia di sản thừa kế và chuyển nhượng Quyền sử dụng đất trong khi bà M muốn kế thừa tư cách của ông A ở Công ty X. Vấn đề đặt ra, khi các thừa kế theo pháp luật của ông A không đồng ý để bà M tiếp tục góp vốn bằng Quyền sử dụng đất tại tại Công ty X thì bà M có được tiếp tục góp vốn bằng QS
Ngoài ra, còn có điểm không tương thích, gây lúng túng, liệu sử dụng thuật ngữ nào sẽ chính xác hơn: góp vốn bằng quyền sử dụng đất hay giá trị quyền sử dụng đất?
Điểm không tương thích thứ hai sẽ đặt bên nhận góp vốn trong tình thế bất lợi nếu như việc góp vốn bị chấm dứt trong các trường hợp mà Nghị định 43 quy định.
- Ví dụ ông A góp đất còn công ty B góp tiền để thành lập nên công ty
Liệu khi ông A qua đời, việc góp vốn sẽ chấm dứt, con cháu ông A sẽ được nhận lại đất đã góp vốn? Tương tự, công ty D góp vốn vào công ty E để trở thành cổ đông mới của công ty E, luật quy định rằng công ty D chỉ được góp vốn trong thời hạn sử dụng đất còn lại (“sổ đỏ” của công ty E cũng chỉ ghi thời hạn sử dụng đất còn lại đó), vậy khi hết hạn công ty E sẽ có quyền xin gia hạn để tiếp tục sử dụng đất hay công ty D sẽ được nhận lại đất? Liệu một ngày “đẹp trời” D và E có thể thỏa thuận để D nhận lại đất hay không? Khi công ty D phá sản, đất đã góp sẽ thuộc về ai?
Từ những phân tích trên, chúng tôi cho rằng, pháp luật cần có quy định cụ thể đối với hai hình thức góp vốn bằng Quyền sử dụng đất. Góp vốn bằng Quyền sử dụng đất trên phương diện là quyền sử dụng đất đai cần có quy định phù hợp với hình thức góp vốn bằng quyền sử dụng tài sản. Việc hủy hợp đồng chỉ được đặt ra với những trường hợp vi phạm nghiêm trọng không thể khắc phục được. Đối với hình thức góp vốn chuyển Quyền sử dụng đất, do bên nhận góp vốn là Người sử dụng đất mới có đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của Người sử dụng đất. Vì thế, không nên quy định bên góp vốn được nhận lại Quyền sử dụng đất khi thời hạn góp vốn. Đối với trường hợp người góp vốn bằng Quyền sử dụng đất để lại thừa kế mà phần vốn góp và Quyền sử dụng đất được chia cho các chủ thể khác nhau cần quy định theo đó người thừa kế Quyền sử dụng đất bị hạn chế việc thực hiện quyền của Người sử dụng đất trong thời hạn góp vốn được xác định trong hợp đồng góp vốn bằng Quyền sử dụng đất.
3.2.4. Hoàn thiện các quy định pháp luật về thủ tục góp vốn bằng quyền sử dụng đất là tài sản chung của vợ chồng Luận văn: Hoàn thiện góp vốn quyền sử dụng đất là tài sản chung.
Để tạo điều kiện thuận lợi cho các thành phần kinh tế – chủ đầu tư có đất khai thác được tối đa và nhanh chóng lợi ích từ quyền sử dụng đất, pháp luật về đất đai cần phải thích nghi với tình hình thực tế đang tồn tại để điều chỉnh, qua đó tạo điều kiện cho thủ tục góp vốn bằng quyền sử dụng đất được nhanh chóng. Khi người sử dụng đất có quyền góp vốn bằng quyền sử dụng đất không có nghĩa là họ được thực hiện quyền đó bất cứ khi nào mà phải đáp ứng được những điều kiện nhất định. Theo quy định hiện nay, một trong những điều kiện đó là phải có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Trong khi một thực tế về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở Việt Nam hiện nay rất chậm, Luật đất đai 2013 cần tạo điều kiện cho các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền trong việc đẩy nhanh tiến độ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất theo mẫu thống nhất, tạo điều kiện thuận lợi cho tổ chức, cá nhân thực hiện được các quyền của mình liên quan đến đất đai, đặc biệt là quyền thế chấp quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất để có thể nhanh chóng tiếp cận vốn vay từ tổ chức tín dụng, cũng như giúp các cơ quan hữu quan thực hiện tốt hơn chức năng quản lý nhà nước đối với đất đai, Luật đất đai 2013 cần hoàn thiện quy định về quyền và nghĩa vụ của các chủ sở hữu cũng như các quy định về xử lý tranh chấp trong trường hợp các bên có tranh chấp. Luận văn: Hoàn thiện góp vốn quyền sử dụng đất là tài sản chung.
Luật đất đai 2013 cũng cần hoàn thiện các quy định về trình tự, thủ tục và thẩm quyền về đăng ký quyền sử dụng đất và đăng ký quyền sở hữu nhà ở và các tài sản khác gắn liền với đất theo hướng đơn giản hóa và thống nhất vào một cơ quan đầu mối thực hiện nhằm tạo thuận lợi cho doanh nghiệp trong việc đăng ký giao dịch bảo đảm khi thực hiện góp vốn bàng quyền sử dụng đất.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Góp vốn bằng quyền sử dụng đất là tài sản chung

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Luận văn: Thực trạng góp vốn quyền sử dụng đất là tài sản chung
Luận văn: Hoàn thiện góp vốn quyền sử dụng đất là tài sản chung