Luận văn: Giáo dục Kỹ năng sống qua dạy học tiếng Anh

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Giáo dục Kỹ năng sống qua dạy học tiếng Anh hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục Kỹ năng sống thông qua dạy học tiếng Anh cho học sinh trung học cơ sở tại Cung Thiếu Nhi Hà Nội dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

LỜI MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài

1.1. Về lí luận

Mục tiêu của giáo dục không chỉ giúp con người học để biết, học để làm, học để làm người và học để cùng chung sống mà còn giúp học trò biết thích ứng và thay đổi phù hợp với mọi điều kiện và hoàn cảnh sống. Do đó, vấn đề giáo dục kỹ năng sống là vấn đề quan trọng và cấp thiết hơn bao giờ hết.

Các em thiếu nhi là lứa tuổi đang hình thành và phát triển, các phẩm chất nhân cách, những thói quen cơ bản chưa có tính ổn định mà đang hình thành và củng cố. Do đó việc giáo dục kỹ năng sống cho các em thiếu nhi phát triển và hoàn thiện nhân cách là điều quan trọng và cần thiết, giúp các em thúc đẩy những hành vi mang tính xã hội tích cực đồng thời tạo tác động tốt đối với các mối quan hệ giữa thầy và trò, giữa các học sinh và bạn bè với nhau, giúp các em hứng thú trong học tập đồng thời giúp hoàn thành nhiệm vụ của người giáo viên một cách đầy đủ hơn và đề cao các chuẩn mực đạo đức, góp phần nâng cao vị thế của Cung thiếu nhi Hà Nội trong xã hội. Luận văn: Giáo dục Kỹ năng sống qua dạy học tiếng Anh

Về mặt lý luận, dạy học kỹ năng sống tạo ra những cơ sở ban đầu quan trọng nhất cho sự phát triển và hoàn thiện nhân cách học sinh. Ở các cơ sở giáo dục, hoạt động quản lý giáo dục trong đó có công tác tổ chức, quản lý giáo dục kỹ năng sống là một yêu cầu tất yếu, là một hoạt động mang tính chất xã hội chính trị quan trọng. Nó gắn liền với cơ cấu vai trò nhiệm vụ giáo dục của các cơ sở giáo dục.

1.2. Về thực tiễn

Việc giáo dục Kỹ năng sống cho học sinh là vấn đề được Đảng, Nhà Nước rất quan tâm điều đó thể hiện ở Nghị quyết hội nghị BCH Trung ương Đảng lần thứ 2, lần thứ 5 khoá VIII, Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc Đảng CSVN lần thứ IX, Nghị quyết đại hội đại biểu Đảng toàn quốc các khóa X và XI; Chiến lược phát triển Giáo dục giai đoạn 2011-2020. Nghị quyết số 05/2005/NQ – CP ra ngày 18/4/2005 của Chính phủ, Luật giáo dục 2005, Luật Giáo dục sửa đổi 2009; Thông tư số 12/2011/TT-BGTĐT ngày 28 tháng 3 năm 2011 về việc: Ban hành Điều lệ trường trung học cơ sở, trường trung học phổ thông và trường phổ thông có nhiều cấp học (gọi tắt là điều lệ trường trung học) do Bộ GD&ĐT ban hành đã chỉ ra: Ngành GD&ĐT phải tiếp tục nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, tăng cường giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống và kỹ năng sống cho học sinh, sinh viên.

Sự quan tâm của Đảng, Nhà Nước và những áp lực của xã hội về tình trạng đi xuống về mặt đạo đức của một bộ phận không nhỏ học sinh – sinh viên, đòi hỏi ngành Giáo dục cần tăng cường việc giáo dục kỹ năng sống cho học sinh. Bộ GD&ĐT đã có các văn bản hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ các năm học đối với giáo dục tiểu học, trung học cơ sở. Các hướng dẫn đã nhấn mạnh: “Giáo dục đạo đức, kỹ năng sống cho học sinh thông qua các môn học, hoạt động giáo dục và xây dựng quy tắc ứng xử văn hoá. Nhà trường chủ động phối hợp với gia đình và cộng đồng trong giáo dục đạo đức và kỹ năng sống cho học sinh”. Đặc biệt là Chỉ thị số 3008/CT-BGDĐT ngày 18 tháng 8 năm 2014 của Bộ giáo dục và đào tạo về nhiệm vụ trọng tâm của giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục thường xuyên và giáo dục chuyên nghiệp năm học 2014 – 2015; Thông tư số 04/2014/TT-BGDĐT ngày 28 tháng 2 năm 2014 ban hành quy định quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống và hoạt động giáo dục ngoài giờ chính khóa.

Từ năm học 2010-2011, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã đưa nội dung giáo dục kỹ năng sống (KNS) lồng ghép vào một số môn học ở bậc tiểu học. Đây là một chủ trương cần thiết và đúng đắn. Tuy nhiên, Bộ Giáo dục và Đào tạo lại chưa ban hành bộ chuẩn về giáo dục Kỹ năng sống cho học sinh để định hướng chung nên mỗi đơn vị giáo dục có một cách dạy riêng và nhiều giáo viên còn lúng túng trong quá trình dạy học đẫn đến việc giáo dục kỹ năng sống chưa đạt hiệu quả.

Xét ở phạm vi hẹp, với môn học Tiếng Anh, việc tích hợp, lồng ghép giáo dục kỹ năng sống với dạy học tiếng Anh sẽ giúp thúc đẩy những hành vi mang tính xã hội tích cực cho người học đồng thời tạo những tác động tốt đối với các mối quan hệ giữa thầy và trò, giữa các học sinh, bạn bè với nhau, tạo nên sự hứng thú học tập cho học sinh đồng thời giúp hoàn thành nhiệm vụ của người giáo viên một cách đầy đủ hơn và đề cao các chuẩn mực đạo đức.

Thực tế hiện nay Cung thiếu nhi Hà Nội và các cơ sở giáo dục chưa thực sự quan tâm tới giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trung học cơ sở thông qua dạy học tiếng Anh. Để giúp giáo viên, cán bộ quản lý Cung thiếu nhi Hà Nội có nhận thức và kiến thức thực hiện việc giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trung học cơ sở, nâng cao chất lượng dạy học tiếng Anh, góp phần giáo dục toàn diện, giúp học sinh phát triển hài hòa cả về đức, trí, thể, mĩ, ..phù hợp với điều kiện Kinh tế xã hội đang đổi mới hiện nay. Chính vì vậy mà tôi quyết định chọn đề tài nghiên cứu: “Quản lý hoạt động giáo dục Kỹ năng sống thông qua dạy học tiếng Anh cho học sinh trung học cơ sở tại Cung Thiếu Nhi Hà Nội”.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>>  Dịch Vụ Viết Thuê Luận Văn Tốt Nghiệp Ngành Quản Lý Giáo Dục

2. Mục đích nghiên cứu Luận văn: Giáo dục Kỹ năng sống qua dạy học tiếng Anh

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận về quản lý đào tạo kỹ năng sống thông qua giờ dạy tiếng Anh và khảo sát thực tế việc tích hợp kỹ năng sống với giờ dạy tiếng Anh, đề tài nhằm đề xuất một số biện pháp quản lý đào tạo, nhằm đáp ứng tốt hơn nữa nhu cầu người học từ đó nâng cao chất lượng đào tạo KNS tại Cung thiếu nhi Hà Nội.

3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu

3.1. Khách thể nghiên cứu

Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống thông qua dạy học tiếng Anh cho học sinh trung học cơ sở tại Cung thiếu nhi Hà Nội;

3.2. Đối tượng nghiên cứu

Thực trạng giáo dục kỹ năng sống thông qua dạy học tiếng Anh cho học sinh trung học cơ sở tại Cung Thiếu Nhi Hà Nội.

Thực trạng quán lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống thông qua dạy học tiếng Anh cho học sinh trung học cơ sở tại Cung Thiếu Nhi Hà Nội.

Biện pháp quản lý để nâng cao hiệu quả công tác đào tạo kỹ năng sống thông qua dạy học tiếng Anh.

4. Câu hỏi nghiên cứu

Câu hỏi được đặt ra cho nghiên cứu này là:

Thực trạng giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trung học cơ sở thông qua việc dạy tiếng Anh ở Cung Thiếu Nhi Hà Nội như thế nào?

Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trung học cơ sở thông qua việc dạy tiếng Anh ở Cung Thiếu Nhi Hà Nội như thế nào?

Người quản lý cần những biện pháp nào để nâng cao hiệu quả công tác đào tạo kỹ năng sống thông qua dạy học tiếng Anh?

5. Nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu

Nghiên cứu cơ sở lý luận của quản lý giáo dục kỹ năng sống thông qua dạy học tiếng Anh cho học sinh THCS tại Cung Thiếu Nhi Hà Nội.

Nghiên cứu thực trạng giáo dục kỹ năng sống thông qua dạy học tiếng Anh cho học sinh THCS tại Cung Thiếu Nhi Hà Nội.

Nghiên cứu thực trạng quản lý giáo dục kỹ năng sống thông qua dạy học tiếng Anh cho học sinh THCS tại Cung Thiếu Nhi Hà Nội.

Xây dựng hệ thống các biện pháp quản lý giáo dục kỹ năng sống thông qua dạy học tiếng Anh cho học sinh THCS tại Cung Thiếu Nhi Hà Nội.

6. Giải thiết khoa học

Hiệu quả công tác quản lý giáo dục kỹ năng sống thông qua dạy học tiếng Anh cho học sinh THCS tại Cung Thiếu Nhi Hà Nội sẽ được nâng cao nếu như tìm được các biện pháp quản lý tác động vào các yếu tố liên quan, ảnh hưởng đến hoạt động giáo dục kỹ năng sống, giảm thiểu tối đa ảnh hưởng tiêu cực, phát huy tối đa yếu tố tích cực tại Cung thiếu nhi Hà Nội, từ đó góp phần nâng cao chất lượng dạy học tiếng Anh cũng như việc phát triển toàn diện cho học sinh THCS tại Cung Thiếu Nhi Hà Nội.

7. Phương pháp nghiên cứu Luận văn: Giáo dục Kỹ năng sống qua dạy học tiếng Anh

Phương pháp luận của nghiên cứu này là một sự kết hợp giữa các lý thuyết khoa học và ứng dụng thực tế; phân tích định lượng và định tính. Mục tiêu của nghiên cứu này có được là thông qua các bước sau đây:

7.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận

Thu thập các tài liệu liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu, đặc biệt về quản lý dạy học kỹ năng sống; phân tích, phân loại, xác định các khái niệm cơ bản; đọc sách, tham khảo các công trình nghiên cứu có liên quan để hình thành cơ sở lý luận cho đề tài.

7.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn

Tổng quan lý luận trên tư liệu các văn bản, chủ trương, đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước về công tác đào tạo kỹ năng sống cho học sinh THCS.

Phân tích và khái quát hóa lý luận và đào tạo kỹ năng sống, công tác quản lý, quản lý giáo dục, quản lý cơ sở đào tạo và quản lý đào tạo.

Phương pháp so sánh để tìm hiểu các lý thuyết trong nước và nước ngoài.

7.3. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn.

  • Phương pháp quan sát
  • Phương pháp phỏng vấn
  • Phương pháp tổng kết kinh nghiệm
  • Phương pháp tọa đàm trao đổi kinh nghiệm
  • Phương pháp điều tra bằng phiếu thăm dò ý kiến của cán bộ quản lý, giáo viên, học viên
  • Các phương pháp khác: Thống kê toán học, ý kiến chuyên gia

8. Giới hạn của đề tài

Kỹ năng sống và các biện pháp giáo dục kỹ năng sống cho học sinh là một vấn đề rất rộng và mới. Trong điều kiện cho phép cùng với khả năng của mình, tôi chỉ đi sâu nghiên cứu các biện pháp quản lý giáo dục kỹ năng sống thông qua dạy học tiếng Anh cho học sinh trung học cơ sở tại Cung thiếu nhi Hà Nội.

9. Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mục lục, mở đầu, kết luận và khuyến nghị, và phần phụ lục, nội dung chính của luận văn được kết cấu gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trung học cơ sở

Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trung học cơ sở thông qua dạy học tiếng anh tại Cung thiếu nhi Hà Nội;

Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trung học cơ sở thông qua dạy học tiếng Anh tại Cung thiếu nhi Hà Nội.

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ

1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề Luận văn: Giáo dục Kỹ năng sống qua dạy học tiếng Anh

1.1.1. Các nghiên cứu trên thế giới

Tác giả Diane TillMan trong cuốn Những giá trị sống cho tuổi trẻ (Nxb Tổng hợp TP Hồ Chí Minh) – 2009 (16) “Giáo dục các giá trị sống để có kỹ năng sống ngày càng được nhìn nhận là có sức mạnh vượt lên khỏi lời răn dạy đạo đức chi tiết đến mức hạn chế trong cách nhìn hoặc những vấn đề thuộc về tư cách công dân. Nó đang xem là trung tâm của tất cả thành quả mà giáo viên và nhà trường tâm huyết có thể hy vọng đạt được thông qua việc dạy về giá trị, kỹ năng sống”.

Tổ chức văn hóa khoa học và giáo dục Liên hợp quốc ( UNESCO) đã đưa ra nguyên tắc cơ bản để định hướng giáo dục kỹ năng sống trong thực tiễn: “Tất cả thế hệ trẻ và người lớn có quyền hưởng lợi từ một nền giáo dục chứa đựng các hợp phần học để biết, học để làm, học để chung sống với mọi người và học để khẳng định mình. Giáo dục hướng vào yêu cầu bồi dưỡng năng khiếu tiềm năng và phát triển cá tính người học cần quan tâm kết hợp kỹ năng thực hành và các khả năng tâm lí xã hội, đánh giá chất lượng giáo dục phải bao hàm đánh giá mức độ đạt được các kỹ năng sống và tác dụng của kỹ năng sống đối với xã hội và cá nhân”

Hội nghị giáo dục Thế giới họp tại Dakar – Thủ đô Senegan tháng 4 năm 2004 (17) đã thông qua Kế hoạch hành động Giáo dục cho mọi người – gọi tắt là Kế hoạch Dakar, bao gồm 6 mục tiêu. Trong đó, Mục tiêu 3 nêu rõ: Đảm bảo nhu cầu học tập cho tất cả các thế hệ trẻ và người lớn được đáp ứng thông qua bình đẳng tiếp cận với các chương trình học tập và chương trình kỹ năng sống thích hợp

Hội nghị Thế giới về sự sống còn, bảo vệ và phát triển của trẻ em, họp ngày 20 – 30/03/1990 tại trụ sở Liên hợp quốc ở New York đã tuyên bố: “Tất cả trẻ em trên thế giới đều trong trắng, dễ bị tổn thương và còn phụ thuộc.

Đồng thời các em ham hiểu biết, ham hoạt động và đầy ước vọng. Tuổi của các em phải được sống trong vui tươi, thanh bình, được chơi, được học và phát triển. Tương lai của các em phải được hình thành trong sự hoà hợp và hợp tác”.

Nhận định trên muốn nhấn mạnh đến nhiệm vụ học tập, môi trường học tập dành cho trẻ em cần phải được quan tâm đúng cách. Học sinh đi học không chỉ học để có tri thức mà cần phải biết cách học để có sức khoẻ, có kỹ năng nghề nghiệp, có những giá trị đạo đức, thẩm mỹ, nhân văn đúng đắn vừa mang tính cá nhân vừa mang tính xã hội, vừa đậm đà bản sắc dân tộc lại vừa mang tính phổ quát toàn cầu,… tức là mỗi học sinh luôn phải học, tự học những kỹ năng nhất định trong môi trường thích hợp để tồn tại và phát triển.

1.1.2. Các nghiên cứu ở Việt Nam Luận văn: Giáo dục Kỹ năng sống qua dạy học tiếng Anh

Việt Nam vấn đề giáo dục giá trị sống, kỹ năng sống cho thế hệ trẻ đã thu hút nhiều ngành khoa học quan tâm nghiên cứu, trong đó khoa học giáo dục có vai trò, trọng trách lớn cả về nghiên cứu lý luận lẫn triển khai thực tiễn giáo dục giá trị sống, kỹ năng sống cho học sinh, sinh viên phù hợp với thực tiễn giáo dục nước nhà.

Với Việt nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến công tác giáo dục thiếu nhi. Trong bài báo “1- 6” ký tên C.B đăng trên báo Nhân dân số ra ngày 01 – 6 – 1955, Bác đã đề ra nội dung giáo dục toàn diện đối với học sinh bao gồm: thể dục, trí dục, mỹ dục, đức dục. Bác đã đưa ra quan điểm giáo dục thiếu nhi đó là: “Trong quá trình giáo dục thiếu nhi phải giữ toàn vẹn cái tính vui vẻ, hoạt bát, tự nhiên, tự động, trẻ trung của chúng và trong lúc học, cũng cần làm cho chúng vui, trong lúc vui cũng cần làm cho chúng học”. Bác yêu cầu: “Cách dạy phải nhẹ nhàng và vui vẻ, chớ gò ép thiếu nhi vào khuôn khổ của người lớn”. Với nguyên lý giáo dục “Học đi đôi với hành, giáo dục gắn liền với thực tiễn, nhà trường gắn liền với xã hội”, Bác đã từng nói: “Giáo dục phải theo hoàn cảnh và điều kiện” và “Một chương trình nhỏ mà được thực hành hẳn hoi còn hơn một trăm chương trình lớn mà không làm được”.

Trong xu thế hội nhập, nhiệm vụ giáo dục của các nước là đào tạo thế hệ trẻ năng động, sáng tạo, có những năng lực chủ yếu như: năng lực thích ứng, năng lực tự hoàn thiện, năng lực hợp tác, năng lực hoạt động xã hội…. Nói cách khác là đào tạo một lớp người mới tinh thông về nghề nghiệp, có khả năng thích ứng cao với những biến động của cuộc sống.

Ở Việt Nam, mục tiêu của giáo dục phổ thông đã được qui định tại Điều 27 – Luật Giáo dục 2005 như sau: “Mục tiêu của giáo dục phổ thông là giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam XHCN, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân, chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc“[33].

Tác giả Nguyễn Dục Quang trong cuốn “Hướng dẫn Giáo dục kỹ năng sống cho học sinh phổ thông” (37) cho rằng: “Cách thức giáo dục kỹ năng sống được hiểu bao gồm những phương pháp tiếp cận, các phương pháp dạy học tích cực và các hình thức tổ chức hoạt động giáo dục kỹ năng sống cần quan tâm đến vai trò của người học”.

Với nhiều năm nghiên cứu về giáo dục, PGS.TS Hà Nhật Thăng đã cho xuất bản cuốn sách: “Giáo dục hệ thống giá trị đạo đức nhân văn” năm 1998 và đã tái bản nhiều lần. Trong đó, trang bị cho học sinh sinh viên nắm vững hệ thống giá trị cốt lõi, đó là cơ sở cơ bản của nhân cách, rèn luyện để thế hệ trẻ có những hành vi tương ứng với hệ thống giá trị đạo đức nhân văn cốt lõi, phù hợp với yêu cầu của xã hội, của thời đại. Những kết quả nghiên cứu trên đã được ứng dụng vào việc xây dựng chương trình và thể hiện trong sách giáo khoa ở Tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông của môn Giáo dục công dân, triển khai từ năm 2000 trên phạm vi cả nước.

Tác giả Nguyễn Thanh Bình trong cuốn “Giáo trình Giáo dục kỹ năng sống”(5) khẳng định rằng về yêu cầu cụ thể đổi mới chương trình nội dung và phương pháp. Trong đó: “Cốt lõi của việc đổi mới phương pháp dạy học là hướng vào học tập chủ động, chống thói quen thụ động, đồng thời coi dạy học thông qua tổ chức hoạt động của học sinh là đặc trưng thứ nhất của phương pháp dạy học tích cực”.

Tác giả Nguyễn Thanh Bình và cộng sự đã triển khai nghiên cứu tổng quan về quá trình nhận thức về kỹ năng sống và đề xuất yêu cầu tiếp cận kỹ năng sống trong giáo dục và Giáo dục kỹ năng sống ở nhà trường phổ thông, đồng thời tìm hiểu thực trạng giáo dục kỹ năng sống cho người học từ trẻ mầm non đến người lớn thông qua giáo dục chính quy và giáo dục thường xuyên ở Việt Nam. Trên cơ sở đó xác định thách thức và định hướng trong tương lai để đẩy mạnh giáo dục kỹ năng sống trên cơ sở thực tiễn ở Việt Nam và đối chiếu với mục tiêu 3 và mục tiêu 6 của Chương trình hành động Dakar (Trong khuôn khổ hợp tác giữa Viện chiến lược và chương trình giáo dục với UNESCO tại Hà Nội).

Nội dung giáo dục kỹ năng sống cũng được các nhà trường thực sự quan tâm từ khi có chỉ thị 40/2008 CT-BGD&ĐT phát động các nhà trường thực hiện phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” trong đó nội dung thứ ba và thứ tư của phong trào chính là tổ chức giáo dục kỹ năng sống cho học sinh, sinh viên. Mục đích rèn luyện cho học sinh, sinh viên, kỹ năng ứng xử thân thiện trong mọi tình huống; thói quen và kỹ năng làm việc theo nhóm, kỹ năng hoạt động xã hội; Giáo dục cho học sinh thói quen rèn luyện sức khỏe, ý thức tự bảo vệ bản thân, rèn luyện kỹ năng ứng xử văn hóa, ý thức chung sống thân thiện, giải quyết hợp lý các tình huống mâu thuẫn, xung đột; có thái độ lên án và kiên quyết bài trừ mọi hành vi bạo lực. Như vậy vấn đề giáo dục kỹ năng sống cho học sinh, sinh viên không còn là vấn đề mới mẻ trong các nhà trường mà là một nhiệm vụ quan trọng được các nhà trường xây dựng trong kế hoạch từng năm học. Nhưng chúng ta chưa quan tâm đúng mức đến giáo dục kỹ năng sống cho học sinh, chưa giáo dục đầy đủ phẩm chất nhân cách, mới chỉ chú ý đến giáo dục hành vi, rèn luyện biểu hiện bên ngoài, do đó học sinh chưa hiểu bản chất của các kỹ năng sống cần thực hiện, dẫn đến kết quả giáo dục chưa cao, số học sinh, sinh viên có hành vi lệch chuẩn trong các nhà trường ngày càng ra tăng trong thời gian gần đây, gây sự lo lắng bức xúc trong dư luận, sự trăn trở của ngành giáo dục, vì thế Khoa học giáo dục ngày nay đang hướng vào nghiên cứu giáo dục giá trị sống gắn liền với kỹ năng sống, nhằm đem lại hiệu quả thiết thực trong thực tiễn giáo dục học sinh. Luận văn: Giáo dục Kỹ năng sống qua dạy học tiếng Anh

Tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc và Đinh Thị Kim Thoa, Trần văn Tính, Vũ Phương Liên trong cuốn sách “Giáo dục giá trị sống và kỹ năng sống cho học sinh trung học phổ thông” đã chỉ ra kỹ năng sống là công cụ và phương tiện để tiếp nhận và thể hiện giá trị sống. Đây là những tiền đề đưa công tác giáo dục kỹ năng sống cho học sinh vào các nhà trường mạnh mẽ, mang lại hiệu quả tích cực, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh. Từ đó đối với các sở giáo dục và đào tạo đặc biệt là sở giáo dục và đào tạo Hà Nội trong những năm gần đây cũng đã quan tâm đến việc chỉ đạo hoạt động giáo dục giá trị sống cho học sinh ở các cấp, hoạt động giáo dục GTS và KNS đã trở thành nhiệm vụ trọng tậm của mỗi nhà trường trong năm học, để hỗ trợ thực hiện tốt hơn công tác giáo dục giá trị sống và kỹ năng sống, sở giáo dục đào tạo Hà Nội đã cho ra đời cuốn “Giáo dục nếp sống văn minh thanh lịch người Hà Nội”, “Văn hoá Thăng Long Hà Nội”

Hiện nay đã có rất nhiều nhà nghiên cứu trong nước nghiên cứu đề tài giáo dục kỹ năng sống tích hợp, các đề tài chủ yếu phân tích làm rõ thực trạng trước tính cấp bách của vấn đề kỹ năng sống, hoặc một số đề tài đã nghiên cứu tương đối đầy đủ các nhiệm vụ nghiên cứu lý luận, đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống, nhưng ít có đề tài nghiên cứu quản lý hoạt động giáo dục giáo dục kỹ năng sống thông qua dậy tiếng Anh trong một nhà một cơ sở giáo dục. Chính vì vậy tác giả chọn đề tài: “Quản lý hoạt động giáo dục Kỹ năng sống thông qua dạy học tiếng Anh cho học sinh trung học cơ sở tại Cung Thiếu Nhi Hà Nội”.

1.2. Các khái niệm công cụ

1.2.1. Hoạt động giáo dục

Hoạt động giáo dục là tất cả các hoạt động diễn ra trong nhà trường và ngoài xã hội nhằm định hướng, hình thành và phát triển nhân cách cho người học theo một mục tiêu nhất định. Những hoạt động đó có thể là hoạt động văn hoá trong giờ lên lớp, có thể là hoạt động ngoài giờ lên lớp có sự hướng dẫn của người lớn. Hoạt động giáo dục nằm trong quá trình giáo dục tác động đến nhận thức, hành vi cho người học ở những nội dung khác nhau.

1.2.2. Quản lý

Quản lý là gì? Đây là cầu hỏi mà bất kỳ người làm công tác quản lý nào cũng muốn biết và mong muốn lý giải, vậy suy cho cùng quản lý là gì?

Khái niệm “quản lý” được hình thành từ rất lâu và cùng với sự phát triển của tri thức nhân loại cũng như nhu cầu của thực tiễn nó được xây dựng và phát triển ngày càng hoàn thiện hơn. Mọi hoạt động của xã hội đều cần tới quản lý. Quản lý vừa là khoa học, vừa là nghệ thuật trong việc điều khiển một hệ thống xã hội cả ở tầm vĩ mô và vi mô.

Cùng với sự phát triển của phương thức xã hội hoá sản xuất và sự mở rộng trong nhận thức của con người thì sự khác biệt về nhận thức và lý giải về khái niệm quản lý càng trở nên rõ rệt. Xuất phát từ những góc độ khác nhau, rất nhiều học giả trong và ngoài nước đã đưa ra giải thích không giống nhau về quản lý, các trường phái quản lý học đã đưa ra những định nghĩa về quản lý như sau:

Theo F.W Taylor (1856-1915): Là một trong những người đầu tiên khai sinh ra khoa học quản lý và là “ông tổ” của trường phái “quản lý theo khoa học” tiếp cận một cách chínhận quản lý dưới góc độ kinh tế- kỹ thuật đã cho rằng: Quản lý là hoàn thành công việc của mình thông qua người khác và biết đươc một chính xác họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất. Theo Henrry Fayol (1841 -1925): là người đầu tiên tiếp cận quản lý theo quy trình và là người có tầm ảnh hưởng to lớn trong lịch sủ tư tưởng quản lý từ thời kỳ cận hiện đại tới nay, ông quan niệm rằng: Quản lý là một tiến trình bao gồm các khâu: Lập kế hoạch,tổ chức, phân công điều khiển và kiểm soát các nỗ lực của cá nhân, bộ phận và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực vật chất khác của tổ chức để đạt được mục tiêu đề ra.

Theo J.H Donnelly, James Gibson và J.M Ivancevich trong khi nhấn mạnh tới hiệu quả sự phối hợp hoạt động của nhiều người đã cho rằng: Quản lý là một quá trình do một người hay nhiều người thực hiện nhằm phối hợp các hoạt động của những người khác để đạt được kết quả mà một người hành động riêng rẽ không thể nào đạt được.

Tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc cho rằng: Quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức.

Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia thì: ”Quản lý trong kinh doanh hay quản lý trong các tổ chức nhân sự nói chung là hành động đưa các cá nhân trong tổ chức làm việc cùng nhau để thực hiện, hoàn thành mục tiêu chung”

Có thể kể ra nhiều ý kiến khác nhau về định nghĩa quản lý, trên đây chỉ là một vài ý kiến mang tính đại diện trên cơ sở phân tích tổng hợp những quan điểm không giống nhau. Tóm lại, những quan điểm đó tuy rất rõ ràng, đúng đắn nhưng mỗi quan điểm lại phản ánh một khía cạch khác nhau của quản lý. Nhưng nhìn chung thì chúng ta đều thấy; Quản lý thực chất cũng là một hành vi, đã là hành vi thì phải có người gây ra và người chịu tác động. Tiếp theo cần có mục đích của hành vi, đặt ra câu hỏi tại sao làm như vậy? Do đó, để hình thành nên hoạt động quản lý trước tiên cần có chủ thể quản lý: nói rõ ai là người quản lý? Sau đó cần xác định đối tượng quản lý: Quản lý cái gì? Cuối cùng cần xác định mục đích quản lý: quản lý vì cái gì? Có được những yếu tố đó, là có được điều kiện cơ bản để hình thành nên hoạt động quản lý. Đồng thời cần chú ý rằng, bất cứ hoạt động quản lý nào cũng không phải là hoạt động độc lập, nó cần được tiến hành trong môi trường, điều kiện nhất định nào đó, bên cạch đó trong định nghĩa về quản lý còn đề cập đến bản chất của quản lý là theo đuổi năng suất và hiệu quả. Như vậy có thể thấy quản lý là một hoạt động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý lên đối tượng và khách thể quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực, các thời cơ của tổ chức để đạt mục tiêu đặt ra trong điều kiện môi trường luôn biến động.

1.2.3. Kỹ năng sống và hoạt động giáo dục kỹ năng sống Luận văn: Giáo dục Kỹ năng sống qua dạy học tiếng Anh

1.2.3.1. Kỹ năng sống

Nếu hiểu kỹ năng sống là năng lực ( tổng hòa cả kiến thức, thái độ và hành vi) theo nghĩa rộng thì kỹ năng sống là khả năng áp dụng những hiểu biết và kỹ năng để thực hiện những cách ứng xử đúng hoặc chính xác khi tương tác với người khác hoặc trong các tình huống khác nhau của môi trường xung quanh dựa trên nền văn hóa nào đó.

  • Theo tổ chức y tế thế giới (WHO), kỹ năng sốngkhả năng để có hành vi thích ứng (adaptive) và tích cực (positive), giúp các cá nhân có thể ứng xử hiệu quả trước các nhu cầu và thách thức của cuộc sống hàng ngày.
  • Theo quỹ nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF), kỹ năng sống là cách tiếp cận giúp thay đổi hoặc hình thành hành vi mới. Cách tiếp cận này lưu ý đến sự cân bằng về tiếp thu kiến thức, hình thành thái độ và kỹ năng.
  • Theo Tổ chức văn hóa, khoa học và giáo dục Liên hợp quốc (UNESCO), kỹ năng sống gắn với 4 trụ cột của giáo dục, đó là:
  • Học để biết (Learning to know) gồm các kỹ năng tư duy như: giải quyết vấn đề, tư duy phê phán, ra quyết định, nhận thức được hậu quả,…;
  • Học làm người (Learning to be) gồm các kỹ năng cá nhân như: ứng phó với căng thẳng, cảm xúc, tự nhận thức, tự tin,…;
  • Học để sống với người khác (Learning to live together) gồm các kỹ năng xã hội như: giao tiếp, thương lượng, tự khẳng định, hợp tác, làm việc theo nhóm, thể hiện sự cảm thông;
  • Học để làm (Learning to do) gồm kỹ năng thực hiện công việc và các nhiệm vụ như kỹ năng đặt mục tiêu, đảm nhận trách nhiệm,…

Quan niệm của WHO nhấn mạnh đến khả năng của cá nhân có thể duy trì trạng thái tinh thần và biết thích nghi tích cực khi tương tác với người khác và với môi trường của mình. Quan niệm này mang tính khái quát nhưng chưa thể thể hiện ngay các kỹ năng cụ thể, mặc dù khi phân tích sâu thì thấy tương đối gần với nội hàm kỹ năng sống theo quan niệm của UNESCO. Quan niệm của UNESCO là quan niệm rất chi tiết, cụ thể, có nhấn mạnh thêm kỹ năng thực hiện công việc và nhiệm vụ. Quan niệm của UNICEF nhấn mạnh rằng kỹ năng không hình thành và tồn tại một cách độc lập mà trong mối tương tác mật thiết có sự cân bằng với kiến thức và thái độ. Kỹ năng mà một người có được (ví dụ: kỹ năng thương lượng) một phần lớn cũng nhờ có được kiến thức (ví dụ về nội dung thương lượng). Việc đề cập thái độ cũng là một góc nhìn hữu ích với thái độ có tác động mạnh mẽ đến kỹ năng (Ví dụ, thái độ kì thị khó làm cho một người thực hiện tốt kỹ năng biết thể hiện sự tôn trọng với người khác). Luận văn: Giáo dục Kỹ năng sống qua dạy học tiếng Anh

Từ những quan niệm trên đây, có thể thấy “kỹ năng sống” bao gồm một loạt các kỹ năng cụ thể cần thiết cho cuộc sống hàng ngày của con người. Bản chất của kỹ năng sống là kỹ năng tự quản lý bản thân và kỹ năng xã hội cần thiết để cá nhân tự lực trong cuộc sống, học tập và làm việc hiệu quả. Nói cách khác, kỹ năng sống là khả năng làm chủ bản thân của mỗi người, khả năng ứng xử phù hợp với những người khác và với xã hội, khả năng ứng phó tích cực trước các tình huống của cuộc sống.

  • Kỹ năng sống không phải tự nhiên có được mà được hình thành trong quá trình học tập, lĩnh hội và rèn luyện trong cuộc sống. Quá trình hình thành kỹ năng sống diễn ra cả trong và ngoài hệ thống giáo dục.
  • Kỹ năng sống vừa mang tính cá nhân, vừa mang tính xã hội. Kỹ năng sống mang tính cá nhân vì đó là khả năng của cá nhân, kỹ năng sống mang tính xã hội vì kỹ năng sống phụ thuộc vào các giai đoạn và phát triển lịch sử xã hội, chịu ảnh hưởng của truyền thống và văn hóa của gia đình, cộng đồng, dân tộc.

1.2.3.2. Giáo dục kỹ năng sống và hoạt động giáo dục kỹ năng sống

Giáo dục kỹ năng sống là quá trình tác động có mục đích, có kế hoạch đến học sinh nhằm giúp học sinh có những kiến thức về cuộc sống, có những thao tác, hành vi ứng xử đúng mực trong các mối quan hệ xã hội như quan hệ của cá nhân với xã hội, của cá nhân với lao động, của cá nhân với mọi người và của cá nhân với chính mình, giúp cho nhân cách mỗi học sinh được phát triển đúng đắn đồng thời thích ứng tốt nhất với môi trường sống.

Giáo dục kỹ năng sống có mục tiêu chính là làm thay đổi hành vi của người học từ thói quen thụ động, có thể gây rủi ro, mang lại hậu quả tiêu cực chuyển thành những hành vi mang tính xây dựng, tích cực và có hiệu quả để nâng cao chất lượng cuộc sống cá nhân và góp phần phát triển bền vững cho xã hội.

Hoạt động giáo dục kỹ năng sống là những hoạt động được tổ chức có mục đích, có nội dung và theo những hình thức nhất định có thể trong nhà trường và ngoài nhà trường nhằm hình thành và phát triển các kỹ năng sống cho học sinh góp phần phát triển nhân cách học sinh theo mục tiêu giáo dục.

1.3. Giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trung học cơ sở Luận văn: Giáo dục Kỹ năng sống qua dạy học tiếng Anh

1.3.1. Mục tiêu các hoạt động giáo dục kỹ năng sống

1.3.1.1. Mục tiêu chung của giáo dục trung học cơ sở

Giáo dục trung học cơ sở nhằm giúp học sinh củng cố và phát triển những kết quả của giáo dục tiểu học; có học vấn phổ thông ở trình độ cơ sở và những hiểu biết ban đầu về kỹ thuật và hướng nghiệp để tiếp tục học trung học phổ thông, trung cấp, học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động (Luật giáo dục 2005, Điều 27, điểm 3);

1.3.1.2. Mục tiêu của công tác giáo dục kỹ năng sống

Mục tiêu giáo dục của Việt Nam đã chuyển từ mục tiêu cung cấp kiến thức là chủ yếu sang hình thành và phát triển những năng lực cần thiết ở người học, trong đó các kỹ năng là một thành phần quan trọng để đáp ứng yêu cầu đổi mới đất nước. Học sinh không chỉ cần có kiến thức, mà còn phải biết làm, biết hành động phù hợp trong những tình huống, hoàn cảnh của cuộc sống. Mục tiêu giáo dục của nước ta thể hiện mục tiêu giáo dục của thế kỷ XXI: Học để biết, học để làm, học để tự khẳng định và học để cùng chung sống (Delor 1996).

Giáo dục KNS cho học sinh trong nhà trường phổ thông nhằm các mục tiêu cơ bản sau:

  • Trang bị cho học sinh những kiến thức, giá trị, thái độ và kỹ năng phù hợp. Trên cơ sở đó hình thành cho học sinh những hành vi, thói quen lành mạnh, tích cực loại bỏ những hành vi, thói quen tiêu cực trong các mối quan hệ, các tình huống và hoạt động hàng ngày; Luận văn: Giáo dục Kỹ năng sống qua dạy học tiếng Anh
  • Tạo cơ hội để học sinh thực hiện tốt quyền, bổn phận của mình; phát triển hài hòa về thể chất, trí tuệ, tinh thần và đạo đức.

1.3.2. Nhiệm vụ của công tác giáo dục kỹ năng sống

Hoạt động giáo dục kỹ năng sống góp phần củng cố, nâng cao kiến thức, kỹ năng, giáo dục nhân cách cho người học; có nội dung phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý người học, phù hợp với thuần phong mỹ tục Việt Nam. Cụ thể như sau:

Thúc đẩy sự phát triển cá nhân và xã hội: Thực tế cho thấy, có khoảng cách giữa nhận thức và hành vi của con người, có nhận thức đúng chưa chắc đã có hành vi đúng. Ví dụ: có những người là luật sư, công an,… có hiểu biết rất rõ về pháp luật nhưng vẫn vi phạm pháp luật,…đó chính là vì họ đã thiếu KNS.

Có thể nói KNS chính là nhịp cầu giúp con người biến kiến thức thành thái độ, hành vi và thói quen tích cực, lành mạnh. Người có KNS phù hợp sẽ luôn vững vàng trước những khó khăn, thử thách; biết ứng xử, giải quyết vấn đề một cách tích cực và phù hợp; họ thường thành công hơn trong cuộc sống, luôn yêu đời và làm chủ cuộc sống của chính mình.

Việc thiếu KNS của cá nhân là một nguyên nhân làm nảy sinh nhiều vấn đề xã hội, như: mại dâm, cờ bạc, nghiện hút,…Việc giáo dục KNS sẽ thúc đẩy những hành vi mang tính xã hội tích cực, giúp nâng cao chất lượng cuộc sống xã hội và giảm các vấn đề xã hội.

Thực hiện yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông: Đảng ta đã xác định con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển xã hội. Để thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, cần phải có những con người lao động mới phát triển toàn diện, do đó cần phải đổi mới giáo dục nói chung và đổi mới giáo dục phổ thông nói riêng. Nhiệm vụ đổi mới giáo dục đã được thể hiện rõ trong các Nghị quyết của Đảng, Quốc hội, trong Luật giáo dục năm 2005.

Như vậy, mục tiêu giáo dục phổ thông đã chuyển từ chủ yếu là trang bị kiến thức cho HS sang trang bị những năng lực cần thiết cho các em, đặc biệt là năng lực hành động, năng lực thực tiễn. Giáo dục KNS cho HS, với bản chất là hình thành và phát triển cho các em khả năng làm chủ bản thân, khả năng ứng xử phù hợp với những người khác và với xã hội, khả năng ứng phó tích cực trước các tình huống của cuộc sống rõ ràng là phù hợp với mục tiêu giáo dục phổ thông, nhằm thực hiện mục tiêu giáo dục phổ thông.

1.3.3. Nội dung giáo dục kỹ năng sống Luận văn: Giáo dục Kỹ năng sống qua dạy học tiếng Anh

Đặc điểm tâm lý của học sinh trung học cơ sở:

Trong những giai đoạn phát triển của con người, lứa tuổi thiếu niên (11 đến 15 tuổi) có một vị trí và ý nghĩa vô cùng quan trọng. Đây là thời kỳ phát triển phức tạp nhất, và cũng là thời kỳ chuẩn bị quan trọng nhất cho những bước trưởng thành sau này. Thời kỳ thiếu niên quan trọng ở chỗ : trong thời kỳ này những cơ sở, phương hướng chung của sự hình thành quan điểm xã hội và đạo đức của nhân cách được hình thành, chúng sẽ được tiếp tục phát triển trong tuổi thanh niên. Chính vì vậy việc định hướng, đào tạo các kỹ năng sống trong giai đoạn này rất quan trọng giúp các em hình thành và phát triển nhân cách toàn diện.

Các kỹ năng sống thiết yếu:

Dựa trên cơ sở phân tích kinh nghiệm quốc tế và thực trạng giáo dục Kỹ năng sống ở Việt Nam những năm qua, có thể đề xuất nội dung giáo dục KNS cho HS trong các nhà trường phổ thông bao gồm các KNS cơ bản, cần thiết sau:

1.3.3.1. Kỹ năng tự nhận thức

Tự nhận thức là tự mình nhìn nhận, tự đánh giá về bản thân, biết nhìn nhận, đánh giá đúng về tiềm năng, tình cảm, sở thích, thói quen, điểm mạnh, điểm yếu,…của bản thân mình; quan tâm và luôn ý thức được mình đang làm gì, kể cả nhận ra lúc bản thân đang cảm thấy căng thẳng.

Tự nhận thức là một KNS rất cơ bản của con người, là nền tảng để con người giao tiếp, ứng xử phù hợp và hiệu quả với người khác cũng như để có thể cảm thông được với người khác. Ngược lại, đánh giá không đúng về bản thân có thể dẫn con người đến những hạn chế, sai lầm, thất bại trong cuộc sống và trong giao tiếp với người khác.

1.3.3.2. Kỹ năng xác định giá trị Luận văn: Giáo dục Kỹ năng sống qua dạy học tiếng Anh

Giá trị là những gì con người cho là quan trọng, là có ý nghĩa đối với bản thân mình, có tác dụng định hướng cho suy nghĩ, hành động và lối sống của bản thân trong cuộc sống. Giá trị có thể là những chuẩn mực đạo đức, những chính kiến, thái độ, và thậm chí là thành kiến đối với một điều gì đó…

Giá trị có thể là giá trị vật chất hoặc giá trị tinh thần, có thể thuộc các lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật, đạo đức, kinh tế,…

Mỗi người đều có một hệ thống giá trị riêng. Kĩ năng xác định giá trị là khả năng con người hiểu rõ được những giá trị của bản thân mình. Kĩ năng xác định giá trị có ảnh hưởng lớn đến quá trình ra quyết định của mỗi người.

Kĩ năng này còn giúp người khác biết tôn trọng người khác, biết chấp nhận rằng người khác có những giá trị và niềm tin khác.

Giá trị không phải là bất biến mà có thể thay đổi theo thời gian, theo các giai đoạn trưởng thành của con người. Giá trị phụ thuộc vào giáo dục vào nền văn hóa, vào môi trường sống, học tập và làm việc của cá nhân.

1.3.3.3. Kỹ năng kiểm soát cảm xúc

Kiểm soát cảm xúc là khả năng con người nhận thức rõ cảm xúc của mình trong một tình hống nào đó và hiểu được ảnh hưởng của cảm xúc đối với bản thân và đối với người khác thế nào, đồng thời biết cách điều chỉnh và thể hiện cảm xúc một các phù hợp. Kỹ năng xử lý cảm xúc còn có nhiều tên gọi khác như: xử lý cảm xúc, kiềm chế cảm xúc, làm chủ cảm xúc, quản lí cảm xúc.

Một người biết kiểm soát cảm xúc thì sẽ góp phần giảm căng thẳng giúp giao tiếp và thương lượng hiệu quả hơn, giải quyết mâu thuẫn một cách hài hòa và mang tính xây dựng hơn, giúp ra quyết định và giải quyết vấn đề tốt hơn.

Kỹ năng quản lý cảm xúc cần sự kết hợp với kỹ năng tự nhận thức, kỹ năng ứng xử với người khác và kỹ năng ứng phó với căng thẳng, đồng thời góp phần củng cố các kỹ năng này.

1.3.3.4. Kỹ năng ứng phó với căng thẳng

Trong cuộc sống hàng ngày, con người thường gặp những tình huống gây căng thẳng cho bản thân. Tuy nhiên, có những tình huống có thể gâu căng thẳng cho người này nhưng lại không gây căng thẳng cho người khác và ngược lại.

Khi bị căng thẳng mỗi người có tâm trạng, cảm xúc khác nhau: cũng có khi là những cảm xúc tích cực nhưng thường là những cảm xúc tiêu cực gây ảnh hưởng không tốt đến sức khỏe thể chất và tinh thần của con người. Ở một mức độ nào đó, khi một cá nhân có khả năng đương đầu với căng thẳng thì đó có thể là một tác động tích cực, tạo sức ép buộc cá nhân đó phải tập trung vào công việc của mình, bứt phá thành công. Nhưng mặt khác, sự căng thẳng còn có một sức mạnh hủy diệt cuộc sống cá nhân nếu căng thẳng đó quá lớn, kéo dài và không giải tỏa nổi. Luận văn: Giáo dục Kỹ năng sống qua dạy học tiếng Anh

Khi bị căng thẳng, tùy từng tình huống, mỗi người có thể có cách ứng phó khác nhau. Cách ứng phó tích cực hay tiêu cực khi căng thẳng phụ thuộc vào cách suy nghĩ tích cực hay tiêu cực của cá nhân trong tình huống đó.

Kỹ năng ứng phó với căng thẳng là khả năng con người bình tĩnh, sẵn sàng đón nhận những tình huống căng thẳng như là một phần tất yếu của cuộc sống, là khả năng nhận biết sự căng thẳng, hiểu được nguyên nhân, hậu quả của căng thẳng, cũng như biết cách suy nghĩ và ứng phó một cách tích cực khi bị căng thẳng.

Chúng ta cũng có thể hạn chế những tình huống căng thẳng bằng cách sống và làm việc điều độ, có kế hoạch, thường xuyên luyện tập thể dục thể thao, sống vui vẻ, chan hòa, tránh gây mâu thuẫn không cần thiết với mọi người xunh quanh, không đặt ra cho mình những mục tiêu quá cao so với điều kiện và khả năng của bản thân,…

1.3.3.5. Kỹ năng tìm kiếm sự hỗ trợ

Trong cuộc sống, nhiều khi chúng ta gặp những vấn đề, tình huống phải cần đến sự hỗ trợ, giúp đỡ của những người khác.

Kỹ năng tìm kiếm sự hỗ trợ, giúp đỡ giúp chúng ta có thể nhận được những lời khuyên, sự can thiệp cần thiết để tháo gỡ, giải quyết những vấn đề khó khăn, giảm bớt được căng thẳng tâm lý do bị dồn nén cảm xúc. Biết tìm kiếm sự giúp đỡ kịp thời sẽ giúp cá nhân không cảm thấy đơn độc, bi quan, và trong nhiều trường hợp, giúp chúng ta có cái nhìn mới và hướng đi mới.

1.3.3.6. Kỹ năng thể hiện sự tự tin

Tự tin là có niềm tin vào bản thân; tự hài lòng với bản thân; tin rằng mình có thể trở thành một người có ích và tích cực, có niềm tin về tương lai, cảm thấy có nghị lực để hoàn thành các nhiệm vụ.

Kỹ năng thể hiện sự tự tin giúp cá nhân giao tiếp hiệu quả hơn, mạnh dạn bày tỏ suy nghĩ và ý kiến của mình, quyết đoán trong việc ra quyết định và giải quyết vấn đề, thể hiện sự kiên định, đồng thời cũng giúp người đó có suy nghĩ tích cực và lạc quan trong cuộc sống.

1.3.3.7. Kỹ năng giao tiếp Luận văn: Giáo dục Kỹ năng sống qua dạy học tiếng Anh

Kĩ năng giao tiếp là khả năng có thể bày tỏ ý kiến của bản thân theo hình thức nói, viết hoặc sử dụng ngôn ngữ cơ thể phù hợp với hoàn cảnh và văn hóa, đồng thời biết lắng nghe, tôn trọng ý kiến người khác ngay cả khi bất đồng quan điểm. Bày tỏ ý kiến bao gồm cả bày tỏ về suy nghĩ, ý tưởng, nhu cầu, mong muốn và cảm xúc, đồng thời nhờ sự giúp đỡ và sự tư vấn cần thiết.

Kĩ năng giao tiếp giúp con người biết đánh giá tình huống giao tiếp và điều chỉnh cách giao tiếp một cách phù hợp, hiệu quả, cởi mở bày tỏ suy nghĩ, cảm xúc nhưng không làm hại gây tổn thương cho người khác. Kĩ năng này giúp chúng ta có mối quan hệ tích cực với người khác, bao gồm biết gìn giữ mối quan hệ tích cực với các thành viên trong gia đình – nguồn hỗ trợ quan trọng cho mỗi chúng ta, đồng thời biết cách xây dựng mối quan hệ với bạn bè mới và đây là yếu tố rất quan trọng đối với niềm vui cuộc sống. Kỹ năng này cũng giúp kết thúc các mối quan hệ khi cần thiết một cách xây dựng.

1.3.3.8. Kỹ năng lắng nghe tích cực

Lắng nghe tích cực là một phần quan trọng của kĩ năng giao tiếp. Người có kĩ năng lắng nghe tích cực biết thể hiện sự tập trung chú ý và thể hiện sự quan tâm lắng nghe ý kiến hoặc phần trình bày của người khác (bằng các cử chỉ, điệu bộ, ánh mắt, nét mặt, nụ cười), biết cho ý kiến phản hồi mà không vội đánh giá, đồng thời có đối đáp hợp lí trong quá trình giao tiếp.

Người có kĩ năng lắng nghe tích cực thường được nhìn nhận là biết tôn trọng và quan tâm đến ý kiến của người khác, nhờ đó làm cho việc giao tiếp, thương lượng và hợp tác của họ hiệu quả hơn. Lắng nghe tích cực cũng góp phần giải quyết mâu thuẫn một cách hài hòa và xây dựng.

1.3.3.9. Kỹ năng thể hiện sự cảm thông

Thể hiện sự cảm thông là khả năng có thể hình dung và đặt mình trong hoàn cảnh của người khác, giúp chúng ta hiểu và chấp nhận người khác vốn là những người rất khác mình, qua đó chúng ta có thể hiểu rõ cảm xúc và tình cảm của người khác và cảm thông với hoàn cảnh hoặc nhu cầu của họ

Kỹ năng này có ý nghĩa quan trọng trong việc tăng cường hiệu quả giao tiếp và ứng xử với người khác; cải thiện các mối quan hệ giao tiếp xã hội, đặc biệt trong bối cảnh đa văn hóa, đa sắc tộc. Kỹ năng thể hiện sự cảm thông cũng giúp khuyến khích thái độ quan tâm và hành vi thân thiện, gần gũi với những người cần sự giúp đỡ.

Kỹ năng thể hiện sự cảm thông được dựa trên kỹ năng tự nhận thức và kỹ năng xác định giá trị, đồng thời là yếu tố cần thiết trong kỹ năng giao tiếp, giải quyết vấn đề, giải quyết mâu thuẫn, thương lượng, kiên định và kiềm chế cảm xúc.

1.3.3.10. Kỹ năng thương lượng

Thương lượng là khả năng trình bày, suy nghĩ, phân tích và giải thích, đồng thời có thảo luận để đạt được một sự điều chỉnh và thống nhất về cách suy nghĩ, cách làm hoặc một vấn đề gì đó.

Kỹ năng thương lượng bao gồm nhiều yếu tố của kĩ năng giao tiếp như lắng nghe, bày tỏ suy nghĩ và một phần quan trọng của giải quyết vấn đề và giải quyết mâu thuẫn. Một người có kỹ năng thương lượng tốt sẽ giúp giải quyết vấn đề hiệu quả, giả quyết mâu thuẫn một cách xây dựng và có lợi cho tất cả các bên.

1.3.3.11. Kỹ năng giải quyết mâu thuẫn

Mâu thuẫn là những xung đột, tranh cãi, bất đồng, bất bình với một hay nhiều người về một vấn đề nào đó. Mâu thuẫn trong cuộc sống hết sức đa dạng thường bắt nguồn từ sự khác nhau về quan điểm, chính kiến, lối sống, tín ngưỡng, tôn giáo, văn hóa,…Mâu thuẫn thường có ảnh hưởng tiêu cực tới những mối quan hệ của các bên.

Có nhiều cách giải quyết mâu thuẫn. Mỗi người sẽ có cách giải quyết mâu thuẫn riêng tùy thuộc vào vốn hiểu biết, quan niệm, văn hóa và cách ứng xử cũng như khả năng phân tích tìm hiểu nguyên nhân nảy sinh mâu thuẫn.

Kỹ năng giải quyết mâu thuẫn là khả năng con người nhận thức được nguyên nhân nảy sinh mâu thuẫn và giải quyết những mâu thuẫn đó với thái độ tích cực, không dùng bạo lực, thỏa mãn được nhu cầu và quyền lợi các bên và giải quyết cả mối quan hệ giữa các bên một cách hòa bình. Yêu cầu trước hết của kỹ năng giải quyết mâu thuẫn là phải luôn kiềm chế cảm xúc, tránh bị kích động, nóng vội, giữ bình tĩnh trước mọi sự việc để tìm ra nguyên nhân nảy sinh mâu thuẫn cũng như tìm ra cách giải quyết tốt nhất.

1.3.3.12. Kỹ năng hợp tác Luận văn: Giáo dục Kỹ năng sống qua dạy học tiếng Anh

Hợp tác là cùng chung sức làm việc, giúp đỡ, hỗ trợ lẫn nhau trong một công việc, một lĩnh vực nào đó vì mục đích chung. Kỹ năng hợp tác là khả năng cá nhân biết chia sẻ trách nhiệm, biết cam kết và cùng làm việc có hiệu quả với những thành viên khác trong nhóm.

1.3.3.13. Kỹ năng tư duy phê phán

Kỹ năng tư duy phê phán là khả năng phân tích một cách khách quan và toàn diện các vấn đề, sự vật, hiện tượng…xảy ra.

Kỹ năng tư duy phê phán rất cần thiết để con người có thể đưa ra được những quyết định, những tình huống phù hợp. Nhất là trong xã hội hiện đại ngày nay, khi mà con người luôn phải đối mặt với nhiều vấn đề gay cấn của cuộc sống, luôn phải xử lý nhiều nguồn thông tin đa dạng, phức tạp…thì kỹ năng tư duy phê phán càng trở lên quan trọng đối với mỗi cá nhân.

1.3.3.14. Kỹ năng tư duy sáng tạo

Tư duy sáng tạo là khả năng nhìn nhận và giải quyết vấn đề theo một cách mới, với ý tưởng mới, theo phương thức mới, cách sắp xếp và tổ chức mới; là khả năng khám phá và kết nối mối quan hệ giữa các khái niệm, ý tưởng, quan niệm, sự việc; độc lập trong suy nghĩ.

Kỹ năng tư duy sáng tạo giúp con người tư duy năng động với nhiều sáng kiến và óc tưởng tượng; biết cách phán đoán và thích nghi; có tầm nhìn và khả năng suy nghĩ rộng hơn các người khác, không bị bó hẹp vào kinh nghiệm trực tiếp đang trải qua; tư duy minh mẫn và khác biệt.

Tư duy sáng tạo là một KNS quan trọng bởi vì trong cuộc sống con người thường xuyên bị đặt vào những hoàn cảnh bất ngờ hoặc ngẫu nhiên xảy ra. Khi gặp những hoàn cảnh như vậy đòi hỏi chúng ta phải có tư duy sáng tạo để có thể ứng phó một cách linh hoạt và phù hợp.

1.3.3.15. Kỹ năng ra quyết định

Trong cuộc sống hàng ngày, con người luôn phải đối mặt với những tình huống, những vấn đề cần giải quyết buộc chúng ta phải lực chọn, đưa ra quyết định hành động.

Kỹ năng ra quyết định là khả năng của cá nhân biết quyết định lựa chọn phương án tối ưu để giải quyết vấn đề hoặc tình huống gặp phải trong cuộc sống một cách kịp thời.

Mỗi cá nhân phải tự mình ra quyết định cho bản thân; không nên trông chờ, phụ thuộc vào người khác; mặc dù có thể tham khảo ý kiến của những người tin cậy trước khi ra quyết định.

1.3.3.16. Kỹ năng giải quyết vấn đề Luận văn: Giáo dục Kỹ năng sống qua dạy học tiếng Anh

Kỹ năng giải quyết vấn đề là khả năng của cá nhân biết quyết định lựa chọn phương án tối ưu và hành động theo phương án đã chọn để giải quyết vấn đề hoặc tình huống gặp phải trong cuộc sống.

1.3.3.17. Kỹ năng kiên định

Kỹ năng kiên định là khả năng con người nhận thức được những gì mình muốn và lí do dẫn đến sự mong muốn đó. Kiên định còn là khả năng tiến hành các bước cần thiết để đạt được những gì mình muốn trong những hoàn cảnh cụ thể, dung hòa được giữa quyền, nhu cầu của mình với quyền, nhu cầu của người khác.

Kiên định khác với hiếu thắng, nghĩa là luôn chỉ nghĩ đến quyền và nhu cầu của bản thân, bằng mọi cách để thỏa mãn nhu cầu của mình, không quan tâm đến quyền và nhu cầu của người khác.

Kỹ năng kiên định sẽ giúp chúng ta tự bảo vệ được chính kiến, quan điểm, thái độ và những quyết định của bản thân, đứng vững trước những áp lực tiêu cực của những người xung quanh. Ngược lại, nếu không có kỹ năng kiên định, con người sẽ bị mất tự chủ, bị xúc phạm, mất lòng tin, luôn bị người khác điều khiển hoặc luôn cảm thấy tức giận và thất vọng. Kỹ năng kiên định giúp cá nhân giải quyết vấn đề và thương lượng có hiệu quả.

1.3.3.18. Kỹ năng đảm nhận trách nhiệm

Đảm nhận trách nhiệm là khả năng con người thể hiện sự tự tin, chủ động và ý thức cùng chia sẻ công việc với các thành viên khác trong nhóm. Khi đảm nhận trách nhiệm, cần dựa trên những điểm mạnh, tiềm năng của bản thân, đồng thời tìm kiếm thêm sự giúp đỡ cần thiết để hoàn thành nhiệm vụ.

Khi các thành viên trong nhóm có kỹ năng đảm nhận trách nhiệm sẽ tạo được một không khí hợp tác tích cực và xây dựng trong nhóm, giúp giải quyết vấn đề, đạt được mục tiêu chung của cả nhóm, đồng thời tạo sự thỏa mãn và thăng tiến cho mỗi thành viên.

1.3.3.19. Kỹ năng đạt mục tiêu

Mục tiêu là cái đích mà chúng ta muốn đạt tới trong một khoảng thời gian hoặc một công việc nào đó. Mục tiêu có thể về nhận thức, hành vi hoặc thái độ. Kỹ năng đặt mục tiêu là khả năng của con người biết đề ra mục tiêu cho bản thân trong cuộc sống cũng như lập kế hoạch để thực hiện được mục tiêu đó.

Muc tiêu có thể được đặt ra trong một khoảng thời gian ngắn, như một ngày, một tuần (mục tiêu ngắn hạn). Mục tiêu cũng có thể cho một thời gian dài như một năm hoặc nhiều năm (mục tiêu dài hạn). Kỹ năng đặt mục tiêu giúp chúng ta sống có mục đích, có kế hoạch và có khả năng thực hiện được mục tiêu của mình.

1.3.3.20. Kỹ năng quản lý thời gian

Kỹ năng quản lý thời gian là khả năng con người biết sắp xếp các công việc theo thứ tự ưu tiên, biết tập trung vào giải quyết công việc trọng tâm trong một thời gian nhất định.

Kỹ năng này rất cần thiết cho việc giải quyết vấn đề, lập kế hoạch, đặt mục tiêu và đạt được mục tiêu đó; đồng thời giúp con người tránh được căng thẳng do áp lực công việc.

1.3.3.21. Kỹ năng tìm kiếm và xử lý thông tin

Trong thời đại bùng nổ thông tin hiện nay, kỹ năng tìm kiếm và xử lí thông tin là một KNS quan trọng giúp con người có thể có được những thông tin cần thiết một cách đầy đủ, khách quan, chính xác, kịp thời.

1.4. Quản lý giáo dục kỹ năng sống Luận văn: Giáo dục Kỹ năng sống qua dạy học tiếng Anh

Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống là hệ thống những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên, nhân viên, tập thể học sinh, cha mẹ học sinh và các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện có chất lượng và có hiệu quả mục tiêu giáo dục kỹ năng sống cho học sinh của nhà trường.

1.4.1. Quản lý chương trình, nội dung

Hiện nay nội dung giáo dục KNS cho học sinh THCS chưa được đưa thành khung chương trình thống nhất mà mỗi Cơ sở giáo dục tùy theo mục tiêu và điều kiện mà “định hướng” đưa ra nội dung, chương trình cho riêng mình. Ở các cơ sở giáo dục hiện nay nội dung giáo dục KNS cho học sinh THCS dạy lồng ghép trong các môn học, bài học và thông qua các hoạt động ngoài giờ lên lớp.

Đối với việc giáo dục KNS cho học sinh, lựa chọn chương trình và nội dung phù hợp là yếu tố rất quan trọng. Việc quản lý chương trình, nội dung giáo dục KNS bao gồm từ việc chỉ đạo đội ngũ xây dựng chương trình, nội dung cho đến việc tổ chức thực hiện những nội dung đó và đánh giá kết quả đạt được.

Các hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trong nhà trường phổ thông cần phải đảm bảo những nguyên tắc sau đây:

  • Tương tác: KNS Không thể hình thành chỉ qua việc nghe giảng và tự đọc tài liệu mà phải thông qua các hoạt động tương tác với người khác. Việc nghe giảng và tự đọc tài liệu chỉ giúp HS thay đổi nhận thức về một vấn đề nào đó. Nhiều KNS được hình thành trong quá trình HS tương tác với bạn học và những người xung quanh, thông qua các hoạt động học tập hoặc hoạt động xã hội trong cơ sở giáo dục,… Luận văn: Giáo dục Kỹ năng sống qua dạy học tiếng Anh
  • Trải nghiệm: KNS chỉ được hình thành khi người học được trải nghiệm qua các tình huống thực tế. HS chỉ có kỹ năng khi các em tự làm việc đó, chứ không chỉ nói về việc đó. Kinh nghiệm có được khi HS được hành động trong các tình huống đa dạng giúp các em dễ dàng sử dụng và điều chỉnh các kỹ năng phù hợp với điều kiện thực tế;
  • Tiến trình: Giáo dục KNS không thể hình thành trong “ngày một, ngày hai” mà đòi hỏi phải có cả quá trình: nhận thức – hình thành thái độ – thay đổi hành vi. Đây là một quá trình mà mỗi yếu tố có thể là khởi đầu của một chu trình mới. Do đó nhà giáo dục có thể tác động lên bất kỳ mắt xích nào trong chu trình trên: thay đổi thái độ dẫn đến mong muốn thay đổi nhận thức và hành vi hoặc hành vi thay đổi tạo nên sự thay đổi nhận thức và thái độ.
  • Thay đổi hành vi: Mục đích cao nhất của giáo dục KNS là giúp người học thay đổi hành vi theo hướng tích cực, có kỹ năng hành động, thể hiện thái độ và lực chọn giá trị của cá nhân qua các hành động. Giáo dục KNS thúc đẩy người học thay đổi hay định hướng lại các giá trị, thái độ và hành động của mình. Thay đổi hành vi, thái độ và giá trị ở từng con người là một quá trình khó khăn, không đồng thời. Do đó các nhà giáo dục phải kiên trì chờ đợi và tổ chức các hoạt động liên tục để học sinh duy trì hành vi mới và hình thành thói quen mới; tạo động lực cho HS điều chỉnh hoặc thay đổi giá trị, thái độ và những hành vi trước đây, thích nghi hoặc chấp nhận các giá trị, thái độ và hành vi mới.
  • Thời gian, môi trường giáo dục: giáo dục KNS cần thiết ở mọi lúc, mọi nơi và thực hiện càng sớm càng tốt đối với trẻ em. Môi trường giáo dục cần được tổ chức nhằm tạo cơ hội cho HS áp dụng kiến thức và kỹ năng vào các tình huống “thực” trong cuộc sống.

Giáo dục KNS được thực hiện trong gia đình, trong nhà trường và cộng đồng. Người tổ chức giáo dục KNS có thể là bố mẹ, là thầy cô giáo, là bạn cùng học hay các thành viên trong cộng đồng.

1.4.2. Xây dựng kế hoạch hoạt động

Xây dựng kế hoạch hoạt động là một bộ phận quan trọng trong nội dung quản lý họa động giáo dục KNS. Kế hoạch được lập cho một thời kỳ ngắn chính là sự sắp xếp công việc cụ thể cho một thời gian nhất định: tuần, tháng, học kỳ, năm học. Kế hoạch hoạt động giáo dục KNS là trình tự những nội dung hoạt động, hình thức tổ chức hoạt động được bố trí, sắp xếp theo thứ tự thời gian của năm học.

Quản lý về kế hoạch hoạt động giáo dục KNS bao gồm: quản lý việc xây dựng kế hoạch hoạt động thường xuyên, kế hoạch hoạt động theo chủ điểm, kế hoạch bồi dưỡng đội ngũ GV, kế hoạch đầu tư cơ sở vật chất cũng như các điều kiện thực hiện, kế hoạch phối hợp với các lực lượng giáo dục, kế hoạch kiểm tra đánh giá kết quả hoạt động KNS.

Để quá trình giáo dục KNS cho học sinh đạt hiệu quả, Cơ sở giáo dục cần xây dựng phương hướng chỉ đạo theo một kế hoạch thống nhất, nhằm động viên và phát huy tối đa khả năng của các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường để tạo nên sức mạnh tổng thể trong quá trình giáo dục KNS.

1.4.3. Quản lý hoạt động kiểm tra đánh giá Luận văn: Giáo dục Kỹ năng sống qua dạy học tiếng Anh

Cơ sở giáo dục phải xây dựng được tiêu chí đánh giá, quy định thời gian đánh giá. Xác định được cách kiểm tra. Sau kiểm ta cần tổng kết đánh giá, xếp loại từ đó khen, chê kịp thời và có những điều chỉnh hợp lý nhằm thực hiện tốt những mục tiêu đề ra.

Để đánh giá việc thực hiện chương trình hoạt động giáo dục KNS nhà quản lý cần phải bám sát vào mục tiêu đề ra, sử dụng các hình thức đánh giá phù hợp và tuân theo một quy trình đánh giá khoa học. Việc đánh giá thực hiện chương trình hoạt động giáo dục KNS nên theo cách phân loại chủ thể đánh giá, đó là tự đánh giá và đánh giá từ bên ngoài.

Tự đánh giá: Là hoạt động đánh giá của chủ thể đánh giá đối với chính bản thân mình, tổ chức của mình trên cơ sở đối chiếu với hệ chuẩn được xác định từ trước. Mỗi giáo viên chủ nhiệm, người quản lý thực hiện tự đánh giá đối với việc thực hiện chương trình hoạt động giáo dục KNS cho HS. Hoạt động tự đánh giá giúp chủ thể nhận thức rõ về bản thân, về tổ chức của mình, giúp tự khắc phục những điểm yếu, điều chỉnh các hoạt động theo chuẩn. Tự đánh giá cũng giúp chủ thể có tinh thần trách nhiệm hơn đối với công việc của bản thân và nhờ vậy hoạt động của tổ chức có chất lượng và hiệu quả hơn.

Đánh giá từ bên ngoài: được tiến hành bởi các cơ quan cấp trên hoặc từ một tổ chức đánh giá độc lập trên cơ sở một bộ chuẩn đã được xác định từ trước. Với việc đánh giá việc thực hiện chương trình hoạt động giáo dục KNS có thể sử dụng đánh giá của PHHS, các lực lượng cán bộ chính quyền địa phương, người quản lý BGH đánh giá GVCN, GV bộ môn và ngược lại. Kết quả đánh giá được sử dụng để điều chỉnh hoạt động của nhà trường về việc thực hiện chương trình hoạt động giáo dục KNS.

Về đối tượng đánh giá: Tiến hành kiểm tra đánh giá việc thực hiện chương trình hoạt động giáo dục KNS cho HS.

Về nội dung đánh giá: Thực hiện đánh giá các nội dung từ việc lập kế hoạch thực hiện chương trình GD KNS đến nội dung các hoạt động, sự chuẩn bị cơ sở vật chất, cách thức tiến hành hoạt động, đánh giá kết quả hoạt động GD KNS cho HS…

Về phương pháp đánh giá: Sử dụng cả 2 phương pháp đánh giá theo định lượng và đánh giá theo định tính. Đánh giá việc thực hiện chương trình hoạt động giáo dục KNS cho HS thông qua phương pháp điều tra, phương pháp quan sát, phương pháp phỏng vấn…kết quả đánh giá được lượng hóa qua các bảng thống kê, tỷ lệ phần trăm, biểu đồ…

Việc kiểm tra, đánh giá hoạt động giáo dục KNS góp phần đánh giá chất lượng giáo dục chung ở cở sở giáo dục, qua kiểm tra đánh giá nhà quản lý đánh giá mức độ thực hiện của đội ngũ giáo viên, mức độ hưởng ứng tham gia của học sinh, quá trình thực hiện trong nhà trường diễn ra có đảm bảo kế hoạch hay không, đó là cơ sở để nhà quản lý xây dựng chiến lược giáo dục về mục tiêu, nội dung, đội ngũ, phương pháp và hình thức tổ chức hoạt động.

1.4.4. Quản lý cơ sở vật chất và các điều kiện thực hiện hoạt động giáo dục kỹ năng sống Luận văn: Giáo dục Kỹ năng sống qua dạy học tiếng Anh

Về tài liệu, sách tham khảo

Sách “Tổ chức và quản lý hoạt động giáo dục trong nhà trường” là cẩm nang dành cho GVCN, Nhà quản lý, những lực lượng nòng cốt thực hiện chương trình GD KNS. Trong thư viện của nhà trường cần phải có đầy đủ các loại sách tham khảo bổ trợ các môn học, sách về Bác Hồ, pháp luật…để GV lựa chọn nội dung cho các hoạt động.

Về cơ sở vật chất, thiết bị dạy học

Hoạt động giáo dục KNS rất cần có cơ sở vật chất, trang thiết bị kỹ thuật để hoạt động đạt được hiệu quả giáo dục mong muốn. Điều kiện tổ chức và phương tiện tốt sẽ làm tăng tính hấp dẫn của hoạt động. Thiết bị tối thiểu để tổ chức các hoạt động là: âm ly, loa đài, đầu video, đàn, dụng cụ thể thao và kinh phí hoạt động. Trong khi kinh phí dành cho hoạt động không nhiều thì việc GV cần có ý tưởng sáng tạo, tìm tòi các phương tiện phù hợp với điều kiện của lớp, của cơ sở giáo dục là rất cần thiết. Về phía cơ sở giáo dục ngoài việc quản lý tận dụng những cơ sở vật chất hiện có để phát huy hiệu quả giáo dục của hoạt động, cần phải tiết kiệm, cân đối nguồn ngân sách được giao hàng năm để mua sắm thêm cơ sở vật chất, tài liệu cho hoạt động, đồng thời tranh thủ sự hỗ trợ của các tổ chức xã hội, các doanh nghiệp đóng trên địa bàn, hỗ trợ cho hoạt động.

1.4.5. Phối hợp các lực lượng tham gia giáo dục kỹ năng sống cho học sinh

Các lực lượng tham gia giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trung học cơ sở bao gồm: Gia đình – Cơ sở giáo dục – Xã hội. Để đạt được hiệu quả của công tác giáo dục kỹ năng sống thì cần phải có sự quản lý, phối hợp giữa các đối tượng tham gia giáo dục kỹ năng sống cho học sinh, xây dựng môi trường giáo dục thân thiện để giáo dục học sinh.

Người cán bộ quản lý cần nhận thức được tầm quan trọng của việc phối hợp giáo dục giữa gia đình – cơ sở giáo dục – xã hội để có sự quản lý đúng đắn và linh hoạt bởi lẽ quá trình hình thành và phát triển nhân cách nói chung, các phẩm chất đạo đức, tư tưởng chính trị nói riêng luôn bị chế ước bởi những điều kiện khách quan và chủ quan tác động. Để công tác giáo dục kỹ năng sống cho học sinh đạt hiệu quả cao cần có một môi trường giáo dục lành mạnh, môi trường văn hóa thuận lợi cho giáo dục, trong đó mọi người từ gia đình đến cộng đồng đều cùng nhà trường làm tốt việc định hướng giá trị của xã hội chúng ta.

Cơ sở giáo dục cần phối hợp với các lực lượng giáo dục nhằm tạo mối quan hệ gắn kết giữa cơ sở giáo dục, gia đình và xã hội để thống nhất quan điểm, nội dung, phương pháp giáo dục; xây dựng phong trào học tập và môi trường giáo dục lành mạnh, góp phần xây dựng cơ sở vật chất nhà trường; huy động mọi nguồn lực của cộng đồng chăm lo cho việc giáo dục trẻ nói chung, giáo dục đạo đức nói riêng.

Bên cạnh đó, Cơ sở giáo dục phải làm sao cho xứng đáng là trung tâm giáo dục của địa phương; làm thế nào để địa phương luôn đồng tình, ủng hộ, phối kết hợp nhằm mục đích chung là giáo dục con em nên người, trang bị cho học sinh có kỹ năng sống để thành công trong cuộc sống.

Dù trong hoàn cảnh nào, người quản lý cũng cần quan tâm tổ chức, sắp xếp, tô điểm bộ mặt cơ sở vật chất, khung cảnh sư phạm của cơ sở để toàn bộ khung cảnh có ý nghĩa giáo dục. Ngoài ra, người quản lý cần tạo ra một bầu không khí giáo dục nề nếp, đúng mực, quan hệ thân thiện giữa các thành viên như giữa thày với thày, thày và trò, giữa học sinh với nhau. Với một bầu không khí như vậy, chắc chắn sẽ có tác dụng tích cực đến việc hình thành các kỹ năng sống cho học sinh, góp phần tạo nên phẩm chất tốt đẹp cho học sinh.

1.4.6. Các yêu cầu quản lý giáo dục kỹ năng sống Luận văn: Giáo dục Kỹ năng sống qua dạy học tiếng Anh

Để quản lý giáo dục kỹ năng sống đạt hiệu quả, cơ sở giáo dục mà cụ thể ở đây là Ban lãnh đạo cơ sở giáo dục cần nhận thức rõ tầm quan trọng của việc giáo dục KNS cho học sinh, vai trò quyết định của Ban lãnh đạo cơ sở giáo dục trong công tác quản lý giáo dục KNS. Từ đó quán triệt sâu rộng tới các lực lượng giáo dục nhằm nâng cao nhận thức cho các lực lượng đó.

Khi nhà quản lý nắm vững mục tiêu, nguyên tắc, nội dung, biện pháp giáo dục kỹ năng sống cho học sinh. Trên cơ sở đó xây dựng kế hoạch phù hợp với thực tế cơ sở giáo dục, đảm bảo hiệu quả giáo dục cao.

Xây dựng, bồi dưỡng và phát triển đội ngũ cán bộ giáo viên có trình độ, năng lực giáo dục KNS cho học sinh, có phẩm chất đạo đức tốt, có kỹ năng sống, là những tấm gương sáng trong công tác giáo dục học sinh. Mà bản thân người hiệu trưởng là người đi tiên phong, gương mẫu về mọi mặt nhằm xây dựng được môi trường giáo dục lành mạnh, thân thiện, có ảnh hưởng lớn đến đội ngũ giáo viên và học sinh, có như vậy hiệu quả giáo dục mới cao.

Tổ chức, chỉ đạo sát sao việc thực hiện giáo dục KNS cho học sinh THCS thông qua giảng dạy các môn học, giáo dục đạo đức, giáo dục giá trị sống, tổ chức tốt các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp và các hoạt động văn, thể, mỹ, đặc biệt là câu lạc bộ rèn kỹ năng sống.

Tăng cường kiểm tra đôn đốc, đánh giá, động viên khen thưởng những tập thể, cá nhân tích cực, có chuyển biến tiến bộ trong công tác giáo dục KNS cho học sinh THCS;

Quan tâm chăm lo điều kiện cơ sở vật chất tốt nhất trong điều kiện có thể để phát huy được hiệu quả cao hơn trong công tác giáo dục KNS cho học sinh THCS;

Phối kết hợp chặt chẽ với các lực lượng giáo dục, chính quyền, đoàn thể, cha mẹ học sinh v.v làm tốt công tác xã hội hóa, huy động được các nguồn lực tối đa nhất tạo điều kiện thuận lợi cho công tác giáo dục KNS.

Tiểu kết chương 1

Chương 1 đã tổng thuật một số khái niệm cơ bản như kỹ năng sống, giáo dục kỹ năng sống, quản lý trường học, quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh cũng như đã đi sâu nghiên cứu những lí luận cơ bản về giáo dục kỹ năng sống cho học sinh phổ thông cơ sở. Những nghiên cứu lí luận trong chương 1 là cơ sở để khẳng định tầm quan trọng của việc giáo dục kỹ năng sống cho học sinh. Kỹ năng sống, nhân tố cần thiết trong hình thành, phát triển nhân cách của mỗi cá nhân, giúp các em có kinh nghiệm ứng xử phù hợp. Nó là thước đo của sự phát triển toàn diện đức – trí – thể – mỹ của học sinh, là thước đo sự quan tâm giáo dục của các cơ sở giáo dục đối với thế hệ trẻ của đất nước. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trung học cơ sở đạt hiệu quả cao? Muốn vậy cần những điều kiện nào để nó đạt hiệu quả? Phải chăng hoạt động quản lý của các nhà quản lý ở trường trung học cơ sở sẽ là điều kiện tiên quyết? Nếu đúng vậy họ cần phải có các biện pháp quản lý phù hợp mới có thể thực hiện có kết quả giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trung học cơ sở trong xã hội hiện nay. Những biện pháp này không chỉ được đề xuất dựa trên nền tảng lý luận đã được trình bày ở Chương 1 mà còn trên cơ sở của những phương pháp nghiên cứu và phân tích thực trạng quản lý giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trung học cơ sở tại Cung thiếu nhi Hà Nội ở Chương 2; đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trung học cơ sở tại Cung thiếu nhi Hà nội ở Chương 3 dưới đây. Luận văn: Giáo dục Kỹ năng sống qua dạy học tiếng Anh

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>> Luận văn: Tổng quan về giáo dục Cung thiếu nhi Hà Nội

One thought on “Luận văn: Giáo dục Kỹ năng sống qua dạy học tiếng Anh

  1. Pingback: Luận văn: Biện pháp nâng cao kỹ năng sống cho học sinh THCS

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464