Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Giải pháp PL về cấp giấy phép lao động nước ngoài hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Một số giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật Việt Nam về cấp giấy phép lao động nước ngoài dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
3.1. Một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về cấp giấy phép cho người lao động nước ngoài.
Hoàn thiện pháp luật Việt Nam về cấp giấy phép cho người Lao động nước ngoài cần đáp ứng:
- Thứ nhất, đảm bảo tính hợp Hiến, thống nhất, đồng bộ với hệ thống pháp luật Việt Nam
Hiến pháp là văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực pháp lý cao nhất, tất cả các văn bản quy phạm pháp luật khác luôn phải tuân theo những nguyên tắc mà Hiến pháp đã để ra như là một tư tưởng xuyên suốt trong những quy phạm được đặt ra. Mới đây nhất Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam được Quốc hội khóa XIII, kỳ họp thứ 6 thông qua ngày 28-11-2013, có hiệu lực từ ngày 1-1-2014 là một bản Hiến pháp của thời kỳ đổi mới trên mọi phương diện trong đó có lĩnh vực kinh tế. Sau khi Hiến pháp 2013 được thông qua, hàng loạt các văn bản quy phạm pháp luật được sửa đổi, bổ sung, ban hành mới trên cơ sở, nền tảng là bản Hiến pháp mới.
Luật Lao động 2012 ra đời đã vận dụng và đảm bảo tuân thủ nguyên tắc đảm bảo tính hợp Hiến trong các quy định pháp luật. Chính vì vậy sau khi phát hiện ra những bất cấp trong luật lao động phải cần được sửa đổi. Hiến pháp sẽ là kim chỉ nam cho mọi sự sửa đổi, bổ sung sau này của Luật Lao động 2012 và các văn bản hướng dẫn thi hành cũng không được trái Hiến pháp.
- Thứ hai, đảm bảo sự phù hợp với đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và tình hình thực tiễn. Luận văn: Giải pháp PL về cấp giấy phép lao động nước ngoài.
Việc tiếp tục sửa đổi Luật Lao động khi phát hiện bất cập, hạn chế ngoài việc tuân thủ Hiến pháp còn cần phải phù hợp với đường lối của Đảng trong giai đoạn hiện nay liên quan đến việc xây dựng và thực thi pháp luật về lao động.
- Thứ ba, đảm bảo hài hòa lợi ích của người lao động trong nước và lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam
Người lao động là nguồn lực chính nhằm phát triển đất nước, trong qua trình hội nhập không chỉ tạo ra sự cạnh tranh về lao động có trình độ ký thuật cao mà cả lao động phổ thông, do đó phải đảm bảo sự bình đẳng về quyền và nghĩa vụ của người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam và lao động trong nước mới có thể tạo được một môi trường lao động lành mạnh và hiệu quả. Ví dụ Quyền của người lao động di cư được đề cập một cách sâu sắc và trực tiếp hơn thông qua hai công ước của Tổ chức lao động quốc tế (ILO) là Công ước số 97 (1949) và Công ước số 143 (1975) về lao động di cư. Hai công ước này khẳng định người lao động di cư được đối xử bình đẳng với người lao động bản địa, được hưởng các điều kiện lao động; các chế độ về an sinh xã hội, về giáo dục. Tuy nhiên, phạm vi của hai công ước chỉ áp dụng đối với bản thân người lao động di cư hợp pháp. Trong khi đó, như chúng ta đã biết, toàn cầu hóa làm cho biên giới của các quốc gia trở nên rộng hơn nhưng không phải người lao động di cư nào cũng đi qua biên giới ấy một cách hợp pháp. Ngoài ra, mục đích chung của phần lớn người lao động di cư là vì lý do kinh tế, sự di cư của người lao động phần lớn liên quan đến kinh tế của bản thân và của gia đình. Cùng với những biến động của quá trình di cư, gia đình người lao động di cư cũng sẽ phải chịu nhiều ảnh hưởng, các thành viên trong gia đình họ cũng cần được bảo vệ. Công ước quốc tế về quyền của người lao động di cư và các thành viên trong gia đình năm 1990 (Công ước 1990) vì thế được ban hành như một tất yếu. [46] Luận văn: Giải pháp PL về cấp giấy phép lao động nước ngoài.
- Thứ tư, đảm bảo sự phù hợp với các thông lệ quốc tế
Trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, Việt Nam đã là thành viên của rất nhiều tổ chức kinh tế toàn cầu cũng như khu vực. Chính vì vậy, sự tương thích giữa pháp luật quốc gia và pháp luật quốc tế là điều cần thiết phải làm. Trong quá trình xây dựng, ban hành và sửa đổi Bộ Luật Lao động bên cạnh sự phù hợp với văn bản có giá trị pháp lý cao hơn, với chủ trương, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước thì sự phù hợp với các thông lệ, tập quán quốc tế là vấn đề không thể bỏ qua, đặc biệt là cam kết quốc tế Của Việt Nam. Để thực hiện được điều này, cần căn cứ vào các điều ước quốc tế về kinh tế mà Việt Nam là thành viên để tiến hành quá trình nội luật hóa sao cho vừa giữ được bản sắc, phù hợp với tình hình thực tiễn đất nước, vừa có sự tương đồng với cộng đồng quốc tế. Hoàn thiện pháp luật lao động phải tiếp cận tiêu chuẩn lao động quốc tế trong bối cảnh toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế. Là một nước thành viên của ILO, trong điều kiện hội nhập kinh tế và toàn cầu hoá trong nhiều lĩnh vực, hệ thống pháp luật lao động của Việt Nam cần tiếp cận rộng rãi hơn nữa với các tiêu chuẩn lao động quốc tế. Việc tiếp cận các tiêu chuẩn lao động quốc tế không chỉ bó hẹp trong 21 Công ước của ILO mà Việt Nam đã phê chuẩn mà còn phải tính đến các nguyên tắc cơ bản của ILO như loại bỏ lao động cưỡng bức, việc làm đầy đủ và nhân văn, tự do liên kết và thương lượng tập thể, chống phân biệt đối xử, đảm bảo các quyền cơ bản của người lao động tại nơi làm việc ví dụ các công ước của ILO Việt Nam đã tham gia như: công ước 122 (09/7/1964) về chính sách việc làm; Công ước của Tổ chức lao động quốc tế liên quan đến an toàn, vệ sinh lao động công ước 187(có hiệu lực 2009) Việt Nam gia nhập 2014. [45] Như vậy, việc hoàn thiện pháp luật lao động phải dựa trên cả những Công ước mà Việt Nam chưa phê chuẩn như: Công ước 87 (1948) về quyền tự do liên kết và quyền tổ chức; Công ước số 98 (1949) về nguyên tắc của quyền tổ chức và thương lượng tập thể; Công ước số 131 về ấn định tiền lương tối thiểu đặc biệt đối với các nước đang phát triển; Công ước số 88 về tổ chức dịch vụ việc làm; Công ước số 142 về hướng nghiệp và đào tạo nghề trong phát triển nguồn nhân lực (1975);. Điều đó có nghĩa là, hệ thống pháp luật lao động phải thể chế hoá các Công ước này, tạo ra điều kiện để nước ta có thể phê chuẩn các Công ước này trong thời gian tới. Khi đưa các tiêu chuẩn quốc tế vào pháp luật quốc gia sẽ làm cho người sử dụng lao động buộc phải thực hiện chúng và điều đó tạo điều kiện cho các doanh nghiệp Việt Nam hội nhập tốt hơn trong việc thực hiện các tiêu chuẩn lao động, các quy tắc ứng xử liên quan đến tiêu chuẩn lao động. Nếu không tiếp cận các tiêu chuẩn lao động quốc tế trong hệ thống pháp luật thì các doanh nghiệp Việt Nam sẽ tốn kém khi đăng ký các bộ quy tắc ứng xử (COC) như là điều kiện để xuất hàng hoặc tránh bị chèn ép trong xuất khẩu.
Một số quy định về quản lý lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam còn hạn chế, cần được sửa đổi, bổ sung. Ví dụ: quy định về điều kiện đối với lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam phải có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao, trong khi chưa có tiêu chí cụ thể để xác định lao động nước ngoài có trình độ cao vào làm việc tại Việt Nam hiện nay, việc xác định không dựa vào kỹ năng nghề nghiệp mà chủ yếu vẫn dựa trên bằng cấp đạt được hoặc kinh nghiệm khai theo lý lịch của người lao động gây khó khăn trong khâu thẩm định, cấp giấy phép lao động đối với lao động nước ngoài làm hạn chế giá trị thực tiễn của các quy định về quản lý, cấp giấy phép lao động đối với lao động nước ngoài. Mặt khác, quy định này không còn phù hợp với thực tiễn hiện nay là có những công việc đơn giản nhưng lao động Việt Nam không thể đáp ứng được hoặc đáp ứng không đủ và các nhà thầu nước ngoài buộc phải đưa lao động nước ngoài vào Việt Nam làm việc song không được cấp giấy phép lao động gây thất thu cho ngân sách nhà nước và bỏ sót một bộ phận lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam không được quản lý. Để thể chế hóa Hiến pháp năm 2013, cụ thể về Điều 12 về việc đảm bảo “tuân thủ Hiến chương Liên hợp quốc và điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên” và Điều 48 “Người nước ngoài cư trú ở Việt Nam phải tuân theo Hiến pháp và pháp luật Việt Nam; được bảo hộ tính mạng, tài sản và các quyền, lợi ích chính đáng theo pháp luật Việt Nam.” thì cần xem xét sửa đổi việc mở rộng hơn các cơ hội làm việc của lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam phù hợp với các cam kết trong Hiệp định TPP, các cam kết với ASEAN về lao động…[55] Luận văn: Giải pháp PL về cấp giấy phép lao động nước ngoài.
Việc tham chiếu pháp luật Việt Nam về cấp giấy phép lao động phải phù hợp với các công ước về lao động của ILO đảm bảo trên cơ sở Hiến pháp Việt Nam, nhằm tạo ra sự bình đẳng giữa lao động trong nước và lao động nước ngoài có thể góp phần luôn chuyển lao động giữa các nước một cách thuận lợi.
- Thứ năm, tiếp tục hoàn thiện cơ chế thị trường, đổi mới các công cụ quản lý của nhà nước trong lĩnh vực lao động đặc biệt là công cụ giấy phép lao động.
Để tạo điều kiện thuận lợi cho những yếu tố của thị trường lao động phát triển. Nhà nước ban hành đồng bộ, kịp thời các văn bản pháp quy cho sự phát triển của thị trường lao động trong điều kiện hội nhập, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu lao động, tăng khả năng và cơ hội tìm việc làm cho người lao động. Cải thiện các quy định pháp lý, tăng cường hiệu lực thực thi pháp luật, có các biện pháp hữu hiệu bảo vệ quyền lợi chính đáng của người lao động trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI), doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Tăng cường việc quản lý lao động nước ngoài tại Việt Nam bằng việc ứng dụng công nghệ thông tin, tổ chức triển khai thực hiện cấp giấy phép lao động cho người Lao động nước ngoài qua mạng điện tử theo quy định tại Nghị quyết số 36a/NQ- CP ngày 14/10/2015 của Chính phủ về Chính phủ điện tử. Bộ LĐ,TB&XH đề nghị UBND các tỉnh, TP trực thuộc T.Ư chỉ đạo các cơ quan chức năng của địa phương tổ chức thực hiện thống nhất việc cấp giấy phép lao động cho lao động nước ngoài qua mạng điện tử tại cổng thông tin điện tử http://dvc.vieclamvietnam. Tổ chức tuyên truyền, phổ biến cho các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp trên địa bàn quy định về cấp giấy phép lao động cho lao động nước ngoài qua mạng điện tử.
Giao Sở LĐ,TB&XH tại địa phương tổ chức hướng dẫn, tập huấn cho Ban quản lý các Khu công nghiệp, Khu chế xuất, Khu công nghệ cao và người sử dụng lao động trên địa bàn để áp dụng cấp giấy phép lao động cho lao động nước ngoài qua mạng điện tử. Đồng thời, cập nhật cơ sở dữ liệu về tình hình giấy phép lao động của lao động nước ngoài đang còn hiệu lực trên địa bàn quản lý tại cổng thông tin điện tử http://dvc.vieclamvietnam. hoàn thành trước ngày 3/4/2017. Bố trí kinh phí, cơ sở hạ tầng và nhân lực thực hiện thống nhất việc cấp giấy phép lao động cho lao động nước ngoài tại địa phương qua mạng điện tử. Báo cáo tình hình tổ chức triển khai thực hiện việc cấp giấy phép lao động qua mạng điện tử, đề nghị gửi về Bộ trước ngày 1/4/2017. Văn phòng UBND TP Hà Nội đã ban hành Công văn số 1780/VP- KGVX đề nghị sở, ngành liên quan thực hiện việc cấp giấy phép lao động cho lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam qua mạng điện tử.[54]
- Thứ sáu, tiếp tục rà soát, sửa đổi, bổ sung quy định, quy trình cấp phép cho lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam
Nhằm đảm bảo thuận lợi cho các nhà đầu tư và công tác quản lý người nước ngoài làm việc tại Việt Nam.
3.2. Một số kiến nghị cụ thể Luận văn: Giải pháp PL về cấp giấy phép lao động nước ngoài.
3.2.1. Kiến nghị về mặt pháp lý (các quy định pháp luật về giấy phép lao động nước ngoài)
- Nhanh chóng ban hành văn bản hướng dẫn chi tiết thi hành Nghị định 11/2016/NĐ-CP và sửa đổi , bổ sung Bộ Luật Lao động năm 2012 và các văn bản pháp luật có liên quan.
Kể từ khi ra đời, Bộ luật Lao động đã góp phần không nhỏ trong việc điều tiết, tuy nhiên với vai trò là văn bản luật, nhiều quy định của Luật Lao động sẽ có những quy định chung mang tính định hướng cần được hướng dẫn cụ thể hơn nữa thông qua các văn bản dưới luật. Các quy định được đưa ra trong Luật lao động năm 2012 mặc dù đã được quy định khá cụ thể song trong giới hạn văn bản luật nhiều vấn đề sẽ không được diễn giải trong từng trường hợp cụ thể. Nghị định 11/2016/NĐ-CP hướng dẫn khá chi tiết về vấn đề cấp phép lao động nước ngoài nhưng vẫn cần nhanh chóng ban hành văn bản hướng dẫn (thông tư mới) nghị định có thể đi vào thực tiễn nhanh hơn, dễ dàng hơn. Vì cùng với Bộ luật Lao động năm 2012, các đạo luật ban hành gần đây như: Luật Nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam năm 2014, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, ngoài ra còn có nhiều văn bản hướng dẫn của các bộ ngành… cũng có các quy định liên quan đến người lao động nước ngoài vào Việt Nam làm việc và liên quan đến cấp giấy phép lao động vẫn còn chồng chéo, thiếu tính hệ thống và đồng bộ. Trước thách thức thực thi các hiệp định thương mại tự do song phương và đa phương, đặc biệt là Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP), việc ban hành các chế độ, chính sách phù hợp các nội dung quy định của những hiệp định trên là vấn đề cấp bách. Trước tiên phải khẩn trương sửa đổi bộ luật Lao động năm 2012. Ngoài ra cần nhanh chóng sửa đổi bổ sung thông tư số 14/2013/TT- BYT của Bộ y tế ngày 6/5/2013 và thông tư số 41/2014/TT-BCT của bộ công thương ngày 05/11/2014 có những quy định liên quan đến lao động nước ngoài tại Việt nam cho phù hợp với thực tế hiện nay. Cuối năm 2016, Bộ LĐTBXH ban hành Thông tư 40/2016/TT-BLĐTBXH hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định 11/2016/NĐ-CP về lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam thay thế thông tư 03/2014/TT-BLĐTBXH. Bộ công thương ban hành thông tư 35 thay thế thông tư 41/2014/TT-BCT. Các thông tư này cần kiểm nghiệm thực tế và nghiên cứu trong một thời gian để tiếp tục hoàn thiện hơn.
- Sửa đổi bổ sung các quy định về điều kiện cấp giấy phép lao động
Cần quy định rõ các loại giấy tờ chứng minh người lao động nước ngoài là nhà quản lý, giám đốc điều hành, chuyên gia hoặc lao động kỹ thuật, vì Nghị định lại không quy định rõ giấy tờ chứng minh ở đây được hiểu là những loại giấy tờ nào. Việc quy định chung chung như trên sẽ gây khó khăn cho doanh nghiệp Việt Nam, người lao động nước ngoài khi thực hiện nghĩa vụ chứng minh với Sở Lao động thương binh và Xã hội, trong khi đó quy định cũ trước đây (Nghị định 102/2013/NĐ-CP) là chỉ cần văn bản xác nhận. Luận văn: Giải pháp PL về cấp giấy phép lao động nước ngoài.
Quy định rõ thời gian cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam để cấp phiếu lý lịch tư pháp do cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp, đặc biệt là trong trường hợp xin giấy phép lao động tại Việt Nam. Nên chăng quy định này sửa đổi theo hướng trong hồ sơ xin giấy phép lao động tại Việt Nam, ngoài Phiếu lý lịch tư pháp do cơ quan của nước mà người nước ngoài là công dân hoặc cư trú trước khi đến Việt Nam cấp, trường hợp người nước ngoài cư trú tại Việt Nam từ 03 hoặc 06 tháng trở lên mới cần có Phiếu lý lịch tư pháp do cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp. Để tạo điều kiện thuận lợi và tránh gây lãng phí về thời gian và vật chất không cần thiết cho lao động nước ngoài trong việc hoàn thiện hồ sơ xin cấp giấy phép lao động và các thủ tục hành chính khác…,
Cần sửa đổi, bổ sung về hồ sơ cấp giấy phép lao động, điều kiện cấp giấy phép lao động cần tập trung bỏ quy định sau: Bỏ quy định hồ sơ phải có văn bản xác nhận không phải là người phạm tội hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật nước ngoài và pháp luật Việt Nam; Bỏ quy định phải có giấy chứng nhận sức khỏe được cấp ở nước ngoài hoặc Việt Nam; Bỏ quy định xác nhận kinh nghiệm, trình độ cho lao động nước ngoài trong một số trường hợp, ví dụ như giáo viên dạy tiếng anh…
Cần đơn giản hóa thủ tục: Đối với lao động nước ngoài đã được cấp giấy phép lao động cần giảm thủ tục hành chính, giảm thủ tục cấp giấy phép lao động cho các trường hợp: đối với người nước ngoài đã được cấp giấy phép lao động và đang còn hiệu lực mà có nhu cầu làm việc cho doanh nghiệp khác cùng vị trí công việc đã ghi trong giấy phép lao động; đối với người nước ngoài đã được cấp giấy phép lao động và đang còn hiệu lực mà có nhu cầu làm công việc khác vị trí công việc đã ghi trong giấy phép lao động; đối với người nước ngoài đã đươc cấp giấy phép lao động nhưng hết hiệu lực hoặc vô hiệu có nhu cầu làm việc cho doanh nghiệp khác cùng vị trí công việc đã ghi trong giấy phép lao động.
Bổ sung điều luật quy định thống nhất và chi tiết trong một văn bản quy định cơ quan có thẩm quyền cấp giấy phép lao động cho từng nhóm đối tượng hoặc đối tượng cụ thể. Luận văn: Giải pháp PL về cấp giấy phép lao động nước ngoài.
Sẽ tránh việc phải tìm hiểu thêm các quy định pháp luật chuyên ngành, gây mất thời gian và tốn kém. Mỗi nơi lại có những yêu cầu, đòi hỏi riêng, làm mất thời gian, công sức của người lao động khi đi xin cấp phép mà hiệu quả chưa thực sự tốt. Ví dụ một luật sư nước ngoài không phải là đối tượng để cấp giấy phép lao động chung. Tuy nhiên, để hành nghề luật ở Việt Nam, một luật sư nước ngoài phải được Cơ quan có thẩm quyền (Bộ Tư pháp) cấp một Giấy phép hành nghề riêng biệt. Giấy phép này được coi là một loại giấy phép lao động đặc biệt (quy định chi tiết tại điều 82 Luật luật sư năm 2012).
Những người hành nghề báo sẽ được Bộ Ngoại giao cấp một giấy phép hoạt động thuộc lĩnh vực thông tin và truyền thông tại Việt Nam theo quy định của pháp luật (điểm c khoản 3 Điều 7 Nghị định 11/2016/NĐ-CP).
Bổ sung quy định miễn giấy phép lao động với tượng lao động di chuyển tự do trong khối cộng đồng chug Asean hoặc giảm tối đa thủ tục trong hồ sơ đề nghị cấp giấy phép lao động với những đối tượng này. Vì cộng đồng kinh tế chung Asean đã chính thức thành lập ngày 31/12/2015 tạo thuận lợi cho lao động có tay nghề cao di chuyển thuận lợi tự do trong khối.
Ban hành đạo luật riêng quy định về lao động nước ngoài trong đó có chế định riêng quy định chi tiết về cấp giấy phép lao động cho người nước ngoài hoặc tiến tới nghiên cứu xây dựng một đạo luật riêng quy định về cấp giấy phép lao động để phù hợp với thực tế.
Ngoài ra cần nghiên cứu bổ sung quy định, quy trình cấp phép cho lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam, đảm bảo thuận lợi cho các nhà đầu tư và công tác quản lý người nước ngoài làm việc tại Việt Nam. Quy định chặt chẽ hơn quy trình cấp phép lao động, giảm bớt hiện tượng Lao động nước ngoài lách luật, làm việc tại Việt nam không đúng nội dung đã được cấp phép (sai về nơi làm việc, sai về nghề nghiệp, sai về trình độ,….).
3.2.2. Kiến nghị nhằm tăng cường hiệu quả thực thi pháp luật về cấp giấy phép lao động nước ngoài tại Việt Nam Luận văn: Giải pháp PL về cấp giấy phép lao động nước ngoài.
- Tăng cường việc thực thi pháp luật, nâng cao năng lực và hiểu biết pháp luật của người lao động và sử dụng lao động
Thường xuyên nâng cao công tác tập huấn đào tạo hiểu biết pháp luật cho người lao động và người lao động nhất là người dụng lao động nước ngoài tại Việt Nam, nâng cao hiểu biết góp phần đảm bảo quyền lợi tránh mất thời gian thiệt hạị do sự thiếu hiểu biết về pháp luật lao động nhất là các quy định pháp luật về lao động nước ngoài tại Việt Nam. Thực hiện đúng pháp luật nhằm đảm bảo quyền lợi cho người lao động và sử dụng lao động. Vì khi người sử lao động không giấy phép, người sử lao động bị phạt kể cả việc không báo cáo việc sử dụng lao động nước ngoài theo quy định, còn người lao động không giấy phép sẽ bị trục xuất. Điều này sẽ gây phiền hà làm mất thời gian, tiền bạc, ảnh hưởng đến công tác quản lý lao động nước ngoài.
- Nâng cao chất lượng hoạt động của hệ thống các cơ quan quản lý nhà nước, các cơ quan tư pháp
Nước ta mỗi địa phương có điều kiện kinh tế và địa lý khách nhau nên vấn đề cấp phép lao động sẽ không hề đơn giản, lượng hồ sồ xin cấp phép mới, cấp lại giấy phép và tục liên quan..tăng nên áp lực công việc rất cao, đối với cơ quan cấp giấy phép lao đông nước ngoài cần nâng cao trách nhiệm trong quá trình xem xét hồ sơ cấp phép, cấp lại… phải linh hoạt, đơn giản hóa thủ tục hành chính tránh phiền hà, đầu tư ứng dụng công nghệ thông tin vào quản lý thường xuyên tập huấn nâng cao trình độ và đạo đức nghề nghiệp các cán bộ cơ quan quản lý nhà nước, các cơ quan tư pháp, ngoài ra cần phối hợp đồng bộ giữa các cơ quan này.
- Đẩy mạnh công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm
Gần đây có sự gia tăng đột biến lượng Lao động người nước ngoài vào Việt Nam. Họ nhập cảnh theo hình thức du lịch, được các doanh nghiệp, tổ chức tuyển vào làm thời vụ, giao kết Hợp đồng lao động và làm việc khi chưa có giấy phép lao động dựa trên sự lợi dụng quy định người nước ngoài làm việc có thời hạn dưới ba tháng được miễn giấy phép lao động. Do vậy, lực lượng công an cần tăng cường thanh tra những đối tượng cư trú không đúng mục đích nhập cảnh. Việc gia hạn visa cũng cần phải siết chặt, đã quy định rõ mục đích Visa , không cho phép chuyển đổi mục đích góp phần vào việc giảm thiểu số đối tượng núp bóng đi du lịch để ở lại lao động bất hợp pháp tại Việt Nam. Theo Luật nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam năm 2014 quy định: Visa, thị thực cho người nước ngoài không được chuyển đổi mục đích (Điều 7). Nhưng cũng là vấn đề bất cập khi người nước ngoài muốn cấp phép lao động lại phải xin lại visa với mục đích làm việc, nhiều người khi visa làm việc sắp hết hạn không kịp xin cấp lại hoặc người sử dụng lao động chưa kịp làm thủ tục để cấp visa với mục đích làm việc, Vì vậy có trường hợp người nước ngoài đã chót đặt lịch nhập cảnh quay trở lại Việt Nam lại phải tạm thời xin cấp visa với mục đích du lịch để nhập cảnh vào Việt Nam, phải chờ hết hạn visa du lịch 03 tháng mới được làm Visa mục đích làm việc để có thể xin cấp giấy phép lao động. Điều này gây mất thời gian tốn kém tiền của cho người lao động nước ngoài và ảnh hưởng đến nhu cầu của người sử dụng lao động. Luận văn: Giải pháp PL về cấp giấy phép lao động nước ngoài.
Thời gian qua, với vai trò quản lý nhà nước, Sở LĐTBXH ở nhiều tỉnh, thành đã tổ chức nhiều đợt thanh tra, kiểm tra tình hình sử dụng Lao động nước ngoài trên địa bàn, đồng thời áp dụng nhiều biện pháp như nhắc nhở, xử phạt hành chính. Tuy nhiên, bên cạnh đó, ở nhiều địa bàn, việc thanh tra và xử lý vi phạm diễn ra một cách chiếu lệ, nửa vời, kéo dài, không dứt điểm, không thể hiện đúng tinh thần thượng tôn của pháp luật, dẫn đến tình trạng sử dụng trái phép Lao động nước ngoài có xu hướng gia tăng và để lại những hậu quả nghiêm trọng. Vì vậy, việc thanh tra và xử lý nghiêm minh các vi phạm trong lĩnh vực này là giải pháp hết sức cần thiết hiện nay. Cũng cần có cơ chế khuyến khích, chào đón những nhân sự có đẳng cấp quốc tế gia nhập thị trường lao động Việt Nam, phục vụ mục tiêu hiện đại hóa đất nước. Mặt khác, cần hình thành “một bộ lọc tốt để những lao động phổ thông chất lượng thấp không thể thẩm thấu vào thị trường nội địa”. Và điều quan trọng hơn nhiều, là phải tìm được cách tối ưu nhất nâng cấp nguồn nhân lực Việt Nam. Tăng thêm mức phạt hành chính theo quy định về việc vi phạm của người sử dụng lao động không giấy phép hoặc giấy phép hết hạn không cấp lại. [12]. Ngoài việc trục xuất lao động nước ngoài không có giấy phép lao động theo quy định của pháp luật, đồng thời cần bổ sung thêm chế tài phạt tiền người lao động nước ngoài không có giấy phép.
Cần xây dựng cơ chế liên ngành về công tác quản lý Lao động nước ngoài, Sở Lao động Thương Binh & Xã hội các tỉnh, thành phố phải phối hợp với các khu công nghiệp, công an tỉnh phải thường xuyên tuyên truyền, phổ biến chính sách pháp luật lao động tới các doanh nghiệp; đồng thời đẩy mạnh việc thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm về tình hình sử dụng lao động, việc cấp Giấy phép Lao động nước ngoài, nhất là các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) để có hướng giải quyết phù hợp.
Đời sống luôn vận động biến đổi, các quy định cũ của pháp luật không tránh khỏi những lạc hậu so với thực tế, việc nghiên cứu sửa đổi các quy định pháp luật về cấp giấy phép lao động là vấn đề cấp bách và lâu dài có sự tham gia nghiên cứu, đầu tư của các cơ quan chức năng cùng với các chuyên gia pháp luật, toàn thể người lao động và sử dụng lao động. Việc hoàn thiện các thể chế, bãi bỏ một số quy định không phù hợp, sửa đổi bổ sung các quy định mới sẽ góp phần tăng cường hiệu quả thực thi pháp luật về giấy phép lao động phù hợp với thông lệ quốc tế, các cam kết của Việt Nam khi tham gia hội nhập kinh tế quốc tế và tạo điều kiện cho môi trường lao động được bình đẳng.
KẾT LUẬN Luận văn: Giải pháp PL về cấp giấy phép lao động nước ngoài.
Nền kinh tế thị trường hiện nay và mai sau, xu hướng lao động nước ngoài vào Việt Nam ngày càng nhiều. Việc thay đổi các quy định cho phù hợp với thực tiễn, đơn giản thuận tiện trong cấp giấy phép lao động là hết sức quan trọng giúp pháp triển nền kinh tế nước nhà nhanh chóng. Việc ban hành Nghị định số 11/2016/NĐ-CP đã góp phần khắc phục được những bất cập trong các văn bản pháp luật trong thời gian qua quy định về cấp giấy phép cho lao động nước ngoài tại Việt Nam, phù hợp và tương đồng với hệ thống văn bản pháp luật lao động về lao động nước ngoài tuy nhiên khi áp dụng trên thực tế đời sống luôn vận động sẽ khó tránh khỏi những bất cập, hạn chế. Sắp tới, khi ban hành các văn bản hướng dẫn, cơ quan chức năng cần xem xét để tạo điều kiện thuận lợi hơn nữa cho người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam, đồng thời vẫn đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật trong điều chỉnh thị trường lao động Việt Nam. Việt Nam đang trong quá trình hội nhập quốc tế sâu rộng, việc không ngừng học hỏi nghiên cứu để hoàn thiện các quy định của pháp luật Việt Nam về cấp giấy phép lao động là vấn đề cấp bách,việc xây dựng pháp luật trên cơ sở phù hợp với các cam kết quốc tế về lao động sẽ tạo ra hành lang pháp lý một cách đồng bộ, thống nhất nhằm đảm bảo quyền lợi của người lao động trong nước và nước ngoài đến làm việc, đảm bảo an ninh chính trị, trật tự xã hội là một trong những nhân tố thúc đẩy nền kinh tế phát triển ổn định.
Trong khuôn khổ luận văn thạc sỹ, tác giả đã phân tích được các vấn đề lý luận liên quan đến cấp giấy phép lao động và ý nghĩa của việc cấp giấy phép lao động nước ngoài tại Việt Nam. Đồng thời trên cơ sở so sánh giữa Nghị định 11/2016/NĐ-CP và Nghị định cũ 102/2013/NĐ-CP phân tích và chỉ ra thực trạng thực thi pháp luật. Từ đó đưa ra những ý kiến đề xuất nhằm hoàn thiện quy định pháp luật và nâng cao hiệu quả việc cấp giấy phép lao động trong thời kỳ Việt Nam hội nhập quốc tế.
Với mong muốn làm sáng tỏ phần nào những quy định pháp luật về cấp giấy phép lao động nước ngoài tại Việt Nam trên tinh thần của các quy định pháp luật lao động hiện hành. Từ đó tác giả đưa ra những đánh giá phân tích nhằm đem đến cái nhìn toàn diện hơn về vấn đề này. Đề tài nghiên cứu được tác giả thực hiện nghiêm túc, tìm tòi và nghiên cứu một cách cụ thể song sẽ không tránh được những thiếu sót hạn chế. Vì vậy rất mong nhận được sự chỉ dẫn và góp ý của các thầy cô giáo để luận văn được hoàn thiện hơn. Luận văn: Giải pháp PL về cấp giấy phép lao động nước ngoài.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Pháp luật VN về cấp giấy phép lao động nước ngoài

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com
