Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Giải pháp pháp luật về thẩm quyền xét xử của Tòa án hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Hoàn thiện pháp luật và các giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về thẩm quyền xét xử của Tòa án (trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn tại địa bàn tỉnh Hà Giang). dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
3.1. Cơ sở và định hướng nâng cao hoàn thiện pháp luật và các giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về thẩm quyền xét xử
3.1.1. Đáp ứng yêu cầu về cải cách tư pháp thể hiện trong các văn kiện, nghị quyết của Đảng
Việc phân định thẩm quyền xét xử sơ thẩm xuất phát từ quan điểm có tính chất chỉ đạo, định hướng cho quá trình về cải cách tư pháp thể hiện trong các văn kiện của Đảng như: Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020; Nghị quyết số 48- NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020. Việc phân định thẩm quyền xét xử sơ thẩm của TA phải đảm bám sát mục tiêu đã đề ra: xây dựng nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công lý, từng bước hiện đại hoá, phục vụ nhân dân, phụng sự Tổ quốc; hoạt động tư pháp mà trọng tâm là hoạt động xét xử được tiến hành có hiệu quả và hiệu lực cao. Trong quá trình cải cách tư pháp, nhiệm vụ hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật hình sự và thủ tục tố tụng tư pháp được đặt lên đầu tiên, trong đó chỉ rõ “Xác định rõ chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền và hoàn thiện tổ chức, bộ máy các cơ quan tư pháp. Trọng tâm là xây dựng, hoàn thiện tổ chức và hoạt động của tòa án nhân dân” đặt ra trong cải cách tư pháp, theo sát những thay đổi trong quan điểm chỉ đạo thể hiện trong các kết luận: Kết luận số 79-KL/TW ngày 28/7/2010 về Đề án đổi mới tổ chức và hoạt động của TA, VKS và CQĐT; Kết luận 92-KL/TW ngày 12/3/2014 về việc tiếp tục thực hiện Cải cách tư pháp theo nghị quyết số 49/NQ-TW.
3.1.2. Đáp ứng yêu cầu về xây dựng Nhà nước pháp quyền
Việc phân định rõ thẩm quyền xét xử trong TTHS đáp ứng yêu cầu về xây dựng Nhà nước pháp quyền với những nội dung sau: đáp ứng được yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm; đảm bảo quyền tự do dân chủ của công dân; đảm bảo tính tiết kiệm và hiệu quả của các hoạt động tố tụng; là cơ sở để tổ chức bộ máy cơ quan tư pháp; việc phân định thẩm quyền xét xử sơ thẩm là cơ sở cho việc xác định thẩm quyền xét xử phúc thẩm, tái thẩm.
3.1.3. Để phù hợp với Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và các văn bản luật đã ban hành Luận văn: Giải pháp pháp luật về thẩm quyền xét xử của Tòa án.
Việc phân định thẩm quyền xét xử với các giải pháp hoàn thiện pháp luật bảo đảm cụ thể hóa quy định trong Hiến pháp 2013 có hiệu lực pháp luật từ ngày 01/01/2014 với các điều luật quy định về thẩm quyền xét xử như: nhiệm vụ, quyền hạn của TAND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tại Điều 37 [44, tr.28-29]; nhiệm vụ, quyền hạn của TAND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương quy định tại Điều 44…
Giải pháp hoàn thiện pháp luật về xét xử sơ thẩm bảo đảm phù hợp với quy định trong Luật tổ chức TAND năm 2014; BLTTHS năm 2015 về thẩm quyền xét xử sơ thẩm của TA.
3.1.4. Đáp ứng yêu cầu của thực tiễn đấu tranh, xử lý tội phạm
Trong thực tế hiện nay, án hình sự tồn đọng vẫn còn mặc dù đã tăng thẩm quyền cho xét xử sơ thẩm cho TA cấp huyện nhưng vẫn còn bộ lộ những bất hợp lý, số án dồn lên cho cấp tỉnh xét xử rất nhiều. Việc TAND cấp tỉnh phải xét xử phần lớn các vụ án gây khó khăn cho sự tham dự phiên tòa của những người tham gia tố tụng như: người làm chứng; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; nguyên đơn dân sự…những người này vắng mặt tại phiên tòa làm ảnh hưởng rất lớn đế việc giải quyết vụ án được nhanh chóng, kịp thời và khách quan. Do vậy, việc nghiên cứu thẩm quyền xét xử sơ thẩm hình sự có ý nghĩa rất quan trọng trong giai đoạn hiện nay khi nước ta đang tiến hành cuộc cải cách toàn diện trong lĩnh vực tư pháp mà một nội dung quan trọng trọng tâm chính là hoàn thiện thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ án hình sự của các cấp TA nhằm đáp ứng yêu cầu của thực tiễn đấu tranh, xử lý tội phạm.
3.1.5. Đáp ứng yêu cầu của xu thế hội nhập quốc tế
Phân định thẩm quyền xét xử sơ thẩm bảo đảm đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế, bởi thể hiện việc Việt Nam tuân thủ các nguyên tắc của pháp luật quốc tế, các quy định của Điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc gia nhập đồng thời tôn trọng các tập quán quốc tế phù hợp với các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế hiện đại. Đặc biệt các giải pháp nâng cao chất lượng xét xử tạo điều kiện thực thi quy định tại Điều 14 Công ước về các quyền dân sự và chính trị 1966 mà Việt Nam tham gia. Việc nâng cao chất lượng xét xử sơ thẩm bảo vệ quyền con người, đưa ra được các bảo đảm có khả năng thực thi trên thực tế, có ý nghĩa trong quá trình toàn cầu hóa. Luận văn: Giải pháp pháp luật về thẩm quyền xét xử của Tòa án.
Nâng cao chất lượng xét xử sơ thẩm đề xuất các giải pháp dựa trên 5 quan điểm mang tính chỉ đạo xuyên suốt quá trình cải cách tư pháp là:
Thứ nhất, cải cách tư pháp phải bảo đảm ổn định chính trị, bản chất Nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, quyền lực Nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp giữa các cơ quan Nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp;
Thứ hai, cải cách tư pháp phải xuất phát từ yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội, xây dựng xã hội công bằng, dân chủ, văn minh; góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội, bảo vệ vững chắc Tổ quốc; gắn với đổi mới công tác lập pháp, cải cách hành chính;
Thứ ba, phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn xã hội trong quá trình cải cách tư pháp. Các cơ quan tư pháp, cơ quan bổ trợ tư pháp phải đặt dưới sự giám sát của các cơ quan dân cử và nhân dân;
Thứ tư, cải cách tư pháp phải kế thừa truyền thống pháp lý dân tộc, những thành tựu đạt được của nền tư pháp XHCN Việt Nam; tiếp thu có chọn lọc những kinh nghiệm của nước ngoài phù hợp với hoàn cảnh nước ta và yêu cầu chủ động hội nhập quốc tế; đáp ứng được xu thế phát triển của xã hội trong tương lai;
Thứ năm, cải cách tư pháp phải được tiến hành khẩn trương, đồng bộ, có trọng tâm, trọng điểm với những bước đi vững chắc.
3.2. Hoàn thiện pháp luật Luận văn: Giải pháp pháp luật về thẩm quyền xét xử của Tòa án.
Bộ luật TTHS năm 2003 là văn bản pháp lý cơ bản quy định về thẩm quyền xét xử sơ thẩm của TAND các cấp. Điều 178 của Bộ luật đã quy định về thẩm quyền xét xử sơ thẩm của TA về cơ bản là phù hợp. Tuy nhiên, trong quá trình áp dụng vẫn gặp phải một số bất cập cần phải sửa đổi, cụ thể như:
Thứ nhất, Bộ luật TTHS hạn chế nhiều trường hợp vụ án hình sự về tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng và tội phạm rất nghiêm trọng mà TA cấp huyện không được xét xử tại điểm c khoản 1 Điều 170 BLHS.
Quy định này chỉ phù hợp với trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của các cán bộ thời kỳ trước khi BLTTHS năm 2015 ban hành. Còn hiện nay cơ sở vật chất cũng như trình độ nghiệp vụ, chuyên môn của cán bộ các cơ quan tiến hành tố tụng ở cấp huyện đã được khắc phục, nặng lực thực tế của các cán bộ này cũng đã được nâng cao.
Thực tiễn ở TAND tỉnh Hà Giang cho thấy tỷ lệ án tồn đọng ở TAND cấp huyện rất ít, chiếm tỷ lệ nhỏ không đáng kể, chất lượng xét xử được nâng cao, tỷ lệ kháng cáo, kháng nghị thấp… Vì vậy, TAND cấp huyện có khả năng sẽ thực hiện tốt thẩm quyền của mình nếu được giao thêm một số thẩm quyền xét xử, chẳng hạn. Vì vậy, trong tương lai có thể sửa đổi theo hướng tăng thêm thẩm quyền xét xử cho TAND cấp huyện.
Do đó, theo chúng tôi, đối với các tội xâm phạm an ninh quốc gia quy định tại Chương XI là tội phạm liên quan đến sự vững mạnh cũng như sự tồn vong của Nhà nước, của chế độ và việc xử lý các tội phạm này đòi hỏi phải có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan tiến hành tố tụng và các cơ quan hữu quan khác thì quy định về thẩm quyền xét xử cho cấp tỉnh hiện nay là phù hợp. Tuy nhiên, đối với hầu hết các tội của định tại điểm c khoản 1 Điều 170 BLTTHS năm 2003, điểm c khoản 1 Điều 268 BLTTHS năm 2015 theo chúng tôi hiện nay là TA cấp huyện đã có khả năng xét xử hầu hết các tội phạm này. Vì vậy, chỉ nên quy định TA cấp huyện không được xét xử một số tội phạm quy định tại điều luật thay vì 21 điều như BLTTHS năm 2015. Cụ thể là các Điều 123 tội giết người; Điều 277 tội vi phạm quy định về điều khiển tàu bay; Điều 278 tội cản trở giao thông đường không; Điều 279 tội đưa vào sử dụng phương tiện giao thông đường không không đảm bảo an toàn; Điều 280 tội điều động hoặc giao cho người không đủ điều kiện điều khiển các phương tiện giao thông đường không; Điều 282 tội chiếm đoạt tàu bay, tàu thủy; Điều 283 tội điều khiển tàu bay vi phạm các quy định về hàng không của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; Điều 284 tội điều khiển phương tiện hàng hải vi phạm các quy định về hàng hải của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Điều 337 tội cố ý làm lộ bí mật nhà nước; tội chiếm đoạt, mua bán, tiêu hủy tài liệu bí mật nhà nước.
- Thứ hai, BLTTHS hiện hành cũng như tại BLTTHS năm 2015 quy định:
Tội phạm xảy ra trên tàu bay hoặc tàu biển của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đang hoạt động ngoài không phận hoặc ngoài lãnh hải của Việt Nam thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án Việt Nam nơi có sân bay hoặc bến cảng trở về đầu tiên hoặc nơi tàu bay, tàu biển đó được đăng ký [46, Điều 270]. Luận văn: Giải pháp pháp luật về thẩm quyền xét xử của Tòa án.
Với quy định như vậy, sẽ dẫn đến việc tranh chấp hoặc đùn đẩy lẫn nhau giữa các Tòa án nói trên. Mặt khác, việc quy định cả TA nơi đăng ký tàu bay, tàu biển có thẩm quyền xét xử chắc chắn sẽ gây khó khăn cho việc điều tra, thu thập chứng cứ vì thực tế nếu có tội phạm xảy ra trên tàu bay, tàu biển mà người phạm tội bị bắt quả tang hay khẩn cấp thì khi tàu bay, tàu biển trở về sân bay, bến cảng đầu tiên ở trong nước, do không có thẩm quyền điều tra vụ án nên người chỉ huy tàu bay, tàu biển phải bàn giao ngay người bị bắt cho cơ quan điều tra ban đầu như: lập biên bản phạm tội quả tang, biên bản nhận người bị bắt, nhận bàn giao vật chứng (nếu có)… đã được thực hiện ngay khi CQĐT nhận người bị bắt. Tuy nhiên, cũng có những trường hợp TA nơi có sân bay, bến cảng mà tàu bay, tàu biển trở về đầu tiên không đủ điều kiện để XXST những tội phạm trên tàu bay, tàu biển. Vì vậy, chúng tôi cho rằng không nên quy định cho Tòa án nơi tàu bay, tàu biển đăng ký có thẩm quyền xét xử các tội phạm xảy ra trên tàu bay, tàu biển khi tàu bay, tàu biển đã rời khỏi sân bay, bến cảng Việt Nam để giúp xác định nhanh chóng thẩm quyền điều tra đối với các tội phạm này, nhằm giải quyết nhanh chóng, chính xác vụ án. Từ những lý do trên, chúng tôi đề nghị sửa đổi Điều 270 BLTTHS năm 2015 theo hướng hủy bỏ quy định có tính lựa chọn như hiện nay. Tức là chỉ quy định thẩm quyền cho một TA nhất định xét xử các tội phạm này. Vì vậy, chỉ nên giao cho TA nơi có sân bay, bến cảng mà tàu bay, tàu biển trở về đầu tiên ở nước xét xử.
- Điều 270 nên sửa đổi như sau:
Điều 270. Thẩm quyền xét xử những tội phạm xảy ra trên tàu hay tàu biển của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đang hoạt động ngoài không phận hoặc lãnh hải của Việt Nam.
Tội phạm xảy ra trên tàu bay hoặc tàu biển của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đang hoạt động ngoài không phận hoặc ngoài lãnh hải của Việt Nam thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án Việt Nam nơi có sân bay hoặc bến cảng trở về đầu tiên ở trong nước
3.3. Các giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về thẩm quyền xét xử Luận văn: Giải pháp pháp luật về thẩm quyền xét xử của Tòa án.
3.3.1. Kiện toàn tổ chức bộ máy, nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ và phẩm chất đạo đức cho Thẩm phán
Chúng ta đang trong quá trình thực hiện cải cách tư pháp, việc xây dựng, kiện toàn đội ngũ cán bộ, công chức nói chung và nâng cao chất lượng cho đội ngũ Thẩm phán ngành TAND nói riêng là một trong những nhiệm vụ trọng tâm. Với việc triển khai thực hiện các nhiệm vụ cải cách tư pháp theo các Nghị quyết của Đảng, Quốc hội, đặc biệt là Nghị quyết số 08-NQ/TW và Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị, trong đó yêu cầu đối với công tác cán bộ là:
Rà soát đội ngũ cán bộ tư pháp để xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp trong sạch, vững mạnh; Xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp, bổ trợ tư pháp, nhất là cán bộ có chức danh tư pháp, theo hướng đề cao quyền hạn, trách nhiệm pháp lý, nâng cao và cụ thể hóa tiêu chuẩn về chính trị, phẩm chất, đạo đức, chuyên môn nghiệp vụ và kinh nghiệm, kiến thức xã hội đối với từng loại cán bộ và Đào tạo đủ số lượng cán bộ tư pháp có trình độ nghiệp vụ và ngoại ngữ chuyên sâu về lĩnh vực tư pháp quốc tế nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của Nhà nước, tổ chức, công dân Việt Nam, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế và khu vực [14]; [15]. …, ngành TAND đã rất chú trọng việc kiện toàn và nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, trình độ lý luận, bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống lành mạnh của đội ngũ cán bộ, công chức trong ngành, đặc biệt là đội ngũ Thẩm phán, do đó đội ngũ cán bộ, Thẩm phán ngành TAND đã không ngừng được tăng cường về số lượng và nâng cao về chất lượng. Nhiệm vụ đó đặt ra yêu cầu phải có chiến lược cán bộ nhất là đội ngũ Thẩm phán của TAND, trong tổng thể chiến lược cán bộ của Đảng thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
TA là cơ quan duy nhất có chức năng xét xử. Thực hiện chức năng này là những người tiến hành tố tụng gồm Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân. Thẩm phán giữ vai trò chính trong hoạt động xét xử tại TA, nhân danh Nhà nước công bố bản án quyết định một người có tội hay không có tội. Vì vậy, vai trò của Thẩm phán là rất quan trọng và việc nâng cao vai trò Thẩm phán là nhiệm vụ trọng tâm trong cải cách tư pháp. Để nâng cao chất lượng xét xử và xây dựng đội ngũ thẩm phán trong sạch, vững mạnh thì việc trước tiên đó là phải hoàn thiện trình độ chuyên môn và đạo đức nghề nghiệp của đội ngũ Thẩm phán.
Có thể nói năng lực, trình độ của những người tiến hành tố tụng là yếu tố quyết định đến hiệu quả thực hiện việc xét xử. Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII đã chỉ rõ: “xây dựng đội ngũ thẩm phán… có phẩm chất chính trị và đạo đức, chí công vô tư, có trình độ chuyên môn nghiệp vụ vững vàng, bảo đảm cho bộ máy trong sạch vững mạnh”.
Về trình độ chuyên môn: Điều kiện cần của Thẩm phán là phải có bằng đại học Luật, nhưng trên thực tế nếu đóng khung cán bộ TA các cấp có trình độ đại học Luật, có khả năng xét xử thì ngành tư pháp phải nhiều năm nữa mới đủ số thẩm phán. Do vậy, việc có những bản án, quyết định không đảm bảo chất lượng, để xảy ra những trường hợp oan sai, khiếu kiện kéo dài.
Để khắc phục tình trạng trên, trong thời gian tới cẩn phải thống kê, phân loại trình độ Thẩm phán để có kế hoạch bồi dưỡng, đào tạo. Cần phải mở các lớp đào tạo nghiệp vụ xét xử. Đối với việc đào tạo nghiệp vụ xét xử, cần đặc biệt chú trọng tới đào tạo kỹ năng điều khiển phiên tòa cho Thẩm phán, nhằm nâng cao chất lượng tranh tụng tại phiên tòa. Triển khai xây dựng đề án về đạo tạo chuyên gia đầu ngành về pháp luật và nghiệp vụ TA. Đa dạng hóa các hình thức đào tạo, bồi dưỡng phù hợp với từng loại đối tượng công chức. Phối hợp với các trung tâm đào tạo để xây dựng cơ chế đào tạo nguồn cán bộ cho các TA vùng sâu, vùng xa. Luận văn: Giải pháp pháp luật về thẩm quyền xét xử của Tòa án.
Về đạo đức nghề nghiệp: Là một người thẩm phán bên cạnh trình độ chuyên môn, nghiệp vụ giỏi còn phải có phẩm chất đạo đức tốt, bản lĩnh chính trị vững vàng chính vì vậy cần ban hành quy chế “đạo đức nghề nghiệp của Thẩm phán” nhằm có một tiêu chuẩn chung trong việc đào tạo và cũng là căn cứ để đánh giá ý thức, trách nhiệm trong công tác.
Về thủ tục bổ nhiệm thẩm phán: Trong khi bổ nhiệm cán bộ, công chức nhà nước vào bộ máy hành chính nhà nước bằng hình thức thi tuyển và phải có thời gian tập sự thì Thẩm phán lại được bổ nhiệm không phải bằng Hội đồng thi tuyển mà chỉ là Hội đồng tuyển chọn. Thẩm phán là người xét xử, liên quan trực tiếp đến quyền con người, lợi ích xã hội và cá nhân thì lại không được tuyển chọn kỹ lưỡng, kiểm tra về trình độ, năng lực thực sự. Điều này rất có thể dẫn đến chất lượng xét xử không được cao. Ở Việt Nam, thẩm phán không được bổ nhiệm suốt đời mà theo nhiệm kỳ 5 năm 1 lần và Thẩm phán cũng chỉ là một chức danh tư pháp. Điều này đã tạo tâm lý thiếu ổn định, thiếu sự học tập, rèn luyện năng lực xét xử, không đảm bảo nguyên tắc độc lập xét xử của Thẩm phán. Trong thời gian tới, theo chúng tôi, Thẩm phán phải được coi là một nghề, được bổ nhiệm suốt đời nhưng có sự đánh giá xếp loại chính xác hàng năm, cần phải thiết lập hệ thống thi sát hạch điều kiện trước khi bổ nhiệm Thẩm phán, thay cho Hội đồng tuyển chọn mang tính hình thức như hiện nay.
Bên cạnh đó, công tác đạo tạo, bồi dưỡng Thư ký, Hội thẩm, Thẩm phán cần được quan tâm hơn nữa. Có chính sách đãi ngộ đối với họ, khi cử đi học để học yên tâm học tập và công tác. Thường xuyên cử Thẩm phán đi tập huấn các lớp nghiệp vụ do TAND tối cao tổ chức. Việc tập huấn theo các chuyên đề đưa ra nhằm nâng cao nghiệp vụ xét xử cho Thẩm phán. Những chuyên đề đó trong công tác xét xử để tập hợp kinh nghiệm, đúc rút những bài học và quán triệt trong toàn ngành.
3.3.2. Xây dựng một chế độ lương và chính sách thoả đáng Luận văn: Giải pháp pháp luật về thẩm quyền xét xử của Tòa án.
Muốn người Thẩm phán độc lập và xét xử một cách nghiêm minh đúng pháp luật thì việc đảm bảo đời sống vật chất tinh thần cho họ bên cạnh các biện pháp giáo dục là vô cùng quan trọng. Tăng lương và có những biện pháp ưu đãi thoả đáng sẽ đảm bảo cho người Thẩm phán cũng như những người tiến hành tố tụng khác có thể yên tâm hoàn thành tốt công việc mà mình được giao đồng thời sẽ đẩy lùi được tình trạng tham nhũng, cửa quyền, nhũng nhiễu dân chúng.
Chế độ lương, chính sách là một yếu tố “nền tảng”, đóng vai trò quan trọng trong quá trình đưa ra những phán quyết “được coi là công minh, ngay thẳng, không vụ lợi, tuân thủ triệt để pháp luật, ít chịu sự chi phối bởi những yếu tố tiêu cực… của Thẩm phán cũng như trong việc góp phần đảm bảo và không ngừng nâng cao năng lực, chất lượng xét xử”.
Chúng ta cần dựa trên hoàn cảnh thực tế của đất nước mà thiết lập một chế độ thang lương, bảng lương thích hợp đồng thời phải có những chế độ ưu đãi, khen thưởng, động viên tuyên dương hợp lý chứ không thể duy trì một chế độ lương và ưu đãi quá thấp như hiện nay đối với Thẩm phán cũng như những người tiến hành tố tụng khác ở ngành TA.
Bên cạnh đó, cần phải tiếp tục nghiên cứu và cải tiến thang lương đối với Thẩm phán cho phù hợp nhằm đảm bảo cuộc sống cho bản thân họ và gia đình đồng thời quy định phụ cấp lương vượt khung đối với các trường hợp đã hưởng hệ số lương tối đa. Cũng cần có chế độ chính sách ưu đãi để thu hút động viên những người nhận công tác ở vùng sâu, vùng xa, vùng miền núi. Ví dụ: ở ngành TAND tỉnh Hà Giang, có TA cách trung tâm thành phố khoảng 200 km điều kiện đi lại khó khăn, điều kiện sinh hoạt thiếu thốn… khi luân chuyển công tác cán bộ nhiều Thẩm phán e dè không muốn vào những vùng đó công tác hoặc vào nhận nhiệm vụ công tác rồi cũng chỉ mau chóng xin ra. Vì vậy, cần phải có chính sách đãi ngộ thỏa đáng đối với họ để cho họ yên tâm công tác, gắn bó yêu ngành, yêu nghề, đạt hiệu quả cao trong công việc.
3.3.3. Tăng cường cơ sở vật chất, kỹ thuật cho Tòa án
Trong điều kiện phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật và công nghệ hiện nay, thì yếu tố cơ sở vật chất, phương tiện kỹ thuật là điều kiện quan trọng không thể thiếu để bảo đảm cho hoạt động của một cơ quan, tổ chức. Đánh giá về điều kiện cơ sở vật chất, phương tiện kỹ thuật của các cơ quan tư pháp, Nghị quyết số 08/NQ-TW đã chỉ rõ:
Cơ sở vật chất và điều kiện làm việc của các cơ quan tư pháp nhất là ở cấp huyện nhiều nơi trụ sở còn chật chội, phương tiện làm việc vừa thiếu vừa lạc hậu… Tình trạng trụ sở cơ quan làm việc chưa xứng với tầm vóc công việc, chưa thống nhất về kiểu dáng kiến trúc, quy mô xây dựng và công năng sử dụng… Đến nay vẫn còn nhiều đơn vị chưa được xây dựng trụ sở, nơi làm việc và hội trường xét xử. Phương tiện làm việc còn chậm được cải tiến, đổi mới… dẫn đến nhiều khó khăn, bất cập [14].
- Để thực hiện công cuộc cải cách tư pháp, Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị đã đề ra mục tiêu:
Xây dựng nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công lý, từng bước hiện đại, phục vụ nhân dân, phụng sự Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; hoạt động tư pháp mà trọng tâm là hoạt động xét xử được tiến hành có hiệu quả và hiệu lực cao [15]. Luận văn: Giải pháp pháp luật về thẩm quyền xét xử của Tòa án.
Vì vậy, để bảo đảm thực hiện tốt thẩm quyền xét xử của TA phải bảo đảm đủ cơ sở vật chất, phương tiện kỹ thuật cần thiết cho hoạt động của cơ quan tiến hành tố tụng nói chung và Tòa án các cấp nói riêng. Để làm được điều đó “Ban cán sự Đảng, Chính phủ chủ trì cùng Ban cán sự Đảng TAND tối cao, VKSND tối cao xác định rõ khoản ngân sách hàng năm cho các cơ quan tư pháp theo hướng tăng thêm để đáp ứng kịp thời, đầy đủ kinh phí, điều kiện cơ sở vật chất, phương tiện hoạt động cho các cơ quan tư pháp các cấp” (Mục II Điều 3 Nghị quyết 08-NQ/TW).
Việc thay đổi mẫu thiết kế các trụ sở Tòa án nhân dân địa phương từ năm 2004 tuy đã đáp ứng phần nào yêu cầu nhiệm vụ xét xử trong tình hình mới. Nhưng cần có những thay đổi về kiến trúc tạo dựng sự uy nghiêm, bề thế phù hợp với cảnh quan và sự phát triển của từng địa phương. Mặt khác cần có kế hoạch cụ thể rõ ràng trong việc xây dựng mới trụ sở cho những Tòa án cấp huyện mới hình thành do sự chia, tách hoặc thành lập mới các đơn vị hành chính cấp huyện và cả những trụ sở đã xuống cấp, hư hỏng nặng hoặc không còn phù hợp với tình hình hiện nay. Đồng thời phải khẩn trương tiến hành công tác tu bổ, sửa chữa, cải tạo các TAND đặc biệt là các TAND ở các huyện miền núi, vùng sâu, vùng xa.
Về trang thiết bị phục vụ cho hoạt động của TAND cấp huyện cần có phương hướng đầu tư, áp dụng công nghệ thông tin. Trên thế giới nhiều nước đã có sự đầu tư lớn về công nghệ nhằm tạo ra sự đột phá trong hoạt động xét xử mang lại lợi ích thiết thực… Đầu tư các trang thiết bị hiện đại cho phòng xử án như: camera, máy chiếu… nhằm đảm bảo quá trình tranh tụng ở phiên tòa được khách quan.
Việc đầu tư trang thiết bị, kỹ thuật cho ngành TA là vô cùng cần thiết nhất là ở cấp huyện. Mỗi TA cấp huyện nên được cung cấp máy tính để giúp cho quá trình lưu trữ hồ sơ, tài liệu và các văn bản pháp luật dễ dàng hơn, thậm chí nên bố trí máy tính tại phòng xử án để Thư ký tiện ghi chép và cung cấp tài liệu cho những người tiến hành và tham gia tố tụng… đồng thời phải trang bị máy photo và máy in để đáp ứng nhu cầu in sao, tài liệu văn bản. Ngoài ra cần phải lắp đặt các thiết bị âm thanh như micro, loa và máy chiếu trong phòng xét xử để tiện cho việc trình bày chứng cứ và các tài liệu, vật chứng liên quan đến vụ án.
3.3.4. Một số giải pháp đồng bộ khác Luận văn: Giải pháp pháp luật về thẩm quyền xét xử của Tòa án.
Tăng cường sự lãnh đạo của cấp Uỷ Đảng địa phương đối với việc thực hiện thẩm quyền xét xử sơ thẩm của TA đồng thời cần hoàn thiện cơ chế giám sát của các cơ quan dân cử trong việc chấp hành pháp luật của các cơ quan tư pháp chung và của TAND nói riêng.
Cần ban hành một cách đầy đủ và có hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến việc thực hiện thẩm quyền xét xử sơ thẩm của TAND đồng thời cần phải nhanh chóng rà soát và loại bỏ các văn bản đã lạc hậu thậm chí mâu thuẫn đễ sửa đổi, bổ sung hoặc huỷ bỏ để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của tình hình mới nhất là từ khi BLTTHS năm 2015 ban hành.
Cần có những giải pháp đồng bộ để tăng cường năng lực của các cơ quan tiến hành tố tụng và bổ trợ tư pháp khác có như vậy việc thực hiện thẩm quyền của xét xử sơ thẩm của TAND mới có thể tiến hành một cách thuận lợi.
Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm tăng cường sự nhận thức của nhân dân về việc thực hiện thẩm quyền xét xử sơ thẩm của TA và huy động đông đảo quần chúng nhân dân tham gia vào phong trào xây dựng pháp luật…
KẾT LUẬN Luận văn: Giải pháp pháp luật về thẩm quyền xét xử của Tòa án.
Qua việc nghiên cứu thẩm quyền xét xử sơ thẩm của TAND (trên cơ sở nghiên cứu địa bàn tỉnh Hà Giang), với khả năng nghiên cứu còn hạn chế và giới hạn cho phép của một luận văn, tác giả đã đạt được một số kết quả khiêm tốn sau:
- Với việc nghiên cứu chế định thẩm quyền xét xử các vụ án hình sự của TA, tác giả đã đi sâu phân tích, đánh giá, và làm rõ một số vấn đề liên quan đến thẩm quyền xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự của TAND các cấp như: khái niệm thẩm quyền xét xử, các căn cứ phân định thẩm quyền xét xử sơ thẩm, lịch sử hình thành và phát triển của chế định này qua các giai đoạn lịch sử khác nhau.
- Luận văn tập trung phân tích các quy định về thẩm quyền xét xử sơ thẩm của TAND trong BLTTHS năm 2003. Bên cạnh đó, tác giả cũng phân tích quy định về thẩm quyền xét xử sơ thẩm của BLTTHS một số nước trên thế giới. Thông qua đó có sự so sánh giữa thẩm quyền xét xử sơ thẩm của TAND quy định trong BLTTHS Việt Nam và BLTTHS các nước khác.
- Qua việc phân tích, làm rõ những kết quả đạt được cũng như những vướng mắc, bất cập trong thực tiễn thi hành các quy định về thẩm quyền xét xử của TAND trên địa bàn tỉnh Hà Giang, tác giả cũng đã đưa ra đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện chế định này. Đồng thời, tác giả cũng đề xuất một số biện pháp nhằm bảo đảm thực hiện thẩm quyền xét xử của TAND trên thực tế.
Như vậy, thẩm quyền xét xử của TA là một trong những nội dung quan trọng của pháp luật tố tụng hình sự và việc nghiên cứu vấn đề này có ý nghĩa hết sức quan trọng trong giai đoạn hiện nay khi đất nước ta đang tiến hành cải cách tư pháp. Việc xác định đúng đắn thẩm quyền xét xử của TA còn có ý nghĩa rất lớn không chỉ giúp bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, xã hội và công dân mà còn có ý nghĩa trong việc xác định thẩm quyền của các cơ quan tiến hành tố tụng khác là CQĐT và VKS. Mặt khác, việc xác định đúng đắn thẩm quyền xét xử của TAND còn là cơ sở để xây dựng, tổ chức bộ máy các cơ quan tư pháp.
Mặc dù quy định của pháp luật về thẩm quyền của TAND ngày càng được hoàn thiện nhưng trước những thay đổi nhanh chóng của đất nước, trước yêu cầu của công cuộc đổi mới đòi hỏi phải cải cách tư pháp, đổi mới tổ chức, hoạt động của TAND và qua thực tiễn xét xử cho thấy việc áp dụng các quy định đó vẫn còn gặp những hạn chế do những bất cập trong quy định của pháp luật. Trên cơ sở đó, một số giải pháp hoàn thiện liên quan đến thẩm quyền xét xử của TAND các cấp được đề cập đến. Ví dụ: đề xuất thay đổi một số quy định trong BLTTHS năm 2003 có liên quan đến thẩm quyền xét xử của TAND như: tranh chấp về thẩm quyền, tăng cường năng lực xét xử của Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân, nâng cao cơ sở vật chất cho hoạt động xét xử của TAND các cấp, đổi mới cơ chế phối hợp giữa các cơ quan tiến hành tố tụng… Việc thực hiện các giải pháp hoàn thiện nêu trên cũng như các biện pháp bảo đảm thực hiện thẩm quyền xét xử sơ thẩm của TAND sẽ đáp ứng được yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm cũng như xu hướng phát triển chung của đất nước theo tinh thần cải cách tư pháp.
Bên cạnh những kết quả đạt được, luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót và hạn chế. Tác giả rất mong nhận được ý kiến đóng góp từ các thầy, cô giáo và bạn đọc. Xin chân thành cảm ơn PGS. TS. Nguyễn Ngọc Chí đã nhiệt tình chỉ bảo trong suốt quá trình tác giả viết luận văn. Xin cảm ơn các thầy, cô giáo trong bộ môn Tư pháp Hình sự – Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội cùng toàn thể gia đình, bạn bè đã giúp đỡ, tạo điều kiện để luận văn được hoàn thiện. Luận văn: Giải pháp pháp luật về thẩm quyền xét xử của Tòa án.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Tòa án về Luật Tố tụng

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com
