Luận văn: Căn cứ xác định Trách nhiệm bồi thường thiệt hại

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Căn cứ xác định Trách nhiệm bồi thường thiệt hại hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Căn cứ xác định Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện nay dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

2.1. Các căn cứ chung để xác định Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước theo quy định của pháp luật hiện hành

Với tư cách là một loại trách nhiệm pháp lý, Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước chỉ phát sinh khi đáp ứng đủ các điều kiện nhất định. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước phát sinh khi cá nhân, tổ chức phải gánh chịu những thiệt hại từ hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ. Ở Việt Nam, việc tập trung xây dựng một nhà nước pháp quyền, một nhà nước thực sự của dân, do dân, vì dân mà ở đó tinh thần thượng tôn pháp luật được đề cao tuyệt đối đã tạo bước ngoặt mạnh mẽ trong quy định của pháp luật về bồi thường nhà nước. Luật TNBTCNN năm 2009 ra đời nhằm kế thừa và hoàn thiện các quy định của pháp luật về vấn đề Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước trước đây, đồng thời tạo cơ chế pháp lý đồng bộ, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các cá nhân, tổ chức khi họ phải gánh chịu những thiệt hại từ hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ gây ra. Tuy nhiên, việc quy định theo hướng nguyên tắc hay liệt kê, bao trùm mọi lĩnh vực trong đời sống xã hội hay chỉ giới hạn ở một mức độ nhất định là vấn đề không chỉ Nhà nước quan tâm mà còn là vấn đề được đông đảo nhân dân quan tâm.

TNBTTHCNN được xây dựng dựa trên nền tảng cơ bản là các quy định của Bộ luật Dân sự. Do đó, về nguyên tắc, các quy định của Luật TNBTCNN dựa trên các quy định của pháp luật dân sự, theo đó, quy định về căn cứ xác định Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước được quy định trên cơ sở quy định của Bộ luật Dân sự 2005 về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng nhưng vẫn mang nét đặc trưng riêng biệt, cụ thể:

Theo quy định tại Điều 6 Luật TNBTCNN thì việc xác định Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước trong hoạt động quản lý hành chính, tố tụng dân sự, tố tụng hành chính, thi hành án phải có các căn cứ sau đây: (i) Có văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định hành vi của người thi hành công vụ là trái pháp luật và thuộc phạm vi trách nhiệm bồi thường quy định tại các điều 13, 28, 38 và 39 của Luật này; (ii) Có thiệt hại thực tế do hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ gây ra đối với người bị thiệt hại. Luận văn: Căn cứ xác định Trách nhiệm bồi thường thiệt hại.

  • Việc xác định Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước trong hoạt động tố tụng hình sự phải có các căn cứ sau đây:

(i) Có bản án, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự xác định người bị thiệt hại thuộc các trường hợp được bồi thường quy định tại Điều 26 của Luật này; (ii) Có thiệt hại thực tế do người tiến hành tố tụng hình sự gây ra đối với người bị thiệt hại.

Bên cạnh quy định về các trường hợp được Nhà nước bồi thường, Luật TNBTCNN cũng đưa ra quy định về các trường hợp Nhà nước không bồi thường, cụ thể Nhà nước không bồi thường khi thiệt hại xảy ra do:

(i) Do lỗi của người bị thiệt hại; (ii) Người bị thiệt hại che dấu chứng cứ, tài liệu hoặc cung cấp tài liệu sai sự thật trong quá trình giải quyết vụ việc; (iii) Do sự kiện bất khả kháng, tình thế cấp thiết.

Như vậy, có thể thấy, điều kiện xác định Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước theo quy định của Luật TBTNCNN về cơ bản giống với các điều kiện xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng theo quy định của pháp luật dân sự. Tuy nhiên, Luật TNBTCNN quy định về căn cứ xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong từng lĩnh vực có những nét khác nhau, trong đó được phân thành hai nhóm cơ bản gồm (1) căn cứ xác định Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước trong các hoạt động quản lý hành chính, tố tụng dân sự, tố tụng hành chính, thi hành án dân sự, thi hành án hình sự và (2) liệt kê các trường hợp được bồi thường trong hoạt động tố tụng hình sự.

Căn cứ xác định Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước của nhóm thứ nhất về cơ bản phải đáp ứng các yêu cầu như có hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ, hành vi trái pháp luật thuộc phạm vi Luật TNBTCNN quy định tại các Điều 13, 28, 38, 39; có thiệt hại thực tế xảy ra và có mối liên hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật với thiệt hại thực tế xảy ra. Trong lĩnh vực tố tụng hình sự, với đặc thù của hoạt động tố tụng hình sự là nhằm vào quyền nhân thân, do đó căn cứ xác định trách nhiệm bồi thường không được xem xét dựa trên các yếu tố cơ bản như trong các lĩnh vực khác mà chỉ cần đáp ứng đủ hai điều kiện là có bản án, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự xác định người bị thiệt hại thuộc phạm vi Nhà nước bồi thường theo quy định tại Điều 26 Luật TNBTCNN và có thiệt hại thực tế do người tiến hành tố tụng gây ra đối với người bị thiệt hại thì Nhà nước có trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Việc xem xét thiệt hại được bồi thường trong hoạt động tố tụng hình sự cũng có những nét khác biệt so với các thiệt hại được bồi thường trong các lĩnh vực khác.

Nói chung, người bị thiệt hại có quyền yêu cầu Nhà nước bồi thường đối với các thiệt hại phát sinh từ hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ khi có đủ các điều kiện sau: Luận văn: Căn cứ xác định Trách nhiệm bồi thường thiệt hại.

2.1.1. Yếu tố hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ

Trong chế định Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước, Nhà nước chỉ có trách nhiệm bồi thường đối với những thiệt hại phát sinh từ hành vi sai phạm của người thi hành công vụ với vai trò đại diện cho Nhà nước thực hiện chức năng nhiệm vụ quản lý Nhà nước. Tuy nhiên, đối với người thi hành công vụ, họ luôn có hai tư cách: Thứ nhất, đó là tư cách là đại diện cho Nhà nước thực hiện các nhiệm vụ do Nhà nước giao về quản lý hành chính, tố tụng và thi hành án; Thứ hai, đó là với tư cách cá nhân, nghĩa là khi họ thực hiện những hành vi của cá nhân mà không nhân danh Nhà nước. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước chỉ phát sinh khi người thi hành công vụ thực hiện hành vi với tư cách thứ nhất, nếu trong trường hợp hành vi gây thiệt hại của người thi hành công vụ không gắn liền với tư cách đại diện cho Nhà nước thì họ tự phải chịu trách nhiệm cá nhân đối với những thiệt hại mà chính họ gây ra.

2.1.1.1. Về khái niệm người thi hành công vụ

Có thể nói, đến thời điểm này vẫn chưa có một khái niệm pháp lý chính thức nào đề cập thế nào là “người thi hành công vụ”, để làm cơ sở cho việc xây dựng và áp dụng pháp luật có liên quan. Ngay cả Luật Cán bộ, công chức cũng không có cụ thể thế nào là người thi hành công vụ. Chính điều này đã dẫn tới những cách diễn đạt tùy nghi theo các văn bản khác nhau, cụ thể:

Theo quy định của Nghị định số 208/2013/NĐ-CP ngày 17/12/2013 của Chính Phủ quy định các biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn và xử lý hành vi chống người thi hành công vụ, có hiệu lực từ ngày 01/02/2014 thì “Người thi hành công vụ là cán bộ, công chức, viên chức, sĩ quan, hạ sĩ quan, chiến sĩ lực lượng vũ trang nhân dân được cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân có thẩm quyền giao thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của pháp luật và được pháp luật bảo vệ nhằm phục vụ lợi ích của Nhà nước, nhân dân và xã hội”.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 3 Luật TNBTCNN thì người thi hành công vụ là người được bầu cử, phê chuẩn, tuyển dụng hoặc bổ nhiệm vào một vị trí trong cơ quan nhà nước để thực hiện nhiệm vụ quản lý hành chính, tố tụng, thi hành án hoặc người khác được cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao thực hiện nhiệm vụ có liên quan đến hoạt động quản lý hành chính, tố tụng, thi hành án. Luận văn: Căn cứ xác định Trách nhiệm bồi thường thiệt hại.

Điểm có thể thấy rõ nhất khi so sánh hai khái niệm về người thi hành công vụ của hai văn bản này, đó là Nghị định 208 đã đưa “viên chức” vào nhóm “người thi hành công vụ”. Có rất nhiều tranh cãi về cách hiểu thế nào là người thi hành công vụ, chống người thi hành công vụ…việc bác sĩ khám chữa bệnh trong các bệnh viện của Nhà nước có được coi là người thi hành công vụ hay không?…

Rõ ràng, công việc khám chữa bệnh của bác sĩ không phải là công vụ, bởi bác sĩ không phải là công chức, không làm chức năng quản lý nhà nước (trừ bác sĩ là lãnh đạo bệnh viện được coi là công chức với nhiệm vụ là quản lý theo lĩnh vực được Nhà nước giao), hay phóng viên báo chí bị tấn công thì cũng không thuộc diện “chống người thi hành công vụ”.

Theo nghĩa hẹp, Luật TNBTCNN đưa ra khái niệm người thi hành công vụ là những người được bầu cử, phê chuẩn, tuyển dụng hoặc bổ nhiệm vào một vị trí trong các bộ máy của cơ quan nhà nước để thực hiện nhiệm vụ quản lý hành chính, tố tụng và thi hành án. Theo cách tiếp cận này, người thi hành công vụ được hiểu là những cán bộ, công chức được Nhà nước lựa chọn bằng các cách thức khác nhau nhằm thay mặt Nhà nước thực hiện các chức năng, nhiệm vụ được Nhà nước giao.

Theo nghĩa rộng, khái niệm người thi hành công vụ còn bao gồm cả những cá nhân, cơ quan, tổ chức khác, được Nhà nước giao thực hiện những nhiệm vụ nhất định, thay mặt cho Nhà nước thực hiện các nhiệm vụ công. Ví dụ như trường hợp luật sư thực hiện hoạt động hỗ trợ pháp lý cho người nghèo, những người có hoàn cảnh khó khăn do Nhà nước chỉ định hoặc những người không phải là cán bộ, công chức do UBND huyện giao thực hiện nhiệm vụ tháo dỡ, giải phóng mặt bằng, cưỡng chế thi hành án…

Như vậy, khái niệm người thi hành công vụ theo Luật TNBTCNN cho đến nay có thể nói là khá đầy đủ và phù hợp nhất, bởi những người thực hiện nhiệm vụ với tư cách đại diện cho Nhà nước mà gây thiệt hại thì Nhà nước phải có trách nhiệm bồi thường đối với các thiệt hại đó. Luận văn: Căn cứ xác định Trách nhiệm bồi thường thiệt hại.

2.1.1.2. Về hành vi trái pháp luật theo quy định của Luật TNBTCNN

Hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ gây ra thiệt hại: Theo quy định tại khoản 2 Điều 3 Luật TNBTCNN thì hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ gây ra thiệt hại là hành vi không thực hiện hoặc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn không đúng quy định của pháp luật và được xác định trong các văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Theo quy định trên thì hành vi trái pháp luật được phân thành hai loại là không thực hiện những nghĩa vụ, nhiệm vụ mà pháp luật quy định bắt buộc phải thực hiện (pháp luật yêu cầu làm nhưng cố ý không làm) hoặc thực hiện những hoạt động mà pháp luật cấm hoặc không cho phép.

Hành vi trái luật gây thiệt hại là hành vi thuộc trường hợp được Nhà nước bồi thường phải được thực hiện bởi người thi hành công vụ theo quy định của Luật TNBTCNN. Như vậy, trường hợp thiệt hại xảy ra do hành vi trái pháp luật của cán bộ, công chức nhà nước gây ra nhưng cán bộ, công chức đó không thuộc đối tượng được quy định trong Luật TNBTCNN hoặc có thực hiện nhưng thực hiện với tư cách cá nhân mà không đại diện cho Nhà nước thì không thuộc phạm vi Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước, và chế tài áp dụng để giải quyết trong trường hợp này là các quy định về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng theo quy định của pháp luật dân sự.

Hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ phải thuộc phạm vi Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước theo quy định tại các Điều 13, 28, 38 và 39 Luật TNBTCNN như ban hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính; Áp dụng biện pháp buộc tháo dỡ nhà ở, công trình, vật kiến trúc và biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính khác; Giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất; bồi thường, hỗ trợ, giải phóng mặt bằng, tái định cư; cấp hoặc thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa người vào trường giáo dưỡng, đưa người vào cơ sở giáo dục hoặc đưa người vào cơ sở chữa bệnh; Cấp, thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh; Giấy chứng nhận đầu tư, giấy phép và các giấy tờ có giá trị như giấy phép…

Như vậy, chỉ những hành vi trái pháp luật gây thiệt hại được Luật TNBTCNN quy định mới được Nhà nước bồi thường, các hành vi khác mặc dù do cán bộ công chức nhà nước có hành vi sai phạm gây thiệt hại nhưng nếu không thuộc phạm vi sẽ không được xem xét bồi thường. Quy định này có ý nghĩa rất quan trọng, cụ thể:

Mặt tích cực, về phía nhà nước, nhằm cụ thể hóa các trường hợp được Nhà nước bồi thường, bảo đảm tính khả thi về nguồn kinh phí chi trả cho người bị thiệt hại từ ngân sách của Nhà nước, đồng thời bảo đảm các thiệt hại được bồi thường ngay cho người bị thiệt hại. Luận văn: Căn cứ xác định Trách nhiệm bồi thường thiệt hại.

Mặt hạn chế, sẽ gây nên tình trạng không cân bằng giữa các chủ thể cùng chịu thiệt hại từ các hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ gây ra do không thuộc phạm vi trách nhiệm bồi thường.

Việc áp dụng các quy định pháp luật khác nhau trong giải quyết bồi thường sẽ dẫn đến cơ chế chi trả tiền bồi thường cho người bị thiệt hại trong và ngoài phạm vi Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước cũng khác nhau. Theo đó, đối với những người bị thiệt hại theo quy định của Luật TNBTCNN sẽ được Nhà nước chi trả toàn bộ, kịp thời bằng tiền bồi thường từ ngân sách Nhà nước, những người không thuộc phạm vi của Luật TNBTCNN sẽ phải yêu cầu cá nhân, tổ chức có hành vi gây thiệt hại phải bồi thường cho mình. Theo đó, việc bù đắp và bồi thường thiệt hại đối với những trường hợp này sẽ tuân thủ theo quy định của pháp luật dân sự về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng và đương nhiên sẽ kéo theo một loạt các bất lợi khác cho người bị thiệt hại nếu trường hợp của họ không thuộc phạm vi Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước như: chủ thể có trách nhiệm bồi thường trốn tránh trách nhiệm bồi thường, kéo dài thời gian bồi thường thiệt hại và rất có thể người bị thiệt hại còn phải yêu cầu Nhà nước thực hiện các biện pháp nghiệp vụ nhằm yêu cầu người có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ bồi thường …

2.1.1.3. Yếu tố lỗi trong hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ

Trong quan hệ pháp luật dân sự, ngoài yếu tố hành vi trái pháp luật của người gây ra thiệt hại thì lỗi cũng là một nhân tố quan trọng trong việc xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại, mức độ bồi thường thiệt hại của người gây thiệt hại với người bị thiệt hại. Về bản chất, lỗi được xác định là quan hệ giữa chủ thể thực hiện hành vi trái pháp luật với xã hội mà nội dung của nó là sự phủ định những yêu cầu của xã hội thông qua các quy định của pháp luật. Khi một người có đủ nhận thức và điều kiện để lựa chọn cách xử sự sao cho phù hợp với pháp luật, tránh gây thiệt hại cho chủ thể khác nhưng vẫn thực hiện hành vi gây thiệt hại thì người đó được coi là có lỗi. Như vậy, lỗi là thái độ tâm lý của người có hành vi gây thiệt hại, phản ánh thái độ, nhận thức của người đó đối với hành vi và hậu quả của hành vi mà họ thực hiện.

Lỗi được chia thành hai loại gồm lỗi cố ý và lỗi vô ý. Luận văn: Căn cứ xác định Trách nhiệm bồi thường thiệt hại.

  • Lỗi cố ý là việc chủ thể nhận thức rõ hành vi của mình sẽ gây thiệt hại cho người khác mà vẫn cố ý thực hiện. Nếu người này mong muốn thiệt hại xảy ra là lỗi cố ý trực tiếp, nếu họ không mong muốn thiệt hại xảy ra nhưng để mặc cho thiệt hại xảy ra là lỗi cố ý gián tiếp.
  • Lỗi vô ý là việc chủ thể không thấy trước được hành vi của mình có thể gây thiệt hại mặc dù họ có thể biết hoặc phải biết trước thiệt hại xảy ra khi thực hiện hành vi.

Khác với các ngành luật khác, luật dân sự quy định người có hành vi trái pháp luật gây thiệt hại thì phải chịu trách nhiệm bồi thường cho dù hành vi đó được thực hiện với lỗi cố ý hay vô ý. Tuy nhiên, trong một số trường hợp, việc xác định lỗi cố ý hay vô ý sẽ là căn cứ quan trọng để các bên xem xét mức độ bồi thường thiệt hại trên thực tế.

Trong chế định Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước, Luật TNBTCNN không trực tiếp quy định yếu tố lỗi là một trong các căn cứ để xác định Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước. Tuy nhiên, yếu tố lỗi được quy định gián tiếp thông qua các điều khoản của Luật, cụ thể là việc Nhà nước đưa ra quy định về trường hợp không phát sinh Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước. Đặc biệt, trong một vài trường hợp thuộc phạm vi Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước trong hoạt động thi hành án và tố tụng dân sự, tố tụng hành chính, yếu tố lỗi cố ý được quy định là một trong các căn cứ quan trọng xem xét Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước. Cụ thể các quy định của Luật TNBTCNN về lỗi như sau:

Trường hợp lỗi vô ý, là trường hợp mà người thi hành công vụ trong quá trình thi hành công vụ của mình, vì những lý do khác nhau như trình độ nhận thức pháp luật, sự chủ quan trong thực hiện hành vi công vụ hoặc không lường được hệ quả xảy ra hay trong các trường hợp bất khả kháng dẫn đến gây thiệt hại cho đối tượng của hành vi công vụ và những người liên quan. Trường hợp này, mặc dù là vô ý nhưng vẫn có thiệt hại thực tế phát sinh và Nhà nước vẫn phải chịu trách nhiệm đối với những thiệt hại mà cá nhân, tổ chức phải gánh chịu. Luận văn: Căn cứ xác định Trách nhiệm bồi thường thiệt hại.

Trường hợp lỗi cố ý, đây là trường hợp người thi hành công vụ nhận thức được rõ ràng hậu quả pháp lý cũng như thiệt hại có thể xảy ra nhưng vẫn cố tình thực hiện hành vi sai phạm (được hiểu là thực hiện những việc pháp luật cấm hoặc không thực hiện những việc mà pháp luật quy định bắt buộc phải thực hiện). Trường hợp này thường phát sinh từ những nguyên nhân tiêu cực trong bộ máy hành chính như tình trạng tham ô, nhận hối lộ, gây khó dễ cho những người sử dụng dịch vụ hành chính công, hay trong hoạt động tố tụng là các trường hợp cố ý làm sai lệch hồ sơ vụ án, biết rằng hồ sơ sai lệch, thiếu chứng cứ vẫn tiến hành tuyên án, hay các trường hợp giả mạo hồ sơ tố tụng nhằm làm sai lệch tình trạng khách quan của vụ việc phục vụ cho mục đích tư lợi cá nhân.

Đặc biệt, theo quy định của Luật TNBTCNN thì Nhà nước không có trách nhiệm phải bồi thường trong các trường hợp người thi hành công vụ không có lỗi hoặc lỗi thuộc về người bị thiệt hại để dẫn đến những thiệt hại thực tế phát sinh. Bên cạnh đó, đối với các trường hợp các Nhà nước thực hiện các hành vi công quyền nhằm các mục đích an ninh, quốc phòng, chính trị hay ngoại giao mặc dù có yếu tố lỗi cố ý nhưng Nhà nước không có trách nhiệm phải bồi thường đối với những thiệt hại phát sinh. Vấn đề này được Nhà nước thừa nhận và được quy định rõ trong Hiến pháp.

Đối với trường hợp Nhà nước thực hiện các hành vi công quyền nhằm các mục đích bảo vệ an ninh, quốc phòng, chính trị, ngoại giao hay vì mục đích chung của cộng đồng.., mặc dù có yếu tố lỗi gây ảnh hưởng và gây thiệt hại đối với các cá nhân, tổ chức thì Nhà nước sẽ thực hiện trách nhiệm hỗ trợ và bồi thường các thiệt hại phát sinh nhưng khái niệm về bồi thường thiệt hại ở đây mang nghĩa là đền bù, hỗ trợ một phần thiệt hại cho người dân mà không phải là bồi thường thiệt hại theo quy định của Luật TNBTCNN. Ví dụ trường hợp Nhà nước thực hiện các chính sách nhà, đất, các chính sách trồng rừng, xây dựng công viên đô thị v.v.. để thực hiện các chính sách này Nhà nước sẽ phải thu hồi diện tích đất của các cá nhân, tổ chức nằm trong quy hoạch, kế hoạch đã được Nhà nước phê duyệt nếu có thiệt hại phát sinh thì khái niệm về bồi thường trong trường hợp này được gọi là “đền bù” chứ không phải nhằm khôi phục lại tình trạng nguyên trạng ban đầu cho các chủ thể chịu thiệt hại theo nghĩa bồi thường theo quy định của Luật TNBTCNN.

2.1.2. Có văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định hành vi của người thi hành công vụ là trái pháp luật Luận văn: Căn cứ xác định Trách nhiệm bồi thường thiệt hại.

Điểm đặc thù trong chế định Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước so với chế định về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của pháp luật dân sự là Luật TNBTCNN quy định Nhà nước chỉ có trách nhiệm bồi thường thiệt hại khi người bị thiệt hại cung cấp được văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định hành vi của người thi hành công vụ là trái pháp luật. Theo quy định tại khoản 3 Điều 3 Luật TNBTCNN thì văn bản xác định hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ là quyết định giải quyết khiếu nại, tố cáo của người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo hoặc bản án, quyết định của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng.

Đây là một quy định hoàn toàn mới theo quy định của Luật TNBTCNN so với các văn bản pháp luật về Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước trước đây, nhằm tạo điều kiện cho các cá nhân, tổ chức thực hiện quyền yêu cầu Nhà nước bồi thường đối với các thiệt hại phải gánh chịu phát sinh từ hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ, đồng thời giúp cho các cơ quan có trách nhiệm bồi thường và giải quyết bồi thường có căn cứ xem xét, đánh giá và thực hiện việc giải quyết bồi thường khi có yêu cầu. Theo đó, văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ có các đặc điểm sau:

Thứ nhất, Luật TNBTCNN quy định văn bản xác định hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ phải đáp ứng yêu cầu về hình thức gồm các văn bản có giá trị pháp lý cao như quyết định giải quyết khiếu nại, tố cáo hoặc bản án, quyết định của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng được ban hành theo trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật.

Thứ hai, văn bản xác định hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ làm căn cứ yêu cầu Nhà nước bồi thường phải đáp ứng yêu cầu về mặt nội dung theo quy định của Luật TNBTCNN và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật. Tuy nhiên, Luật TNBTCNN hiện nay mới chỉ đưa ra quy định mang tính hình thức các văn bản gồm quyết định giải quyết khiếu nại, tố cáo hoặc bản án, quyết định của cơ quan có thẩm quyền trong tố tụng mà không đưa ra quy định cụ thể về mặt nội dung thế nào là văn bản xác định hành vi trái pháp luật. Luận văn: Căn cứ xác định Trách nhiệm bồi thường thiệt hại.

  • Quy định như trên đã dẫn đến một số hạn chế, vướng mắc như sau:

Thứ nhất, việc giới hạn một số loại văn bản được cho là văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định hành vi của người thi hành công vụ là trái pháp luật dẫn đến tình trạng rất nhiều các trường hợp có thiệt hại thực tế xảy ra, có văn bản với nội dung xác định hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ, thuộc phạm vi Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước nhưng không thể yêu cầu Nhà nước bồi thường vì văn bản đó không thuộc một trong các văn bản được liệt kê trong Luật TNBTCNN và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật.

Thứ hai, việc Luật TNBTCNN và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật chỉ đưa ra quy định mang tính khái quát về hình thức văn bản mà không đưa ra giải thích cụ thể về mặt nội dung thế nào là văn bản xác định hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ dẫn đến tình trạng hiểu chưa đúng, hiểu không thống nhất tại các cơ quan có trách nhiệm bồi thường, từ đó áp dụng không thống nhất trên thực tiễn, gây mất công bằng giữa những người bị thiệt hại có cùng điều kiện.

Thứ ba, trường hợp mặc dù đã có thiệt hại thực tế xảy ra nhưng người bị thiệt hại không có quyền yêu cầu bồi thường ngay mà phải thực hiện các thủ tục cần thiết để có được văn bản xác định hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ làm căn cứ để thực hiện quyền yêu cầu bồi thường. Tuy nhiên, trên thực tiễn, để có được văn bản xác định hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ thì người bị thiệt hại gặp rất nhiều khó khăn, đặc biệt là trong thủ tục khiếu nại, tố cáo, do đó gây bức xúc trong xã hội.

Thứ tư, một số trường hợp văn bản đáp ứng về mặt hình thức theo quy định của Luật TNBTCNN nhưng hoàn toàn không có nội dung xác định hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ có thể dẫn đến hệ quả là thụ lý giải quyết bồi thường cho người bị thiệt hại không đúng, gây khó khăn trong quá trình giải quyết vụ việc hoặc lợi dụng cơ chế bồi thường nhà nước để câu kết, trục lợi cá nhân.

2.1.3. Có thiệt hại thực tế xảy ra

Thiệt hại là điều kiện quan trọng trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại nói chung, trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng nói riêng bởi mục đích của trách nhiệm bồi thường thiệt hại là nhằm bù đắp những tổn thất về mặt vật chất và tinh thần mà người bị thiệt hại phải gánh chịu. Do đó, nếu không có phát sinh thiệt hại thì cũng không phát sinh trách nhiệm bồi thường. Việc đưa quy định về thiệt hại thực tế là điều kiện cơ bản để người bị thiệt hại thực hiện quyền yêu cầu bồi thường, đồng thời giúp cho cơ quan có trách nhiệm bồi thường có căn cứ để xác định các loại thiệt hại và mức bồi thường cho người bị thiệt hại nhằm mục đích khôi phục lại nguyên trạng hoặc bù đắp tương xứng với những thiệt hại đã xảy ra.

Theo đó thiệt hại được hiểu là sự giảm sút các lợi ích về tài sản hoặc lợi ích về nhân thân so với tình trạng hiện hữu hoặc sự giảm sút các lợi ích mà chủ thể bị thiệt hại sẽ hoặc chắc chắn có được trong tương lai trong một điều kiện bình thường nếu không có việc gây thiệt hại xảy ra. Luận văn: Căn cứ xác định Trách nhiệm bồi thường thiệt hại.

  • Như vậy, thiệt hại gồm hai loại là thiệt hại về vật chất và thiệt hại về tinh thần (gắn với yếu tố nhân thân).

Thiệt hại vật chất, là những thiệt hại mà chúng ta có thể nhìn thấy được, mang tính định lượng và định tính. Những thiệt hại vật chất hết sức đa dạng trên thực tế, được thể hiện ở mức độ khác nhau gồm thiệt hại vật chất do tài sản, sức khỏe, tính mạng, danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm.

Các loại thiệt hại về vật chất theo quy định của Luật TNBTCNN bao gồm: thiệt hại do tài sản bị xâm phạm (Điều 45 Luật TNBTCNN) như tài sản bị phát mại, bị mất,bị hư hỏng; các thiệt hại phát sinh do không sử dụng, khai thác tài sản; các khoản tiền đã nộp vào ngân sách nhà nước theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, bị tịch thu, thi hành án, khoản tiền đã đặt để bảo đảm tại cơ quan có thẩm quyền, thậm chí là khoản tiền lãi hợp pháp; thiệt hại do thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút (Điều 46);

Thiệt hại do tổn thất về tinh thần gồm thiệt hại trong thời gian bị tạm giam hành chính, bị đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh; thiệt hại hại trong trường hợp bị tạm giữ, tạm giam, chấp hành hình phạt tù; trong trường hợp người bị thiệt hại chết; trong trường hợp sức khỏe bị xâm phạm, trong trường hợp bị khởi tố, truy tố, xét xử, thi hành án mà không bị tạm giữ, tạm giam (Điều 47);

Thiệt hại về vật chất do người bị thiệt hại chết (Điều 48) gồm: Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, chăm sóc người bị thiệt hại trước khi chết; chi phí cho việc mai táng, tiền cấp dưỡng cho người mà người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng;

Thiệt hại về vật chất do bị tổn hại về sức khỏe gồm chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại; thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút theo quy định tại Điều 46; chi phí hợp lý và thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị; trường hợp người bị thiệt hại mất khả năng lao động và cần có người thường xuyên chăm sóc (Điều 49)

Ngoài ra, Luật TNBTCNN còn quy định về trả lại tài sản; khôi phục danh dự cho người bị thiệt hại trong hoạt động tố tụng hình sự. Luận văn: Căn cứ xác định Trách nhiệm bồi thường thiệt hại.

Thiệt hại về tinh thần, là những thiệt hại mà chúng ta không thể nhìn thấy được, chủ yếu liên quan tới yếu tố nhân thân của người bị thiệt hại. Khác với thiệt hại vật chất có thể định lượng một cách cụ thể, rõ ràng và đầy đủ thì thiệt hại về tinh thần rất khó xác định một cách cụ thể. Việc xác định các loại thiệt hại về tinh thần, cũng như mức độ và tính chất ảnh hưởng hay hậu quả của nó được dựa trên sự cảm nhận, đánh giá của con người, xã hội cũng như thái độ của Nhà nước đối với những thiệt hại đó. Trong nhiều trường hợp, thiệt hại về tinh thần của một cá nhân hay tổ chức nào đó có thể được nhiều người hay xã hội ghi nhận và cho rằng đó là thiệt hại thực tế, cần được bồi thường, nhưng nếu như thiệt hại đó không được Nhà nước công nhận và quy định là thiệt hại thì đó sẽ không phải là thiệt hại được xem xét về mặt pháp luật để làm căn cứ yêu cầu bồi thường. Việc thực hiện bồi thường đối với thiệt hại về tinh thần thường được xem xét theo cách thức xác định chi phí hợp lý để khắc phục thiệt hại do tổn thất về tinh thần hay danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm hại, bồi thường một khoản tiền để bù đắp tổn thất về tinh thần cho người bị thiệt hại, người thân thích của người bị thiệt hại.

Như vậy, với bản chất là một trong các căn cứ xem xét Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước, thiệt hại được bồi thường theo quy định của Luật TNBTCNN phải có các đặc điểm sau:

Là thiệt hại thực tế: Là thiệt hại có thực, có thể nhận thức được, phải được tính toán cụ thể, chi tiết, làm căn cứ xác định Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước, đồng thời làm cơ sở để xem xét ấn định mức bồi thường cho người bị thiệt hại.

Thiệt hại phải được đánh giá một cách khách quan, không được phép suy diễn một cách chủ quan theo ý chí bất cứ chủ thể nào, không phải là các thiệt hại mang tính chất tưởng tượng, suy đoán không căn cứ và cũng không phải là sự giảm sút lợi ích mà không chắc chắn có được, hay nói cách khác, thiệt hại phải có căn cứ và xác định được.

Thiệt hại có thể bao gồm thiệt hại trực tiếp từ hành vi vi phạm nhưng cũng có khi là các thiệt hại gián tiếp. Theo đó, các thiệt hại phát sinh trực tiếp từ hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ sẽ được cơ quan có trách nhiệm bồi thường xem xét tiến hành bồi thường ngay khi có đủ căn cứ. Nhà nước cũng thực hiện bồi thường đối với các thiệt hại phát sinh gián tiếp từ hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ. Tuy nhiên, trên thực tế, việc xác định và chứng minh loại thiệt hại này gây không ít khó khăn cho cả người bị thiệt hại và cơ quan giải quyết bồi thường.

Thiệt hại phải được xác định và quy được bằng hiện vật, trong phạm vi quy định của Luật TNBTCNN thì hiện vật chính là tiền. Dù qua bất kỳ phương tiện hay cách thức tính toán nào thì thiệt hại phải được tính toán cụ thể và được quy thành một lượng tiền nhất định, làm cơ sở cho việc thương lượng việc bồi thường và tính toán mức bồi thường cũng như thực hiện các thủ tục tiếp theo trong quá trình giải quyết bồi thường. Luận văn: Căn cứ xác định Trách nhiệm bồi thường thiệt hại.

Thiệt hại phải thuộc các trường hợp được quy định trong Luật TNBTCNN bao gồm thiệt hại do tài sản bị xâm phạm; thiệt hại do thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút; thiệt hại do tổn thất về tinh thần; thiệt hại về vật chất do người bị thiệt hại chết; thiệt hại về vật chất do bị tổn hại về sức khỏe, trả lại ài sản và việc khôi phục danh dự cho người bị thiệt hại.

Với những phân tích như trên, có thể hiểu thiệt hại thực tế theo quy định của Luật TNBTCNN là những tổn thất về vật chất, tinh thần có thực mà người bị thiệt hại phải chịu do hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ gây ra. Như vậy, không phải tất cả các thiệt hại đều được Nhà nước bồi thường, theo đó, người bị thiệt hại chỉ có quyền yêu cầu Nhà nước bồi thường đối với các thiệt hại khi mà các thiệt hại đó đáp ứng các điều kiện như: Là thiệt hại có thực mà người bị thiệt hại phải gánh chịu từ hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ; thiệt hại phải thuộc các trường hợp mà Luật TNBTCNN liệt kê…

2.1.4. Yếu tố mối liên hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ và thiệt hại xảy ra do hành vi trái pháp luật

2.1.4.1. Khái niệm về quan hệ nhân quả

Theo quan điểm của Triết học Mác – Lê Nin, nguyên nhân là phạm trù triết học dùng để chỉ sự tương tác giữa những mặt trong sự vật, hiện tượng hay giữa các sự vật, hiện tượng với nhau gây nên một biến đổi nhất định. Tương tự, kết quả là một phạm trù triết học dùng để chỉ những biến đổi được gây nên bởi tương tác giữa những mặt trong cùng một sự vật hiện tượng hoặc giữa các sự vật, hiện tượng với nhau.

Trong quan hệ giữa Nhà nước và người bị thiệt hại theo quy định của Luật TNBTCNN thì hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ là nguyên nhân và thiệt hại thực tế mà người bị thiệt hại phải gánh chịu từ hành vi trái pháp luật đó là hệ quả. Tuy nhiên, không phải bất cứ hành vi trái pháp luật nào của người thi hành công vụ đều được coi là nguyên nhân gây nên các thiệt hại mà Nhà nước có trách nhiệm phải bồi thường. Theo quy định của Luật TNBTCNN thì Nhà nước chỉ bồi thường đối với các thiệt hại phát sinh từ các hành vi được quy định tại các điều 13, 26, 28, 38, 39. Ngược lại, không phải thiệt hại nào phát sinh từ hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ cũng đều được Nhà nước bồi thường. Theo đó, Nhà nước chỉ bồi thường đối với các khoản thiệt hại quy định tại hay các Điều 45, 46, 47, 48, 49, 50 và 51 Luật TNBTCNN. Như vậy, Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước có phạm vi rất hẹp so với trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng theo quy định của Bộ luật Dân sự. Luận văn: Căn cứ xác định Trách nhiệm bồi thường thiệt hại.

2.1.4.2. Bản chất mối quan hệ nhân quả

Nguyên nhân là cái sinh ra kết quả nên nguyên nhân luôn là cái có trước kết quả, còn kết quả bao giờ cũng xuất hiện sau nguyên nhân. Tuy nhiên, không phải hai hiện tượng nào nối tiếp nhau về mặt thời gian cũng là quan hệ nhân quả, như hai hiện tượng ngày – đêm không được coi là quan hệ nhân quả. Cái phân biệt quan hệ nhân quả với quan hệ kế tiếp về mặt thời gian là ở chỗ nguyên nhân và kết quả có quan hệ sản sinh ra nhau. Nguyên nhân sinh ra kết quả rất phức tạp bởi nó phụ thuộc và điều kiện và các hoàn cảnh khác nhau. Để nguyên nhân sinh ra kết quả càn có những điều kiện khách quan cho nó, tổng hợp những điều kiện ấy gọi là hoàn cảnh. Tuy nhiên, hoàn cảnh khác nguyên nhân bởi nó không sinh ra kết quả. Nguyên nhân cũng khác với nguyên cớ bởi nguyên cớ chỉ là lý do chủ quan mà con người đưa ra để biện hộ cho một hành vi nào đó.

Trong mối quan hệ giữa hành vi vi phạm của người thi hành công vụ với thiệt hại xảy ra, không phải bất cứ sự vi phạm nào cũng đều là cơ sở của trách nhiệm bồi thường nhà nước và không phải bất cứ sự thiệt hại nào xảy ra cũng đều do bên vi phạm phải gánh chịu. Chỉ khi có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm nghĩa vụ và thiệt hại thực tế xảy ra thì mới phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại.

Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm và thiệt hại thực tế xảy ra được xác định khi hành vi vi phạm và thiệt hại thực tế có mối liên hệ nội tại, tất yếu. Hành vi vi phạm pháp luật là nguyên nhân trực tiếp, còn việc phát sinh ra thiệt hại là kết quả khách quan, tất yếu của hành vi vi phạm pháp luật. Nguyên nhân và kết quả có mối liên hệ nối tiếp nhau. Hành vi vi phạm pháp luật phải có trước khi có thiệt hại xảy ra. Nếu thiệt hại đã xảy ra trước khi có hành vi vi phạm thì thiệt hại đó không phải là kết quả của hành vi vi phạm, giữa chúng không có mối quan hệ nhân quả. Và vì không có quan hệ nhân quả nên trong trường hợp này bên có quyền không thể căn cứ vào thiệt hại trước đó để yêu cầu bên vi phạm phải bồi thường.

Một hành vi vi pháp luật vụ có thể gây ra nhiều khoản thiệt hại, nếu gây ra nhiều khoản thiệt hại thì chủ thể vi phạm phải bồi thường toàn bộ và đầy đủ tất cả các khoản thiệt hại đó và ngược lại, một thiệt hại thực tế có thể do nhiều hành vi vi phạm gây ra, nếu do nhiều hành vi vi phạm gây ra thì các chủ thể có hành vi vi phạm đó phải liên đới chịu trách nhiệm về thiệt hại chung.

Như vậy, quan hệ nhân quả là quan hệ khách quan, không phụ thuộc ý muốn chủ quan của con người; hành vi là nguyên nhân gây ra hậu quả phải là hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ.

2.1.4.3. Ý nghĩa của việc xác định mối liên hệ nhân quả Luận văn: Căn cứ xác định Trách nhiệm bồi thường thiệt hại.

Việc xác định chính xác mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm và thiệt hại thực tế có ý nghĩa rất quan trọng trong việc xác định Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước và mức bồi thường cho người bị thiệt hại.

Trên thực tế, việc xác định mối quan hệ nhân quả trong Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước là vấn đề hết sức khó khăn và phức tạp, sẽ dễ nhầm lẫn nếu chỉ dựa vào suy đoán chủ quan. Do đó cần có sự lưu ý đặc biệt, tránh đánh giá một cách chủ quan, khiên cưỡng, phiến diện. Nếu không có hành vi gây thiệt hại thì không có hậu quả. Thiệt hại xảy ra đúng là hệ quả tất yếu của hành vi trái pháp luật.

Đối với việc bồi thường các thiệt hại về tinh thần, đa số các quốc gia, trong đó có Việt Nam đều quy định theo hướng ấn định một mức bồi thường nhất định nhằm bù đắp những tổn thất về mặt tinh thần cho người bị thiệt hại. Tuy nhiên, đối với các thiệt hại về vật chất phải tuân theo nguyên tắc thiệt hại đến đâu, bồi thường đến đó. Do đó, việc xác định mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật với thiệt hại có ý nghĩa quyết định đến việc Nhà nước có bồi thường thiệt hại hay không và thiệt hại được bồi thường ở mức độ như thế nào.

Đặc biệt, quan hệ nhân quả có ý nghĩa bảo đảm tính khách quan trong bồi thường thiệt hại, có tác dụng phòng ngừa các hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ, bảo đảm xác định đúng thiệt hại được bồi thường.

2.2. Căn cứ xác định Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước trong các lĩnh vực cụ thể Luận văn: Căn cứ xác định Trách nhiệm bồi thường thiệt hại.

Luật TNBTCNN đưa ra các quy định về căn cứ xác định Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước và được phân thành hai nhóm cơ bản:

  • Nhóm thứ nhất, căn cứ xác định Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước trong hoạt động quản lý hành chính, tố tụng dân sự, tố tụng hành chính, thi hành án dân sự và thi hành án hình sự.
  • Nhóm thứ hai, căn cứ xác định Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước trong hoạt động tố tụng hình sự.

Tuy nhiên, dù được phân theo hình thức nào thì Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước vẫn mang những điểm đặc trưng cơ bản ở phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước. Nghĩa là phạm vi Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước theo quy định của Luật TNBTCNN bị giới hạn trong các Điều 13, 26, 28, 38, 39 mà không phải mọi hành vi trái pháp luật của cán bộ, công chức gây thiệt hại cho công dân thì Nhà nước đều phải bồi thường. Đây là điểm đặc thù nhất trong căn cứ xác định Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước. Do đó, khi xem xét và phân tích các quy định về căn cứ xác định Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước trong các lĩnh vực cụ thể nghĩa là ta tập trung xem xét các quy định về phạm vi trách nhiệm BTTHCNN.

Căn cứ xác định Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước trong hoạt động quản lý hành chính Trên cơ sở quy định tại khoản 1 Điều 6 Luật TNBTCNN về căn cứ xác định Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước, Điều 4 Thông tư liên tịch số 18/2015/TTLT-BTP-BTC-TTCP ngày 14/12/2015 hướng dẫn thực hiện Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước trong hoạt động quản lý hành chính (TTLT số 18) quy định cụ thể Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước trong hoạt động quản lý hành chính Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước chỉ phát sinh khi có đủ các căn cứ sau đây: (1) Có văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định hành vi của người thi hành công vụ là trái pháp luật; (2) Hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ thuộc phạm vi trách nhiệm bồi thường quy định tại Điều 13 của Luật; (3) Có thiệt hại thực tế xảy ra; (4) Có mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại thực tế xảy ra và hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ.

Như vậy, căn cứ xác định Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước trong hoạt động quản lý hành chính có một số điểm đặc trưng như sau:

2.2.1.1. Về phạm vi Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước trong hoạt động quản lý hành chính

Hoạt động quản lý hành chính nhà nước có phạm vi rất rộng, bao trùm lên mọi mặt của đời sống xã hội; các loại quyết định hành chính, hành vi hành chính rất đa dạng và phong phú, được thực hiện bởi nhiều cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền trong cơ quan nhà nước nhằm mục đích thực thi nhiệm vụ do Nhà nước giao.

Trên thực tế, rất khó có thể liệt kê hết các trường hợp người bị thiệt hại do hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ gây ra. Do đó, để xác định phạm vi trách nhiệm bồi thường Nhà nước và phân định ranh giới với các dạng trách nhiệm pháp lý khác cần căn cứ vào quy định pháp luật có liên quan để xác định đâu là hành vi trái pháp luật của cán bộ, công chức gây ra thiệt hại trong thi hành công vụ, đâu là việc Nhà nước bồi thường thiệt hại theo phạm vi các văn bản pháp luật khác. Do đó, Điều 13 Luật TNBTCNN quy định phạm vi Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước theo hướng liệt kê có giới hạn các trường hợp được bồi thường như sau: Luận văn: Căn cứ xác định Trách nhiệm bồi thường thiệt hại.

Nhà nước có trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ gây ra trong các trường hợp sau:

  • Ban hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính;
  • Áp dụng biện pháp ngăn chặn vi phạm hành chính và bảo đảm việc xử lý vi phạm hành chính;
  • Áp dụng biện pháp buộc tháo dỡ nhà ở, công trình, vật kiến trúc và biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính khác;
  • Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa người vào trường giáo dưỡng, đưa người vào cơ sở giáo dục hoặc đưa người vào cơ sở chữa bệnh;
  • Cấp, thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh; Giấy chứng nhận đầu tư, giấy phép và các giấy tờ có giá trị như giấy phép;
  • Áp dụng thuế, phí, lệ phí; thu thuế, phí, lệ phí; truy thu thuế; thu tiền sử dụng đất;
  • Áp dụng thủ tục hải quan;
  • Giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất; bồi thường, hỗ trợ, giải phóng mặt bằng, tái định cư; cấp hoặc thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất;
  • Ban hành quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh;
  • Cấp văn bằng bảo hộ cho người không đủ điều kiện được cấp văn bằng bảo hộ; cấp văn bằng bảo hộ cho đối tượng sở hữu công nghiệp không đủ điều kiện được cấp văn bằng bảo hộ; ra quyết định chấm dứt hiệu lực của văn bằng bảo hộ;
  • Không cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, Giấy chứng nhận đầu tư, giấy phép và các giấy tờ có giá trị như giấy phép, văn bằng bảo hộ cho đối tượng có đủ điều kiện;
  • Các trường hợp được bồi thường khác do pháp luật quy định.

Như vậy, để xác định một trường hợp cụ thể có thuộc Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước trong hoạt động quản lý hành chính hay không, ngoài ba điều kiện cơ bản là có hành vi trái pháp luật, có thiệt hại thực tế xảy ra, có mối liên hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật với thiệt hại thực tế phải gánh chịu cần phải xem xét hành vi trái pháp luật đó có thuộc các trường hợp được liệt kê theo quy định tại Điều 13 Luật TNBTCNN không. Cách liệt kê các trường hợp được bồi thường như trên có những ưu điểm sau đây: Luận văn: Căn cứ xác định Trách nhiệm bồi thường thiệt hại.

Thứ nhất, về phía cơ quan nhà nước, việc liệt kê các trường hợp như trên giúp cho Nhà nước dự liệu trước được số lượng vụ việc yêu cầu bồi thường nhằm bảo đảm khả năng chi trả của ngân sách, từ đó đề ra các chính sách pháp luật điều chỉnh cho phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam qua từng giai đoạn.

Thứ hai, quy định theo hướng liệt kê các trường hợp được bồi thường giúp cho người bị thiệt hại cũng như các cơ quan có trách nhiệm bồi thường dễ tra cứu, áp dụng trên thực tiễn xem trường hợp nào thuộc và không thuộc phạm vi Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước, đồng thời là căn cứ dự báo và nhận biết các trường hợp được bồi thường trên thực tiễn.

Thứ ba, quy định mang tính giới hạn các trường hợp được bồi thường sẽ không tạo sức ép quá lớn đến tâm lý của người thi hành công vụ, bảo đảm hoạt động của bộ máy nhà nước không bị xáo trộn, đồng thời góp phần nâng cao ý thức trách nhiệm công vụ của mỗi cán bộ, công chức.

Bên cạnh những ưu điểm như đã nêu, cách liệt kê các trường hợp có khả năng phát sinh Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước của Luật TNBTCNN cũng bộc lộ nhiều điểm hạn chế như:

Thứ nhất, không đảm bảo tính thống nhất của pháp luật bởi hệ thống pháp luật luôn thay đổi, Hiến pháp, các đạo luật cơ bản như Bộ luật Dân sự, Bộ luật hình sự, luật tố tụng dân sự, luật tố tụng hình sự, luật tố tụng hành chính và các văn bản pháp luật có liên quan luôn được điều chỉnh thay đổi sao cho phù hợp với tình hình thực tiễn. Do đó, nếu đưa quy định về phạm vi Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước trong hoạt động quản lý hành chính theo phương thức liệt kê như trên sẽ dẫn đến tình trạng Luật luôn lỗi thời và hoàn toàn bị phụ thuộc vào các quy định của pháp luật có liên quan.

Thứ hai, việc Luật TNBTCNN đưa ra quy định mang tính giới hạn các trường hợp được Nhà nước bồi thường sẽ gây tranh cãi và phản ứng của cá nhân, tổ chức khi chỉ số ít các trường hợp thuộc phạm vi thì được Nhà nước bồi thường, còn lại phần lớn các trường hợp khác không được bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp qua cơ chế bồi thường nhà nước mà phải thực hiện theo quy định của pháp luật có liên quan. Trường hợp pháp luật có liên quan chưa có quy định về bồi thường hoặc dẫn chiếu sang các quy định của Luật TNBTCNN nhưng lại không thuộc phạm vi trường hợp của Luật TNBTCNN thì quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức bị thiệt hại sẽ bị ảnh hưởng không nhỏ. Luận văn: Căn cứ xác định Trách nhiệm bồi thường thiệt hại.

Thứ ba, không đảm bảo tính khoa học, logic và thuyết phục của chế định bồi thường nhà nước khi không thể lý giải tại sao trường hợp này thuộc Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước nhưng trường hợp khác đáp ứng các điều kiện tương tự lại không được Nhà nước bồi thường.

2.2.1.2. Về văn bản xác định hành vi của người thi hành công vụ là trái pháp luật làm căn cứ xác định Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước trong hoạt động quản lý hành chính

Theo quy định tại Điều 4 Luật TNBTCNN, người bị thiệt hại có quyền yêu cầu cơ quan có trách nhiệm bồi thường giải quyết việc bồi thường khi có văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định hành vi của người thi hành công vụ là trái pháp luật. Theo đó, bất cứ cá nhân, tổ chức nào bị thiệt hại về vật chất, tổn thất về tinh thần do hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ đều có quyền yêu cầu Nhà nước bồi thường. Về lý thuyết, quy định trên đã thực sự tạo điều kiện cho người bị thiệt hại trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Tuy nhiên, trên thực tế, để yêu cầu Nhà nước bồi thường thiệt hại, người bị thiệt hại gặp phải không ít khó khăn trong quá trình yêu cầu Nhà nước bồi thường, đặc biệt là khó khăn về trình tự, thủ tục để có được văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường.

Trong hoạt động quản lý hành chính, để có đủ căn cứ thực hiện quyền yêu cầu Nhà nước bồi thường, cá nhân, tổ chức bị thiệt hại trước tiên phải thực hiện thủ tục khiếu nại, tố cáo theo quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo. Trong quyết định giải quyết khiếu nại, tố cáo phải xác định rõ hành vi của người thi hành công vụ là trái pháp luật hay không trái pháp luật. Quyết định giải quyết khiếu nại, tố cáo này sẽ là cơ sở để người bị thiệt hại thực hiện các quyền tiếp theo của mình như tiếp tục khiếu nại, khởi kiện vụ án hành chính hoặc nếu có nội dung xác định hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ thì có quyền yêu cầu Nhà nước bồi thường thiệt hại thông qua cơ chế khiếu nại, khởi kiện vụ án hành chính với nội dung yêu cầu Nhà nước bồi thường thiệt hại. Như vậy, có thể nói rằng, Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước trong hoạt động quản lý hành chính có liên quan chặt chẽ với công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo. Luận văn: Căn cứ xác định Trách nhiệm bồi thường thiệt hại.

Trên cơ sở quy định tại khoản 3 Điều 3 Luật TNBTCNN, Điều 3 Thông tư liên tịch số 18 liệt kê các văn bản được coi là văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định hành vi của người thi hành công vụ là trái pháp luật gồm các văn bản đã có hiệu lực pháp luật sau đây: Quyết định thu hồi, hủy bỏ, thay thế, sửa đổi quyết định hành chính do quyết định đó được ban hành trái pháp luật; Quyết định giải quyết khiếu nại của người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về khiếu nại; Kết luận nội dung tố cáo của người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về tố cáo; Kết luận thanh tra giải quyết vụ việc khiếu nại, tố cáo của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về thanh tra; Bản án, quyết định của Tòa án về giải quyết vụ án hành chính đã có hiệu lực pháp luật; Bản án, quyết định của Tòa án về việc giải quyết vụ án dân sự đã có hiệu lực pháp luật tuyên hủy quyết định hành chính; Bản án, quyết định của Tòa án về việc giải quyết vụ án hình sự xác định người thi hành công vụ có hành vi phạm tội trong khi thi hành công vụ mà tại Bản án, quyết định đó chưa xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi phạm tội của người thi hành công vụ gây ra trong khi thi hành công vụ.

Như vậy, Luật TNBTCNN và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật đã chỉ ra đâu là văn bản xác định hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ trong hoạt động quản lý hành chính. Với phương thức liệt kê các loại văn bản như trên sẽ giúp cho người bị thiệt hại dễ dàng xác định được trường hợp của mình đã có đủ căn cứ yêu cầu bồi thường hay chưa, đồng thời giúp người bị thiệt hại chủ động trong quá trình khiếu nại, tố cáo để có được một trong các văn bản đã nêu làm căn cứ xác định Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước. Tuy nhiên, cách quy định như trên cũng còn rất nhiều điểm hạn chế như sau:

Thứ nhất, Luật TNBTCNN và các văn bản hướng dẫn thi hành chỉ mới liệt kê một vài dạng văn bản được coi là văn bản xác định hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ, trong khi đó trên thực tế trong lĩnh vực quản lý hành chính có rất nhiều loại văn bản đáp ứng yêu cầu về hình thức pháp lý đã quy định nhưng không có nội dung xác định hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ. Quy định này sẽ một lần nữa hạn chế quyền của người bị thiệt hại, gây khó khăn cho người bị thiệt hại khi phải thực hiện khiếu nại, tố cáo nhiều lần để có được đúng loại văn bản với nội dung là xác định hành vi trái pháp luật của cán bộ, công chức đã được Luật TNBTCNN quy định. Ngược lại, một số trường hợp cá nhân, tổ chức có văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành có chứa đựng nội dung xác định hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ nhưng không đáp ứng yêu cầu về hình thức pháp lý của văn bản theo quy định của Luật TNBTCNN cũng là một trong những nguyên nhân gây khó khăn trong quá trình người bị thiệt hại yêu cầu bồi thường.

Thứ hai, ngoài yêu cầu đáp ứng về mặt hình thức và nội dung, các văn bản trên phải là các văn bản đã có hiệu lực pháp luật. Quy định này cũng là một rào cản lớn trong quá trình người bị thiệt hại thực hiện quyền yêu cầu bồi thường bởi nhiều yếu tố như trường hợp người thi hành công vụ không đồng ý với nội dung văn bản nên tiếp tục thực hiện việc khiếu nại hoặc khởi kiện ra tòa. Do đó, đương nhiên văn bản trên chưa phải là văn bản có hiệu lực pháp luật, dẫn đến tình trạng dây dưa kéo dài, không thực sự bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng cho người bị thiệt hại. Luận văn: Căn cứ xác định Trách nhiệm bồi thường thiệt hại.

Thứ ba, để có được văn bản xác định hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ, người bị thiệt hại bắt buộc phải thực hiện việc khiếu nại, tố cáo hoặc khởi kiện hành chính đến các cơ quan có thẩm quyền yêu cầu xác định các hành vi của người thi hành công vụ là trái pháp luật. Tuy nhiên, trên thực tế quá trình khiếu nại, tố cáo để có kết quả làm căn cứ thực hiện quyền yêu cầu bồi thường của người bị thiệt hại gặp không ít khó khăn, gây tổn thất về tiền bạc, sức khỏe, tinh thần… Do đó, cần xem xét sửa đổi quy định này trên phương diện bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của người bị thiệt hại.

2.2.1.3. Về thiệt hại được bồi thường trong hoạt động quản lý hành chính

Theo quy định tại Chương V Luật TNBTCNN, thiệt hại được bồi thường trong hoạt động quản lý hành chính gồm thiệt hại do tài sản bị xâm phạm, thiệt hại do thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút, thiệt hại do tổn thấy về tinh thần, thiệt hại về vật chất do người bị thiệt hại chết và thiệt hại về vật chất do bị tổn hại về sức khỏe… Như vậy, so với các quy định của Nghị định số 47/CP, Luật TNBTCNN đã thừa nhận thiệt hại do tổn thất về tinh thần trong hoạt động quản lý hành chính cũng như các thiệt hại thực tế hợp lý mà người bị thiệt hại phải gánh chịu trong quá trình khiếu nại, tố cáo hoặc thực hiện thủ tục tố tụng để có được căn cứ yêu cầu Nhà nước bồi thường là văn bản xác định hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ.

Ngoài các khoản thiệt hại cơ bản mà nhà nước có trách nhiệm bồi thường trên, Thông tư liên tịch số 18 còn quy định cụ thể về khoản thiệt hại thực tế mà Nhà nước phải bồi thường trong hoạt động quản lý hành chính bao gồm cả chi phí thực tế người bị thiệt hại đã bỏ ra trong quá trình khiếu nại, tố cáo, tham gia tố tụng để có được văn bản xác định hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ như: chi phí tàu xe, đi lại, ăn ở, in ấn tài liệu, gửi đơn thư trong quá trình khiếu nại, tố cáo, tham gia tố tụng.

Như vậy, chỉ cần người bị thiệt hại cung cấp đủ các căn cứ chứng minh có thiệt hại thực tế phải gánh chịu từ hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ và thuộc một trong các thiệt hại được liệt kê theo quy định của Luật TNBTCNN thì Nhà nước có trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luât. Tuy nhiên, điểm hạn chế trong quy định của Luật về thiệt hại được bồi thường trong hoạt động quản lý hành chính là việc chưa đưa ra quy định về khôi phục danh dự cho người bị thiệt hại trong trường hợp người bị thiệt hại bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở chữa bệnh, trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục. Hành vi hành chính trong trường hợp này không phải nhằm hạn chế quyền tài sản mà nhằm vào yếu tố nhân thân người bị thiệt hại, đặc biệt, trong một số trường hợp hậu quả pháp lý từ hành vi này rất lớn, có thể không những gây nên các thiệt hại về vật chất mà còn ảnh hưởng không nhỏ đến danh dự, uy tín, nhân phẩm của người bị thiệt hại. Do đó, trong trường hợp này Luật TNBTCNN cần phải đưa ra quy định về phục hồi danh dự, nhân phẩm cho người bị thiệt hại trong hoạt động quản lý hành chính.

2.2.1.4. Yếu tố lỗi Luận văn: Căn cứ xác định Trách nhiệm bồi thường thiệt hại.

Trong hoạt động quản lý hành chính, về cơ bản Luật TNBTCNN không đưa ra quy định về lỗi trong hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ, nghĩa là Nhà nước thừa nhận trách nhiệm bồi thường thiệt hại của mình mà không cần xem xét đến yếu tố lỗi của người thi hành công vụ. Theo đó, bất cứ hành vi sai phạm nào của người thi hành công vụ mà gây thiệt hại cho cá nhân, tổ chức thì Nhà nước có trách nhiệm bồi thường đối với các thiệt hại đó.

Đối với trường hợp thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi của người bị thiệt hại thì Nhà nước không có trách nhiệm bồi thường hoặc trường hợp người bị thiệt hại cũng có một phần lỗi thì Nhà nước chỉ bồi thường đối với phần thiệt hại sau khi đã trừ đi phần thiệt hại tương ứng với phần lỗi do người bị thiệt hại gây ra.

Căn cứ xác định Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước trong hoạt động thi hành án dân sự Trên cơ sở nguyên tắc tại khoản 1 Điều 6 Luật TNBTCNN, việc xác định Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước trong hoạt động thi hành án dân sự phải đáp ứng đủ các yêu cầu về căn cứ như: Có hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ thuộc phạm vi trách nhiệm bồi thường theo quy định tại Điều 38 Luật TNBTCNN, có văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định hành vi trái pháp luật, có thiệt hại thực tế xảy ra, có mối liên hệ nhân quả giữa thiệt hại và hành vi trái pháp luật.

Như vậy, cũng giống như TNBTCNN trong hoạt động quản lý hành chính, Luật TNBTCNN quy định về căn cứ xác định Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước trong hoạt động thi hành án dân sự theo phương thức liệt kê có giới hạn phạm vi Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước theo quy định tại Điều 38. Tuy nhiên, do với những đặc thù trong hoạt động thi hành án chủ yếu nhằm vào tài sản và quyền tài sản nên việc đưa ra các quy định về căn cứ xác định Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước trong lĩnh vực thi hành án dân sự có nhiều điểm riêng biệt, thể hiện rõ nét nhất trong phạm vi Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước trên từng lĩnh vực khác nhau.

Về phạm vi Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước, Luật TNBTCNN quy định Nhà nước có trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các trường hợp: Luận văn: Căn cứ xác định Trách nhiệm bồi thường thiệt hại.

Ra hoặc cố ý không ra quyết định: thi hành án; thu hồi, sửa đổi, bổ sung, hủy quyết định về thi hành án; áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án; cưỡng chế thi hành án; thi hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của Tòa án; hoãn, tạm đình chỉ, đình chỉ hoặc tiếp tục thi hành án. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước trong trường hợp này chỉ phát sinh khi có đủ các căn cứ như có văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định hành vi của người thi hành công vụ là trái pháp luật; Hành vi gây thiệt hại của người thi hành công vụ thuộc phạm vi trách nhiệm bồi thường quy định tại Điều 38 của Luật; Có thiệt hại thực tế xảy ra và có mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại thực tế xảy ra và hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ.

Tổ chức thi hành hoặc cố ý không tổ chức thi hành các quyết định về thi hành án. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước trong trường hợp này ngoài các điều kiện chung như có văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định hành vi của người thi hành công vụ là trái pháp luật, có thiệt hại thực tế xảy ra, có mối liên hệ nhân quả giữa thiệt hại với hành vi trái pháp luật và thuộc phạm vi Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước trong hoạt động thi hành án dân sự còn phải đáp ứng yêu cầu về lỗi cố ý trong thực thi công vụ… Theo đó, lỗi cố ý trong thực thi công vụ phải được xác định trong nội dung văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường hoặc trường hợp văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường chưa có nội dung xác định lỗi cố ý của người thi hành công vụ thì người bị thiệt hại phải yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành văn bản xác định lỗi cố ý.

Về văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường trong hoạt động thi hành án, Luật TNBTCNN và Thông tư liên tịch số 17/2015/TTLT-BTP-BQP ngày 07 tháng 12 năm 2015 hướng dẫn thực hiện trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong hoạt động thi hành án dân sự (TTLT số 17) hướng dẫn thực hiện Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước sau:

Văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định hành vi của người thi hành công vụ là trái pháp luật là các văn bản đã có hiệu lực pháp luật sau đây: Quyết định thu hồi, sửa đổi, bổ sung, hủy các quyết định trái pháp luật về thi hành án dân sự; Quyết định giải quyết khiếu nại của người có thẩm quyền theo quy định của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014; Kết luận nội dung tố cáo của người có thẩm quyền theo quy định của Luật Thi hành án dân sự; Kết luận thanh tra giải quyết vụ việc khiếu nại, tố cáo của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về thanh tra; Văn bản của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền trả lời chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân có thẩm quyền đã ra kháng nghị theo quy định của Luật Thi hành án dân sự; Bản án, quyết định của Toà án có thẩm quyền đã có hiệu lực pháp luật. Luận văn: Căn cứ xác định Trách nhiệm bồi thường thiệt hại.

Ngoài ra, Luật TNBTCNN cũng quy định về Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước trong trường hợp người bị thiệt hại có lỗi trong việc để xảy ra thiệt hại được xác định như sau: (1) Nhà nước không bồi thường đối với thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi của người bị thiệt hại (2) Trường hợp người bị thiệt hại cũng có một phần lỗi trong việc gây ra thiệt hại thì Nhà nước chỉ bồi thường phần thiệt hại sau khi trừ đi phần thiệt hại tương ứng với phần lỗi của người bị thiệt hại gây ra. Việc xác định thiệt hại được bồi thường sau khi trừ đi phần thiệt hại do lỗi của người bị thiệt hại gây ra được thực hiện theo quy định của Bộ luật Dân sự và các văn bản hướng dẫn thi hành.

Tuy nhiên, Bộ luật Dân sự 2015 quy định về căn cứ xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng có sự thay đổi về yếu tố lỗi của người gây thiệt hại. Cụ thể là, Bộ luật Dân sự 2005 quy định yếu tố lỗi là một yếu tố bắt buộc (khoản 1 Điều 604 – Người nào do lỗi cố ý hoặc vô ý…), trong khi đó Bộ luật Dân sự 2015 không quy định yếu tố lỗi là bắt buộc (khoản 1 Điều 584 – Người nào có hành vi xâm phạm…). Như vậy, quy định nêu trên của Bộ luật Dân sự 2015 đã đặt ra yêu cầu cần thay đổi trong các quy định về căn cứ xác định Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước trong hoạt động thi hành án dân sự, theo đó lỗi không còn được coi là yếu tố bắt buộc trong mọi trường hợp.

2.2.3. Căn cứ xác định Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước trong hoạt động thi hành án hình sự

Khác với các lĩnh vực khác, hoạt động thi hành án hình sự luôn gắn liền với yếu tố nhân thân và quyền nhân thân của mỗi cá nhân. Do đó, khi xem xét về căn cứ xác định Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước trong hoạt động thi hành án hình sự trước tiên cần xem xét trên cơ sở phạm vi Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước. Theo quy định tại Điều 39 Luật TNBTCNN và Điều 3 Thông tư liên tịch số 11/2013/TTLT-BCA-BQP-BTP-VKSNDTC-TANDTC ngày 06 tháng 11 năm 2013 của hướng dẫn thực hiện Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước trong hoạt động thi hành án hình sự (TTLT số 11) thì Nhà nước có trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ gây ra trong các trường hợp như: Ra quyết định thi hành án tử hình đối với người bị kết án tử hình là phụ nữ có thai, phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi, người đã được Chủ tịch nước quyết định ân giảm hình phạt tử hình, người chưa thành niên; giam người bị kết án phạt tù quá thời hạn phải thi hành án theo bản án, quyết định của Toà án; không thực hiện quyết định hoãn thi hành án của Tòa án đối với người bị kết án phạt tù; không thực hiện quyết định tạm đình chỉ thi hành án của Tòa án đối với người bị kết án phạt tù; không thực hiện quyết định giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù của Tòa án đối với người đang chấp hành hình phạt tù; không thực hiện quyết định đặc xá của Chủ tịch nước đối với người bị kết án phạt tù được đặc xá.

Trên cơ sở các trường hợp thuộc phạm vi Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước như đã liệt kê, Luật TNBTCNN và Thông tư liên tịch số 11 đưa ra các yêu cầu cụ thể về căn cứ như sau: Có văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định hành vi của người thi hành công vụ là trái pháp luật; hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ thuộc phạm vi trách nhiệm bồi thường hướng dẫn tại Điều 3 Thông tư liên tịch số 11; có thiệt hại thực tế xảy ra; có mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại thực tế xảy ra và hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ.

Văn bản xác định hành vi trái pháp luật trong hoạt động thi hành án hình sự Theo quy định tại Điều 5 Thông tư liên tịch số 11 thì văn bản xác định hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ gồm các văn bản sau: Quyết định giải quyết khiếu nại của người có thẩm quyền đã có hiệu lực pháp luật; Kết luận nội dung tố cáo của cơ quan hoặc người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật; Bản án, quyết định của Tòa án có thẩm quyền đã có hiệu lực pháp luật.

Ngoài ra, giống như trong lĩnh vực quản lý hành chính và thi hành án dân sự, Luật TNBTCNN cũng đưa ra quy định về trường hợp người bị thiệt hại có lỗi. Theo đó, Nhà nước sẽ không bồi thường đối với thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi của người bị thiệt hại; trường hợp người thi hành công vụ và người bị thiệt hại cùng có lỗi thì Nhà nước chỉ bồi thường một phần thiệt hại tương ứng với phần lỗi của người thi hành công vụ. Luận văn: Căn cứ xác định Trách nhiệm bồi thường thiệt hại.

Tuy nhiên, với những thay đổi trong quy định của pháp luật thi hành án hình sự thì Luật TNBTCNN đã bộc lộ những điểm hạn chế, cụ thể: Điều 39 Luật TNBTCNN chưa quy định về các trường hợp không thực hiện quyết định giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù của Tòa án đối với người đang chấp hành hình phạt tù, không thực hiện quyết định của Tòa án có thẩm quyền về việc tha tù trước thời hạn đối với người bị kết án phạt tù, không thực hiện quyết định đặc xá của Chủ tịch nước đối với người bị kết án phạt tù được đặc xá, không thực hiện quyết định đại xá của Quốc hội với người bị kết án được đại xá. Do đó, để phù hợp với quy định của Luật Thi hành án hình sự thì phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong hoạt động thi hành án hình sự cần bổ sung thêm các trường hợp nêu trên.

2.2.4. Căn cứ xác định Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước trong hoạt động tố tụng dân sự, tố tụng hành chính

Tuân theo các nguyên tắc chung về căn cứ xác định Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước quy định tại khoản 1 Điều 6 Luật TNBTCNN, căn cứ xác định Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước trong hoạt động tố tụng dân sự, tố tụng hành chính được quy định tại Điều 28 Luật TNBTCNN gồm có văn bản của cơ quan có thẩm quyền xác định hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ thuộc phạm vi Luật TNBTCNN trong hoạt động tố tụng dân sự, tố tụng hành chính, có thiệt hại thực tế xảy ra, có mối liên hệ nhân quả giữa thiệt hại thực tế với hành vi trái pháp luật.

Tuy nhiên, với đặc thù là một lĩnh vực riêng biệt, trong đó trọng tâm là hoạt động xét xử của các cơ quan tư pháp. Do đó, căn cứ xác định Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước trong hoạt động tố tụng dân sự, tố tụng hành chính được xác định trên cơ sở quy định về phạm vi Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước, cụ thể: Nhà nước có trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi trái pháp luật của người tiến hành tố tụng dân sự, tố tụng hành chính gây ra trong các trường hợp sau: Tự mình áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời; Áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời khác với biện pháp khẩn cấp tạm thời mà cá nhân, cơ quan, tổ chức có yêu cầu; Áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời vượt quá yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của cá nhân, cơ quan, tổ chức; Ra bản án, quyết định mà biết rõ là trái pháp luật hoặc cố ý làm sai lệch hồ sơ vụ án.

Việc ra bản án, quyết định mà biết rõ là trái pháp luật hoặc cố ý làm sai lệch hồ sơ vụ án khi có đủ hai điều kiện sau đây: (1) Bản án, quyết định giải quyết vụ việc dân sự, vụ án hành chính đã bị hủy theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm;(2) Có văn bản xác định hành vi trái pháp luật quy định tại khoản 2 Điều 3 Thông tư liên tịch số 01/2012/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 18 tháng 9 năm 2012 hướng dẫn thực hiện trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong hoạt động tó tụng dân sự, tố tụng hành chính (TTLT số 01). Luận văn: Căn cứ xác định Trách nhiệm bồi thường thiệt hại.

  • Theo đó, Thông tư liên tịch số 01 đưa ra các quy định cụ thể về văn bản xác định hành vi trái pháp luật như sau:

Văn bản xác định hành vi trái pháp luật của người đã tiến hành tố tụng ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời là quyết định giải quyết khiếu nại, kiến nghị cuối cùng của Chánh án Tòa án có thẩm quyền hoặc của Hội đồng xét xử theo quy định tại Điều 125 Bộ luật tố tụng dân sự hoặc Điều 71 Luật Tố tụng hành chính.

Văn bản xác định hành vi trái pháp luật của người đã tiến hành tố tụng ra bản án, quyết định mà biết rõ là trái pháp luật hoặc cố ý làm sai lệch hồ sơ vụ án là một trong các văn bản sau đây: Bản án, quyết định hình sự của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật xác định người đã tiến hành tố tụng đó phạm tội ra bản án trái pháp luật hoặc tội ra quyết định trái pháp luật hoặc tội làm sai lệch hồ sơ vụ án; Các quyết định gồm Quyết định đình chỉ điều tra của Cơ quan điều tra theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 164 Bộ Luật tố tụng hình sự, Quyết định đình chỉ vụ án của Viện kiểm sát theo quy định tại khoản 1 Điều 169 Bộ Luật tố tụng hình sự, Quyết định đình chỉ vụ án của Tòa án theo quy định tại Điều 180 Bộ Luật tố tụng hình sự vì lý do người đã tiến hành tố tụng ra bản án, quyết định mà biết rõ là trái pháp luật hoặc cố ý làm sai lệch hồ sơ vụ án được miễn trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 25 Bộ Luật hình sự; Quyết định giải quyết khiếu nại, kết luận nội dung tố cáo của Chánh án Tòa án xác định người đã tiến hành tố tụng có hành vi ra bản án mà biết rõ là trái pháp luật hoặc ra quyết định mà biết rõ là trái pháp luật hoặc cố ý làm sai lệch hồ sơ vụ án trong trường hợp người đã tiến hành tố tụng chưa bị khởi tố hoặc đang bị điều tra, truy tố, xét xử về những hành vi này thì bị chết; Quyết định xử lý kỷ luật cán bộ, công chức đối với người đã tiến hành tố tụng có hành vi ra bản án mà biết rõ là trái pháp luật hoặc ra quyết định mà biết rõ là trái pháp luật hoặc cố ý làm sai lệch hồ sơ vụ án trong trường hợp người đã tiến hành tố tụng không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về những hành vi này.

Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định về phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong hoạt động tố tụng dân sự, tố tụng hành chính đã bộc lộ những hạn chế, bất cập như: Luận văn: Căn cứ xác định Trách nhiệm bồi thường thiệt hại.

Thứ nhất, khoản 2 Điều 14 Hiến pháp 2013 quy định “quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế.. vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng”, trong khi đó Luật TNBTCNN lại quy định Nhà nước có trách nhiệm bồi thường trong trường hợp ra bản án, quyết định mà biết rõ là trái pháp luật hoặc cố ý làm sai lệch hồ sơ vụ án. Như vậy, quy định này của Luật TNBTCNN chưa phù hợp với Hiến pháp 2013 do lỗi vô ý làm sai lệch hồ sơ vụ án gây thiệt hại không phải là căn cứ loại trừ Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước.

Thứ hai, đối chiếu theo quy định của Bộ luật Dân sự 2015 và Luật Tố tụng hành chính 2015 thì người tiến hành tố tụng trong khi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình có hành trái pháp luật gây thiệt hại cho cơ quan, tổ chức, cá nhân thì cơ quan trực tiếp quản lý người tiến hành tố tụng có hành vi trái pháp luật phải bồi thường và trường hợp Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không đúng thời hạn theo quy định hoặc không áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời mà không có lý do chính đáng cũng phải bồi thường. Đặc biệt, Bộ luật tố tụng dân sự 2015 dẫn chiếu áp dụng Luật TNBTCNN đối với các trường hợp người thi hành công vụ có hành vi sai phạm gây thiệt hại. Tuy nhiên, phạm vi Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự 2015 rộng hơn phạm vi Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước theo Luật TNBTCNN rất nhiều. Từ những phân tích trên có thể thấy Luật TNBTCNN hiện nay cần được sửa đổi cho phù hợp với hệ thống pháp luật hiện hành, đảm bảo tốt nhất quyền lợi của công dân khi họ phải gánh chịu những thiệt hại từ hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ trong hoạt động tố tụng dân sự, tố tụng hành chính.

2.2.5. Căn cứ xác định Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước trong hoạt động tố tụng hình sự Luận văn: Căn cứ xác định Trách nhiệm bồi thường thiệt hại.

Theo quy định tại Điều 26 Luật TNBTCNN, Nhà nước có trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các trường hợp sau đây:

Người bị tạm giữ mà có quyết định của cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự huỷ bỏ quyết định tạm giữ vì người đó không thực hiện hành vi vi phạm pháp luật mà cơ quan có thẩm quyền đã viện dẫn làm căn cứ để ra quyết định tạm giữ họ;

Người bị tạm giam, người đã chấp hành xong hoặc đang chấp hành hình phạt tù có thời hạn, tù chung thân, người đã bị kết án tử hình, người đã thi hành án tử hình mà có bản án, quyết định của cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự xác định người đó không thực hiện hành vi phạm tội.

Đặc biệt, trường hợp người bị tạm giam được bồi thường thiệt hại khi có quyết định của cơ quan hoặc người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự hủy bỏ quyết định tạm giam, đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án hoặc tòa án tuyên bị cáo không phạm tội vì các lỹ do: Không thực hiện hành vi vi phạm pháp luật, đã hết thời hạn điều tra mà không chứng minh được bị can đã thực hiện tội phạm.

Trường hợp người đã chấp hành xong hoặc đang chấp hành hình phạt tù có thời hạn, tù chung thân, người đã bị kết án tử hình, người đã bị thi hành án tử hình được bồi thường thiệt hại khi có bản án, quyết định của tòa án có thẩm quyền đã có hiệu lực pháp luật xác định người đó không thực hiện hành vi phạm tội hoặc hành vi của người đó không cấu thành tội phạm.

Người bị khởi tố, truy tố, xét xử, thi hành án không bị tạm giữ, tạm giam, thi hành hình phạt tù có thời hạn mà có bản án, quyết định của cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự xác định người đó không thực hiện hành vi phạm tội;

Người bị khởi tố, truy tố, xét xử về nhiều tội trong cùng một vụ án, đã chấp hành hình phạt tù mà sau đó có bản án, quyết định của cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự xác định người đó không phạm một hoặc một số tội và hình phạt của những tội còn lại ít hơn thời gian đã bị tạm giam, chấp hành hình phạt tù thì được bồi thường thiệt hại tương ứng với thời gian đã bị tạm giam, chấp hành hình phạt tù vượt quá so với mức hình phạt của những tội mà người đó phải chấp hành;

Người bị khởi tố, truy tố, xét xử về nhiều tội trong cùng một vụ án và bị kết án tử hình nhưng chưa thi hành mà sau đó có bản án, quyết định của cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự xác định người đó không phạm tội bị kết án tử hình và tổng hợp hình phạt của những tội còn lại ít hơn thời gian đã bị tạm giam thì được bồi thường thiệt hại tương ứng với thời gian đã bị tạm giam vượt quá so với mức hình phạt chung của những tội mà người đó phải chấp hành;

Người bị xét xử bằng nhiều bản án, Toà án đã tổng hợp hình phạt của nhiều bản án đó, mà sau đó có bản án, quyết định của cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự xác định người đó không phạm một hoặc một số tội và hình phạt của những tội còn lại ít hơn thời gian đã bị tạm giam, chấp hành hình phạt tù thì được bồi thường thiệt hại tương ứng với thời gian đã bị tạm giam, chấp hành hình phạt tù vượt quá so với mức hình phạt của những tội mà người đó phải chấp hành;

Tổ chức, cá nhân có tài sản bị thiệt hại do việc thu giữ, tạm giữ, kê biên, tịch thu, xử lý có liên quan đến các trường hợp quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều này thì được bồi thường. Luận văn: Căn cứ xác định Trách nhiệm bồi thường thiệt hại.

Ngoài ra, Điều 27 Luật TNBTCNN cũng quy định về các trường hợp không được bồi thường thiệt hại trong hoạt động tố tụng hình sự như sau:

  • Người được miễn trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.
  • Cố ý khai báo gian dối hoặc cung cấp tài liệu, vật chứng khác sai sự thật để nhận tội thay cho người khác hoặc để che giấu tội phạm.

Người bị khởi tố, truy tố, xét xử về nhiều tội trong cùng một vụ án hoặc Toà án quyết định tổng hợp hình phạt của nhiều bản án, đã bị tạm giữ, bị tạm giam, đã chấp hành hình phạt tù hoặc đã bị kết án tử hình nhưng chưa thi hành án mà sau đó có bản án, quyết định của cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự xác định người đó không phạm một hoặc một số tội nhưng không thuộc các trường hợp quy định tại các khoản 4, 5 và 6 Điều 26 của Luật này.

Người bị khởi tố, truy tố trong vụ án hình sự được khởi tố theo yêu cầu của người bị hại nhưng vụ án đã được đình chỉ do người bị hại đã rút yêu cầu khởi tố, trừ trường hợp hành vi vi phạm pháp luật của họ chưa cấu thành tội phạm.

Người bị khởi tố, truy tố, xét xử là đúng với các văn bản quy phạm pháp luật tại thời điểm khởi tố, truy tố, xét xử nhưng tại thời điểm ra bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật mà theo các văn bản quy phạm pháp luật mới được ban hành và có hiệu lực sau ngày khởi tố, truy tố, xét xử đó họ không phải chịu trách nhiệm hình sự.

Đặc biệt, Thông tư liên tịch số 05/2012/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BTP-BQP- BTC-BNN&PTNT ngày 02 tháng 11 năm 2012 hướng dẫn thực hiện trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong hoạt động tố tụng hình sự quy định bổ sung một trường hợp không được bồi thường thiệt hại là trường hợp người bị khởi tố đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, được quy định trong Bộ luật hình sự nhưng không phải chịu trách nhiệm hình sự mà bị áp dụng các biện pháp tư pháp theo quy định vì lý do họ không có năng lực trách nhiệm hình sự (tâm thần hoặc bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc điều khiển hành vi theo quy định của Bộ luật hình sự) hoặc do họ chưa đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự.

Như vậy, khác với các lĩnh vực khác, trong hoạt động tố tụng hình sự, việc quy định về căn cứ, văn bản xác định, phạm vi… không được đưa ra mà thay vào đó là các quy định theo hướng liệt kê các trường hợp được Nhà nước bồi thường. Hơn nữa, xuất phát từ đặc thù riêng là hành vi công vụ xâm phạm vào quyền nhân thân của công dân nên việc xác định thiệt hại thực tế, mối liên hệ nhân quả giữa hành vi sai phạm và thiệt hại đối với các trường hợp thuộc phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước được liệt kê không được đặt ra. Theo đó, việc xác định mức thiệt hại được bồi thường được Nhà nước quy định trực tiếp trong Luật TNBTCNN như ba ngày lương tối thiểu cho một ngày bị tạm giữ, tạm giam, chấp hành hình phạt tù; thiệt hại do tổn thất về tinh thần trong trường hợp người bị thiệt hại chết được xác định là ba trăm sáu mươi thánh lương tối thiểu; thiệt hại do tổn thất về tinh thần trong trường hợp sức khỏe bị xâm phạm được xác định căn cứ vào mức độ sức khỏe bị tổn hại nhưng không quá ba mươi sáu tháng lương tối thiểu… Luận văn: Căn cứ xác định Trách nhiệm bồi thường thiệt hại.

Kết luận Chương 2

Nhìn chung, Luật TNBTCNN ra đời đã thể hiện tính ưu việt so với các văn bản pháp luật trước đó, đặc biệt thông qua việc hiện thực hóa được một trong những mục tiêu quan trọng là thiết lập một cơ chế pháp lý mới, đồng bộ, hiệu quả, tạo điều kiện thuận lợi cho các cá nhân, tổ chức và người bị thiệt hại trong việc bảo vệ quyền lợi hợp pháp được Nhà nước ghi nhận và bảo vệ. Tuy nhiên, thực tế cho thấy, người bị thiệt hại vẫn gặp khó khăn trong quá trình thực hiện quyền yêu cầu Nhà nước bồi thường của mình. Một trong những rào cản và cũng là khó khăn lớn nhất của người bị thiệt hại trong quá trình thực hiện quyền yêu cầu bồi thường là những yêu cầu về căn cứ xác định Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước. Những quy định cụ thể về căn cứ xác định Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước theo quy định của Luật TNBTCNN chưa mang tính khái quát, rõ ràng và chưa đồng nhất khiến cho người bị thiệt hại khó thực hiện quyền yêu cầu bồi thường của mình mặc dù trên thực tế họ phải gánh chịu thiệt hại từ hành vi trái pháp luật của cán bộ, công chức Nhà nước. Từ những phân tích, đánh giá trên cho thấy các quy định về căn cứ xác định Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước hiện nay còn nhiều điểm hạn chế, gây khó khăn cho người bị thiệt hại, đặc biệt là quy định người bị thiệt hại phải cung cấp được văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ. Theo các quy định pháp luật có liên quan, văn bản xác định hành vi của người thi hành công vụ chỉ có được sau khi người bị thiệt hại thực hiện các thủ tục như khiếu nại, tố cáo, khiếu kiện tại các cơ quan nhà nước có thẩm quyền… Việc đặt ra quy định về cung cấp loại văn bản này của Luật TNBTCNN vô hình chung đã khiến cho người bị thiệt hại phải qua rất nhiều các thủ tục khác nhau mới đủ điều kiện yêu cầu Nhà nước bồi thường. Như vậy, quy định về căn cứ xác định Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước theo quy định của Luật TNBTCNN hiện nay chưa hoàn toàn tạo điều kiện cho người bị thiệt hại trong bảo về quyền lợi của mình. Luận văn: Căn cứ xác định Trách nhiệm bồi thường thiệt hại.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:  

===>>> Luận văn: Thực tiễn xác định Trách nhiệm bồi thường thiệt hại

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464