Khóa luận: Tổng quan về đền thờ Đồng Bằng ở Thái Bình

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Khóa luận: Tổng quan về đền thờ Đồng Bằng ở Thái Bình hay nhất năm 2022 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Khóa luận: Tìm hiểu tín ngưỡng thờ mẫu tại đền Đồng Bằng – Thái Bình để phục vụ phát triển du lịch văn hóa tâm linh dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

2.1 Tổng quan về đền Đồng Bằng ở tỉnh Thái Bình

2.1.1 Tên gọi, vị trí địa lý Khóa luận: Tổng quan về đền thờ Đồng Bằng ở Thái Bình

Đền Đồng Bằng tọa lạc trên đất An Lễ, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình ngày nay. Đền Đồng Bằng là nơi thờ Đức Vua Cha Bát Hải Động Đình-Người có công lớn trong việc bình thục giữ nước và chiêu dân lập ấp, xây dựng giang sơn xã tắc từ buổi sơ khai. Đây là ngôi đền đã tồn tại gần 4000 năm (từ thời Vua Hùng) trên đất Thái Bình.

Cũng vì thế mà có những câu thơ, ca dao để nhớ về ngày lễ:

“Dù ai buôn bán đâu xa/ 22 – 8 giỗ cha thì về

Dù ai buôn bán trăm nghề/22 – 8 thì về làng tôi.”

Đền Đồng Bằng nằm kề quốc lộ 10, thuộc thôn Đào Động – vùng đất trải dài 2km, rộng 1km. Và chính vì nằm ngay bên trục đường của đường quốc lộ 10 mà vì thế được người dân biết đến rất nhiều và được sự đông đảo của cả nước đến tham dự mỗi khi đền Đồng Bằng tổ chức lễ hội.

Đền Đồng Bằng hay còn có tên gọi khác: đền Đào Động, đền Đức Vua Cha, đền Bát Hải Động Đình, đền Đức Vua. Các tên gọi này được lưu truyền trong dân gian và trong các tài liệu thành văn đều không thống nhất. Vậy để hiểu cho đúng tên gọi của đền, chúng ta sẽ cùng tìm hiểu nghĩa của các tên gọi nêu trên. Vào thời Trần, đền Đồng Bằng nằm trong trung tâm căn cứ lưu vực sông Hóa của Hưng Đạo Đại Vương, khi trấn giữ lưu vực sông Luộc, sông Hóa, Trần Quốc Tuấn đã đến nơi này vãn cảnh, bái yết ngôi đền. Lúc đó, ngôi đền còn nhỏ bé, ông nhận thấy nơi đây là một thế mạnh. Vì vậy, ông đã sai tướng Phạm Ngũ Lão và phò mã Đô úy Nguyễn Chế Nghĩa về đây đắp thành lũy, lập căn cứ ở trang Đào Động. Đây là hậu cứ chống quân Nguyên xâm lược vững như thành đồng, nên làng Đào Động còn có tên gọi là “Động Bình” có nghĩa là bức chắn bằng kim loại trên phòng tuyến chống quân xâm lược Nguyên. Cứ như vậy, theo sự chảy trôi của dòng thời gian và cùng với sự truyền ngôn của dân gian ngôi làng mang tên “Đồng Bằng”. Ngoài tên “Đồng Bằng”, đền còn được ghi vào biển kẻ bảng văn với tên gọi khác. Trên bảng văn cổng chính đề bốn chữ Hán: “Bát Hải Động Đình” trên bản sao thần tích của đền có dòng chữ ghi ở bìa như sau: “Bát Hải Động Đình ngọc phả lục”. Cho đến nay, cũng có nhiều người giải thích sai lệch về tên gọi này. “Bát Hải” có nghĩa là tám biển, ý muốn chỉ chiến công của Vĩnh Công xưa, đánh tan giặc trên tám cửa biển nước Nam. Sau khi chiến thắng, ông được giao trọng trách giữ gìn và khai khẩn, xây dựng tám cửa biển nước Nam. “Động” có nghĩa là một đơn vị hành chính cấp thấp dưới thời Lý – Trần. “Đình” vốn dĩ có nghĩa là “dừng”, là nơi nghỉ của các triều thần hoặc nhà vua khi đi kinh lý. Khái niệm này xuất hiện thời nhà Lý thế kỉ XII. Sau này, “Đình” mới có nghĩa là nơi cộng đồng, nơi thờ thành hoàng của một làng, một khu vực trong một địa vực hành chính. Với cách hiểu trên thì “Bát Hải Động Đình” cần phải hiểu theo hai nghĩa :

  • Nghĩa thứ nhất: Là nơi dừng chân của nhà vua hoặc các triều thần tại ở kinh lý tại tám động của cửa biển.
  • Nghĩa thứ hai: Là nơi thờ cộng đồng các vị tiên công của tám động vùng cửa biển. Hay là ngôi đình chung của tám động vùng cửa biển. Như vậy, tên gọi “Bát Hải Động Đình” là thần hiệu chính thống, là tên gọi từ xa xưa của đền để chỉ Vĩnh Công xưa. Hay còn được dung tên phổ biến nhất mà người dân hay gọi là đền Đồng Bằng.

Vị trí địa lý đền Đồng Bằng

Đồng Bằng xưa chỉ là một cồn đống, bốn bề sông nước mênh mông do vậy ngôi đền của làng cũng được bao bọc bởi các con sông. Thời cổ đại, giao thông chủ yếu dùng thuyền “Đông Chu, Bắc Mã’’ cho nên với vị trí tâm điểm của các con sông là điều kiện thuận lợi để khách lễ hướng về đền. Đền Đào Động nằm gữa khu vực sông Hóa và sông Đại Lẫm, ngược lên phía Bắc gặp sông Luộc ở khu vực Tuần Tranh (Linh Giang) tiếp vào sông Hồng Hà, xuôi về phía Đông 7 km sẽ sông Thái Bình tại cầu Xe. Theo sông Hóa có cửa ra sông Thái Bình, sông Đại Lẫm hợp với sông Diêm đổ ra cửa Trần (tức cảng Diêm Điền). Từ kinh thành theo sông Hồng vào cửa Hải Thị về sông Đại Lẫm. Từ Đông Bắc theo sông Thái Bình xuống cầu Xe xuống Tuần Tranh và sông Hóa để đến Đào Động đều thuận lợi. Khóa luận: Tổng quan về đền thờ Đồng Bằng ở Thái Bình

Năm 1910, Pháp mở quốc lộ 10 từ Ninh Bình qua Nam Định sang thị xã Thái Bình, đi thị xã Kiến An và thành phố Hải Phòng. Tuyến đường quốc lộ này đã tạo điều kiện thuận lợi nối Đào Động với nhiều miền đất nước. Đền Đào Động tọa lạc cạnh cầu Vật, sát đường quốc lộ, cách thị xã Thái Bình 20km, cách thành phố Hải Phòng 70km và cách thị xã Kiến An 59km. Nếu xét địa lý của đền theo thuyết phong thủy cổ truyền đến tận bây giờ thế đất tọa lạc của đền vẫn là một thế đất đẹp, biểu tượng cho sự bền vững và hưng thịnh. Theo thuyết phong thủy, chọn thế đất trước mặt phải “thủy đáo tiền đường”, phía sau “kimquy án hậu”, tả Thanh Long, hữu Bạch Hổ. “Tả Thanh Long” là khu đầm Bà, chạy dài dọc địa giới phía Đông Đào Động như hình một con rồng xanh mềm mại ôm ấp lấy đền. “Hữu Bạch Hổ” là đống làng Mỹ như thế hổ chầu hướng phục vị đền. Với vị trí như vậy, nhân một lần vào bái yết thần đền tướng quân Phạm Ngũ Lão đã để lại một bài thơ ca ngợi:

“Xuân nhật tảo di hoa ảnh động

Thu phong viễn tống hạc thanh lai

Lưu quang điện hạ thiên tùng thụ

Qủa cảnh thần tiên nhất thủ tài”.

Dịch thơ:

“Xuân đến lung linh rợp trời hoa

Hạc về để tiễn gió thu xa

Dưới bóng trời cây đền rực rỡ

Đáng chốn thần tiên nhất nước nhà”.

Như vậy, đền tọa lạc trên một vị trí có linh khí trời đất hội tụ, “Đáng chốn thần tiên nhất nước nhà”. Mọi tinh hoa của đất trời kết tinh và thăng hoa làm tăng thêm tính linh thiêng và huyền bí cho ngôi đền. Đền Đào Động với vị trí cách quốc lộ 10 không quá xa, đủ cho du khách muôn phương có thể xuống xe đi tản 39

bộ vào đền, cũng không quá gần quốc lộ để không bị chịu ảnh hưởng tiếng ồn ào của dòng xe xuôi ngược. Một lần nữa ta khẳng định: đền Đào Động xây dựng có tiếp thu thuyết phong thủy truyền thống của đạo giáo và đó là thế đất đứng đầu trong lựa chọn xây dựng gia trạch, miếu mạo.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:

===>>> Dịch Vụ Khóa Luận Tốt Nghiệp Ngành Du Lịch

2.1.2. Tổng thể kiến trúc Khóa luận: Tổng quan về đền thờ Đồng Bằng ở Thái Bình

Trong bài Hồ từ viết vào cuố thế kỉ XIII, quan Điện Tiền Phạm Ngũ Lão khi đi lễ và tham quan đền Đào Động, xúc động trước vườn đào, điện thánh, Phạm tướng công đã phác họa đền Đào Động qua những vần thơ tuyệt bút. Đó là cảnh buổi sớm mùa xuân, hoa lá rung rinh, đã xa rồi tiếng hạc mùa thu gió lạnh. Trong đền rực sáng, trời tụ khí thiêng. Giữa đời Lê Trung Hưng, đền có được tu bổ, mở rộng, nhưng không có văn bia nào chép lại. Song chỉ cần hiện diện công trình tôn tạo năm 1899 cũng đã khẳng dịnh được tầm vóc của di tích này. Trong bài văn chầu viết từ năm 1940 đã khảo tả cảnh đền hồi đầu thế kỷ như sau:

“Phủ Thái Ninh về miền Phụ Dực

Danh tiếng đồn náo nức gần xa

Đào Động đền phủ nguy nga

Tối linh tối thượng mấy tòa uy nghi

Đôi bên ngựa đứng voi quỳ

Nhởn nhơ phượng múa, long ly chầu vào

Nọ chim hót,nọ hoa chào

Một vùng cổ thụ ngất cao như thành

Bốn bề sông lượn bao quanh

Bồng lai tiên cảnh như tranh họa đồ”.

Cho đến nay, chốn “Bồng lai tiên cảnh như tranh họa đồ” ấy vẫn còn nguyên cảnh sắc xưa. Đền Đào Động với tổng diện tích là 20.520m2, diện tích nội tự là 6000m2, tổng thần điện là 18 mẫu được thiết kế theo kiểu “tiền nhị hậu đinh” như một lâu đài trung cổ gồm 13 tòa, 66 gian liên hợp chặt chẽ. Quần thể kiến trúc đền chia thành 4 tiểu khu, phía trước là 3 tòa Đại tiền môn, tả hữu gồm 6 tòa nhà lính, phía sau là 2 tòa của thủ từ và nhân viên trị sự. Ba khu vực trên bao quanh 7 cung thờ thánh như khuôn viên chữ “quốc” lấy tâm tòa Trung Môn và Cấm Điện làm trục thần đạo. Đền xây đựng đối xứng từng vì, từng tòa. Khu vực trung tâm thì cao đẹp, khu vực ngoại biên và hành lang khiêm nhường liên kết thành một tổ hợp kiến trúc chặt chẽ làm nổi bật điểm sáng nơi thờ tự. Toàn bộ kiến trúc khu đền chính chỉ có tòa Bái Đình (cung thờ Công Đồng) và cung Cấm là có hệ thống cửa ra đóng vào mở, còn các cung khác chỉ có lối cửa mạch phía hồi đi xuống sân hành lang. Không gian trong đền hầu như thông suốt, khách lễ có thể đi qua từng cửa từ thấp đến cao, từ cửa trình Cô, trình Cậu rồi vào cửa Công Đồng, qua tứ phủ Quan Hoàng, rồi lên cửa Chầu Bà, Tôn Ông đến nơi thâm nghiêm nhất là Cửa Mẫu và điện Vua Cha. Khách lễ có thể vào cửa tả, ra cửa hữu, vào cổng Đông, ra cổng Tây, thuận đường sông đi tiếp các đền đài xung quanh đền thờ chính. Việc phân cung là căn cứ vào cấu trúc bộ mái, còn trên mặt nền là một mặt thảm phẳng tiện lợi cho việc đi lại, lễ bái thông giữa các tòa, tạo điều kiện cho khách tham quan từ một điểm có thể phóng tầm nhìn bao quát được toàn bộ kiến trúc nội tự. Tổng thể kiến trúc đền đồ sộ, được bố trí khoa học. Theo thuyết phong thủy, thế đất của đền biểu thị cho sự bền vững và phồn thịnh. Vị trí địa lý linh thiêng như vậy cùng với cách bài trí trong đền đã làm tôn thêm sự thanh toát, hư ảo nhưng cũng hết sức bề thế, uy nghiêm của thần điện mà các di tích khác khó sánh được.

2.1.3. Không gian thờ tự và cách bài trí Khóa luận: Tổng quan về đền thờ Đồng Bằng ở Thái Bình

Thông thường khi vào một di tích dịch sử, người ta có thể nhìn thấy được cách bài trí của các pho tượng được đặt trọng ngôi đền. Mỗi ngôi đền hay đình, chùa đền có một cách bài trí riêng và toát lên vẻ thanh cao, yên bình thanh tịch riêng từng mỗi hạng mục công trình để có thể nói lên được tính chất của nó. Ở mỗi di tích khác nhau sẽ có cách hiểu và bày biện khác nhau. Đình là nơi thờ thành hoàng làng, đồng thời là nơi hội họp, bàn việc dân. Đình được coi là trung tâm sinh hoạt văn hóa gắn bó với cộng đồng dân cư và mang đặc trưng của nền văn minh lúa nước Việt Nam. Còn chùa lại là cơ sở hoạt động, truyền bá Phật giáo, nơi tập trung sinh hoạt, tu hành và thuyết giảng đạo Phật của các nhà sư, tăng, ni, kể cả các tín đồ hay người không theo đạo đều có thể viếng thăm, nghe giảng kinh hay thực hành các nghi lễ Phật giáo. Nhắc đến đền là người ta liên tưởng đến công trình kiến trúc để thờ cúng một vị thánh hoặc những nhân vật lịch sử được tôn sùng như những vị thần. Còn đối riêng với lại đền Đồng Bằng thì cũng có những nét riêng và bài trí sự khác biệt của đền: gồm 7 công trình kiến trúc lớn, bố cục liên hoàn.

Nghi môn

Từ trục thần đạo vào đền Đào Động có theo 3 cổng, đó là đại tiền môn (3 tòa ổng chính), Đông môn và Tây môn. Đại tiền môn là cổng dẫn chính vào tâm của đền. Đông môn dẫn khách vào hành lang tả. Tây môn dẫn khách vào hành lang bên hữu. Các cổng trên được thiết kế như sau:

Hai cổng Đông môn và Tây môn. Đi từ dốc cầu Vật, theo 300m đường dải nhựa, theo sông Đại Lẫm, đi hết đoạn đường râm mát bóng cây ta gặp một sân lớn, giữa đào hồ tròn đường kính 16m, nước trong xanh, xưa gọi là ao rồng xung quanh được xây gạch, giữa hồ đắp núi ngũ nhạc. Bốn mặt trồng cây cảnh hoa bốn mùa.Theo lệ xưa, khách thập phương dùng nước hồ rửa mặt, tẩy trần cho sạch sẽ trước khi vào bái vọng Đức Vua Cha. Đứng ở đó ta có thể thấy được tòa Nghi Môn bề thế, cổng đền là một công trình kiến trúc hoành tráng kiểu

Đại Môn của cung đình nhà Nguyễn. Cổng Đông và Tây tuy gọi là cổng song kiến trúc hai tòa phụ này khá đơn giản. Đó là hai cột trụ vuông, trên đắp trụ đấu vuông 2 tầng. Cánh gà một bên ăn vào tường sân đền, một bên bắt vào hồi hành lang, phía trong phát triển thành cửa cuốn tò vò, trên trán xây một biển văn, đỉnh đắp văn hiệu, thành bên dưới soi chỉ thành một bảng văn. Trụ cột cổng soi chỉ kép, dưới đắp tảng vuông, hai mặt trước sau cẩn câu đối chữ Hán. Bảng văn cổng phía Đông đề hai chữ lớn “Tả Môn”, cổng phía Tây đề hai chữ “Hữu Môn”. Cả hai cửa đều đắp hai cánh gỗ kiểu thượng sơ hạ mật, dưới bưng kín, sơn son, trên chạy sóng con bài. Khách sắp lễ thường qua cửa này, còn khách tham quan vãn cảnh đi theo cửa Đại Tiền Môn.

Đại Tiền Môn

Gọi là cổng, song Đại Tiền Môn là 3 ngôi lầu lớn trải dài 24m, lòng rộng 2m, trung môn cao 8m, tả môn và hữu môn cao 6m. Riêng hai cột đồng trụ góc cánh gà cao tới 5,6m, gương tảng thắt cổ bong cao 1,08m, mỗi mặt rộng 1,2m. Phần quả găng cao tới 0,8m, vươn rộng 0,6m. Lồng dền cao tới 1,1m, rộng 0,9m. Thân trụ cao 2,4m, bề mặt mỗi chiều rộng 1m tạo dáng đứng vững chãi, bề thế không đâu bằng. Phần thân cổng xây bằng 4 cột trụ lớn: cao 5m, bản rộng 0,6m trên chạy bao lượn hoa, dưới cuốn vòm trổ, tổng cộng 2,4m cao 3m, đủ tầm cao khi rước kiệu không cần phải xuống đòn.

Nghi Môn có tới 252 Hán tự như một bản tóm tắt giới thiệu về đền trước khi chúng ta vào thăm nội tự nổi tiếng kỳ vỹ của di tích đền Đồng Bằng. Hai tòa Tả môn, Hữu môn cách Trung môn 1,35m (ngăn bằng hai tượng phù điêu võ sĩ kim cương) được xây theo kiểu cổng thành lũy, trên có lầu canh, dưới có tường vây bọc. Bốn góc xây cột trụ bản rộng 0,8m, cửa cuốn vòm, đóng cánh then bài thượng sơ hạ mật.

Qua nghi môn, là khoảng sân chính của nội tự. Đây là một khu sân rộng, lát gạch vuông to từ cổ, là nơi đại tế, là nơi diễn ra những đêm chèo trong lễ hội cổ xưa. Ở hai góc sân rộng có hai bệ thờ lộ thiên thờ quan Hổ. Theo thần tích Vĩnh Công Đại Vương và Tản Viên sơn thánh đều là tướng của vua Hùng. Tản Viên lĩnh ấn tiền quân, Vĩnh Công đảm nhận vai trò của trung quân. Hai tướng hợp sức cầm quân đánh Thục, tình thân như huynh đệ. Người vùng biển luôn nhớ về quê gốc núi rừng, người dân đã lập một ban thờ trước hiên trái hồi Đông để thờ mãnh hổ, biểu tượng sức mạnh của chúa Sơn lâm.

Truyền thuyết đã lý giải vì sao trước cửa đền ngự ban thờ Hổ nhưng chúng ta thấy rằng thờ quan Hổ từ lâu đã trở thành biểu tượng thờ tự trong các thần điện. Hổ linh đã dược thần thánh thu nạp, giáo hóa theo chính đạo thành lính canh cửa, đồng thời là sứ giả của thưởng thiện, phạt ác. Thờ quan Hổ là một ảnh hưởng của đạo giáo. Qua thềm đá cổ, ta bước vào khu nội tự chính của đền.

Tòa đại sảnh

Hiên trước: 7 chạm long vân, tứ quý hóa rồng. Bảy cột hiên tiền thửa toàn bằng đá phiến, đấu thượng soi 2 tầng, tảng chạm mặt hổ phù. Toàn bộ hệ thống của thềm tam cấp được lát bằng 45 tấm đá xẻ bản rộng với diện tích mỗi tấm là 0.4mx 1,2m ghép sít mạch. Ngưỡng cửa, bao ngạch cửa liền tảng đá dài kín mỗi gian, cao 0.5m, bản dày 0.2m soi sọt đúng như ngưỡng ngạch gỗ, soi vỏ măng, chỉ mớ, chạm hoa cúc, hoa sen, vân mây…

Tòa đại sảnh gồm 5 gian đồ sộ, dài 19m, kiến trúc đao tầu chéo góc. Hai bờ đắp nổi hoa chanh, hồi nóc xây trụ đấu, đắp ngạc long, góc hồi đắp lân, ly. Đao cất 3 tầng gồm: long phục, rồng chầu, phượng mớm. Giường chạm văn mây, lá lật, đấu chạm hoa sen, 12 đầu dư chạm đầu rồng. Đại sảnh là nơi diễn ra đại tế trong những ngày khai hội cổ xưa. Đây là một công trình kiến trúc đời Nguyễn, mạnh nét đặc trưng của kiến trúc thế kỉ XIX. Nhận biết được niên đại xây dựng tòa đại sảnh là do câu đối ở cột đá ghi rõ: “Khải Định xuất thập niên tu tập Hùng Triều thiên vạn cổ anh linh”. Vế trên của câu đối chỉ rõ niên đại kiến tạo cung Đệ Tam và cung Đại Bái, vào đời vua Khải Định, năm thứ 10 Hoàng Lịch (1925). Vế sau của câu đối giải thích vì sao xây dựng công trình này, đó là để ghi nhớ một trang sử hiển hách, một nhân vật anh hùng từ thời Hùng triều mà hàng vạn năm sau còn vang danh, được người đời ngưỡng vọng. Bước vào cung Đại Bái, khách lễ sẽ choáng ngợp trước những tầng tầng lớp lớp hoành phi, cuốn thư, câu đối, cửa võng, y môn rực rỡ vàng son, chạm khắc tinh sảo đạt đến độ hoàn mĩ tới từng chi tiết.

Dọc hàng cột quân lậu lắp 3 tòa cửa võng lớn. Gian trung tâm cửa dài 3m, diềm cao chia thành 2 phần: trán cửa và diềm võng, diềm võng lại chia thành 3 mảng: thân, võng và diềm. Trán võng gắn trên mặt xà trung trạm lưỡng long chầu nguyệt. Thân chia làm 5 ô chạm tùng, cúc, trúc, mai. Dạ cá chạm lưỡng phượng chẩu đỉnh. Trên thân đỉnh chạm chữ vạn. Hai diềm chạm mai lão, trúc lão hóa rồng: Gốc trúc thành đầu rồng, rễ trúc, rễ mai kết thành râu, thành tóc, thành bờm, lá trúc thành vuốt, hoa mai thành mây, thân lão, mai lão cúc uốn khúc thành than rồng uốn lượn làm thành đường biên cửa võng. Chính giữa cung là tấm hoành phi cỡ lớn đề: “Phúc du đồng”. Nhận xét: Với những hoành phi, câu đối, cửa võng, y môn được chạm khắc cầu kì, bằng đủ nghệ thuật chạm rỗng, chạm bóng, khắc nổi, sơn son thếp vàng đã đạt đến trình độ tuyệt mĩ của nghệ thuật, kết hợp với cách bài trí trong đền, đây xứng đáng là một bảo tàng nghệ thuật điêu khắc gỗ có niên đại lâu năm hiếm có nơi nào sánh đươc. Khóa luận: Tổng quan về đền thờ Đồng Bằng ở Thái Bình

Cung đệ tam.

Nếu như cung Đệ Tứ nguy nga, được trang trí lộng lẫy khiến ta như lạc vào chốn cung đình thì cung Đệ Tam bài trí tự nhiên, toát lên sự thanh hư, thoát tục, là cõi tâm linh để tĩnh tại mà chứng nghiệm cái chân, thiện, mỹ. Cung dài 5 gian, cùng chung khẩu độ giàn như tòa Bái Đính. Ba gian giữa làm kiểu lòng thuyền nhị trụ, 2 gian hồi gác mái bằng. Cốn gỗ trổ cuốn hình khánh, chạm hổ phù, long, phụng hoặc hoa lá cách điệu. Nếu hàng cột ở cung Đại Bái làm bằng gỗ lim trăm tuổi thì hai hàng cột ở cung Đệ Tam làm bằng đá xanh, gồm 6 cột tròn và 6 cột vuông. 6 cột tròn chạm long vân, long giáng. 6 cột vuông thì chạm thêm câu đối, có thể nói đây là công trình kiến trúc đá quý hiếm ở Thái Bình mà đến nay vẫn còn được bảo lưu nguyên vẹn. Hai tường hồi Đông và Tây bị ép giữa hệ đao hai tòa tiền tế và cung Đệ Tam nên được xây bao lượn thấp chạy song song con tiện, dưới chạy chỉ. Mỗi hồi trổ một cửa mạch đóng cánh cửa khay thượng sơ hạ mật, xây bậc tam cấp để đón khách giữa đền và khu hành lang. Cung Đệ Tam cũng chứa đựng nhiều bức hoành phi, câu đối đáng lưu ý. Tiêu biểu là bức cuốn thư chạm nổi treo trang trọng giữa cung. Bức cuốn thư ghi rõ Hoàng Triều Bảo Đại cung tiến (1941). Như vậy, thêm một lần nữa, nội dung của các bức cuốn thư đã ca ngợi công lao của vị thần được thờ tại đền. Đây được coi như một văn bản quan trọng mà triều đình nhà Nguyễn xác định giá trị của đền Đào Động.

Cung đệ nhị

Cung Đệ Nhị mở ra một không gian thoáng hơn, rộng hơn, lung linh như sự thăng hoa cảnh sắc. Theo ngọc phả, cung Đệ Nhị được xây dựng từ thời Trần. Tương truyền, sau ngày chiến thắng quân Nguyên trên sông Bạch Đằng, Hưng

Đạo Vương đã về đền bái tạ Vĩnh Công đã “âm phù” cho toàn quân được đại thắng. Trần Hưng Đạo xin vua Trần sắc phong, mở mang đền sở to rộng tới cung Đệ Nhị ngày nay. Thời gian đã phá hủy công trình kiến trúc cổ từ thời Trần, công trình hiện đang còn là sản phẩm tái tạo của nhà Nguyễn mô phỏng theo đúng kiến trúc cổ. Phong cách kiến trúc cung Đệ Nhị có phần giống với kiểu trang trí của tòa Bái Đính: xây theo kiểu chéo đao tầu góc. Đại bờ xây đầy đặn, chạy hai tầng chỉ mới. Hồi đắp trụ đấu có ngạc long ngậm dại bờ, chân trước ôm nóc, chân sau đạp bờ cánh, đuôi cuộn tròn thành vòng tròn âm dương. Hai hồi trổ 2 cửa sổ cao 1.8m, rộng 1m nhằm lấy ánh sang cho cung Quan Hoàng và cung Đệ Tứ. Nội thất làm kiểu lòng thuyền tứ trụ, thượng giá chiêng, hạ chồng giường, đấu trạm hoa sen, giường chạm hoa lá, đầu chạm rồng. Cung được trang trí 2 tầng cửa võng và đề tài chạm khắc cũng khá phong phú hơn, đủ long chầu, phượng múa, nghê hi cầu, phượng hàm thư. Bên cạnh các gốc đào thụ, lão long còn có cổ thụ, lâu đài, động thiên. Đặc biệt tại tòa Đệ Nhị còn có bức Phượng Thư có “hình chim phượng đằng vân” và bức Ngự thư “cá chép hóa rồng”. Đây là hai kiệt tác nghệ thuật độc đáo có một không hai, chỉ riêng đền Đào Động mới có. Trên hai bức hoành phi này, có các bài thơ, bài minh bằng đồng, thợ chạm khắc chữ riêng, rồi đính vào nền.

Rất tiếc thời gian làm cho mấu đính bị mòn, chữ đính trên đó bị rơi ra và như vậy nội dung của các bức hoành phi này không thể dịch thuật đúng được. Tuy vậy, chỉ nhìn hình dáng và nền chạm khắc ta cũng thấy những thông tin rất lí thú, độc đáo. Bức thượng thư tạc hình con chim phượng to có mào đang bay, phía dưới có tạc một con phượng non bay theo. Bức thượng thư được đầu tư gia công nghệ thuật rất cao. Dáng chim đầu thanh, mỏ nhỏ, mào to, mắt nhỏ, cổ cao, ức nở, thân thon, 2 cánh vơn trước, sải sau xòe rộng. Đuôi phượng uốn lượn như sóng nước. Bờm cổ lông mượt như nhung. Lông cánh đều như rẻ quạt. Lông đuôi mềm mượt như liễu bay. Đây là bức phượng thư duy nhất có được ở Thái Bình. Bức Ngự thư thể hiện đề tài cá chép hóa rồng, vừa hàm chứa nội dung chuyện cổ dân gian, cá chép vượt vũ môn, vừa thể hiện lai lịch của đền, và nhân vật thờ tự.

Cung Đệ Nhất

Là cung thờ vua Cha Bát Hải, nằm tiếp theo sau cung đệ nhị, liền vách với Cấm Cung. Cung Đệ Nhất là một cung quan trọng, khách đến dâng hương tại đền đều phải vào thỉnh cầu đức Vua Cha. Cung Đệ Nhất nhỏ hơn các cung ngoài, chỉ có 3 gian dài 7m, lòng rộng 4.4m, xây kiểu hồi văn cánh bảng. Nội thất kết cấu thượng giường hạ kẻ. Các thanh giường, đấu sen, xà, kẻ, bẩy, đều được sơn son, vẽ văn mây bằng kim ngũ vàng tạo sự tôn kính đặc biệt với Vua Cha. Cả ba gian đều lắp của võng như các tòa ngoài. Các câu đối đều được sơn son thếp vàng. Tuy nhiên cung Đệ Nhất lại toát lên vẻ uy nghiêm, thâm u cô tịch khiến người ta phải cung kính. Bức hoành phi lớn nạm vàng được đặt ở nơi trung tâm đề: “Hồng thiên địa động”. (Có nghĩa là nơi hội tụ tinh hoa của đất trời hồng lạc).

Cung cấm đền Đồng Bằng

Đây là nơi thâm nghiêm cô tịch nhất của đền, không phải ai cũng được vào bái vọng, dâng hương như những cung ngoài. Vì quanh năm đóng cửa cài then, chỉ dịp mùng 10 tháng giêng dân mới vào làm lễ mộc dục, tuần rằm ông từ mới vào quét dọn và thắp hương, ngày chỉ một lần vào thêm dầu cho vào cơi bấc, nên tòa này ít được chạm khắc, chỉ có cửa ra vào được sơn son vẽ rồng vàng, bên trong bài trí sơ sài. Và không cho ai được tự ý vào bên trong đền.

2.1.4. Đối tượng chính được thờ phụng Khóa luận: Tổng quan về đền thờ Đồng Bằng ở Thái Bình

Với quan niệm “trống làng nào làng ấy đánh, thánh làng nào làng ấy thờ” nên mỗi làng đều có vị thần bảo hộ riêng cho mình. Ở Việt Nam, hầu hết làng nào cũng có đền, đình, miếu. Thường thì mỗi làng có từ 3 vị thành hoàng đến 6,7 vị thành hoàng tùy thuộc vào làng đấy lớn hay nhỏ, có bao nhiêu nhóm cư dân, từ bao nhiêu quê gốc khác nhau đến, cộng với dân gốc để có số lượng thần tương ứng được thờ. Ví dụ một làng có dòng dân từ khu vực ven ngoại thành Hà Nội về thường thờ Linh Giang đại vương, dân từ Tây Sơn về thường thờ Tản

Viên sơn thánh. Còn có được sự phong phú, hòa trộn giữa việc thờ thần trong phạm vi một làng như vậy là do con người có tâm lý “uống nước nhớ nguồn”, luôn tin tưởng và hướng về vị thần bảo hộ cho mình. Điều đó đã in sâu vào tâm con người cho nên dù đi đâu con người cũng không quên gốc gác và luôn có ý thức giữ gìn, tôn thờ vị thần đó.

Ngôi đền chính xuất hiện nay được thờ thủy thần sông Vĩnh – Vĩnh Công Đại Vương. Sự xuất hiện của ngài trong cuộc sống tâm linh của người dẫn đến sự thờ phụng là cả một câu chuyện ly kỳ, hấp dẫn như một huyền thoại. Bên cạnh được thờ vua cha thì trong đền Đồng Bằng cũng được phối thờ đó chính là ba vị thánh Mẫu: Mẫu đệ nhất thượng thiên, Mẫu đệ nhị thượng ngàn và Mẫu đẹp tam thoài phủ, mỗi vị cai quản vị vùng lãnh địa riêng để ban lại hạnh phúc cho nhân gian an bình, thái lạc. Dưới 3 vị thánh Mẫu đó chính là vị quan lớn, các bà chầu, các vị bà cô, cậu đi theo hầu 3 vị thánh Mẫu được kể trên. Nhưng chủ yếu được thờ tự trong đền vẫn chính là Đức vua cha và 3 vị thánh Mẫu nêu trên được gọi là Tam Tòa Thánh Mẫu.

Tiểu sử thần Vinh Công Đại Vương.

Sử cũ nói đền Đồng Bằng xưa kia thuộc Vộng Lỗ, huyện Phụ Dực thờ thủy thần Vĩnh Công Đại Vương, tương truyền là thái tử Long cung giáng sinh ở Đào Động phù vua Hùng Duệ Vương dẹp loạn, sau hiển thánh được dân làng thờ. Phàm trong vùng có hạn hán, hoàng trùng, dịch bệnh dân đến kêu cầu, đều rất linh nghiệm. Theo thần tích, có cặp vợ chồng thích làm việc thiện, các việc góp tiền, đúc chuông, tô tượng, sửa chùa không bao giờ là không cúng tiến, luôn giúp người nghèo, cho cơm kẻ đói, sinh sống hòa thuận. Chỉ mỗi hiềm ngoài 40 tuổi mà chưa có con nên tâm trạng nhiều lúc rất buồn. Ông bà thường đi lễ các đền phủ lớn hoặc chu du các danh lam cổ tích và hất lòng chăm lo việc phúc. Một hôm ông bà vãn cảnh trong Đào Động, bỗng gặp một cô gái đến lạy vái kêu rằng “con là kẻ tha hương, cha mẹ mất sớm không nơi nương tựa. Nay gặp ông bà hiền đức xin động lòng cho con xin về hầu tạ”. Phạm Công, Trần Thị thấy thiếu nữ tư chất thông minh, nói năng phải đạo liền nhận làm con nuôi và đặt tên là Quý Nương.

Quý Nương càng lớn càng xinh đẹp, đoan trang, hiền thục, công danh, ngôn hạnh nhưng đến 18 tuổi vẫn không nhận lời đình ước của một ai. Một lần Qúy Nương ra tắm ở cửa biển, trời đang trong xanh bỗng nhiên trở gió mưa bão ầm ầm, chớp rật sấm rền và có một con Giao Long thân dài 8 thước hiện hình ôm cuốn lấy nàng. Lát sau trời quang mây tạnh, Qúy Nương thấy vậy hốt hoảng kinh sợ vội trở về nhà. Rồi cô gái có mang, ở nghén 13 tháng, đến kỳ mãn nguyệt khai hoa, thẹn nỗi không chồng mà chửa, Qúy Nương ra biển, chở rạ sinh đẻ một mình. Trong một đêm mưa gió nàng sinh ra một cái bọc kỳ lạ, ngạc nhiên và sợ hãi nàng ôm cái bọc thả xuống biển. Hôm đó là ngày mùng 10 tháng giêng năm Đinh Tỵ, bọc thiêng gặp lúc thủy triều dâng theo dòng nước trôi về trang Đào Động.

Thời bấy giờ ở trang Đào Động có một ông già nghéo khó, đức hạnh tên là Nguyễn Danh Minh (Nguyễn Minh) làm nghề đánh cá bên sông. Đêm ấy buông vó đã sang giờ Tí mà không bắt được con cá nào. Mãi quá nửa đêm kéo vó thấy nặng quá, cố kéo lên thì thấy một bọc đỏ như máu, ông già sợ quá dùng sào đẩy ra, lát sau cất lên lại gặp bào thiêng, già Nguyễn Minh vái lạy, khấn nguyện rồi dao rạch bọc ấy ra thì thấy ở trong bọc ngoi ra 3 con hoàng xà (nửa rồng nửa rắn, vảy vàng màu đỏ). Con rắn thứ nhất bời thẳng lên bờ, chui một giếng tự nhiên ở Đào Động rồi mắt tích trong đó. Con rắn thứ thì xuôi sông Đào Động. Con rắn thứ ba chạy về khúc song Hoa Diêm – nơi mà bà Quý Nương sinh ra bọc ấy. Lúc ấy phụ lão nhân dân trong trang Đào Động thấy vậy sợ hãi và cho rằng chắc là thủy thần xuất thế nên làm lễ bái tạ ở khúc sông ấy và khấn rằng: “nếu là thủy thần xuất thế anh linh thì dân xin làm thần tử và thiết lập đền để thờ”. Từ khi đệ nhất linh tà ngụ tại Đào Động , dân chúng đánh lưới – lưới nhiều cá, cất vó – vó nhiều tôm, công việc làm ăn thuận lợi, cầu gió được gió, cầu mưa được mưa.

Giữa lúc xã tắc thanh bình thì giặc phương Bắc tràn xuống, quân nhà Thục, Ai Lao đem 5 đạo quân đến xâm lăng bờ cõi nước Nam. Các tướng biên thùy chống cự không nổi đều dâng biểu xin cứu viện vua cho thêm tướng giỏi, quân Đông đi cứu nguy vẫn bị thua trận, ngày càng nguy gấp – vua Hùng bèn lập đàn là đảo thiên địa bách thần đến giờ Tí ngày thứ 3 vua nằm mơ thấy sứ giả nhà trời cưỡi mây hạ đàn bảo rằng: “giặc ấy là giặc to nhưng đã có hoàng thiên giúp, đã sai 3 vị thủy thần giáng sinh.

Một vị ở làng Hoa Diêm huyện Thụy Anh, một vị ở trang Thanh Do, một vị ở trang Đào Động nhưng còn ẩn mình là rắn xin vua sai xứ giả đến những trang ấy triệu thì rắn biến thành người để cùng đức Sơn Thánh đi bình định giặc ấy”. Đức vua tỉnh dậy một mặt sai sứ giả đi triệu Tản Viên Sơn Thánh, một mặt cử sứ giả đến vùng biển về Đào Động trang để mời đức thủy thần. Sứ giả vừa tới đầu trang ấp thì thấy gió thét mưa gào, sấm chớp vang trời, nước cửa sông Vĩnh tràn lên, nước sông cuộn sóng và một vị thủy thần cưỡi sóng giữ nói lớn “ta là thủy thần sông Vĩnh, tuệ là Vĩnh Công, chờ sứ giả ở đây”. Sứ giả vui mừng khôn xiết rước thần về kinh đô. Vĩnh Công triệu hương lão, trai tráng Đào Động chọn lấy 9 chàng trai khỏe mạnh nhất xin làm ra thần thủ túc, lại cùng xứ giả xuôi xuống Thanh Do, Mai Diên đón hai em là đệ nhị linh xà về kinh vái yết vua. Vua thấy ba ông thân người, đầu cá, dáng vóc như rồng, tiếng nói như sấm, lực địch vạn người, bàn mưu tính kế như thần thì cả mừng.

Thần Vĩnh Công làng Đào Động là vị nhị linh xà đi đến đâu các loài ba ba, thuồng luồng và muôn trùng thủy tộc đều theo sóng cồn cùng ra đảo, chỉ đánh vài trận quân Thục phải quy hàng. Phía rừng núi, thần Tản Viên cũng giành chiến thắng lớn. Hai ông làm biểu tiếp báo về Kinh, vua cho hai đạo quân được ca khúc khải hoàn. Một hôm, Vĩnh Công mời hương lão đến nhà dặn rằng: “ta cùng các vị là dân lân dân ấp, ăn ở với nhau tình như ruột thịt, nghĩa như cha con. Nay ta dã vâng mệnh về hầu Vua cha Long Vương. Nếu có nhớ đến ta thì lấy nhà ta làm miếu thờ, ngày ta đi làm ngày giỗ”. Dặn xong bỗng trời đất tối sầm, sấm chớp dữ dội, lát sau trời quang mây tạnh, nhân dân trông vào chỗ ngồi của ông thì ông đã hóa rồi, chỉ còn lại áo xiêm của thần.

Hôm ấy là ngày 25/8 năm Mậu Thìn. Nhân dân thấy thế làm lạ, dâng biểu tâu vua. Vua ban phong mỹ tự, Trấn Tam Kỳ giang linh ứng Vĩnh Công Đại Vương Bát Hải Động Đình, lại cấp cho nhân dân Đào Động 400 quan tiền lo việc tang lễ tu sửa lều tranh của vị thần Vĩnh Công thành miếu điện, hạ sắc miễn thuế cho dân lấy lộc thờ thần và lấy ngày 10 tháng giêng là ngày sinh nhật ngài, ngày 25/8 là ngày hóa nhật ngài. Từ cuối thế kỉ XII, đền Đào Động còn là nơi tưởng niệm Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn cùng các danh tướng hoàng thân quốc thích nhà Trần có công lớn trong 3 lần đại phá quân Nguyên Mông lập nên 8 trang Đào Động xưa.

Truyền kỳ tam tòa thánh Mẫu.

Tiếp theo đó chính là Tam Tòa Thánh Mẫu mà ta thường thấy trên các ban thờ gồm 3 ngôi của 3 vị Thánh Mẫu khác nhau: Đệ Nhất Thượng Thiên, Đệ Nhị Thượng Ngàn và Đệ Tam Thoải Phủ.

Mẫu Đệ Nhất Thượng Thiên.

Mẫu thượng thiên hay dân gian còn gọi là Mẫu Liễu Hạnh. Bà vốn là con vua Ngọc Hoàng có tên là Đệ Nhị Quỳnh Hoa công chúa với sự tích 3 lần giáng sinh xuống cõi trần.

  • Lần thứ nhất bà giáng vào nhà họ Phạm ở Quảng Nạp, Vỉ Nhuế, Ý Yên Nam Định. Bà có tên Phạm Tiên Nga và hưởng thọ 40 tuổi.
  • Lần thứ hai bà giáng vào nhà họ Lê ở An Thái, Vụ Bản, Nam Định. Bà kết duyên cùng Trần Đào Lang, đến năm 21 tuổi thì về trời.
  • Lần thứ ba bà giáng hiện tại Nga Sơn, Thanh Hóa hạ trần để tái hợp cùng Mai Sinh là hậu kiếp của Trần Đào Lang được hơn một năm thì mãn hạn hồi tiên.

Lần giáng sinh thứ nhất

Vào đầu thời nhà Hậu Lê, tại ấp Quảng Nạp, xã Vỉ Nhuế, huyện Đại An, phủ Nghĩa Hưng, trấn Sơn Nam; có ông Phạm Huyền Viên, người xã La Ngạn kết duyên cùng bà Đoàn Thị Hằng, người ấp Nhuế Duệ, cũng xã Vỉ Nhuế (nay là thôn Vỉ Nhuế, xã Yên Đồng, Ý Yên, tỉnh Nam Định). Khóa luận: Tổng quan về đền thờ Đồng Bằng ở Thái Bình

Hai ông bà là những người hiền lành, tu nhân tích đức nhưng hiềm một nỗi đã ngoài 40 mà chưa có con. Một đêm rằm tháng hai, ông bà được thần báo mộng là Ngọc Hoàng sẽ cho con gái thứ hai là Công chúa Hồng Liên đầu thai làm con, từ đó bà có thai. Trước khi sinh, vào đêm ngày 6 tháng 3 năm Quý Sửu, trời quang mây vàng như có ánh hào quang. Ông Huyền Viên ngồi đợi tin mừng, bỗng như có một nàng tiên từ trong đám mây bước xuống thềm nhà, và bà sinh một bé gái. Vì vậy ông đặt tên con là Phạm Tiên Nga.

Phạm Tiên Nga càng lớn càng xinh đẹp, mọi việc nữ công gia chánh đều thành thạo, đảm đang. Đến năm 15 tuổi đã có nhiều người đến dạm hỏi nhưng nàng đều khước từ vì nàng còn phải ở nhà chăm sóc cha mẹ già yếu, quán xuyến công việc gia đình.

Năm 1462, cha của nàng qua đời. Hai năm sau mẹ của nàng cũng về nơi tiên cảnh. Phạm Tiên Nga đã làm lễ an táng cha mẹ ở phía đông nam phủ Nghĩa Hưng (nay là thôn La Ngạn, ở đây có đền thờ cha và mẹ của Phạm Tiên Nga). Sau ba năm để tang cha mẹ, lo mồ yên mả đẹp, Phạm Tiên Nga bắt đầu chu du khắp nơi làm việc thiện (lúc này Tiên Nga vừa tròn 35 tuổi). Bà đã ủng hộ tiền của và công sức giúp dân đắp đê ngăn nước Đại Hà từ bên kia phía núi Tiên Sơn (nay là núi Gôi) đến Tịch Nhi (nay chính là đường đê Ba Sát, nối Quốc lộ 10 chạy dọc xã đến ngã ba Vọng. Đây cũng chính là con đường nối di tích Phủ Dầy với Phủ Quảng Cung). Cùng với việc đắp đê, bà còn cho làm 15 cây cầu đá, khơi ngòi dẫn nước tưới tiêu, khai khẩn đất ven sông, giúp tiền bạc cho người nghèo, chữa bệnh cho người ốm, sửa đền chùa, cấp lương bổng cho các vị hương sư, khuyên họ cố sức dạy dỗ con em nhà nghèo được học hành.

Năm 36 tuổi, bà đến bờ Sông Đồi dựng một ngôi chùa trên mảnh vườn nhỏ, đặt tên là Chùa Kim Thoa. Bên trên thờ đức Nam Hải Quan Thế Âm Bồ Tát, bên dưới thờ cha và mẹ. Sau đó hai năm, bà tới tu sửa chùa Sơn Trường – Ý Yên, Nam Định, chùa Long Sơn – Duy Tiên, Hà Nam, chùa Thiện Thành ở Đồn xá –

Bình Lục, Hà Nam. Tại chùa Đồn xá, Bà còn chiêu dân phiêu tán, lập ra làng xã, dạy dân trồng dâu, nuôi tằm, dệt vải. Tháng Giêng năm Nhâm Thìn (1472), bà trở lại chùa Kim Thoa, và tháng 9 năm ấy, Bà trở về quê cũ cùng các anh chị con ông bác tu sửa đền thờ Tổ họ Phạm khang trang bề thế (nay còn đền thờ ở phía nam xóm Đình thôn La Ngạn). Sau đó Bà lại đi chu du ở trong hạt, khuyên răn bà con dân làng những điều phải trái. Rồi trong đêm ngày 2 tháng 3 năm Quý Tỵ, thời Hồng Đức (1473), trời nổi cơn giông, gió cuốn, mây bay, Bà đã hoá thần về trời. Năm đó Bà vừa tròn 40 tuổi. Các đền phủ liên quan đến lần giáng sinh thứ hai: Ngay sau khi bà mất, nhân dân xã La Ngạn, huyện Đại An, phủ Nghĩa Hưng đã lập đền thờ trên nền nhà cũ, gọi là Phủ Đại La Tiên Từ, Đồng thời quê mẹ của Bà là xã Vỉ Nhuế cũng lập đền thờ để tưởng nhớ công lao của bà, gọi là Phủ Quảng Cung.

Lần giáng sinh thứ hai

Vì thương nhớ cha mẹ và quê hương ở cõi trần mà đến thời Lê Thiên Hựu, năm Đinh Tỵ (1557), bà lại giáng sinh lần thứ hai làm con ông Lê Thái Công và bà Trần Thị Phúc tại thôn An Hải, xã Vân Cát, huyện Thiên Bản, hạt Sơn Nam Hạ (nay là Kim Thái, Vụ Bản, Nam Định, cách quê cũ Vị Nhuế chừng 7 km). Do ông Lê Thái Công nhìn mặt con, thấy nét mặt giống nàng tiên nữ bưng khay rượu trong bữa tiệc chúc thọ Ngọc Hoàng mà ông mơ trước đó nên đặt tên cho con là Lê Giáng Tiên.

Lần này, Bà kết duyên với ông Trần Đào Lang, sinh được một người con trai, tên là Nhân, một con gái tên là Hoà. Giữa lúc cả gia đình đang đầm ấm vui vẻ thì bỗng nhiên. Bà mất ngày 3 tháng 3 năm Đinh Sửu, thời Lê Gia Thái thứ 5 (1577). Năm ấy, Bà mới 21 tuổi, tuyệt nhiên không bệnh tật gì. Lăng mộ và đền thờ ở Phủ Dầy, thôn Thiên Hương – Vân Cát, xã Kim Thái, huyện Vụ Bản, Nam Định.

Giáng Tiên về trời đúng hạn định theo lệnh của Ngọc Hoàng. Nhưng khi nàng đã ở trên trời thì lòng trần lại canh cánh, ngày đêm da diết trong lòng nỗi nhớ cha mẹ, chồng con nên nàng muốn xuống trần gian lần nữa. Khi về đến nhà vừa đúng lúc gia đình đang làm giỗ mãn tang cho nàng, mọi người đều hết sức ngạc nhiên và vô cùng sung sướng. Nàng ôm lấy mẹ mà khóc, rồi kể hết sự tình, dặn anh hãy gắng lo chăm sóc cha mẹ, vì lần này xuống trần nàng không thể ăn như lần trước, rồi trở về nhà chồng. Liễu Hạnh gặp chồng, con cái mừng mừng tủi tủi. Nàng cũng kể rõ mọi chuyện cho chồng biết, khuyên chồng hãy cố gắng luyện chí, yên tâm theo đuổi sự nghiệp công danh, đừng quên chăm sóc con thơ, phụng dưỡng cha mẹ. Nàng quét dọn, sửa sang nhà cửa, may vá quần áo cho chồng cho con, rồi bỗng chốc lại thoắt biến lên mây… Cứ như thế, thỉnh thoảng nàng lại hiện về, làm xong các việc rồi lại biến đi. Ròng rã hàng chục năm sau, cho đến khi con cái khôn lớn và Đào Lang công thành danh toại, nàng mới từ biệt để đi chu du thiên hạ.

Các đền phủ liên quan đến lần giáng sinh thứ hai: Nguy nga nhất là quần thể Phủ Dày với các đền phủ chính là: Phủ Công Đồng, Phủ chính Tiên Hương, Phủ Vân Cát, Phủ Bóng, Phủ Giáp Ba, Phủ Tổ, Đền Khởi Thánh và Lăng Mẫu….

Lần giáng sinh thứ ba

Vì tình nghĩa thuỷ chung với chồng con ở trần thế nên đến thời Lê Khánh Đức thứ 2 (1650), bà vân du đến làng Tây Mỗ, xã Hà Thái, huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hoá, vào ngày 10 tháng 10 năm Canh Dần, tái hợp với ông Trần Đào lúc này đã tái sinh là Mai Thanh Lâm, sinh được một con trai tên là Cổn. Bà mất ngày 23 tháng Chạp năm Mậu Thân, thời Lê Cảnh Trị thứ 6 (1668). Năm ấy bà vừa 18 tuổi. Đền thờ bà ở Phủ Sòng Sơn, Thanh Hoá.

Các đền phủ liên quan đến lần giáng sinh thứ ba: Đền Đồi Ngang ở Phố Cát, Đền Mẫu Sòng thuộc Thanh Hóa.

Mẫu thượng thiên cai quản miền trời. Mẫu Thượng Thiên trong quan niệm của dân gian về Tứ Pháp gồm có: Pháp vân, Pháp Vũ, Pháp Điện, Pháp Lôi, đó là 4 vị nữ thần tạo ra mây, mưa, sấm, chớp liên quan tới văn hóa nông nghiệp lúa nước. Đền thờ Mẫu thượng thiên có ở khắp mọi nơi nhưng các nơi chính vẫn là những nới Mẫu giáng trần hoặc hiển linh lưu dấu thánh tích. Ngày hội chính của Mẫu là ngày 3/3 âm lịch.

Tượng Mẫu Thượng Ngàn (còn gọi là Mẫu Đệ Nhị)

Mẫu Thượng Ngàn còn gọi là Mẫu Đệ Nhị hay Mẫu Đệ Nhị Thượng Ngàn bởi Mẫu đứng thứ hai trong Tam Tòa Thánh Mẫu.

Mẫu Thượng Ngàn có rất nhiều tên gọi như: Diệu Tín Thiền sư, Lê Mại Đại Vương, Đông Cuông Công chúa, Lâm Cung Thánh Mẫu, Mẫu Đệ nhị Nhạc Phủ, Sơn Tinh công chúa…

Mẫu Thượng Ngàn được thờ chủ yếu tại vùng rừng núi. Có thể nói, ở đâu có rừng núi thì ở đó có đền thờ Mẫu Thượng Ngàn. Có ba nơi được coi là nơi thờ chính là Bắc Lệ (Lạng Sơn), Suối Mỡ (Bắc Giang) và Đông Cuông (Yên Bái). Tuy vậy, ba nơi này lại lưu giữ những truyền thuyết có phần khác nhau về Mẫu Thượng Ngàn.

Trong các ngôi đền thờ chính của Mẫu Thượng Ngàn như: Đền Đông Cuông, đền Suối Mỡ, Đền Công Đồng Bắc Lệ thì Đền Đông Cuông là nơi Mẫu được vua Lê sắc phong Lê Mại Đại Vương. Nếu đặt trong tương quan so sánh với đền Bắc Lệ và Suối Mỡ thì đền Đông Cuông có vị trí quan trọng nhất, là nơi thờ chính Mẫu Thượng ngàn. Khóa luận: Tổng quan về đền thờ Đồng Bằng ở Thái Bình

Căn cứ theo truyền thuyết và các bản văn chầu thì đền Bắc Lệ chính là nơi Lâm Cung Thánh Mẫu hiển linh, âm phù; đền Suối Mỡ là thắng tích lưu lại dấu vết bà tu tiên luyện đạo, còn đền Đông Cuông (Yên Bái) là nơi bà giáng sinh và ngự.

Dưới đây là các thần tích về Mẫu Thượng Ngàn:

Thần tích Mẫu Thượng Ngàn tại đền Suối Mỡ Mẫu Thượng Ngàn được thờ Suối Mỡ là Mỵ Nương Quế Hoa công chúa, con của Vua Hùng Định Vương và hoàng hậu An Nương.Theo sự tích khi sinh bà ra, Hoàng Hậu đau quá phải vịn vào cành quế mới sinh hạ được bà nên Vua Hùng Vương mới đặt tên cho bà là Quế Hoa công chúa. Lớn lên, Quế Hoa luôn nhớ thương mẹ nên đã đi vào rừng sâu để tìm dấu vết người mẹ hiền. Nàng được tiên ông ban cho phép thuật nên đã cùng 12 thị nữ ra sức tu tiên luyện đạo, cứu giúp dân lành. Khi nhân dân các bản mường đã có cuộc sống no ấm, Mỵ Nương Quế Hoa cùng 12 thị nữ bay về trời trên đám mây ngũ sắc.

Tại khu du lịch tâm linh Suối Mỡ có 3 ngôi đền đều là nơi thờ của Quế Hoa Công Chúa: Đền Hạ – còn gọi là đền Công Đồng Suối Mỡ, đền Trung và đền Thượng.

Thần tích Mẫu Thượng Ngàn ở đền Bắc Lệ Ở đền Bắc Lệ lại lưu truyền câu chuyện Mẫu Thượng ngàn là công chúa La Bình. La Bình Công chúa là con gái của Sơn Tinh (tức Tản Viên Sơn Thánh) và Mỵ Nương. Tức La Bình là cháu ngoại của Vua Hùng. Lúc còn nhỏ, La Bình thường được cha cho đi cùng, đến khắp mọi nơi, từ miền núi non hang động đến miền trung du đồi bãi trập trùng để dậy dân săn bắn, chăn nuôi, trồng cây, cấy lúa, làm nhà, làm thuốc chữa bệnh… Đó luôn luôn được theo cha như thế nên La Bình cũng học hỏi được rất nhiều điều. Vốn thông minh sáng dạ, lại chăm chỉ thực hành nên việc gì La Bình cũng biết, cũng giỏi. Những khi Sơn Tinh bận việc hay không thể đi khắp những nơi mà dân chúng cần đến thì La Bình thường được cha cho đi thay. Những lần như thế, La Bình luôn tỏ ra là một người đầy bản lĩnh, biết tự chủ trong giao tiếp, lại cũng biết thành thạo trong mọi công việc. Các sơn thần, tù trưởng đặc biệt quý trọng nàng, coi nàng là người đại diện xứng đáng của Sơn Thánh.

Khi Tản Viên và Mỵ Nương, theo lệnh của Ngọc Hoàng Thượng đế trở về trời thành hai vị thánh bất tử thì La Bình cũng được phong là Công chúa Thượng Ngàn, thay cha đảm nhận công việc dưới trần, nghĩa là trông coi tất cả 81 cửa rừng và các miền núi non hang động, các miền trung du đồi bãi trập trùng của nước Nam.

Thần tích Mẫu Thượng Ngàn ở đền Đông CuôngTheo ghi chép của Lê Quý Đôn trong “Kiến văn tiểu lục” thì ngôi đền Mẫu Đông Cuông ngày nay, trước đây thờ Đông Quang công chúa nổi tiếng anh linh. Đông Quang Công chúa là Lê Thị Kiểm. Bà là vợ của ông Hà Văn Thiên, người Tày Đông Cuông được triều đình giao cho cai quản Đông Cuông. Như vậy, Mẫu Thượng Ngàn nơi đây đã được hình tượng hóa bởi một nhân vật có thật trong lịch sử đó là Đông Quang Công Chúa. Nơi đây, bà Lê Thị Kiểm được hóa thân vào Mẫu Thượng Ngàn. Trong niềm tin tâm linh của những con nhanh đệ tử đạo Mẫu thì đền Đông Cuông có vị trí vô cùng quan trọng, được coi là nơi ngự chính và nơi giáng sinh của Mẫu Thượng ngàn.

Đền Đông Cuông còn có tên là Đền Thần Vệ quốc theo sắc phong của triều đình Nguyễn. Cũng tại nơi đây, vua Lê Thái Tổ đã phong Bà là Lê Mại Đại Vương, sau khi Bà đã phù cho vua Lê đánh giặc.

Như vậy, nếu Mẫu Thượng Ngàn ở Bắc Lệ (Lạng Sơn) là công chúa Quế Hoa, ở Suối Mỡ (Bắc Giang) là Công Chúa La Bình thì ở Đông Cuông, Mẫu Thượng ngàn là Lâm Cung Thánh Mâu vừa là bậc tôi tú anh linh, quyền cao tối thượng vừa gần gũi, bình dị trong hình hài một người vợ, người mẹ trần thế có lai lịch, gốc tích rõ ràng.

Đền thờ chính của Mẫu Thượng Ngàn: Đền thờ Mẫu Thượng Ngàn có ở khắp mọi vùng, nơi nào có rừng núi thì đều có đền Mẫu Thượng. Nhưng nổi tiếng bậc nhất vẫn là cụm di tích Đền Đông Cuông, Đền Vọng Đông và Đền Tuần Quán tại Yên Bái (là nơi Mẫu giáng làm con gái nhà tù trưởng họ Cao). Tiếp nữa có Đền Công Đồng Bắc Lệ và Đền Thất Khê tại huyện Hữu Lũng, Lạng Sơn, tương truyền là nơi vua Lê Thái Tổ lập để ghi nhớ công ơn Mẫu giúp vua. Ngoài ra còn có Đền Suối Mỡ thuộc Bắc Giang (xưa thuộc Hà Bắc, là nơi dấu tích của Mẫu khi xưa học đạo), Đền Tam Cờ trên tỉnh Tuyên Quang, Đền Mẫu Thượng thuộc thị xã Lào Cai.

Mẫu Đệ Tam Thoải Phủ

Đệ Tam còn gọi là Mẫu Thoải. Chữ Thoải là đọc chệch của chữ Thủy. Mẫu Thoải tức là Mẫu Thủy hay còn gọi là Thủy Cung Thánh Mẫu. Mẫu Thoải và Mẫu Thượng Ngàn đã ra đời từ rất lâu trước cả Mẫu Liễu Hạnh. Trong Tam Tòa Thánh Mẫu, Mẫu Thoải đứng thứ ba.

Mẫu Thoải cùng như Mẫu Thượng Ngàn có nhiều thần tích khá khác nhau, không được thống nhất như Mẫu Liễu Hạnh. Dưới đây người viết liệt kê một số truyền thuyết về thân thế của Mẫu Thoải để các bạn tham khảo.

Các truyền thuyết Mẫu Thoải là con gái vua Thủy Tề (Long Vương) Có hai truyền thuyết Mẫu Thoải xuất thân là con gái của Long Vương: Truyền thuyết từ vùng Thái Bình, Nghệ An: Từ thủa hồng hoang, thời mở mang đất nước, vua Kinh Dương Vương đi chu du khắp nơi. Rồi một ngày kia, nhà vua gặp một người con gái nhan sắc tuyệt trần và đã lấy nàng làm vợ. Nàng chính là con gái của Long Vương. Sau này bà đã sinh ra Sùng Lãm chính là vua Lạc Long Quân. Vì nàng là con gái Long Vương nên được làm nhiệm vụ cai quản vùng sông biển, ao hồ. Khóa luận: Tổng quan về đền thờ Đồng Bằng ở Thái Bình

Truyền thuyết tại vùng Nghệ An cho biết thêm hai người đã gặp nhau bên bờ sông Lam ngày nay, ngày xưa gọi là sông Thanh Long.

Truyền thuyết Mẫu Thoải ở đền Dùm – Tuyên Quang; Đền Dầm, Đền Xâm Thị – Thường Tín – Hà Nội: Theo truyền thuyết này thì Mẫu Thoải cũng xuất thân là con gái của Vua Thủy Tề, nhưng không thấy nhắc đến hai vợ chồng sinh ra Lạc Long Quân:

Mẫu Đệ Tam vốn là con gái Vua Thủy Tề, ở chốn Long Cung. Bà kết duyên cùng Kính Xuyên (là con Vua Đất). Khi Kính Xuyên đi vắng, bà ở nhà khâu vá, chẳng may kim đâm vào tay chảy máu, lấy tấm vải lụa trắng để thấm máu. Thảo Mai, tiểu thiếp của Kinh Xuyên, vốn đã sinh lòng đố kị từ lâu, nhân cơ hội đó giấu tấm lụa đi, đến khi Kính Xuyên về, Thảo Mai lấy ra rồi vu oan cho bà ở nhà đã cắt máu thề nguyền để tư thông cùng kẻ khác. Kính Xuyên không nghe lời thanh minh, ghen tuông mù quáng, một mực bắt đóng cũi bỏ bà lên rừng cho thú dữ ăn thịt. Ở nơi rừng núi, bà được muôn loài quý mến, dâng hoa quả nước uống cho bà. Đến một ngày kia thì bà gặp được Liễu Nghị, vốn là thư sinh quê đất Thanh Miện nhờ tập ấm cha mẹ để lại nên đèn sách chuyên cần. Hôm đó trên đường đi thi thì chẳng may bị lạc vào nơi bà bị đày ải. Thấy bà vậy, Liễu Nghị đến hỏi han, sau khi biết rõ sự tình, Liễu Nghị nhận giúp đỡ bà. Bà đã viết thư nhờ Liễu Nghị mang về đến chốn Long Cung để vua cha thấu hêt sự tình rồi sẽ định liệu sau. Theo lời bà, Liễu Nghị ra đến sông Ngân Hán, là mái Long Giai ngoài biển Đông, thấy có cây ngô đồng, Liễu Nghị rút cây kim thoa, gõ vào cây ba lần. Tức thì gió giật mưa sa, biển động ầm ầm, giữa dòng thấy hiện lên đôi bạch xà, Liễu Nghị bèn trình bày mọi việc, đôi bạch xà vâng lệnh đưa Liễu Nghị xuống Thủy Cung. Tại đây, Liễu Nghị trao cho Vua Thủy Tề bức thư và kể hết mọi chuyện. Vua cha tức giận, sai người đi bắt Kính Xuyên và Thảo Mai, còn truyền cho Trưởng Tử Xích Lân lên đón bà về. Sau đó bà được rước về Thoải Phủ, kết duyên cùng Liễu Nghị, người được giao cho chức Quốc Tế Thủy Quan.

2.1.5. Quá trình hình thành và phát triển đạo Mẫu tại đền Đồng Bằng

Đền Đồng Bằng đã tồn tại và trải qua nhiều biến cố của lịch sử và cũng là di sản văn hóa của tỉnh Thái Bình, là niềm tự hào của người dân An Lễ. Ngôi đền có bề dày lịch sử này chứa đựng cả một bảo tàng kiển trúc đồ gỗ đồ sộ, đặc sắc. Trong quyển “Từ điển di tích văn hóa Việt Nam” được tổng hợp tư liệu từ các thư tịch Hán Nôm cổ cho biết đền Đồng Bằng xưa chỉ là một cái miếu nhỏ, tên Đào Động ở “thôn Đào Động, tổng Vọng Lỗ, huyện Phụ Dực”. Theo quan niệm dân gian và người dân địa phương truyền tai nhau mà kể lại rằng: tương truyền, vào đời vua Hùng Vương thứ 18, nước nhà bị giặc ngoại bang xâm lấn. Triều đình đã phải lập đàn triệu linh sơn tú khí về giúp sức dẹp giặc. Thủy thần làng Đào Động đã ra phò vua dẹp giặc và có công đầu trong việc trấn giữ tám cửa biển phía Tây. Đất nước trở lại thái bình, từ đó vùng đất này đã trở thành nơi địa linh được người dân cả nước ngưỡng vọng. Sau khi ông mất vua đã cho tiền sửa sang phủ đệ thành đền cho dân thờ phụng.

Thời nhà Lý, vua Lý Thái Tông năm Thiên Thành thứ 4, khi đi kinh lý về vùng duyên hải đã đến thăm quần thể di tích của đền, vua khen Đào Động đứng đầu trong “Tứ cố danh thắng”. Thời vua Lý Nhân Tông năm Thiên Thuận thứ 5 (1132) vua tái phong cho Vĩnh Công, cho xây dựng và mở mang đền sở. Theo tương truyền, thì khi ấy đền mở rộng đến cung Đệ Nhất hiện nay.

Thời nhà Trần, Đào Động là nơi tập trung binh sỹ, rèn luyện binh đao của vua tôi nhà Trần. Trong dân gian còn lưu truyền câu ca: “An Lễ là đất địa linh, Là nơi rèn tướng, luyện binh nhà Trần”. Như vậy, ngôi đền nổi tiếng linh thiêng đã gắn với những chiến công của vua tôi nhà Trần bởi giá trị tâm linh, cố kết cộng đồng lớn. Người xưa kể lại, để yên lòng dân, tại đây Trần Hưng Đạo đã cho đúc hai đồng tiền, vua lễ xong và gieo đài thì trăm lần đều thuận âm dương, có nghĩa là “trên thuận ý trời, dưới thuận lòng dân”. Vì thế mà sau chiến thắng quân Nguyên, Trần Hưng Đạo đã về tế tại đền để cảm tạ Vĩnh Công đã âm phù chiến thắng và chu cấp tiền bạc cho dân xây dựng, mở rộng ngôi đền cùng với đó chính là tín ngưỡng thờ Mẫu tại ngôi đền được đưa vào bên trong đền và thờ tự. Với những đường nét hoa văn khắc, chạm trổ tinh tế, những hoành phi câu đối sơn son thếp vàng làm cho ngôi đền vừa toát lên sự thanh tao, thoát tục, vừa trầm mặc, cổ kính. Tồn tại song song với những biến đổi của lịch sử, trải qua các triều đại, sự tàn phá của thiên nhiên, giặc giã hoành hành, ngôi đền đã tu sửa kiến tạo nhiều lần song giá trị và ý nghĩa lịch sử của ngôi đền không vì thế mà giảm đi, sự hiện đại hòa vào cái cổ kính đã làm tăng thêm sự độc đáo, phong phú của ngôi đền.

2.2. Lễ hội và các hoạt động chính diễn ra tại đền Đồng Bằng

Đối với phần lễ hội được diễn ra tại đền Đồng Bằng là một nơi thờ tự linh thiêng, không chỉ như thế người ta còn thấy được những hoạt động nổi trội khi diễn ra ở đây cũng hết sức là đặc sắc và để lại nhiều ấy tượng cho những du khách khi đến với lại đền Đồng Bằng. Lễ hội Đền Đồng Bằng mang nhiều nét ý nghĩa đặc sắc, thể hiện được tính linh thiêng của ngôi đền mà còn thấy được rằng bên trong còn mang tính chất anh hùng dân tộc của những người Việt, với những trò chơi như đấu vật, đua thuyền,..v…v. Và hội chính ở đền Đồng Bằng diễn ra vào tháng 8 âm lịch hàng năm, cùng thời điểm với nhiều đền thờ các vua cha khác trong cả nước.

Lịch trình lễ hội.

Khách về lễ ở đền Đồng Bằng thường kéo dài từ 15 tháng 7 đến hết tháng 8, đông nhất là từ 15 đến 30 tháng 8. Song chương trình lễ hội ghi trong hương ước điển lệ bản đền chỉ gồm 7 ngày: Từ 10 – 26 tháng 8. Khóa luận: Tổng quan về đền thờ Đồng Bằng ở Thái Bình

Ngày 20: Treo cờ kết hoa, dựng cột cờ đại, kéo cờ hội, đem cờ ngũ hành giàn hàng cắm trước cửa đền, hương lão vào đền dâng lễ cáo yết.

Ngày 21: Làm lễ nghinh giá, rước kiệu từ đền ra đình Bơi, tổ chức hạ trải thi vòng loại bơi trải.

Ngày 22, 23, 24: Thi tứ kết, bán kết, chung kết bơi trải.

Ngày 25: Thi giao chạ bơi trải với làng Cao Nội – Hải Dương và tổ chức đại tế ở đền.

Ngày 26: Lễ tạ.

Lễ vật dùng trong hội đền.

Trong 7 ngày lễ, nghi thức bày lễ đơn giản, chỉ có một mâm ngũ quả, nhất thiết phải có: Chuối, cam, hồng, bưởi, nhãn. Chỉ khác là đền lớn, mâm bồng to nên phải chọn quả to, sắm nhiều nải, nhiều chùm, nhiều quả. Riêng bưởi chỉ chọn 1 quả thật lớn. Hoa thờ dùng toàn huệ trắng, không nhận loại khác.

2.2.1 Các hoạt động trong phần hội

Các trò thi trong lễ hội đền.

Đua thuyền (tính thiêng liêng xưa đã bị cạn mòn, nay chỉ mang nặng tính thi đấu thể thao)

Hội đua thuyền ở làng Đào Động nổi tiếng khắp cả vùng, được tổ chức trong suốt 5 ngày lễ. Để chuẩn bị cho hội thi, trai bơi của các giáp phải luyện tập trước đó hàng tháng. Lịch trình thi trong ngày hội đã được ghi thành điển lệ:

Ngày 22: Buổi sáng bốc thăm chia bảng

Buổi chiều hạ trải bắt đầu bơi thao diễn.

Ngày 23: Thi trải thuộc bảng 1.

Ngày 24: Thi trải thuộc bảng 2.

Mỗi bảng chọn ra một trải nhất, nhì và chung kết.

Ngày 25: Bốn trải nhất, nhì của 2 bảng thi tiếp để chọn ra trải nhất, nhì, ba. 61

Ngày 26: Ba trải thắng sẽ được đi giao đấu với 3 trải của làng Cao Nội, huyện Thanh Miện tỉnh Hải Dương.

Tục giao đấu giữa hai làng này được giải thích là nó có bắt nguồn từ thời Trần với lời kể là: “Vào thời Trần, có 2 người trong đội quân đánh giặc ở vùng cửa biển, khi giặc tan họ chia tay ở quán nước làng Nuồi. Một người ở lại phủ Nội chiêu dân lập ấp, một người trở về Đào Động khai khẩn đất đai lập lên 8 trang ở vùng cửa biển. Để ghi nhớ tình chiến hữu nơi trận mạc, 2 người kết nghĩa anh em, sau dân 2 làng kết họ với nhau, hàng năm 2 làng tổ chức đua thuyền trong dịp hội…”. Theo một số nhà nghiên cứu thì ý thức của người dân trong việc đưa câu chuyện gắn với nhà Trần vào đền là tạo sự linh thiêng hơn cho di tích. Đó cũng là sự hội nhập tất nhiên của lịch sử.

Thi vật.

Sới vật làng Đào Động đặt cạnh cầu Vật, trên khoảng đất rộng gần 200m2, trước cửa đền Quan lớn đệ Bát. Theo quy định, sới hình tròn, đường kính khoảng 4m, xung quanh đắp đất thành bệ, cao 0,6. Khách xem vật có thể đứng xung quanh sân hoặc trên đê Đại Nẫm nhìn vào.

Không thành quy định, song các thôn đều vận động trai tráng khoẻ nhất ra thi thố tài năng, đô thiên hạ ít về giao đấu trong hội. Hội đền Đồng Bằng còn nhiều trò chơi khác như múa gậy, đánh cờ tướng, thi tổ tôm điếm, múa kỳ lân, sư tử… như nhiều làng khác.

2.2.2  Các hoạt động trong phần lễ Khóa luận: Tổng quan về đền thờ Đồng Bằng ở Thái Bình

Lễ tế thần.

Tương truyền đền Đồng Bằng là “Quốc miếu linh từ” nên bộ Lễ phải cử quan về tế, bộ Lễ không về được thì cũng uỷ quyền cho các quan hàng phủ về làm chủ tế. Tiếng là bộ Lễ, quan Trấn, quan Phủ về tế, song các quan chỉ đi người không còn đồ lễ đều do dân sở tại phải sắm. Sau do việc quan trên về dân phải cung đốn phục dịch vất vả, quà đưa, cỗ biếu tốn kém, nên từ năm 1937 lý dịch làng Đào Động đã trình tri huyện Phụ Dực, tri phủ Thái Ninh và tổng đốc Thái Bình xin để bản xã tự tế.

Quan viên tế gồm có 12 thành viên gồm: 1 quan mạnh bái, 1 độc chúc, 1 thông xướng, 1 hoạ xướng và 8 bồi tế viên, tất cả đều mặc áo thụng, buộc khuy, may bằng gấm đoạn màu xanh đậm, riêng quan mạnh bái thêm bức bối tử đính trên ngực áo.

Ngày 21 quan viên tế khai tịch và thỉnh Thánh về đền với hàm ý như báo cáo khai mạc.

Các ngày 22, 23, 24 tế chầu đủ cả 3 tuần: Tiến tửu, tiến lễ, tiến tước.

Riêng ngày 25, tổ chức đại lễ có tế tam sinh. Quan viên trải 3 chiếu dọc, 2 chiếu ngang, bầy nhang án đặt trâu (hoặc bò thui), lợn, dê (để cả con, chỉ bỏ lòng) lên bàn làm lễ tế trọng thể.

Sau khi tế thần thịt trâu (hoặc bò) dê lợn được nhà đền cắt chia theo định mức thứ bậc đem đến tận nhà cho các hương lão, chức sắc và trai đinh toàn xã.

Trong ngày đại lễ này ở đền Đồng Bằng cũng có tục tế mao huyết. Nhưng lông và máu huyết của con vật sau khi tế xong không đem chôn xuống đất như ở nhiều nơi khác, chúng được đêm ra “nhập thuỷ” vào dòng sông ngay trước cửa đền.

Nghi lễ rước thánh.

Tục rước thần ở Đào Động cũng khác các làng một chút. Ở Đào Động không có tục rước 9 vị quan Trấn Nam thuỷ quan về bái yết “Vua Cha Bát Hải”. Làng chỉ tổ chức rước kiệu thánh từ đền ra đình Bơi để thần chứng giám cho lễ hạ trải (thuyền đua), khai mạc hội đua thuyền.

Từ ngày 21 đình đã được trang hoàng lộng lẫy, án thờ công đồng, đồ bát bửu, chấp kích được dàn hai bên ban thờ. Trước sân kéo một là cờ đại, dọc bờ sông cắm cờ ngũ hành và bày sẵn 6 trải của 6 giáp.

Giờ Mão khởi kiệu từ đền chính. Kiệu Thánh là một cỗ long đình lớn, trên đặt kiệu bát cống, tám lính mặc áo nậu, đội nón chóp đồng, đi giày “kí long” khiêng kiệu. Hai bên kiệu có 2 lính hầu che lọng. Theo sau là một dàn bát âm, 8 người mặc áo the, khăn xếp vừa đi vừa cử nhạc. Sau đoàn quan viên đội mũ, mặc áo tế là một đội múa kỳ lân, sư tử. Khóa luận: Tổng quan về đền thờ Đồng Bằng ở Thái Bình

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY

===>>> Khóa luận: Thực trạng về nghi lễ hầu đồng trong thờ Mẫu

2 thoughts on “Khóa luận: Tổng quan về đền thờ Đồng Bằng ở Thái Bình

  1. Pingback: Khóa luận: Tìm hiểu tín ngưỡng thờ mẫu tại đền Đồng Bằng

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464