Khóa luận: Thực trạng tín dụng hộ sản xuất KD tại Agribank

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Thực trạng tín dụng hộ sản xuất KD tại Agribank hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Khóa luận: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng hộ sản xuất tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam chi nhánh huyện Vân Đồn – Quảng Ninh dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

2.3.1. Quan hệ với khách hàng 

Khách hàng của NHNo&PTNT huyện Vân Đồn chiếm 80% là hộ sản xuất, chủ yếu là hộ nông dân. Trong những năm qua, thông qua nguồn vốn của mình NHNo&PTNT huyện Vân Đồn đã đáp ứng kịp thời đầy đủ nguồn vốn cho hộ sản xuất kinh doanh có hiệu quả, tạo điều kiện cho hàng nghìn nông dân có công ăn việc làm, có thu nhập ổn định và ngày càng phát triển, đảm bảo cho cuộc sống gia đình, nhiều hộ đã vươn lên làm giàu, xoá được hộ đói, giảm được hộ nghèo, góp phần xây dựng quê hương ngày càng giàu đẹp. Khóa luận: Thực trạng tín dụng hộ sản xuất KD tại Agribank

Bảng 5: Quan hệ khách hàng của NHNo&PTNT huyện Vân Đồn từ năm 2021 – 2023

Những năm gần đây Ngân hàng đã quan tâm tới vấn đề tạo cơ sở nâng cao hiệu quả tín dụng hộ sản xuất, nâng cao số tiền vay trung bình mỗi lượt vay theo từng đối tượng vay vốn của hộ sản xuất và nâng tổng số hộ vay còn dư nợ Ngân hàng ngày càng tăng.

Cụ thể: Tổng số hộ có quan hệ tín dụng với Ngân hàng từ 13.939 hộ năm 2021 lên 15.550 hộ vào năm 2022 và lên 17.154 hộ vào năm 2023. Là do Ngân hàng đã xây dựng chính sách khách hàng hợp lý, tập trung vào nhóm khách hàng mục tiêu, giữ vững khách hàng cũ, thu hút khách hàng mới, tri ân khách hàng vào những ngày sự kiện.

Biều đồ 1: Số hộ có quan hệ vay vốn với NHNo&PTNT huyện Vân Đồn từ năm 2021 – 2023

Bên cạnh đó, công tác tuyên truyền và các chính sách hỗ trợ lãi suất, cho vay của Nhà nước, chính quyền địa phương cũng như NHNo&PTNT Việt Nam đã được NHNo&PTNT huyện Vân Đồn triển khai một cách có hiệu quả, thu hút được sự chú ý, quan tâm của người dân từ đó số hộ có quan hệ tín dụng với Ngân hàng được nâng cao. NHNo&PTNT huyện Vân Đồn đã nâng mức tín dụng bình quân từ 7,1 triệu/hộ năm 2021 lên 8,4 triệu/hộ năm 2022 và lên 9,13 triệu/hộ năm 2023.

Từ những phân tích trên, ta dễ dàng nhận thấy Ngân hàng đã thực hiện tốt công tác khách hàng, tuy nhiên số lượng khách hàng chủ yếu tập trung ở Thị trấn Cái Rồng, các xã như Đông Xá, Hạ Long, Quan Lan,…, các xã đảo khác số lượng khách hàng chưa nhiều, ngân hàng chưa khai thác triệt để được lượng khách hàng tiềm năng này.

Vì vậy, ngân hàng cần tổ chức việc điều tra khảo sát nhu cầu vay vốn đến hộ sản xuất, nắm bắt được nhu cầu vay vốn của khách hàng và những khó khăn vướng mắc giữa NH và khách hàng để từ đó có biện pháp triển khai giải quyết bước đầu có hiệu quả tốt.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>>  Dịch Vụ Viết Khóa Luận Tốt Nghiệp Tài Chính – Ngân Hàng

2.3.2. Tình hình tín dụng, thu nợ, dư nợ hộ sản xuất của NHNo&PTNT huyện Vân Đồn. Khóa luận: Thực trạng tín dụng hộ sản xuất KD tại Agribank

Doanh số tín dụng, thu nợ, dư nợ đối với một NH có ý nghĩa rất quan trọng phản ánh hiệu quả tín dụng, tầm vóc của NH, bảo đảm hoạt động kinh doanh an toàn, có lãi.

Do xác định được rõ khách hàng truyền thống là các hộ nông dân, NHNo&PTNT huyện Vân Đồn luôn phấn đấu tăng doanh số tín dụng, tăng dư nợ cho hộ sản xuất. Kết quả tín dụng, thu nợ, dư nợ hộ sản xuất của NHNo&PTNT Vân Đồn được thể hiện rõ ở bảng dưới đây:

Bảng 6: Tình hình tín dụng, thu nợ, dư nợ hộ sản xuất của NHNo&PTNT huyện Vân Đồn từ năm 2021 – 2023

Qua bảng tổng hợp trên cho thấy trong 3 năm 2021, 2022, 2023: Doanh số tín dụng năm 2022 so với năm 2021 tăng 41.455 triệu đồng, tỷ lệ tăng là 18,17%. Doanh số tín dụng năm 2023 so với năm 2022 tăng 18.518 triệu đồng, tỷ lệ tăng là 6,87%.

Nguyên nhân dẫn đến sự tăng trưởng đều qua các năm 2021, 2022, 2023 là do các chính sách tín dụng đã được ngân hàng triển khai và áp dụng hợp lý mang lại hiệu quả, số hộ có quan hệ vay vốn với ngân hàng không ngừng được mở rộng qua các năm.

Các cán bộ tín dụng của ngân hàng trong các năm qua đã làm việc một cách tích cực, khiến cho doanh số thu nợ năm 2022 so với năm 2021 tăng 27.465 triệu đồng, tỷ lệ  tăng là 13,93%. Doanh số thu nợ năm 2023 so với năm 2022 tăng 28.919 triệu đồng, tỷ lệ tăng là 12,87%.

Dư nợ hộ sản xuất năm 2022 so với năm 2021 tăng 30.635 triệu đồng, tỷ lệ tăng 17,85%. Dư nợ hộ sản xuất năm 2023 so với năm 2022 tăng 19.940 triệu đồng, tỷ lệ tăng là 9,86%. Công tác thẩm định đự án đạt hiệu quả cao, các dự án sản xuất kinh doanh mang lại hiệu quả kinh tế, công tác thu nợ của Ngân hàng được tiến hành thuận lợi.

Tuy nhiên, do các điều kiện khách quan như thiên tai, bão lũ khiến cho nợ xấu tăng, các hộ kinh doanh chưa có điều kiện để trả nợ cho ngân hàng nên dư nợ hộ sản xuất tăng.

2.3.2.1. Diễn biến doanh số tín dụng hộ sản xuất Khóa luận: Thực trạng tín dụng hộ sản xuất KD tại Agribank

Bảng 7. Doanh số tín dụng hộ sản xuất của NHNo&PTNT huyện Vân Đồn năm 2021 – 2023

Nhìn vào bảng trên ta dễ dàng nhận thấy doanh số tín dụng hộ sản xuất luôn chiếm tỷ trọng lớn nhất (trên 87% từ năm 2021 -2023) trong tổng doanh số tín dụng của NHNo&PTNT huyện Vân Đồn, luôn không ngừng tăng trưởng đều qua các năm.

Đặc thù của huyện Vân Đồn là huyện nông nghiệp, trên 80% số hộ ở vùng nông nghiệp và nông thôn. Số lượng doanh nghiệp ít và các doanh nghiệp vay vốn số lượng vốn không lớn.

Vì thế, đối tượng tín dụng của NHNo&PTNT huyện Vân Đồn chủ yếu là tín dụng hộ sản xuất. Từ năm 2021 Ngân hàng tiếp tục thực hiện Nghị định 41/2010/NĐ-CP của Chính phủ về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn.

Mở rộng cho vay các đối tượng vay vốn theo quyết định số 2009/QĐ-UBND tỉnh Quảng Ninh về việc hỗ trợ lãi suất đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh sản phẩm nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2021 – 2015. Chính vì thế đã khiến cho doanh số tín dụng của Ngân hàng tăng trưởng đều qua các năm. Cụ thể:

Biểu đồ 2 : Doanh số tín dụng hộ sản xuất của NHNo& PTNT huyện Vân Đồn từ năm 2021 – 2023

Bảng 8. Doanh số tín dụng hộ sản xuất của NHNo&PTNT huyện Vân Đồn theo thời gian từ năm 2021 – 2023

Nhìn vào bảng số liệu trên, doanh số cho vay trung – dài hạn luôn chiếm tỷ trọng cao trong tổng doanh số cho vay của Ngân hàng, bởi vì thực tế tại huyện Vân Đồn nhu cầu xin vay vốn của người dân là để mua giống nuôi trồng thuỷ hản sản, mua cây giống trồng rừng, mua máy móc phục vụ cho sản xuất,…cao và đều là các dự án sản xuất kinh doanh dài hạn, thời gian thu hồi vốn đầu tư đều trên 1 năm.

Năm 2021 đạt 124.881 triệu đồng (chiếm 54,73%) doanh số tín dụng của hộ sản xuất; năm 2022 đạt 148.486 triệu động (chiếm 55,07%) doanh số tín dụng của hộ sản xuất tăng 23.605 triệu đồng so với năm 2021; năm 2023 đạt 155.284 triệu đồng (chiếm 53,89%) doanh số tín dụng của hộ sản xuất, so với năm 2022 tăng hơn 6.798 triệu đồng.

Giai đoạn này (2021 -2023) ngân hàng đang tích cực triển khai các chương trình hỗ trợ lãi suất tới bà con nông dân theo chủ trương của Nhà nước cũng như địa phương nên thu hút được lượng khách hàng đông đảo là các hộ sản xuất.

Biểu đồ 3 : Doanh số tín dụng hộ sản xuất theo thời gian của NHNo& PTNT huyện Vân Đồn từ năm 2021 – 2023

Bên cạnh đó, vay ngắn hạn chiếm một tỷ lệ không hề nhỏ trong cơ cấu doanh số cho vay hộ sản xuất. Cụ thể, năm 2022 tăng 17.850 triệu đồng so với năm 1012, tốc độ tăng nhanh (17,28%); năm 2023 tăng 11.721 triệu đồng so với năm 2022 (tốc độ tăng 9,67%). Thực tế tại huyện Vân Đồn, nhu cầu vay vốn ngắn hạn chủ yếu là để bổ sung nguồn vốn tạm thời thiếu hụt, mục đích xin vay để mua con giống, cây giống,…

Từ thực tiễn sản xuất nông – lâm – ngư – diêm nghiệp ở huyện Vân Đồn cho thấy, tín dụng trung – dài hạn đã đáp ứng được nhu cầu vốn bị thiếu hụt của bà con nông dân tại địa bàn huyện.

Tỷ trọng cho vay trung – dài hạn cao đồng nghĩa với dư nợ tín dụng ổn định hơn, chi phí cho việc thiết lập hồ sơ cho vay giảm đi, giảm tải cho cán bộ tín dụng, tuy nhiên Ngân hàng cần phải có các biện pháp ngăn ngừa và hạn chế rủi ro (vì rủi ro tín dụng trung – dài hạn cao hơn tín dụng ngắn hạn) để việc cho vay hộ sản xuất đạt được kết quả cao và không ngừng phát triển.

Theo thành phần kinh tế

Bảng 9: Doanh số tín dụng của hộ sản xuất theo thành phần kinh tế tại NHNo&PTNT huyện Vân Đồn từ năm 2021 – 2023

Thuỷ – hải sản

Doanh số tín dụng thuỷ hải sản chiếm tỷ trọng cao nhất trong cơ cấu và tăng đều qua các năm. Năm 2021 đạt 97.135 triệu đồng (chiếm 42,57% tổng cơ cấu doanh số tín dụng hộ sản xuất); năm 2022 đạt 112.598 triệu đồng (chiếm 41,76% tổng cơ cấu doanh số tín dụng hộ sản xuất), tăng 15.462 triệu đồng so với năm 2021; năm 2023 doanh số tín dụng thuỷ hải sản tiếp tục tăng, đạt 121.653 triệu đồng (chiếm 42,22% tổng cơ cấu doanh số tín dụng hộ sản xuất), tăng 9.055 triệu đồng so với năm 2022.

Biểu đồ 4: Doanh số tín dụng hộ sản xuất theo thành phần kinh tế của NHNo&PTNT huyện Vân Đồn từ năm 2021 – 2023

Doanh số tín dụng thuỷ hải sản chiếm tỷ trọng cao và không ngừng mở rộng là do nền kinh tế huyện Vân Đồn chủ yếu là kinh tế biển (nuôi trồng và đánh bắt hải sản).

Vùng biển của huyện có nhiều chủng loại hải sản quý như tôm he, cá mực, sá sùng, cua, ghẹ, bào ngư, cá song,… thuận lợi cho việc nuôi trồng hải sản, mặt khác, nghề khai thác hải sản có từ lâu đời (đánh bắt xa bờ, nuôi cá lồng bè,…). Khóa luận: Thực trạng tín dụng hộ sản xuất KD tại Agribank

Chính vì thế, mục đích vay vốn chủ yếu của các hộ sản xuất là vay vốn để phục vụ cho lĩnh vực thuỷ hải sản – lợi thế cũng như là thế mạnh của vùng.

Lâm nghiệp

Bên cạnh đó, doanh số tín dụng Lâm nghiệp chiếm tỷ trọng nhỏ nhất trong tổng cơ cấu. Năm 2021 đạt 16.178 triệu đồng chiếm 7,09%, năm 2021 là 19.440 triệu đồng tương đương 7,21%; năm 2023 đạt 19.947 triệu đồng tương đương 6,92%.

Các hộ vay vốn để xin trồng rừng, ươm giống cây lâm nghiệp, khai thác gỗ,…tập trung chủ yếu ở các xã miền núi, trình độ dân trí thấp, nên chưa mạnh dạn vay vốn ngân hàng để mở rộng sản xuất kinh doanh.

Trồng trọt

Ngành trồng trọt bao gồm các loại như: trồng lúa, trồng rau, trồng hoa, cây cảnh, cây ăn quả,…Tuy đất đai ở địa bàn huyện rất màu mỡ thuận lợi cho việc trồng các loại cây ăn quả, cây lâu năm, nhưng số lượng vay vốn để trồng trọt chưa cao.

Năm 2021, doanh số tín dụng trồng trọt đạt 38.995 triệu đồng, tương đương 17,09%; năm 2022 đạt 48.954 triệu đồng tương đương 18,17%. Tranh thủ được các nguồn vốn, chính sách hỗ trợ của Chính phủ, địa phương nên người dân đã mạnh dạn mở rộng diện tích trồng trọt, doanh số tín dụng tăng cao.

Tuy nhiên, đến năm 2023, do nhu cầu từ đời sống của người dân trong huyện, cơ cấu dần chuyển dịch về thuỷ hải sản, chăn nuôi nên doanh số tín dụng trồng trọt giảm nhẹ. Năm 2023 đạt 48.294 triệu đồng (tương đương 16,76%), giảm 660 triệu đồng, tốc độ giảm 1,35%.

Chăn nuôi

Trong năm 2021 doanh số tín dụng chăn nuôi đạt 45.818 triệu đồng (tương đương 20,08%) tổng doanh số tín dụng; năm 2022 đạt 53.642 triệu động (tương đương 19,89%), tăng 7.824 triệu đồng so với năm 2021, tốc độ tăng là 17,08%; năm 2023 đạt 61.981 triệu đồng (tương đương 21,51%), tăng 8.339 triệu đồng so với năm 2022, tốc độ tăng nhanh 15,55%.

Nguyên nhân tăng là do tổng sản lượng ngành chăn nuôi tăng qua các năm, trong đó số lượng gia súc, gia cầm cao, bò, dê là loài gia súc dễ nuôi, giá bán giảm không đáng kể, chỉ đầu tư về con giống, không phải tốn nhiều chi phí cho thức ăn và cho hiệu quả kinh tế cao.

Ngành khác

Các ngành khác bao gồm làm các sản phẩm thủ công nghiệp, đồ lưu niệm, nghề truyền thống,…cũng được địa phương thúc đẩy mạnh, khuyến khích người dân mở rộng và phát triển nên doanh số tín dụng của các ngành nghề này cũng ổn định và có xu hướng tăng qua các năm. Năm 2021 đạt 30.051 triệu đồng; năm 2022 đạt 34.998 triệu đồng; năm 2023 đạt 36.275 triệu đồng.

2.3.2.2. Diễn biến doanh số thu nợ hộ sản xuất Khóa luận: Thực trạng tín dụng hộ sản xuất KD tại Agribank

Doanh số thu nợ là số tiền mà Ngân hàng thu được từ doanh số cho vay trong năm và nợ chưa đến hạn thanh toán của các năm trước chuyển sang và tất cả các khoản nói trên đều là nợ trong hạn. Cùng với doanh số cho vay thì doanh số thu nợ là một vấn đề mà Ngân hàng đặc biệt quan tâm. Dựa vào doanh số thu nợ mà ta có thể biết được tình hình quản lý vốn, hiệu quả sử dụng vốn đầu tư, tính chính xác khi thẩm định, đánh giá khách hàng để cho vay vốn của cán bộ tín dụng Ngân hàng.

Bảng 10. Doanh số thu nợ tại NHNo&PTNT huyện Vân Đồn của hộ sản xuất từ năm 2021 – 2023

Do doanh số tín dụng của hộ sản xuất chiếm tỷ trọng lớn nhất trong cơ cấu doanh số tín dụng của NHNo&PTNT huyện Vân Đồn nên doanh số thu nợ của hộ sản xuất đương nhiên chiếm phần lớn doanh số thu nợ của ngân hàng (trên 87%). Doanh số này không ngừng được cải thiện và nâng cao qua các năm.

Năm 2021 đạt 197.299 triệu đồng, năm 2022 đạt 224.693 triệu đồng tăng 27.394 triệu đồng so với năm 2021; năm 2023 đạt 253.621 triệu đồng, tăng hơn 28.928 triệu đồng so với năm 2022.

Để đạt được những con số ấn tượng đó không thể không nhắc tới sự nỗ lực không ngừng nghỉ của cán cán bộ tín dụng của chi nhánh trong việc thực hiện tốt các quy trình tín dụng, các phương án sản xuất kinh doanh của các hộ sản xuất đạt kết quả khả quan chính vì thế có điều kiện trả nợ cho ngân hàng. Khóa luận: Thực trạng tín dụng hộ sản xuất KD tại Agribank

Công tác thu hồi nợ của Ngân hàng đạt hiệu quả cao tạo điều kiện đẩy nhanh tốc độ luân chuyển vốn lưu thông, đảm bảo nguồn vốn hiện có, đáp ứng nhu cầu vay vốn của khách hàng.

Bảng 11. Doanh số thu nợ của hộ sản xuất tại NHNo&PTNT huyện Vân Đồn từ năm 2021 – 2023

Nhìn vào bảng số liệu trên ta thấy qua các năm, doanh số thu nợ trung – dài hạn của hộ sản xuất luôn dẫn đầu. Cụ thể: Năm 2021 đạt 103.308 triệu đồng (chiếm 52,38% tổng cơ cấu), năm 2022 đạt 120.593 triệu đồng (chiếm 53,67% tổng cơ cấu) tăng 17.285 triệu đồng so với năm 2021; năm 2023 đạt 134.110 triệu đồng (chiếm 52,88% tổng cơ cấu), tăng hơn 13.517 triệu đồng so với năm 2022.

Doanh số thu nợ trung – dài hạn của hộ sản xuất tăng là do doanh số tín dụng trung – dài hạn tăng, cùng với đó là các dự án, phương án sản xuất kinh doanh cho vay trước đó đã mang lại hiệu quả kinh tế, điều này khẳng định chất lượng các dự án, phương án cho vay của ngân hàng là tốt, công tác thẩm định thực hiện đúng quy trình.

Song với đó, doanh số thu nợ ngắn hạn chiếm một phần nhỏ hơn, năm 2021 chiếm 47,62% tổng cơ cấu; năm 2022 chiếm 46,33% tổng cơ cấu; năm 2023 chiếm 47,12% tổng cơ cấu. Các phương án cho vay bổ sung nguồn vốn tạm thời thiếu hụt, cho vay mua cây giống, vật nuôi trước đó đã phát huy hiệu quả, đội ngũ cán bộ tín dụng đã bám sát các khoản vay từ đó công tác thu nợ được tiến hành thuận lợi.

Biểu đồ 5: Doanh số thu nợ hộ sản xuất theo thời gian của NHNo& PTNT huyện Vân Đồn từ năm 2021 – 2023

Thuỷ – hải sản

Doanh số thu nợ thuỷ hải sản chiếm tỷ trọng cao nhất trong cơ cấu và tăng đều qua các năm. Năm 2021 đạt 86.800 triệu đồng (chiếm 43,99% tổng cơ cấu doanh số tín dụng hộ sản xuất); năm 2022 đạt 88.439 triệu đồng (chiếm 39,36% tổng cơ cấu doanh số tín dụng hộ sản xuất), tăng 1.639 triệu đồng so với năm 2021;

Nguyên nhân giảm cơ cấu từ 43,99% năm 2021 xuống còn 39,36% năm 2022 là do trong năm 2022, huyện Vân Đồn phải hứng chịu nhiều cơn bão lớn, khiến cho hoạt động đánh bắt thuỷ sản xa bờ gặp khó khăn, nhiều hộ nuôi trồng thuỷ – hải sản chịu thiệt hại nặng nề, cùng với đó là dịch bệnh ở hàu khiến cho nhiều hộ làm ăn thua lỗ, công tác thu nợ gặp khó khăn.

Sang năm 2023 doanh số tín dụng thuỷ hải sản tiếp tục tăng, đạt 103.093 triệu đồng (chiếm 40,65% tổng cơ cấu doanh số tín dụng hộ sản xuất), tăng 14.654 triệu đồng so với năm 2022.

Ngành du lịch của huyện Vân Đồn ngày càng phát triển, cùng với đó là hệ thống giao thông nối liền với các vùng ngày càng được mở rộng và hoàn thiện, khiến cho nhu cầu về hải sản ngày càng tăng cao. Nhiều mặt hàng hải sản trở thành đặc sản của vùng, được nhiều người yêu thích như hàu, mực, tôm, bề bề, tù hài,…

Chính vì thế khiến cho ngành thuỷ – hải sản ở huyện Vân Đồn phát triển mạnh mẽ, đem lại hiệu quả kinh tế cao, nguồn trả nợ ồn định, tăng trưởng đều qua các năm, chính vì thế doanh số thu nợ của ngành thuỷ – hải sản chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng cơ cấu doanh số thu nợ và không ngừng tăng từ năm 2021 – 2023.

Lâm nghiệp

Cùng với đó, doanh số thu nợ ngành Lâm nghiệp chiếm tỷ trọng nhỏ nhất trong cơ câu thu nợ của NHNo&PTNT huyện Vân Đồn. Từ năm 2021 – 2023, trên địa bàn huyện thường xuyên xảy ra các vụ cháy rừng với quy mô nhỏ vào mùa khô, gây thiệt hại lớn đối với các hộ trồng cây khai thác gỗ, ngành Lâm nghiệp ở huyện chưa thực sự phát triển do người dân chưa có định hướng mở rộng phát triển ngành nghề, trình độ dân trí thấp nên hiệu quả sản xuất kinh doanh chưa cao, đó đều là các nguyên nhân dẫn đến tình trạng doanh số thu nợ ngành Lâm nghiệp chiếm tỷ trọng thấp trong tổng cơ cấu, cơ cấu thu hẹp dần. Khóa luận: Thực trạng tín dụng hộ sản xuất KD tại Agribank

Năm 2021, doanh số thu nợ ngành lâm nghiệp đạt 17,494 triệu đồng (tương đương 8,87%) tổng cơ cấu; Năm 2022 đạt 17.931 triệu đồng (tương đương 7,98%) tổng cơ cấu, tăng 436 triệu đồng so với năm 2021, tốc độ tăng nhẹ (2,49%); Năm 2023 doanh số thu nợ đạt 18.311 triệu đồng (tương đương 7,33%), tăng hơn so với năm 2022 380 triệu, tốc độ tăng chậm 2,12%.

Trồng trọt

Ngành trồng trọt có xu hướng tăng qua các năm, tuy nhiên tỷ trọng trong cơ cấu doanh số thu nợ tăng nhưng không ổn định. Năm 2021 đạt 29.854 triệu đồng (tương đương 15,13%) trong tổng cơ cấu doanh số thu nợ; năm 2022 đạt 38.670 triệu đồng (tương đương 17,21%), tăng 8.829 triệu đồng so với năm 2021, tốc độ tăng nhanh 29,59%; năm 2023 đạt 43.266 triệu đồng (tương đương 17,06%), tăng 4.596 triệu đồng so với năm 2022, tốc độ tăng 11,89%. Nguyên nhân có sự tăng trưởng mạnh trong doanh số thu nợ của ngành trồng trọt từ năm 2021 – 2022 là do các phương án vay vốn trồng cây ăn qua lâu năm trước đó, đến thời điểm này được thu hoạch, các hộ sản xuất có điều kiện trả nợ cho ngân hàng. Năm 2023, tuy cơ cấu có thu hẹp, nhưng không đáng kể, số tiền thu nợ vẫn tăng so với các năm trước đó, doanh số tín dụng năm 2023 tăng so với các năm trước.

Chăn nuôi

Chăn nuôi là ngành chiếm tỷ trọng lớn thứ 2 trong tổng cơ cấu doanh số thu nợ của NHNo&PTNT chi nhánh huyện Vân Đồn. Doanh số thu nợ ngành chăn nuôi ngày càng tăng qua các năm và không ngừng được mở rộng. Năm 2021 đạt 37.000 triệu đồng (tương đương 18,67%) trong tổng cơ cấu doanh số thu nợ; năm 2022 đạt 49.500 triệu đồng (tương đương 22,03%), tăng 12.500 triệu đồng so với năm 2022, tốc độ tăng khá cao 33,78%; Năm 2023 đạt 56.911 triệu đồng (tương đương 22,44%), tăng 7.411 triệu đồng so với năm 2022, tốc độ tăng nhanh 14,97%.

Trong thời gian từ năm 2021 – 2023, ngành chăn nuôi được khuyến khích phát triển, mở rộng, đặc biệt là ở các xã miền núi, hải đảo. Áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào chăn nuôi, nuôi các giống lợn, gà đem lại hiệu quả kinh tế cao, cuộc sống của người dân ngày càng được cải thiện, thu nhập tăng, có điều kiện trả nợ cho ngân hàng.

Ngành khác

Bên cạnh việc chú trọng phát triển các ngành kinh tế mũi nhọn, chính quyền địa phương cũng không ngừng có các chương trình, chính sách hỗ trợ người dân phát triển các ngành nghề truyền thống của huyện chế biến thuỷ – hải sản làm nước mắm, đồ khô,…, ngày càng có các sản phẩm cải tiến hơn về chất lượng và mẫu mã. Đời sống của người dân huyện đảo ngày càng được cải thiện.

Năm 2021, cơ cấu thu nợ ngành khác đạt 26.093 triệu đồng (tương đương 13,23%) trong tổng cơ cấu; năm 2022 đạt 30.154 triệu đồng (tương đương 13,42%), tăng 4.060 triệu đồng, tốc độ tăng nhanh (15,56%) so với năm 2021; Năm 2023 đạt 32.031 triệu đồng (tương đương 12,63%), tăng 1.877 triệu đồng so với năm 2022, tốc độ tăng 6,23%.

2.3.2.3. Cơ cấu dư nợ hộ sản xuất Khóa luận: Thực trạng tín dụng hộ sản xuất KD tại Agribank

Nếu doanh số tín dụng phản ánh kết quả hoạt động tín dụng thì dư nợ phản ánh thực trạng hoạt động tín dụng. Dư nợ cho vay tại ngân hàng phản ánh mức đầu tư vốn và liên quan trực tiếp đến việc tạo ra lợi nhuận cho ngân hàng. Dư nợ là kết quả có được từ diễn biến tình hình cho vay và thu nợ, nó thể hiện số vốn mà ngân hàng đã cho vay nhưng chưa thu hồi tại thời điểm báo cáo.

Dư nợ là vấn đề rất được ngân hàng quan tâm trong hoạt động kinh doanh của mình bên cạnh doanh số cho vay để có thể đánh giá đúng năng lực khách hàng. Muốn vậy, Ngân hàng phải chọn cho mình những khách hàng quen thuộc đảm bảo về mặt tài chính có dư nợ lớn nhưng có uy tín đối với Ngân hàng.

Bảng 13: Cơ cấu dư nợ hộ sản xuất của NHNo& PTNT huyện Vân Đồn năm 2021 – 2023

Qua bảng số liệu trên, dư nợ hộ sản xuất chiếm tỷ trọng rất cao trong tổng dư nợ của Ngân hàng, từ đó càng thấy rõ hơn tầm quan trọng của đối tượng khách hàng hộ sản xuất trong hoạt động kinh doanh tín dụng của NHNo&PTNT huyện Vân Đồn.

Cụ thể năm 2021 đạt 171.589 triệu đồng, chiếm 89,74% trong tổng cơ cấu; năm 2022 là 202.224 triệu đồng (tương đương 85,38%), tăng so với năm 2021 30.635 triệu đồng, tốc độ tăng nhanh (17,85%); năm 2023 dư nợ đối với hộ sản xuất là 222.164 triệu đồng (tương đương 84,72% ) tổng dư nợ, tăng 19.040 triệu đồng, tốc độ tăng 9,86% so với năm 2022.

Nhu cầu về vay vốn của hộ sản xuất ngày càng tăng lên rõ rệt, do hoạt động kinh tế chính của huyện là hoạt động khai thác và nuồi trồng thuỷ hải sản, tuy nhiên, quy mô sản xuất còn nhỏ lẻ, có ít tàu thuyền đánh bắt cá có khả năng đánh bắt ở khơi xa chủ yếu vẫn là tàu thuyền do các hộ dân cư tự khai thác, vì vậy dư nợ đối với thành phần hộ gia đình chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng dư nợ.

Ngân hàng cần chú trọng và quan tâm phát triển tín dụng hơn nữa đối với đối tượng khách hàng này, củng cố khách hàng truyền thống, mở rộng nhóm khách hàng mới, khách hàng tiềm năng.

Qua nghiên cứu số liệu trên cho thấy tốc độ tăng trưởng chung của kinh tế hộ qua các năm đều tăng nhanh kể cả ngắn hạn và trung dài hạn. Trong 3 năm 2021, 2022, 2023 tỷ trọng tín dụng trung – dài hạn trong tổng dư nợ kinh tế hộ đều trên 55%, hoàn toàn phù hợp với định hướng phát triển chung của ngành. Tỷ trọng tín dụng trung hạn cao đồng nghĩa với dư nợ có tính ổn định hơn, chi phí cho việc thiết lập hồ sơ tín dụng giảm đi, giảm tải cho cán bộ tín dụng.

Bên cạnh đó tăng trưởng dư nợ ngắn hạn tăng dần qua các năm. Năm 2022 tăng so với năm 2021 là 21.209 triệu đồng (tăng 30,66%). Năm 2023 tăng 9.496 triệu đồng so với năm 2022 (tăng 10,47%). Dư nợ kinh tế hộ cũng có chiều hướng tăng tương đối nhanh. Điều này chứng tỏ NHNo&PTNT huyện Vân Đồn đã đặc biệt quan tâm đến công tác tín dụng và không ngừng nâng cao hiệu quả tín dụng đảm bảo đồng vốn sử dụng đúng mục đích, có tác dụng hỗ trợ các thành phần kinh tế, các hộ gia đình phát triển sản xuất, kinh doanh mang lại hiệu quả. Khóa luận: Thực trạng tín dụng hộ sản xuất KD tại Agribank

Cơ cấu dư nợ theo ngành nghề.

Cơ cấu kinh tế của NHNo&PTNT huyện Vân Đồn từng bước chuyển dịch theo hướng tích cực phù hợp với định hướng phát triển kinh tế của địa phương.

Thuỷ – hải sản

Vân Đồn là một huyện miền núi hải đảo, nguồn thu nhập chủ yếu là sản xuất nông, lâm, ngư, diêm nghiệp. Đặc biệt ngành đánh bắt thủy hải sản phát triển khá mạnh, tiêu biểu là nuôi trồng tù hài, hầu biển, nuôi cá lồng bè. Đến nay đã có hơn 2000 hộ gia đình và tập thể nuôi trồng. Trong 3 năm 2021, 2022, 2023 ngành thủy hải sản đều chiếm trên 52% tỷ trọng trong dư nợ hộ sản xuất. Năm 2022 tăng 13.293 triệu đồng so với năm 2021, tỷ lệ tăng 14,17%. Năm 2023 tăng 10.140 triệu đồng so với năm 2022, tỷ lệ tăng 9,47%.

Lâm nghiệp

Cơ cấu dư nợ hộ sản xuất ngành lâm nghiệp thu hẹp dần qua các năm từ 2021 – 2023. Năm 2021, dư nợ hộ sản xuất ngành lâm nghiệp đạt 15.597 triệu đồng (tương đương 9,09%) tổng cơ cấu; năm 2022 đạt 16.501 triệu đồng (tương đương 8,16%) tổng cơ cấu; năm 2023 đạt 17.315 triệu đồng (tương đương 7,81%) tổng cơ cấu. Nguyên nhân có sự dịch chuyển dần cơ cấu dư nợ hộ sản xuất ngành lâm nghiệp sang các ngành khác là vì nhiều phương án trồng rừng lấy gỗ chưa thực sự hiệu quả, lợi ích kinh tế đem lại chưa cao, vì thế khả năng thu lại vốn thấp, gây khó khăn cho công tác thu nợ của ngân hàng.

Trồng trọt

Ngành trồng trọt, của huyện trong 3 năm qua cũng đạt được những kết quả khả quan. NH đã chuyển đổi cơ cấu tín dụng cây trồng bằng cách cho vay cải tạo vườn tạp thành vườn cây ăn quả, trồng cây ăn quả có giá trị kinh tế cao.

Năm 2021 dư nợ hộ sản xuất ngành trồng trọt đạt 22.238 triệu đồng (tương đương 12,96%); năm 2022 đạt 29.626 triệu đồng (tương đương 14,65%) trong tổng cơ cấu, tăng 7.388 triệu đồng so với năm 2021; năm 2023 đạt 32.236 triệu đồng (tương đương 14,51%), tăng 2.610 triệu đồng so với năm 2022.

Chăn nuôi

Ngành chăn năm 2021 đạt 27.180 triệu đồng (tương đương 15,84%); năm 2022 đạt 36.198 triệu đồng (tương đương 17,90%), tăng 9.018 triệu đồng so với năm 2021; năm 2023 đạt 41.011 triệu đồng (tương đương 18,46%), tăng 4.813 triệu đồng so với năm 2022.

Ngành chăn nuôi được chú trọng, và khuyến khích phát triển, nhân rộng, Ngân hàng đã chuyển đổi cơ cấu tín dụng cây trồng vật nuôi bằng cách cải tạo ao hồ trũng thành vườn và ao nuôi cá, lập các trang trại chăn nuôi quy mô vừa, đem lại hiệu quả kinh tế.

Ngành khác

Ba năm qua, huyện Vân Đồn đã chuyển dịch cơ cấu theo hướng thương mại, dịch vụ, du lịch phù hợp với tiềm năng của huyện đảo. Vì thế, các ngành khác (bao gồm: thương mại, du lịch, dich vụ) cũng có bước phát triển tích cực. Tăng 31 triệu đồng từ năm 2021 đến năm 2022 (tốc độ tăng 0,25%); từ năm 2022 đến năm 2023 tăng 1527 triệu đồng (tốc độ tăng 11,95%).

2.3.3. Tình hình hiệu quả tín dụng hộ sản xuất tại NHNo&PTNT huyện Vân Đồn. Khóa luận: Thực trạng tín dụng hộ sản xuất KD tại Agribank

2.3.3.1. Thực trạng nợ quá hạn

Mỗi khoản tín dụng cấp cho khách hàng luôn đòi hỏi phải được thu hồi đúng hạn. Đây là cơ sở đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của ngân hàng. Tuy nhiên thực tế cho thấy có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến việc khách hàng không trả nợ đúng hạn để lại các khoản nợ tồn đọng trong Ngân hàng. Vì vậy, hạn chế đến mức thấp nhất các khoản nợ quá hạn luôn là một mối quan tâm hàng đầu của NHNo&PTNT huyện Vân Đồn

Nợ quá hạn thể hiện mối quan hệ tín dụng không hoàn hảo, gây đổ vỡ về uy tín, lòng tin của ngân hàng đối với khách hàng. Nợ quá hạn còn biểu hiện về rủi ro tín dụng, đe doạ khả năng thu hồi vốn (gốc, lãi) của ngân hàng, nó là một quan hệ tín dụng không lành mạnh.

Nợ quá hạn của HSX của NHNo&PTNT huyện Vân Đồn được thể hiện rõ nét ở bảng sau:

Bảng 16: Tình hình nợ quá hạn HSX của NHNo&PTNT chi nhánh huyện Vân Đồn năm 2021 – 2023

Mấy năm trở lại đây, nợ quá hạn đối với tín dụng HSX có chiều hướng tăng dần, Năm 2021 là 395 triệu đồng; năm 2022 tăng lên 485 triệu đồng; năm 2023 đạt 511 triệu đồng. Nguyên nhân khiến cho nợ quá hạn đối với tín dụng hộ sản xuất tăng là do: Mục đích vay vốn chính là để phục vụ cho các dự án sản xuất – kinh doanh – nuôi trồng thuỷ hải sản, cùng với trồng trọt, chăn nuôi. Đây đều là những ngành nghề chịu nhiều rủi ro do yếu tố thời tiết, và các điều kiện khách quan khác.

Trong các năm qua (từ 2021 – 2023), huyện Vân Đồn phải hứng chịu nhiều cơn bão lớn, gây thiệt hại lớn về người và của, ảnh hưởng rất lớn tới tình hình hoạt động sản xuất, kinh doanh của người dân trên địa bàn huyện, đặc biệt là các ngành kinh tế mũi nhọn như thuỷ – hải sản, trồng trọt,…khiến cho nhiều hộ sản xuất không thể trả được nợ, dẫn tới nợ quá hạn. Bên cạnh đó, do suy thoái kinh tế, lạm phát tăng cao, tình hình kinh doanh gặp khó khăn cũng là một nguyên nhân khiến cho nợ quá hạn tăng. Khóa luận: Thực trạng tín dụng hộ sản xuất KD tại Agribank

Song tỷ lệ Nợ quá hạn/ Tổng dư nợ tín dụng lại có xu hướng giảm. Điều đó cho thấy đó là dấu hiệu tốt. Kết quả trên cho thấy tỷ lệ nợ quá hạn đối với HSX của ngân hàng ở mức thấp (năm 2023 là 0,23%) , thấp so với tỷ lệ nợ quá hạn chung của toàn tỉnh Quảng Ninh cũng như của hệ thống NHNo Việt Nam.

Biểu đồ 9: Dư nợ quá hạn hộ sản xuất của NHNo&PTNT huyện Vân Đồn từ năm 2021 – 2023

Mặc dù hộ sản xuất vay vốn đều sản xuất kinh doanh trong lĩnh vực nông, ngư nghiệp với quy mô nhỏ, chịu ảnh hưởng nhiều bởi điều kiện tự nhiên và tác động của nền kinh tế trong điều kiện lạm phát nhưng kết quả nổi bật trong hoạt động tín dụng HSX những năm qua là tỷ lệ nợ quá hạn hàng năm thấp, nhỏ hơn rất nhiều mức trung bình của NHNo&PTNT Quảng Ninh (<2,5%). Có được những kết quả trên là do NHNo&PTNT huyện Vân Đồn đã có nhiều biện pháp tích cực thu hồi nợ quá hạn, một phần được xử lý rủi ro.

2.3.3.2. Vòng quay vốn tín dụng

Vòng quay vốn tín dụng là chỉ tiêu đo lường hiệu quả vốn tín dụng của NH nói chung và hiệu quả tín dụng HSX nói riêng.

Các số liệu trong bảng sau sẽ phản ánh được tình hình luân chuyển vốn qua các năm, qua đó cũng cho ta thấy được kết quả trả nợ của khách hàng.

Bảng 17: Vòng quay vốn tín dụng HSX giai đoạn 2021-2023

Vòng quay vốn tín dụng của HSX nhìn chung cao, cao hơn vòng quay vốn tín dụng chung (1%). Điều này phản ánh hiệu quả tín dụng đã có sự nâng cao trong việc luân chuyển vốn, đáp ứng được nhu cầu vay vốn của khách hàng.

Tuy nhiên, nhìn vào bảng số liệu trên ta thấy năm 2021 số vòng quay là 1,62 vòng, sau đó giảm xuống 1,61 vòng năm 2022 và đến năm 2023 còn 1,58 vòng. Mặc dù con số giảm không đáng kể song NH cần lưu ý vì nếu vòng quay vốn tín dụng giảm và thấp sẽ là nguyên nhân gây phát sinh nợ xấu tiềm ẩn, ảnh hưởng tới chất lượng tín dụng. Vì vậy cần phải có những biện pháp hợp lý để đẩy mạnh vòng quay vốn tín dụng hơn nữa để nâng cao hiệu quả tín dụng nói chung và hiệu quả tín dụng hộ sản xuất nói riêng.

2.4. Đánh giá chung về hiệu quả tín dụng hộ sản xuất tại NHNo&PTNT huyện Vân Đồn Khóa luận: Thực trạng tín dụng hộ sản xuất KD tại Agribank

2.4.1. Những kết quả đạt được

Được sự ủng hộ của cấp uỷ, chính quyền địa phương và các đoàn thể, hiệu quả tín dụng của Ngân hàng đang từng bước được nâng cao.

Coi trọng phương châm “ Đi vay để tín dụng” tập trung nhiều biện pháp khác nhau nhằm tăng trưởng nguồn, đáp ứng từng bước nhu cầu vốn cho phát triển kinh tế xã hội trên địa bàn tỉnh.

NHNo&PTNT huyện Vân Đồn trong 3 năm qua đã đa dạng hóa đối tượng tín dụng, triển khai và mở rộng công tác tín dụng tới mọi thành phần kinh tế hộ gia đình. Từ chỗ tín dụng hộ nuôi trồng thủy hải sản có giá trị kinh tế cao như: nuôi tù hài, nuôi trai lấy ngọc, nuôi cá lồng bè… đến những hộ trồng cây ăn quả, chăn nuôi bò, xây dựng mô hình trang trại trồng rừng…

Kết hợp với cấp uỷ, chính quyền địa phương phát huy tính cộng đồng trách nhiệm bằng hình thức tín dụng qua tổ như: Hội phụ nữ, Hội nông dân, Hội cựu chiến binh đã tập trung đầu mối khách hàng, nâng cao hiệu quả quản lý, giảm khối lượng công việc cho cán bộ tín dụng và tỷ lệ an toàn vốn cao.

Kết quả nổi bật là dư nợ tín dụng hộ sản xuất ngày càng tăng và duy trì ở mức cao. Khối lượng vốn tín dụng khá lớn, thực hiện đầu tư có trọng điểm. Tỷ trọng dư nợ ngắn hạn trong tổng dư nợ HSX chiếm 43,3%. Đây là một tỷ lệ qtương đối cao mà không phải chi nhánh nào cũng có thể đạt được, đặc biệt là NH hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp với đặc trưng sản xuất nông nghiệp theo mùa vụ. Vốn đầu tư trung, dài hạn chiếm 55% tổng dư nợ tín dụng HSX đã đáp ứng nhu cầu vốn của các hộ sản xuất về máy móc thiết bị công tác phục vụ sản xuất… góp phần nâng cao giá trị sản phẩm nông nghiệp của hộ. Tỷ lệ nợ quá hạn thấp trong nhiều năm so với chi nhánh khác, tỷ lệ nợ quá hạn chung chỉ dưới 1%, tỷ lệ nợ quá hạn HSX trung bình khoảng 0,23% trong khi dư nợ tín dụng không ngừng mở rộng.

Số lượt hộ vay trong năm của NH tăng dần trong 3 năm. Điều này đồng nghĩa với việc NH quan tâm tới việc tạo cơ sở nâng cao hiệu quả tín dụng hộ sản xuất, nâng cao doanh số tín dụng bình quân mỗi lượt vay của hộ sản xuất và nâng tổng số hộ vay còn dư nợ NH ngày càng tăng.

2.4.2. Những mặt còn tồn tại Khóa luận: Thực trạng tín dụng hộ sản xuất KD tại Agribank

Định thời hạn tín dụng và kỳ hạn nợ chưa thật sự hợp lý, chưa căn cứ vào chu kỳ sản xuất kinh doanh. Việc thu nợ gốc vào cuối kỳ hạn nợ không tạo cho khách hàng thói quen trả nợ. Quá trình thẩm định, tái thẩm định chưa được cán bộ tín dụng tuân thủ tuyệt đối theo quy định, cả cán bộ lẫn khách hàng vay vốn đều không biết chắc chắn về khả năng sinh lời của dự án và không lường hết được rủi ro của dự án.

Chi phí trên món vay còn cao, nhất là đối với món vay nhỏ. Mức lãi suất tín dụng định ra chưa linh hoạt.

Trình độ cán bộ tín dụng mặc dù đã không ngừng nâng cao song vẫn còn một số các bộ phận chưa nhận thức đầy đủ về hoạt động ngân hàng trong cơ chế thị trường, còn mang tư tưởng hành chính, bao cấp, trình độ nghiệp vụ, phong cách giao dịch chưa đáp ứng được nhu cầu của khách hàng như: CBTD rất ít tư vấn cho khách hàng trong khi nhu cầu tư vấn của họ là rất lớn do trình độ thấp, thiếu kinh nghiệm sản xuất. Ngoài ra, cán bộ tín dụng vẫn chịu tâm lý nặng nề về việc phải chịu rủi ro tín dụng, do đó không phát huy hết năng lực và khả năng tín dụng của mình.

Ngân hàng hầu như không có những sản phẩm hay chính sách để khuyến khích khách hàng trả nợ đúng hạn nhằm nâng cao hiệu quả tín dụng. Khóa luận: Thực trạng tín dụng hộ sản xuất KD tại Agribank

Công tác xây dựng đề án kinh doanh của cán bộ từng địa bàn còn chung chung. Một số phòng tổ xử lý công việc chưa đến nơi đến chốn, còn biểu hiện khuynh hướng né tránh, sợ trách nhiệm. Thủ tục xét duyệt hồ sơ xin vay chưa nhanh chóng do cán bộ tín dụng tác nghiệp trên máy còn hạn chế.

Công tác kiểm tra – kiểm toán nội bộ đôi khi còn buông lỏng, chất lượng thấp. Việc sửa sai sau kiểm tra còn chậm và thiếu dứt điểm, xử lý thiếu kiên quyết đối với cán bộ vi phạm, thương cán bộ một chiều, làm hạn chế hiệu lực của công tác kiểm tra – kiểm toán và ảnh hưởng chất lượng hoạt động kinh doanh.

2.4.3 Nguyên nhân của tồn tại

2.4.3.1. Nguyên nhân khách quan

Môi trường kinh doanh chưa ổn định: nền kinh tế Việt Nam chuyển sang cơ chế thị trường tuy đã được gần 30 năm nhưng do trình độ của nhiều hộ nông dân còn yếu kém nên không bắt kịp được những thay đổi của nền kinh tế thị trường. Mặt khác, sự hỗ trợ của Nhà nước về vốn, công nghệ, cơ sở hạ tầng trong nông nghiệp, nông thôn còn thấp kém, mạng lưới cung cấp nguyên liệu đầu vào, thị trường tiêu thụ sản phẩm chưa phát triển đã ảnh hưởng nhiều đến sản xuất của các HSX vay vốn của NH.

Hoạt động tín dụng tại NHNo huyện Vân Đồn trong lĩnh vực nông, ngư nghiệp với khách hàng chủ yếu là HSX nông nghiệp với quy mô nhỏ, địa bàn huyện đảo đi lại gặp nhiều khó khăn, trình độ quản lý thấp, tiếp cận thiết bị tiên tiến còn bị hạn chế. Do đó ảnh hưởng trực tiếp tới tình hình sản xuất kinh doanh của HSX.

2.4.3.2. Nguyên nhân chủ quan Khóa luận: Thực trạng tín dụng hộ sản xuất KD tại Agribank

Do phương thức tín dụng còn nghèo nàn, chủ yếu là tín dụng theo món, phương thức tín dụng theo hạn mức tín dụng có áp dụng song rất ít. Bên cạnh đó hình thức tín dụng thực tế áp dụng tại Ngân hàng cũng rất hạn chế, chủ yếu là hình thức bán lẻ, tín dụng trực tiếp.

Có sự quá tải công việc đối với cán bộ tín dụng vì bình quân mỗi CBTD phụ trách quá nhiều món vay, dẫn đến cán bộ tín dụng nhiều khi kiểm tra hồ sơ thiếu chặt chẽ, thiếu kiểm tra, đối chiếu thực tế, nhưng có lúc lại quá thận trọng dẫn đến mất nhiều cơ hội trong kinh doanh có lợi cho ngân hàng. Mặt khác cơ chế giải ngân, thu nợ trực tiếp cũng là nguyên nhân gây quá tải đối với cán bộ tín dụng.

Thông tin phòng ngừa rủi ro trong hoạt động tín dụng chưa được quan tâm sử dụng một cách tối ưu. Các dữ liệu trong vi tính, thông tin từ các phương tiện báo chí, các cuộc hội thảo khoa học trong và ngoài nước chưa được khai thác triệt để phục vụ quản lý, điều hành của các cấp lãnh đạo cũng như của cán bộ tín dụng.

Công tác kiểm tra kiểm soát chưa phát huy hết vai trò, chưa thường xuyên, chưa sâu xát, và nghiêm túc cả về nội dung và phương pháp.

Trình độ đội ngũ cán bộ ngân hàng nhất là cán bộ tín dụng không đồng đều, chưa đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của hoạt động kinh doanh ngân hàng. Cán bộ tín dụng nhiều khi sử dụng kinh nghiệm truyền thống hơn là dựa trên những phân tích tài chính và kỹ thuật để thẩm định dự án.

CBTD thực hiện quy trình nghiệp vụ tín dụng còn sai sót, điều tra ban đầu chưa sát với thực tế dẫn đến tín dụng không đúng nhu cầu, định kỳ hạn nợ tuỳ tiện gây khó khăn cho sản xuất hoặc trả nợ ngân hàng của khách hàng, sự hiểu biết về kinh tế kỹ thuật nông, lâm, ngư diêm nghiệp còn hạn chế. Khóa luận: Thực trạng tín dụng hộ sản xuất KD tại Agribank

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>> Khóa luận: Biện pháp nâng cao hộ sản xuất tại Agribank

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464