Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Thực trạng hoạt động KD của Cty Phương Dung hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Khóa luận: Phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh tại Công ty TNHH Thương Mại Tổng Hợp Phương Dung giai đoạn 2016-2018 dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
2.2. Phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh của công ty
2.2. 1. Tình hình kêt quả kinh doanh của công ty
2.2.1.1. Phân tích tình hình doanh thu
Bảng 2.3 : Tình hình doanh thu của công ty trong giai đoạn 2016-2018
Nhận xét:
Qua bảng số liệu trên, ta thấy tổng doanh thu của công ty liên tục tăng qua 3 năm từ 2016 đến 2018. Cụ thể, doanh thu của công ty năm 2016 là 37.893,96 triệu đồng, năm 2017, tổng doanh thu là 45.532,26 triệu đồng, tăng 7.638,3 triệu đồng, tức là tăng 20,2% so với năm 2016. Sang năm 2018, tổng doanh thu là 46.453,9 triệu đồng, tăng 921,64 triệu đồng, tương ứng với tăng 2,0% so với năm 2017. Tổng doanh thu thay đổi do sự thay đổi của doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ và thu nhập khác. Cụ thể:
Doanh thu thuần từ bán hàng và cung cấp dịch vụ:
Dựa vào bảng số liệu 2.3, ta thấy doanh thu chủ yếu của công ty chủ yếu là được thu từ hoạt động bán hàng và cung cấp dịch vụ, doanh thu từ bán hà g và cu g cấp dịch vụ chiếm tỷ trọng cao so với các hoạt động khác (chiếm hơn 90% tổ g doanh thu). Trong giai đoạn 2016-2018, doanh thu về hoạt động bán hàng và cung cấp dịch vụ có xu hướng tăng. Cụ thể, doanh thu từ bán hàng và cung ấp dịch vụ năm 2016 là 37.693,59 triệu đồng. Năm 2017, doanh thu từ bán hàng và ung cấp dịch vụ tăng mạnh, đạt là 45.232,16 triệu đồng, tăng 7.538,57 triệu đồng, tương ứng tăng 20% so với năm 2016. Đến năm 2018, doanh thu từ bán hàng và cung cấp dịch vụ tiếp tục tăng, đạt 46.453,9 triệu đồng, tăng 1.221,74 triệu đồng, tương ứng tăng 2,7% so với năm 2017.
Công ty không có doanh thu từ hoạt động tài chính.
Thu nhập khác:
Trong giai đoạn 2016 – 2018, ta thấy doanh thu đến từ các hoạt động khác chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng doanh thu. Năm 2016, thu nhập khác của công ty là 200,37 triệu đồng, chiếm 0,5% tổng doanh thu của năm này. Đến năm 2017, thu nhập khác của doanh nghiệp là 300,1 triệu đồng. Như vậy, thu nhập khác của năm 2017 tăng 99.734,752 đồng, tức là tăng 49,8% so với năm 2016. Năm 2018 không có khoản thu nhập nào khác ngoài doanh thu từ bán hàng hóa và dịch vụ.
Qua phân tích doanh thu trong giai đoạn 2016-2018, ta thấy doanh thu của công ty chủ yếu đến từ hoạt động bán hàng và cung cấp dịch vụ, chứng tỏ hoạt động bán hàng của công ty diễn ra ổn định. Doanh thu từ hoạt động bán hàng và cung cấp dịch vụ và thu nhập khác tăng làm tổng doanh thu tăng.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
2.2.1.2. Phân tích chi phí Khóa luận: Thực trạng hoạt động KD của Cty Phương Dung
Bảng 2.4: Tình hình chi phí của của công ty giai đoạn 2016-2018
(Nguồn: Phòng Kế toán Công ty TNHH TM TH Phương Dung) Qua bảng số liệu 2.4, ta thấy, tổng chi phí của công ty trong giai đoạn từ năm 2016 đến 2018 có xu hướng tăng. Cụ thể, tổng chi phí của công ty năm 2016 là 37.567,83 triệu đồng. Sang năm 2017, tổng chi phí của công ty tăng mạnh, tăng lên thành 44.681,53 triệu đồn , tăng 7.113,7 triệu đồng, tức tăng 18,94% so với năm 2016. Sang năm 2018, tổ g chi phí là 45.446,31 triệu đồng, tăng 764,78 triệu đồng, tương ứng với 1,68 % so với năm 2017. Chi phí của doanh nghiệp bao gồm: giá vốn hàng bán, chi phí tài chính, chi phí quản lý kinh doanh, chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp và các chi phí khác. Tổng chi phí thay đổi do sự thay đổi của các chi phí kể trên thay đổi. Cụ thể:
Giá vốn hàng bán: là tất cả các chi phí từ lúc mới mua về đến lúc có mặt tại kho của công ty gồm: giá nhập hàng hóa, chi phí vận chuyển hàng về kho, thuế, bảo hiểm…
Qua bảng số liệu 2.4, ta thấy:
Trong giai đoạn 2016-2018, giá vốn hàng bán chiếm tỷ trọng cao nhất trong toàn bộ chi phí của công ty. Nó chiếm khoảng hơn 90%, nên sự thay đổi của giá vốn hàng bán ảnh hưởng nhiều đến tổng chi phí của doanh nghiệp. Tỷ trọng của giá vốn hàng bán qua năm 2016, 2017, 2018 lần lượt là 94,7%, 93,27% và 93,2% trong tổng chi phí của công ty.
Giá vốn hàng bán của công ty trong giai đoạn 2016 -2018 có xu hướng tăng lên. Cụ thể, giá vốn hàng bán của năm 2016 là 35.596,35 triệu đồng. Sang ăm 2017, giá vốn hàng bán tăng mạnh, tăng lên thành 41.676,17 triệu đồng, tăng thêm 6.079,82 triệu đồng, hay là tăng 17,1% so với năm 2016. Qua năm 2018, giá vốn hàng bán của công ty tiếp tục tăng, tăn lên thành 42.358,2 triệu đồng, tăng thêm 682,03 triệu đồng, tương ứng với 1,61% so với 2017.
Chi phí tài chính:
Qua bảng số liệu 2.4, ta thấy, chi phí tài chính chiếm tỷ trọng khá nhỏ, nó chiếm khoảng 0,34% đến 0,54% trong tổng chi phí của công ty. Chi phí tài chính của công ty qua 3 năm 2016, 2017 và 2018 có xu hướng tăng. Cụ thể, chi phí tài chính của công ty năm 2016 là 130,59 triệu đồng. Sang năm 2017, chi phí này là 150,13 triệu đồng, tăng 19,54 triệu đồng, tức 15% so với 2016. Năm 2018, chi phí tài chính tăng lên thành 244,15 triệu đồng, tăng thêm 38,51% so với năm 2017.
Chi phí quản lý kinh doanh: bao gồm chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp.
Chi phí quả lý kinh doanh có sự thay đổi qua các năm 2016-2018. Cụ thể, chi phí quản lý kinh doanh năm 2016 là 1.751,37 triệu đồng, chiếm 4,66% tổng chi phí trong năm này. Qua năm 2017, chi phí quản lý kinh doanh tăng lên thành 2.600,15 triệu đồng, tăng thêm 848,78 triệu đồng, tức là tăng 485% so với năm 2016. Đến năm 2018, chi phí quản lý kinh doanh giảm xuống còn 2.592,06 triệu đồng, giảm 8,09 triệu đồng, hay là giảm 0,3% so với năm 2017.
Chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp:
Trong giai đoạn 2016-2018, ta thấy chi phí thuế thu nhập doanh chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng chi phí của doanh nghiệp. Chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2016 là 81,53 triệu đồng, chiếm 0,22% tổng chi phí trong năm này. Năm 2017, chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp tăng lên thành 239,95 triệu đồng, tăng 158,42 triệu đồng, tương ứng với 194% so với năm 2016. Năm 2018, chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp tiếp tục tăng, tăng lên thành 251,9 triệu đồng, tăng lên 11,95 triệu đồng, tức tăng 4,74% so với 2017. Chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp bằng thuế suất thuế TNDN nhân với lợi nhuận trước thuế. Lợi nhuận trước thuế tăng làm chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp tăng.
Chi phí khác: Chi phí thanh lý, nhượng bán tài sản cố định, giá trị còn lại của tài sản cố định, tiền phạt phải trả do vi phạm hợp đồng…
Các chi phí khác trong năm 2016-2018 chiếm tỷ trọng rất nhỏ, khoảng 0,02% – 0,03% trong toàn bộ chi phí. Chi phí khác trong năm 2016 là 7,99 triệu đồng, đến năm 2017 là 15,13 triệu đồng, tăng 7,14 đồng hay 89,4% so với 2016. Năm 2018, không có chi phí nào ngoài giá vốn hàng bán, chi phí tài chính, chi phí quản lý kinh doanh, chi phí thuế TNDN. Điều đó chứng tỏ công ty đã giảm bớt được các hoạt động phát sinh chi phí khác.
2.2.1.3. Phân tích lợi nhuận Khóa luận: Thực trạng hoạt động KD của Cty Phương Dung
Bảng 2.5: Tình hình lợi nhuận của công ty giai đoạn 2016-2018
Qua bảng 2.5, ta thấy các chỉ tiêu lợi nhuận của doanh nghiệp có xu hướng tăng trong giai đoạn 2016 – 2018. Lợi nhuận của doanh nghiệp gồm lợi nhuận gộp về bán hàng và cung cấp dịch vụ, lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh và lợi nhuận khác.
Ngoài ra, còn có lợi nhuận trước thuế và sau thuế, chúng phản ánh kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Cụ thể:
Lợi nhuận gộp về bán hàng và cung cấp dịch vụ
Lợi nhuận gộp về bán hàng và cung cấp dịch vụ chính là doanh thu thuần về bán hàng và cung cấp dịch vụ đã trừ đi giá vốn hàng bán. Qua bảng số liệu trên, lợi nhuận gộp về bán hàng và cung cấp dịch vụ của công ty có xu hướng tăng trong giai đoạn 2016-2018. Năm 2016,lợi nhuận gộp về bán hàng và cung cấp dịch vụ đạt 2.097,23 triệu đồng. Lợi nhuận gộp về bán hàng và cung cấp dịch vụ của năm 2017 là 3.555,99 triệu đồng, tăng 1.458,76 triệu đồng, tức tăng 69,56% so với năm 2016. Đến năm 2018, lợi nhuận gộp về bán hàng và cung cấp dịch vụ tiếp tục tăng, tăng lên thành 4.095,69 triệu đồng, tăng 539,70 triệu đồng hay tăng 15,18% so với năm trước. Lợi nhuận gộp về bán hàng và cung cấp dịch vụ tăng do doanh thu về bán hàng và cung cấp dịch vụ tăng.
Lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh
Lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh bằng lợi nhuận gộp về bán hàng và cung cấp dịch vụ cộng với doanh thu từ hoạt động tài chính trừ đi chi phí tài chính và chi phí quản lý kinh doanh.
Qua bảng số liệu ta thấy, lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh của công ty năm 2016 là 215,28 triệu đồng, qua năm 2017 lợi nhuận thuần tăng mạnh, tăng lên thành 805,71 triệu đồng, nghĩa là lợi nhuận thuần của năm 2017 tăng 590,43 triệu đồng, tức là tăng 274,27% so với năm 2016. Năm 2018, lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh tiếp tục tă lên, tăng thêm 453,78 triệu đồng, tương ứng với tăng 56.,32% so với năm 2017.
Lợi nhuận khác
Lợi nhuận khác của công ty bằng thu nhập khác trừ đi chi phí khác.
Lợi nhuận khác của công ty năm 2016 là 192,38 triệu đồng, sang năm 2017, con số này là 284,97 triệu đồng. Như vậy, lợi nhuận khác của năm 2017 tăng lên thành 92.59 triệu đồng, tức là tăng 48.13% so với năm 2016. Năm 2018, doanh nghiệp không có lợi nhuận khác nào, do không có chi phí khác và doanh thu khác.
Lợi nhuận trước thuế và lợi nhuận sau thuế
Lợi nhuận trước thuế bằng lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh cộng với các lợi nhuận khác, còn lợi nhuận sau thuế bằng lợi nhuận trước thuế đã trừ đi thuế thu nhập doanh nghiệp.
Qua bảng số liệu 2.5 ta thấy, lợi nhuận trước thuế và sau thuế của công ty có xu hướng tăng lên trong giai đoạn 2016- 2018. Năm 2017, lợi nhuận trước thuế của công ty là 1.090,68 triệu đồng, tăng 683,02 triệu đồng, tương ứng với 167,55 % so với năm 2016. Nguyên nhân là do lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh và các lợi uận khác tăng. Lợi nhuận sau thuế năm 2018 là 1.007,59 triệu đồng tăng 156,86 triệu đồng tức là 18,44% so với năm 2017, vì lợi nhuận thuần từ HĐKD tăng làm cho lợi nhuận trước thuế và lợi nhuận sau thuế tăng.
2.2. 2. Phân tích hiệu quả kinh doanh của công ty Khóa luận: Thực trạng hoạt động KD của Cty Phương Dung
2.2.2.1. Hiệu quả sử dụng vốn
Hiệu quả sử dụng vốn cố định
Để sử phân tích hiệu quả sử dụng VCĐ, d anh nghiệp cần sử dụng các chỉ tiêu như: hiệu suất sử dụng vốn cố định, mức đảm n iệm vốn cố định và mức doanh lợi vốn cố định.
Hiệu suất sử dụng vốn cố định
Hiệu suất sử dụng vốn cố định có xu hướng tăng trong giai đoạn 2016-2018. Hiệu suất sử dụng vốn cố định năm 2016 là 13,248 lần, có nghĩa là cứ một đồng vốn cố định bình quân tham gia vào hoạt động kinh doanh sẽ tạo ra 13,248 đồng doanh thu. Sang năm 2017, hiệu suất sử dụng vốn cố định tăng lên thành 14,776 lần, nghĩa là với một đồng vố cố đị h bình quân tham gia vào hoạt động kinh doanh sẽ tạo ra 14,776 đồng doanh thu. Như vậy chỉ số này của năm 2017 tăng 1,528 lần so với năm 2016, nghĩa là cứ một đồng vốn cố định bình quân, doanh thu năm 2017 sẽ tạo ra nhiều hơn doanh thu năm 2016 là 1,28 đồng. Đến năm 2018 hiệu suất sử dụng vốn cố định là 14,786 lần, có nghĩa một đồng vốn cố định bình quân tham gia vào hoạt động kinh doanh sẽ tạo ra 14,789 đồng doanh thu, so với năm 2017 đã tăng 0,01 đồng doanh thu. Cụ thể có thể thấy ở bảng sau:
Bảng 2.6: Hiệu quả sử dụng vốn cố định của công ty năm 2016-2018
- Doanh thu thuần
- LN sau thuế
- VCĐ bình quân Hiệu suất sử dụng VCĐ Mức đảm nhiệm VCĐ Mức doanh lợi VCĐ
Mức đảm nhiệm vốn cố định:
Qua bảng số liệu 2.6 ta thấy, mức đảm nhiệm vốn cố định của công ty năm 2016 là 0,075 lần, có nghĩa là một đồng doanh thu được tạo ra cần sử dụng 0,075 đồng vốn cố định bình quân. Sang năm 2017, mức đảm nhiệm vốn cố định giảm xuống còn 0,068 lần, tức là với để tạ ra một đồng doanh thu cần phải đầu tư 0,068 đồng vốn cố định bình quân. Như vậy,mức đảm nhiệm vốn cố định của năm 2017 giảm 0,007 lần so với năm 2016. Đến năm 2018, mức đảm nhiệm vốn cố định là 0,068 lầ , tức là với một đồng doanh thu được tạo ra cần sử dụng 0,068 đồng vốn cố định, mức đảm hiệm vốn cố định năm 2018 không có thay đổi so với 2017.
Mức doanh lợi vốn cố định:
Qua bảng số liệu 2.6 ta thấy, mức doanh lợi vốn cố định ó xu hướng tăng qua các năm 2016 đến 2018. Cụ thể, mức doanh lợi vốn cố định năm 2016 là 0,115 lần, nghĩa là cứ một đồng vốn cố định tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh sẽ tạo ra được 0,115 đồng lợi nhuận. Năm 2017, mức doanh lợi vốn cố định là 0,278 lần, tức là cứ một đồng vốn cố định sẽ tạo ra được 0,278 đồng lợi nhuận, con số này tăng 0,321 lần so với năm 2016, nghĩa là cứ một đồng vốn cố định bình quân, lợi nhuận năm 2017 sẽ tạo ra nhiều hơn lợi nhuận năm 2016 là 0,007 đồng. Đến năm 2018, chỉ số này tiếp tục tăng, tăng lên thành 0,321 lần, có nghĩa là cứ một đồng VCĐ tham gia vào hoạt động kinh doanh sẽ tạo ra được 0,321 đồng lợi nhuận và đã tăng 0,043 đồng lợi nhuận so với năm 2017.
Qua việc phân tích hiệu quả sử dụng vốn lưu động của công ty trong giai đoạn 2016-2018, ta thấy hiệu suất sử dụng vốn cố định và mức doanh lợi vốn cố định có xu hướng tăng, trong khi mức đảm nhiệm lại có xu hướng giảm. Qua những chỉ số trên chứng tỏ, công ty ngày càng sử dụng có hiệu quả vốn cố định, tận dụng được tài sản cố định. Do những năm gần đây công ty đang dần chú trọng vào công tác quản lý tài sản cố định, sử dụng tốt các thiết bị, máy móc.
Hiệu quả sử dụng vốn lưu động
Bảng 2.7 : Hiệu quả sử dụng vốn lưu động của công ty giai đoạn 2016-2018
- Doanh thu thuần
- Lợi nhuận sau thuế
- VLĐ bình quân
- 4.Số vòng quay VLĐ
- Độ dài vòng quay vốn lưu động
- Mức đảm nhiệm VLĐ
- Mức doanh lợi VLĐ
Để sử phân tích hiệu quả sử dụng vốn lưu động, doanh nghiệp cần sử dụng các chỉ tiêu như: số vòng quay vốn lưu động, mức đảm nhiệm vốn lưu động và mức doanh lợi vốn lưu động. Khóa luận: Thực trạng hoạt động KD của Cty Phương Dung
Số vòng quay vốn lưu động:
Qua bảng số liệu ta thấy, vòng quay vốn lưu động có xu hướng giảm qua các năm. Năm 2016 số vòng quay vốn lưu động là 3,365 vòng, có nghĩa là cứ một đồng vốn lưu động bình quân tham gia vào hoạt động kinh doanh sẽ tạo ra 3,365 đồng doanh thu. Sang năm 2017, số vòng quay vốn lưu động giảm xuống còn 3,331 vòng, nghĩa là cứ một đồng vốn lưu động bình quân tham gia vào hoạt động kinh doanh sẽ thu được 3,331 đồng doanh thu. Như vậy, chỉ số này của năm 2017 giảm 0,034 vòng so với năm 2016. Đến năm 2018, số vòng quay vốn lưu động là 2,924 vòng, có nghĩa là cứ một đồng vốn lưu động bình quân tham gia vào hoạt động kinh doanh trong năm này sẽ tạo ra 2,924 đồng doanh thu, so với năm 2017 chỉ số này tiếp tục giảm và giảm 0,407 vòng. Chỉ số này qua các năm 2016 đến 2018 có xu hướng giảm chứng tỏ hoạt động luân chuyển vốn của công ty không hiệu quả.
Độ dài vòng quay vốn lưu động:
Trong giai đoạn 2016-2018, độ dài vòng quay vốn lưu động có xu hướng tăng lên. Cụ thể, độ dài vòng quay vốn lưu động năm 2016 là 106,98 ngày, tức là để thực hiện một vòng quay cần phải mất 106,98 ngày. Năm 2017, thời gian luân chuyển một vòng vốn lưu động đã tăng lên thành 108,08 ngày, tăng 1,1 ngày so với năm 2014. Năm 2018, để thực hiện một vòng luân chuyển vốn thì phải mất 123,12 ngày, tăng 15,04 ngày so với năm 2017. Độ dài vòng quay vốn lưu động ngày càng tăng là do số vòng quay vốn lưu động ngày càng giảm.
Mức đảm nhiệm lưu động:
Qua bảng số liệu 2.7, ta thấy mức đảm nhiệm vốn lưu động của công ty năm 2016 là 0,297 lần, có nghĩa là cứ một đồng doanh thu được tạo ra trong quá trình hoạt động kinh doanh cần sử dụng 0,297 đồng vốn lưu động bình quân. Qua năm 2017, mức đảm nhiệm vốn lưu động tăng lên thành 0,3 lần, tức là để tạo ra một đồng doanh thu cần phải sử dụng 0,3 đồng vốn lưu động bình quân tham gia vào hoạt động kinh daonh. Ta thấy, chỉ số này của năm 2017 giảm 0,003 lần so với năm 2016. Mức đảm nhiệm vốn lưu động năm 2018 là 0,342 lần, tức là để tạo ra một đồng doanh thu cần sử dụng 0,342 đồng vốn lưu động tham gia vào quá trình hoạt động kinh doanh, mức đảm nhiệm vốn cố định năm 2018 tăng thêm 0,042 lần so với năm trước. Chỉ số này càng nhỏ thì chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn lưu động càng cao, số vốn lưu động tiết kiệm được càng lớn.
Mức doanh lợi vốn lưu động:
Quan bảng số liệu 2.7 ta thấy, mức doanh lợi vốn lưu động có xu hướ g tă g qua các năm 2016 đền 2018. Cụ thể, mức doanh lợi vốn lưu động của công ty ăm 2016 là 0,029 lần, có nghĩa là cứ một đồng vốn lưu động bình quân tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh sẽ tạo ra được 0,029 đồng lợi nhuận. Năm 2017, mức doanh lợi vốn lưu động là 0,063 lần, tức là cứ một đồng vốn lưu động tham gia vào hoạt động kinh doanh sẽ tạo ra được 0,063 đồng lợi nhuận, con số này tăng 0,034 lần so với năm 2016. Đến năm 2018, chỉ số này vẫn là 0,063 lần, có nghĩa là với một đồng vốn lưu động bình quân tham gia vào hoạt động kinh doanh sẽ tạo ra được 0,063 đồng lợi nhuận.
Qua việc phân tích hiệu quả sử dụng vốn lưu động của công ty trong giai đoạn từ năm 2016 đến năm 2018, ta thấy số vòng quay vốn lưu động có xu hướng giảm, trong khi đó độ dài ngày luân chuyển và mức đảm nhiệm lại tăng, mức doanh lợi vốn lưu động không sự thay đổi nhiều trong năm 2018 chứng tỏ rằng doanh nghiệp sử dụng vốn lưu động chưa đạt hiệu quả. Công ty cần có những giải pháp nhằm tăng hiệu quả sử dụng vốn lưu độ g trong thời giai tới.
2.2.2.2. Phân tích hiệu quả sử dụng lao động của Công ty Khóa luận: Thực trạng hoạt động KD của Cty Phương Dung
Để sử phân tích hiệu quả sử dụng lao động, doanh nghiệp cần sử dụng các chỉ tiêu nh : năng suất lao động, lợi nhuận bình quân trên một lao động…
Bảng 2.8. Hiệu quả sử dụng lao động của Công ty giai đoạn 2016-2018
Năng suất lao động bình quân : phản ánh mối quan hệ giữa doanh thu và số lao động, chỉ tiêu này cho biết một lao động có thể tạo ra bao nhiêu doanh thu trong quá trình sản xuất kinh doanh.
Qua bảng số liệu 2.8, ta thấy năng suất lao động bình quân của công ty có sự thay đổi trong giai đoạn 2016-2018. Cụ thể, năng suất lao động bình quân năm 2016 là 1.177,92 triệu đồng/người, nghĩa là một lao động tham gia vào hoạt động kinh doanh có thể tạo ra được 1,177,92 triệu đồng doanh thu. Đến năm 2017, con số ày tă g lên thành 1.292,35 triệu đồng/người, nghĩa là một lao động có thể tạo ra được 1.292,35 triệu đồng doanh thu. Như vậy năng suất lao động bình quân của năm 2017 tăng thêm 114,43 triệu đồng/người, tức là tăng 9,71% so với năm 2016. Qua năm 2018, năng suất lao động bình quân của công ty giảm xuống còn 1.255,51 triệu đồng/người, nghĩa là một lao động tham gia vào hoạt động kinh doanh có thể tạo ra được 1,255,51 triệu đồng doanh thu. Vậy so với năm 2017 thì con số này đã giảm 36,84 triệu đồng/người, tương ứng với 2,85%. Chỉ tiêu này tăng vào năm 2017 và giảm vào năm 2018 là do doanh thu trong 2017 tăng mạnh so vớ năm 2016, còn qua năm 2018 thì doanh thu tăng nhẹ. Nguyên nhân tăng là do công ty tập trung vào công tác đào tạo nhân lực, tuyển chọn những người có trình độ chuyên môn, đầu tư vào một số máy móc, thiết bị.
Năng suất lao động bình quân càng tăng thì chứng tỏ công ty đã sử dụng lao động có hiệu quả và ngược lại.
Lợi nhuận bình quân trên một lao động cho biết một lao động tham gia vào quá trình sản xuất ki h doa h có thể mang lại bao nhiêu đồng lợi nhuận.
Qua bảng số liệu 2.8, ta thấy lợi nhuận bình quân trên một lao động của công ty có xu hướng tăng trong giai đoạn 2016-2018. Cụ thể, lợi nhuận bình quân trên một lao động năm 2016 là 10,19 triệu đồng, nghĩa là cứ một lao động tham gia vào hoạt động kinh doanh có thể tạo ra được 10,19 triệu đồng lợi nhuận. Đến năm 2017, con số này tăng lên thành 24,31 triệu đồng, nghĩa là cứ một lao động tham gia vào hoạt động kinh doanh có thể tạo ra được 24,31 triệu đồng lợi nhuận. Như vậy lợi nhuận bình quân trên một lao động của năm 2017 tăng thêm 14,12 triệu đồng, tức là tăng 138,57% so với năm 2016. Qua năm 2018, lợi nhuận bình quân trên một lao động của công ty tiếp tục tăng, đạt 27,23 triệu đồng, nghĩa là cứ một lao động tham gia vào hoạt động kinh doanh có thể tạo ra được 27,23 triệu đồng lợi nhuận. Như vậy, so với năm 2017 thì con số này tăng thêm 2,92 triệu đồng, tương ứng với 12,01%. Lợi nhuận bình quân trên một lao động của công ty tăng lên là do lợi nhuận sau thuế trong giai đoạn 2016-2018 có tốc đọ tăng cao hơn so với tốc độ tăng của doanh thu.
Lợi nhuân bình quân trên một lao động có xu hướng tăng và năng suất lao động tuy có giảm vào năm 2018 nhưng nhìn chung công ty đã sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực của mình.
2.2.2.3. Khả năng sinh lời của công ty Khóa luận: Thực trạng hoạt động KD của Cty Phương Dung
Để sử phân tích khả năng sinh lời, doanh nghiệp cần sử dụng các chỉ tiêu như: tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu ( ROS), tỷ suất lợi nhuận trên vốn hủ sở hữu ( ROE), tỷ suất lợi nhuận trên tài sản ( ROA)…
Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu (ROS)
Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu bằng tỷ số của lợi nhuận sau thuế trên doanh thu thuần. Nó đo lường hiệu quả kinh doanh của doanh nghiêp.
Qua bảng số liệu 2.9 ta thấy, tỷ suất lợ nhuận trên doanh thu có xu hướng tăng trong giai đoạn 2016- 2018. Tỷ lệ này càng tăng chứng tỏ hoạt động kinh doanh của công ty có hiệu quả hơn. Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu của năm 2016 là 0,009 lần, có nghĩa là lợi nhuận thu được trên một đồng doanh thu là 0,009 đồng. Năm 2017 con số này là 0,019 lần, nghĩa là lợi nhuận thu được trên một đồng doanh thu là 0,019 đồng, tăng 0,01 lần so với 2016. Đến năm 2018, tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu là 0,022 lần, tức là lợi huận thu được trên một đồng doanh thu là 0,022 đồng, tăng 0,003 lần so với năm 2017. Tỷ lệ lợi nhuận trên doanh thu tăng do lợi nhuận sau thuế tăng trong giai đoạn từ năm 2016 đến 2018.
Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu càng cao thì công ty hoạt động càng có hiệu quả. Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu của công ty có xu hướng tăng, công ty càng ngày càng hoạt động có hiệu quả.
Bảng 2.9. Khả năng sinh lời của công ty giai đoạn 2016-2018
- Doanh thu thuần
- Lợi nhuận sau thuế
- Tài sản bình quân
- Vốn CSH bình quân Tỷ suất LN/ DT
Tỷ suất LN/ VCSH Tỷ suất LN/tài sản
Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE)
Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu có xu hướng tăng từ năm 2016 đến 2017 và giảm từ 2017 đến 2018. Cụ thể, tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu của năm 2016 là 0,08 lần, nghĩa là cứ một đồng vốn chủ sở hữu bỏ ra sẽ thu được 0,08 đồng lợi nhuận. Sang năm 2017, con số này là 0,129 lần, có nghĩa là một đồng vốn chủ sở hữu bỏ ra sẽ thu được 0,129 đồng lợi nhuận, chỉ số này tăng 0,049 lần so với 2016. Đến năm 2018, tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu là 0,11 tức là cứ một đồ g vố chủ sở hữu bỏ ra sẽ thu được 0,11 đồng lợi nhuận, so với năm 2017 con số này giảm 0,019 lần.
Tỷ suất lợi nhuận trên tài sản (ROA)
ROA là tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên tổng tài sản, tỷ số àng cao cho thấy công ty làm ăn càng hiệu quả. Chỉ số này cho biết bao nhiêu đơn vị lợi nhuận được tạo ra khi đầu tư vào một đơn vị tài sản. Chỉ tiêu này có giá trị âm chứng tỏ doanh nghiệp hoạt động thu lỗ không sử dụng có hiệu quả tài sản vào hoạt động kinh doanh và ngược lại nếu chỉ tiêu này dương chứng tỏ doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả và việc khai thác và sử dụng tài sản diễn ra tốt.
Tỷ suất lợi nhuận trên tài sản có xu hướng tăng trong giai đoạn từ năm 2016 đến 2018. Cụ thể, tỷ suất lợi nhuận trên tài sản của năm 2016 là 0,023 lần, nghĩa là cứ một đồng tài sản tham gia vào hoạt động kinh doanh sẽ tạo ra được 0,023 đồng lợi nhuận. Sang năm 2017, con số này là 0,051 lần, có nghĩa là cứ một đồng tài sản tham gia vào hoạt động ki h doa h sẽ tạo ra được 0,051 đồng lợi nhuận, tăng 0,028 lần so với 2016. Đến năm 2018, tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản là 0,053 tức là cứ một đồng tài sản tham gia vào hoạt động kinh doanh sẽ tạo ra được 0,053 đồng lợi nhuận, so với năm 2017 con số này tăng 0,002 lần.
2.2.2.4. Khả năng thanh toán của công ty
Để sử phân tích khả năng thanh toán của, doanh nghiệp cần sử dụng các chỉ tiêu như: khả năng thanh toán hiện thời, khả năng thanh toán nhanh.
Bảng 2.10. Tỷ số về khả năng thanh toán của công ty trong giai đoạn 2016 -2018
Khả năng thanh toán nhanh: cho biết khả năng thanh toán nợ ngắn hạn bằng các tài sản ngắn hạn có tính thanh khoản cao.
Dựa vào bảng số liệu 2.10, ta thấy khả năng thanh toán nhanh của doanh nghiệp có sự thay đổi trong giai đoạn 2016-2018. Cụ thể, khả năng thanh toán nhanh của công ty năm 2016 là 0,084 lần, nghĩa là công ty có 0,084 đồng tài sản ngắn hạn có ính thanh khoản cao để thanh toán một đồng nợ ngắn hạn. Đến năm 2017, chỉ số này là 0,209 lần, nghĩa là công ty có 0,209 đồng tài sản ngắn hạn có tính thanh khoả cao để thanh toán một đồng nợ ngắn hạn. Như vậy, chỉ số này của 2017 tăng 0,125 lần so với năm 2016. Sự thay đổi này do tài sản ngắn hạn năm 2017 tăng và nợ ngắn hạn trong năm này giảm. Năm 2018, khả năng thanh toán nhanh của ông ty giảm xuống còn 0,197 lần, có nghĩa là công ty có 0,197 đồng tài sản ngắn hạn có tính thanh khoản cao để thanh toán một đồng nợ ngắn hạn. So với năm 2017, chỉ số này giảm 0,012 lần. Sự sụt giảm này do nợ ngắn hạn và giá trị hàng tồn k tr ng năm 2018 tăng.
Chỉ tiêu khả năng thanh toán nhanh của công ty khá thấp chỉ nằm trong khoảng 0,084 đến 0,209, điều này chứng tỏ khả năng thanh toán nhanh của công ty thấp, công ty không có đủ khả năng th nh toán khoản nợ ngắn hạn. Công ty cần có những biện pháp nhằm nâng cao khả năng th nh toán nhanh.
Khả năng thanh toán hiện thời: cho thấy khả năng thanh toán nợ ngắn hạn của doanh nghiệp khi đến hạn phải trả.
Qua bảng số liệu 2.10, ta thấy khả năng thanh toán hiện thời của công ty có sự biến động trong giai đoạn 2016-2018. Cụ thể, khả năng thanh toán hiện thời của công ty năm 2016 là 1,113 lần, nghĩa là cứ một đồng nợ ngắn hạn mà doanh nghiệp đang giữ thì cần 1,113 đồng tài sản ngắn hạn để thanh toán nợ ngắn hạn. Đến năm 2017, khả năng thanh toán hiện thời là 1,612 lần, nghĩa là cứ một đồng nợ ngắn hạn mà doanh nghiệp đang giữ thì cần 1,612 đồng tài sản ngắn hạn để thanh toán nợ ngắn hạn. Như vậy, khả năng thanh toán hiện thời của 2017 tăng 0,499 lần so với năm 2016. Sự thay đổi này do nợ ngắn hạn trong năm năm 2017 giảm và TSNH của năm này tăng. Năm 2018, khả năng thanh toán hiện thời của công ty giảm xuống còn 1,601 lần, nghĩa là cứ một đồng nợ ngắn hạn mà doanh nghiệp đang giữ thì cần 1,601 đồng tài sản ngắn hạn để thanh toán nợ ngắn hạn. So với năm 2017, chỉ số này giảm 0,011 lần. Nguyên nhân của sự sụt giảm này do nợ ngắn hạn trong năm 2018 tăng.
Chỉ số này cao, chứng tỏ công ty có khả năng thanh toán nợ ngắn hạn bằng các tài sản ngắn hạn có tính thanh khoản cao .
2.2.2.5. Phân tích cơ cấu tài chính Khóa luận: Thực trạng hoạt động KD của Cty Phương Dung
Để sử phân tích cơ cấu tài chính , doanh nghiệp có thể sử dụng sử dụ g các chỉ tiêu sau: tỷ suất tự tài trợ, hệ số nợ trên tổng tài sản, khả năng thanh toán lãi vay…
Hệ số tự tài trợ: phản ánh mức độ tự chủ về mặt tài hính hay mức độ tự tài trợ của doanh nghiệp.
Dựa vào bảng 2.11, ta thấy hệ số tự tài trợ có sự thay đổi trong giai đoạn 2016-2018. Cụ thể, hệ số tự tài trợ năm 2016 là 0,282 lần, nghĩa là cứ một đồng vốn hoạt động có 0,282 đồng vốn chủ sở hữu. Năm 2017, ệ số tự tài trợ tăng mạnh, tăng lên thành 0,485 lần, nghĩa là cứ một đồng vốn hoạt động có 0,485 đồng vốn chủ sở hữu, tăng 0,203 lần so với năm 2016. Đến năm 2018, hệ số tự tài trợ giảm xuống còn 0,475 lần, nghĩa là cứ một đồng vốn hoạt động có 0,475 đồng vốn chủ sở hữu, giảm 0,01 lần so với năm 2017.
Hệ số nợ trên tổng tài sản :phản ánh khả năng tự chủ tài chính của doanh nghiệp.
Hệ số nợ của cô g ty trong giai đoạn 2016-2018 có sự thay đổi. Cụ thể, hệ số nợ năm 2016 của công ty là 0,718 lần. Sang năm 2017, hệ số nợ giảm xuống còn 0,515 lần, giảm 0,203 lần so với năm 2016. Nguyên nhân là do nợ phải trả giảm với tốc độ t ong khi đó tổng tài sản lại có xu hướng tăng so với năm 2016. Đến năm 2018, hệ số nợ tăng lên thành 0,525 lần, tăng 0,01 lần so với năm 2017. Con số này tăng là do tốc độ tăng của nợ phải trả cao hơn tốc độ tăng của tổng tài sản.
Để cụ thể hơn ta có thể dựa vào bảng 2.11 dưới đây:
Bảng 2.11: Phân tích cơ cấu tài chính của công ty giai đoạn 2016-2018
- Tổng nguồn vốn
- Tổng nợ phải trả
- Vốn chủ sở hữu
- Lãi vay
- EBIT
- Hệ số tự tài trợ
- Hệ số nợ
- Khả năng thanh toán lãi vay
Nếu hệ số nợ càng cao thì hệ số tự tài trợ càng thấp, cho thấy mức độ tự chủ về tài chính của doanh nghiệp càng thấp, dễ bị ràng buộc với các chủ nợ. Qua bảng 2.11, ta thấy hệ số nợ của công ty còn khá cao, còn có xu hướng tăng vào năm 2018, trong khi đó hệ số tự tài trợ có xu hướng giảm. Chứng tỏ khả năng tự chủ về tài chính của công ty và mức độ tự tài trợ còn thấp, công ty còn sử dụng nhiều vốn đi vay.
Khả năng thanh toán lãi vay: chỉ tiêu này phản ánh khả năng thanh toán lãi vay của công ty được tính bằng EBIT chia cho lãi vay.
Trong giai đoạn 2016-2018, có thể thấy khả năng thanh toán lãi vay của công ty có sự biến động. Cụ thể, khả năng thanh toán lãi vay của ông ty năm 2016 là 4,122 lần, nghĩa là cứ một đồng chi phí lãi vay được đảm bảo bởi 4,122 đồng lợi nhuận trước thuế và lãi vay. Đến năm 2017, khả năng thanh toán lãi vay là 8,265 lần, nghĩa là cứ một đồng chi phí lãi vay được đảm bảo bởi 8,265 đồng lợi nhuận trước thuế và lãi vay. Như vậy, khả năng thanh toán lãi vay của 2017 tăng 4,143 lần, tương ứng với so với năm 2016. Năm 2018, khả năng thanh toán lãi vay của công ty giảm xuống còn 6,159 lần, có nghĩa là cứ một đồng chi phí lãi vay sẽ được đảm bảo bởi 6,159 đồng lợi nhuận trước thuế và lãi vay, chỉ số này giảm 2,106 lần so với năm 2017.
Qua phân tích cơ cấu tài chính của công ty giai đoạn từ năm 2016 đến năm 2018, ta thấy công ty còn phụ thuộc vào việc đi vay, chưa tự chủ được nguồn vốn. Tuy nhiên, chỉ số khả năng thanh toán lãi vay cao, chứng tỏ công ty đang làm tốt công tác trả lãi vay. Tro g thời giai tới công ty cần có biện pháp nhằm nâng cao khả năng huy động vốn chủ sở hữu, tự chủ về vốn.
2.2.2.6. Phân tích về khả năng hoạt động Khóa luận: Thực trạng hoạt động KD của Cty Phương Dung
Để sử phân tích khả năng hoạt động, doanh nghiệp cần sử dụng các chỉ tiêu như: vòng quay hàng tồn kho, số ngày của một vòng quay hàng tồn kho, số ngày hàng tồn kho quay hết một vòng, vòng quay tài sản cố định, vòng quay tổng tài sản, kỳ thu tiền bình quân, kỳ trả tiền bình quân…
Bảng 2.12: Chỉ số về khả năng hoạt động của công ty trong giai đoạn 2016-2018
- Doanh thu
- Tổng tài sản
- Tài sản cố định
- Giá vốn hàng bán
- Tồn kho bình quân
- Vòng quay HTK
- Số ngày của một vòng quay HTK
- Vòng quay TSCĐ
- Vòng quay Tổng TS
Vòng quay hàng tồn kho: đo lường mức luân chuyển hàng hóa dưới hình thức tồn kho trong một năm của doanh nghiệp. Nó cho ta biết khả năng quản trị hàng tồn kho của doanh nghiệp tốt đến mức nào. Nếu hệ số vòng quay hàng tồn kho càng lớn nghĩa là hàng tồn kho ít, doanh nghiệp bán hàng nhanh.
Trong giai đoạn 2016-2018, ta thấy vòng quay hàng tồn kho của công ty có sự thay đổi. Cụ thể, vòng quay hàng tồn kho năm 2016 là 3,433 vòng. Năm 2017, vòng quay hàng tồn kho tăng lên thành 3,434 vòng, tăng 0,001 vòng so vớ ăm 2016. Đến năm 2018, vòng quay hàng tồn kho giảm xuống còn 3,052 vòng, giảm 0,382 vòng so với năm 2017. Nguyên nhân là do giá trị hàng tồn kho bình quân trong năm 2018 tăng, với tốc độ tăng cao hơn tốc độ tăng của giá vốn hàng bán. Lượng hàng tồn kho tăng lên sẽ làm chi phí bảo quản tăng, hàng hóa để lâu ngày sẽ dễ bị hư hỏng, gây ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh, đặc biệt công ty còn kinh doanh các mặt hàng thực phẩm nên rất dễ hỏng. Công ty cần đưa ra các giải p áp nhằm tăng tốc độ luân chuyển hàng tồn kho.
Chỉ số vòng quay hàng tồn kho càng cao càng cho thấy doanh nghiệp bán hàng nhanh và hàng tồn kho không bị ứ đọng nhiều trong doanh nghiệp.
Số ngày của một vòng qu y hàng tồn kho: là số ngày trung bình để quay hết một vòng của hàng tồn kho.
Trong giai đoạn 2016 – 2018, ta thấy số ngày của một vòng quay hàng tồn kho của công ty có sự thay đổi. Cụ thể, năm 2016, số ngày cần thiết để hàng tồn kho quay được một vòng là 104,865 ngày. Năm 2017, số ngày của một vòng quay hàng tồn kho là 104,834 ngày, nghĩa là hàng tồn kho quay hết một vòng mất 104,834 ngày, giảm 0,031 vòng so với năm 2016. Sự sụt giảm này do số ngày vòng quay của hàng tồn kho tăng. Đến năm 2018, số ngày của một vòng quay hàng tồn tăng lên thành 117,955 ngày, nghĩa là hàng tồn kho quay hết một vòng mất 117,955 ngày, tăng 13,121 ngày so với năm 2017. Nguyên nhân số ngày của vòng quay hàng tồn kho tăng là do số vòng quay của hàng tồn kho giảm.
Số ngày của một vòng quay hàng tồn kho càng cao, thì hàng tồn kho sẽ mất nhiều ngày để quay hết vòng, như vậy sẽ làm chậm tốc độ luân chuyển hàng tồn kho, dẫn đến hàng hóa trong kho sẽ bị ứ đọng.
Vòng quay tài sản cố định: Chỉ số này giúp đánh giá hiệu quả sử dụng TSCĐ của doanh nghiệp, cho thấy một đồng TSCĐ tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh sẽ tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu.
Dựa vào bảng số liệu 2.12, ta thấy vòng quay tài sản cố định của cô g ty có xu hướng tăng trong giai đoạn 2016-2018. Cụ thể, vòng quay tài sản cố định năm 2016 là 12,949 vòng, nghĩa là cứ một đồng tài sản cố định tham gia vào quá trình hoạt động kinh doanh sẽ tạo ra 12,949 đồng doanh thu. Năm 2017, vòng quay tài sản cố định tăng lên thành 14,084 vòng, nghĩa là một đồng tài sản cố định tham gia vào quá trình hoạt động kinh doanh sẽ tạo ra 14,084 đồng d anh thu, tăng 1,135 vòng so với năm 2016. Đến năm 2018, vòng quay tài sản cố định tiếp tục tăng, tăng lên thành 15,122 vòng, tức là một đồng TSCĐ sẽ tạo ra 15,122 đồng doanh thu, tăng 1,038 vòng so với năm 2017. Nguyên nhân là do doanh thu năm 2018 tăng và tài sản cố định của năm này giảm so với năm 2017.
Chỉ số này càng cao cho thấy hiệu quả sử dụng tài sản cố định của doanh nghiệp càng cao và ngược lại.
Vòng quay tổng tài sản: Chỉ số này giúp đánh giá hiệu quả sử dụng toàn bộ tài sản của doanh ghiệp, cho thấy một đồng tài sản tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh sẽ tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu.
Dựa vào bảng số liệu 2.12, ta thấy vòng quay tổng tài sản của công ty trong giai đoạn 2016-2018 có sự thay đổi, nhưng không đáng kể. Cụ thể, vòng quay tổng tài sản năm 2016 là 2,606 vòng, nghĩa là cứ một đồng tài sản tham gia vào quá trình hoạt động kinh doanh sẽ tạo ra 2,606 đồng doanh thu. Năm 2017, vòng quay tổng tài sản giảm xuống còn 2,404 vòng, nghĩa là cứ một đồng tài sản tham gia vào quá trình hoạt động kinh doanh sẽ tạo ra 2,404 đồng doanh thu, giảm 0,202 vòng so với năm 2016. Đến năm 2018, vòng quay tổng tài sản tăng lên thành 2,415 vòng, tức là cứ một đồng tài sản tham gia vào quá trình hoạt động kinh doanh sẽ tạo ra 2,415 đồng doanh thu, tăng 0,011 vòng so với năm 2017.
2.3. Đánh giá chung về hiệu quả hoạt động kinh doanh của công ty Khóa luận: Thực trạng hoạt động KD của Cty Phương Dung
2.3.1. Những mặt tích cực
Công ty TNHH TM TH Phương Dung luôn cố gắng và nỗ lực trong thực rong quá trình thực hiện hoạt động kinh doanh. Công ty luôn phấn đấu để tạo được uy tín cho mình, mở rộng quy mô kinh doanh, lĩnh vực kinh doanh…
Qua việc phân tích hiệu quả kinh doanh của công ty trong giai đoạ 2016-2018, ta thấy được tình hình hoạt động kinh doạnh có đã các bước tiến tích cực. Cụ thể, tình hình doanh thu và lợi nhuận của công ty có xu hướng tăng trong giai đoạn năm 2016 – 2018, doanh thu từ hoạt động bán hàng và cung cấp dịch vụ hiếm tỷ trọng cao trong tổng doanh thu của cả công ty, cho thấy tình hình bán hàng của công ty rất thuận lợi. Bên cạnh đó, tình hình tổng tài sản của công ty liên tục tăng trong giai đoạn 2016-2018.
Trong giai đoạn này, tổng số lao động của công ty tăng, số lao động thuộc trình động Đại học, Cao đẳng và Trung cấp có xu hướng tăng. Vì vậy, số lao động của công ty có trình độ chuyên môn, t y nghề c o ngày càng tăng. Lợi nhuận bình quân trên một lao động tăng qua các năm, cho thấy một lao động tạo ra nhiều lợi nhuận hơn qua các năm. Năng suất lao động cao, có xu hướng tăng vào năm 2017.
Trong giai đoạn từ năm 2016 đến 2018, hiệu suất sử dụng vốn cố định có xu hướng tăng, mức đảm nhiệm vốn cố định giảm và mức doanh lợi vốn cố định tăng. Điều này chứng tỏ công ty đã sử dụng có hiệu quả vốn cố định vào quá trình kinh doanh, công ty đang dần làm tốt công tác quản lý tài sản cố định.
Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu và lợi nhuận trên tài sản không cao nhưng có xu hướng tăng qua các năm, chứng tỏ công ty hoạt động có hiệu quả và việc sử dụng tài sản của công ty vào việc kinh doanh ngày càng hiệu quả hơn. Hệ số về khả năng thanh toán lãi vay cao, tuy nhiên, hệ số này có xu hướng giảm ở năm 2018. Số vòng quay tài sản cố định cao, có xu hướng tăng lên.
Tuy nhiên có một số chỉ tiêu vẫn chưa cao, vì vậy công ty cần cố gắng hơn nữa để đạt được kết quả kinh doanh tốt hơn.
2.3.2. Những hạn chế Khóa luận: Thực trạng hoạt động KD của Cty Phương Dung
Bên cạnh những mặt tích cực, công ty vẫn còn một số hạn chế cần phải được quan tâm như năng suất lao động, chi phí, vốn lưu động, vốn chủ sở hữu… Cụ thể, năng suất lao động của công ty có xu hướng giảm vào năm 2018, doanh nghiệp cần phải sử dụng hiệu quả nguồn lao động, công nghệ…
Trong giai đoạn từ năm 2016 đến năm 2018, tổng chi phí của doanh ng iêp cao và có xu hướng tăng lên qua các năm. Đặc biệt là giá vốn hàng bán (giá ập àng hóa, chi phí vận chuyển hàng về kho, thuế,…), nó chiếm hơn 90% tổng chi phí và liên tục tăng qua các năm.
Cũng trong giai đoạn 2016 -2018, số vòng quay vốn lưu động có xu hướng giảm, chứng tỏ vốn lưu động luân chuyển ngày càng chậm. Bên ạnh đó, mức đảm nhiệm vốn lưu động lại có xu hướng tăng và mức doanh lợi vốn lưu động lại thấp, chứng tỏ hoạt động luân chuyển vốn của công ty không hiệu quả, hiệu quả sử dụng vốn lưu động của công ty chưa cao.
Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu thấp và có xu hướng giảm vào năm 2018, chứng tỏ việc sử dụng vốn chủ sở hữu vào hoạt động kinh doanh không đạt được hiệu quả cao. Tỷ số về khả năng th nh toán hiện thời của công ty không cao và có giảm vào năm 2018, chứng tỏ doanh nghiệp gặp khó khăn khi đến hạn thanh toán các khoản nợ.
Hệ số tự tài trợ của công ty khá thấp, có giảm nhẹ vào năm 2018, trong khi hệ số nợ khá cao và có xu hướng tăng vào năm 2018. Qua đó, chứng tỏ rằng khả năng tự chủ về tài chính hay mức độ tự tài trợ của công ty còn thấp, công ty còn phụ thuộc vào nguồn vốn đi vay. Ngoài ra, các chỉ số vòng quay hàng tồn kho có xu hướng giảm và số vòng quay hàng tồn kho có xu hướng tăng trong năm 2018. Khóa luận: Thực trạng hoạt động KD của Cty Phương Dung
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY
===>>> Khóa luận: Giải pháp phát triển KD của Cty Phương Dung

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Khóa luận: Khái quát chung về Công ty TNHH Phương Dung