Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Hoạt động tín dụng hộ sản xuất tại Agribank hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Khóa luận: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng hộ sản xuất tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam chi nhánh huyện Vân Đồn – Quảng Ninh dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Phát triển kinh tế là mục tiêu cho tất cả các quốc gia trên thế giới trong đó có Việt Nam. Với chủ trương đổi mới chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang cơ chế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước, nền kinh tế của Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu to lớn. Tuy nhiên, để hoàn thành công cuộc “Công nghiệp hoá – Hiện đại hoá” mà Đảng và Nhà nước đã đề ra chúng ta còn nhiều thách thức trong đó có việc đáp ứng nhu cầu về vốn cho đầu tư và phát triển. Kênh dẫn vốn chính cho nền kinh tế trong nước là hệ thống Ngân hàng. Do đó, muốn thu hút được nhiều vốn trước hết phải làm tốt công tác tín dụng. Khóa luận: Hoạt động tín dụng hộ sản xuất tại Agribank
Trong nền kinh tế nước ta hiện nay, kinh tế hộ sản xuất chiếm vị trí vô cùng quan trọng, để mở rộng quy mô và đổi mới trang thiết bị cũng như tham gia vào các quan hệ kinh tế khác thì hộ sản xuất đều cần vốn và tín dụng Ngân hàng chính là nguồn cung cấp vốn đáp ứng nhu cầu đó.
Là một Ngân hàng thương mại quốc doanh, Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam đã góp phần quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế nói chung và phát triển nông nghiệp nông thôn ở nước ta nói riêng, mở ra quan hệ tín dụng trực tiếp với hộ sản xuất, đáp ứng kịp thời nhu cầu vay vốn của các hộ sản xuất để không ngừng phát triển kinh tế, nâng cao đời sống nhân dân, có được kết quả đó phải kể đến sự đóng góp của Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Vân Đồn, một trong những chi nhánh trực thuộc Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Quảng Ninh.
Xuất phát từ những luận cứ và thực tế khảo sát tín dụng nói chung và tín dụng đối với hộ sản xuất tại Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Vân Đồn em mạnh dạn chọn đề tài: ” Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng hộ sản xuất tại Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam Chi nhánh huyện Vân Đồn tỉnh Quảng Ninh” làm đề tài khoá luận tốt nghiệp.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Dịch Vụ Viết Thuê Khóa Luận Tốt Nghiệp Tài Chính – Ngân Hàng
2. Mục tiêu nghiên cứu Khóa luận: Hoạt động tín dụng hộ sản xuất tại Agribank
Mục tiêu chung
Đánh giá thực trạng công tác tín dụng hộ sản xuất của ngân hàng, từ đó đưa ra những giải pháp và một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả tín dụng hộ sản xuất tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Chi nhánh Huyện Vân Đồn – Tỉnh Quảng Ninh.
Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về tín dụng và hiệu quả tín dụng Hộ sản xuất.
- Đánh giá thực trạng tín dụng hộ sản xuất tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Chi nhánh huyện Vân Đồn – tỉnh Quảng Ninh trong những năm gần đây.
- Đưa ra một số giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng hộ sản xuất tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Chi nhánh huyện Vân Đồn – tỉnh Quảng Ninh.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là: Tín dụng hộ sản xuất tại Ngân hàng No&PTNT chi nhánh huyện Vân Đồn – tỉnh Quảng Ninh.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi thời gian: Số liệu thu thập từ năm 2021 đến năm 2023.
- Phạm vi không gian: Đề tài được nghiên cứu tại Ngân hàng No&PTNT chi nhánh huyện Vân Đồn – tỉnh Quảng Ninh.
- Phạm vi nội dung: Công tác tín dụng hộ sản xuất của Ngân hàng No&PTNT
4. Kết cấu của khóa luận tốt nghiệp
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và phần phụ lục, khóa luận được chia thành 3 chương:
Chương 1: Những lý luận cơ bản về NHTM, hiệu quả hoạt động tín dụng đối với hộ sản xuất tại NHTM.
Chương 2: Thực trạng tín dụng và hiệu quả tín dụng hộ sản xuất tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn chi nhánh huyện Vân Đồn.
Chương 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng đối với hộ sản xuất tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn huyện Vân Đồn – Quảng Ninh.
CHƯƠNG 1: NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ NHTM, HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI HỘ SẢN XUẤT TẠI NHTM
1.1. Tổng quan nghiệp vụ tín dụng của NHTM. Khóa luận: Hoạt động tín dụng hộ sản xuất tại Agribank
1.1.1 Khái niệm tín dụng của NHTM
Tín dụng là phương thức tài trợ có tính truyền thống của Ngân hàng. Hình thức biểu hiện cụ thể là: Ngân hàng chuyển tiền trực tiếp cho khách hàng sử dụng theo yêu cầu hoặc mục đích tiêu dùng của khách hàng khi khách hàng đáp ứng được các yêu cầu của Ngân hàng đặt ra, sau một thời gian sử sụng phải hoàn trả cho Ngân hàng cả gốc và lãi.
1.1.2. Đặc điểm
Ngân hàng đáp ứng cho tất cả các khách hàng sử dụng vốn nhưng khách hàng phải đáp ứng được các điều kiện của Ngân hàng đặt ra. Quy mô của các hợp đồng tín dụng từ nhỏ đến lớn, với nhu cầu vay nhỏ đến các dự án lớn mức rủi ro cao hay thấp, mức thu hồi vốn như thế nào, tài sản thế chấp và uy tín của khách hàng ra sao sẽ ảnh hưởng đến mức lãi suất ngân hàng qui định cụ thể. Ngoài ra với thời gian sử dụng vốn khác nhau thì lãi suất cũng sẽ khác nhau.
1.1.3. Sự ra đời của tín dụng ngân hàng:
Tín dụng là một phạm trù kinh tế gắn liền với nền kinh tế hàng hoá, sự ra đời và vận động của tín dụng được bắt nguồn từ đặc điểm của sự chu chuyển vốn tiền tệ và sự cần thiết sinh lợi của vốn tạm thời nhàn rỗi cũng như nhu cầu về vốn nhưng chưa tích luỹ được, trong cùng một thời điểm đã hình thành một quan hệ cung cầu về tiền tệ giữa một bên là người thiếu vốn (đi vay) và một bên là người thừa vốn (cho vay).
Tín dụng có nghĩa là sự vay mượn, sự chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị từ người sở hữu sang người sử dụng và sau một thời gian nhất định được quay trở lại với người sở hữu với một lượng giá trị lớn hơn giá trị ban đầu (số giá trị dôi ra đó chính là lãi trong cho vay) với những điều kiện mà hai bên đã thoả thuận với nhau.
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế xã hội, hoạt động tín dụng không ngừng phát triển và hoàn thiện trở thành hình thức tín dụng ngân hàng. Trong nền kinh tế thị trường, Ngân hàng là trung gian tín dụng giữa tiết kiệm và đầu tư, giữa người đi vay và người cho vay. Vì vậy, tín dụng ngân hàng là quan hệ tín dụng bằng tiền giữa một bên là ngân hàng – tổ chức kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ với một bên vừa là người đi vay, vừa là người cho vay.
Sự ra đời của tín dụng Ngân hàng có tác động quyết định đến sự phát triển của quá trình tái sản xuất xã hội, thúc đẩy lực lượng sản xuất góp phần quan trọng trọng việc phục hồi và phát triển kinh tế của các nước trên thế giới.
1.1.4. Vai trò của tín dụng ngân hàng đối với nền kinh tế. Khóa luận: Hoạt động tín dụng hộ sản xuất tại Agribank
Sản xuất phát triển mạnh sẽ thúc đẩy nền kinh tế hàng hoá phát triển ở mỗi quốc gia trên thế giới. Song để cho quá trình sản xuất được mở rộng và ngày càng hoàn thiện phải nói đến vai trò to lớn của tín dụng Ngân hàng.
1.1.4.1.Tín dụng Ngân hàng đáp ứng nhu cầu về vốn cho nền kinh tế là người trung gian điều hoà quan hệ cung cầu về vốn trong nền kinh tế, hoạt động tín dụng đã thông dòng cho vốn chảy từ nơi thừa vốn đến nơi thiếu vốn.
Ngân hàng ra đời gắn liền với sự vận động trong quá trình sản xuất và lưu thông hàng hoá. Nền sản xuất hàng hoá phát triển nhanh chóng đã thúc đẩy hàng hoá – tiền tệ ngày càng sâu sắc, phức tạp và bao trùm lên mọi sinh hoạt kinh tế xã hội. Mặt khác, chính sản xuất và lưu thông hàng hoá ra đời và được mở rộng sẽ kéo theo sự vận động vốn và là nền tảng tạo nên những tổ chức kinh doanh tiền tệ đầu tiên mang những đặc trưng của một ngân hàng.
Vì vậy, chúng ta thấy rằng còn tồn tại quan hệ hàng hoá tiền tệ thì hoạt động tín dụng không thể mất đi mà trái lại ngày càng phát triển một cách mạnh mẽ. Bởi trong nền kinh tế, tại một thời điểm tất yếu sẽ phát sinh hai loại nhu cầu là người thừa vốn cho vay để hưởng lãi và người thiếu vốn đi vay để tiến hành sản xuất kinh doanh. Hai loại nhu cầu này ngược nhau nhưng cũng chung một đối tượng đó là tiền, chung nhau về tính tạm thời và cả hai bên đều thoả mãn nhu cầu và đều có lợi. Ngân hàng ra đời với vai trò là nơi hiểu biết rõ nhất về tình hình cân đối giữa cung và cầu vốn trên thị trường như thế nào.Và với hoạt động tín dụng, ngân hàng đã giải quyết được hiện tượng thừa vốn, thiếu vốn này bằng cách huy động mọi nguồn tiền nhàn rỗi để phân phối lại vốn trên nguyên tắc có hoàn trả phục vụ kịp thời cho nhu cầu sản xuất, kinh doanh…
1.1.4.2.Tín dụng ngân hàng tạo ra nguồn vốn hỗ trợ cho quá trình sản xuất được thực hiện bình thường liên tục và phát triển nhằm góp phần đẩy nhanh quá trình tái ẩn xuất mở rộng, đầu tư phát triển kinh tế, mở rộng phạm vi quy mô sản xuất
Hoạt động tín dụng ngân hàng ra đời đã biến các phương tiện tiền tệ tạm thời nhàn rỗi trong xã hội thành những phương tiện hoạt động kinh doanh có hiệu quả, động viên nhanh chóng nguồn vật tư, lao động và các nguồn lực sẵn có khác đưa vào sản xuất, phục vụ và thúc đẩy sản xuất lưu thông hàng hoá đẩy nhanh quá trình tái sản xuất mở rộng. Mặt khác việc cung ứng vốn một cách kịp thời của tín dụng ngân hàng để đáp ứng được nhu cầu về vốn lưu động, vốn cố định của các doanh nghiệp, tạo điều kiện cho quá trình sản xuất được liên tục tránh tình trạng ứ tắc, đồng thời tạo điều kiện cho các doanh nghiệp có vốn để ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật nhằm thúc đẩy nhanh quá trình sản xuất và tái sản xuất mở rộng từ đó thúc đẩy nền kinh tế phát triển nhanh chóng.
1.1.4.3.Tín dụng ngân hàng thúc đẩy việc sử dụng vốn có hiệu quả và củng cố chế độ hoạch toán kinh tế. Khóa luận: Hoạt động tín dụng hộ sản xuất tại Agribank
Đặc trưng cơ bản của tín dụng là cho vay có hoàn trả và có lợi, tức là Ngân hàng huy động vốn của doanh nghiệp khi họ có vốn nhàn rỗi và cho vay khi họ cần vốn để bổ xung cho sản xuất kinh doanh. Khi sử dụng vốn vay của ngân hàng, doanh nghiệp phải tôn trọng mọi điều kiện ghi trong hợp đồng tín dụng, trả nợ vay đúng hạn cả gốc và lãi. Do đó thúc đẩy các doanh nghiệp phải tìm mọi biện pháp tăng hiệu quả sử dụng vốn, giảm chi phí, tăng vòng quay vốn… để tạo điều kiện nâng cao doanh lợi cho doanh nghiệp. Muốn vậy các doanh nghiệp phải tự vươn lên thông qua các hoạt động của mình, một trong những hoạt động khá quan trọng là hạch toán kinh tế.
Quá trình hạch toán kinh tế là quá trình quản lý đồng vốn sao cho có hiệu quả. Để quản lý đồng vốn có hiệu quả thì hạch toán tinh tế phải giám sát chặt chẽ quá trình sử dụng vốn để nó được sử dụng đúng mục đích, tạo ra doanh lợi cho doanh nghiệp. Điều này đã thúc đẩy các doanh nghiệp ngày càng hoàn thiện hơn quá trình hạch toán của đơn vị mình.
1.1.4.4. Tín dụng Ngân hàng tạo điều kiện mở rộng và phát triển quan hệ kinh tế đối ngoại.
Ngày nay sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia luôn luôn gắn quan hệ kinh tế với thị trường thế giới, nền kinh tế “đóng” tự cung tự cấp trước đây nay đã nhường chỗ cho nền kinh tế “mở” phát triển, mở rộng quan hệ kinh tế với các nước trên thế giới.
Một quốc gia được gọi là phát triển thì trước hết phải có một nền kinh tế chính trị ổn định, có vị thế trên thị trường quốc tế, có một lượng vốn lớn trong đó vốn dự trữ ngoại tệ là rất quan trọng. Tín dụng ngân hàng trở thành một trong những phương tiện nối liền kinh tế các nước với nhau bằng các hoạt động tín dụng quốc tế như các hình thức tín dụng giữa các chính phủ, giữa các tổ chức cá nhân với chính phủ, giữa các cá nhân với cá nhân…Sự phát triển ngày càng tăng trong hoạt động ngoại thương và số thành viên tham dự hoạt động ngày càng lớn làm cho nhu cầu về hoạt động tài chính càng trở nên cần thiết.
Vì vậy việc tạo điều kiện thuận lợi về tài chính là một công cụ cạnh tranh có hiệu quả bên cạnh các yếu tố cạnh tranh khác như giá cả, chất lượng sản phẩm, dịch vụ, thương mại… đã vượt ra khỏi phạm vi của một nước ra phạm vi của thế giới có tác dụng thúc đẩy nền sản xuất mang tính quốc tế hoá, hình thành thị trường khu vực và thị trường thế giới, tạo ra bước phát triển mới trong quan hệ hợp tác và cạnh tranh giữa các nước với nhau. Như vậy các hình thực thanh toán cũng sẽ đa dạng hơn như thanh toán qua mạng SWIFT, thanh toán LC… mỗi hình thực thanh toán đòi hỏi hình thức tín dụng phù hợp và đảm bảo cho nó an toàn và hiệu quả.
Chất lượng của hoạt động tín dụng ngoại thương là cơ sở để tạo lòng tin cho bạn hàng trong thương mại, tạo điều kiện cho quá trình lưu thông hàng hoá, thắng trong cạnh tranh về thanh toán sẽ dẫn tới thắng lợi của mọi cạnh tranh khác trọng hoạt động ngoại thương.
1.1.5. Phân loại tín dụng của NHTM. Khóa luận: Hoạt động tín dụng hộ sản xuất tại Agribank
Phân loại tín dụng là việc sắp xếp các khoản tín dụng theo từng nhóm dựa trên một số tiêu thức nhất định. Việc phân loại tín dụng có cơ sở khoa học là tiền đề để thiết lập các quy trình tín dụng thích hợp và nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro tín dụng. Phân loại tín dụng dựa vào các căn cứ sau đây:
1.1.5.1. Theo thời hạn tín dụng
Tín dụng ngắn hạn: Loại tín dụng này có thời hạn tín dụng không quá 12 tháng và được sử dụng để bù đắp sự thiếu hụt vốn lưu động của các doanh nghiệp và các nhu cầu chi tiêu ngắn hạn của cá nhân.
Tín dụng trung hạn: Là các khoản vay có thời hạn từ một năm đến năm năm. Tín dụng trung hạn chủ yếu được sử dụng để đầu tư mua sắm tài sản cố định, cải tiến hoặc đổi mới thiết bị, công nghệ, mở rộng sản xuất kinh doanh, xây dựng các dự án mới có quy mô nhỏ và thời gian thu hồi vốn nhanh. Bên cạnh đầu tư cho tài sản cố định, tín dụng trung hạn còn là nguồn hình thức vốn lưu động thường xuyên của các doanh nghiệp, đặc biệt là những doanh nghiệp mới thành lập.
Tín dụng dài hạn: là loại tín dụng có thời hạn trên năm năm. Đây là loại hình được cung cấp để đáp ứng các nhu cầu dài hạn như xây dựng nhà ở, các thiết bị, phương tiện vận tải có quy mô lớn, xây dựng các xí nghiệp mới.
1.1.5.2. Theo mục đích vay Khóa luận: Hoạt động tín dụng hộ sản xuất tại Agribank
Tín dụng kinh doanh: là loại tín dụng cấp cho các nhà doanh nghiệp, các chủ thể kinh doanh để tiến hành sản xuất và lưu động hàng hóa.
Tín dụng tiêu dùng: là loại tín dụng để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của các cá nhân như mua sắm nhà cửa, xe cộ…
1.1.5.3. Căn cứ vào phương pháp hoàn trả
Tín dụng có thời hạn: Là loại tín dụng có thoả thuận thời hạn trả nợ cụ thể theo hợp đồng.
Tín dụng không có thời hạn cụ thể: Đối với loại tín dụng này thì NH có thể yêu cầu hoặc người đi vay có thể tự nguyện trả nợ bất cứ lúc nào, nhưng phải báo trước một thời gian hợp lý, thời gian này có thể thoả thuận trong hợp đồng.
1.1.5.4. Căn cứ vào mức độ đảm bảo tiền vay trong quan hệ tín dụng đối với khách hàng
Tín dụng không có bảo đảm: là loại tín dụng không có tài sản cầm cố, thế chấp hoặc bảo lãnh của người thứ ba, mà việc tín dụng chỉ dựa vào uy tín của bản thân khách hàng đó. Đối với những khách hàng tốt, trung thực trong kinh doanh, có khả năng tài chính mạnh, quản trị hiệu quả thì ngân hàng có thể cấp tín dụng dựa vào uy tín của bản thân kỹ thuật mà không cần một nguồn thu nợ bổ sung thứ hai.
Tín dụng có bảo đảm: là loại tín dụng dựa trên cơ sở các bảo đảm như thế chấp hoặc cầm cố, hoặc phải có sự bảo lãnh của người thứ ba. Sự bảo đảm này là căn cứ pháp lý để ngân hàng có thêm một nguồn thứ hai, bổ sung cho nguồn thu nợ thứ nhất thiếu chắc chắn.
1.1.5.5. Theo đối tượng tham gia quy trình tín dụng
Tín dụng trực tiếp: Ngân hàng cấp vốn trực tiếp cho người có nhu cầu, đồng thời người đi vay trực tiếp hoàn trả nợ vay cho ngân hàng.
Tín dụng gián tiếp: là hình thức tín dụng thông qua các tổ chức trung gian. Ngân hàng tín dụng qua các tổ, đội, hội, nhóm như nhóm sản xuất, Hội nông dân, Hội cựu chiến binh, Hội phụ nữ… Các tổ chức này thường liên kết các thành viên theo một mục đích riêng, song chủ yếu đều hỗ trợ lẫn nhau, bảo vệ quyền lợi cho mỗi thành viên. Ngoài ra NH cũng có thể tín dụng thông qua người bán lẻ các sản phẩm đầu vào của quá trình sản xuất. Việc tín dụng theo cách này sẽ hạn chế người vay sử dụng tiền sai mục đích.
1.1.5.6. Theo phương thức tín dụng Khóa luận: Hoạt động tín dụng hộ sản xuất tại Agribank
Tín dụng từng lần: Tín dụng từng lần là hình thức tín dụng tương đối phổ biến của ngân hàng đối với các khách hàng không có nhu cầu vay thường xuyên, không có điều kiện để được cấp hạn mức thấu chi. Một số khách hàng sử dụng vốn chủ sở hữu và tín dụng thương mại là chủ yếu, chỉ khi có nhu cầu thời vụ, hay mở rộng sản xuất đặc biệt mới vay ngân hàng, tức là vốn từ ngân hàng chỉ tham gia vào một số giai đoạn nhất định của chu kỳ sản xuất kinh doanh.
Tín dụng theo hạn mức: Đây là nghiệp vụ tín dụng theo đó ngân hàng thỏa thuận cấp cho khách hàng hạn mức tín dụng. Hạn mức tín dụng có thể tính cho cả kỳ hoặc cuối kỳ. Đó là số dư tối đa tại thời điểm tính.
Hạn mức tín dụng được cấp trên cơ sở kế hoạch sản xuất kinh doanh, nhu cầu vốn và nhu cầu vay vốn của khách hàng. Trong kỳ khách hàng có thể vay trả nhiều lần, song dư nợ không được vượt quá hạn mức tín dụng. Một số trường hợp ngân hàng quy định hạn mức cuối kỳ. Dư nợ trong kỳ có thể lớn hơn hạn mức. Tuy nhiên đến cuối kỳ, khách hàng phải trả nợ để giảm dư nợ sao cho dư nợ cuối kỳ không được vượt quá hạn mức.
Tín dụng thấu chi: là nghiệp vụ tín dụng qua đó ngân hàng cho phép người vay được chi trội trên số dư tiền gửi thanh toán của mình đến một giới hạn nhất định và trong khoảng thời gian xác định. Giới hạn này được gọi là hạn mức thấu chi.
1.1.5.7. Căn cứ vào đối tượng tín dụng
Tín dụng vốn lưu động: Là loại tín dụng được sử dụng để hình thành vốn lưu động của doanh nghiệp hay tín dụng để bù đắp mức vốn lưu động thiếu hụt tạm thời. Loại này thường được thể hiện dưới các hình thức như: tín dụng để dự trữ hàng hoá, tín dụng để trang trải trong sản xuất và tín dụng để thanh toán các khoản nợ dưới hình thức chiết khấu chứng từ có giá.
Tín dụng vốn cố định: Là loại hình tín dụng được sử dụng để hình thành vốn cố định của doanh nghiệp. Loại tín dụng này dùng để đầu tư mua sắm tài sản cố định, cải tiến và đổi mới kỹ thuật, mở rộng sản xuất, xây dựng các xí nghiệp và các công trình mới…
1.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động tín dụng của Ngân hàng. Khóa luận: Hoạt động tín dụng hộ sản xuất tại Agribank
1.2.1. Các nhân tố khách quan:
Nhân tố kinh tế:
Về phương diện tổng thể nền kinh tế ổn định sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động tín dụản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp tiến hành bình thường không bị ảnh hưởng bởi các yếu tố lạm phát, khủng hoảng làm cho khả năng tín dụng và khả năng trả nợ vay không biến động lớn. Trong trường hợp này chất lượng tín dụng phụ thuộc chủ yếu vào khả năng quản lý chất lượng tín dụng bản thân của các Ngân hàng thương mại.
Hoạt động tín dụng là hoạt động “Đi vay để tín dụng” do đó chất lượng tín dụng còn phụ thuộc vào công tác huy động và tín dụng vốn hay nói cách khác là phụ thuộc vào chất lượng khách hàng, mỗi biểu hiện tốt hay xấu trong hoạt động của khách hàng sẽ ảnh hưởng tương ứng với hoạt động tín dụng. Với khách hàng sản xuất kinh doanh có lãi suất có khả năng chiếm lĩnh thị trường và có quan hệ tín dụng tốt thì cầu nối giữa vay và tín dụng sẽ thống nhất, tạo điều kiện tăng vòng quay tín dụng, mở rộng quy mô vốn đầu tư, với cơ chế chính sách tín dụng phù hợp với Ngân hàng thương mại sẽ tìm kiếm được nhiều khách hàng tốt để vay vốn và tín dụng, tạo sự tương thích, hợp giữa nguồn vốn huy động và đáp ứng nhu cầu vay vốn của khách hàng.
Chu kỳ phát triển của nền kinh tế có tác động không nhỏ đến hoạt động tín dụng. Nền kinh tế trong thời kỳ đình trệ sản xuất thu hẹp thì hoạt động tín dụng gặp nhiều khó khăn. Ngược lại thời kỳ hưng thịnh nhu cầu vốn tín dụng tăng, rủi ro tín dụng sẽ ít đi.
Lãi suất ngân hàng phù hợp với lợi nhuận của doanh nghiệp sản xuất kinh doanh hàng hoá dịch vụ. Khóa luận: Hoạt động tín dụng hộ sản xuất tại Agribank
Trong nền kinh tế cũng ảnh hưởng tới chất lượng tín dụng. Lợi tức chỉ là một phần của lợi nhuận,vì vậy lãi suất ngân hàng phù hợp trợ giúp doanh nghiệp thúc đẩy sản xuất kinh doanh, trả nợ ngân hàng đúng hạn. Hoạt động tín dụng này không còn là đòn bẩy để thúc đẩy sản xuất phát triển và theo đó chất lượng tín dụng cũng bị ảnh hưởng.
Nhân tố xã hội:
- Nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng tín dụng là các nhân tố trực tiếp tham gia quan hệ tín dụng đó là người gửi tiền Ngân hàng và người vay tiền.
- Tín dụng có nghĩa là sự vay mượn dựa trên cơ sở tín nhiệm, uy tín. Điều đó có nghĩa quan hệ tín dụng là sự kết hợp giữa 3 yếu tố: Nhu cầu khách hàng, khả năng của ngân hàng và sự tín nhiệm.
- Ngân hàng có tín nhiệm càng cao thì thu hút được khách hàng càng lớn.
- Khách hàng có tín nhiệm đối với Ngân hàng được vay vốn dễ dàng và có thể được vay với lãi suất thấp hơn so với đối tượng khác. Tín nhiệm là tiền đề, là điều kiện để không ngừng cải tiến chất lượng tín dụng.
- Ngoài các yếu tố trên cũng còn những yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng như: Đạo đức xă hộộ dân trí có liên quan đến rủi ro trong hoạt động tín dụng. Bên cạnh đó có sự biến động của tình hình kinh tế, tình hình xã hội ở nước ngoài cũng ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng.
- Ngoài ra chất lượng tín dụng còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố môi trường như: Thời tiết, bệnh dịch, lũ lụt… và các biện pháp tích cực trong bảo vệ và cải thiện môi trường sinh thái.
Nhân tố pháp luật:
- Nhân tố pháp luật bao gồm tính đồng bộ của hệ thống pháp luật, tính đầy đủ thống nhất của các văn bản dưới luật. Đồng thời gắn liền với quá trình chấp hành luật và trình độ dân trí.
- Pháp luật là bộ phận không thể thiếu được của nền kinh tế thị trường, pháp luật có nhiệm vụ tạo lập môi trường pháp luật cho mọi hoạt động sản xuất kinh doanh tiến hành thuận tiện và đạt hiệu quả cao, là cơ sở pháp lý để giải quyết các vấn đề khiếu nại có tranh chấp xảy ra. Vì vậy nhân tố pháp luật có vị trí hết sức quan trọng đối với hoạt động ngân hàng nói chung và chất lượng tín dụng nói riêng.
1.2.2. Các nhân tố chủ quan:
Các nhân tố chủ quan thường liên quan tới sự phấn đấu của bản thân Ngân hàng trên tất cả các mặt có liên quan tới hoạt động tín dụng và ảnh hưởng trực tiếp tới tất cả các khía cạnh khác nhau của chất lượng tín dụng. Vì vậy các nhân tố chủ quan ảnh hưởng trực tiếp tới chất lượng tín dụng. Ta có thể nghiên cứu sự ảnh hưởng của nó thông qua các nhân tố sau: Khóa luận: Hoạt động tín dụng hộ sản xuất tại Agribank
Nhân tố chính sách tín dụng:
- Chính sách tín dụng là kim chỉ lan đảm bảo cho hoạt động tín dụng đi đúng hướng, nó có ý nghĩa quyết định đến sự thành công hay thất bại của một Ngân hàng thương mại. Một chính sách tín dụng đúng đắn sẽ thu hút được nhiều khách hàng, đảm bảo khả năng sinh lời từ hoạt động tín dụng trên cơ sở phân tán rủi ro, tuân thủ pháp luật, đường lối chính sách của Nhà nước và đảm bảo công bằng xă hội.
- Điều đó cũng có ý nghĩa là chất lượng tín dụng phụ thuộc vào việc xây dựng chính sách tín dụng của Ngân hàng thương mại có đúng đắn hay không, bất cứ Ngân hàng thương mại nào muốn có chất lượng tín dụng đều phải có chính sách tín dụng rõ ràng, thích hợp của ngân hàng mình.
Công tác tổ chức của ngân hàng:
Công tác tổ chức của ngân hàng phải thật khoa học, đảm bảo sự phối hợp chặt chẽ, nhịp nhàng giữa các phòng ban trong từng ngân hàng, trong toàn bộ hệ thống Ngân hàng cũng như giữa Ngân hàng với các cơ quan khác như tài chính, pháp luật… sẽ tạo điều kiện đáp ứng kịp thời yêu cầu của khách hàng, giúp ngân hàng theo dõi, quản luật sát sao các khoản tín dụng, các khoản huy động vốn. Đây là cơ sở để tiến hành các nghiệp vụ tín dụng lành mạnh và quản lý có hiệu quả các khoản vốn tín dụng.
Chất lượng nhân sự:
Con người là yếu tố quyết định đến sự thành bại trong quản lý vốn tín dụng như trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng. Xã hội ngày càng phát triển đòi hỏi chất lượng nhân sự ngày càng cao để có thể đáp ứng kịp thời, có hiệu quả với tình huống khác nhau của hoạt động tín dụng. Việc tuyển dụng nhân sự có đạo đức nghề nghiệp tốt và giỏi chuyên môn (có năng lực phân tích và sử lý đơn xin vay, đánh giá tài sản thế chấp, giám sát số tiền tín dụng ngay từ khi cấp tiền vay cho tới khi thu hồi được nợ, hoặc sử lý xong món nợ theo chính sách vay của ngân hàng…) Sẽ giúp cho ngân hàng có thể ngăn ngừa được những sai phạm có thể xảy ra khi thực hiện chu kỳ khép kín của một khoản tín dụng.
1.3. Hiệu quả tín dụng đối với hộ sản xuất. Khóa luận: Hoạt động tín dụng hộ sản xuất tại Agribank
1.3.1 Tổng quan hộ sản xuất.
1.3.1.1 Khái niệm hộ sản xuất.
Nói đến sự tồn tại của hộ sản xuất trong nền kinh tế, trước hết chúng ta cần thấy rằng hộ sản xuất không chỉ có ở nước ta mà còn có ở tất cả các nước có nền sản xuất nông nghiệp trên thế giới. Hộ sản xuất đã tồn tại qua nhiều phương thức và vẫn đang tiếp tục phát triển. Chúng ta có thể xem xét một số quan niệm khác nhau về hộ sản xuất.
Trong một số từ điển chuyên ngành kinh tế cũng như từ điển ngôn ngữ “hộ” là tất cả những người cùng sống trong một mái nhà. Nhóm người đó bao gồm những người cùng chung huyết tộc và những người làm công.
Liên hợp quốc cho rằng : “Hộ là những người cùng sống chung dưới một mái nhà, cùng ăn chung và có chung một ngân quỹ”.
Trên góc độ ngân hàng, “Hộ sản xuất” là một thuật ngữ được dùng trong hoạt động cung ứng vốn tín dụng cho hộ gia đình để làm kinh tế chung của cả hộ. Một số thuật ngữ khác được dùng để thay thế thuật ngữ “Hộ sản xuất” là “Hộ”, “Hộ gia đình”. Ngày nay hộ sản xuất đang trở thành một nhân tố quan trọng trong sự nghiệp “Công nghiệp hoá – Hiện đại hoá” đất nước và là sự tồn tại tất yếu trong quá trình xây dựng một nền kinh tế đa thành phần theo định hướng Xã hội Chủ nghĩa. Để phù hợp với xu thế phát triển chung, phù hợp với chủ trương của Đảng và nhà nước, NHNo&PTNT Việt Nam ban hành phụ lục số 01 kèm theo Quyết định số: 499A ngày 02 tháng 9 năm 1993, theo đó thì khái =niệm Hộ sản xuất được hiểu như sau: “Hộ sản xuất là đơn vị kinh tế tự chủ, trực tiếp hoạt động sản xuất kinh doanh, là chủ thể trong mọi quan hệ sản xuất kinh doanh và tự chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động sản xuất của mình”. Thành phần chủ yếu của hộ sản xuất bao gồm: Hộ nông dân, hộ tư nhân, cá thể, hộ gia đình xã viên, hộ nông, lâm trường viên.
1.3.1.2. Vai trò của hộ sản xuất trong nền kinh tế thị trường.
- Hộ sản xuất là cầu nối trung gian để chuyển nền kinh tế tự nhiên sang nền kinh tế hàng hóa.
- Hộ sản xuất góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng lao động.
- Hộ sản xuất có khả năng thích ứng với cơ chế thị trường thúc đẩy sản xuất hàng hóa.
1.3.2 Hiệu quả tín dụng đối với hộ sản xuất. Khóa luận: Hoạt động tín dụng hộ sản xuất tại Agribank
1.3.2.1. Sự cần thiết của tín dụng đối với hộ sản xuất.
Trong nền kinh tế hàng hoá các doanh nghiệp khổng thể tiến hành sản xuất kinh doanh nếu không có vốn. Đặc biệt là trong điều kiện nước ta hiện nay, thiếu vốn là hiện tượng thường xuyên xảy ra đối với các đơn vị kinh tế, không chỉ riêng đối với hộ sản xuất. Vì vậy vốn tín dụng ngân hàng đóng vai trò hết sức quan trọng, nó trở thành “bà đỡ” trong quá trình phát triển của nền kinh tế hàng hoá.
Nhờ có vốn tín dụng, các đơn vị kinh tế không những đảm bảo quá trình sản xuất kinh doanh bình thường mà còn mở rộng sản xuất, cải tiến kỹ thuật, áp dụng kỹ thuật mới đảm bảo thắng lợi trong cạnh tranh. Riêng đối với hộ sản xuất, tín dụng ngân hàng có vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế hộ sản xuất.
Tín dụng ngân hàng đáp ứng nhu cầu vốn cho hộ sản xuất để duy trì quá trình sản xuất liên tục, góp phần đầu tư phát triển kinh tế.
Sử dụng nguồn lực một cách có hiệu quả có ý nghĩa quan trọng đối với sự tăng trưởng kinh tế. Nếu như vốn tham gia vào quá trình đầu tư không đem lại hiệu quả sẽ không có sự tăng trưởng thậm chí còn gây sức ép tới lạm phát, tạo ra kết cục trái ngược. Thực tế cho thấy, quá trình sản xuất luôn trải qua những giai đoạn khác nhau, vì vậy các doanh nghiệp nói chung và hộ sản xuất nói riêng có lúc thừa vốn có lúc thiếu vốn. Việc vay bổ sung vốn lưu động sẽ giúp cho quá trình sản xuất được liên tục. Mặt khác, vốn đầu tư từ bên ngoài vào còn giúp cho các thành phần kinh tế tham gia vào quá trình đổi mới công nghệ nhất là trong thời kỳ công nghiệp hoá – hiện đại hoá đất nước như nước ta hiện nay.
Với đặc trưng sản xuất kinh doanh của hộ sản xuất với sự chuyên môn hoá sản xuất trong xã hội ngày càng cao, đã dẫn đến tình trạng các hộ sản xuất chưa thu hoạch sản xuất, chưa có hàng hoá để bán thì chưa có thu nhập, nhưng trong khi đó họ vẫn cần tiền để trang trải cho các khoản chi phí sản xuất, mua sắm đổi mới trang thiết bị và rất nhiều khoản chi phí khác. Trong những lúc này các hộ sản xuất cần có sự hỗ trợ giúp đỡ của tín dụng ngân hàng để có đủ vốn duy trì sản xuất được liên tục. Nhờ có sự hỗ trợ về vốn, các hộ sản xuất có thể sử dụng hiệu quả các nguồn lực sẵn có khác như lao động, tài nguyên để tạo ra sản phẩm cho xã hội, thúc đẩy việc sắp xếp tổ chức lại sản xuất, hình thành cơ cấu kinh tế hợp lý từ đó nâng cao đời sống vật chất cũng như tình thần cho mọi người. Khóa luận: Hoạt động tín dụng hộ sản xuất tại Agribank
Như vậy có thể khẳng định rằng tín dụng ngân hàng có vai trò rất quan trọng đối với việc đáp ứng nhu cầu vốn cho hộ sản xuất ở nước ta trong giai đoạn hiện nay. Nhu cầu vay vốn để phát triển sản xuất là cần thiết và rất lớn, khu vực nông thôn trở thành một thị trường to lớn của tín dụng ngân hàng. Cũng vì thế mà thị phần của các hộ sản xuất trong dư nợ của ngân hàng nông nghiệp càng tăng.
Tín dụng ngân hàng góp phần thúc đẩy quá trình tập trungvốn và tập trung sản xuất.
Trong cơ chế thị trường, vai trò tập trung vốn, tập trung sản xuất của tín dụng ngân hàng đã được thực hiện ở mức độ cao hơn hẳn với cơ chế bao cấp cũ. Hiệu quả hoạt động kinh doanh là vấn đề sống còn đối với các ngân hàng phải đảm bảo được độ an toàn và có lợi nhuận, tránh rủi ro trong cho vay.
Bằng cách tập trung vốn vào các doanh nghiệp, các hộ sản xuất kinh doanh có hiệu quả, có nghĩa là vốn đã được bổ sung vào đúng chỗ còn thiếu, giúp cho góp cho xã hội nhiều sản phẩm với chất lượng cao thúc đẩy quá trình tăng trưởng kinh tế và đồng thời ngân hàng cũng đảm bảo tránh được rủi ro tín dụng.
Thực hiện tốt chức năng là cầu nối giữa tiết kiệm và đầu tư, ngân hàng phải quan tâm đến nguồn vốn đã huy động được để cho hộ sản xuất vay. Vì vậy ngân hàng sẽ thúc đẩy các hộ sử dụng vốn tín dụng có hiệu quả, tăng nhanh vòng quay vốn, tiết kiệm vốn cho sản xuất và lưu thông. Trên cơ sở đó hộ sản xuất phải tập trung vốn như thế nào để sản xuất, góp phần tích cực vào quá trình vận động liên tục của nguồn vốn.
Tín dụng ngân hàng tạo điều kiện phát huy các ngành nghề truyền thống, ngành nghề mới giải quyết việc làm cho người lao động.
Việt Nam là một nước nông nghiệp, có nhiều làng nghề truyền thống, nhưng chưa được quan tâm đến các ngành nghề truyền thống có khả năng đạt hiệu quả kinh tế đặc biệt trong quá trình thực hiện công nghiệp hoá – hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn. Phát huy được làng nghề truyền thống cũng chính là phát huy được nội lực của kinh tế hộ. Và tín dụng ngân hàng sẽ là công cụ tài trợ cho các ngành nghề mới thu hút được số lao động nhàn rỗi giải quyết việc làm cho người lao động. Từ đó góp phần làm phát triển toàn diện nông, lâm, ngư nghiệp gắn với công nghiệp chế biến nông – lâm – thuỷ sản, công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu, mở rộng thương nghiệp, du lịch, dịch vụ ở các thành thị và nông thôn, đẩy mạnh các hoạt động kinh tế đối ngoại.
Do đó tín dụng ngân hàng là đòn bẩy kinh tế kích thích các ngành nghề này phát triển một cách nhịp nhành và đồng bộ. Như vậy, bằng động tác gián tiếp ngân hàng đã kích thích các hộ sản xuất nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, phải hoạch định kinh doanh để tính toán có hiệu quả, giảm cho phí sản xuất hàng hoá, góp phần vào phát triển kinh tế hộ nói riêng và nền kinh tế cả nước nói chung.
1.3.2.2. Hiệu quả tín dụng ngân hàng đối với hộ sản xuất. Khóa luận: Hoạt động tín dụng hộ sản xuất tại Agribank
Khái niệm hiệu quả tín dụng
Trong nền kinh tế thị trường bất kỳ một loại sản phẩm nào sản xuất ra cũng phải là những sản phẩm mang tính cạnh tranh. Cạnh tranh diễn ra trên cả 3 phương diện: số lượng, chất lượng và giá cả, trong đó chất lượng, hiệu quả đóng vai trò quyết định đến sự thành bại của doanh nghiệp. Điều này có nghĩa là mọi sản phẩm sản xuất ra đều phải có chất lượng, có hiệu quả.
Hoạt động Ngân hàng có tác động rất lớn đến toàn bộ nền kinh tế. Do đó, vấn đề nâng cao chất lượng tín dụng đặc biệt là hiệu quả tín dụng của NH là rất cần thiết, hiệu quả tín dụng được biểu hiện như sau: “ Hiệu quả tín dụng của NH là sự đáp ứng tốt nhất yêu cầu của cả khách hàng và NH trong quan hệ vay mượn, đảm bảo an toàn và hạn chế được những rủi ro về vốn. Đồng thời tăng lợi nhuận cho NH phù hợp với sự phát triển kinh tế xã hội ”.
Như vậy, thông qua cách hiểu trên hiệu quả tín dụng được nhìn nhận từ 3 góc độ:
Đối với khách hàng: Vốn vay đưa ra phải phù hợp với yêu cầu của khách hàng về lãi suất (giá cả sản phẩm), kỳ hạn, phương thức thanh toán, hình thức thanh toán, thủ tục đơn giản thuận tiện tuy nhiên vẫn đảm bảo nguyên tắc tín dụng Ngân hàng.
Đối với Ngân hàng: Ngân hàng đưa ra các hình thức tín dụng phù hợp với phạm vi, mức độ, giới hạn với bản thân Ngân hàng để luôn đảm bảo tính cạnh tranh, an toàn, sinh lời theo nguyên tắc hoàn trả đầy đủ đúng thời hạn và có lợi nhuận.
Đối với nền kinh tế – xã hội: Thông qua hoạt động tín dụng NH phục vụ cho sản xuất và lưu thông hàng hoá góp phần ổn định chính trị, giải quyết việc làm, khai thác được tiềm năng trong nền kinh tế, thúc đẩy quá trình tích tụ và tập trung sản xuất qua đó thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
Như vậy có thể rút ra nhận xét:
Hiệu quả tín dụng là một chỉ tiêu tổng
hợp, nó thể hiện năng lực của một NH trong quá trình cạnh tranh để tồn tại và phát triển trong nền kinh tế thị trường. Hiệu quả tín dụng là kết quả của một qui trình kết hợp giữa những con người, giữa các tổ chức với nhau với mục đích chung. Hiệu quả tín dụng phản ánh cả chỉ tiêu định lượng và định tính, hiểu đúng và phân tích đánh giá đúng hiệu quả tín dụng sẽ giúp NH có biện pháp quản lý thích hợp và hiệu quả hơn.
1.3.2.3. Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả tín dụng đối với hộ sản xuất Khóa luận: Hoạt động tín dụng hộ sản xuất tại Agribank
Hiện nay, tín dụng vẫn chiếm khoảng 60% – 70% trong tổng tài sản có của các Ngân hàng thương mại. Vì thế, sự tốn tại và phát triển của các Ngân hàng phụ thuộc rất nhiều vào tín dụng và chất lượng tín dụng. Việc đánh giá chất lượng tín dụng ở các Ngân hàng hiện nay thông qua các chỉ tiêu cơ bản sau:
Chỉ tiêu định lượng
Doanh số tín dụng hộ sản xuất:
Doanh số tín dụng hộ sản xuất là chỉ tiêu tuyệt đối phản ánh tổng thể số tiền Ngân hàng cho hộ sản xuất vay trong thời kỳ nhất định thường là một năm.
Ngoài ra Ngân hàng còn dùng chỉ tiêu tương đối phản ánh tỷ trọng tín dụng hộ sản xuất trong tổng doanh số tín dụng của Ngân hàng trong một năm.
Doanh số thu nợ hộ sản xuất :
Doanh số thu nợ hộ sản xuất chỉ là chỉ tiêu tuyệt đối phản ánh tổng số tiền Ngân hàng thu hồi được sau khi đã giải ngân cho hộ sản xuất trong một thời kỳ.
Để phản ánh tình hình thu nợ hộ sản xuất, Ngân hàng còn sử dụng chỉ tiêu tương đối phản ánh tỷ trọng thu hồi được trong tổng doanh số tín dụng hộ sản xuất của Ngân hàng trong thời kỳ. Chỉ tiêu này được tính bằng công thức:
Dư nợ quá hạn hộ sản xuất:
Dư nợ quá hạn hộ sản xuất là chỉ tiêu tuyệt đối phản ánh tổng thể số tiền Ngân hàng chưa thu hồi được sau một thời gian nhất định kể từ ngày khoản tín dụng đến hạn thanh toán tại thời điểm đang xem xét.
Bên cạnh chỉ tiêu tuyệt đối, Ngân hàng thường xuyên sử dụng chỉ tiêu tỷ lệ nợ quá hạn hộ sản xuất:
Đây là chỉ tiêu quan trọng nhất để đánh giá hiệu quả tín dụng HSX và chất lượng TD đầu tư tín dụng đối với hộ sản xuất. Dư nợ qúa hạn càng nhỏ, tỷ lệ nợ quá hạn thấp, hiệu quả tín dụng càng cao. Hoạt động Ngân hàng nói chung và hoạt động TDNH nói riêng đều chứa đựng nhiều rủi ro tác động đến lợi nhuận và sự an toàn kinh doanh của Ngân hàng. Do vậy, việc đảm bảo thu hồi đủ vốn tín dụng đúng hạn, thể hiện qua tỷ lệ nợ qúa hạn thấp là vấn đề quan trọng trong quản lý Ngân hàng liên quan đến sự sống còn của Ngân hàng. Khóa luận: Hoạt động tín dụng hộ sản xuất tại Agribank
Để xem xét chi tiết hơn khả năng không thu hồi được nợ người ta sử dụng chỉ tiêu Tỷ lệ nợ khó đòi.
Dư nợ bình quân HSX
Trong đó, dư nợ bình quân HSX = ( Dư nợ đầu năm + Dư nợ cuối năm/2). Đây là một chỉ tiêu quan trọng xem xét hiệu quả tín dụng HSX, phản ánh tần suất sử dụng vốn. Vòng quay càng lớn với số dư nợ luôn tăng, chứng tỏ đồng vốn Ngân hàng bỏ ra đã được sử dụng một cách hiệu quả, tiết kiệm chi phí, tạo ra lợi nhuận lớn cho Ngân hàng.
Tỷ lệ trích lập dự phòng rủi ro tín dụng:
Số tiền trích lập DP RDTD
Dự phòng rủi ro là số tiền được trích lập để dự phòng cho những tổn thất có thể xảy ra do khách hàng của tổ chức tín dụng không thực hiện được nghĩa vụ theo cam kết. Dự phòng rủi ro được tính theo dư nợ gốc và được hạch toán vào chi phí hoạt động của tổ chức tín dụng. Tỷ lệ trích lập dự phòng rủi ro tín dụng càng cao chứng tỏ chất lượng tín dụng của ngân hàng càng thấp, chi phí hoạt động của ngân hàng càng lớn, giảm khả năng sinh lời của ngân hàng.
Trong tổng thu, lãi thu từ hoạt động tín dụng là chủ yếu. Đối với NHNo&PTNT thì hộ sản xuất là khách hàng chính của Ngân hàng, cho nên lợi nhuận Ngân hàng là thước đo hiệu quả sử dụng vốn của Ngân hàng cũng như hiệu quả tín dụng HSX.
Chỉ tiêu định tính
Trong quá trình đánh giá chất lượng tín dụng ngoài những chỉ tiêu định lượng đã nêu trên là những chỉ tiêu có thể lượng hoá được, thì còn có rất nhiều yếu tố mà không thể lượng hoá được, gọi là các chỉ tiêu định tính. Các chỉ tiêu định tính được thể hiện qua quy chế, chế độ tín dụng của Ngân hàng.
Đảm bảo nguyên tắc cho vay:
Mọi tổ chức kinh tế hoạt động đều dựa trên các nguyên tắc nhất định. Do đặc thù của Ngân hàng là một tổ chức kinh tế đặc biệt, hoạt động của nó ảnh hưởng sâu sắc đến tình hình kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước, do vậy có các nguyên tắc khác nhau. Trong đó nguyên tắc cho vay là một nguyên tắc quan trọng đối với mỗi Ngân hàng.
Để đánh giá chất lượng một khoản cho vay, điều đầu tiên phải xem xét là khoản vay đó có đảm bảo nguyên tắc cho vay hay không? Trong “Quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng” Ban hành theo Quyết định số 1627/2001/QĐ – NHNN ngày 31 tháng 12 năm 2001 của Thống đốc Ngân hàng nhà nước. Tại Điều 6. Nguyên tắc cho vay quy định rõ:
“Khách hàng vay vốn của tổ chức tín dụng phải đảm bảo:
- Sử dụng vốn vay đúng mục đích đã thoả thuận trong hợp đồng tín dụng
- Hoàn trả nợ gốc và lãi vốn vay đúng thời hạn đã thoả thuận trong hợp đồng tín dụng.”
Hai nguyên tắc đảm bảo cho vay trên là nguyên tắc tối thiểu mà bất cứ một khoản cho vay nào cũng phải đảm bảo.
Cho vay bảo đảm có điều kiện
Đây là chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng Ngân hàng đó là cho vay có đảm bảo đúng điều kiện hay không? Trong “Quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng”, Ban hành theo Quyết định số 1627/2001/QĐ – NHNN ngày 31 tháng 12 năm 2001 của Thống đốc Ngân hàng nhà nước. Tại Điều 7. Điều kiện vay vốn quy đinh rõ: “Tổ chức tín dụng xem xét và quyết định cho vay khi khách hàng có đủ các điều kiện sau: Khóa luận: Hoạt động tín dụng hộ sản xuất tại Agribank
Có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự và chịu trách nhiệm dân sự theo quy định của pháp luật.
Với khách hàng vay là pháp nhân và cá nhân Việt Nam
- Pháp nhân phải có năng lực pháp luật dân sự
- Cá nhân và chủ doanh nghiệp tư nhân phải có năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự.
- Đại diện của hộ gia đình phải có năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự.
- Đại diện của tổ hợp tác phải có năng lư pháp luật và năng lực hành vi dân sự
- Thành viên hợp danh của công ty hợp danh phải có năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự.
Với khách hàng vay là pháp nhân và cá nhân nước ngoài
Phải có năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sự theo quy định pháp luật của nước mà pháp nhân đó có quốc tịch hoặc cá nhân đó là công dân, nếu pháp luật nước ngoài đó được Bộ Luật Dân sự của nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các văn bản pháp luật khác của Việt Nam quy định hoặc được điều ước quốc tế mà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia quy định.
Mục đích sử dụng vốn vay hợp pháp
Có khả năng tài chính đảm bảo trả nợ trong thời hạn cam kết
Có dự án đầu tư, phương án sản xuất kinh doanh, dịch vụ khả thi và có hiệu quả; hoặc có dự án đầu tư, phương án phục vụ đời sống khả thi và phù hợp với quy định của pháp luật.
Thực hiện các quy định về đảm bảo tiền vay theo quy định của Chính phủ và hướng dẫn của Ngân hàng nhà nước Việt Nam.
Quá trình thẩm định
Thẩm định cho vay là công việc hết sức quan trọng, là tiền đề quyết định việc cho vay và hiệu quả vốn đầu tư. Thẩm định là quá trình phân tích đánh giá dự án trên cơ sở những chuẩn mực, nhằm rút ra những kết luận làm căn cứ cho đưa ra quyết định cho vay.
Quá trình thẩm định là cách tốt nhất để Ngân hàng nắm được thông tin về năng lực pháp luật, đạo đức, tình hình tài chính, khả năng trả nợ của khách hàng,…Đây là khâu không thể thiếu trong quá trình quyết định cho vay và theo dõi khoản vay. Quá trình thẩm định phải tuân theo nguyên tắc, các căn cứ, các quy trình và nội dung thẩm định của từng Ngân hàng. Một khoản vay có chất lượng là khoản vay đã được thẩm định và phải đảm bảo các bước của quá trình thẩm định.
Quá trình thẩm định một khoản vay cho hộ sản xuất rất phức tạp do đặc điểm sản xuất kinh doanh của hộ sản xuất là kinh doanh tổng hợp, vì vậy, đòi hỏi cán bộ thẩm định, tái thẩm định phải tinh thông nghiệp vụ, hiểu biết pháp luật, nắm bắt kịp thời nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội trong từng thời kỳ, các thông tin dự báo, thông tin kinh tế kỹ thuật, thị trường và khả năng phân tích tài chính, có như vậy mới có thể giúp lãnh đạo quyết định cho vay một cách có hiệu quả và đảm bảo chất lượng một khoản vay.
1.4. Ý nghĩa việc nâng cao hiệu quả tín dụng đối với hộ sản xuất. Khóa luận: Hoạt động tín dụng hộ sản xuất tại Agribank
1.4.1. Cung cấp nguồn tài chính đáp ứng nhu cầu cho hộ sản xuất, góp phần phát triển kinh tế.
Các hộ sản xuất cần có sự trợ giúp của tín dụng Ngân hàng để có đủ vốn duy trì sản xuất được liên tục. Nhờ có sự hỗ trợ về vốn, các hộ sản xuất có thể sử dụng hiệu quả các nguồn lực sẵn có khác như: lao động, tài nguyên để cải tạo ra sản phẩm cho xã hội, thúc đẩy cho việc sắp xếp, tổ chức lại sản xuất, hình thành cơ cấu kinh tế hợp lý từ đó nâng cao đời sống vật chất cũng như tinh thần cho mọi người.
1.4.2. Góp phần thúc đẩy quá trình tập trung vốn và tập trung sản xuất, tạo khả năng sinh lời.
Trong cơ chế thị trường, vai trò tập trung vốn sản xuất của tín dụng Ngân hàng đã được thực hiện ở mức độ cao hơn hẳn với cơ chế bao cấp cũ.
Thực hiện tốt chức năng là cầu nối giữa tiết kiệm với đầu tư, Ngân hàng quan tâm đến nguồn vốn đã huy động được để cho hộ sản xuất vay. Vì vậy, Ngân hàng sẽ thúc đẩy các hộ sử dụng vốn có hiệu quả, tăng nhanh vòng quay vốn, tiết kiệm vốn cho sản xuất và cho lưu thông. Trên cơ sở đó hộ sản xuất phải biết tập trung vốn như thế nào để sản xuất, góp phần tích cực vận động liên tục của nguồn vốn.
1.4.3. Tạo điều kiện phát huy các ngành nghề truyền thống, ngành nghề mới, tạo điều kiện phát triển lượng hàng hóa lưu thông, giải quyết việc làm cho người lao động.
Việt Nam là một nước có nhiều làng nghề truyền thống nhưng chưa được quan tâm, đầu tư đúng mức. Chính vì thế, quan tâm, phát huy các ngành nghề truyền thống có hiệu quả kinh tế cũng chính là phát huy nội lực kinh tế hộ.
Tín dụng Ngân hàng sẽ là công cụ tài trợ cho các ngành nghề mới thu hút được đông đảo lực lượng lao động. Từ đó góp phần phát triển toàn diện, nông-lâm- thủy sản, công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu, các hoạt động kinh tế đối ngoại.
Bên cạnh đó, thông qua việc tín dụng mở rộng sản xuất đối với các hộ sản xuất góp phần giải quyết công ăn việc làm cho người lao động. Làm tăng thu nhập cho người dân, đời sống văn hóa, xã hội tăng lên, khoảng cách giữa nông thôn và thành thị nhích lại gần nhau, hạn chế bớt sự phân hóa bất hợp lý trong xã hội, giữ vững an ninh, chính trị. Khóa luận: Hoạt động tín dụng hộ sản xuất tại Agribank
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Khóa luận: Tổng quan hộ sản xuất tại Ngân hàng Agribank

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Khóa luận: Biện pháp nâng cao hộ sản xuất tại Agribank