Khóa luận: Hoàn thiện giám sát xuất khẩu tại cảng Đình Vũ

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Hoàn thiện giám sát xuất khẩu tại cảng Đình Vũ hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Khóa luận: Hoàn thiện công tác giám sát hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu tại Chi cục Hải quan cửa khẩu cảng Đình Vũ – Hải Phòng dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

LỜI MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Trong xu hướng toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, Hải Phòng được đánh giá là điểm đến của các nhà đầu tư trong và ngoài nước, đặc biệt trong lĩnh vực công nghiệp như: sản xuất, chế tạo, chế biến…. Xu hướng này đã tác động rất lớn hoạt động xuất nhập khẩu (XNK) nói chung và giám sát Hải quan đối với hàng hóa xuất nhập khẩu nói riêng. Khóa luận: Hoàn thiện giám sát xuất khẩu tại cảng Đình Vũ

Giám sát hải quan là biện pháp nghiệp vụ do cơ quan hải quan áp dụng để bảo đảm sự nguyên trạng của hàng hóa, sự tuân thủ quy định của pháp luật trong việc bảo quản, lưu giữ, xếp dỡ, vận chuyển, sử dụng hàng hóa, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh phương tiện vận tải đang thuộc đối tượng quản lý hải quan. Thực hiện tốt công tác giám sát hải quan không chỉ đảm bảo sự cân bằng giữa việc tạo thuận lợi thương mại với kiểm soát chặt chẽ quá trình tuân thủ pháp luật mà còn giảm thiểu các thủ tục hành chính, giảm bớt vai trò can thiệp của cán bộ hải quan trong quá trình làm thủ tục hải quan. Giám sát Hải quan tạo điều kiện cho hàng hóa thông quan nhanh đồng thời thực thi được chức năng kiểm soát hiệu quả của Nhà nước[13].

Trong giai đoạn 2013 – 2017, Chi cục Hải quan cửa khẩu cảng Đình Vũ-Hải Phòng đã đẩy mạnh cải cách, hiện đại hóa hải quan; đặc biệt ứng dụng mạnh mẽ khoa học công nghệ vào quy trình nghiệp vụ giám sát hải quan do đó thủ tục hải quan được đơn giản hóa, minh bạch hóa, góp phần giảm chi phí cho doanh nghiệp. Tuy nhiên trong lĩnh vực giám sát quản lý hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu tại Chi cục Hải quan cửa khẩu cảng Đình Vũ vẫn chưa thực sự hiệu quả: (1)sự kết nối trao đổi thông tin giữa cơ quan hải quan với các doanh nghiệp kinh doanh cảng vẫn còn nhiều hạn chế; (2)Công tác thực hiện qui trình quản lý hàng hóa ra, vào cảng chưa được đầy đủ và thống nhất;

Công tác theo dõi, quản lý hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu tại Chi cục gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là các vấn đề về hàng hóa tồn đọng, từ chối nhận hàng; (4)thời gian lưu giữ hàng hóa của doanh nghiệp xuất nhập khẩu lâu, chi phí lưu kho bãi của hàng hóa lớn.

Để công tác giám sát hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu tại Chi cục đạt được hiệu quả cao, cần nghiên cứu một cách toàn diện và chuyên sâu về lĩnh vực này. Xuất phát từ thực tế trên, đề tài “Hoàn thiện công tác giám sát hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu tại Chi cục Hải quan cửa khẩu cảng Đình Vũ-Hải Phòng” được chọn làm đề tài luận văn tốt nghiệp.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>>  Dịch Vụ Viết Thuê Khóa Luận Tốt Nghiệp Ngành Kinh Tế

2. Tổng quan các nghiên cứu liên quan Khóa luận: Hoàn thiện giám sát xuất khẩu tại cảng Đình Vũ

Có khá nhiều đề tài nghiên cứu trong lĩnh vực quản lý rủi ro đối với hàng hóa xuất nhập khẩu.

Có khá nhiều đề tài nghiên cứu trong lĩnh vực giám sát đối với hàng hóa xuất nhập khẩu tại Hải quan.

Cục Hải quan Hải Phòng (2016) với đề án “Quản lý, giám sát hàng hóa tại cảng biển, cảng hàng không”[9] đã xây dựng quy trình giám sát đối với hàng hóa xuất nhập khẩu, áp dụng hệ thống công nghệ thông tin trung để trao đổi, cập nhật thông tin với DN, góp phần đơn giản hóa, hài hòa thủ tục hải quan với thủ tục của DN, từ đó rút ngắn thời gian và chi phí cho doanh nghiệp.

Vũ Ngọc Anh (2010) với đề tài nghiên cứu khoa học cấp ngành “Nâng cao hiệu quả công tác giám sát hàng hóa xuất nhập khẩu trong lĩnh vực nghiệp vụ Hải quan”, tác giả đã nhấn mạnh tầm quan trọng của công tác giám sát hàng hóa xuất nhập khẩu trong lĩnh vực Hải quan, nêu bật được những kết quả đạt được và những tồn tại của hệ thống giám sát trong lĩnh vực Hải quan đồng thời đề xuất các giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả công tác giám sát hàng hóa xuất nhập khẩu trong lĩnh vực nghiệp vụ Hải quan [1].

Phạm Đức Hải (2014) đã hệ thống những vấn đề lý luận về quản lý hàng hóa xuất, nhập khẩu đối với các doanh nghiệp chế xuất, nêu ra kinh nghiệm trên thế giới để rút ra bài học trong giám sát hàng hóa xuất nhập khẩu cho Hải quan Việt Nam trong đề tài “Một số biện pháp tăng cường quản lý hàng hóa xuất, nhập khẩu đối với các doanh nghiệp chế xuất tại Chi cục Hải quan khu chế xuất và khu công nghiệp Hải Phòng”. Đề tài đã phân tích thực trạng giám sát hàng hóa xuất nhập khẩu của Chi cục Hải quan khu chế xuất và khu công nghiệp Hải Phòng, nêu bật được những kết quả đạt được và những tồn tại của hệ thống giám sát hàng hóa xuất nhập khẩu tại Chi cục Hải quan khu chế xuất và khu công nghiệp Hải Phòng. Từ đó, đưa ra hệ thống giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống giám sát hoạt động xuất nhập khẩu tại Chi cục Hải quan khu chế xuất và khu công nghiệp Hải Phòng[10]. Khóa luận: Hoàn thiện giám sát xuất khẩu tại cảng Đình Vũ

Các nghiên cứu trên đã đánh giá tầm quan trọng cũng như sự cần thiết của giám sát hàng hóa xuất nhập khẩu trong hoạt động Hải quan. Tuy nhiên, với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật cùng với quá trình toàn cầu hóa thì phương pháp quản lý rủi ro hiện đại cần phải có những thay đổi cho phù hợp với tình hình thực tế. Các đề tài trên đã có những lỗi thời về mặt số liệu và lý luận, do đó hy vọng đề tài nghiên cứu này sẽ đóng góp phần nào đó để hoàn thiện hệ thống giám sát hàng hóa xuất nhập khẩu trong tình hình mới

3. Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu chung: Luận văn tập trung nghiên cứu, làm rõ một số nội dung lý luận về giám sát hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu trong lĩnh vực hải quan; đánh giá thực trạng công tác giám sát hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, từ đó đề xuất giải pháp hoàn thiện công tác giám sát hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu.

Mục tiêu cụ thể:

  • Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về giám sát hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu tại Hải quan;
  • Đánh giá thực trạng công tác giám sát hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu tại Chi cục Hải quan cửa khẩu cảng Đình Vũ-Hải Phòng trong giai đoạn 2013-2017;
  • Đề xuất một số biện pháp nhằm hoàn thiện công tác giám sát hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu tại Chi cục Hải quan cửa khẩu cảng Đình Vũ-Hải Phòng.

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1.Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu chính của Luận văn là Công tác giám sát hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu.

4.2. Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi thời gian: Phân tích, đánh giá thực trạng từ năm 2013 đến Đề xuất mục tiêu, giải pháp cho giai đoạn 2019 – 2025.

  • Phạm vi không gian: Tại các đơn vị kinh doanh cảng, kho, bãi thuộc phạm vi địa bàn quản lý của Chi cục Hải quan cửa khẩu cảng Đình Vũ-Hải Phòng trong giai đoạn 2013-2017, cụ thể:
  • Cảng Công ty Cổ phần Đầu tư và phát triển cảng Đình Vũ;
  • Cảng Công ty Cổ phần Tân Cảng 189;
  • Kho CFS: SITC, Minh Thành, Vinalines….
  • Phạm vi nội dung nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu chính của Luận văn là công tác giám sát hàng hóa xuất nhập khẩu tại các đơn vị kinh doanh cảng, kho, bãi thuộc phạm vi địa bàn quản lý của Chi cục Hải quan cửa khẩu cảng Đình Vũ.

5. Phương pháp nghiên cứu Khóa luận: Hoàn thiện giám sát xuất khẩu tại cảng Đình Vũ

5.1. Phương pháp thu thập thông tin, số liệu

a) Thu thập thông tin, số liệu thứ cấp

Hệ thống thông tin, số liệu thứ cấp được thu thập từ các nguồn sau:

  • Thông tin từ những văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến công tác giám sát hải quan hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu tại Chi cục Hải quan cửa khẩu cảng Đình Vũ.
  • Thông tin, số liệu về bộ máy, nhân lực của Chi cục Hải quan cửa khẩu cảng Đình Vũ trong giai đoạn 2014 -2017.
  • Thông tin, số liệu về kết quả hoạt động của Chi cục Hải quan cửa khẩu cảng Đình Vũ trong giai đoạn 2014 -2017.
  • Các báo cáo của Chi cục Hải quan cửa khẩu cảng Đình Vũ liên quan đến công tác giám sát hải quan hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu tại Chi cục trong giai đoạn 2014-2017.
  • Số liệu từ các bài viết, luận văn, luận án đã công bố, từ Internet… cũng được luận văn lựa chọn, đánh giá và tận dụng trong quá trình nghiên cứu.

b) Thu thập thông tin, số liệu sơ cấp

Để có được các số liệu sơ cấp phục vụ cho phân tích, đánh giá trong luận văn, học viên sử dụng phương pháp điều tra xã hội học bằng cách phát bảng hỏi cho 02 nhóm đối tượng:

  • Nhóm 21 cán bộ, công chức hải quan làm việc tại Chi cục Hải quan cửa khẩu cảng Đình Vũ. Số phiếu phát ra là 21, số phiếu thu về là 18, trong đó có 18 phiếu trả lời hợp lệ.
  • Nhóm 72 đại diện doanh nghiệp xuất nhập khẩu thường xuyên qua Chi cục Hải quan cửa khẩu cảng Đình Vũ. Số phiếu phát ra là 72, số phiếu thu về là 68, trong đó 68 phiếu trả lời hợp lệ, 04 phiếu còn lại trả lời thiếu nhiều thông tin nên không được sử dụng cho nghiên cứu.

Bảng hỏi được phát trực tiếp hoặc sử dụng email. Các câu hỏi được thiết kế dưới dạng câu hỏi đóng.

Khảo sát được thực hiện trong vòng 02 tháng: 06, 07 năm 2018.

5.2. Phương pháp xử lý thông tin, số liệu

Số liệu thứ cấp thu thập được sẽ được chọn lọc, so sánh, đối chiếu, tính tỷ lệ phần trăm để phục vụ cho nghiên cứu.

Số liệu sơ cấp sẽ được xử lý bằng phần mềm Excel.

Luận văn sử dụng các chủ yếu phương pháp nghiên cứu cơ bản như: thống kê, logic; phương pháp luận duy vật biện chứng, duy vật lịch sử để giải quyết vấn đề nghiên cứu.

6. Ý nghĩa khoa học và đóng góp mới của Luận văn Khóa luận: Hoàn thiện giám sát xuất khẩu tại cảng Đình Vũ

Góp phần làm rõ thêm một số nội dung lý luận về công tác giám sát hàng hóa xuất nhập khẩu tại hải quan;

Khái quát một số kinh nghiệm trong công tác giám sát hàng hóa xuất nhập khẩu Hải quan;

Phân tích và đánh giá thực trạng công tác giám sát hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu tại Chi cục Hải quan cửa khẩu cảng Đình Vũ-Hải Phòng.

Làm rõ phương hướng và giải pháp hoàn thiện công tác giám sát hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu tại Chi cục Hải quan cửa khẩu cảng Đình Vũ-Hải Phòng.

7. Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn được chia làm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về giám sát hải quan hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu.

Chương 2: Thực trạng công tác giám sát hải quan hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu tại Chi cục Hải quan cửa khẩu cảng Đình Vũ-Hải Phòng.

Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện công tác giám sát hải quan hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu tại Chi cục Hải quan cửa khẩu cảng Đình Vũ-Hải Phòng.

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ GIÁM SÁT HẢI QUAN HÀNG HÓA XUẤT KHẨU, NHẬP KHẨU

1.1 Khái niệm, đặc điểm của giám sát hải quan hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu Khóa luận: Hoàn thiện giám sát xuất khẩu tại cảng Đình Vũ

1.1.1 Khái niệm giám sát hải quan hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu

1.1.1.1 Quan điểm về xuất khẩu, nhập khẩu

Xuất khẩu được hiểu là việc bán hàng hóa hoặc dịch vụ của các tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân trong nước cho nước ngoài trên cơ sở dùng tiền tệ làm phương tiện thanh toán.

Nhập khẩu là hoạt động tổ chức, cá nhân mua hàng hóa và dịch vụ từ nước ngoài nhằm phục vụ cho nhu cầu trong nước hoặc tái xuất nhằm phục vụ mục đích thu lợi nhuận. Nói cách khác, nhập khẩu là việc mua hàng hóa từ các tổ chức kinh tế, các công ty nước ngoài và tiến hành tiêu thụ hàng hóa tại thị trường nội địa hoặc tái XK với mục đích thu lợi nhuận và nối liền sản xuất với tiêu dùng.

Cơ sở của XK, NK là hoạt động mua bán, trao đổi hàng hóa (bao gồm cả hàng hóa hữu hình và hàng hóa vô hình) giữa các quốc gia.

Quan điểm về hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu:

Trong các lý thuyết kinh tế cổ điển, nhiều học giả đã đưa ra quan điểm về hàng hóa, có thể kể đến một số quan điểm chính như sau:

  • Trong kinh tế chính trị Marx-Lenin, hàng hóa được định nghĩa là sản phẩm của lao động thông qua trao đổi, mua bán. Hàng hóa có thể là hữu hình hay ở dạng vô hình (như sức lao động). Karl Marx định nghĩa hàng hóa trước hết là đồ vật mang hình dạng có khả năng thỏa mãn nhu cầu con người nhờ vào các tính chất của nó. Để đồ vật trở thành hàng hóa cần phải có: (i) Tính ích dụng đối với người dùng; (ii) Giá trị kinh tế, nghĩa là được chi phí bởi lao động; (iii) Sự hạn chế để đạt được nó, nghĩa là độ khan hiếm.
  • David Ricardo cho rằng hàng hóa có hai thuộc tính cơ bản là: giá trị sử dụng và giá trị. Giá trị sử dụng của hàng hóa là ích dụng của hàng hóa thỏa mãn nhu cầu nào đó của con người. Giá trị của hàng hóa là lao động xã hội của người sản xuất hàng hóa kết tinh trong hàng hóa.

Ở một số văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam, khái niệm về hàng hóa cũng được đề cập:

  • Theo Điều 3 Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa số: 05/2007/QH12 ngày 21/11/2007, hàng hóa được định nghĩa là sản phẩm được đưa vào thị trường, tiêu dùng thông qua trao đổi, mua bán, tiếp thị. Trong đó, sản phẩm được định nghĩa là kết quả của quá trình sản xuất hoặc cung ứng dịch vụ nhằm mục đích kinh doanh hoặc tiêu dùng. Định nghĩa này là tương đồng với quan điểm của kinh tế chính trị Marx-Lenin về hàng hóa.
  • Theo Điều 4 Luật Giá số: 11/2012/QH13, hàng hóa được định nghĩa là tài sản có thể trao đổi, mua, bán trên thị trường, có khả năng thỏa mãn nhu cầu của con người, bao gồm các loại động sản và bất động sản. Khái niệm này được đánh giá là rõ ràng hơn so với khái niệm về hàng hóa trong Luật Chất lượng sản phẩm.

Như vậy có thể hiểu: Hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu là sản phẩm của quá trình sản xuất (có thể là nguyên liệu, vật tư, thành phẩm, bán thành phẩm) được các cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp mua bán, trao đổi qua biên giới của quốc gia.

1.1.1.2 Khái niệm giám sát hải quan (GSHQ) hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu Khóa luận: Hoàn thiện giám sát xuất khẩu tại cảng Đình Vũ

Theo từ điển tiếng Việt, thuật ngữ thanh tra, giám sát được hiểu như sau:

  • Thanh tra là đến tận nơi xem xét, kiểm tra sự việc nhằm đưa các hoạt động theo định hướng và theo các quy trình, quy phạm đã được xác định trên các văn bản pháp lý nhà nước.
  • Giám sát là việc theo dõi, kiểm tra xem có thực hiện đúng những điều quy định hay không.

Như vậy, có thể thấy có sự khác biệt giữa khái niệm “thanh tra” và “giám sát”. Thanh tra là việc tổ chức kiểm tra từ bên ngoài của đối tượng bị thanh tra, là hoạt động của cơ quan quản lý cấp trên đối với đối tượng bị kiểm tra. Giám sát là khái niệm rộng hơn bao gồm cả thanh tra, kiểm tra và theo dõi từ xa với nhiều nội dung thực hiện như phân tích định tính, định lượng, tổng hợp, xử lý số liệu,… Thanh tra thường được tiến hành bằng cách đến tận nơi, trực tiếp kiểm tra, trong khi đó giám sát thường không cần phải đến tận nơi.

Trong ngành Hải quan, GSHQ là một trong những hoạt động nghiệp vụ hải quan quan trọng. Việc áp dụng các phương thức GSHQ phù hợp sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động XK, NK, xuất cảnh, nhập cảnh quá cảnh. Quy định tại Luật Hải quan năm 2014 và các văn bản hướng dẫn liên quan đã chỉ rõ cơ quan Hải quan áp dụng quản lý rủi ro trong việc kiểm tra, GSHQ đối với hàng hóa, phương tiện vận tải. Quản lý rủi ro được xem là một công cụ hữu hiệu cho quản lý hải quan hiện đại, giúp cho cơ quan Hải quan có thể phân bổ nguồn lực một cách hợp lý mà vẫn đảm bảo quản lý hải quan và không gây khó khăn cho hoạt động XNK. Trong điều kiện thông quan tự động, kết nối trao đổi thông tin với doanh nghiệp, quản lý rủi ro là cơ sở quan trọng để bảo đảm việc kiểm tra, giám sát của cơ quan hải quan được thực hiện hiệu quả, phù hợp với thông lệ hải quan quốc tế.

Theo Khoản 9 Điều 4 Luật Hải quan năm 2005: Giám sát hải quan là biện pháp nghiệp vụ do cơ quan hải quan áp dụng để bảo đảm sự nguyên trạng của hàng hóa, phương tiện vận tải đang thuộc đối tượng quản lý hải quan.

Định nghĩa GSHQ theo quy định tại khoản 5 Điều 4 Luật Hải quan 2014 có sự kế thừa của Luật Hải quan 2005 và quy định rõ hơn, theo đó: Giám sát hải quanlà biện pháp nghiệp vụ do cơ quan hải quan áp dụng để bảo đảm sự nguyên trạng của hàng hóa, sự tuân thủ quy định của pháp luật trong việc bảo quản, lưu giữ, xếp dỡ, vận chuyển, sử dụng hàng hóa, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh phương tiện vận tải đang thuộc đối tượng quản lý hải quan. Khóa luận: Hoàn thiện giám sát xuất khẩu tại cảng Đình Vũ

Như vậy, trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, khái niệm GSHQ hàng hóa XK, NK được hiểu như sau: Giám sát hải quan hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu là biện pháp nghiệp vụ do cơ quan hải quan áp dụng để bảo đảm sự nguyên trạng của hàng hóa, sự tuân thủ quy định của pháp luật trong việc bảo quản, lưu giữ, xếp dỡ, vận chuyển, sử dụng hàng hóa,xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh phương tiện vận tải đang thuộc đối tượng quản lý hải quan.

Giám sát hải quan hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu được coi là hoàn chỉnh khi cả hải quan, doanh nghiệp kinh doanh kho, bãi, cảng (doanh nghiệp KDC), tổ chức, cá nhân có hoạt động XK, NK, quá cảnh, xuất cảnh, nhập cảnh đều đạt được mục đích với sự tuân thủ pháp luật và chi phí thấp nhất.

Chủ thể của Giám sát hải quan hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu:

  • Đối với GSHQ truyền thống: Theo quy định tại Điều 27 Luật Hải quan 2001 sửa đổi bổ sung 2005, điểm b khoản 1 và khoản 2 Thông tư 128/2013/TT-BTC quy định về thủ tục hải quan, kiểm tra, GSHQ; thuế XK, thuế NK và quản lý thuế đối với hàng hóa XK, NK thì có thể xác định chủ thể thực hiện quyền GSHQ là: công chức hải quan, Chi cục trưởng Chi cục hải quan, Tổng cục trưởng TCHQ.
  • Đối với GSHQ điện tử: Theo quy định tại khoản 1, điểm b khoản 2 và khoản 3 Điều 31 Thông tư 22/2014/TT-BTC quy định thủ tục hải quan điện tử đối với hàng hóa XK, NK thương mại thì chủ thể thực hiện quyền GSHQ điện tử cũng giống như trên.

Đối tượngcủa Giám sát hải quan hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu:

Đối với giám sát hải quan truyền thống:

Theo quy định tại Điều 13 Nghị định 154/2005 /NĐ-CP thì không phải tất cả mọi hàng hóa XNK thương mại đều là đối tượng của hoạt động GSHQ.

Xuất phát từ nội dung, mục đích của hoạt động này, pháp luật chỉ đặt ra trách nhiệm GSHQ đối với hàng hóa XNK thương mại trong những trường hợp nhất định, bao gồm:

  • Hàng hóa đã làm xong thủ tục hải quan XK nhưng chưa thực XK.Thông thường, hàng hóa sau khi thực hiện hết thủ tục hải quan thì sẽ được XK hoặc NK. Tuy nhiên, vì một lý do nào đó hàng hóa có thể chưa được XK ngay sau khi làm thủ tục hải quan. Đối với hàng hóa trong trường hợp này, cơ quan hải quan có thẩm quyền phải thực hiện hoạt động GSHQ.
  • Hàng hóa đã làm xong thủ tục hải quan XNK nhưng chưa được thông quan.
  • Hàng hóa XK, NK chưa làm thủ tục hải quan được lưu trong kho, bãi, thuộc phạm vi, địa bàn hoạt động của cơ quan hải quan.
  • Hàng hóa quá cảnh.
  • Hàng hóa chuyển cửa khẩu.
  • Hàng hóa chuyển cảng.
  • Đối với bất kỳ loại hàng hóa XNK thương mại nào nếu rơi vào nếu rơi vào một trong số năm trường hợp kể trên thì sẽ phải trải qua thủ tục GSHQ.
  • Đối với giám sát hải quan điện tử:

Căn cứ tại khoản 1 Điều 31 Thông tư 22/2014/TT-BTC thì đối tượng chịu sự GSHQ điện tử cũng giống như GSHQ truyền thống.

1.1.2 Đặc điểm của giám sát hải quan hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu Khóa luận: Hoàn thiện giám sát xuất khẩu tại cảng Đình Vũ

GSHQ hàng hóa XK, NK có các đặc điểm cơ bản sau:

Thứ nhất, GSHQ hàng hóa XK, NK luôn gắn liền với nhiệm vụ của hải quan, hỗ trợ tốt cho hoạt động hải quan và là một khâu không thể tách rời trong quy trình nghiệp vụ hải quan.

Thứ hai, đặc điểm về thời gian GSHQ hàng hóa XK, NK:

  • Hàng hóa NK chịu sự GSHQ từ khi tới địa bàn hoạt động hải quan đến khi được thông quan, giải phóng hàng hóa và đưa ra khỏi địa bàn hoạt động hải quan.
  • Hàng hóa XK miễn kiểm tra thực tế hàng hóa chịu sự GSHQ từ khi thông quan đến khi ra khỏi địa bàn hoạt động hải quan. Trường hợp phải kiểm tra thực tế, hàng hóa XK chịu sự GSHQ từ khi bắt đầu kiểm tra thực tế hàng hóa đến khi ra khỏi địa bàn hoạt động hải quan.
  • Hàng hóa quá cảnh chịu sự GSHQ từ khi tới cửa khẩu nhập đầu tiên đến khi ra khỏi cửa khẩu xuất cuối cùng.

Thứ ba, đặc điểm về phương thức GSHQ hàng hóa XK, NK:

Phương thức giám sát:

  • Niêm phong hải quan;
  • Giám sát trực tiếp của công chức hải quan (chỉ thực hiện trong trường hợp cần thiết);
  • Sử dụng phương tiện, thiết bị kỹ thuật: Giám sát bằng camera; Giám sát thông qua kiểm tra thông tin trên hệ thống CNTT; Giám sát bằng phương tiện kỹ thuật khác.

Căn cứ kết quả phân tích, đánh giá rủi ro và các thông tin khác có liên quan đến đối tượng giám sát hải quan, cơ quan hải quan quyết định phương thức giám sát phù hợp.

1.2 Mục tiêu, nguyên tắc của giám sát hải quan hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu Khóa luận: Hoàn thiện giám sát xuất khẩu tại cảng Đình Vũ

1.2.1 Mục tiêu của giám sát hải quan hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu

GSHQ hàng hóa XK, NK tập trung thực hiện những mục tiêu cơ bản sau:

Thứ nhất, đảm bảo sự nguyên trạng của hàng hóa XK, NK đang thuộc đối tượng GSHQ.GSHQ hàng hóa XK, NK theo dõi được lượng hàng hóa XK, NK đưa vào, đưa ra khu vực GSHQ, theo dõi được lượng hàng hóa tồn, thời gian tồn trong khu vực cửa khẩu. Từ đó, giúp cơ quan hải quan quản lý được sự đảm bảo nguyên trạng của hàng hóa XK, NK.

Thứ hai, ngăn ngừa, phát hiện, xử lý hành vi vi phạm pháp luật. Cơ quan hải quan áp dụng các phương thức GSHQ, sử dụng các công cụ GSHQ để phát hiện kịp thời và xử lý nghiêm các hành vi vi phạm pháp luật hải quan đối với hàng hóa XNK đang chịu sự GSHQ; không để xảy ra tình trạng lợi dụng các chính sách ưu tiên, miễn kiểm tra để buôn lậu, gian lận thương mại, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới.

Thứ ba, tạo tiền đề cho việc thực hiện thủ tục hải quan, kiểm tra, tính thuế và các vấn đề khác đúng quy định.

Thông thường hàng hóa khi NK từ nước ngoài vào lãnh thổ của Việt Nam phải làm thủ tục hải quan ngay tại cửa khẩu biên giới, tuy nhiên để tạo thuận lợi, giảm chi phí cho doanh nghiệp XNK đồng thời tránh trường hợp ách tắc hàng hóa tại cửa khẩu biên giới, Nhà nước đã có chủ trương cho phép thành lập các địa điểm thông quan ngoài cửa khẩu ở một số địa phương. Việc thông quan với loại hình hàng NK vận chuyển độc lập, vận chuyển kết hơp (chuyển cửa khẩu) tạo nhiều thuận lợi cho doanh nghiệp (do doanh nghiệp không cần phải tới tận cửa khẩu nhập hàng để làm thủ tục hải quan) nhưng cũng nhiều doanh nghiệp lợi dụng loại hình này để gian lận thương mại, buôn lậu, trốn thuế. Để có thể quản lý tốt với loại hàng này đòi hỏi phải có một quy trình thủ tục hải quan hoàn chỉnh đặc biệt là công tác GSHQ (nhiệm vụ chủ yếu của Chi cục Hải quan cửa khẩu) vừa tạo thông thoáng cho hoạt động XNK, vừa bảo đảm yêu cầu quản lý chặt chẽ. Trước tình hình trên thì ngành hải quan cần có hoạt động “GSHQ đối với hàng hóa NK vận chuyển độc lập, vận chuyển kết hợp” một cách thống nhất và hiệu quả. Khóa luận: Hoàn thiện giám sát xuất khẩu tại cảng Đình Vũ

Thứ tư, tạo thuận lợi cho hoạt động xuất nhập khẩu, đảm bảo chức năng quản lý của nhà nước về Hải quan.

Tham gia hội nhập, giao lưu thương mại quốc tế khiến hoạt động XNK nước ta không ngừng gia tăng. Các loại hình XNK cũng trở nên đa dạng về cả chủng loại và mặt hàng XNK.Trước tình hình đó, cơ quan Hải quan các cấp phải có sự nỗ lực trong hoạt động của mình nhằm tạo thuận lợi cho phát triển giao lưu thương mại quốc tế. Chủ trương “Thông quan nhanh chóng, quản lý chặt chẽ với hàng hóa XNK” được cơ quan hải quan ưu tiên chú trọng hàng đầu. Để thực hiện được mục tiêu đó, trong những năm qua ngành hải quan đã nỗ lực phấn đấu đổi mới công tác, cải cách thủ tục, quy chế, quy trình nghiệp vụ, thực hiện quy trình thủ tục một cửa, một chiều, tiến hành hiện đại hóa hải quan, chấn chỉnh tổ chức đào tạo bồi dưỡng đội ngũ cán bộ công chức, củng cố xây dựng lực lượng trong sạch vững mạnh.

1.2.2 Nguyên tắc của giám sát hải quan hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu

GSHQ hàng hóa XK, NK tuân thủ những nguyên tắc cơ bản sau:

Thứ nhất, GSHQ hàng hóa XK, NK phải được thực hiện trong suốt thời gian hàng hóa, phương tiện vận tải đặt tại địa bàn hoạt động của hải quan cho đến khi hàng hoá được thông quan. Thực hiện nguyên tắc này: (i) Đối với hàng hóa NK, GSHQ thực hiện xuyên suốt từ khi hàng hóa được dỡ từ phương tiện vận tải nhập cảnh xuống cảng, làm thủ tục NK, vận chuyển giữa các địa điểm chịu sự GSHQ, đến khi hàng hóa được đưa ra khỏi khu vực GSHQ vào nội địa hoặc chuyển sang chế độ khác; (ii) Đối với hàng hóa XK, GSHQ thực hiện xuyên suốt từ khi hàng hóa XK được tập kết làm thủ tục XK, vận chuyển giữa các địa điểm chịu sự GSHQ, đến khi hàng hóa được xếp lên phương tiện vận tải di chuyển ra khỏi khu vực GSHQ và xuất cảnh ra nước ngoài.

Thứ hai, GSHQ hàng hóa XK, NK phải được tiến hành bình đẳng với tất cả hàng hóa, phương tiện vận tải đặt tại địa bàn hoạt động của hải quan. Để đảm bảo hiệu quả công tác GSHQ trong phòng chống buôn lậu, gian lận thương mại, công tác GSHQ phải được thực hiện đúng quy định của pháp luật đối với mọi loại hàng hóa, mọi xuất xứ của hàng hóa, mọi quốc tịch của chủ hàng hóa.

Thứ ba, GSHQ hàng hóa XK, NK phải được tiến hành công khai minh bạch. Đây là một nguyên tắc cơ bản trong hoạt động GSHQ hàng hóa XK, NK. Tính công khai, minh bạch của hoạt động này thể hiện ở chỗ, vào những thời điểm thích hợp, cơ quan hải quan phải thông báo đầy đủ nội dung cơ bản của GSHQ để chủ hàng hóa biết nhằm khuyến khích sự tham gia của chủ hàng hóa vào hoạt động này, góp phần đảm bảo tính khách quan trong GSHQ.

Thứ tư, GSHQ hàng hóa XK, NK phải tuân thủ pháp luật, đảm bảo tính nhất quán, hợp pháp theo xu hướng hiện đại hóa hải quan. Nguyên tắc này đòi hỏi cơ quan hải quan phải xây dựng và thực hiện một cách thống nhất quy trình, nội dung GSHQ. Đồng thời, cũng phải quán triệt thực hiện cải cách thủ tục hành chính nhằm giúp doanh nghiệp rút ngắn thời gian thông quan hàng hóa, nâng cao năng lực cạnh tranh

1.2.3 Cơ sở pháp lý thực hiện công tác giám sát hải quan Khóa luận: Hoàn thiện giám sát xuất khẩu tại cảng Đình Vũ

Công tác giám sát hải quan hàng hóa xuất nhập khẩu được thực hiện dựa trên các văn bản pháp lý sau:

  • Quy trình GSHQ tại Quyết định 1966/QĐ-TCHQ năm 2015;
  • Quyết định 1500/QĐ-TCHQ năm 2016;
  • Thông tư 38/2015/TT-BTC;
  • Quyết định số 3125/QĐ-HQHP ngày 14 tháng 8 năm 2017 của Cục trưởng Cục Hải quan TP Hải Phòng hướng dẫn thí điểm trình tự thực hiện kiểm tra, giám sát hải quan đối với hàng hóa đưa vào, lưu giữ, đưa ra khu vực kho, bãi, cảng Hải Phòng trên hệ thống điện tử.

Hiện nay hệ thống công nghệ thông tin của cơ quan hải quan và doanh nghiệp KDC về cơ bản đã đáp ứng được yêu cầu về công tác quản lý của cơ quan hải quan đối với hàng hóa đưa vào, lưu giữ, đưa ra khu vực GSHQ. Tuy nhiên, trong quá trình triển khai thực hiện đã phát sinh một số vướng mắc làm ảnh hưởng không nhỏ tới tiến độ giải phóng hàng của doanh nghiệp XNK, đã có tình trạng hàng hóa NK bị chậm giải phóng hàng ra khỏi Cảng, hàng hóa XK bị lỡ tàu, phát sinh chi phí lưu kho, bãi là do Quy trình và Hệ thống công nghệ thông tin chưa chi tiết, cụ thể hóa được các tình huống đặc thù tại khu vực Cảng biển Hải Phòng nên nhiều trường hợp phải giải quyết bằng phương pháp thủ công,… Ngoài ra, còn do nguyên nhân Hệ thống đôi khi còn chậm, đường truyền mất tín hiệu, đã xảy ra tình trạng không tìm thấy tờ khai trên hệ thống do người khai không khai hoặc khai sai điểm đích, hoặc dữ liệu chưa chuyển từ Hệ thống VNACCS/VCIS sang E-customs hoặc chuyển thiếu. Cùng với đó việc khai báo của doanh nghiệp XNK còn nhiều sai sót, đặc biệt là việc khai sai các tiêu chí liên quan đến điểm đích vận chuyển bảo thuế (XK) hoặc địa điểm lưu kho dự kiến chờ thông quan hoặc các tiêu chí không được sửa theo quy định tại Thông tư 38/2015/TT-BTC.

1.3 Quy trình giám sát hải quan hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu

Hiện nay, công tác GSHQ hàng hóa XK, NK được thực hiện theo các quy định tại Luật Hải quan số 54/2014/QH13 ngày 23/06/2014, Nghị định số 08/2015/NĐ-CP ngày 21/01/2015 của Chính Phủ quy định chi tiết và biện pháp thi hành Luật Hải quan về thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát, kiểm soát hải quan; Thông tư số 38/2015/TT-BTC ngày 25/03/2015 của Bộ Tài chính quy định về thủ tục hải quan, kiểm tra, GSHQ, thuế XK, thuế NK và quản lý thuế đối với hàng hoá XK, NK; Quyết định số 1966/QĐ-TCHQ ngày 10/7/2015 của TCHQ và Quyết định số 1500/QĐ-TCHQ ngày 24/5/2016 của TCHQ về việc ban hành quy trình GSHQ đối với hàng hóa XK, NK đưa vào, lưu giữ, đưa ra KVGS hải quan tại Cảng biển thực hiện Điều 41 Luật Hải quan năm 2014 được áp dụng tại các Chi cục Hải quan cửa khẩu Cảng biển đáp ứng được điều kiện kết nối hệ thống thông tin quản lý hàng hóa của doanh nghiệp KDC với hệ thống thông quan điện tử của cơ quan Hải quan.

Theo đó, quy trình GSHQ đối với hàng hóa XK, NK về cơ bản gồm các tác nghiệp cụ thể:

1.3.1 Giám sát hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu đưa vào, lưu giữ, đưa ra khu vực Cảng Khóa luận: Hoàn thiện giám sát xuất khẩu tại cảng Đình Vũ

1.3.1.1. Người khai hải quan/người vận chuyển thực hiện

Xuất trình giấy giới thiệu để chứng minh là người đại diện hợp pháp của người khai hải quan và thực hiện:

a) Đối với lô hàng phải niêm phong hải quan:

a.1) Xuất trình hàng hóa và Biên bản bàn giao (nếu có) hoặc tờ khai phê duyệt vận chuyển độc lập cho công chức hải quan để kiểm tra tình trạng bên ngoài và niêm phong hải quan của lô hàng;

a.2) Cung cấp thông tin theo quy định tại khoản 1 Điều 52 Thông tư 38/2015/TT-BTC hoặc số hiệu Cont hoặc số tờ khai (đối với hàng rời) cho doanh nghiệp KDC;

a.3) Đối với lô hàng XK khai hải quan bằng tờ khai hải quan giấy và hàng hóa quy định tại điểm d.3 khoản 2 Điều 52 Thông tư số 38/2015/TT-BTC, hàng hóa đã đưa vào KVGS hải quan nhưng thay đổi cảng xuất: xuất trình tờ khai hải quan giấy hoặc các chứng từ theo quy định cho Chi cục Hải quan.

Đối với lô hàng không phải niêm phong hải quan: Thực hiện theo điểm a.2, điểm a.3 điểm a nêu trên.

1.3.1.2. Chi cục Hải quan cửa khẩu thực hiện

a) Đối với lô hàng phải niêm phong hải quan:

a.1) Thực hiện kiểm tra tình trạng bên ngoài và niêm phong hải quan của lô hàng; xác nhận trên Biên bản bàn giao và thực hiện hồi báo hoặc xử lý vi phạm (nếu có) theo quy định;

a.2) Xác nhận trên hệ thống thông qua chức năng “Xác nhận đã kiểm tra niêm phong”;

a.3) Đối với lô hàng XK khai hải quan bằng tờ khai hải quan giấy và hàng hóa quy định tại điểm d.3 khoản 2 Điều 52 Thông tư 38/2015/TT-BTC hàng hóa đã đưa vào KVGS hải quan nhưng thay đổi Cảng xuất: Sau khi thực hiện các công việc cho phép hàng hóa XK, Chi cục Hải quan cập nhật danh sách hàng hóa trên hệ thống thông qua chức năng số 2. Chứng từ đủ điều kiện qua KVGS (HQ nhập); in danh sách hàng hóa cho người khai hải quan để xuất trình cho doanh nghiệp KDC nơi hàng hóa XK.

b) Đối với lô hàng không phải niêm phong hải quan:

Thực hiện theo điểm a.2, điểm a.3 điểm a nêu trên.

1.3.1.3. Doanh nghiệp kinh doanh cảng thực hiện (KDC) Khóa luận: Hoàn thiện giám sát xuất khẩu tại cảng Đình Vũ

Sau khi tiếp nhận Danh sách Cont theo mẫu số 29/DSCT/GSQL phụ lục V ban hành kèm theo Thông tư số 38/2015/TT-BTC (sau đây gọi là danh sách container) hoặc Danh sách hàng hóa theo mẫu số 30/DSHH/GSQL phụ lục V ban hành kèm theo Thông tư số 38/2015/TT-BTC (sau đây gọi là danh sách hàng hóa) hoặc Danh sách hàng hóa theo mẫu số 07/DSHHG/GSQL ban hành kèm Quyết định số 1966/QĐ-TCHQ hoặc số hiệu Cont hoặc số tờ khai hải quan từ người khai hải quan hoặc người vận chuyển, nhân viên doanh nghiệp KDC kiểm tra thông tin trên Danh sách Cont, Danh sách hàng hóa.

a) Nội dung kiểm tra:

a.1) Đối với hàng hóa chuyên chở bằng Cont: Kiểm tra, đối chiếu về số hiệu Cont, số lượng Cont từ danh sách Cont do người khai hải quan hoặc người vận chuyển cung cấp/xuất trình với thông tin trên hệ thống do cơ quan Hải quan cung cấp.

a.2) Đối với hàng lỏng, hàng rời, hàng lẻ: Kiểm tra thông tin về số lượng kiện, trọng lượng hàng, lượng hàng từ thông tin trên danh sách hàng hóa do người khai hải quan hoặc người vận chuyển cung cấp/xuất trình với thông tin trên hệ thống do cơ quan Hải quan cung cấp.

b) Xử lý kết quả kiểm tra:

b.1) Nếu danh sách Cont, danh sách hàng hóa do người khai hải quan hoặc người vận chuyển xuất trình được hệ thống của cơ quan Hải quan xác nhận đủ điều kiện qua KVGS hải quan:

b.1.1) Thực hiện theo quy trình của doanh nghiệp KDC để cho phép xếp hàng hóa lên phương tiện vận tải XK;

b.1.2) Kết thúc việc xếp hàng hóa lên phương tiện vận tải để XK (thời điểm “get out – đưa ra”), phản hồi thông tin lên hệ thống để hệ thống tự động xác nhận hàng qua KVGS hải quan;

b.2) Nếu danh sách Cont, danh sách hàng hóa do người khai hải quan hoặc người vận chuyển xuất trình chưa được hệ thống của cơ quan Hải quan xác nhận đủ điều kiện qua KVGS hải quan: b.2.1) Không cho phép hàng hóa XK;

b.2.2) Thông báo ngay cho Chi cục Hải quan cửa khẩu cảng liên quan để phối hợp xử lý theo quy định.

Trường hợp hàng hóa phải niêm phong hải quan, khi kiểm tra thông tin trên hệ thống, những lô hàng chưa có xác nhận đã kiểm tra niêm phong, trên hệ thống sẽ có cảnh báo. Doanh nghiệp KDC thông báo ngay cho Chi cục Hải quan cửa khẩu cảng liên quan để phối hợp xử lý.

b.3) Đối với các trường hợp phải hủy xác nhận trên hệ thống như doanh nghiệp KDC sau khi xác nhận phát hiện có tờ khai trùng số Cont đã xác nhận, hoặc hàng hóa sau khi được xác nhận không XK nữa: Doanh nghiệp KDC thông báo ngay cho Chi cục Hải quan cửa khẩu cảng để công chức hải quan thực hiện hủy xác nhận thông qua chức năng hủy xác nhận trên hệ thống.

1.3.2 Giám sát hải quan đối với hàng hóa nhập khẩu đưa vào, lưu giữ, đưa ra khu vực Cảng Khóa luận: Hoàn thiện giám sát xuất khẩu tại cảng Đình Vũ

1.3.2.1. Người khai hải quan/người vận chuyển thực hiện

Xuất trình giấy giới thiệu để chứng minh là người đại diện hợp pháp của người khai hải quan và thực hiện:

a) Đối với lô hàng phải niêm phong hải quan:

a.1) Xuất trình hàng hóa cho công chức hải quan để thực hiện niêm phong hải quan theo quy định;

a.2) Cung cấp thông tin chứng từ theo quy định tại khoản 2 Điều 52 Thông tư 38/2015/TT-BTChoặc số hiệu Cont hoặc số tờ khai hải quan (đối với hàng rời) cho doanh nghiệp KDC;

a.3) Đối với lô hàng NK vận chuyển độc lập: Cung cấp thông tin danh sách Cont hoặc danh sách hàng hóa của tờ khai vận chuyển độc lập lên hệ thống của cơ quan Hải quan;

a.4) Đối với lô hàng NK khai hải quan bằng tờ khai hải quan giấy và hàng hóa theo quy định tại điểm d khoản 2, khoản 6, khoản 7 Điều 52 Thông tư 38/2015/TT-BTC: Xuất trình tờ khai hải quan giấy hoặc các chứng từ theo quy định cho Chi cục Hải quan.

b) Đối với lô hàng không phải niêm phong hải quan:

Thực hiện theo điểm a.2, điểm a.3, điểm a.4 điểm a nêu trên.

1.3.2.2. Chi cục Hải quan cửa khẩu thực hiện Khóa luận: Hoàn thiện giám sát xuất khẩu tại cảng Đình Vũ

a) Đối với lô hàng phải niêm phong hải quan:

a.1) Kiểm tra thông tin tờ khai trên hệ thống; thực hiện niêm phong hải quan; lập Biên bản bàn giao và theo dõi, tiếp nhận hồi báo theo quy định đối với lô hàng đủ điều kiện qua KVGS hải quan;

a.2) Xác nhận trên hệ thống thông qua chức năng “Xác nhận niêm phong hàng hóa”;

a.3) Đối với lô hàng NK khai hải quan bằng tờ khai hải quan giấy và hàng hóa theo quy định tại điểm d khoản 2, khoản 6, khoản 7 Điều 52 Thông tư 38/2015/TT-BTC: Sau khi thực hiện các công việc cho phép hàng hóa đưa ra KVGS hải quan, Chi cục Hải quan cập nhật danh sách hàng hóa trên hệ thống thông qua chức năng cập nhật danh sách hàng hóa; in danh sách cho người khai hải quan để xuất trình cho doanh nghiệp kinh doanh cảng.

Đối với lô hàng không phải niêm phong hải quan: Thực hiện theo điểm a.2, điểm a.3 điểm a nêu trên.

1.3.2.3. Doanh nghiệp kinh doanh cảng thực hiện

Sau khi tiếp nhận Danh sách Cont hoặc Danh sách hàng hóa hoặc Danh sách hàng hóa theo mẫu số 07/DSHHG/GSQL hoặc số hiệu Cont hoặc số tờ khai hải quan từ người khai hải quan, doanh nghiệp KDC kiểm tra, đối chiếu thông tin trên Danh sách Cont/Danh sách hàng hóa đủ điều kiện qua KVGS hải quan trên hệ thống với Danh sách Cont, Danh sách hàng hóa do người khai hải quan hoặc người vận chuyển cung cấp hoặc xuất trình và thực tế tình trạng bên ngoài (số hiệu Cont đối với hàng hóa chuyên chở bằng Cont, số kiện hàng đối với hàng rời) hàng hóa NK đưa ra Cảng theo nguyên tắc là chỉ cho phép hàng hóa đủ điều kiện qua KVGS hải quan được đưa ra Cảng.

a) Nội dung kiểm tra:

a.1) Đối với hàng hóa chuyên chở bằng Cont: Kiểm tra, đối chiếu về số hiệu Cont, số lượng Cont từ danh sách Cont do người khai hải quan hoặc người vận chuyển cung cấp/xuất trình với thông tin trên hệ thống do cơ quan Hải quan cung cấp: Các thông tin này trên hệ thống, trên Danh sách Cont và thực tế hàng hóa đưa ra Cảng phải phù hợp với nhau;. Khóa luận: Hoàn thiện giám sát xuất khẩu tại cảng Đình Vũ

a.2) Đối với hàng lỏng, hàng rời, hàng lẻ: Kiểm tra thông tin về số lượng kiện, trọng lượng hàng, lượng hàng từ thông tin trên danh sách hàng hóa do người khai hải quan/người vận chuyển cung cấp/xuất trình với thông tin trên hệ thống do cơ quan Hải quan cung cấp: Các thông tin này trên hệ thống, trên Danh sách hàng hóa và thực tế hàng hóa đưa ra Cảng phải phù hợp với nhau;

a.3) Kiểm tra, đối chiếu số vận tải đơn trên danh sách Cont hoặc danh sách hàng hóa hoặc danh sách hàng hóa kèm Thông báo phê duyệt khai báo vận chuyển (nếu có) với số vận tải đơn trên Phiếu giao Cont/Phiếu giao hàng do doanh nghiệp KDC phát hành cho người khai hải quan.

b) Xử lý kết quả kiểm tra:

b.1) Nếu kết quả kiểm tra phù hợp:

b.1.1) Cho phép đưa hàng ra khỏi KVGS hải quan;

b.1.2) Sau khi hàng hóa đưa ra KVGS hải quan (thời điểm “get out – đưa ra”), phản hồi thông tin lên hệ thống để hệ thống tự động xác nhận hàng qua KVGS hải quan;

b.2) Nếu kết quả kiểm tra không phù hợp:

Thông báo ngay cho Chi cục Hải quan cửa khẩu Cảng liên quan để:

b.2.1) Phối hợp xử lý theo quy định.

b.2.2) Công chức hải quan thực hiện hủy xác nhận trên Hệ thống (trong trường hợp đã xác nhận);

Lưu ý: Trường hợp hàng hóa phải niêm phong hải quan, khi kiểm tra thông tin, những lô hàng chưa có xác nhận đã niêm phong trên hệ thống sẽ có cảnh báo. Doanh nghiệp KDC thông báo ngay cho Chi cục Hải quan cửa khẩu Cảng liên quan để phối hợp xử lý.

Đối với các trường hợp phải hủy xác nhận trên hệ thống như doanh nghiệp KDC sau khi xác nhận phát hiện có tờ khai trùng số Cont đã xác nhận, hoặc hàng hóa sau khi được xác nhận không NK nữa: Doanh nghiệp KDC thông báo ngay cho Chi cục Hải quan cửa khẩu Cảng để công chức hải quan thực hiện hủy xác nhận thông qua chức năng hủy xác nhận trên hệ thống.

Hình 1.2 Quy trình GSHQ hàng hóa NK tại cảng biển

Tóm lại: Công tác GSHQ tại cảng được thực hiện theo quy trình GSHQ. Căn cứ vào thông tin về hàng hóa đã thông quan trên hệ thống, cán bộ GSHQ sẽ kiểm tra, đối chiếu về: (1)số lượng các cont; (2)thông số chi tiết của mỗi cont. Nếu phát hiện nghi vấn sẽ tiến hành kiểm tra thực tế hàng hóa trong mỗi cont: số lượng hàng hóa trong cont, tên hàng, chính sách mặt hàng, hàng cấm…. và tiến hành xử lý theo quy định.

Để nâng cao hiệu quả công tác giám sát, bên cạnh việc tuân thủ tốt quy trình GSHQ nhằm ngăn chặn gian lận thương mại, công tác GSHQ cần rút ngắn thời gian thông quan tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp XNK.

1.4 Nội dung của công tác giám sát hải quan Khóa luận: Hoàn thiện giám sát xuất khẩu tại cảng Đình Vũ

Nội dung của giám sát hải quan là việc cơ quan hải quan sử dụng nghiệp vụ hải quan để quan sát, theo dõi trực tiếp hoặc bằng phương tiện nghiệp vụ, kỹ thuật để đảm bảo việc tuân thủ thủ tục hải quan, chế độ kiểm tra, giám sát hải quan và luật pháp khác có liên quan.

1.4.1 Thời gian thực hiện giám sát hải quan

Theo khoản 2 Điều 26 Luật hải quan, thời gian thực hiện hoạt động giám sát hải quan có thể là một trong ba thời điểm sau tùy vào từng đối tượng tiến hành giám sát, bao gồm:

Đối với hàng hóa nhập khẩu: Thời gian từ khi hàng hóa nhập khẩu tới địa bàn hoạt động hải quan đến khi được thông quan;

Đối với hàng hóa xuất khẩu: Thời gian từ khi bắt đầu kiểm tra thực tế hàng hóa đến khi thực xuất khẩu;

Đối với hàng hóa, phương tiện quá cảnh: Thời gian từ khi hàng hóa, phương tiện vận tải quá cảnh tới địa bàn hoạt động của hải quan đến khi ra khỏi lãnh thổ Việt Nam.

Theo đó, trong khoảng thời gian này, cơ quan hải quan có thẩm quyền sẽ lựa chọn phương thức phù hợp để tiến hành hoạt động giám sát hải quan nhằm đảm bảo được sự nguyên trạng của hàng hóa xuất nhập khẩu trong thời gian chịu sự quản lý của hải quan.

1.4.2 Trách nhiệm của các chủ thể trong quá trình giám sát Khóa luận: Hoàn thiện giám sát xuất khẩu tại cảng Đình Vũ

Đối với giám sát hải quan truyền thống

Trách nhiệm của người khai hải quan: Theo khoản 3 Điều 26 Luật hải quan, các chủ thể này có nghĩa vụ: “Bảo đảm nguyên trạng hàng hóa và niêm phong hải quan, trong trường hợp bất khả kháng mà không giữ được nguyên trạng hàng hóa hoặc niêm phong hải quan thì sau khi áp dụng biện pháp cần thiết để hạn chế và ngăn ngừa tổn thất có thể xảy ra, phải báo ngay với cơ quan hải quan hoặc Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi gần nhất để xác định”. Hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu khi đưa vào hoặc ra khỏi khu vực giám sát hải quan tại của khẩu, người khai hải quan phải xuất trình cho cơ quan hải quan:

Đối với hàng xuất khẩu là tờ khai hải quan đã được cơ quan hải quan xác nhận làm xong thủ tục hải quan;

Đối với hàng nhập khẩu là tờ khai hải quan đã được cơ quan hải quan xác nhận thông quan hoặc giải phóng hàng đưa hàng về bảo quản; Phiếu xuất kho bãi của doanh nghiệp kinh doanh kho, bãi. Xuất trình hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu.

Trách nhiệm của công chức hải quan: Theo khoản 3 điều 27 Luật hải quan quy định, công chức hải quan có nghĩa vụ: “thực hiện kiểm tra, giám sát hải quan hải quan. Trong trường hợp phát hiện có dấu hiệu vi phạm pháp luật thì yêu cầu chủ hàng hóa, người chỉ huy phương tiện vận tải hoặc người được ủy quyền thực hiện các yêu cầu để kiểm tra, khám xét hàng hóa, phương tiện vận tải theo quy định của pháp luật”.

Đối với giám sát hải quan điện tử

Đối với hoạt động giám sát hải quan hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu thực hiện thí điểm thủ tục hải quan điện tử, trách nhiệm của các chủ thể này được xác định như sau: Khóa luận: Hoàn thiện giám sát xuất khẩu tại cảng Đình Vũ

Về trách nhiệm đối với người khai hải quan: Khi đưa hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu vào hoặc ra khỏi khu vực giám sát hải quan, tùy theo loại hàng hóa người khai hải quan phải thực hiện:

Đối với hàng xuất khẩu: phải xuất trình một tờ khai hải quan điện tử in đã được cơ quan hải quan quyết định hoặc xác nhận “thông quan”, xuất trình hàng hóa, nhận lại 1 tờ khai hải quan điện tử in đã có xác nhận “hàng đã qua khu vực giám sát hải quan”

Đối với hàng nhập khẩu: Người khai hải quan phải xuất trình 1 tờ khai hải quan điện tử in đã được cơ quan hải quan quyết định hoặc xác nhận “thông quan” hoặc “giải phóng hàng” hoặc “hàng mang về bảo quản”hoặc hàng chuyển cửa khẩu”, phiếu xuất kho, bãi của doanh nghiệp; xuất trình hàng hóa; nhận lại 1 tờ khai hải quan điện tử in đã có xác nhận “hàng đã qua khu vực giám sát hải quan” và các chứng từ đã xuất trình.

Về trách nhiệm đối với cơ quan hải quan tiến hành giám sát:

Chi cục hải quan ở cửa khẩu là chủ thể thực hiện việc giám sát hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu. Khi phát hiện lô hàng xuất khẩu, nhập khẩu có dấu hiệu vi phạm các quy định pháp luật hải quan, chi cục trường chi cục hải quan cửa khẩu quyết định việc kiểm tra thực tế hàng hóa. Hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu khi đưa vào hoặc ra khỏi khu vực cửa khẩu, chi cục hải quan sẽ thực hiện việc kiểm tra theo các nội dung: Kiểm tra hiệu lực của tờ khai hải quan điện tử. Trường hợp tờ khai hải quan điện tử chưa được nhận “thông quan” hoặc “giải phóng hàng” hoặc “hàng mang về bảo quản” hoặc “hàng chuyển cửa khẩu” , công chức hải quan đối chiếu nội dung tờ khai hải quan điện tử in với tờ khai hải quan điện tử trên hệ thống xử lý dữ liệu điện tử hải quan; Kiểm tra, đối chiếu số, ký hiệu bao, kiện hàng, tình trạng niêm phong hải quan (nếu có) với tờ khai hải quan điện tử đã quyết định hoặc xác nhận “thông quan” hoặc “giải phóng hàng” hoặc “Hàng mang về bảo quản” hoặc “hàng chuyển cửa khẩu” và chứng từ do người khai hải quan xuất trình.

Sau khi thực hiện xong hoạt động kiểm tra, kết quả của hoạt động kiểm tra sẽ được xử lý như sau: Nếu kết quả kiểm tra phù hợp, công chức kiểm tra sẽ xác nhận “Hàng đã qua khu vực giám sát hải quan” trên tờ khai xuất khẩu, nhập khẩu; ký tên đóng dấu công chức, trả lại người khai hải quan; trong trường hợp kết quả hải quan không phù hợp tùy từng trường hợp cụ thể, Chi cục hải quan cửa khẩu hướng dẫn người khai hải quan điều chỉnh bổ sung hoặc xử lý theo quy định hiện hành. Trong trường hợp tờ khai hải quan điện tử hết hiệu lực, Chi cục hải quan nơi mở tờ khai điện tử để làm thủ tục hủy tờ khai.

1.5 Những nhân tố ảnh hưởng đến giám sát hải quan hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu Khóa luận: Hoàn thiện giám sát xuất khẩu tại cảng Đình Vũ

1.5.1 Nhóm nhân tố thuộc cơ quan hải quan

Thứ nhất, năng lực của cán bộ công chức hải quan.

Cơ quan hải quan muốn thực hiện GSHQ đạt hiệu quả cao, đúng mục tiêu đề ra thì vấn đề then chốt nhất là phải xây dựng cho mình đội ngũ CBCC có năng lực tốt. Thực tế cho thấy, đội ngũ CBCC hải quan tại các cơ quan hải quan trên cả nước hiện nay vẫn đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ được giao. Tuy nhiên, nhân lực hải quan xét về nhiều mặt vẫn còn nhiều hạn chế như: trình độ tin học, ngoại ngữ còn hạn chế, chuyên ngành đào tạo đúng với chuyên môn còn ít, phẩm chất đạo đức, tác phong làm việc của một số cán bộ vẫn chưa cao,… Những hạn chế này ảnh hưởng không nhỏ đến công tác QLNN về hải quan nói chung, công tác GSHQ nói riêng.

Thứ hai, cơ sở vật chất, công nghệ thông tin của cơ quan hải quan.

Việt nam đang trong quá trình hội nhập quốc tế sâu rộng, các hiệp định thương mại song phương, đa phương đã ký kết và việc gia nhập các tổ chức kinh tế thế giới làm cho lượng giao thương hàng hoá tăng lên nhanh chóng. Bên cạnh đó, chủ trương tinh giản bộ máy tổ chức làm cho áp lực công việc của ngành hải quan trong đó có GSHQ đối với hàng hoá XK, NK ngày càng lớn, đòi hỏi ngành Hải quan cần đầu tư trang thiết bị hiện đại để đảm bảo điều kiện phục vụ công tác.

Việc ứng dụng công nghệ thông tin là phương thức tốt nhất, hiệu quả nhất trong việc đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính rút ngắn thời gian thông quan. Đặc điểm của công tác GSHQ là phải kiểm tra, giám sát trực tiếp từng lô hàng XK, NK, số lượng tờ khai lớn, công tác quản lý rất phức tạp. Do vậy, nếu chỉ thực hiện thủ công thì cần rất nhiều nhân lực, chi phí cao. Nếu được trang bị trang thiết bị hiện đại như máy soi container, hệ thống camera giám sát, máy đọc mã vạch, máy tính, các hệ thống công nghệ thông tin thì quá trình GSHQ sẽ dễ dàng, nhanh chóng, thuận lợi hơn cho cơ quan hải quan, đồng thời, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho hoạt động XNK mà vẫn quản lý chặt chẽ và hiệu quả.

Thứ ba, hoạt động tuyên truyền, hỗ trợ cho người dân và cộng đồng doanh nghiệp của cơ quan hải quan.

Một trong những tiêu thức để đánh giá một hệ thống QLNN về hải quan tốt là tính hiệu quả của hệ thống với biểu hiện rõ nét nhất là tính tự giác tuân thủ, tự nguyện cao trong việc chấp hành tốt nghĩa vụ hải quan của người dân và cộng đồng doanh nghiệp cũng như chấp hành các quy định của Nhà nước ban hành đối với hoạt động thương mại quốc tế. Để đạt được điều này, ngoài việc xử lý nghiêm các hành vi vi phạm pháp luật về hải quan còn cần có sự tuyên truyền, phổ biến pháp luật, hỗ trợ, hướng dẫn của cơ quan hải quan.

Pháp luật, chính sách, quy định về hải quan chỉ có thể thực thi đầy đủ, thống nhất khi công tác phổ biến, giáo dục pháp luật được triển khai sâu rộng trong người dân và cộng đồng doanh nghiệp. Mọi cá nhân, tổ chức cần phải nhận thức đầy đủ các quy định, các công việc phải làm và mức độ sẽ bị xử lý đối với từng hành vi nếu vi phạm, nếu không chấp hành nghiêm các quy định mà cố tình vi phạm

1.5.2 Nhóm nhân tố thuộc môi trường bên ngoài cơ quan hải quan Khóa luận: Hoàn thiện giám sát xuất khẩu tại cảng Đình Vũ

Thứ nhất, pháp luật, chính sách, qui định quản lý nhà nước về hải quan. Hệ thống pháp luật là nền tảng cho hoạt động QLNN về hải quan, do đó hệ thống pháp luật đơn giản, đồng bộ, phù hợp với tình hình kinh tế – xã hội sẽ là cơ sở pháp lý vững chắc giúp cơ quan hải quan cũng như người dân và cộng đồng doanh nghiệp thực hiện đúng nghĩa vụ của mình. Nếu hệ thống pháp luật quá phức tạp, những quy định không rõ ràng, các thủ tục hành chính trong lĩnh vực hải quan rườm rà sẽ khó khăn cho người dân, cộng đồng doanh nghiệp và cả CBCC hải quan cho việc nắm bắt, triển khai thực hiện. Bên cạnh đó, tính ổn định của hệ thống pháp luật về hải quan cũng tác động rất lớn đến việc chấp hành pháp luật của cơ quan hải quan lẫn cộng đồng doanh nghiệp. Hệ thống văn bản liên tục thay đổi để phù hợp với tình hình kinh tế – xã hội, với các chính sách điều hành vĩ mô của nhà nước làm cho các văn bản quy phạm pháp luật nhiều, chồng chéo, phức tạp làm cho quá trình triển khai thực hiện khó khăn hơn. Điều này ảnh hưởng rất lớn đến mặt chủ quan và khách quan của việc tuân thủ pháp luật của doanh nghiệp.

Cơ chế quản lý hiện nay là tự khai tự chịu trách nhiệm; theo đó, người khai hải quan căn cứ các quy định của pháp luật và thực tế hoạt động của mình mà tự kê khai đúng, đầy đủ theo các quy định của pháp luật hiện hành. Cơ quan hải quan không can thiệp trực tiếp đến quá trình khai báo của người khai hải quan trừ khi cơ quan hải quan phát hiện sai sót hoặc nắm thông tin có dấu hiệu vi phạm của người khai hải quan. Cơ quan hải quan có trách nhiệm tuyên truyền, hướng dẫn, hỗ trợ người khai hải quan trong quá trình thực hiện nghĩa vụ của mình, đồng thời giám sát chặt chẽ việc tuân thủ pháp luật của người khai hải quan. Thông qua công tác kiểm tra, GSHQ nhằm phát hiện, xử lý kịp thời những hành vi vi phạm pháp luật về hải quan của người khai hải quan, tạo thông thoáng cho hoạt động XNK và môi trường bình đẳng của mọi doanh nghiệp. Khóa luận: Hoàn thiện giám sát xuất khẩu tại cảng Đình Vũ

Thứ hai, trình độ dân trí và ý thức tuân thủ pháp luật về hải quan của người khai hải quan.

Ngày nay, trong xu thế hội nhập kinh tế thế giới, bùng nổ về công nghệ thông tin, kinh tế thế giới tăng trưởng mạnh mẽ dựa trên kinh tế tri thức và công nghệ cao, trình độ dân trí của người dân ngày càng được nâng cao. Khi người dân và cộng đồng doanh nghiệp thực sự hiểu sâu về pháp luật hải quan, có ý thức chấp hành pháp luật hải quan trong hoạt động XK, NK, quá cảnh hàng hoá thì hiệu quả của công tác QLNN về hải quan nói chung, công tác GSHQ nói riêng sẽ cao. Ngược lại, nếu người dân và cộng đồng doanh nghiệp không có thái độ không đồng tình, lên án đối với các hành vi buôn lậu, gian lận thương mại, trốn thuế, thậm chí thờ ơ sẽ dẫn đến tình trạng cố tình sai phạm pháp luật một cách phổ biến làm cho nhà nước bị thất thu thuế, sự cạnh tranh của các doanh nghiệp không công bằng, tình trạng môi trường, an sinh xã hội bị ảnh hưởng, công tác quản lý hải quan kém hiệu quả. Trình độ dân trí cao, sự hiểu biết pháp luật hải quan càng cao thì khả năng buôn lậu, gian lận thương mại, trốn thuế,… của người khai hải quan cũng ngày càng tinh vi và phức tạp hơn.

Thứ ba, sự hợp tác của các lực lượng tham gia vào quá trình GSHQ. Công tác GSHQ muốn thực hiện hiệu quả thì cần phải có sự phối hợp

rất nhiều lực lượng cùng tham gia cả trong và ngoài ngành như: Biên phòng, Công an, Quản lý thị trường, các cơ quan kiểm tra chuyên ngành như: Kiểm tra chất lượng, kiểm dịch động vật, kiểm dịch thực vật,… chính vì vậy công tác phối kết hợp giữa cơ quan hải quan với các ngành liên quan là hết sức quan trọng. Nếu công tác phối hợp chặt chẽ, đúng chức năng và quyền hạn thì làm giảm thời gian thông quan, phát hiện và xử lý kịp thời các hành vi vi phạm pháp luật về hải quan. Cơ chế quản lý nhà nước về giảm sát hải quan đòi hỏi sự hợp tác, sự phối hợp, trao đổi và cung cấp thông tin giữa các cơ quan quản lý nhà nước, tổ chức, doanh nghiệp và hệ thống ngân hàng.

Tóm tắt chương 1

Trong chương 1, căn cứ trên việc tìm hiểu thông tin từ các tài liệu tham khảo, từ hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, luận văn đã hệ thống hóa được các vấn đề liên quan đến GSHQ: Các khái niệm liên quan đến GSHQ; mục tiêu, nguyên tắc và quy trình GSHQ cũng như phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến công tác GSHQ.

Trên cơ sở vận dụng quy trình GSHQ, đề tài sẽ phân tích thực trạng công tác GSHQ tại Chi cục Hải quan cửa khẩu cảng Đình Vũ thuộc Cục Hải quan Hải Phòng. Khóa luận: Hoàn thiện giám sát xuất khẩu tại cảng Đình Vũ

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>> Khóa luận: Tổng quan về xuất nhập khẩu tại cảng Đình Vũ

One thought on “Khóa luận: Hoàn thiện giám sát xuất khẩu tại cảng Đình Vũ

  1. Pingback: Khóa luận: Giải pháp hoàn thiện giám sát tại cảng Đình Vũ

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464