Khóa luận: Thực trạng của mô hình tập đoàn ở Việt Nam

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Thực trạng của mô hình tập đoàn ở Việt Nam hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Khóa luận: Sự phát triển của mô hình tập đoàn ở Việt Nam – Thực trạng và hướng phát triển dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

3. Đánh giá chung

3.1 Những kết quả đạt được sau khi một số tập đoàn ra đời

Qua quá trình hoạt động của một số tập đoàn trong thời gian qua cho thấy, mô hình tập đoàn đã đạt được những kết quả nhất định, đóng góp lớn cho nền kinh tế, đồng thời là một phần công cụ để điều tiết vĩ mô hiệu quả. Các tập đoàn nhà nước với việc nắm giữ những ngành, lĩnh vực then chốt trong nền kinh tế luôn duy trì tăng trưởng cao so với khu vực doanh nghiệp Nhà nước nói riêng và toàn bộ nền kinh tế nói chung. Quy mô vốn tăng trưởng liên tục ở mức cao đã dần khắc phục một phần tình trạng thiếu vốn cố hữu và quy mô vốn nhỏ trong mô hình này. Các tập đoàn tư nhân cũng không phải là ngoại lệ, với sự tăng trưởng mạnh về nguồn vốn, tài sản, quy mô và danh tiếng đã cho thấy hiệu quả của mô hình tập đoàn và đóng góp được một phần không nhỏ vào ngân sách Nhà nước. Khóa luận: Thực trạng của mô hình tập đoàn ở Việt Nam

3.1.1 Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh tương đối khả quan

Từ khi ra đời các tập đoàn đã đạt được rất nhiều kết quả kinh doanh khả quan. Về quy mô vốn, các tổng công ty 91 với tiêu chí 1.000 tỷ đồng vốn pháp định áp dụng với tổng công ty 91 trong Quyết định 91/TTg thì đến năm 2005, chỉ duy nhất tổng công ty Cà phê Việt Nam không đạt tiêu chí về vốn nhưng nếu tính mức bình quân thì quy mô vốn mỗi tổng công ty khá lớn, đạt 25 nghìn tỷ đồng (năm 2005). Các doanh nghiệp tư nhân theo điều tra năm 2006 có đến 96,81% doanh nghiệp tư nhân có lao động dưới 300 người và vốn dưới 625 ngàn USD. Nhưng đến khi các tập đoàn ra đời, quy mô vốn đã tăng vượt bậc, chẳng hạn như Tập đoàn Dầu khí năm 2008 có tổng nguồn vốn lên tới mấy trăm ngàn tỷ đồng,

Các tập đoàn cũng đóng góp được khá nhiều cho nền kinh tế quốc gia. Năm 2008, khối 18 tập đoàn và tổng công ty Nhà nước đạt tổng doanh thu 753 ngàn tỷ đồng, đóng góp đến 40% GDP toàn quốc, lợi nhuận đạt 111 ngàn tỷ đồng, nộp ngân sách Nhà nước 150 ngàn tỷ đồng chiếm khoảng 37% tổng nộp ngân sách Nhà nước. Riêng Tập đoàn Dầu khí Việt Nam đã có doanh thu lên tới hơn 280 ngàn tỷ đồng, chiếm trên 20% GDP toàn quốc, nộp ngân sách đạt 121,8 ngàn tỷ đồng, chiếm trên 31% tổng thu ngân sách Nhà nước, kim ngạch xuất khẩu đạt 11,15 tỷ USD, chiếm trên 18% kim ngạch xuất khẩu cả nước. Các tập đoàn tư nhân cũng tăng trưởng khá nhanh, tốc độ tăng trưởng doanh thu, lợi nhuận cao dẫn đến nguồn nộp ngân sách cũng tăng cao lên.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>>  Viết Thuê Khóa Luận Tốt Nghiệp Ngành Kinh Tế

3.1.2 Hiệu quả kinh doanh của một số tập đoàn cũng khá cao: Khóa luận: Thực trạng của mô hình tập đoàn ở Việt Nam

Sức sản xuất của vốn của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam đạt 1,44 năm 2005; 1,23 vào năm 2006, tập đoàn Than khoáng sản là 0,92 năm 2006, các tập đoàn tư nhân thì lại càng cao, FPT năm 2005- 2008 sức sản xuất của vốn đều từ 2,5 đến 3,8. Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu cũng chứng minh một mức độ tăng trưởng khá tốt ở các tổng công ty tập đoàn Nhà nước cũng như tư nhân.

Bảng 2.11: Tỷ suất lợi nhuận /doanh thu năm 2005 – 2008

Bảng trên đây đã cho thấy tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu của khối tập đoàn tương đối cao. Đặc biệt VNPT tỷ suất trong 4 năm 2005 – 2008 đều ở mức gần 30%, cá biệt tập đoàn Vincom lên tới trên 50% trong 3 năm liền.

Nhìn chung, hiệu quả hoạt động của các tập đoàn ở mức cao so với khu vực doanh nghiệp khác, các chỉ số kinh tế đều thể hiện được kết quả kinh doanh khả quan cũng như sự tăng trưởng tích tụ và nỗ lực của bản thân mỗi tập đoàn.

3.1.3 Quy mô tăng trưởng rất nhiều so với trước khi thành lập

Trong Quyết định 91/TTg với tối thiểu 7 đơn vị thành viên thì đến thời điểm thành lập con số này đã là 46 – gấp hơn 6 lần và đến nay con số này vẫn đang tăng. Tập đoàn Dầu khí tại thời điểm thành lập năm 2006 có 27 đơn vị thành viên thì đến nay Tập đoàn đã có 5 tổng công ty và công ty con do công ty mẹ nắm giữ 100% vốn điều lệ; 14 tổng công ty, công ty do công ty mẹ nắm giữ trên 50% vốn điều lệ; 6 công ty liên kết do công ty mẹ nắm giữ dưới 50% vốn điều lệ, 4 đơn vị trực thuộc, đầu tư vào rất nhiều công ty liên doanh khác. Tập đoàn Điện lực khi thành lập có 49 đơn vị thành viên và đến giờ tăng lên thành 53 đơn vị thành viên. Đặc biệt Tập đoàn Vinanshin khi thành lập chỉ có 58 công ty con và liên kết thì đến năm 2008 con số này cũng đã tăng lên thành hơn 200. Các tập đoàn tư nhân thì từ những công ty đơn lẻ đã chia tách, mở rộng và phát triển thành Tập đoàn có số lượng thành viên tăng nhanh. Hiện tại tập đoàn FPT bao gồm 12 công ty thành viên, 3 công ty liên kết, 3 đơn vị trực thuộc còn tập đoàn Hòa Phát cũng có 11 đơn vị thành viên, con số này ở Kinh Đô là 14 công ty thành viên. Nhìn chung, các tập đoàn tư nhân quy mô còn nhỏ hơn các tập đoàn quốc doanh rât nhiều song sự tăng trưởng mở rộng vẫn luôn lan rộng, tạo tiền đề cho một sự tích tụ tập trung bền vững để phát triển tập đoàn.

3.1.4 Thu hút lực lượng lao động đông đảo Khóa luận: Thực trạng của mô hình tập đoàn ở Việt Nam

Với quy mô lớn, các tập đoàn cũng thu hút được lượng lao động rất lớn so với các loại hình doanh nghiệp khác trong nền kinh tế quốc dân. Năm 2005, tổng số lao động trong 18 tổng công ty 91 là 950.672 lao động, trung bình mỗi tổng công ty có gần 52.815 người, cao hơn số lao động bình quân của một số tập đoàn kinh tế của một số quốc gia trong khu vực. Đến năm 2008, lao động trong Tập đoàn Bưu chính Viễn thông là 81.700 người, Tập đoàn Điện lực là 85.432 người, Tập đoàn Công nghiệp Cao su là 88.600 lao động, đặc biệt tập đoàn Dệt May có gần 111 ngàn lao động. Các tập đoàn tư nhân cũng thu hút số lao động tương đối lớn: Tập đoàn FPT năm 2008 có số lao động 9.344 người, tập đoàn Hòa Phát gần 6000 người. Ngoài số lao động làm việc trực tiếp trong các khâu trong quá trình sản xuất kinh doanh, các tập đoàn còn thu hút được lực lượng lao động khổng lồ dưới nhiều hình thức khác nhau như khoản thời vụ, hợp đồng theo công việc, hợp đồng theo sản phẩm. Nếu như quy mô vốn và tài sản trong các tập đoàn tăng nhanh thì số lượng lao động có xu hướng ổn định. Điều này cho thấy đã có sự chuyển dịch mạnh mẽ giữa các yếu tố đầu vào trong nội bộ tập đoàn, theo đó, yếu tố vốn ngày càng có vị trí quan trọng, cùng với nó là các yếu tố như trình độ công nghệ, trình độ quản lý.

3.1.5 Về đóng góp cho nền kinh tế:

Một số tập đoàn kinh tế đã tạo được những cơ sở ban đầu để phát triển theo mô hình tập đoàn kinh tế và đáp ứng được nhu cầu cung cấp sản phẩm cho quốc gia. Tập đoàn Điện lực cung cấp cho nền kinh tế 94% sản lượng với hệ thống phân phối tới 100% các huyện trên toàn quốc; Tập đoàn Than và khoáng sản cung cấp trên 97% tổng lượng than tiêu thụ trong nước, góp phần đảm bảo an ninh năng lượng; Còn đối với các tập đoàn tư nhân, tuy không được hưởng những sự ủng hộ lớn lao hay những độc quyền kinh doanh ban tặng từ Nhà nước song trình độ tích tụ tập trung sản xuất cũng khá cao. Khá nhiều doanh nghiệp tư nhân nắm giữ tỷ trọng thị phần lớn trong các ngành kinh doanh, sản xuất, dịch vụ tạo nên thế và lực giúp cho tập đoàn tư nhân hình thành và cạnh tranh với các doanh nghiệp trên thương trường trong nước cũng như quốc tế. Tập đoàn Hòa Phát với công ty ống thép Hòa Phát đã khẳng định được vị thế số 1 về sản xuất và tiêu thụ ống thép tại Việt Nam. Năm 2007, Hòa Phát chiếm giữ đến 40% thị phần sản phẩm ống thép mạ kẽm và 18% thị phần ống thép đen. Các thương hiệu khác của Hòa Phát như điện lạnh, nội thất, máy xây dựng cũng đều giữ vị trí đứng đầu hoặc Top 5 thương hiệu dẫn đầu thị trường. Tập đoàn FPT với công ty con FPT Telecom chiếm 22% thị phần tên miền “.vn”, công ty phân phối FPT chiếm đến 90% thị phần điện thoại tại Việt Nam. Ngoài ra không chỉ chiếm thị phần gần như tuyệt đối ở thị trường nội địa, các tập đoàn nước ta còn dẫn đầu trong kim ngạch xuất khẩu, đặc biệt các tập đoàn quốc doanh. Năm 2008, kim ngạch xuất khẩu dầu thô của Tập đoàn Dầu khí đạt 11,15 tỷ USD, Tập đoàn Dệt may đạt 9,12 tỷ USD. Ngoài ra, các tập đoàn Việt Nam còn trở thành cầu nối, là đối tác để thu hút các tập đoàn kinh tế lớn đầu tư vào Việt Nam.

Như vậy, hình thành và phát triển các tập đoàn kinh tế ở Việt Nam đã có những cơ sở mầm mống, tiền đề và kết quả nhất định. Tuy nhiên, ngoài môi trường pháp lý và môi trường kinh doanh chung, các yếu tố bên trong của các tập đoàn có khoảng cách đáng kể. Ở một số tập đoàn như FPT, Hòa Phát, Điện lực, Dầu khí, Bưu chính, Hàng không…đã hội tụ cơ bản một số yếu tố ban đầu thì ở một số tập đoàn, tổng công ty, doanh nghiệp tư nhân khác, các yếu tố đó mới đang định hình hoặc chưa xuất hiện. Vấn đề không nằm ở tên gọi hay quyết định hành chính mà ở thực lực, ở sức mạnh nội tại, ở khả năng cạnh tranh và năng lực điều hành, ở thương hiệu và chất lượng sản phẩm…nhằm tạo ra lợi nhuân lớn nhất và từng bước xây dựng các tập đoàn kinh tế mạnh ở Việt Nam.

3.2 Một số hạn chế Khóa luận: Thực trạng của mô hình tập đoàn ở Việt Nam

Bên cạnh một số kết quả ban đầu, sự phát triển theo mô hình tập đoàn kinh tế của các doanh nghiệp còn gặp khá nhiều trở ngại, khó khăn và tồn tại không ít hạn chế. Hàng loạt các thách thức đặt ra cho nền kinh tế nước ta trong quá trình hình thành và phát triển tập đoàn.

Thứ nhất, các tập đoàn đầu tư quá dàn trải và nhiều vào các lĩnh vực rủi ro trong khi xao lãng các ngành mũi nhọn.

Kinh nghiệm của các tập đoàn lớn trên thế giới cho thấy đa dạng hóa danh mục đầu tư là điều cần thiết giúp doanh nghiệp tận dụng tối đa nguồn vốn sẵn có của mình. Tuy nhiên, hiện nay các tập đoàn nước ta lại chỉ chạy đua theo phong trào đa dạng hóa này mà không chú tâm đúng mức vào việc phát triển các ngành nghề mũi nhọn, cốt lõi của tập đoàn. Theo công bố của Bộ tài chính thì hiện tại có 13 Tập đoàn và tổng công ty đầu tư vào các quỹ chứng khoán và quỹ đầu tư tài chính với tổng giá trị đầu tư 1.061 tỉ đồng ; 19 tập đoàn , tổng công ty góp vốn thành lập Ngân hàng thương mại với tổng giá trị 4.426 tỷ đồng ; 13 tập đoàn, tổng công ty gớp vốn thành lập 15 công ty chứng khoán với tổng giá trị 420 tỷ đồng và 18 tập đoàn , tổng công ty nhà nước gớp vốn đầu tư vào bất động sản với tổng giá trị 1.463 tỷ đồng. Tổng số vốn kể trên (7.370 tỉ đồng) đã chiếm 2,16 % vốn chủ sở hữu và 0,92 % tổng giá trị tài sản doanh nghiệp 14. Theo số liệu năm 2007, các tập đoàn, tổng công ty nhà nước đầu tư vào các công ty con là trên 57.078 tỷ đồng. Các công ty liên kết là trên 34.482 tỷ đồng và đầu tư dài hạn khác trên 33.545 tỷ đồng. Như vậy số vốn được coi là “đầu tư mạo hiểm” trên tuy chỉ tỷ lệ chưa cao lắm, nhưng nó gây ra nhiều sự việc bất cập ví dụ: việc đầu cơ bất động sản, đầu cơ chứng khoán…

Thêm nữa, với việc đầu tư đa dạng hóa thái quá như hiện nay các tập đoàn sẽ bị phân tán nguồn lực, không đủ sức, năng lực phát triển cho lĩnh vực nòng cốt của mình. Chẳng hạn như năm 2007, Tập đoàn EVN mặc dù chỉ đầu tư 3.590 tỷ đồng vào lĩnh vực chứng khoán, ngân hàng, bảo hiểm, bất động sản…và chỉ chiếm 7,2% tổng vốn đầu tư nhưng số tiền đầu tư ngoài ngành này đủ để EVN xây một nhà máy điện 50-60 MW 15 trong khi tình trạng thiếu điện, tăng giá điện để bù lỗ vẫn xảy ra thường xuyên. Tình trạng này cũng xảy ra tương tự với các Tập đoàn khác như Dầu khí, năm 2009 bị phản ánh là không cung cấp đủ nhu cầu khí phục vụ cho các nhà máy điện, Tập đoàn Than- Khoáng sản thì vẫn còn để tình trạng khai thác và xuất khẩu than trái phép…Tất cả những điều này đều chứng minh sự bất ổn trong việc đầu tư dàn trải ở các tập đoàn kinh tế hiện nay. Khóa luận: Thực trạng của mô hình tập đoàn ở Việt Nam

Theo báo cáo của UNDP – tổ chức phát triển liên hợp quốc khẳng định: trong “Top 200” của Việt Nam thì có nhiều công ty, tập đoàn lớn nhất của Việt Nam đã và đang vận dụng chiến lược đầu cơ bất động sản và chứng khoán – một cách kinh doanh có lợi trước mặt nhưng cũng tiềm tàng nhiều rủi ro. Các tập đoàn này ít chú tâm đến việc trở nên cạnh tranh trên thị trường quốc tế mà thay vào đó lại đua nhau tìm kiếm lợi nhuận tức thời trong khu vực bất động sản và tài chính. Chẳng hạn như tập đoàn PetroVietNam, Vinashin, EVN, Bảo Việt và FPT đang góp vốn, thành lập và đoạt quyền kiểm soát ở một số ngân hàng, công ty chứng khoán; sau đó các tập đoàn này sẽ sử dụng ngân hàng để tài trợ cho các kế hoạch mở rộng lãnh địa của mình. Nếu như không có hệ thống kiểm soát đủ mạnh và khả năng phân tán rủi ro hiệu quả thì chắc chắn cấu trúc này sẽ dẫn đến những khoản vay và đầu tư quá sức của các thành viên tập đoàn, từ đó có khả năng gây ra một cuộc khủng hoảng tín dụng mới. Sự sụp đổ của các Keiretsu của Nhật Bản và Chaebol của Hàn Quốc và cuộc khủng hoảng tài chính Đông Á, Đông Nam Á năm 1997 là một minh chứng hùng hồn cho điều này.

Tóm lại: Việc đầu tư, sử dụng vốn của các tập đoàn kinh tế nhà nước hiện nay là kém hiệu quả, đầy nguy hiểm và không đem lại được nhiều lợi ích cho nền kinh tế.

Thứ hai, sự minh bạch về sở hữu chưa được giải quyết thấu đáo.

Trong khi các tập đoàn tư nhân, đã và đang dần dần cổ phần hóa hoàn toàn các công ty thành viên trong tập đoàn, chịu sự giám sát của hàng ngàn chủ sở hữu – cổ đông thì ở các tập đoàn Nhà nước, sự minh bạch về sở hữu là một vấn đề tồn tại ngay từ khi tập đoàn mới hình thành. Vốn trong các tập đoàn vốn của Nhà nước, thuộc sở hữu toàn dân. Trong mô hình tập đoàn quốc doanh, Tổng giám đốc, HĐQT là đại diện chủ sở hữu, được quyền chi tiêu (mặc dù có giới hạn) số tiền không phải do họ đầu tư. Đây chính là nguyên nhân dẫ đến tình trạng tham nhũng, lãng phí trong quản lý hoặc kém hiệu quả trong đầu tư. Hơn nữa, quan hệ phức tạp về mặt sở hữu trong các tập đoàn quốc doanh cũng dẫn đến cơ chế trách nhiệm cũng chưa được phân định rõ ràng, kể cả ở tập đoàn và các cơ quan quản lý Nhà nước. Trong bối cảnh đó Thủ tướng Chính phủ phải giải quyết nhiều vấn đề liên quan đến các tập đoàn kinh tế như bổ nhiệm HĐQT, chấp thuận để HĐQT thực hiện một số công việc như ký hợp đồng bổ nhiệm, miễn nhiệm với Tổng giám đốc, phê duyệt mục tiêu, chiến lược…

Thứ ba, trình độ tích tụ, tập trung vốn chưa cao.

Tốc độ tăng trưởng quy mô vốn ở các tập đoàn quốc doanh là khá cao nhưng không phải thông qua khả năng tích tụ tập trung vốn hoặc huy động qua thị trường chứng khoán như các tập đoàn tư nhân hay các tập đoàn trên thế giới từng làm mà được sự đầu tư mạnh từ Nhà nước. Do đó, rất khó có thể đánh giá chất lượng và tính bền vững của tốc độ tăng trưởng này. Qua quá trình phát triển của các tập đoàn kinh tế ở Việt Nam cho thấy chỉ có 4 tổng công ty 91 có vốn tự bổ sung năm 2005 đạt trên 1 nghìn tỷ đồng, và tỷ trọng vốn bổ sung của 4 tổng công ty này cũng chiếm đên 76% tổng vốn tự bổ sung của 18 tổng công ty 91. Mặt khác, nếu so sánh vốn tự bổ sung này với tổng nguồn vốn sẽ thấy tỷ trọng vốn tự bổ sung là rất nhỏ so với tổng nguồn vốn, chỉ vài phần trăm. Ngoài ra, những hạn chế về cơ cấu sở hữu gây không ít khó khăn cho việc huy động vốn trên thị trường chứng khoán, không tìm được các nhà đầu tư chiến lược. Theo lộ trình đã được thủ tướng phê duyệt, từ năm 2008 đến năm 2010 sẽ có 7 tổng công ty 91 (6 tổng công ty và 1 tập đoàn) hoàn thành cổ phần hóa: Năm 2008 tiến hành cổ phần hóa Tập đoàn Dệt – May và Tổng công ty Hàng không; năm 2009 thực hiện ở Giấy, Thép, Lương thực miền Bắc; năm 2010 là các tổng công ty Hóa chất và Xi măng. Như vây, những tổng công ty có tên trong danh sách có thể chuẩn bị phương án huy động vốn qua kênh quan trọng này từ nay đến khi cổ phiếu chính thức lên sàn, số còn lại sẽ phải tiếp tục chờ các quyết định liên quan.

Thứ tư, quản trị doanh nghiệp trong các tập đoàn Nhà nước còn lỏng lẻo.

Nhà nước với tư cách chủ sở hữu tập đoàn Nhà nước nhưng không có công cụ giám sát tài sản của mình. Trong một số trường hợp, tài sản nằm ở đâu, có bao nhiêu, tăng hay giảm… thì chủ sở hữu hay người đại diện chủ sở hữu vẫn không biết. Quyền của chủ sở hữu, trách nhiệm của người quản lý đã từng bước được xác lập nhưng vẫn thiếu một hệ thống thông tin trong suốt. Mặc dù, có nhiều cơ quan đại diện chủ sở hữu, nhiều cơ quan quản lý Nhà nước tham gia quản lý phần vốn của Nhà nước trong tổng công ty, tập đoàn kinh tế nhưng đó không phải là mô hình quản trị hiện đại và chuẩn mực. Quản trị lỏng lẻo một mặt không tạo áp lực cần thiết đối với các tổng công ty, tập đoàn kinh tế, mặt khác là nguyên nhân cơ bản dẫn đến tình trạng tham nhũng, lãng phí, lạm dụng quyền lực để trục lợi cá nhân…

Thứ năm là kiểm soát nội bộ chưa được thiết lập theo các nguyên tắc hiện đại. Sự phân công, phân định giữa các phòng ban chức năng chưa thật rõ ràng, vị trí của mỗi cá nhân chưa gắn chặt với trách nhiệm trên một nền tảng quản trị theo khoa học. Kiểm soát nội bộ tốt sẽ loại trừ được tham ô trong công ty, tăng tính minh bạch trong công ty và trách nhiệm của mỗi cá nhân (trong các tập đoàn lớn trên thế giới, các cá nhân không thể tham ô vì họ có cơ chế kiểm soát nội bộ khoa học). Thiếu một cơ chế kiểm soát nội bộ chặt chẽ, khoa học ở các công ty thành viên, các tập đoàn kinh tế ở Việt Nam dẫn đến tình trạng thiếu thống nhất, tạo những lỗ hổng trong quản lý, là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến những sai phạm như của Tập đoàn Dầu khí thời gian qua.

Thứ sáu, trình độ quản lý, trình độ công nghệ còn yếu kém

Theo Tiến sỹ Lê Đăng Doanh “Tình trạng chung là quản lý luộm thuộm, tùy hứng, không có tính chuyên nghiệp, không khoa học và cũng chẳng theo một chiến lược cụ thể nào”. Như vậy, các tập đoàn kinh tế Việt Nam thiếu một chiến lược phát triển bền vững, sử dụng vũ khí cạnh tranh chủ yếu là độc quyền và chính sách giá mà không dựa trên nền tảng khoa học công nghệ và trình độ quản lý là một trong những nguyên nhân từ nội tại. Khóa luận: Thực trạng của mô hình tập đoàn ở Việt Nam

Về trình độ công nghệ, chỉ một số rất ít các tập đoàn mà chủ yếu là tập đoàn tư nhân đã tiếp cận được công nghệ tiến tiến, nguồn nhân lực cao cấp và có cách quản lý khoa học còn lại hầu hết các tập đoàn đều quản lý thiếu tính chuyên nghiệp. Kết quả đạt được của các tập đoàn kinh tế giai đoạn vừa qua một mặt là thuận lợi từ một thị trường mới chưa được khai phá, mặt khác chúng kiểm soát hầu hết các ngành

Sự phát triển của mô hình Tập đoàn ở Việt Nam – Thực trạng và hướng phát triển công nghiệp và dịch vụ quan trọng cho hoạt động khoa học công nghệ chứ những tập đoàn này chưa đầu tư tương xứng và phát triển nhân lực của mình.

Thứ bẩy, chính sách nhân sự chưa đảm bảo minh bạch cần thiết

Chính sách nhân sự chưa đảm bảo sự minh bạch cần thiết, nhất là trong việc lựa chọn các cán bộ quản lý cấp cao. Hiện chưa có những quy định về tiêu chí cụ thể với việc lựa chọn nhân sự quản lý cấp cao trong các tập đoàn kinh tế. Các tập đoàn kinh tế Nhà nước, mặc dù quy trình thẩm định, đánh giá, đề xuất quản lý, chủ sở hữu trong tập đoàn đã được giao cho cán bộ liên quan đảm nhiệm trước khi trình thủ tướng nhưng các bước còn thiếu công khai nên trong nhiều trường hợp chưa lựa chọn được những thành viên ưu tú nhất. Ở một số quốc gia, quy trình bổ nhiệm thành viên đại diện chủ sở hữu quản lý phần vốn nhà nước cũng do Chính phủ thực hiện nhưng đều dựa trên nguyên tắc khách quan và minh bạch dựa trên trình độ chuyên môn và bằng cấp. Trung Quốc cũng có những quy định bắt buộc các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán phải công bố thủ tục đề cử giám đốc cùng với những quy tắc quản trị doanh nghiệp, đồng thời có chế độ thưởng phạt rõ ràng đối với người quản lý. Còn ở các tập đoàn tư nhân, do hầu hết các tập đoàn này mới được thành lập trong vòng 10 năm trở lại đây và vận hành bằng phương thức gia đình “tin cậy lẫn nhau” chứ chưa thực sự chuyên nghiệp. Do đó, khi quy mô phát triển lớn hơn thì việc quản lý theo cách cũ không còn phù hợp mà thời gian phát triển lại ngắn nên kinh nghiệm quản lý thiếu…dẫn đến hầu hết đều rơi vào tình trạng khủng hoảng nhân lực, đặc biệt là nhân sự cao cấp mặc dù đã có kế hoạch chuẩn bị phần nào. Trong khi đó, xu hướng chung của các tập đoàn kinh tế trên thế giới là lựa chọn các nhà quản lý chuyên nghiệp, các giám đốc điều hành nổi tiếng và các tập đoàn kinh tế ở Việt Nam lại chưa thực hiện được biện pháp này.

Thứ tám, các quan hệ liên kết, hợp tác, chuyên môn hóa của các tập đoàn Nhà nước còn bộc lộ nhiều bất cập.

Quan hệ giữa các thành viên trong nội bộ tổng công ty trên các mặt như đầu tư, phân công chuyên môn hóa, thị trường…thiếu chặt chẽ, chưa mang đầy đủ những đặc điểm của liên kết giữa các thành viên trong tập đoàn. Để khắc phục tình trạng

Sự phát triển của mô hình Tập đoàn ở Việt Nam – Thực trạng và hướng phát triển nêu trên, trong các tập đoàn quốc doanh cơ chế đầu tư vốn phải được quy định rõ ràng hơn thay vì cơ chế giao vốn như trước đây nhằm nâng cao vai trò và trách nhiệm của công ty mẹ – chủ đầu tư. Tuy nhiên, quyền quyết định của công ty mẹ đến đâu đối với loại hình 100% và trên 50% vốn Nhà nước vẫn chưa được làm rõ. Cụ thể, nếu vốn nhà nước hiện đang nằm trong các công ty này, công ty mẹ tập đoàn liệu có thể điều chuyển vốn (rút vốn) để đầu tư sang công ty khác, lĩnh vực khác nếu không thấy hiệu quả được không?…

3.3 Nguyên nhân của những hạn chế Khóa luận: Thực trạng của mô hình tập đoàn ở Việt Nam

Xét một cách tổng thể, nguyên nhân của những hạn chế nêu trên bao gồm cả khách quan và chủ quan, cả yếu tố bên trong và bên ngoài. Có thể phân nhóm nguyên nhân thành 3 nhóm guyên nhân từ doanh nghiệp, nguyên nhân từ Nhà nước và nguyên nhân từ môi trường kinh doanh.

3.3.1 Nguyên nhân nội tại doanh nghiệp

Thứ nhất, các tập đoàn thiếu một chiến lược kinh doanh mang tính dài hạn

Kinh nghiệm quản lý của các tập đoàn lớn trên thế giới cả tư nhân và cả một số tập đoàn có vốn đầu tư Nhà nước như Temasek (Singapore) hay Tập đoàn Dầu khí Trung Quốc cho thấy tầm nhìn, chiến lược của các nhà quản lý (Tổng giám đốc và HĐQT) có ảnh hưởng quyết định đến thành công trong kinh doanh. Với quy mô vốn lớn, nắm giữ nguồn tài nguyên quan trọng của quốc gia, lãnh đạo các tập đoàn quốc doanh chưa xứng “tầm” với trọng trách được giao. Bên cạnh đó, tâm lý sợ trách nhiệm, đùn đẩy trách nhiệm cho tập thể hoặc đẩy lên cấp trên đã làm mất tính quyết định, đầu tư các phương án an toàn thay vì đầu tư mạo hiểm, thiếu đi cơ hội chớp thời cơ – một trong các yếu tố quan trọng để tạo nên thành công. Phương án kinh doanh và quyết định đầu tư (dự án lớn, đầu tư ra nước ngoài) của các tổng công ty, tập đoàn kinh tế phải trình lên chủ sở hữu, trong nhiều trường hợp đã làm mất cơ hội kinh doanh, thiệt hại cho doanh nghiệp.

Thứ hai, vai trò cả tập đoàn không được phát huy, trách nhiệm của các công ty thành viên không hoàn thành.

Nếu như trong cơ cấu công ty mẹ – công ty con, vai trò và trách nhiệm được phân định rạch ròi thì mô hình tập đoàn Nhà nước ở Việt Nam chưa thực hiện triệt để. Khả năng điều tiết vốn của tổng công ty không thực hiện được, vai trò của tổng công ty trong tìm kiếm thị trường, phát triển công nghệ…cho các công ty thành viên còn mờ nhạt, các công ty này cũng không thực hiện trách nhiệm với tổng công ty ngoài các khoản trích nộp quỹ tập trung và những đóng góp theo quy định. Khóa luận: Thực trạng của mô hình tập đoàn ở Việt Nam

Thứ ba là chưa có tiêu chuẩn về chất lượng của đội ngũ cán bộ quản lý cấp cao.

Cơ chế bổ nhiệm hiện nay tuy khá chặt chẽ nhưng quy trình bổ nhiệm gần giống như bổ nhiệm công chức, chưa phải dựa trên những nguyên tắc lựa chọn doanh nhân. Ở các tập đoàn Nhà nước, chủ sở hữu giao cho đội ngũ quản lý thay mặt nhà nước quản lý lượng vốn lớn nhưng thiếu cơ chế giám sát chặt chẽ và trách nhiệm giải trình. Còn ở các tập đoàn tư nhân vẫn còn một số hiện tượng bổ nhiệm quản lý theo quan hệ thân quen và các áp lực về nguồn vốn chứ không phải theo năng lực. Nguyên nhân này dẫn đến những hiện tượng móc ngoặc, thông đồng để chuyển vốn, tài sản nhà nước về tay cá nhân thông qua các hợp đồng mang tính thân hữu như trường hợp công ty Linkton và Điện lực TP Hồ Chí Minh… Chỉ có một số rất ít các tập đoàn có các nhà quản trị cấp cao nước ngoài tham gia trong bộ máy lãnh đạo còn hầu hết là lao động trong nước, trình độ nhân lực còn hạn chế, chưa thực sự tương ứng với quy mô và tầm vóc của tập đoàn. Tỷ lệ lao động đại học và trên đại học trong các tập đoàn còn quá ít. Có thể nhìn vào bảng 2.12, 2.13 dưới đây ta sẽ thấy sự chênh lệch đáng kể trong trình độ cơ cấu lao động của các tập đoàn hiện nay.

Bảng 2.12: Cơ cấu nguồn nhân lực của Vinashin

Thứ tư, chính sách huy động vốn thông qua thị trường chứng khoán cũng chưa được các tập đoàn, đặc biệt tập đoàn Nhà nước thật sự quan tâm. Theo nhận định của nhiều nhà nghiên cứu, công ty càng lớn thì cổ phần hóa càng khó và chậm. Cả Vinaphone và MobiFone đều đã hoàn tất thủ tục nhưng là đơn vị hạch toán phụ thuộc nên phải chờ Tập đoàn Bưu chính viễn thông quyết định. Hệ thống ngân hàng thương mại quốc doanh phải chờ đến ý kiến của Thủ tướng mới tiếp tục tìm kiếm tư vấn quốc tế để định giá. Mặt dù Chính phủ đã phê duyệt danh sách các công ty Nhà nước phải thực hiện cổ phần hóa giai đoạn 2007 – 2010 nhưng có không ít trường hợp xin hoãn lại kế hoạch cổ phần hóa này do không kịp tiến độ như Tập đoàn Dệt may xin lùi hạn cổ phần hóa từ năm 2008 sang năm 2009. Quy chế nhân sự trong

Sự phát triển của mô hình Tập đoàn ở Việt Nam – Thực trạng và hướng phát triển các công ty tiến hành cổ phần ít thay đổi, có chăng cũng là hoán vị các chức danh Chủ tịch HĐQT, Giám đốc, Phó giám đốc…Thậm chí, nhiều công ty cổ phần còn xác định, lựa chọn các nhà đầu tư chiến lược là các thành viên trong nội bộ tổng công ty. Tính đến tháng 11/2006, trong số 2935 doanh nghiệp cổ phần hóa chỉ có 20 công ty có cổ đông là nhà đầu tư nước ngoài (tỷ trọng chưa đến 1%).

3.3.2 Nguyên nhân từ phía Nhà nước Khóa luận: Thực trạng của mô hình tập đoàn ở Việt Nam

Đối với mô hình tổng công ty, tập đoàn kinh tế, Nhà nước vừa giữ vai trò chủ sở hữu, còn đối với mô hình tập đoàn tư nhân Nhà nước đóng vai trò tạo lập môi trường cho các thực thể kinh doanh hoạt động, trong đó có tập đoàn kinh tế. Do vậy, một phần nguyên nhân của những yếu kém, hạn chế của các tập đoàn kinh tế đều có sự góp mặt của Nhà nước.

Thứ nhất, cơ chế quản lý hành chính thiếu minh bạch. Với vai trò chủ sở hữu tập đoàn kinh tế Nhà nước, Nhà nước tìm kiếm một cơ chế đại diện (do Nhà nước ủy quyền, thực hiện các công việc Nhà nước giao phó). Cũng chính cơ chế đại diện này là nguyên nhân của những bất cập phát sinh trong tập đoàn quốc doanh. Trong nhiều trường hợp, đại diện không đủ năng lực và phẩm chất, trong một số trường hợp khác, đại diện mắc sai lầm trong quản lý nhưng không thể quy trách nhiệm đến cùng cho những người liên quan; một trường hợp khác đại diện không phát huy hết tài năng, phẩm chất trong các quyết định quan trọng vì dù sao cũng chỉ là “đại diện”. Quan hệ giữa chủ sở hữu và người quản lý chưa rõ, theo Tiến sỹ Trần Tiến Cường nhận xét “…thực tế ở nước ta hiện nay vẫn là chia sẻ trách nhiệm. Khi xảy ra sự cố, người điều hành doanh nghiệp thường đẩy trách nhiệm lên trên. Như vậy, người trực tiếp điều hành vừa không đủ quyền tự chủ lại không phải chịu trách nhiệm về kết quả điều hành của mình dẫn đến tình trạng cha chung không ai khóc”

Quá ưu ái các tập đoàn Nhà nước. Với vai trò là cơ quan quản lý tối cao nhất, Nhà nước nỗ lực xây dựng môi trường bình đẳng cho các loại hình kinh doanh trong một sân chơi chung nhưng sự ưu ái với các công ty do mình sở hữu mà tập đoàn Nhà nước là một trong số đó hiện vẫn tồn tại bằng nhiều hình thức, từ cho vay, đầu tư vốn, trách nhiệm xã hội…đến những biện pháp thiếu kiên quyết trong xử phạt.

Điều này sẽ gây ra những rào cản lớn trong phát triển mô hình tập đoàn nói riêng và phát triển kinh tế nói chung. Một trong các ưu ái đó là nguồn vốn tín dụng vẫn được ưu tiên cho khu vực quốc doanh, trong đó chủ yếu là các tập đoàn, tổng công ty Nhà nước. Với cơ chế tín dụng thiếu minh bạch, hiệu quả hoạt động thực sự của các tập đoàn quốc doanh rất khó đánh giá bởi lợi nhuận từ hoạt động có thể do những ưu đãi từ việc tiếp cận nguồn vốn vay từ ngân hàng. Nếu như năm 2000, số vay giành cho các các doanh nghiệp Nhà nước chiếm 30% tổng vốn vay ở Việt Nam thì con số này năm 2004 là 50%. Số liệu đến tháng 6 năm 2008 cho thấy, trong số 70 tập đoàn, tổng công ty thì có 30 đơn vị có hệ số nợ phải trả trên vốn vượt trên 3 lần, thậm trí nhiều doanh nghiệp vượt trên 20 lần như Tổng công ty Xây dựng công trình giao thông 5 gấp 42 lần, Tổng công ty Xây dựng công trình giao thông 1 gấp 22,5 lần, Tổng công ty Lắp máy Việt Nam gấp 21,5 lần, Tập đoàn Vinashin gấp 21,8 lần …16 Chỉ số này quá cao so với mức an toàn 3 cho phép, thậm chí còn cao hơn cả tỷ lệ trong các tập đoàn Chaebol của Hàn Quốc đã bị phá sản hồi khủng hoảng năm 199717. Trong khi đó các tập đoàn tư nhân cùng với khu vực có vốn đầu tư nước ngoài là hai khu vực kinh tế năng động nhất lại gặp rất nhiều khó khăn trong việc huy động vốn từ các ngân hàng. Khóa luận: Thực trạng của mô hình tập đoàn ở Việt Nam

Theo tài liệu nghiên cứu Đánh giá khu vực kinh tế tư nhân của Ngân hàng phát triển Á châu nhận xét rằng “Trong khi vẫn chưa đủ dữ kiện để thẩm định vai trò của các doanh nghiệp Nhà nước đã ảnh hưởng đến mức độ nào đối với những hạn chế trong phát triển của các doanh nghiệp tư nhân, song sự khống chế của các doanh nghiệp Nhà nước trong một số lĩnh vực nhất định rõ ràng đã ngăn cản không cho sự hình thành của các doanh nghiệp tư nhân đủ lớn mạnh để cạnh tranh.” Trường hợp điển hình là trước đây, doanh nghiệp sản xuất phần mềm FPT đã được Nhà nước tập trung đầu tư nên có khả năng thu hút nguồn nhân lực chuyên môn cao, có thể gây khó khăn cho các doanh nghiệp tư nhân khác trong việc cạnh tranh trong các dự án lớn. Ngoài ra còn có rất nhiều tập đoàn Nhà nước như Tập đoàn Điện lực, Tập đoàn Bưu chính viễn thông được hưởng rất nhiều ưu đãi độc quyền của Nhà nước đã triệt tiêu hết năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp, tập đoàn khác.

Yêu cầu công khai hóa trong hoạt động của công ty thành viên, tập đoàn kinh tế chưa được thể chế hóa và trở thành yêu cầu bắt buộc. Nhìn chung nếu luật pháp không bắt buộc thì các công ty có xu hướng không muốn công khai hóa, thông tin càng xấu thì lại càng không muốn công khai. Hầu hết các quốc gia phát triển, luật pháp yêu cầu phải công bố các thông tin cơ bản về công ty như doanh thu, lợi nhuận, lao động, giá trị tài sản, giá trị thị trường…để các nhà đầu tư định giá đúng thực trạng hoạt động để có thể đưa ra quyết định đầu tư hợp lý. Tuy nhiên, các doanh nghiệp, tập đoàn kinh tế ở Việt Nam đặc biệt tập đoàn Nhà nước chưa bị bắt buộc công khai hóa và chưa phải chịu trách nhiệm với tính chính xác của thông tin nên rất khó thực hiện cơ chế giám sát của cộng đồng, của các nhà đầu tư. Các số liệu tài chính của những tập đoàn Nhà nước này cũng thường xuyên không kiểm chứng được tính chính xác.

Luật doanh nghiệp Nhà nước quy định nhóm những người có liên quan với giám đốc chỉ bao gồm bố, mẹ, vợ, chồng, con cái, anh chị em ruột nhưng trên thực tế, mối quan hệ này đa dạng và phức tạp hơn nhiều từ các cá nhân đảm nhiệm trong các cơ quan quản lý nhà nước đến lãnh đạo các doanh nghiệp liên quan, các cá nhân trong cơ quan đại diện chủ sở hữu…Trong một số trường hợp, các vi phạm không được xử lý nghiêm, mà vi phạm rõ ràng cũng phải chờ đến dư luận bất bình một thời gian dài mới thấy có phản hồi. Điều này càng làm cho các tập đoàn vi phạm lại càng vi phạm thêm nữa. Tóm lại, thiếu công khai, minh bạch ở các công ty, tập đoàn kinh tế là nguyên nhân sâu sa của tình trạng kém hiệu quản nhưng không bị phát hiện kịp thời…ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động của mô hình này.

Chức năng quản lý Nhà nước và quản lý kinh doanh ở các tập đoàn quốc doanh chưa tách bạch. Hiện nay, cơ quan Bộ hoặc Thủ tướng vẫn phải phê duyệt các quyết định quan trọng của các tổng công ty Nhà nước. Trong điều lệ của một số tập đoàn các kế hoạch dài hạn, tổ chức lại mô hình, phê duyệt dự án nhóm A, bổ nhiệm nhân sự cấp cao…vẫn phải trình Bộ hoặc Thủ tướng phê duyệt. Thực tế cho thấy, có trường hợp doanh nghiệp đầu tư không hiệu quả, song do Thủ tướng phê duyệt quyết định đầu tư nên Chính phủ khó yêu cầu lãnh đạo doanh nghiệp chịu trách nhiệm. Cơ chế chủ quan không những chưa được giải quyết dứt điểm mà còn phát triển sang một số lĩnh vực mới, chẳng hạn việc chuyển từ Bộ chủ quản sang Thủ tướng chủ quản đối với các tổng công ty 91. Ngoài ra tư tưởng nóng vội, chủ quan, đốt cháy giai đoạn hay quá nhấn mạnh đến quyết định hành chính xem nhẹ các quy luật khách quan…cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến những bất cập hiện nay.

Nhà nước chưa và chưa kiểm soát triệt để độc quyền. Tình trạng độc quyền của một số tổng công ty Nhà nước một mặt do nỗ lực mở rộng thị trường của chính những doanh nghiệp này, mặt khác do đặc thù ngành nghề mang tính độc quyền tự nhiên nhưng quan trọng hơn, vị thế có được chủ yếu do các chính sách của Nhà nước mang lại. Chẳng hạn Tập đoàn Bưu chính Viễn thông vừa kinh doanh dịch vụ, vừa quản lý đường trục dẫn đến những xung đột về lợi ích với các doanh nghiệp cùng ngành như vụ việc giữa tổng công ty Bưu chính Viễn thông Việt Nam (VNPT) và Tổng công ty Viễn thông Quân đội (Viettel) thời gian qua. Hơn nữa Nhà nước luôn hô hào khẩu hiệu hỗ trợ cho các doanh nghiệp tư nhân, tạo môi trường bình đẳng nhưng trong suốt một thời gian dài vừa qua không hề thấy bất cứ động thái nào được thực hiện.

3.3.3 Nguyên nhân từ môi trường kinh doanh Khóa luận: Thực trạng của mô hình tập đoàn ở Việt Nam

Bảng xếp hạng của Báo cáo môi trường kinh doanh năm 2008 cho thấy mặc dù Việt Nam đã phần nào cải thiện môi trường kinh doanh, tăng 13 hạng bậc so với năm trước, song vị trí trên thường trường quốc tế vẫn còn rất yếu thế: Singapore (hạng 1/178), Thái Lan (15), Malaysia (24), Trung Quốc (83), Việt Nam (91), Indonesia (123), Philippines (133).

Bảng 2.14 : Thứ hạng một số tiêu chí môi trường kinh doanh của Việt Nam năm 2008

Mặc dù môi trường kinh doanh của Việt Nam trong những năm gần đây được cải thiện đáng kể với hệ thống pháp luật liên tục được sửa đổi, bổ sung, xây dựng mới nhưng các loại thị trường phát triển vẫn chưa đồng bộ, nhất là thị truờng tài chính và thị trường vốn. Chính điều này là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến những yếu kém về trình độ tích tụ, tập trung và khả năng huy động vốn của các tập đoàn kinh tế. áp lực cạnh tranh quốc tế từ khi Việt Nam trở thành thành viên đầy đủ của WTO cũng là một trong những nguyên nhân của kết quả hoạt động chưa mạnh mẽ như hiện nay. Với bề dày kinh nghiệm, có lịch sử phát triển lâu dài, quản lý hiện đại và tiềm lực tài chính rất lớn, nếu cạnh tranh trong môi trường công bằng, các tập đoàn Việt Nam sẽ gặp phải không ít khó khăn khi cạnh tranh với các tập đoàn, doanh nghiệp nước ngoài.

Như vậy, mặc dù còn những hạn chế nhất định nhưng nhìn nhận một cách tổng thể trên các mặt quy mô, trình độ tích tụ vốn, cơ chế chính sách, các quan hệ liên kết, các vấn đề nội bộ…trong các tập đoàn kinh tế thí điểm, các tổng công ty 91 cho thấy, về cơ bản chúng đã đáp ứng được các yêu cầu của một tập đoàn kinh tế. Ngoài một số tập đoàn kinh tế thí điểm, các tổng công ty như Hàng không, Xi măng, Hàng Hải…đã tạo lập được những điều kiện ban đầu và có triển vọng phát triển thành tập đoàn thực thụ, có sức mạnh và năng lực cạnh tranh. Khóa luận: Thực trạng của mô hình tập đoàn ở Việt Nam 

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>> Khóa luận: Giải pháp phát triển mô hình tập đoàn ở Việt Nam

One thought on “Khóa luận: Thực trạng của mô hình tập đoàn ở Việt Nam

  1. Pingback: Khóa luận: Tổng quan về các tập đoàn kinh tế ở Việt Nam

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464