Khóa luận: Tổng quan về các tập đoàn kinh tế ở Việt Nam

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Tổng quan về các tập đoàn kinh tế ở Việt Nam hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Khóa luận: Sự phát triển của mô hình tập đoàn ở Việt Nam – Thực trạng và hướng phát triển dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

1. Giới thiệu tổng quan về lịch sử ra đời và sự phát triển của các tập đoàn kinh tế ở Việt Nam

Mô hình tập đoàn ở Việt Nam đã được hình thành, vận dụng triển khai từ nhiều thập kỷ qua theo điều kiện thực tế của Việt Nam. Khởi đầu là mô hình liên hiệp các xí nghiệp và tổng công ty với 2 chức năng vừa quản lý Nhà nước vừa kinh doanh. Theo đó, vào ngày 22 tháng 3 năm 1989 Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) đã ban hành Nghị định 27/HĐBT (hiện nay đã không còn hiệu lực mà thay băng Nghị định 199/CP) về điều lệ của các xí nghiệp liên hiệp quốc doanh. Thời kỳ sau đó, do hiệu quả và hoạt động thấp và sự phân tán trong sản xuất kinh doanh, ngày 7 tháng 3 năm 1994 Nhà nước thực hiện sắp xếp lại các liên hiệp xí nghiệp và các tổng công ty theo chủ trương mới với 2 quyết định: Quyết định số 90/TTg ngày 7/3/1994 của Thủ tướng Chính phủ về việc tiếp tục sắp xếp doanh nghiệp Nhà nước dẫn đến sự ra đời của các tổng công ty 90, 91; và quyết định số 91/TTg về thí điểm thành lập tập đoàn kinh tế trên cơ sở các tổng công ty Nhà nước có quy mô lớn tiềm lực mạnh (có ít nhất 7 doanh nghiệp thành viên, tổng số vốn ít nhất là 1.000 tỷ đồng). Theo đó Chính phủ đã thành lập 74 Tổng công ty 90 và 18 Tổng công ty 91, hoạt động trong hầu hết các ngành, lĩnh vực then chốt của nền kinh tế quốc dân. Sau hơn 10 năm hoạt động, các tổng công ty đã dần nổi lên sự khác nhau về khả năng phát triển và trình độ tổ chức. Trong nhóm các tổng công ty 90, 91 có một số tổng công ty đã thể hiện sự phát triển vững chắc, có triển vọng trở thành tập đoàn kinh tế. Khóa luận: Tổng quan về các tập đoàn kinh tế ở Việt Nam

Nhận thấy tiềm năng đó, Thủ tướng đã quyết định phê duyệt thành lập 8 tập đoàn kinh tế quốc doanh đầu tiên dựa trên những tổng công ty đó bao gồm: Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam (VNPT- Quyết định thành lập tập đoàn số 58/2005/QĐ-TTg ), Tập đoàn Than – Khoáng sản Việt Nam (Vinacomin- Quyết định thành lập tập đoàn số 345/2005/QĐ-TTg), Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN-Quyết định thành lập tập đoàn số 147/2006/QĐ-TTg), Tập đoàn Công nghiệp tàu thủy (Vinashin- Quyết định thành lập tập đoàn số 103/2006/QĐ-TTg), Tập đoàn Dệt may Việt Nam (Vinatex- Quyết định thành lập tập đoàn số 314/2005/QĐ-TTg), Tập đoàn Công nghiệp Cao su (VRG- Quyết định thành lập tập đoàn số 248/2006/QĐ-TTg ), Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (Petro Vietnam- Quyết định thành lập tập đoàn số 198/2006/QĐ-TTg) và Tập đoàn Tài chính – Bảo hiểm (Bảo Việt- Quyết định thành lập tập đoàn số 310/2005/QĐ-TTg)

Bảng 2.1: Quy mô các tập đoàn kinh tế Nhà nước tại thời điểm thành lập

Bên cạnh đó, trong khoảng 10 năm trở lại đây, các doanh nghiệp tư nhân cũng rầm rộ phát triển, tích tụ vốn và không ngừng tăng trưởng, mở rộng quy mô và hình thành nên các tập đoàn kinh tế tư nhâm như Tập đoàn FPT, Hòa Phát, Vincom, Kinh Đô, Phú Thái… Điều này tạo nên sự đa dạng trong các loại hình doanh nghiệp cho Việt Nam, đồng thời cho thấy Việt Nam đang đi từng bước đi đúng đắn trên con đường phát triển kinh tế.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>>  Dịch Vụ Viết Khóa Luận Tốt Nghiệp Ngành Kinh Tế

2. Thực trạng hoạt động và phát triển của tập đoàn kinh tế ở Việt Nam Khóa luận: Tổng quan về các tập đoàn kinh tế ở Việt Nam

2.1. Thực trạng sản xuất kinh doanh của một số tập đoàn Nhà nước và tư nhân

2.1.1 Tập đoàn Nhà nước

2.1.1.1 Về quy mô:

Các tập đoàn đều có quy mô lớn về số lượng đơn vị thành viên, vốn và tài sản, lao động, doanh thu.

Nhìn vào bảng 2.1 trên ta có thể thấy 8 tập đoàn tại thời điểm thành lập có số lượng đơn vị thành viên rất lớn, thấp nhất là Tập đoàn Dầu khí với 27 đơn vị thành viên, cao nhất là Tập đoàn Dệt May với 66 đơn vị thành viên, tính trung bình các tập đoàn Nhà nước có 46 đơn vị thành viên, một con số không hề nhỏ nếu so với các tập đoàn trên thế giới. Về tổng tài sản thì giữa các tập đoàn còn chênh lệch nhau khá nhiều, tập đoàn thấp nhất là Tập đoàn cao su với 8.528 tỷ đồng trong khi tập đoàn Điện lực lên tới 108.603 tỷ đồng. Tuy nhiên nếu so sánh với các tập đoàn ở những nước trên thế giới với tổng tài sản mấy trăm tỷ đô thì sẽ thấy một sự khập khiễng rõ ràng. Doanh thu và lao động của các tập đoàn cũng không nhỏ nếu so với các doanh nghiệp khác ở Việt Nam, trung bình là hơn 28 nghìn tỷ đồng với 64.149 người. Nói chung, quy mô của các tập đoàn Nhà nước tại thời điểm thành lập là tương đối cao song theo đánh giá của nhiều chuyên gia thì phần lớn các tập đoàn Nhà nước này chưa thực sự đủ lớn để công nhận là tập đoàn kinh tế.

2.1.1.2 Về quy mô vốn:

Về tổng nguồn vốn (Tổng nguồn vốn = Tổng tái sản = Vốn Nhà nước + Vốn tự bổ sung +Vốn khác + Nợ phải trả), các tập đoàn Nhà nước giai đoạn 2005-2007 có tốc độ tăng trưởng khá cao, quy mô tăng tương đối nhanh.

Bảng 2.2: Tăng trưởng quy mô vốn của các tập đoàn Nhà nước giai đoạn 2005-2007 (Đơn vị: tỷ đồng)

Nhìn vào bảng trên ta thấy, tổng nguồn vốn của các tập đoàn đều tăng khá nhiều, thấp nhất là Tập đoàn Bưu chính Viễn thông (VNPT) với mức tăng 0,65% từ 57.504 tỷ đồng năm 2005 lên 57.876 tỷ đồng năm 2007, cao nhất là Tập đoàn Dệt – May với mức tăng 404,93% từ 12.547 tỷ đồng năm 2005 lên 63.354 tỷ đồng vào năm 2007. Ngoài ra còn không ít tập đoàn có mức tăng trưởng vốn cao như Tập đoàn Bảo Việt tăng hơn 300%, Tập đoàn Công nghiệp Tàu thủy Vinashin tăng 124%…

Tính trung bình qua hai năm 2005 đến 2007, khối 8 Tập đoàn quốc doanh đã tăng được 258.849 tỷ đồng tương ứng với mức 71,90%. Năm 2008, tuy khủng hoảng tài chính thế giới ảnh hưởng đến nền kinh tế và kết quả kinh doanh của các doanh nghiệp nói chung, tập đoàn nói riêng song theo báo cáo không chính thức của các tập đoàn quốc doanh thì tổng nguồn vốn vẫn không ngừng tăng trưởng.

2.1.1.3 Về quy mô doanh  thu: Khóa luận: Tổng quan về các tập đoàn kinh tế ở Việt Nam

Cùng với quy mô vốn và tốc độ tăng trưởng vốn khá cao, doanh thu của các tập đoàn quốc doanh cũng rất lớn và tốc độ tăng trưởng cũng tương ứng.

Bảng 2.3: Doanh thu của các tập đoàn Nhà nước giai đoạn 2005-2008 (tỷ đồng)

Qua bảng trên ta thấy, doanh thu của khối tập đoàn Nhà nước là rất lớn so với các khu vực doanh nghiệp khác, chỉ riêng 8 tập đoàn kinh tế Nhà nước đã có tổng doanh thu lên tới hàng trăm nghìn tỷ đồng, điển hình có Tập đoàn Dầu khí doanh thu qua các năm luôn chiếm gần một nửa tỷ trọng tổng quy mô doanh nghiệp của toàn khối tập đoàn Nhà nước. Mặt khác, tốc độ tăng trưởng của các tập đoàn này cũng khá cao. Tập đoàn Công nghiệp tàu thủy Vinashin có mức tăng cao nhất: 47,16% vào năm 2006, năm 2007 lên tới tận 98,63%, năm 2008 cũng giữ ở mức 42,71%. Có duy nhất năm 2008, tập đoàn Cao su có mức tăng trưởng âm (-17,8%), còn lại qua 4 năm từ năm 2005 đến năm 2008, các tập đoàn đều có một tốc độ tăng trưởng doanh thu tương đối cao, trung bình là 23%. Tổng doanh thu 8 tập đoàn năm 2005 là 292.480 tỷ đồng lên tới gần 500 nghìn tỷ đồng vào cuối năm 2008 chưa tính tập đoàn Dệt may, mức tăng là hơn 70,78%. .

2.1.1.4 Về lợi nhuận:

Kể từ khi hình thành và phát triển, các tập đoàn Nhà nước cũng thu về được những khoản lợi nhuận đáng kể qua các năm.

Bảng 2.4: Lợi nhuận trước thuế của các tập đoàn giai đoạn 2005 -2008 (Tỷ đồng)

Nhìn chung, các tập đoàn đều đạt được lợi nhuận khá cao, nhưng do đặc thù của từng ngành nghề và lĩnh vực kinh doanh nên quy mô lợi nhuận của các tập đoàn là không giống nhau. Hầu hết lợi nhuận chỉ tập trung ở một vài tập đoàn như Dầu khí, Bưu chính Viễn thông, Điện lực. Năm 2005, chỉ tính tiêng lợi nhuận của Tập đoàn Dầu khí và Tập đoàn Bưu chính viễn thông đã đạt 28.199 tỷ đồng bằng 71% tổng lợi nhuận của 8 Tập đoàn quốc doanh, năm 2007 lợi nhuận của hai tập đoàn trên cũng đạt 34.898 tỷ đồng chiếm 72% tổng lợi nhuận. Tốc độ tăng trưởng lợi nhuận cũng khá cao như Tập đoàn Dầu khí tăng 12,43% vào năm 2006; 10,67% vào năm 2007. Tập đoàn VNPT năm 2007 cũng tăng trưởng đến 36,5% về lợi nhuận. Dù có một số tập đoàn tốc độ tăng trưởng là âm song các tập đoàn quốc doanh đều lãi hàng trăm, hàng nghìn tỷ đồng.

Xét một cách tổng thể thì tình hình hoạt động, kinh doanh của các tập đoàn quốc doanh ở nước ta khá tốt so với các khu vực doanh nghiệp khác, tuy nhiên những kết quả ấy lại không đồng đều giữa các tập đoàn và có được là nhờ những độc quyền trong ngành nghề lĩnh vực mà Nhà nước trao cho.

2.1.2 Một số tập đoàn tư nhân Khóa luận: Tổng quan về các tập đoàn kinh tế ở Việt Nam

2.1.2.1 Tập đoàn FPT

Từ khi thành lập vào năm 1998, qua 20 năm phát triển, FPT đã tăng trưởng và tích tụ, tập trung vốn, đa sở hữu cổ phần hóa vào năm 2002 và phát triển như một mô hình tập đoàn thực thụ. Tuy quy mô không thể bằng các tập đoàn quốc doanh nhưng hiệu quả hoạt động của FPT là rất cao, cao hơn các tập đoàn quốc doanh khá nhiều. Có thể coi FPT là một trong những tập đoàn tư nhân hàng đầu tại Việt Nam hiện nay. Ta có thể nhận thấy điều này qua các kết quả kinh doanh của tập đoàn.

Trước hết, doanh thu của tập đoàn FPT liên tục tăng trưởng qua các năm và đạt được các kết quả rất khả quan.

Bảng 2.5: Biểu đồ tăng trưởng doanh thu của FPT từ năm 2000 đến năm 2007

Nhìn vào biểu đồ tăng trưởng doanh thu của FPT từ năm 2000 mới chỉ hơn 1000 tỷ đến năm 2007, con số này đã là 13.872 tỷ và năm 2008 tuy là một năm đầy khó khăn nhưng mức doanh thu của FPT vẫn đạt mức kỷ lục là 16.806 tỷ đồng tương đương với 1 tỷ USD, hoàn thành 106,2 % kế hoạch năm, và mức tăng trưởng so với 2007 là 21%. Tính chung từ năm 2001 đến năm 2008 tập đoàn có tốc độ tăng trưởng trung bình vào khoảng 40%.

Bảng 2.6: Kết quả kinh doanh của FPT năm 2008

Lợi nhuận và hiệu quả kinh doanh của FPT cũng tăng trưởng đáng kể qua các năm. Tốc độ tăng lợi nhuận là khá cao, trung bình giai đoạn từ năm 2005-2008, tốc độ tăng lợi nhuận là 24,78%, các chỉ số về khả năng sinh lời cho thấy, tập đoàn FPT luôn duy trì tốc độ ấn tượng. Năm 2008 tỷ lệ Lãi gộp/Doanh thu của Tập đoàn đạt 18,2% năm 2008 so với 14,5% năm 2007, tỷ lệ Lợi nhuận thuần/Doanh thu của Tập đoàn cũng tăng liên tục qua các năm. Bảng 2.7 dưới đây đã cho thấy điều đó. Khóa luận: Tổng quan về các tập đoàn kinh tế ở Việt Nam

Bảng 2.7: Một số chỉ tiêu tài chính của FPT giai đoạn 2005-2008

Nhìn vào kết quả sản xuất kinh doanh của Tập đoàn FPT, ta thấy tốc độ tăng trưởng của tập đoàn là rất đáng kể, thể hiện được trình độ tích tụ, tập trung rất cao. Theo bảng xếp hạng Top 500 doanh nghiệp lớn nhất Việt Nam năm 2008 (VNR500) FPT là tập đoàn tư nhân lớn nhất Việt Nam và thuộc Top 20 doanh nghiệp lớn nhất Việt Nam.

2.1.2.2 Tập đoàn Hòa Phát

Tập đoàn Hòa Phát đi vào hoạt động kinh doanh từ năm 1992 và qua quá trình mua lại, sát nhập và mở rộng tích tụ tập trung vốn giống như FPT, giờ đây tập đoàn đã đạt được những thành công đáng kể. Năm 2008, tập đoàn có 9 công ty con và 3 công ty liên kết hoạt động trong khá nhiều lĩnh vực như sản xuất thép, máy xây dựng, bất động sản… Mặc dù năm 2008 khó khăn nhưng các tập đoàn tư nhân Việt Nam vẫn có một mức tăng trưởng khả quan và Hòa Phát là một trong tập đoàn như vậy. Qua các năm, Hòa Phát vẫn liên tục tăng trưởng, các chỉ số tài chính đều ở mức cao. Năm 2008, tổng tài sản và vốn chủ sở hữu là 5.639 tỷ và 4.111 tỷ đồng, trong khi con số này của năm 2006 mới chỉ là 2.327 tỷ và 994 tỷ.

Bảng 2.8: Hoạt động kinh doanh của Hòa Phát năm 2006-2008

Các chỉ tiêu tài chính của Hòa Phát cũng tăng lên khá nhiều, tỷ suất lợi nhuận trên sau thuế năm 2006 chỉ là 4,75% đến năm 2007 tăng lên 11,41% và năm 2008 là 10,7 % lợi nhuận. Các chỉ số Thu nhập trên vốn chủ sở hữu và Thu nhập trên tổng tài sản của tập đoàn đều tăng qua các năm và đạt mức khá cao: năm 2006 chỉ số ROA và ROE là 6,83% và 15,99% đến năm 2008 đã tăng lên tương ứng là 15,24% và 20,9%.

Bảng 2.9: Chỉ số tài chính cơ bản của Tập đoàn Hòa Phát giai đoạn 2006-2008 (Đồng)

2.2. Thực trạng mô hình tổ chức của các tập đoàn kinh tế Việt Nam Khóa luận: Tổng quan về các tập đoàn kinh tế ở Việt Nam

2.2.1 Liên kết kinh tế

Về cấu trúc liên kết kinh tế: Cũng giống như trên thế giới, liên kết kinh tế trong các tập đoàn hiện nay chủ yếu là mối liên kết của mô hình công ty mẹ – công ty con. Công ty mẹ – công ty con thực chất được xuất phát từ khái niệm “Holding company” và “Subsidiary”. Theo đó, “Holding company” được hiểu là công ty nắm vốn, còn “Subsidiary” là công ty nhận vốn. Công ty nắm vốn thường là công ty hoặc ngân hàng có nhiều vốn, phân phối vốn của mình cùng một lúc ở nhiều công ty khác nhau và thường nắm giữ cổ phần chi phối đặc biệt. Vì là cổ đông lớn, có tính chất đặc biệt nên công ty nắm vốn có thể chi phối hoạt động của các công ty nhận vốn. Với ý nghĩa và tính chất đó, “Holding company” và “Subsidiary” ở Việt Nam được chuyển thành khái niệm “công ty mẹ-công ty con”. Nếu xét về hình thức thì công ty mẹ có quyền quản lý các công ty con, nhưng xét về địa vị pháp lý thì đây là các pháp nhân độc lập, riêng biệt, hoạt động hoàn toàn bình đẳng trên thị trường theo quy định của pháp luật. Quan hệ giữa công ty mẹ với các công ty con và giữa các công ty con với nhau là quan hệ kinh tế dựa trên cơ sở hợp đồng kinh tế khi thực hiện các mục tiêu kinh doanh. Nhưng thực tế các tập đoàn ở Việt Nam cho thấy liên kết kinh tế ở các công ty mẹ, công ty con thành viên hầu như dựa trên các mệnh lệnh hành chính, chưa xuất phát từ tất yếu kinh tế, từ nhu cầu nội tại của mỗi công ty thành viên cũng như công ty mẹ. Khu vực tập đoàn Nhà nước là một điển hình, có những tập đoàn có công ty thành viên mà trong đó tập đoàn chỉ chiếm 10% như Tập đoàn Dầu khí với Công ty Cổ phần Đầu tư và tư vấn Tài chính Dầu khí…nhưng chủ tịch HĐQT tập đoàn vẫn nắm quyền chi phối. Tập đoàn tư nhân cũng không phải ngoại lệ, FPT với tỷ lệ sở hữu ở công ty con – Công ty Cổ phần Dịch vụ trực tuyến FPT là 35,6% vào năm 2008 nhưng lại có tỷ lệ biểu quyết lên tới 100%. Khóa luận: Tổng quan về các tập đoàn kinh tế ở Việt Nam

Về phương thức liên kết: Liên kết trong các tập đoàn nước ta hiện nay cũng được hình thành theo xu hướng trên thế giới với dạng liên kết cứng nhưng lại bị chia ra thành hai phương thức khác nhau. Phương thức thứ nhất là một công ty tự đầu tư, mở rộng sản xuất kinh doanh và thành lập thêm hoặc mua lại các công ty khác để hình thành tập đoàn. Tức là công ty mẹ ra đời trước, các công ty con, cháu ra đời sau, quy mô tăng dần theo quá trình tích tụ vốn diễn ra trong một thời gian nhất định. Các tập đoàn kinh tế khu vực tư nhân như Việt Á, Hòa Phát, FPT, Kinh Đô…là những tập đoàn đi theo phương thức liên kết này và đang hoạt động khá hiệu quả bởi đây là phương thức liên kết của một tập đoàn kinh tế thực thụ, đúng nghĩa. Chẳng hạn như FPT từ một công ty quy mô nhỏ (buôn bán máy tính) đã mua lại, liên kết và mở rộng sản xuất kinh doanh sang nhiều ngành nghề bổ trợ nhau như công nghệ thông tin, viễn thông, đào tạo, truyền thông…trở thành tập đoàn FPT ngày nay. Tập đoàn Hòa phát thì từ Công ty thiết bị phụ tùng Hòa Phát kinh doanh máy khai thác đá, máy xây dựng cũng đã mở rộng ngành nghề, mua lại các công ty trong các lĩnh vực sản xuất thép, nội thất, điện lạnh, điện gia dụng, đầu tư bất động sản, liên kết khai khoáng, sản xuất xi măng…và trở thành một tập đoàn đa ngành nghề…Các công ty mẹ, con, thành viên trong những tập đoàn này vì thế mà cũng hình thành mối quan hệ liên kết bình đẳng dựa trên lợi ích hai bên với cả các doanh nghiệp trong tập đoàn Nhà nước và các doanh nghiệp bên ngoài khác bởi mục đích mở rộng và phát triển tập đoàn.

Phương thức thứ hai là các công ty đã hình thành và đang hoạt động tự nguyện hợp tác, liên kết với nhau thành lập một công ty mẹ. Chẳng hạn như các tổng công ty 90, 91 hoạt động cùng ngành lĩnh vực sau một thời gian cơ cấu lại đã liên kết với nhau thành các tập đoàn kinh tế Nhà nước thí điểm hiện nay. Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam được hình thành bởi liên kết của rất nhiều công ty con trong ngành viễn thông như Tổng công ty Bưu chính Việt Nam, Tổng công ty Viễn thông I, II, III…Tập đoàn Dầu khí Việt Nam được hình thành bởi các tổng công ty, công ty trong ngành thăm dò khai thác dầu khí như Tổng công ty Thăm dò khai thác dầu khí, Công ty TNHH một thành viên quản lý là khai thác tài sản dầu khí, tổng công ty Thương mại dầu khí, Tổng công ty Khí Việt Nam, Tổng công ty Điện lực dầu khí…Phương thức hình thành tập đoàn này ngược lại so với tập đoàn tư nhân. Liên kết này bản chất không xấu nhưng tại môi trường Việt Nam nó đang tạo ra sự liên kết chặt chẽ quá mức chỉ dựa trên nguyên tắc mệnh lệnh mà không dựa trên lợi ích của các doanh nghiệp.

Một thực trạng nữa của liên kết kinh tế là sự hình thành tập đoàn kinh tế theo hình thức tự nguyện hợp tác để thành lập công ty mẹ chưa xuất hiện ở nước ta. Các doanh nghiệp quy mô nhỏ, lại chưa quen với sự liên kết trong kinh doanh nên những thỏa thuận hiệp phương theo phương thức liên kết mềm thường nhanh chóng bị phá vỡ.

Với các liên kết kinh tế nêu trên, các tập đoàn kinh tế ở Việt Nam mặc dù chưa thực sự phát huy được thế mạnh như mục tiêu, kỳ vọng đề ra song nhờ nhận thức được những hạn chế, sự học hỏi trong quá trình hoạt động của các tập đoàn thành công nên đã từng bước tạo lập được những liên kết chặt chẽ trên nguyên tắc tự nguyện của doanh nghiệp thành viên, đảm bảo được lợi ích cho các bên tham gia. Quá trình đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ kinh tế đối ngoại cũng phát triển nhanh chóng, các tập đoàn nước ta đã dần mở rộng hợp tác liên kết kinh tế ra bên ngoài, có khá nhiều tập đoàn hợp tác, liên doanh với các doanh nghiệp nước ngoài hoặc chọn họ làm nhà đầu tư chiến lược. Chẳng hạn như Tập đoàn FPT chọn các tập đoàn hàng đầu thế giới như IBM, Microsoft, HP, Intel…làm đối tác. Theo báo cáo của các Bộ ngành, và thực trạng của các tập đoàn thì từ khi chuyển đổi mô hình liên kết theo hướng tích cực các tập đoàn đã đạt hiệu quả kinh tế cao hơn, nộp ngân sách Nhà nước cũng tăng, các tập đoàn tư nhân dần dần chứng minh được chỗ đứng của mình trong nền kinh tế thị trường.

2.2.2 Cơ chế  phân bổ vốn Khóa luận: Tổng quan về các tập đoàn kinh tế ở Việt Nam

Đây là nội dung cốt lõi nhằm xác lập các quan hệ nội bộ trong các tập đoàn. Hầu hết các tập đoàn kinh tế có quan hệ về vốn giữa các pháp nhân dựa trên cơ sở đầu tư nhưng bên cạnh đó ở khu vực tập đoàn quốc doanh thì quan hệ vốn vẫn dựa trên cơ chế phân bổ, giao vốn từ Nhà nước. Các tập đoàn tư nhân, với quan hệ sở hữu vốn của công ty mẹ với công ty con đa dạng từ sở hữu toàn bộ đến sở hữu trên 50% vốn góp hoặc dưới 50%, nhưng bản chất chủ sở là các cổ đông tư nhân là chủ yếu nên việc giao vốn phân bổ vốn diễn ra dưới hình thức công ty mẹ muốn đầu tư chi phối tỷ lệ bao nhiêu hay muốn thâu tóm bao nhiêu phần trăm thì sẽ phân bổ từng đấy vốn vào các công ty con. Chẳng hạn như tập đoàn FPT có công ty mẹ sở hữu 60% Công ty Cổ phần Quảng cáo FPT thì sẽ được quyền chi phối với tỷ lệ biểu quyết là 60% nhưng nếu muốn chi phối hoàn toàn ở các lĩnh vực trọng yếu thì đầu tư 100% như đối với công ty TNHH Công nghệ Di động FPT…Việc phân chia vốn này sẽ tạo được sự minh bạch trong quản lý và điều hành vốn của tập đoàn. Còn với các tập đoàn quốc doanh thì việc phân bổ vốn lại từ Nhà nước giao cho các tổng công ty, các tổng công ty giao cho các doanh nghiệp thành viên nhưng thực chất số vốn này lại chính là số vốn hiện có của các doanh nghiệp thành viên bởi những doanh nghiệp này được thành lập, có vốn và tài sản riêng từ trước khi thành lập tổng công ty, tập đoàn Nhà nước. Hơn nữa vốn tuy đã giao cho doanh nghiệp thành viên nhưng công ty mẹ vẫn là chủ, như vậy dẫn đến tình trạng một số vốn nhưng có đồng thời hai chủ sở hữu. Chính cơ chế giao vốn mang tính hình thức và chồng chéo ở các tập đoàn loại này đã làm cho các tập đoàn rất khó kiểm soát vốn, các doanh nghiệp thành viên thì không được hưởng lợi gì mà thậm chí còn bị cản trở trong các quyết định sản xuất, đầu tư. Điều này dẫn đến sự mất hiệu quả trong sử dụng vốn nói riêng và mô hình tập đoàn quốc doanh hiện nay nói chung.

2.2.3 Hợp tác nội bộ

Theo kết luận của Cơ quan Hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA), một tập đoàn kinh tế mạnh khi triệt tiêu được cạnh tranh nội bộ và hướng sức mạnh cạnh tranh đó ra bên ngoài. Nhìn lại quan hệ giữa các thành viên trong các tập đoàn thời gian qua cho thấy đã xuất hiện một số đơn vị phân công, chuyên môn hóa sản xuất theo mục tiêu và chiến lược phát triển chung. Sự hợp tác, phân công trong nghiên cứu, sản xuất, kinh doanh theo nhu cầu hay phân khúc thị trường từng bước tạo những liên kết trên cơ sở lợi ích của các thành viên, tăng sức cạnh tranh, giảm chi phí, tận dụng được công nghệ, thị trường (sản phẩm đầu ra của một đơn vị là sản phẩm đầu vào của đơn vị khác trong nội bộ), từng bước tạo sức mạnh tổng thể để hội nhập và hướng cạnh tranh ra bên ngoài. Ngay cả một số thị trường, Nhà nước cũng có kết quả thành công điển hình trong việc phân công, hợp tác sản xuất như Tập đoàn Điện lực Việt Nam với sự gắn bó chặt chẽ giữa sản xuất – truyền tải – tiêu thụ. Khối sản xuất bao gồm các nhà máy phụ trách việc cung ứng điện, đảm bảo an toàn điện năng; khối truyền tải (Công ty truyền tải điện Quốc gia) đảm nhiệm các nhiệm vụ truyền tải sửa chữa đường dây, xây dựng mới, khắc phục sự cố trên đường truyền… đảm bảo tính ổn định trong truyền tải; khối tiêu thụ phục trách việc kinh doanh điện bao gồm hệ thống các công ty điện lực trên toàn quốc. Tập đoàn bưu chính viễn thông công nghệ thông tin truyền thông, khảo sát, tư vấn, lắp đặt, cung ứng thiết bị viễn thông… Một số tập đoàn thì sự hợp tác nội bộ lại dựa trên cơ sở bổ trợ các lĩnh vực ngành nghề với nhau, tạo nên sức mạnh nội tại về tài chính, thương hiệu của tập đoàn. Các mảng kinh doanh cũ phát triển tạo tiền đề cho các mảng kinh doanh mới, đồng thời các mảng kinh doanh mới này cũng quay lại hỗ trợ cho mảng cũ để cùng tạo nên vị thế và sức cạnh tranh mới cho tập đoàn. Chẳng hạn như tập đoàn Hòa Phát với mảng sản xuất thiết bị máy xây dựng khi xuất hiện lĩnh vực kinh doanh, sản xuất thép, xi măng, nội thất càng hỗ trợ thêm cho ngành vật liệu xây dựng. Tập đoàn FPT có lĩnh vực quảng cáo và truyền thông kết hợp với nhau chặt chẽ cùng phát triển, còn mảng viễn thông và phân phối di động lại là sự hợp tác nội bộ tuyệt vời cung cấp cho người sử dụng chọn bộ sản phẩm…

Bên cạnh những tập đoàn có sự phối hợp, liên kết, hợp tác chặt chẽ, nhiều tổng công ty, tập đoàn nhà nước hiện nay vẫn xuất hiện tình trạng cạnh tranh nội bộ, bằng nhiều biện pháp khác nhau đã làm mất uy tín không chỉ sản phẩm quốc gia. Tập đoàn Dệt May Việt Nam với đặc thù bao gồm các công ty thành viên hoạt động trong cùng lĩnh vực với hệ thống sản phẩm khá giống nhau, cùng khai thác trên các thị trường tiêu thụ, cùng hướng tới một nhóm đối tượng khách hàng…đã dẫn đến những cạnh tranh thiếu lành mạnh không chỉ ở thị trường trong nước ảnh hưởng đến uy tín và thương hiệu của cả tập đoàn.

2.2.4 Mối quan hệ giữa công ty mẹ với các doanh nghiệp thành viên Khóa luận: Tổng quan về các tập đoàn kinh tế ở Việt Nam

Như đã phân tích ở trên, hầu hết các tập đoàn kinh tế trên thế giới có cấu trúc công ty mẹ – công ty con cùng các công ty liên kết và các tập đoàn kinh tế ở Việt Nam cũng vậy. Thông qua người đại diện của mình tại các công ty con và bằng các công cụ khác, công ty mẹ chi phối các công ty con về tài chính, thị trường, chiến lược kinh doanh, công nghệ, thương quyền, nhãn hiệu… Trong chiến lược chung về phát triển DN, công ty con được hoạt động độc lập, chịu trách nhiệm pháp lý về các hoạt động của mình. Công ty mẹ chỉ tác động vào công ty con thông qua đại diện của công ty mẹ trong hội đồng quản trị (HĐQT) của công ty con, và mức độ ảnh hưởng phụ thuộc vào tỷ lệ vốn góp của công ty mẹ tại công ty con. Các quyền lợi công ty mẹ có được và được hưởng hay không là do tỷ lệ góp vốn của công ty vào công ty con mang lại. Có trường hợp công ty mẹ góp vốn 100% vào công ty con nhưng cũng có trường hợp công ty mẹ chỉ góp một phần vốn vào công ty con. Ngoài ra, công ty mẹ còn có thể hỗ trợ công ty con về phân chia thị trường, tiêu thụ sản phẩm, nghiên cứu khoa học…Ở Việt Nam thì công ty mẹ và công ty con không chỉ có quan hệ về vốn đầu tư đơn thuần mà còn có cả sự chi phối mặt chính trị ở khu vực tập đoàn Nhà nước. Một điểm nữa là các tập đoàn ở Việt Nam tuy hình thành theo mô hình công ty mẹ – công ty con thì bản thân tập đoàn sẽ chỉ là một hình thức, một tên gọi bao hàm tập hợp các công ty khác nhưng công ty mẹ trong các tập đoàn kinh tế quốc doanh hiện nay lại có tên gọi là tập đoàn và có tư cách pháp nhân. Điều này trái với quy luật phát triển tự nhiên, gây ra tình trạng trùng lặp trong pháp nhân của tập đoàn và pháp nhân của các công ty mẹ con.

Trong các tập đoàn tư nhân cũng như nhà Nhà nước, tỷ lệ sở hữu vốn của công ty mẹ với các công ty con hầu hết là 100%, ít có tỷ lệ sở hữu dưới 100%, 50%, chỉ có tập đoàn FPT sở hữu một công ty con với tỷ lệ sở hữu dưới 50%. Điều này khiến cho mối quan hệ giữa công ty mẹ với các doanh nghiệp thành viên mang tính chuyên quyền cao, các doanh nghiệp thành viên không có được sự độc lập tự do nhất định để phát triển. Nếu nhìn vẻ bề ngoài thì với tỷ lệ đầu tư cao như vậy ở các công ty con thì quan hệ giữa công ty mẹ với chúng sẽ rất gắn bó. Tuy nhiên, ở các tập đoàn kinh tế Việt Nam sự gắn bó này chỉ mang tính hình thức. Công ty mẹ chưa thể hiện nhiều được vai trò chủ sở hữu trong các quyết định quan trọng, trong các chiến lược phát triển của mỗi đơn vị thành viên.

Cùng với xu hướng đó, thì các tập đoàn Việt Nam cũng đã có những bước phát triển khá tốt trong mối quan hệ của công ty mẹ với công ty liên doanh liên kết, số lượng công ty liên doanh liên kết trong các tập đoàn ngày một gia tăng, Tập đoàn Dầu khí Việt Nam từ ngày thành lập vào tháng 8 năm 2006 chỉ có 2 công ty liên kết so với 22 công ty con thì đến hết năm 2007 đầu tư tới 42 công ty liên kết so với 21 công ty con 10. Tập đoàn FPT năm 2006 không có công ty liên kết nào thì đến năm 2008 cũng có 3 công ty liên kết. Điều này sẽ tạo đà cho các tập đoàn từng bước mở rộng quy mô cũng như tiếp cận và hội nhập với thị trường một cách nhanh chóng.

Tóm lại nhìn vào các tập đoàn ở Việt Nam ta thấy quan hệ giữa công ty mẹ với các công ty con công ty thành viên tuy vẫn tồn tại nhiều bất cập nhưng đã có những chuyển biến tích cực hơn tạo điều kiện cho các tập đoàn đã, đang và sẽ hình thành phát triển tốt hơn.

2.2.5 Bộ máy quản lý Khóa luận: Tổng quan về các tập đoàn kinh tế ở Việt Nam

Bộ máy các tập đoàn ở Việt Nam tuy có điểm chung giống với các tập đoàn trên thế giới về thành phần tổ chức bộ máy song cơ cấu lại có những điểm khác biệt nhất định. Các tập đoàn tư nhân và tập đoàn Nhà nước được chia làm hai thể loại cơ cấu khác nhau, tập đoàn tư nhân thì tương đối giống cơ cấu trong các tập đoàn thế giới trong khi đó các tập đoàn Nhà nước lại mang dáng dấp của một thể chế hành chính chứ không phải là một thể chế kinh tế.

Hình 2.10: So sánh mô hình tập đoàn tư nhân và Nhà nước tại Việt Nam

Ở các tập đoàn tư nhân này, quyền hạn và trách nhiệm giữa người quản lý và điều hành doanh nghiệp đã được phân định rõ ràng. Cơ cấu quản lý của bộ máy điều hành ở công ty mẹ chỉ là điều hành chung, không mang tính ép buộc, chi phối các công ty con dựa trên tỷ lệ vốn góp. Còn các công ty con tuy bị chi phối nhưng với tư cách pháp nhân độc lập, bộ máy quản lý độc lập cũng được tự do tham gia thị trường kinh doanh, đầu tư vào các lĩnh vực tiềm năng và có những chiến lược độc lập mà không phải chờ bộ máy quản lý của tập đoàn thông qua. các tập đoàn quốc doanh, Nhà nước là chủ sở hữu đối với các tổng công ty Nhà nước nhưng việc thực hiện quyền của chủ sở hữu trên thực tế chưa rõ. Nhiều Bộ, ngành, cơ quan ngang Bộ được giao nhiệm vụ quản lý theo từng nội dung cụ thể (tài chính, nhân sự, kế hoạch…) nhưng không có cơ quan đại diện cho Nhà nước quản lý chung, chịu trách nhiệm đến cùng đối với hiệu quả hoạt động của mô hình này. Quyền hạn và trách nhiệm giữa Tổng giám đốc và HĐQT cũng không rõ ràng, dẫn đến chồng chéo trong quản lý vá sự can thiệp ngoài thẩm quyền của mỗi thành viên. Quy trình bổ nhiệm Tổng giám đốc và HĐQT còn nhiều bất cập như do cùng một cấp bổ nhiệm, tiêu chí không rõ ràng, mắc khuyết điểm (tham nhũng, vi phạm) hay sai lầm trong quản lý. Trong các quyết định thành lập một số tập đoàn kinh tế Nhà nước thí điểm thời gian qua, Thủ tướng Chính phủ đã quy định rõ thành viên HĐQT do Thủ tướng quyết định bổ nhiệm trên cơ sở thẩm định của các cán bộ có liên quan (Bộ chuyên ngành đề xuất, Bộ Nội vụ thẩm định) nhưng chưa quy định rõ trách nhiệm liên đới của những người thẩm định, đệ trình khi các thanh viên đó mắc sai phạm trong quản lý, điều hành.

2.2.6 Về thương hiệu

Đối với các tập đoàn lớn, xây dựng và phát triển thương hiệu có ý nghĩa sống còn, đồng thời nó sẽ làm gia tăng giá trị của cả công ty mẹ và công ty con. Phát triển thương hiệu không chỉ là quảng cáo, khuyến mại mà còn bao hàm cả khả năng phân phối, sản phẩm đồng nhất và chăm sóc sau bán hàng…Việc xây dựng và phát triển thương hiệu trong thời gian qua đã được một số tập đoàn kinh tế chú trọng xây dựng từ biểu tượng đến câu khẩu hiệu với các chiến dịch quảng bá thương hiệu bằng nhiều hình thức khác nhau. Chẳng hạn như tập đoàn Kinh Đô đã có những chiến dịch quảng cáo rất rầm rộ cho sản phẩm, tập đoàn FPT cũng đã gây dựng cho mình một thương hiệu rất mạnh trên khá nhiều lĩnh vực. Một số tổng công ty Nhà nước xây dựng thương hiệu với chiến lược áp dụng cho từng nhóm sản phẩm như Hàng không, Điện lực…Tuy nhiên, nhìn chung chiến lược phát triển thương hiệu (bao gồm cả thiết kế, đăng ký, quảng bá…) còn nhiều bất cập. Nhiều tổng công ty nhà nước phải thay đổi biểu tượng như Hàng không Việt Nam (đổi từ biểu tượng cánh én và mặt trăng sang biểu tượng bông sen), mạng Vinaphone của VNPT (đổi từ biểu tượng chiếc điện thoại lồng với chữ GMS sang biểu tượng liên kết của ba giọt nước…) đã phần nào ảnh hưởng đến hình thành được định vị trong trí nhớ khách hàng. Một số đơn vị chưa chú ý đến tầm quan trọng của thương hiệu và đã làm ảnh hưởng đến niềm tin của khách hàng đối với các sản phẩm của công ty. Tổng công ty Bưu chính Việt Nam chính thức được quyết định trở thành tập đoàn và đi vào hoạt động từ 26/3/2006 nhưng đến đầu năm 2007, trong một thông cáo báo chí, cụm từ tổng công ty vẫn được sử dụng12

Sự nổi tiếng của các thương hiệu như Nike với hình dấu phẩy ngược, Coca-Cola với kiểu dáng vỏ chai, nét chữ, hay Lacoste với hình con cá sấu…là kết quả của chiến lược tổng thể phát triển thương hiệu của mỗi tập đoàn. Nếu các tập đoàn kinh tế ở Việt Nam không có chiến lược phát triển thương hiệu phù hợp sẽ trực tiếp ảnh hưởng đến giá trị doanh nghiệp, đến thị phần, nhất là trong bối cảnh Việt Nam đã là thành viên chính thức thứ 150 của WTO.

2.3. Thực trạng cơ chế hoạt động của các tập đoàn kinh tế Việt Nam Khóa luận: Tổng quan về các tập đoàn kinh tế ở Việt Nam

2.3.1 Về tên gọi

Các tổng công ty nhà nước, các tập đoàn kinh tế thí điểm được chính thức đổi tên từ khi có quyết định thành lập công ty mẹ. Qua quá trình hoạt động, tên gọi của các tập đoàn đã gây không ít nhầm lẫn trong giao dịch và với những người quan tâm. Do vai trò quan trọng của công ty mẹ nên các tập đoàn kinh tế thí điểm đề nghị “nâng cấp” công ty mẹ thành tập đoàn. Điều này dẫn đến những hiểu lầm về tập đoàn kinh tế có tư cách pháp nhân (do cách hiểu công ty mẹ chính là tập đoàn), nguy cơ điều hành theo lối hành chính của công ty mẹ có thể xảy ra.

Trường hợp Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam (VNPT), Tập đoàn Điện lực Việt Nam, Tập đoàn Dệt May Việt Nam…là những ví dụ. Chẳng hạn, Tập đoàn Điện lực Việt Nam, Điều 1 ghi rõ: “…hình thành Tập đoàn Điện lực Việt Nam hoạt động theo mô hinh công ty mẹ – công ty con…” (Điều 1, mục 1) và “Mối quan hệ giữa công ty mẹ trong tập đoàn Điện lực Việt Nam với chủ sở hữu Nhà nước và các công ty con…” (Điều 1, mục 2). Tuy nhiên, trong Điều 1, mục 3 có ghi “Công ty mẹ – Tập đoàn Điện lực Việt Nam là công ty Nhà nước,…”.

Việc sử dụng thuật ngữ tập đoàn nêu trên sẽ dẫn đến hàng loạt các cách hiểu khác nhau. Thứ nhất là Tập đoàn Điện lực Việt Nam là một tổ hợp bao gồm công ty mẹ và các công ty con, đơn vị liên kết…Cách hiểu ở khái niệm này phù hợp với thông lệ quốc tế và các nghiên cứu ở Việt Nam. Nhưng cũng có thể hiểu Tập đoàn Điện lực Việt Nam là công ty mẹ, là một đơn vị có tư cách pháp nhân, là một công ty Nhà nước…Nhưng như vậy thì toàn bộ tổ hợp bao gồm công ty mẹ và các công ty con sẽ phải gọi thế nào? Nếu cũng gọi là tập đoàn thì sẽ gây nhầm lẫn trong nhiều trường hợp. Nếu muốn tránh nhầm lẫn sẽ phải sử dụng các thuật ngữ khác như nhóm tập đoàn, tập đoàn doanh nghiệp, tập đoàn kinh doanh…Điều này sẽ làm nảy sinh nhiều vấn đề trong kinh doanh và giao dịch trên thị trường Việt Nam cũng như quốc tế, ảnh hưởng đến thương hiệu, niềm tin của khách hàng. Khóa luận: Tổng quan về các tập đoàn kinh tế ở Việt Nam

Đối với tập đoàn tư nhân thì tên gọi cũng là một trong số nhiều bất cập. Như đã đề cập ở trên, tập đoàn tư nhân hiện nay không có địa vị pháp lý, không được pháp luật công nhận. Và do đó tên gọi của các tập đoàn này không phải là “Tập đoàn” mà là “Công ty cổ phần tập đoàn” hay “Công ty TNHH tập đoàn”. Chính điều này cũng gây không ít trở ngại khó khăn cho những doanh nghiệp này hòa nhập với môi trường hội nhập quốc tế.

2.3.2 Về cơ chế công khai tài chính

Cách thức duy nhất để tập đoàn công khai tài chính là công bố rộng rãi báo cáo tài chính ra công chúng. Ở Việt Nam chất lượng, độ chính xác của các báo cáo tài chính hợp nhất trong tập đoàn kinh tế đã ít nhiều đã có chuyển biến tích cực. Các tập đoàn tư nhân với việc niêm yết cổ phiếu trên thị trường chứng khoán đã và đang cung cấp cho các nhà đầu tư các bản báo cáo tài chính minh bạch, giúp cho các quyết sách kinh doanh đầu tư trở nên kịp thời. Các tập đoàn tư nhân cũng như Nhà nước đã dần dần hợp tác với các công ty kiểm toán uy tín hàng đầu thế giới như tập đoàn FPT, Vinashin chỉ định KPMG làm kiểm toán độc lập, Hòa Phát và Deloitte ký hợp đồng kiểm toán, Petro Vietnam cũng có quyết định chọn một trong 4 đại gia của Big4 làm kiểm toán độc lập…Tuy nhiên, hiện nay còn khá nhiều tập đoàn chưa công khai báo cáo tài chính hợp nhất kịp thời, các tập đoàn Nhà nước thì hầu như không công bố, báo cáo tài chính sau khi được kiểm toán lại phát hiện rất nhiều sai phạm như doanh thu, lợi nhuận thường giảm đi so với báo cáo chưa kiểm toán, lỗ trong các tập đoàn lại được biến thành lãi, hoặc báo cáo lãi thành lỗ để trốn thuế hay đòi hỏi yêu sách trợ giúp từ Nhà nước…Chẳng hạn, theo báo cáo của Kiểm toán Nhà nước, năm 2007, EVN đã bỏ sót hơn 600 tỷ đồng lợi nhuận (Số liệu tập đoàn công bố là 4.216,5 tỷ đồng trong khi báo cáo kiểm toán là 4.376,4 tỷ đồng) 13. Một ví dụ khác nữa về thiếu công khai trong các tập đoàn là Tập đoàn Mai linh công bố Báo cáo tài chính 2007 tiêu đề thì ghi Báo cáo tài chính đã kiểm toán nhưng nội dung lại không chịu đưa ra báo cáo ý kiến của kiểm toán viên hòng che mắt các nhà đầu tư về khoản lỗ của mình. Điều này sẽ gây ra những hiểu lầm và đánh giá sai lệch tình hình kinh doanh của các tập đoàn và là nguyên nhân sâu sa của các rủi ro tài chính cũng như sự kém phát triển trong nền kinh tế quốc gia.

2.4. Những tác động cơ bản của tập đoàn kinh tế Việt Nam Khóa luận: Tổng quan về các tập đoàn kinh tế ở Việt Nam

2.4.1 Khuyến khích cạnh tranh

Từ khi xuất hiện các tập đoàn Nhà nước cũng như tư nhân đã tạo ra được doanh nghiệp quy mô lớn, đa ngành nghề, đặc biệt tập đoàn tư nhân còn đa sở hữu. Chính điều này đã tạo ra động lực cạnh tranh không chỉ giữa các tập đoàn mà còn với cả các thành phần kinh tế khác. Mà trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh là một yếu tố không thể thiếu được, nó giúp cho các doanh nghiệp phát triển, nâng cao khả năng kinh doanh, không ngừng đổi mới, vươn lên để bắt kịp, để vượt qua đối thủ và tập đoàn cũng không nằm ngoài quy luật này. Trong thời gian qua với việc các tập đoàn như FPT, EVN, VNPT đều cùng kinh doanh dịch vụ viễn thông, cạnh tranh lẫn nhau, cạnh tranh với Tổng công ty viễn thông Quân đội Viettel đã giúp cho người tiêu dùng có nhiều lựa chọn dịch vụ, được hưởng những dịch vụ hiện đại, cải tiến liên tục và giá cả phù hợp hơn.

2.4.2 Tạo tiền đề cho tình trạng độc quyền

Bên cạnh việc khuyến khích cạnh tranh, các tập đoàn ở Việt Nam cũng gây ra rất nhiều tình trạng độc quyền. Trong nhiều trường hợp, các tập đoàn kinh tế điển hình là tập đoàn Nhà nước lại đóng góp tài chính cho các tiến trình chính trị, qua đó chúng gây áp lực nhất định với bộ máy quyền lực nhằm đảm bảo những lợi ích kinh doanh. Luật Cạnh tranh đã chính thức có hiệu lực từ 1/7/2005 là rất cần thiết nhưng chưa đủ để tạo môi trường cạnh tranh công bằng và kiểm soát mọi hành vi độc quyền. Các tập đoàn đặc biệt tập đoàn Nhà nước đã cho thấy hầu hết các đơn vị này đang chi phối thị trường trong những ngành, lĩnh vực hoạt động chính của mỗi tổng công ty. Ngay cả tập đoàn tư nhân là FPT cũng được trao quyền cung cấp quyền dùng sóng điện thoại di động và cung cấp dịch vụ Internet cùng với Viettel, VNPT mà không phải trả giá dưới bất cứ hình thức nào.

Một thực trạng của tình trạng độc quyền hiện nay là sự “độc quyền được ban tặng” cho khu vực tập đoàn Nhà nước trong khi lại không có bất cứ sự hỗ trợ nào cho khu vực tập đoàn tư nhân. Nếu như các tập đoàn lớn (từng phải hầu tòa vì độc quyền như tập đoàn điện thoại Bell, tập đoàn phần mềm Microsoft hay mới đây nhất vào tháng 5 năm 2009 là tập đoàn Intel) đã phải trải quan quá trình cạnh tranh khốc liệt để vươn lên chiếm lĩnh thị trường thì các tổng công ty, một số tập đoàn kinh tế nước ta đặc biệt là các tập đoàn Nhà nước lại được Nhà nước giao mà không kèm bất cứ nghĩa vụ nào. Đó cũng là nguyên nhân dẫn đến những yếu kém trong hoạt động của các tổng công ty Nhà nước, tập đoàn kinh tế Nhà nước. Nhìn từ góc độ độc quyền, sự tăng trưởng mạnh của một số tập đoàn kinh tế Nhà nước trong thời gian qua không phải do năng lực quản lý, trình độ công nghệ, năng lực cạnh tranh…mang lại mà do vị thế độc quyền. Viễn thông, điện lực đều có tốc độ tăng trưởng cao nhưng giá dịch vụ còn cao hơn so với khu vực mặc dù giai đoạn gần đây đã giảm giá khá nhiều lần và mức đầu tưu rất lớn từ Nhà nước đã ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả phân bố nguồn lực toàn xã hội và năng lực cạnh tranh của các ngành liên quan. Sự tăng trưởng của ngành độc quyền cần được xem xét kỹ hơn khi các yếu tố đầu vào vẫn đang được bao cấp về giá. Khóa luận: Tổng quan về các tập đoàn kinh tế ở Việt Nam

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>> Khóa luận: Thực trạng của mô hình tập đoàn ở Việt Nam

One thought on “Khóa luận: Tổng quan về các tập đoàn kinh tế ở Việt Nam

  1. Pingback: Khóa luận: Sự phát triển của mô hình tập đoàn ở Việt Nam

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464