Luận văn: Thực trạng tình hình tội phạm ma túy tại ở Quảng Nam

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Thực trạng tình hình tội phạm ma túy tại ở Quảng Nam hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Thực trạng tình hình tội phạm ma túy tại tỉnh Quảng Nam dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

2.1. Thực tiễn tình hình tội phạm rõ của tội phạm ma túy

2.1.1 Thực trạng (mức độ) của tình hình tội phạm ma túy

Trong những năm qua, tỉnh ủy và UBND tỉnh Quảng Nam đã ban hành nhiều Nghị quyết, Chỉ thị, Đề án xây dựng nếp sống văn minh đô thị, phòng chống tội phạm và tệ nạn xã hội như: Thực hiện Quyết định số 424/QĐ-TTg ngày 07/4/2017 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Chương trình phòng, chống ma túy đến năm 2020, UBND tỉnh xây dựng kế hoạch số 2881/KH-UBND ngày 9 tháng 6 năm 2017 của Chủ tịch Ủy Ban nhân dân tỉnh về việc “Thực hiện chương trình phòng, chống ma túy đến năm 2020”. Tuy nhiên, tình hình tội phạm và tệ nạn ma túy trên địa bàn tỉnh vẫn còn diễn biến phức tạp, tình trạng sử dụng trái phép chất ma túy và số người nghiện ma túy có chiều hướng gia tăng (đặc biệt trong nhóm tuổi thanh thiếu niên số người nghiện dưới 35 tuổi chiếm 72,3% tổng số người nghiện), số xã, phường, thị trấn có tệ nạn ma túy chiếm hơn 65% số xã, phường, thị trấn trên địa bàn tỉnh; công tác đấu tranh, phòng chống tội phạm ma túy tại một số địa phương còn nhiều hạn chế; các chỉ tiêu về phòng ngừa tội phạm, tệ nạn ma túy chưa đảm bảo yêu cầu đặt ra qua từng năm…

Năm 2014 số đối tượng áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn là 114 đối tượng; số đối tượng đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là 118 đối tượng; xử phạt hành chính liên quan đến sử dụng trái phép chất ma túy 121 vụ, với 279 đối tượng, thu nộp ngân sách nhà nước 220.525.000 VNĐ. [Xem Bảng 2.2 – Phụ lục] và [Xem Bảng 2.3 – Phụ lục]

Năm 2015 số đối tượng áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn là 129 đối tượng; số đối tượng đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là 141 đối tượng; xử phạt hành chính liên quan đến sử dụng trái phép chất ma túy 174 vụ, với 375 đối tượng, thu nộp ngân sách nhà nước 253.200.000 VNĐ. [Xem Bảng 2.2 – Phụ lục] và [Xem Bảng 2.3 – Phụ lục]

Năm 2016 số đối tượng áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn là 144 đối tượng; số đối tượng đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là 162 đối tượng; xử phạt hành chính liên quan đến sử dụng trái phép chất ma túy 215 vụ, với 423 đối tượng, thu nộp ngân sách nhà nước 276.200.000 VNĐ. [Xem Bảng 2.2 – Phụ lục] và [Xem Bảng 2.3 – Phụ lục]

Năm 2017 số đối tượng áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn là 159 đối tượng; số đối tượng đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là 180 đối tượng; xử phạt hành chính liên quan đến sử dụng trái phép chất ma túy 228 vụ, với 531 đối tượng, thu nộp ngân sách nhà nước 363.800.000 VNĐ. [Xem Bảng 2.2 – Phụ lục] và [Xem Bảng 2.3 – Phụ lục]

Năm 2018 số đối tượng áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn là 173 đối tượng; số đối tượng đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là 201 đối tượng; xử phạt hành chính liên quan đến sử dụng trái phép chất ma túy 264 vụ, với 675 đối tượng, thu nộp ngân sách nhà nước 584.025.000 VNĐ. [Xem Bảng 2.2 – Phụ lục] và [Xem Bảng 2.3 – Phụ lục]

Có thể thấy tình trạng người nghiện ma túy được áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn và số đối tượng đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tăng liên tục từ năm 2014 đến năm 2018 trên địa bàn tỉnh Quảng Nam. Số xã, phường, thị trấn có tệ nạn ma túy chiếm hơn 65% số xã, phường, thị trấn trên địa bàn tỉnh. Trong các năm từ năm 2014 đến năm 2018, số đối tượng bị xử phạt hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy tăng qua từng năm, tăng về cả số vụ và số đối tượng tham gia. Có thể khẳng định, tình hình người nghiện ma túy trên địa bàn tỉnh Quảng Nam còn nhiều, tỷ lệ đưa người nghiện đi cai nghiện bắt buộc tại Trung tâm cai nghiên bắt buộc còn cao, số người nghiện mới liên tục gia tăng, loại ma túy sử dụng chủ yếu là ma túy dạng tổng hợp. Luận văn: Thực trạng tình hình tội phạm ma túy tại ở Quảng Nam.

Theo báo cáo của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam từ năm 2014 đến năm 2018 thì số vụ án ma túy bị xét xử so với số vụ án hình sự nói chung bị Tò án nhân dân tỉnh xét xử thì tội phạm về ma túy có xu hướng gia tăng, trong tình hình tội phạm nói chung tại Quảng Nam. [Xem Bảng 2.7 – Phụ lục]

Cụ thể:

  • Năm 2014 tội phạm ma túy chiếm 77/810 vụ, tỉ lệ 9,5%;số bị cáo chiếm 110/1357 bị can, tỉ lệ 8,1%.
  • Năm 2015 tội phạm về ma túy chiếm 67/740 vụ, tỉ lệ 9,05%; số bị cáo là 86/1232, tỉ lệ 6,99%.
  • Năm 2016 tội phạm về ma túy chiếm 86/750 vụ, tỉ lệ 11,45%; số bị cáo là 120/1225, tỉ lệ 9,79%.
  • Năm 2017 tội phạm về ma túy chiếm 91/717 vụ, tỉ lệ 12,69%; số bị cáo là 127/1164, tỉ lệ 10,09%.
  • Năm 2018 tội phạm về ma túy chiếm 97/768 vụ, tỉ lệ 12,63%; số bị cáo là 133/1232, tỉ lệ 10,81%.

Nhìn chung trong giai đoạn tội phạm ma túy chiếm 11,04% số vụ và 9,28% số bị can trong tổng thể tội phạm trong địa bàn tỉnh bị Tòa án nhân dân xét xử. Như vậy có thể thấy, so với tổng số tội phạm nói chung, các tội phạm về ma túy chiếm một số lượng đáng kể.

  • So với hai địa bàn lân cận là Đà Nẵng và Quảng Ngãi thì tình hình tội phạm về ma túy tại Quảng Nam như sau:

Theo thống kê của Cục Cảnh sát phòng chống tội phạm về Ma túy – Bộ Công an thì số vụ và số bị can bị truy cứu các tội về ma túy trên địa bàn tỉnh Quảng Nam, tỉnh Quảng Ngãi và thành phố Đà Nẵng. Cụ thể: trong 05 năm qua tổng số vụ án của tỉnh Quảng Ngãi là 460 vụ với 483 bị can, tính trong tổng số 100.000 dân thì Quảng Ngãi có gần 40 người phạm tội về ma túy; tại Quảng Nam là 491 vụ với 685 bị can, tính trong tổng số 100.000 dân thì Quảng Nam có 44 người phạm tội về ma túy; còn tại thành phố Đà Nẵng là 673 vụ với 960 bị can, tính trong tổng số 100.000 dân thì Tp. Đà Nẵng có 85 người phạm tội về ma túy. Như vậy xét về cơ số tội phạm tính trên 100.000 dân thì số lượng tội phạm về ma túy tại tỉnh Quảng Nam nhiều hơn tỉnh Quảng Ngãi nhưng lại thấp hơn Tp. Đà Nẵng. [Xem Bảng 2.6 – Phụ lục]

Như vậy có thể thấy tình hình tội phạm về ma túy tại tỉnh Quảng Nam luôn cao hơn tỉnh Quảng Ngãi như thấp hơn Đà Năng. Điều này có thể lý giải rằng do Đà Nẵng là thành phố nên đời sống kinh tế xã hội cao, thành phần dân cư phức tạp lại có cảng biển lớn, cảng hàng không quốc tế nên nhiều loại tội phạm thường xuyên tập trung hoạt động, nhiều nhà hàng quán bar là nơi dẽ nảy sinh các điều kiện cho tội phạm ma túy phát triển. Tội phạm về ma túy của tỉnh Quảng Nam nhiều hơn tỉnh Quảng Ngãi một phần cũng là do tội phạm ma túy tại Quảng Nam một phần chịu ảnh hưởng, chi phối, liên quan về tội phạm ma túy của Đà Nẵng. Trong thời gian đến các cơ quan chức năng của Thành phố Đà Nẵng, Quảng Nam và Quảng Ngãi cần phối hợp chặt chẽ hơn nữa trong phòng ngừa đấu tranh với tội phạm về ma túy.

2.1.2 Diễn biến của tình hình tội phạm ma túy Luận văn: Thực trạng tình hình tội phạm ma túy tại ở Quảng Nam.

Từ năm 2014 đến năm 2018 trên địa bàn tỉnh Quảng Nam lực lượng chức năng phát hiện, bắt giữ 509 vụ, với 706 đối tượng; trong đó số vụ đã được khởi tố 436 vụ (chiếm 85,65% số vụ phát hiện, bắt giữ ) với 607 bị can (chiếm 85,97% số đối tượng bị bắt giữ) cụ thể như sau:

Năm 2014 trên địa bàn tỉnh Quảng Nam lực lượng chức năng phát hiện, bắt giữ 80 vụ, với 103 đối tượng, khởi tố 68 vụ (chiếm 85% số vụ phát hiện , bắt giữ) với 90 bị can (chiếm 87,37% số đối tượng bị bắt giữ). [Xem Bảng 2.1 – Phụ lục]

Năm 2015 trên địa bàn tỉnh Quảng Nam lực lượng chức năng phát hiện, bắt giữ 88 vụ, với 117 đối tượng, khởi tố 73 vụ (chiếm 82,95% số vụ phát hiện, bắt giữ) với 95 bị can (chiếm 81,19% số đối tượng bị bắt giữ). So với năm 2014 tăng 11% số vụ, tăng 13,5% số đối tượng và tăng 7,35% số vụ khởi tố và 5,55% số bị can. [Xem Bảng 2.1 – Phụ lục]

Năm 2016 trên địa bàn tỉnh Quảng Nam lực lượng chức năng phát hiện, bắt giữ 100 vụ, với 149 đối tượng, khởi tố 86 vụ (chiếm 86% số vụ phát hiện, bắt giữ) với 133 bị can (chiếm 89,26% số đối tượng bị bắt giữ). So với năm 2014 tăng 25% số vụ, 44,6% số đối tượng, tăng 26,47% số vụ khởi tố và 47,47% số bị can. [Xem Bảng 2.1 – Phụ lục]

Năm 2017 trên địa bàn tỉnh Quảng Nam lực lượng chức năng phát hiện, bắt giữ 114 vụ, với 154 đối tượng, khởi tố 100 vụ (chiếm 87,71% số vụ phát hiện, bắt giữ) với 137 bị can (chiếm 88,96% số đối tượng bị bắt giữ). So với năm 2014 tăng 42,5% số vụ bắt giữ, 49,5% số đối tượng, tăng 47,05% số vụ án bị khởi tố và 52,22% số bị can. [Xem Bảng 2.1 – Phụ lục]

Năm 2018 trên địa bàn tỉnh Quảng Nam lực lượng chức năng phát hiện, bắt giữ 127 vụ, với 183 đối tượng, khởi tố 109 vụ (chiếm 85,82% số vụ phát hiện, bắt giữ) với 152 bị can (chiếm 83,06% số đối tượng bị bắt giữ). Với năm 2014 tăng 15,87% số vụ bắt giữ, 17,76% số đối tượng, tăng 16,02% số vụ án bị khởi tố và 16,88% số bị can. [Xem Bảng 2.1 – Phụ lục]

Có thể thấy tình hình tội phạm về ma túy trên địa bàn tỉnh Quảng Nam từ năm 2014 đến năm 2018 có xu hướng tăng về số vụ và số đối tượng theo từng năm. Tang vật thu giữ trong các vụ án từ chỗ là ma túy tự nhiên như Cần sa và ma túy bán tổng hợp như Hêrôin thì hiện nay chủ yếu chuyển sang các là ma túy tổng hợp như thuốc lắc (Amphetamine), hàng đá (Methamphetamine), Khay (Ketamine) và mới hơn nữa là ma túy Cỏ Mỹ (XRL11). Đây là những loại ma túy dễ sử dụng, dễ cất giấu, khi sử dụng thì kích thích nhanh, mang lại cảm giác khoái cảm cực mạnh đồng thời kéo dài thời gian.

2.1.3 Cơ cấu của tình hình tội phạm

2.1.3.1 Cơ cấu tình hình tội phạm ma túy theo giới tính

Tại địa bàn tỉnh Quảng Nam tội phạm ma túy xét cơ cấu về giới có sự thay đổi theo từng năm, nhưng chiếm đa số người phạm tội là nam giới. Cụ thể: Luận văn: Thực trạng tình hình tội phạm ma túy tại ở Quảng Nam.

Năm 2014: Tổng số đối tượng bị bắt là 103 đối tượng trong đó nam giới là 93 đối tượng chiếm 90,3% trong khi đó nữ giới chỉ có 10 đối tượng chiếm 9,7%. Số bị can năm 2014 là 90 thì có đến 85 đối tượng nam chiếm 94% trong khi đó số bị can nữ chỉ có 05 đối tượng chiếm 5,6%. [Xem Bảng 2.2 – Phụ lục]

Năm 2015: Tổng số đối tượng bị bắt là 117 thì số đối tượng nam là 108 đối tượng chiếm 92,3% trong khi đó số tướng tượng nữ là 09 đối tượng chiếm 7,7%. Số bị can bị là 95 trong đó có 88 bị can nam chiếm 92,6% trong khi đó số bị can nữ chỉ chiếm 7,4% với 07 bị can. [Xem Bảng 2.2 – Phụ lục]

Năm 2016: Tổng số đối tượng bị bắt là 149 trong đó 131 nam chiếm 87,9% và số đối tượng nữ là 18 chiếm 12%. Tổng số bị can 133 bị can trong đó có 125 nam chiếm 93,9% và 8 bị can nữ chiếm 6,1%. [Xem Bảng 2.2 – Phụ lục]

Năm 2017: Tổng số đối tượng bị bắt là 154 đối tượng trong đó nam giới là 132 đối tượng chiếm 85.7%, số đối tượng nữ là 22 chiếm 14,3%. Tổng số bị can là 137 bị can với 129 bị can nam chiếm 94,2% trong khi đó số bị can nữ là 08 chiếm 5,8%. [Xem Bảng 2.2 – Phụ lục]

Năm 2018: Tổng số đối tượng bị bắt 183 đối tượng trong đó nam 154 đối tượng chiếm 84,2%, số đối tượng nữ là 29 đối tượng chiếm 15,8%. Số bị can bị khởi tố năm 2018 là 152 bị can, trong đó bị can nam là 142 chiếm 93,4% trong khi đó số bị can nữ là 10 bị can chiếm 6,6%. [Xem Bảng 2.2 – Phụ lục]

Từ năm 2014 đến 2018 tổng số đối tượng là nam giới bị bắt là 618 đối tượng chiếm 87,5%, số đối tượng là nữ giới bị bắt 88 đối tượng chiếm tỉ lệ 12,5%; số bị can nam bị khởi tố là 569 bị can chiếm 93,7%, số bị can nữ bị khỏi tố là 38 bị can chiếm 6,3%.[Xem Bảng 2.2 – Phụ lục]

Như vậy, nhìn chung chúng ta có thể thấy số đối tượng bị bắt cũng như số bị can bị do cơ quan điều tra khởi tố thì nam giới chiếm tỉ lệ rất cao so với nữ. Mặc dù chiếm tỉ lệ rất nhỏ nhưng có thể thấy số đối tượng vi phạm về ma túy là nữ giới đang có xu hướng gia tăng cả về số lượng cũng như tỉ lệ phần trăm theo các năm từ 2014 đến 2018.

2.1.3.2 Cơ cấu theo độ tuổi Luận văn: Thực trạng tình hình tội phạm ma túy tại ở Quảng Nam.

Số người phạm tội về ma túy tại Quảng Nam bị xét xử từ năm 2014 đến 2018 chủ yếu nằm ở nhóm tuổi chính đó là từ 18 đến 30 tuổi và trên 30 tuổi. Cụ thể:

Năm 2014: Tổng số bị cáo là 110 bị cáo Nhóm tuổi dưới 18 tuổi có 04 bị cáo bị xét xử chiếm 3,63%; nhóm từ 18 đến 30 tuổi là 46 bị cáo chiếm 41,81%; nhóm tuổi từ trên 30 là 60 bị cáo chiếm 54,54%. [Xem Bảng 2.3 – Phụ lục]

Năm 2015: Tổng số bị cáo là 86 bị cáo Nhóm tuổi dưới 18 tuổi có 0 bị cáo bị xét xử chiếm 0%; nhóm từ 18 đến 30 tuổi là 28 bị cáo chiếm 32,55%; nhóm tuổi từ trên 30 là 58 bị cáo chiếm 67,44%. [Xem Bảng 2.3 – Phụ lục]

Năm 2016: Tổng số bị cáo là 120 bị cáo Nhóm tuổi dưới 18 tuổi có 01 bị cáo bị xét xử chiếm 0,83%; nhóm từ 18 đến 30 tuổi là 26 bị cáo chiếm 21,66%; nhóm tuổi từ trên 30 là 94 bị cáo chiếm 78,33%. [Xem Bảng 2.3 – Phụ lục]

Năm 2017: Tổng số bị cáo là 127 bị cáo Nhóm tuổi dưới 18 tuổi có 0 bị cáo bị xét xử chiếm 0%; nhóm từ 18 đến 30 tuổi là 42 bị cáo chiếm 33,07%; nhóm tuổi từ trên 30 là 85 bị cáo chiếm 66,92%. [Xem Bảng 2.3 – Phụ lục]

Năm 2018 Tổng số bị cáo là 133 bị cáo Nhóm tuổi dưới 18 tuổi có 0 bị cáo bị xét xử chiếm 0%; nhóm từ 18 đến 30 tuổi là 51 bị cáo chiếm 38,34%; nhóm tuổi từ trên 30 là 82 bị cáo chiếm 61,65%. [Xem Bảng 2.3 – Phụ lục]

Nhìn chung từ 2014 đến 2018 nhóm tuổi dưới 18 chiếm tỉ lệ 3,3%; nhóm từ 18 đến 30 chiếm tỉ lệ 60,3%; nhóm từ 30 đến 45 tuổi chiếm tỉ lệ 30,3%; nhóm từ 45 đến 60 tuổi chiếm tỉ lệ 6,5%. [Xem Bảng 2.3 – Phụ lục]

Như vậy, có thể thấy chủ yếu người phạm tội về ma túy tại đại bàn tỉnh Quảng Nam thuộc đội tuổi trên 30. Nhưng tỉ lệ người phạm tội, bị can, bị cáo thuộc nhóm từ 18 đến 30 cũng chiếm tỉ trọng cao (trung bình 33,5%). Điều này cho thấy người phạm tội về ma túy tại tỉnh Quảng Nam hiện nay có xu hướng trẻ hóa tội phạm.

2.1.3.3 Cơ cấu theo tội danh

Theo báo cáo của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam từ năm 2014 đến năm 2018 đã xét xử tổng số 418 vụ án sơ thẩm về ma túy. Trong đó tất các cả vụ án xét xử tập trung vào các tội tàng trữ, vận chuyển và mua bán trái phép các chất ma túy. Không có vụ án nào bị xét xử về các tội Tội trồng cây thuốc phiện, cây côca, cây cần sa hoặc các loại cây khác có chứa chất ma túy, Tội sản xuất trái phép chất ma túy, Tội chiếm đoạt chất ma túy và các tội khác của Chương 20 BLHS năm 2015. [Xem Bảng 2.5 – Phụ lục] Luận văn: Thực trạng tình hình tội phạm ma túy tại ở Quảng Nam.

Như vậy, có thể thấy rằng tội phạm về ma túy tại tỉnh Quảng Nam không quá đa dạng, chủ yếu tập trung vào các tội phổ biến là Tàng trử, vận chuyển, mua bán trái phép các chất ma túy. Điều này đặc ra cho các cơ quan chức năng cần có biện pháp riêng để hạn chế, tiến tới loại trừ loại tội phạm này ra khỏi đời sống xã hội.

2.1.3.4 Cơ cấu theo trình độ học vấn

Theo thống kê của Tào án nhân dân tỉnh Quảng Nam thì số người phạm tội bị xét xử trong 5 năm từ 2014 đến 2018 có trình độ học vấn thấp. Không có người phạm tội nào phạm tội có trình độ trung cấp,cao đẳng hay đại học. Cụ thể:

Năm 2014 số người phạm tội thất học là 32 bị can chiếm 29,09%; số người phạm tội có trình độ cấp I là 30 người phạm tội chiếm tỉ lệ 27,27%; số người phạm tội có trình độ học vấn cấp II là 51 chiếm tỉ lệ 46,36%; số người phạm tội có trình độ cấp III là 07 người phạm tội chiếm tỉ lệ 6,36%. [Xem Bảng 2.8 – Phụ lục]

Năm 2015 số người phạm tội thất học là 29 người phạm tội chiếm 33,72% so với năm 2014 giảm 2,73%; số người phạm tội có trình độ cấp I là 26 người phạm tội chiếm tỉ lệ 30,63% so với năm 2014 giảm 3,64%; số người phạm tội có trình độ học vấn cấp II là 21 chiếm tỉ lệ 24,41% so với năm 2014 giảm 21,95%; số người phạm tội có trình độ cấp III là 10 người phạm tội chiếm tỉ lệ 9,09% so với năm 2014 tăng 2,73%. [Xem Bảng 2.8 – Phụ lục]

Năm 2016 số người phạm tội thất học là 15 người phạm tội chiếm 12,5% so với năm 2014 giảm 13,64%; số người phạm tội có trình độ cấp I là 37 người phạm tội chiếm tỉ lệ 30,83% so với năm 2014 tăng 3,56%; số người phạm tội có trình độ học vấn cấp II là 63 chiếm tỉ lệ 52,5% so với năm 2014 tăng 10,91,%; số người phạm tội có trình độ cấp III là 05 người phạm tội chiếm tỉ lệ 4,16% so với năm 2014 giảm 1,82%.[Xem Bảng 2.8 – Phụ lục]

Năm 2017 số người phạm tội thất học là 19 người phạm tội chiếm 14,96% so với năm 2014 giảm 11,82%; số người phạm tội có trình độ cấp I là 40 người phạm tội chiếm tỉ lệ 31,9% so với năm 2014 tăng 9,09%; số người phạm tội có trình độ học vấn cấp II là 61 chiếm tỉ lệ 548,03%, so với năm 2014 tăng 9,09,%; số người phạm tội có trình độ cấp III là 07 bị can chiếm tỉ lệ 5,51% so với năm 2014 không tăng, không giảm. [Xem Bảng 2.8 – Phụ lục] Năm 2018 số người phạm tội thất học là 23 người phạm tội chiếm 17,29% so với năm 2014 giảm 1,27%; số người phạm tội có trình độ cấp I là 57 người phạm tội chiếm tỉ lệ 42,85% so với năm 2014 tăng 24,54%; số người phạm tội có trình độ học vấn cấp II là 49 chiếm tỉ lệ 36,84% so với năm 2014 giảm 1,82,%; số người phạm tội có trình độ cấp III là 04 người phạm tội chiếm tỉ lệ 3% so với năm 2014 giảm 2,73%.[Xem Bảng 2.8 – Phụ lục]

Như vậy, trong toàn chu kỳ chúng ta có thể thấy số người phạm tội có các trình độ học vấn khác nhau tăng giảm không đều, tuy nhiên số người phạm tội thất học không chiếm tỉ lệ đa số nhưng có xu hướng giảm dần. Số người phạm tội có trình độ học vấn cấp I, II luôn chiếm tỉ lệ cao, còn số người phạm tội có trình độ cấp III thì rất thấp không quá 7%. Điều này chứng tỏ rằng tội phạm ma túy tại Quảng Nam có trình độ học vấn thấp. Luận văn: Thực trạng tình hình tội phạm ma túy tại ở Quảng Nam.

2.1.3.5 Cơ cấu theo nghề nghiệp

  • Tình hình tội phạm về ma túy có cơ cấu nghề nghiệp như sau:

Năm 2014 tổng số người phạm tội 110 trong đó số người phạm tội có nghề nghiệp là lao động phổ thông là 20 người phạm tội chiếm 18,18%; số người phạm tội có nghề nghiệp buôn bán là 10 bị cáo chiếm 9,09%; số bị có làm các ngành nghề khác là 24 người phạm tội chiếm tỉ lệ 21,81%; số người phạm tội không có nghề nghiệp là 56 người phạm tội chiếm 50,9%. [Xem Bảng 2.9 – Phụ lục]

Năm 2015 tổng số người phạm tội 86 trong đó số người phạm tội có nghề nghiệp là lao động phổ thông là 15 người phạm tội chiếm 17,44%; số người phạm tội có nghề nghiệp buôn bán là 6 người phạm tội chiếm 6,97%; số người phạm tội làm các ngành nghề khác là 20 người phạm tội chiếm tỉ lệ 23,25%; số người phạm tội không có nghề nghiệp là 45 người phạm tội chiếm 52,32%. [Xem Bảng 2.9 – Phụ lục]

Năm 2016 tổng số người phạm tội 120 trong đó số người phạm tội có nghề nghiệp là lao động phổ thông là 31 người phạm tội chiếm 25,83%; số người phạm tội có nghề nghiệp buôn bán là 7 người phạm tội chiếm 5,83%; số người phạm tội làm các ngành nghề khác là 20 người phạm tội chiếm tỉ lệ 16,66%; số người phạm tội không có nghề nghiệp là 62 người phạm tội chiếm 51,66%. [Xem Bảng 2.9 – Phụ lục]

Năm 2017 tổng số người phạm tội 127 trong đó số người phạm tội có nghề nghiệp là lao động phổ thông là 28 người phạm tội chiếm 22,04%; số người phạm tội có nghề nghiệp buôn bán là 9 người phạm tội chiếm 7,08%; số người phạm tội làm các ngành nghề khác là 21 người phạm tội chiếm tỉ lệ 17,53%; số người phạm tội không có nghề nghiệp là 69 người phạm tội chiếm 54,33%. [Xem Bảng 2.9 – Phụ lục] Luận văn: Thực trạng tình hình tội phạm ma túy tại ở Quảng Nam.

Năm 2018 tổng số người phạm tội 133 trong đó số người phạm tội có nghề nghiệp là lao động phổ thông là 35 người phạm tội chiếm 26,31%; số người phạm tội có nghề nghiệp buôn bán là 11 người phạm tội chiếm 8,27%; số người phạm tội làm các ngành nghề khác là 16 bị cáo chiếm tỉ lệ 12,03%; số người phạm tội không có nghề nghiệp là 71 người phạm tội chiếm 53,38%. [Xem Bảng 2.9 – Phụ lục]

Như vậy, qua nghiên cứu, phân tích số liệu chúng ta thấy rằng tỉ trọng của các người phạm tội phạm tội về ma túy từ năm 2014 đến 2018 có tỉ trọng thay đổi thường xuyên theo năm. Tuy nhiên, đa số người phạm tội phạm tội đều không có nghề nghiệp, thiếu công ăn việc làm hoặc có thì cũng không ổn định chiếm tỉ lệ cao. Số người phạm tội có việc làm ổn định, nghề nghiệp như buôn bán ít phạm tội, luôn chiếm tỉ lệ dưới 8%. [Xem Bảng 2.9 – Phụ lục]

2.1.3.6 Cơ cấu theo tình trạng nghiện ma túy

Năm 2014 tổng số người phạm tội là 110 người phạm tội người phạm tội về ma túy có đến 96 người phạm tội nghiện ma túy chiếm tỉ lệ 87,27%; số người phạm tội không nghiện ma túy là 14 người phạm tội chiếm 12,72%. [Xem Bảng 2.10 – Phụ lục]

Năm 2015 tổng số bị cáo là 86 người phạm tội về ma túy có đến 81 người phạm tội nghiện ma túy chiếm tỉ lệ 94,14%; số người phạm tội không nghiện ma túy là 5 người phạm tội chiếm 5,81%. [Xem Bảng 2.10 – Phụ lục]

Năm 2016 tổng số người phạm tội là 120 người phạm tội về ma túy có đến 114 người phạm tội nghiện ma túy chiếm tỉ lệ 95%; số người phạm tội không nghiện ma túy là 6 người phạm tội chiếm 5%.[Xem Bảng 2.10 – Phụ lục]

Năm 2017 tổng số người phạm tội là 127 người phạm tội về ma túy có đến 115 bị cáo nghiện ma túy chiếm tỉ lệ 90,55%; số người phạm tội không nghiện ma túy là 8 người phạm tội chiếm 6,26%.[Xem Bảng 2.10 – Phụ lục]

Năm 2018 tổng số người phạm tội là 133 người phạm tội về ma túy có đến 127 người phạm tội nghiện ma túy chiếm tỉ lệ 95,48%; số người phạm tội không nghiện ma túy là 6 người phạm tội chiếm 4,51%. [Xem Bảng 2.10 – Phụ lục]

Trong toàn giai đoạn từ 2014 đến 2018 tình hình tội phạm ma túy chúng ta thấy rằng đa số người phạm tội trong diện nghiện ma túy (92,49%). Số người phạm tội không nghiên ma túy chiếm tỉ lệ nhỏ (6,86).

2.1.3.7 Cơ cấu theo điều kiện, hoàn cảnh gia đình Luận văn: Thực trạng tình hình tội phạm ma túy tại ở Quảng Nam.

Năm 2014 tổng số người phạm tội là 110 người phạm tội phạm tội về ma túy có 39 người phạm tội thuộc diện gia đình nghèo đói, kinh tế khó khăn, chiếm tỉ lệ 35,45%; số người phạm tội người phạm tội sống trong môi trường gia đình có người vi phạm pháp luật, có người phạm tội là 61 người phạm tội chiếm 55,45%. [Xem Bảng 2.11 – Phụ lục]

Năm 2015 tổng số người phạm tội là 86 người phạm tội về ma túy có 35 người phạm tội thuộc diện gia đình nghèo đói, kinh tế khó khăn, chiếm tỉ lệ 40,69%; số người phạm tội người phạm tội sống trong mội trường gia đình có người vi phạm pháp luật, có người phạm tội là 53 người phạm tội chiếm 61,62%. [Xem Bảng 2.11 – Phụ lục]

Năm 2016 tổng số người phạm tội là 120 người phạm tội phạm tội về ma túy có 41 người phạm tội thuộc diện gia đình nghèo đói, kinh tế khó khăn, chiếm tỉ lệ 34,16%; số người phạm tội người phạm tội sống trong mội trường gia đình có người vi phạm pháp luật, có người phạm tội là 79 người phạm tội chiếm 65,83%. [Xem Bảng 2.11 – Phụ lục]

Năm 2017 tổng số người phạm tội là 127 người phạm tội phạm tội về ma túy có 46 người phạm tội thuộc diện gia đình nghèo đói, kinh tế khó khăn, chiếm tỉ lệ 36,22%; số người phạm tội phạm tội sống trong mội trường gia đình có người vi phạm pháp luật, có người phạm tội là 81 người phạm tội chiếm 63,77%. [Xem Bảng 2.11 – Phụ lục]

Năm 2018 tổng số người phạm tội là 133 người phạm tội người phạm tội về ma túy có 62 người phạm tội thuộc diện gia đình nghèo đói, kinh tế khó khăn, chiếm tỉ lệ 46,61%; số người phạm tội người phạm tội sống trong mội trường gia đình có người vi phạm pháp luật, có người phạm tội là 71 người phạm tội chiếm 53,38%. [Xem Bảng 2.11 – Phụ lục]

Vậy ta có thể thấy số người phạm tội về ma túy có điều kiện hoàn cảnh khó khăn, nghèo đói chiếm tỉ lệ ít hơn so với người phạm tội về ma túy sống trong gia đình có người vi phạm pháp luật, người phạm tội (39,69%/60,31%).

2.1.4 Tính chất của tình hình tội phạm Luận văn: Thực trạng tình hình tội phạm ma túy tại ở Quảng Nam.

Tình hình TPVMT trên địa bàn tỉnh Quảng Nam thời gian qua có tính chất ngày càng có những diễn biến phức tạp, nghiêm trọng. Nhìn chung trong 05 năm (từ 2014 đến 2018) tình hình tội phạm về ma túy có sự tăng giảm không thất thường nhưng nhìn chung xu hướng tăng là chủ yếu. Cụ thể như sau:

Thứ nhất, Giai đoạn từ năm 2014 đến năm 2018 trung bình mỗi năm phát hiện, bắt giữ 101,8 vụ, tỉ lệ tăng trung bình 27,44% vụ/năm. Số đối tượng bị bắt giữ trung bình mỗi năm là 141,2 đối tượng, tỉ lệ tăng 37,04% đối tượng/năm. Số vụ án khởi tố trung bình một năm là 87,2 vụ, tỉ lệ tăng trung bình 28,23% vụ/năm. Số bị can bị khởi tố trung bình một năm là 121,4 người phạm tội /năm, tỉ lệ tăng 24,38% người phạm tội /năm. Trung bình mỗi năm xét xử 83,6 vụ án về ma túy với 115,2 người phạm tội. Trung bình tỉ lệ tăng hằng năm là 8,57% vụ/năm và 4,72 người phạm tội /năm.

Thứ hai, đánh giá tính chất tội phạm trên cơ sở cơ cấu giới tính thì ta thấy rằng tình hình tội phạm về ma túy tại tỉnh Quảng Nam: Từ năm 2014 đến 2018 tổng số đối tượng là nam giới bị bắt là 618 đối tượng chiếm 87,5%, số đối tượng là nữ giới bị bắt 88 đối tượng chiếm tỉ lệ 12,5%; người phạm tội nam bị khởi tố là 569 bị can chiếm 93,7%, số bị can nữ bị khỏi tố là 38 bị can chiếm 6,3%.[Xem Bảng 2.2 – Phụ lục]. Như vậy, nhìn chung chúng ta có thể thấy số đối tượng bị bắt cũng như số bị can bị do cơ quan điều tra khởi tố thì nam giới chiếm tỉ lệ rất cao so với nữ. Mặc dù chiếm tỉ lệ rất nhỏ nhưng có thể thấy số đối tượng vi phạm về ma túy là nữ giới đang có xu hướng gia tăng cả về số lượng cũng như tỉ lệ phần trăm theo các năm từ 2014 đến 2018.

Thứ ba, xét trên phương diện cơ cấu nhóm tuổi thì tình hình tội phạm ma túy tại tỉnh Quảng Nam như sau: Nhìn chung từ 2014 đến 2018 nhóm tuổi dưới 18 chiếm tỉ lệ 3,3%; nhóm từ 18 đến 30 chiếm tỉ lệ 60,3%; nhóm từ 30 đến 45 tuổi chiếm tỉ lệ 30,3%; nhóm từ 45 đến 60 tuổi chiếm tỉ lệ 6,5%. [Xem Bảng 2.3 – Phụ lục]. Như vậy, có thể thấy chủ yếu người phạm tội về ma túy tại đại bàn tỉnh Quảng Nam thuộc đội tuổi trên 30. Nhưng tỉ lệ người phạm tội, bị can, bị cáo thuộc nhóm từ 18 đến 30 cũng chiếm tỉ trọng cao (trung bình 33,5%). Điều này cho thấy người phạm tội về ma túy tại tỉnh Quảng Nam hiện nay có xu hướng trẻ hóa tội phạm. Luận văn: Thực trạng tình hình tội phạm ma túy tại ở Quảng Nam.

Thứ tư, đánh giá tình hình tội phạm ma túy trên góc độ cơ cấu các tội danh đã được Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam xét xử sơ thẩm thì có thể thấy rằng tội phạm về ma túy tại tỉnh Quảng Nam không quá đa dạng, chủ yếu tập trung vào các tội phổ biến là Tàng trử, vận chuyển, mua bán trái phép các chất ma túy.

Thứ năm, Dưới góc độ nhận thức về pháp luật dựa trên trình độ học vấn ta thấy trong giai chúng ta có thể thấy số bị cáo có các trình độ học vấn khác nhau tăng giảm không đều. Tuy nhiên, số bị cáo thất học không chiếm tỉ lệ đa số nhưng có xu hướng giảm dần. Số bị cáo có trình độ học vấn cấp I, II luôn chiếm tỉ lệ cao, còn số bị cáo có trình độ cấp III thì rất thấp không quá 7%. Điều này chứng tỏ rằng tội phạm ma túy tại Quảng Nam có trình độ học vấn thấp.

Thưa sáu, Qua nghiên cứu, phân tích số liệu chúng ta thấy rằng tỉ trọng của các bị cáo phạm tội về ma túy có các nghề nghiệp khác nhau từ năm 2014 đến 2018 có tỉ trọng thay đổi thường xuyên theo năm. Tuy nhiên, đa số bị cáo phạm tội đều không có nghề nghiệp, thiếu công ăn việc làm hoặc có thì cũng không ổn định chiếm tỉ lệ cao. Số bị cáo có việc làm ổn định, nghề nghiệp như buôn bán ít phạm tội, luôn chiếm tỉ lệ dưới 8%. [Xem Bảng 2.9 – Phụ lục]. Xem xét trong giai đoạn từ 2014 đến 2018 tình hình tội phạm ma túy chúng ta thấy rằng đa số người phạm tội trong diện nghiện ma túy (92,49%). Số người phạm tội không nghiên ma túy chiếm tỉ lệ nhỏ (6,86).

Thứ bảy, Bên cạnh đó ta có thể thấy số người phạm tội về ma túy có điều kiện hoàn cảnh khó khăn, nghèo đói chiếm tỉ lệ ít hơn so với người phạm tội về ma túy sống trong gia đình có người vi phạm pháp luật, người phạm tội (39,69%/60,31%).

2.2. Thực tiễn tội phạm ẩn Luận văn: Thực trạng tình hình tội phạm ma túy tại ở Quảng Nam.

2.2.1 Đánh giá tội phạm ẩn

Tội phạm ẩn về ma túy có vai trò hết sức nguy hiểm đối với công tác đấu tranh phòng ngừa trong thực tiễn. Tội phạm ẩn về ma túy hay tội phạm ẩn nói chung chúng ta có thể xem xét đánh giá nó như tảng băng trôi, chúng ta chỉ nhìn thấy, quan sát được phần nổi chính là tội phạm rõ, còn phần ẩn chính là bề chìm phía dưới mà chúng ta chưa nhìn thấy.

Trong thời gian qua với sự phối hợp của các cơ quan, chức năng, đoàn thể dưới sự chủ trì của Lực lượng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Quảng Nam đã tiến hành tuyên truyền, vận động nhân dân tham gia, chung tay góp sức trong công tác phòng chống tệ nạn ma túy. Qua đó, xây dựng hàng trăm hòm thư tố giác tội phạm tại các xã, phường, thị trấn trên địa bàn toàn tỉnh. Trong 05 năm năm từ 2014 đến 2018 lực lượng CSĐTTPVMT đã phát hiện, bắt giữ 509 vụ với 706 đối tượng. Qua đó khởi tố 436 vụ án ma túy với 607 bị can. Có được kết quả cao đó ngài sự chủ động, tích cực tấn công trấn áp tội phạm, tạo ra các đợt cao điểm truy quét tệ nạn ma túy, còn có sự đóng góp của các tầng lớp nhân dân qua các nguồn tin báo tố giác tội phạm. Trên cở qua trọng từ các nguồn tin báo tố giác tội phạm lực lượng Cảnh sát tội phạm về ma túy đã tiến hành điều tra, xác minh làm rõ thông tin về tội pham.

Trong 05 năm từ 2014 đến 2018 tổng công đã có 13.619 tin báo tối giác tội phạm của các cơ quan, hội, đoàn thể và nhân dân về ma túy mà phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy và lực lượng cảnh sát ma túy các huyện đã nhận được.

Tuy số tin báo đã nhận được là rất nhiều và đã giúp ích rất nhiều cho cơ quan chức năng trong điều tra, khám phá tội phạm. Nhưng số vụ án được điều tra khám phá so với tin báo tố giác tội phạm đã thu thập được khá khiêm tốn.

Điều này chứng minh tội phạm ẩn về ma túy tại tỉnh Quảng Nam dang tồn tại khá nhiều mà các cơ quan chức năng chưa tiến hành điều tra khám phá để truy tố xét xử.

Bên cạnh các số liệu được thu thập, thống kê theo số vụ, số bị can, người phạm tội như đã phân tích ở phần trên thì một phần vo cùng quan trọng không thể bỏ qua đó là phần ẩn của THTP. Việc mong muốn đánh giá một cách chính xác, tuyệt đối phần ẩn của tình hình TPVMT là không khả thi do một số nguyên nhân khách quan và chủ quan như do nhân dân không tố giác, do thiếu sót của cơ quan bảo vệ pháp luật trong việc phát hiện hành vi, hay việc sử dụng các thủ đoạn gây án mới, sự tinh vi, xảo quyệt hòng che đậy hành vi phạm tội của tội phạm. Vì thế, chỉ có thể đánh giá mức độ ẩn của tội phạm về ma túy tại Quảng Nam một cách tương đối so với thực tế chứ không thể nào đánh giá tuyệt đối.

2.2.2. Nguyên nhân tội phạm ẩn Luận văn: Thực trạng tình hình tội phạm ma túy tại ở Quảng Nam.

Tội phạm ẩn có rất nhiều nguyên nhân nhưng chủ yếu có ba nguyên nhân chủ yếu sau:

  • Phần ẩn do nguyên nhân khách quan

Phần ẩn của tình hình TPVMT tại tỉnh Quảng Nam do nguyên nhân khách quan là tất cả các TPVMT đã xảy ra trong thực tế, nhưng vì các cơ quan chức năng có thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự không có thông tin về chúng hoặc không đủ căn cứ khởi tố vụ án hình sự, khởi tố vụ án, khởi tố bị can. Vì thế, loại tội phạm này không chịu các hình thức xử lý từ phía Nhà nước và xã hội và do đó nó không có trong báo cáo thống kê của các cơ quan điều tra, truy tố, xét xử. Độ ẩn được hiểu là mức độ của từng loại tội phạm hoặc từng nhóm tội phạm đã xảy ra trong thực tế nhưng không bị phát hiện và xử lý hình sự, có thể được xác định độ ẩn dựa vào mức độ bộc lộ của tội phạm, số lượng tin báo tố giác tội phạm. Vì vậy, tác giả tập trung làm rõ tội phạm ẩn do nguyên nhân khách quan có lý do ẩn từ phía chủ thể của hành vi phạm tội.

Phải khẳng định người phạm tội ma túy luôn dùng mọi thủ đoạn, phương thức, mánh khóe để che giấu hành vi, bưng bít thông tin hoạt động phạm tội; với tính chất rất manh động, nguy hiểm của tội phạm, nên đa số người tố giác, báo tin, làm chứng trong các vụ án ma túy thường rất ít vì lý do khách quan và chủ quan khác nhau. Nguyên nhân ẩn của loại tội phạm ẩn tự nhiên cũng rất đa dạng nhưng trên cơ sở của sự phát triển đất nước trong những năm gần đây và từ những nghiên cứu, đánh giá cụ thể thực tế của tình hình tội phạm về ma túy trên địa bàn tỉnh Quảng Nam cho thấy cần đánh giá, xem xét nguyên nhân ẩn từ góc độ:

  • Về mặt tâm lý, tội phạm về ma túy luôn có ý thức cố ý tìm mọi cách che giấu hành vi phị phạm tội để qua mặt cơ quan chức năng. Trong thực tế TPVMT luôn luôn có xu hướng “tinh vi hóa” hành vi phạm tội; tâm lý chung là luôn mong muốn che giấu, sử dụng mọi khả năng và điều kiện có để che giấu tội phạm và tạo ra những khó khăn, cản trở nhất định để tránh sự phát hiện cùng với những thủ đoạn gây án mới. Không phải khi nào người phạm tội về ma túy hoặc đang thực hiện hành vi phạm tội về ma túy lần đầu đã bị phát hiện, bắt giữ mà đa số phải qua quá trình thực hiện rất nhiều lần thì mới bị phát hiện. Luận văn: Thực trạng tình hình tội phạm ma túy tại ở Quảng Nam.
  • Tội phạm ẩn xuất phát từ nhân thân người phạm tội: Tiến hành tội phạm một cách thường xuyên:

Trong số các bị cáo phạm tội về ma túy thì rất nhiều bị cáo phạm tội do nghiện ma túy. Xét trên thực tế theo logic thì người nghiện ma túy chủ yếu tiến hành việc mua bán, tàng trữ, vận chuyển ma túy chủ yếu và đầu tiên là mục đích để sử dụng, thỏa mãn cơn nghiện của bản thân. Theo thống kê Phòng Cảnh sát ma túy Công an Quảng Nam tính hết năm 2018 trên địa bàn tỉnh có 1922 đối tượng nghiện đang được quản lý theo hồ sơ. Số lượng người nghiện chưa được phát hiện, quản lý ngoài thực tế còn nhiều hơn rất nhiều. Thực hiện hành vi phạm tội một cách thường xuyên, kéo dài thời gian liên tục cho tới khi bị phát hiện: điển hình là những người phạm tội về ma túy nhưng hoạt động có tổ chức theo đường dây, gia đình, dòng họ, thôn bản, có quan hệ mật thiết, gắn bó chặt chẽ với nhau, với hệ thống liên hoàn, khép kín, thường thì trong một thời gian dài nhưng khó bị phát hiện bởi người trong đường dây là những người có quan hệ huyết thống, gia đình… nên sẵn sàng che chắn, bảo vệ cho nhau, khi bị phát hiện lập tức nhận tội thay cho nhau.

  • Tội phạm ẩn do nguyên nhân chủ quan

Khác với tội phạm ẩn do nguyên nhân khách quan, tội phạm ẩn do nguyên nhân chủ quan chủ yếu xuất phát từ các chủ thể mà pháp luật đã quy định chức năng, nhiệm vụ trực tiếp tiến hành đấu tranh phòng, chống tội phạm, kể từ khâu trực tiếp phát hiện dấu hiệu của tội phạm hoặc tiếp nhận tin báo tố giác về tội phạm đến xét xử vụ án và thi hành án hình sự. Việc làm rõ tội phạm ẩn do nguyên nhân chủ quan là nhiệm vụ quan trọng đã được Đảng nêu cụ thể trong Nghị quyết số 08/NQ-TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới. cụ thể tại: phần II, mục A, tiểu mục 3 nhận định “Phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn xã hội tham gia vào công tác tư pháp. Các cơ quan tư pháp phải dựa vào nhân dân để hoạt động, đồng thời phải là lực lượng nòng cốt, là chỗ dựa vững chắc của nhân dân trong đấu tranh phòng chống tội phạm, các hành vi vi phạm pháp luật và giải quyết tranh chấp”.

Từ thực tế phòng ngừa tình hình các TPVMT trên địa bàn tỉnh Quảng Nam, câu hỏi đặt ra là, có hay không sự “bỏ lọt người, lọt tội” trong quá trình tiến hành hoạt động giải quyết tin báo tố giác về tội phạm của các tầng lớp nhân dân trong thời gian qua? Cụ thể là yếu tố tiếp tay, bao che, bảo kê của lực lượng nòng cốt làm công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm, lực lượng có nhiệm vụ trực tiếp phát hiện tội phạm; nếu thật sự có thì đây chính là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến tội phạm ẩn do nguyên nhân chủ quan (cố ý). Luận văn: Thực trạng tình hình tội phạm ma túy tại ở Quảng Nam.

Bên cạnh đấy một vấn đề cũng hết sức quan trọng đang gây khó khăn đó chính là hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật còn thiếu đồng bộ, chưa chặt chẽ, một số văn bản hướng dẫn thực hiện BLHS chưa phù hợp với thực tiễn đấu tranh phòng chóng tội phạm. Điển hình là việc áp dụng Thông tư liên tịch số 17/2007/TTLT-B CA-VKSNDTC-TANDTC-BTP hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Chương XVIII “Các tội phạm về ma túy” của BLHS 1999 chưa rõ ràng, kịp thời và thống nhất, năm 2015 Quốc Hội thông qua Bộ luật Hình sự nhưng chưa kịp áp dụng trong thực tiễn thì năm 2017 lại sửa đổi, bổ sung. Như đã phân tích tại phần diễn biến của tình hình các TPVMT trên địa bàn tỉnh Quảng Nam, văn bản hướng dẫn đã nảy sinh nhiều khó khăn, vướng mắc cho CQĐT, VKSND, TAND trong thực tiễn giải quyết án ma túy dẫn đến số lượng tội phạm ẩn có sự gia tăng.

  • Phần ẩn do sai số trong thống kê

Theo lý luận về tội phạm học thì tội phạm ẩn thống kê bao gồm những hành vi phạm tội đã bị xử lý bằng chế tài hình sự, nhưng vì nhiều lý do khách quan và chủ quan khác nhau, số này bị lọt ra ngoài con số thống kê hình sự, những con số là căn cứ cho việc đánh giá chính xác THTP tại tỉnh Quảng Nam. Lý do tồn tại tội phạm ẩn thống kê nằm trong phạm vi công tác thống kê hình sự, nhưng nó không phải nằm ở chủ thể tiến hành công việc thống kê, không phải ở phương tiện khoa học – kỹ thuật – công nghệ áp dụng cho công tác thống kê lạc hậu hay hiện đại, mà chính là nằm ở những quy định có tính chất pháp lý đối với công tác thống kê hình sự. Tội phạm ẩn thống kê là tội phạm đã xảy ra, đã bị xử lý nhưng không có trong thống kê hình sự. Nguyên nhân dẫn đến tình hình ẩn thống kê là do lỗi của người trực tiếp thống kê và một số qui định thiếu sót trong biểu mẫu thống kê. Về biểu mẫu thống kê theo quy định hiện hành đã vô tình bỏ sót một số lượng lớn tội phạm. Hiện nay tại tòa án nhân dân cấp tỉnh và cấp huyện đang thống kê tội phạm theo biểu mẫu 1A. Vì thế, nếu trong trường hợp một người phạm nhiều tội trong một vụ án thì người thống kê theo quy định chỉ lựa chọn tội danh nào nghiêm trọng nhất và có hình phạt cao nhất để điền vào biểu mẫu thống kê, điều này vô tình đã bỏ sót các tội danh còn lại trong vụ án.

2.2.3. Các loại tội phạm ẩn của THTP về ma túy tại tỉnh Quảng Nam

Trong quá trình nghiên cứu, tìm hiểu, đánh giá tình hình tội phạm về ma túy tại tỉnh Quảng Nam chúng tôi nhận thấy đa số tội phạm ẩn của tội phạm này chủ yếu là ở các tội:

  • Tội phạm thực hiện các hành vi mua bán trái phép chất ma túy. Các đối tượng này thường là thực hiện hành vi phạm tội nhiều lần, tại các địa bàn hiểm trở, hẻo lánh, xa khu dân cư nên thường rất khó phát hiện, chứng cứ yếu rất khó kết tội.
  • Tội phạm thực hiện hành vi tàng trử trái phép chất ma túy với mực đích sử dụng và bán lại cho con nghiện kiếm lời. Thực tế, tại địa bàn quản Nam các đối tượng thường mua số lượng ma túy ít, khối lượng nhỏ lẽ, ít hình thành đường dây phạm tội như các địa phương khác nên các đối tượng nay thường cất dấu trong người, đồ vật một cách tinh vi rất khó để phát hiện.

2.3. Tình hình tội phạm và nguyên nhân của tình hình tội phạm về ma túy trên địa bàn tỉnh Quảng Nam Luận văn: Thực trạng tình hình tội phạm ma túy tại ở Quảng Nam.

Từ thực trạng tình hình tội phạm về ma túy trên địa bàn tỉnh Quảng Nam, có thể phân tích để làm rõ nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội phạm về ma túy tại tỉnh Quảng Nam.

2.3.1 Nguyên nhân và điều kiện về kinh tế xã hội

Cùng với sự phát triển nhanh chóng của xu thế toàn cầu hóa, sự phát triền nhanh chóng của các quốc gia trong khu vực và sự giao thoa của các nước trong khu vực ngày càng sâu rộng. Quảng Nam là một tỉnh duyên hải Nam trung bộ, có đường biên giới trên bộ giáp với Lào, cùng với sự đa dạng các loại hình giao thông trong nước và quốc tế. Điều này tạo thuận lợi cho việc phát triển kinh tế, nhưng chính nó cũng đã gây ra sự phân hóa giàu nghèo rõ rệch giữa các vùng nông thôn và thành thị. Đa số những người sống các vùng nông thôn, vùng núi và biên giới thì điều kiện cuộc sống vô cùng khổ sở, nhận thức pháp luật rất kém, còn ảnh hưởng nhiều hủ tục lạc hậu. Chính điều này là một trong những nguyên nhân chính gây ra nạng thất nghiệp dẫn đến tình trạng tội phạm gia tăng trên địa bàn tỉnh Quảng Nam những năm qua.

Thực tế việc nghiên cứu tình hình tội phạm ma túy tại tỉnh Quảng Nam cho thấy người phạm tội ma túy thuộc những đối tượng không có nghề nghiệp lên đến 52,60%, còn lại những đối tượng lao động phổ thông không có chuyên kỷ thuật cũng chiếm 22,39%.

Qua nghiên cứu cá biệt có xã Bình Trị là xã vùng quê nghèo, kinh tế rất khó khăn thuộc huyện Thăng Bình. Được biết các thanh niên lớn lên đều bỏ xứ đi làm ăn xa. Vào năm 1999, nhiều người đổ xô lên huyện Phước Sơn làm vàng, rồi dẫn đến nghiện ngập ma túy. Những người này mang “nàng tiên nâu” về làng lôi kéo, rủ người chơi. Dần dần tình trạng nghiện ngập lan ra cả xã với những người có độ tuổi từ 18 – 35″. Luận văn: Thực trạng tình hình tội phạm ma túy tại ở Quảng Nam.

Theo thống kê của Công an huyện Thăng Bình trong thời gian từ 1999 – 2015, xã Bình Trị đã có đến 213 trường hợp nghiện ma túy chính quyền biết được, có lập hồ sơ. Còn con nghiện từ nơi khác đến, dân địa phương nghiện rất nhiều nhưng không thống kê được. Có một thời gian, xã Bình Trị bị người vùng khác gọi là “xã ma túy”, “xã chết chóc”,… tệ nạn ma túy, tình trạng trộm cắp, cướp giật xảy ra thường xuyên. Ngay cả việc con cái hành hung, ngược đãi cha mẹ để có tiền chích hút là chuyện như… cơm bữa ở đây. Ngoài ra, xã có hơn 40 người chết vì nhiễm HIV, trong đó có rất nhiều thanh niên đã lập gia đình. “Ngày trước, nơi chích hút của các nhóm đối tượng là khu chợ Vinh Huy. Điện không có, lại thêm các quầy, sạp nằm gần nhau là chỗ lý tưởng để thanh niên giấu hàng. Buổi sáng tôi ra dọn hàng thì thấy ống kim tiêm khắp nơi”.

Tệ nạn ma túy ở đây rất phúc tạp, các cơ quan chức năng đặc biệt Công huyện Thăng Bình thường xuyên tổ chức truy quét các đối tượng nghiện. Bắt các đối tượng cung cấp ma túy cho con nghiện. Theo thống kê của Công an huyện Thăng Bình riêng Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy từ năm 2014 đến 2018 đã bắt và khởi tố 8 vụ buôn bán ma túy, khởi tố 11 đối tượng.

Vậy, dự báo về THTP ma túy trong thời gian đến do tác động mạnh mẽ của sự thay đổi nhanh chóng về điều kiện kinh tế – xã hội ngày càng gia tăng trên toàn tỉnh. Cho nên cần thiết phải đưa ra những biện pháp cụ thể nhằm tác động trực tiếp vào các yếu tố tiêu cực, tạo điều kiện thuận lợi cho công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm, đặc biệt là tội phạm về ma túy trên địa bàn toàn tỉnh Quảng Nam.

2.3.2 Nguyên nhân và điều kiện về văn hóa gia đình, môi trường sống

  • Về môi trường văn hóa, xã hội

Thực tế tại địa bàn tỉnh Quảng Nam tỉ lệ người phạm tội về ma túy từ 18 đến 30 tuổi chiếm 33,51%. Độ tuổi đúng ra phải đang góp phần lớn trong công cuộc học tập, góp phần xây dựng, kiến thiết tỉnh Quảng Nam ở hiện tại và trong tương lai thì lại là đối tượng phạm tội nguy hiểm cho xã hội. Luận văn: Thực trạng tình hình tội phạm ma túy tại ở Quảng Nam.

Điển hình như vụ đối tượng Huỳnh Văn Thịnh (sinh năm 1998, người đồng bào Cơ Tu, trú xã Tam Lãnh, huyện Phú Ninh, Quảng Nam) bị Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an TP Tam Kỳ phối hợp với Bộ Tư lệnh Vùng Cảnh sát biển 2 bất ngờ kiểm tra khi đang có hành vi bán trái phép chất ma túy cho các con nghiện lúc 17 giờ ngày 6/7/2018, tại khu vực quán karaoke Big World thuộc khối phố 7, phường An Sơn, TP Tam Kỳ. Tang vật thu giữ tại chỗ gồm: 5 viên thuốc lắc có khối lượng 1,9 gam, 1 ĐTDĐ và 2.800.000 đồng tiền mặt. Tiến hành khám xét nơi ở của đối tượng Thịnh tại phường Trường Xuân, TP Tam Kỳ, lực lượng chức năng thu giữ thêm 14 viên thuốc lắc và 17.400.000 đồng tiền mặt. Theo đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an TP Tam Kỳ (Quảng Nam) đã ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Huỳnh Văn Thịnh về hành vi “Mua bán trái phép chất ma túy”. Được biết Thịnh là là người đồng bào, do kém hiểu biết, trình độ văn hóa thấp, thích đua đòi theo các bạn người kinh tỏ vẻ sành điệu, hiểu biết nên bị các đối tượng nghiện dụ dỗ vào con dường nghiện ngập, Thịnh thường xuyên trộm cắp tiền và nhiều tài sản có giá trị của gia đình, người thân để mua ma túy sử dụng cùng nhiều đối tượng trên địa bàn Thành phố Tam Kỳ. để tiếp tục có tiền sử dụng ma túy Thình đã mua ma túy về chia nhỏ ra bán lại cho con nghiện đồng thời sử dụng từ năm 2017.

Sự du nhập lối sống của các nền văn hóa quốc tế (đặc biệt là văn hóa Phương tây) cùng với sự thực dụng của nền kinh tế thị trường làm cho nhiều giá trị đạo đức tốt đẹp của dân tộc Việt Nam bị mờ dần đi, thay vào đó là lối sống đua đòi, thực dụng, chạy theo giá trị đồng tiền. Xuất hiện nhiều hơn tình trạng con người trở nên vô cảm, sự thờ ơ của cộng đồng đối với những người nghiện ma túy, tội phạm về ma túy làm cho những người nghiện, người có tiền án về ma túy mặc cảm, tự ti, không giám đối mặt với xã hội ngày càng gia tăng. Mặc khác sự kỳ thị của cộng đồng góp phần làm cho việc tái hòa nhập sau khi cai nghiện, chấp hành xong án phạt tù trở nên vô cùng khó khăn từ đó họ lại trở về với con đường củ.

Bên cạnh đó là sự phát triển và bùng nổ mạnh mẽ của mạng xã hội và sự phát triển của khoa học công nghệ thông tin, tác động rộng rãi của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0. Xã hội ngày càng phát triển, khoa học công nghệ phát triển nhanh, bên cạnh yếu tố tích cực đáng kể, mặt trái của nó cũng rất đáng được quan tâm. Đánh giá của các tổ chức thế giới đến năm 2025 lĩnh vực khoa học công nghệ thông tin sẽ phát triển mạnh mẽ và ảnh hưởng lớn đến mọi mặc đời sống trên toàn cầu trong đó có Việt Nam.

Giới trẻ hiện nay đang chịu tác động lớn của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 từ cả tích cực và tiêu cực. Mặc tích cực là tạo ra cơ hội giao lưu, kết nối trong học tập, tìm kiếm việc làm. Còn phần tiêu cực chính là sự du nạp văn ấn phẩm đồi trụy, các luận điệu xuyên tạc chống phá sự phát triển xã hội, lối sống cực đoan, bạo lực, ảo tưởng, cá nhân chủ nghĩa thích hưởng thụ trên công sức người khác. Mà sự tác động tiêu cực đấy dễ gây ra những hành vi lệch chuẩn, vi phạm những quy tắc xử sự chung của xã hội hay còn gọi hành vi vi phạm phạm pháp luật và tội phạm. Tuy trong giai đoạn từ 2014 đến 2018 chưa phát hiện vụ án nào đối tượng phạm tội sử dụng công nghệ 4.0 để phạm tội. Nhưng đa số các đối tượng đặc biệt người phạm tội từ độ tuổi từ 18 đến 35 chủ yếu áp dụng các ứng dụng như facebook, hay zalo để liên lạc, trao đổi thông tin phạm tội.

  • Về môi trường nhà trường, môi trường bạn bè Luận văn: Thực trạng tình hình tội phạm ma túy tại ở Quảng Nam.

Theo báo cáo của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam từ năm 2014 đến 2018, tỉ lệ người phạm tội thất học chiếm 20,49%, tỉ lệ người phạm tội có học vấn đến cấp một chiếm 32,97%, người phạm tội có trình độ học vấn đến cấp hai chiếm tỉ lệ 31,94%, tỉ lệ này đối với trình độ học vấn đến cấp ba là 5,73%. Như vậy, có thể nói môi trường nhà trường tại Quảng Nam đang ảnh hưởng lớn đến sự hình thành nhân cách, hoàn thiện kiến thức chuyên môn nhưng cũng chịu tác động lớn từ tình hình tội phạm về ma túy. Trình độ học vấn thấp không hoàn toàn do môi trường nhà trường bạn bè gây ra. Nhưng học sinh bỏ học đang trong độ tuổi đến trường mà ngành giáo dục chưa có chính sách căng cơ giải quết triệt để nên tình trạng người phạm tội ma túy tại Quảng Nam có trình độ học vấn thấp đang chiếm tỉ lệ cao.

Đơn cử như: Chiều 25/7/2016, Công an huyện Phước Sơn (Quảng Nam) cho biết, vừa bắt quả tang một đối tượng mua bán trái phép chất ma túy trên địa bàn.

Trước đó, lực lượng trinh sát Công an huyện Phước Sơn phát hiện, đối tượng Trần Vũ Hà (SN 1988 trú tại tổ dân phố số 5, thị trấn Khâm Đức) có nhiều biểu hiện nghi vấn về hành vi mua bán trái phép chất ma túy. Theo đó, Công an huyện Phước Sơn quyết định xác lập chuyên án đấu tranh. Sau khi củng cố đầy đủ các tài liệu, chứng cứ phạm tội của Trần Vũ Hà, Ban chuyên án quyết định phá án. Vào lúc 17h ngày 24/7/2016, tại khu vực rừng keo thuộc tổ dân phố số 1, thị trấn Khâm Đức, Công an huyện Phước Sơn tổ chức mai phục và bắt quả tang đối tượng Trần Vũ Hà đang thực hiện hành vi bán ma túy cho các con nghiện. Tại hiện trường, cơ quan chức năng thu giữ tang vật gồm: 01 gói chứa tinh thể màu trắng khối lượng 0,05 gam nghi chất ma túy, 01 ĐTDĐ hiệu OPPO, 01 xe máy hiệu sirius và 1 triệu đồng. Tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của đối tượng, lực lượng chức năng tiếp tục phát hiện phía trên trần la phông của ngôi nhà có cất giấu 01 gói chứa tinh thể màu trắng, khối lượng 0,66 gam nghi là chất ma túy. Tại cơ quan điều tra, Trần Vũ Hà khai nhận, các gói chứa tinh thể màu trắng nói trên là ma túy, Hà cất giấu để sử dụng và bán lại cho các con nghiện khác để kiếm lời.

Được biết, lúc học THCS vì nhà khó khăn Hà phải thường xuyên nghỉ học phụ giúp gia đình nên học lực rất kém, đến trường bị thầy cô phạt phải đứng trên bục giảng để học vì không thuộc bài, làm việc riêng. Hà thường xuyên bị bạn bè chê cười, xa lánh do học yếu, nhà nghèo từ đó Hà trở nên tự ti và đánh nhau khi bị bạn bè trêu chọc.Trần Vũ Hà là đối tượng đã có tiền án về tội cố ý gây thương tích, trộm cắp tài sản, từng được đưa đi Trung tâm cai nghiện bắt buộc năm 2011. Sau khi trở về Hà không có nghề nghiệp nhưng lại quan hệ mật thiết với các đối tượng trong bãi vàng Phước sơn, đặc biệt Hà rất thân với nhóm bạn Nam quê Nghệ an cầm đầu không rõ lai lịch đang sống tại bãi vàng chuyên cung cấp ma túy từ nghệ an vào cho con nghiện trong bãi vàng. Luận văn: Thực trạng tình hình tội phạm ma túy tại ở Quảng Nam.

Vấn đề đầu tư vào giáo dục ngày càng được coi trọng và phát triển trong cả nước, Đảng và Nhà nước ta coi đây là “Quốc sách hàng đầu”. Tuy nhiên, cùng với phát triển của kinh tế – xã hội, sự giao thoa của nhiều nền văn hóa khác nhau và những sơ hở, thiếu sót trong giáo dục hiện nay. Đa số chỉ mới dừng lại ở việc tập trung trang bị kiến thức chuyên môn mà chưa chú trọng trang bị kỷ năng sống, ý thức tự giác, tư duy cộng đồng cũng như nắm bắt pháp luật cho người dân đặc biệt là giới trẻ, tầng lớp học sinh, sinh viên. Nên một bộ phận không nhỏ người dân chưa có được nhận thức đúng đắn về pháp luật, thêm vào đó lại bị cuốn theo những lối sống sai lệch chuẩn mực đạo đức: Ăn chơi, đua đòi, tiêu tiền không tiếc tay, sống thích hưởng thụ mà lười lao động, tư tưởng không làm vẫn có ăn…

Tóm lại, trong thời gian đến nếu ngành giáo dục tỉnh Quảng Nam không tiến hành cải cách, đổi mới và đầu tư đúng mức, không có những phương pháp đúng đắn chặt chẽ hơn trong nhà trường về giáo dục pháp luật, không có sự phối hợp chặt chẽ trong quản lý giữa nhà trường, gia đình và xã hội trong những năm tới đây thì môi trường nhà trường vẫn sẽ là một trong những nguyên nhân quan trọng của THTP về ma túy trên địa bàn tỉnh Quảng Nam.

  • Về môi trường gia đình

Gia đình có vị trí quan trọng trong việc giáo dục đối với con cái là điều rất cần thiết, mọi biểu hiện về tư duy, sự hình thành nhân cách của mỗi con người đều chịu ảnh hưởng lớn từ cha mẹ ngay tự khi còn nhỏ. Tuy nhiên, trong nền kinh tế thị trường hiện nay, đồng tiền đang được đặt lên trên hết, con người đến với nhau, quan tâm nhau với mục đích mang về lợi ích vật chất cho cá nhân, gia đình, tính vụ lợi cá nhân dần hình thành do ảnh hưởng của nền kinh tế thị trường. Dự báo trong những năm tới, sẽ có không ít người vì tập trung kiếm tiền mà quên mất việc giáo dục con cái từ nhỏ và vấn nạn bạo lục gia đình sẽ dẫn đến việc có những nhận thức sai lệch, hư hỏng, ăn chơi đua đòi theo bạn bè và những suy nghỉ cực đoan. Hiện nay, các cơ quan chức năng cần phải có những biện pháp hỗ trợ các gia đình đặc biệt các bậc cha mẹ tuổi đời còn trẻ, ít kinh nghiệm chăn sóc con cái, trình độ học vấn thấp, kinh tế khó khăn trong việc quản lý, nuôi dạy con trẻ một cách thiết thực và hiệu quả hơn, nếu không việc sa ngã vào con đường ma túy là tất yếu. Luận văn: Thực trạng tình hình tội phạm ma túy tại ở Quảng Nam.

Ngày 5/8/2017, CATP Tam Kỳ đã phối hợp cùng lực lượng phòng chống ma túy của Bộ Tư lệnh Vùng Cảnh sát biển 2 bắt quả tang 2 đối tượng gồm Lê Nữ Oanh Kiều (1990, trú khối phố Mỹ Thạch Bắc, P. Tân Thạnh, TP Tam Kỳ) và Nguyễn Viết Cường (1997, trú thôn Khánh Tân, xã Tam Dân, H. Phú Ninh, Quảng Nam) đang có hành vi “Mua bán trái phép chất ma túy”. Cả Kiều và Cường đều là những tay “buôn” ma túy có “kinh nghiệm”. Từ những mối quan hệ, hai đối tượng nhận ma túy ở các đầu mối rồi cung cấp cho các con nghiện trên địa bàn TP Tam Kỳ và các vùng lân cận. Cả hai phân chia công việc rõ ràng. Khi Cường tìm hiểu về “bạn hàng” thì Kiều sẽ có nhiệm vụ “ship” hàng. Được biết Lê Nữ Kiều Oanh sinh ra trong gia đình không có cha phải sống với mẹ và cha dượng có một tiền án tội hiếp dâm. Oanh khai do thường xuyên bị cha dượng đánh đập, quấy rối tình dục nên bỏ nhà đi sống lang thang cùng với Cường từ năm 2009. Hai đối tượng này sống lang thang bằng nghề trộm cắp và bắt đầu nghiện ma túy năm 2012. Vì không có tiền sử dụng ma túy nên đã tiến hành mua ma túy về chia nhỏ ra vừa sử dụng vừa bán để lấy tiền.

Thực tế tình hình tội phạm ma túy tại tỉnh Quảng Nam cho thấy tỉ lệ người phạm tội có hoàn cảnh gia đình giàu có, kinh tế ổn định chiếm tỉ lệ 4,86%, số người phạm tội sống trong gia đình có hoàn cảnh khó khăn, nghèo đói chiếm 34,72% cong lại số người phạm tội sống trong gai đình có người vi phạm pháp luật chiếm tỉ lệ rất cao lên đến 60,42%. Như vậy, ngoài môi trường kinh tế, văn hóa, xã hội, môi trường trường học thì gia đình nghèo đói, khó khăn về kinh tế, thiếu sự hòa thuận, nhiều bào lực luôn tiềm ẩn nguy cơ phát sinh tội phạm.

Tình hình tội phạm ma túy tại Quảng Nam cho thấy đa số người phạm tội chủ yếu sống trong gia đình có người vi phạm pháp luật, người sống trong gia đình có hoàn cảnh khó khăn, nghèo đói. Tại những gia đình này vấn đề giáo dục đạo đức, nhân cách lối sống, thường xem nhẹ, thiếu quan tâm, ý thức chấp hành pháp luật ít hiệu quả.

2.3.3 Nguyên nhân từ công tác cai nghiện và tái hòa nhập sau cai Luận văn: Thực trạng tình hình tội phạm ma túy tại ở Quảng Nam.

Hiện nay, đa số các đối tượng phạm tội ma túy chủ yếu là các đối tượng nghiện vì không có tiền sử dụng nên phải thực hiện các tội mua bán trái phép chất ma túy để có tiền sử dụng. Bên cạnh đấy công tác cai nghiện còn nhiều bất cập từ khi Luật xử lý hành chính có hiệu lực, vấn đề cai nghiện bắt buộc tại Trung tâm cai nghiện gặp khó khăn, trong khi có việc cai nghiện tự nguyện tại cộng chưa đạ hiệu quả cao.

Nguồn kinh phí bố trí triển khai thực hiện công tác công tác cai nghiện và quản lý sau cai nghiện hằng năm còn quá thấp và còn nhiều bất cập; chưa bố trí nguồn kinh phí cho công tác tuyên truyền, tập huấn các văn bản liên quan đến công tác phòng, chống ma túy và trở về tái hòa nhập cộng đồng. Mặt khác nhiều địa phương còn khó khăn về ngân sách chưa bố trí từ nguồn đảm bảo xã hội chi cho công tác phòng, chống tệ nạn xã hội trong lúc nguồn kinh phí hỗ trợ của Trung ương và tỉnh đối với công tác xây dựng mới và duy trì xã, phường, thị trấn lành mạnh không có tệ nạn ma túy, nhất là công tác cai và quản lý sau cai còn quá thấp chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ đặt ra. Công tác hỗ trợ việc làm cho đối tượng sau cai chưa nhiều, việc quản lý đối tượng chưa chặt chẽ. Trình độ dân trí ở các xã vùng sâu, vùng xa còn thấp, kiến thức, kinh nghiệm chuyên môn của một số cán bộ ở cơ sở trực tiếp làm công tác phòng, chống tệ nạn xã hội còn hạn chế lại kiêm nhiệm nhiều việc và thường xuyên thay đổi nên việc triển khai thực hiện công tác này chưa hiệu quả. Công tác cai nghiện phục hồi tuy được đẩy mạnh, nhưng chỉ tập trung biện pháp cai nghiện bắt buộc và tự nguyện tại Cơ sở cai nghiện ma túy Quảng Nam, biện pháp cai nghiện tại gia đình và cộng đồng còn nhiều khó khăn bất cập từ cơ sở vật chất đến việc lập hồ sơ, xác định người nghiện, phác đồ cai nghiện.

Một số địa phương chưa quan tâm, chỉ đạo thường xuyên hoặc còn xem nhẹ công tác phòng, chống tệ nạn xã hội, nhất là công tác cai nghiện phục hồi nên hiệu quả còn thấp; Việc báo cáo thống kê, rà soát người sử dụng trái phép chất ma túy, người nghiện ma túy có hồ sơ quản lý ở một số địa phương còn chậm trễ và không đúng thời gian quy định; Việc phối hợp giúp đỡ, động viên, hỗ trợ vay vốn giải quyết việc làm người sau cai nghiện ma túy chưa được các ngành địa phương quan tâm, vì vậy sau khi trở về địa phương họ không tìm được việc làm, còn sự kỳ thị, phân biệt đối xử, xa lánh của cộng đồng,… do vậy nguy cơ tái nghiện cao.

2.3.4. Các sai lệch thuộc cá nhân người phạm tội về ma túy

2.3.4.1 Sai lệch trong ý thức pháp luật cá nhân Luận văn: Thực trạng tình hình tội phạm ma túy tại ở Quảng Nam.

Một trong những nguyên nhân chính dẫn đến việc thực hiện người phạm tội nói chung và người phạm tội về ma túy nói riêng là do các đối tượng phạm tội thiếu thông tin, không hiểu biết về pháp luật. Như đã phân tích tại chương 2 trong khoảng thời gian từ năm 2014 – 2018 trên địa bàn toàn tỉnh Quảng Nam cho thấy tỷ lệ người phạm tội về ma túy có trình độ học vấn từ cấp ba trở xuống và người mù chữ chiếm đến 97% và chủ yếu là không nghề nghiệp ổn định, chiếm tỷ lệ 70,13%. Nếu xem xét ý thức pháp luật của cá nhân có hai tầng, một là tri thức pháp luật và hai là tâm lý pháp luật, thì các thiếu hụt ở những người phạm tội ở nước ta nói chung và địa bàn Quảng Nam nói riêng rõ ràng là không phải ở tầng thứ hai mà nó nằm ngay ở tầng tri thức pháp luật. Đây chính là cơ sở để có thể nêu ra biện pháp phòng ngừa thích hợp.

2.3.4.2 Xem thường các nghĩa vụ công dân

Sự thiếu hiểu biết kiến thức về ma túy nên chưa nhận thức được tác hại của ma túy đối với bản thân, gia đình và xã hội, do lối sống thực dụng, thích ăn chơi đua đòi là nguyên nhân xuất hiện những hành vi lệch chuẩn giá trị xã hội, họ coi thường sự giáo dục của gia đình và nhà trường, coi thường sức khỏe của bản thân, coi thường tính mạng và sức khỏe của người khác, kể cả người thân sẵn sàng phạm tội để thỏa mãn nhu cầu sử dụng ma túy.

Cơ chế của nền kinh tế thị trường đã và đang tác động ngày càng mạnh mẽ và sâu rộng đến mọi mặt đời sống xã hội. nó càng tác động mạnh mẽ hơn đến việc hình thành những chuẩn mực đạo đức, tâm lý sai lệch trong một bộ phận nhân dân, do không có công ăn việc làm, không có nghề nghiệp lại không chịu lao động chân tay gian khổ mà thu nhập lại thấp. Nhưng vì muốn có kinh tế khá giã, lợi nhuận cao, ước mơ giàu sang, phú quý nên dù biết thực hiện hành vi phạm tội là nguy hiểm, có thể bị pháp luật trừng trị họ vẫn bất chấp sự nghiêm minh của pháp luật mà lao vào con đường phạm tội. hơn thế nửa, tội phạm về ma túy thường nghĩ hoạt động phạm tội về ma túy luôn có những phương thức, thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt, việc hình thành đường dây, tổ chức hoạt động khép kín nhằm tránh sự phát hiện của cơ quan chức năng nên nguy cơ bị bắt chỉ chiếm tỷ lệ thấp nên bọn tội phạm tiếp tục lao vào con đường phạm tội và sẵn sàng đánh đổi tất cả.

2.3.4.3 Những sai lệch trong quá trình động cơ hóa hành vi

Động cơ hóa hành vi là là một quá trình tâm – sinh lý – xã hội mà trong đó chủ thể có được động lực để thôi thúc thực hiện một hành vi (phạm tội) đến cùng. Quá trình tâm – sinh lý – xã hội này không mang tính hàn lâm khó hiểu, mà nó có cơ sở khách quan, do điều kiện xã hội, do hoàn cảnh sống cụ thể của mỗi con người mang lại. Để có quá trình này, trước hết phải nói đến các yếu tố mang tính chất động lực như nhu cầu, lợi ích, xúc cảm, sở thích, thói quen, tín ngưỡng, tôn giáo… của cá nhân con người.

Tình hình tội phạm về ma túy tại tỉnh Quảng Nam hiện nay cho thấy rõ trong quá trình động cơ hóa hành vi, các đối tượng phạm tội có những sai lệch như sau: Luận văn: Thực trạng tình hình tội phạm ma túy tại ở Quảng Nam.

  • Sai lệch vê nhu cầu

Mua bán ma túy luôn là công việc mang lại lợi nhuận rất cao cộng với bản chất tính tham lam tự nhiên của con người, muốn làm giàu bằng mọi cách, bất chấp tất cả để thỏa mãn nhu vật cầu đặt ra luôn thôi thúc đối tượng nảy sinh ý định phạm tội. Vì thế, để làm giàu nhanh nhất, ngắn nhất chỉ có con đường phạm tội. Bên cạnh đó do sự tác động của nền kinh tế thị trường đã góp phần tạo nên sự phân hóa giàu nghèo, tạo ra khoản cách ngày càng lớn giữa người giàu, kẻ nghèo. Một bộ phận không nhỏ người dân nông thôn không có vốn làm ăn, do trình độ văn hóa thấp, không có nghề nghiệp, không có việc làm ổn định mà việc vận chuyển, mua bán ma túy tốn ít thời gian, công sức thu nhập lại cao. Họ có thể có đủ kinh phí trang trải cuộc sống gia đình cũng như thỏa mãn nhanh chóng các nhu cầu vật chất của bản thân nên họ nảy sinh ý định và có động lực thúc đẩy thực hiện tội phạm.

Đối với những người phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy đa phần do bản thân là người nghiện nên mua ma túy, tàng trữ nhằm mục đích thỏa mãn nhu cầu nghiện ngập của bản thân. Tội phạm về ma túy trên địa bàn tỉnh Quảng Nam chủ yếu là người nghiện, nhằm để thỏa mãn nhu cầu vừa có ma túy để sử dụng, vừa có tiền để nuôi sống bản thân đã làm cho họ hình thành nên động cơ phạm tội, thực hiện hành vi phạm tội.

  • Sai lệch về phương pháp thỏa mãn nhu cầu

Phương pháp thỏa mãn nhu cầu là phương thức thực hiện của chủ thể để đạt được mong muốn, nguyện vọng, đòi hỏi nhu cầu của bản thân. Khi con người đã hình thành nhu cầu và ý thức về lợi ích của mình từ đó họ sẽ hình thành động cơ trong tư tưởng, vạch ra kế hoạch cho hành động và hình thành phương pháp, cách thức để thỏa mãn nhu cầu đó. Tuy nhiên, không phải ai cũng xác định được phương pháp, cách thức thỏa mãn nhu cầu một cách phù hợp, đúng đắn. Một khi phương pháp thỏa mãn nhu cầu không phù hợp với chuẩn mực xã hội, với quy định của pháp luật, với các giá trị xã hội thì sẽ dẫn đến các hành vi lệch chuẩn hay còn gọi là hành vi vi phạm pháp luật. Đa số các đội tượng phạm tội về ma túy trên địa bàn tỉnh Quảng Nam đề có những nhận thức sai lệch đối với phương pháp nhằm thỏa mãn mục đích của mình. Khi bị phát hiện, dối diện với hậu quả và sự trừng phạt của phát luật thì mới ăn năn, hối hận về hành vi phạm tội của mình.

  • Sai lệch về sở thích Luận văn: Thực trạng tình hình tội phạm ma túy tại ở Quảng Nam.

Một bộ phận không nhỏ thanh thiếu niên hiện nay đang bị ảnh hưởng nghiêm trọng lối sống thực dụng, thích hưởng thụ, thích ăn chơi, đua đòi, muốn tạo khoái cảm, tìm cảm giác mới lạ bằng cách tìm đến ma túy như đấng cứu thế. Việc sử dụng các chất ma túy là một trong những sở thích của đại bộ phận thanh thiếu niên để chứng tỏ mình, coi đây là một cách thể hiện đẳng cấp bản thân trong xã hội, chọn ma túy để mua vui, để giải sầu cũng như thể hiện đẳng cấp dân chơi. Trong khi đó một bộ phận nhỏ khác do bị bạn bè, rủ rê, lôi kéo, cưởng ép sử dụng ma túy rồi sa vào con đường nghiện ngập và phạm tội.

  • Sai lệch trong quả trình kế hoạch hành vi phạm tội về ma túy

Khi chủ thể có nhu cầu và đã nhìn thấy lợi ích thì hành vi sẽ vạch ra kế hoạch hành động. Đây chính là bước chuẩn bị cho thực hiện hành vi. Từ những sai lệch trên chủ thể tiến hành xác định mục đích trực tiếp, đối tượng tác động của hành vi, phương tiện, địa điểm, thời gian thực hiện và xác định cả phương thức giải quyết hậu quả của hành vi đó gây ra. Trong giai đoạn này, chủ thể chuẩn bị cả những điều kiện tinh thần và vật chất cho việc thực hiện hành vi, có nghĩa là đã đưa ra quyết định cuối cùng của mình.

Các đối tượng trước khi tiến hành thực hiện tội phạm chúng luôn vạch ra những kế hoạch cụ thể, có chuẩn bị kỹ càng cho việc thực hiện hành vi phạm tội để đáp ứng những sai lệch về nhu cầu, sai lệch về sở thích của mình. Trong giai đoạn này các phương thức, thủ đoạn hoạt động, cách thức đối phó với cơ quan chức năng cũng đã được tính toán cụ thể phòng khi bị phát hiện. không những vậy, một phần nguyên nhân đến từ việc thiếu chặt chẽ, tắt trách của một số cán bộ làm công tác quản lý, giám sát về ma túy công với việc vận động, tuyên truyền, răn đe, giáo dục để họ nhận thức tính đúng đắn về pháp luật để không thực hiện hành vi phạm tội còn chưa hiệu quả; chưa phát hiện kịp thời, không có tác động nào ngăn chặn quá trình kế hoạch hóa hành vi phạm tội, để họ thực hiện hành vi phạm tội theo kế hoạch.

  • Sai lệch trong việc hiện thực hóa hành vi phạm tội về ma túy

Tác động trực tiếp vào đối tượng nhằm thoả mãn các nhu cầu, tức là ở bước này nhu cầu (động cơ, lợi ích) được cụ thể hoá bằng hành vi. Luận văn: Thực trạng tình hình tội phạm ma túy tại ở Quảng Nam.

  • Đây là giai đoạn tội phạm đã xảy ra nhưng không ngăn chặn kịp thời được do một số nguyên nhân:

Ở giai đoạn này không có tác động nào hoặc dù có tác động cũng không đủ mức độ từ phía xã hội để tác động đến quá trình hiện thực hóa hành vi, nên dẫn đến hành vi phạm tội vẫn được thực hiện đến cùng.

Bọn tội phạm về ma túy hiện nay hoạt động với nhiều thủ đoạn ngày càng tinh vi, xảo quyệt hơn, đã gây không ít khó khăn cho hoạt động phát hiện manh mối, điều tra, khám phá vụ án. Thực tiễn cho thấy bạn chúng thường hình thành đường dây, tổ chức hiều chân rết hoạt động khép kín nhằm tránh sự phát hiện của cơ quan chức năng. Bên cạnh đấy, lực lượng chuyên trách trực tiếp thực hiện nhiệm vụ đấu tranh phòng, chống tội phạm về ma tuý được trang bị công cụ hổ trợ còn hạn chế, bố trí lực lượng còn mỏng, trình độ nhận thức cũng như đào tạo chuyên môn cũng không đồng đều, cá biệt một bộ phận không nhỏ trình độ năng lực còn nhiều hạn chế, yếu kém. Không những vậy, có trường hợp vì thiếu bản lĩnh, ý chí chiến đấu đã đầu hàng trước sức mạnh của đồng tiền và tiếp tay cho tội phạm về ma túy hoạt động.

Công tác tiếp nhận, kiểm tra, xử lý tin báo tội phạm về ma túy ở một số địa phương chưa đảm bảo đúng quy trình, chưa tạo điều kiện thuận lợi cho người dân cung cấp thông tin, một số trường hợp gây phiền hà hoặc xác minh giải quyết kéo dài không tạo được sự đồng tình trong nhân dân.

Việc đấu tranh, khai thác mở rộng điều tra trong nhiều vụ án chưa được quan tâm đúng mức, dẫn đến công tác đấu tranh phòng ngừa, ngăn chặn tội phạm chưa được triệt để, còn sót lọt tội phạm.

Công tác tuyên truyền, vận động quần chúng nhân dân về phòng chống ma túy còn nhiều hạn chế, chưa làm chuyển biến mạnh mẽ nhận thức của quần chúng về quyền và nghĩa vụ của công dân trong phòng chống tội phạm về ma túy. Một số người dân còn sợ bị trả thù, sợ bị phiền hà, sợ bị ảnh hưởng đến quan hệ hàng xóm… nên nhiều khi biết rõ hành vi của đối tượng nhưng không báo tin, không tố giác tội phạm với các cơ quan chức năng để cho đối tượng hoạt động.

Ngoài ra, do chính sách nhân đạo của Đảng và Nhà nước trong việc bắt. giữ, xử lý tội phạm nên chưa đủ tính răn đe, giáo dục nên đối tượng vẫn tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội.

Tiểu kết chương 2 Luận văn: Thực trạng tình hình tội phạm ma túy tại ở Quảng Nam.

Với hệ thống số liệu được thu thập đầy đủ, bài bản, khoa học qua quá trình nghiên cứu hồ sơ, tài liệu; phân tích, so sánh, đối chiếu; phương pháp nghiên cứu các vụ án điển hình trong giai đoạn từ năm 2014 đến 2018… Trong Chương 2 tác giả đã tập trung nghiên cứu phân tích làm rõ thực trạng THTP về Ma túy trên địa bàn tỉnh Quảng Nam từ năm 2014 đến năm 2018.

Qua phân tích cho thấy, THTP về Ma túy trên địa bàn tỉnh Quang Nam có những diễn biến tăng, giảm phức tạp có xu hướng tăng cả về số vụ và số người phạm tội. THTP về ma túy chủ yếu tập trung vào các nhóm tội phạm tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy.

Tính chất của tội phạm thể hiện ở: Sự phức tạp, nguy hiểm trong cơ cấu hành vi phạm tội, có sự tham gia của nhiều đối tượng; gây ra nhiều vụ án với tính chất, mức độ nguy hiểm khác nhau. Cũng trong giai đoạn 2014 đến 2018 tại tỉnh Quảng Nam tội phạm về ma túy chủ yếu tập trung đa số ở nhóm tội ít nghiêm trọng nhưng tỷ lệ tội rất nghiệm trọng và đặc biệt nghiêm trọng cũng chiếm tỷ lệ đáng kể và có xu hướng gia tăng cho thấy mức độ tái phạm và tái phạm nguy hiểm đang diễn biến phức tạp.

Sau khi đánh giá toàn bộ bức tranh về tội phạm về ma túy tại tỉnh Quảng Nam tác giả tập trung chỉ ra một số nguyên nhân, điều kiện chính dẫn đến tình hình tội phạm về ma túy phát sinh, phát triển và đang có những diễn biến khó lường. Luận văn: Thực trạng tình hình tội phạm ma túy tại ở Quảng Nam.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:  

===>>> Luận văn: Giải pháp tình hình tội phạm ma túy tại ở Quảng Nam

One thought on “Luận văn: Thực trạng tình hình tội phạm ma túy tại ở Quảng Nam”

  1. Pingback: Luận văn: Tình hình tội phạm về ma túy tại tỉnh Quảng Nam

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464