Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Giải pháp pháp luật bảo hiểm xã hội tại Bắc Từ Liêm hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Phương hướng, giải pháp bảo đảm thực hiện pháp luật về bảo hiểm xã hội trên địa bàn Quận Bắc Từ Liêm dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
3.1 Những yêu cầu đặt ra đối với việc bảo đảm thực hiện pháp luật về Bảo hiểm xã hội
3.1.1. Những yêu cầu đặt ra đối với việc bảo đảm thực hiện pháp luật về Bảo hiểm xã hội
Luật Bảo hiểm xã hội năm 2016 đã đánh dấu một bước tiến quan trọng trong việc tạo cơ sở pháp lý để nâng cao hiệu quả thực thi chế độ, chính sách Bảo hiểm xã hội, pháp điển hóa các quy định hiện hành và bổ sung các chính sách Bảo hiểm xã hội phù hợp với quá trình chuyển đổi của nền kinh tế theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đáp ứng nguyện vọng, đảm bảo ASXH và hội nhập quốc tế. Tuy nhiên, qua hơn 7 năm đi vào cuộc sống, thực tiễn thi hành pháp luật cho thấy Luật Bảo hiểm xã hội đang bộc lộ một số bất cập, hạn chế thể hiện trong bản thân nội dung quy định của chính sách, chế độ và việc tổ chức thực thi các quy định này trong các chế độ ốm đau, thai sản, TNLĐ, BNN, hưu trí và tử tuất của Bảo hiểm xã hội bắt buộc. Nhiều doanh nghiệp cho rằng là việc tăng mức thu đối với người lao động theo lộ trình mà dự luật đưa ra cũng sẽ ảnh hưởng đến thu nhập của người lao động (đến năm 2020 mức đóng cho Bảo hiểm xã hội bắt buộc+ bảo hiểm thất nghiệp+bảo hiểm y tế khoảng 10% tiền lương, tăng gấp đôi so với mức đóng hiện nay).Các đại biểu đề xuất giải pháp tăng cường công tác quản lý Bảo hiểm xã hội để tăng số lượng các doanh nghiệp tham gia đóng Bảo hiểm xã hội. Tỷ lệ các doanh nghiệp đóng Bảo hiểm xã hội như hiện nay là quá thấp và là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến nguy cơ mất cân đối trong việc điều hành chi trả của qũy bảo hiểm. Xác định mức lương tối thiểu để làm căn cứ đóng Bảo hiểm xã hội: Một số đại biểu cho rằng các qui định hiện nay về thang bang lương chỉ được áp dụng cho các doanh nghiệp quốc doanh. Trong khi đó lại không có các quy định cụ thể cho khối doanh nghiệp ngoài quốc doanh, vì thế các doanh nghiệp ngoài quốc doanh có thể “lách” các qui định bằng cách áp dụng mức lương tối thiểu (290.000đ/tháng) nhưng lại không xây dựng hệ số cho các công việc khác nhau, gây thiệt thòi cho người lao động. Cần phải xem xét và xây dựng một mặt bằng lương tối thiểu chung cho các loại hình doanh nghiệp để đảm bảo tính công bằng và đảm bảo quyền lợi cho người lao động. Hay tại các khu công nghiệp người lao động phản đối ý kiến của dự thảo luật đối với chế độ thanh toán Bảo hiểm xã hội một lần khi họ đủ đủ điều kiện về tuổi nghỉ hưu và chưa đủ 20 năm đóng Bảo hiểm xã hội, bởi Người lao động thường làm hợp đồng ngắn hạn, khi Người lao động nghỉ việc và muốn thanh toán chế độ luôn thì không được mà họ phải chờ đợi thời gian quá lâu…
Vì lý do đó, Quốc hội khóa XIII đã đưa Luật Bảo hiểm xã hội (sửa đổi) vào chương trình xây dựng Luật và Pháp lệnh trong nhiệm kỳ XIII (Nghị quyết số 20/2021/QH13 ngày 26 tháng 11 năm 2021 và Nghị quyết số 23/2022/QH13 ngày 12 tháng 6 năm 2022 của Quốc hội và Luật Bảo hiểm xã hội (sửa đổi) đã được Chính phủ trình Quốc hội cho ý kiến vào kỳ họp đầu năm và dự kiến thông qua vào kỳ hợp cuối năm 2024.Trong bối cảnh Luật Bảo hiểm xã hội đang được Quốc hội xem xét sửa đổi, bổ sung, tôi xin được đi vào phân tích, đánh giá các nội dung cải cách về Bảo hiểm xã hội trong Dự thảo Luật Bảo hiểm xã hội sửa đổi ngày 03/8/2024 để thấy rằng việc sửa đổi, bổ sung các quy định pháp luật phù hợp, đáp ứng được yêu cầu của thực tế sẽ đảm bảo việc thực hiện pháp luật về Bảo hiểm xã hội.
3.1.2. Những yêu cầu đặt ra đối với việc bảo đảm thực hiện pháp luật về Bảo hiểm xã hội trên địa bàn quận Bắc Từ Liêm Luận văn: Giải pháp pháp luật bảo hiểm xã hội tại Bắc Từ Liêm.
Quận được thành lập theo Nghị quyết số 132/NQ-CP ngày 27 tháng 12 năm 2023 của Chính phủ. Nghị quyết hội nghị lần thứ nhất Ban Chấp hành Đảng bộ Quận, (Nhiệm kỳ 2020 – 2025) nêu rõ phương hướng, mục tiêu là: Xây dựng đảng bộ, các tổ chức Đảng thuộc đảng bộ trong sạch vững mạnh; xây dựng và phát huy sức mạnh đoàn kết trong Đảng, trong hệ thống chính trị và toàn thể nhân dân; khai thác và sử dụng hiệu quả các nguồn lực; phát triển hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng kinh tế-xã hội; đẩy mạnh thực hiện trật tự-văn minh đô thị, chỉnh trang và phát triển giao thông đô thị; phát triển kinh tế bền vững, cơ cấu hợp lý, văn hoá – xã hội tiến bộ; đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được nâng cao; an ninh chính trị-trật tự an toàn xã hội được giữ vững; thế trận an ninh nhân dân và thế trận quốc phòng toàn dân vững chắc; hướng tới xây dựng quận Bắc Từ Liêm trở thành Đô thị Sạch – Xanh – Hiện đại của Thủ đô Hà Nội.
Riêng lao động, việc làm chủ trương của Quận là: Nâng cao chất lượng nguồn lao động. Tăng cường đầu tư dạy nghề, nâng cao trình độ chuyên môn cho lực lượng lao động đang làm việc. Tiếp tục đẩy mạnh xã hội hóa đào tạo. Từng bước nâng cấp, phát triển cơ sở dạy nghề. Chú trọng đào tạo nhân lực chuyên môn cao cho những ngành kinh tế mũi nhọn. Thực hiện chuyển đổi cơ cấu ngành nghề cho Người lao động phù hợp với sự chuyển dịch cơ cấu của nền kinh tế.
Phát triển thông tin thị trường lao động, hoàn thiện hệ thống giao dịch chính thức trên thị trường lao động: Nâng cao chất lượng hoạt động của sàn giao dịch việc làm; thiết lập hệ thống thông tin, phấn đấu trung bình mỗi năm giải quyết việc làm mới cho 7-8 nghìn người giai đoạn 2020 – 2025. Luận văn: Giải pháp pháp luật bảo hiểm xã hội tại Bắc Từ Liêm.
Quận có sự đồng thuận, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, tuyệt đại bộ phận chấp hành chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước. Đảng bộ, chính quyền, nhân dân trong Quận luôn nâng cao ý thức trách nhiệm vượt qua mọi khó khăn, thi đua phấn đấu để hoàn thành xuất sắc, toàn diện nhiệm vụ chính trị của Quận.
Về khó khăn: Hoạt động sản xuất kinh doanh của các thành phần kinh tế còn gặp khó khăn, do suy thoái kinh tế chưa được phục hồi; tình hình nợ xấu của các ngân hàng cao, khả năng thanh khoản kém; thị trường bất động sản chưa được phục hồi. Khả năng thu ngân sách trên địa bàn chỉ chiếm khoảng 1/4 so với tổng thu ngân sách huyện Từ Liêm trước đây. Quận vẫn là đơn vị hành chính có quy mô dân số lớn, tốc độ tăng cơ học và yêu cầu về đảm bảo an sinh xã hội cao; khối lượng công việc phải giải quyết thường xuyên của các cơ quan Đảng, chính quyền, MTTQ và các đoàn thể từ Quận tới cơ sở lớn; một số phát sinh trong thực hiện chính sách về đất đai có tính lịch sử từ nhiều năm trước phải giải quyết sẽ tiếp tục phát sinh; cơ sở vật chất hạ tầng khung (đặc biệt là giao thông) chưa phát triển; là địa bàn còn tiềm ẩn phức tạp về an ninh trật tự.
Các yếu tố khách quan, chủ quan trên là thách thức không nhỏ tác động đến công tác lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện nhiệm vụ của Quận. Sự phát triển kinh tế – xã hội làm tăng mạnh đối tượng tham gia Bảo hiểm xã hội, qua đó tác động không nhỏ tới việc thực hiện pháp luật Bảo hiểm xã hội tại Quận Bắc Từ Liêm.
3.2. Giải pháp bảo đảm thực hiện pháp luật Bảo hiểm xã hội Luận văn: Giải pháp pháp luật bảo hiểm xã hội tại Bắc Từ Liêm.
Mục tiêu của hệ thống bảo đảm xã hội mà chủ yếu là hệ thống Bảo hiểm xã hội là xây dựng một xã hội nhân đạo, văn minh, tạo nguồn tích lũy từ các khoản đóng góp của người lao động, tăng nguồn tài chính quốc gia nhằm bảo vệ tối đa người lao động, thực hiện quyền bình đẳng cảu mọi người trong độ tuổi lao động và trong các khu vực kinh tế khác nhau. Vì vậy việc hoàn thiện pháp luật Bảo hiểm xã hội nói chung là một việc làm rất cần thiết nhằm hoàn thiện pháp luật Bảo hiểm xã hội trên điạ bàn quận Bắc Từ Liêm nói riêng. Sau đây là một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật Bảo hiểm xã hội ở Việt Nam nói chung và Bảo hiểm xã hội quận Bắc Từ Liêm nói riêng
3.2.1. Hoàn thiện các qui định của pháp luật bảo hiểm xã hội bắt buộc
- Về phạm vi áp dụng
Luật Bảo hiểm xã hội hiện hành được Quốc hội thông qua ngày 29/6/2016, khi đó chưa có Luật Việc làm. Chính vì vậy, Bảo hiểm thất nghiệp được quy định thành một chương trong Luật Bảo hiểm xã hội. Hiện này, trong bối cảnh xây dựng Luật Việc làm với quan điểm Bảo hiểm thất nghiệp là một trong các chính sách của thị trường lao động và gắn với quan hệ lao động thì việc chuyển Bảo hiểm thất nghiệp sang Luật Việc làm là phù hợp hơn. Do vậy, Luật Bảo hiểm xã hội (sửa đổi) sẽ không áp dụng đối với Bảo hiểm thất nghiệp.
- Về đối tượng áp dụng. Luận văn: Giải pháp pháp luật bảo hiểm xã hội tại Bắc Từ Liêm.
Ngày 20/11/2024 Luật Bảo hiểm xã hội đã được Quốc Hội thông qua và có hiệu lực từ ngày 1/1/2026 đã luật hóa một số nhóm đối tượng đã được thực hiện ổn định theo các văn bản hướng dẫn Luật Bảo hiểm xã hội như: người quản lý doanh nghiệp, người quản lý điều hành hợp tác xã có hưởng tiền lương; Học viên quân đội, công an, cơ yếu đang theo học được hưởng sinh hoạt phí và bổ sung người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã.
Tôi rất đồng tình với việc mở rộng đối tượng áp dụng chế độ Bảo hiểm xã hội bắt buộc đối với học viên quân đội, công an, cơ yếu đang theo học hưởng sinh hoạt phí từ Ngân sách Nhà nước và người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã thuộc đối tượng tham gia Bảo hiểm xã hội bắt buộc. Quy định mới này sẽ góp phần đáng kể vào việc tăng diện bao phủ của Bảo hiểm xã hội bắt buộc, bởi các nhóm đối tượng này khá ổn định và chiếm một tỷ lệ tương đối. Hiện nay, Việt Nam đang có một lực lượng khá đông đảo đội ngũ cán bộ không chuyên trách cấp xã đang được hưởng phụ cấp khác với 10 năm về trước phần lớn cán bộ không chuyên trách cấp xã là do nhiều cán bộ về hưu đảm nhận, nên chưa có chính sách Bảo hiểm xã hội. Để khuyến khích và tạo điều kiện cho cán bộ chuyên trách cấp xã gắn bó tâm huyết với công việc đang đảm nhận thì việc quy định này là rất cần thiết.
Bổ sung đối tượng tham gia Bảo hiểm xã hội bắt buộc đối với Người lao động làm việc theo HĐLĐ theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn từ đủ 3 tháng đến dưới 12 tháng được giao kết bằng văn bản, kể cả HĐLĐ được ký kết giữa Người sử dụng lao động với người đại diện theo pháp luật của người dưới 15 tuổi theo quy định của pháp luật lao động. Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024 mở rộng Bảo hiểm xã hội bắt buộc cho nhóm đối tượng này là hoàn toàn phù hợp với nguyên tắc của Bảo hiểm xã hội bắt buộc. Tuy nhiên, tôi thấy quy định này để triển khai được trên thực tế sẽ gặp rất nhiều khó khăn, vướng mắc. Bởi, nhóm này rất khó quản lý, do tính chất đặc thù của loại lao động này thay đổi thường xuyên, công việc không ổn định, nơi cư trú cũng thay đổi theo trong khi cơ chế quản lý về lao động, tiền lương và thủ tục tham gia đóng Bảo hiểm xã hội, dừng đóng Bảo hiểm xã hội còn nhiều hạn chế. Quan điểm của Ban soạn thảo là nhằm mở rộng diện bao phủ của Bảo hiểm xã hội đến đông đảo các tầng lớp nhân dân lao động, nhằm đảm bảo ASXH, tuy nhiên, để thuận tiện cho Người lao động và Người sử dụng lao động thực hiện được quy định mới này, tôi cho rằng, cần có lộ trình, phương án cụ thể, đặc biệt là sự chuẩn bị về nhân lực, phương tiện công nghệ thông tin cho ngành Bảo hiểm xã hội và sự phối hợp giữa cơ quan quản lý về lao động tại địa phương và cơ quan Bảo hiểm xã hội.
Bổ sung đối tương tham gia Bảo hiểm xã hội bắt buộc đối với người làm việc theo HĐLĐ có thời hạn từ 1 tháng đến dưới 3 tháng. Luận văn: Giải pháp pháp luật bảo hiểm xã hội tại Bắc Từ Liêm.
Về bổ sung nhóm đối tượng này, bên cạnh mặt tích cực là đem lại quyền lợi chính đáng cho Người lao động trong những trường hợp Người sử dụng lao động sử dụng hình thức ký HĐLĐ này để trốn tránh việc đóng Bảo hiểm xã hội cho Người lao động. Do vậy, với việc bổ sung nhóm đối tượng này sẽ khắc phục được hiện tượng “lách luật” của đơn vị trong việc thực hiện nghĩa vụ tham gia đóng Bảo hiểm xã hội đầy đủ cho Người lao động. Nhưng trong nhiều trường hợp, lao động hợp đồng có thời hạn 3 tháng thường là hợp đồng thử việc, sau thử việc có thể được kí hợp đồng tiếp hoặc không. Như quan điểm cá nhân tôi về việc bổ sung đối tượng là Người lao động làm việc theo HĐLĐ theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn từ đủ 3 tháng đến dưới 12 tháng, trường hợp Người lao động làm việc theo HĐLĐ có thời hạn từ 1 tháng đến dưới 3 tháng cũng có những đặc thù tương tự.
Từ những vấn đề nêu trên, theo tôi đối với hình thức HĐLĐ đối với những công việc tạm thời có thời hạn dưới 3 tháng nên chăng chuyển sang đối tượng tham gia bảo hiểm tự nguyện. Tuy nhiên, cần phải quy định rõ Người sử dụng lao động phải kê khai và chi trả đầy đủ các khoản Bảo hiểm xã hội cho Người lao động có công việc tạm thời dưới 3 tháng để Người lao động có công việc tạm thời dưới 3 tháng có quyền và được tự nguyện nộp Bảo hiểm xã hội tại địa phương nơi cư trú hoặc làm việc thường xuyên của Người lao động.
Bổ sung đối tượng tham gia Bảo hiểm xã hội bắt buộc là công dân nước ngoài vào làm việc tại Việt Nam có giấy phép lao động được cơ quan có thảm quyền của Việt Nam cấp (khoản 2 Điều 2). Việc bổ sung nhóm đối tượng này, sẽ không chỉ mang ý nghĩa mở rộng đối tượng, mà còn tiến tới sự phù hợp với quá trình phát triển thị trường lao động. Tuy nhiên, Dự thảo Luật cũng cần phải tính đến sự ổn định của đối tượng này để định ra một số chế độ Bảo hiểm xã hội bắt buộc áp dụng riêng cho nhóm này.
- Về chế độ ốm đau Luận văn: Giải pháp pháp luật bảo hiểm xã hội tại Bắc Từ Liêm.
Về mặt kết cấu, chế độ ốm đau trong Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024 gồm 06 điều được kết cấu tương tự như Luật Bảo hiểm xã hội hiện hành và đã bao quát đầy đủ các quy định về chế độ ốm đau của người tham gia Bảo hiểm xã hội. Theo đó, đối tượng áp dụng được quy định cụ thể hơn theo hướng mở rộng diện thụ hưởng, rõ ràng hơn, thuận lợi cho việc thực hiện và quản lý. Tôi không đồng ý với việc bổ sung đối tượng là người lao động làm việc theo HĐLĐ có thời hạn từ 1 tháng đến dưới 3 tháng. Bởi như quan điểm đã nêu ở phần đối tượng áp dụng, việc bổ sung nhóm đối tượng này tham gia vào Bảo hiểm xã hội bắt buộc là một sự cần thiết, nhưng trên thực tế triển khai sẽ gặp rất nhiều khó khăn, vướng mắc. Nên chăng, chỉ để cho nhóm đối tượng này tham gia vào hai loại chế độ là hưu trí và tử tuất thì sẽ hợp lý, thuận lợi hơn trong việc thụ hưởng chế độ.
Tôi đồng ý với sửa đổi Điều 24 về thời gian hưởng chế độ khi con ốm. Thời gian hưởng chế độ khi con ốm đau đã được quy định hợp lý, tạo thuận lợi hơn so với quy định hiện hành khi thực hiện trong trường hợp cả cha và mẹ cùng tham gia Bảo hiểm xã hội khi con bị ốm đau. Việc đưa người cha vào đối tượng thụ hưởng chế độ khi con ốm đau là một bổ sung tích cực của Luật Bảo hiểm xã hội ngày 0/11/2024. Chăm sóc con cái không chỉ là nghĩa vụ riêng của người mẹ, trong nhiều trường hợp, rất cần sự hỗ trợ của người cha. Đặc biệt khi chỉ có người cha tham gia Bảo hiểm xã hội thì quyền lợi về chăm sóc con ốm đau, quyền được hưởng chế độ khi tham gia đóng góp vào quỹ Bảo hiểm xã hội sẽ được đảm bảo, giúp cho Người lao động yên tâm và tin tưởng vào quy định pháp luật Bảo hiểm xã hội.
Thời gian hưởng chế độ ốm đau về cơ bản vẫn giữ nguyên như cũ. Đối với quy định tại khoản 2, Điều 26 của Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024 về thời gian hưởng chế độ ốm đau do mắc bệnh cần chữa trị dài ngày, đây là quy định đang bị lạm dụng nhiều, vì vậy , theo tôi, cần sửa đổi theo hướng quy định điều kiện về thời gian đóng Bảo hiểm xã hội vào quỹ ốm đau, thai sản. Từ đó, quy định về các mức hưởng khác nhau tương đương với thời gian đóng góp nhằm hướng tới sự cân bằng giữa đóng và hưởng.
Dự thảo đã bổ sung điều kiện về thời gian được hưởng chế độ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe. Theo đó, “người lao động sau thời gian hưởng chế độ ốm đau theo quy định tại Điều 26 của Luật này mà trong khoản thời gian 30 ngày đầu làm việc sau thời gian nghỉ việc hưởng chế độ ốm đau sức khỏe còn yếu thì được nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe từ năm ngày đến mười ngày trong một năm”. Như đã nêu ở phần thực trạng, theo tôi, việc bổ sung thêm điều kiện về thời gian này chỉ hạn chế phần nào tình trạng trục lợi quỹ Bảo hiểm xã hội chứ không xóa bỏ được hoàn toàn. Mặt khác, Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024 cũng không nói rõ căn cứ để xác định tình trạng “sức khỏe yếu”. Trên thực tế, cũng chưa có hướng dẫn để làm rõ khái nhiệm này và căn cứ để cho rằng Người lao động đi nghỉ dưỡng tập trung hay tại gia đình.
- Về chế độ thai sản Luận văn: Giải pháp pháp luật bảo hiểm xã hội tại Bắc Từ Liêm.
Tôi hoàn toàn đồng ý với những bổ sung của Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024 về chế độ thai sản. Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024 đã mở rộng điều kiện hưởng chế độ thai sản cho phù hợp hơn với thực tế. Cụ thể: Luật đã bổ sung thêm đối tượng Lao động nữ mang thai hộ và người mẹ nhờ mang thai hộ” [30] và “Lao động nam đang đóng Bảo hiểm xã hội có vợ sinh con” [30] được hưởng chế độ thai sản; bổ sung thêm đối tượng lao động nữ đã đóng Bảo hiểm xã hội từ đủ 12 tháng trở lên và đã đóng Bảo hiểm xã hội từ đủ 03 tháng trở lên trong thời gian 12 tháng trước khi sinh (khoản 3, Điều 31); Quy định cụ thể hơn các đối tượng được hưởng chế độ thai sản khi chấm dứt HĐLĐ, hợp đồng làm việc hoặc thôi việc trước thời điểm sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi dưới 06 tháng tuổi (khoản 4, Điều 31). Quy định linh hoạt hơn về điều kiện hưởng chế độ thai sản.
Thời gian hưởng chế độ khi sinh con được điều chỉnh tăng phù hợp với quy định tại Điều 157 Bộ luật Lao động 2022 và mở rộng thêm đối tượng thụ hưởng theo hướng đáp ứng yêu cầu bình đẳng giới. Cụ thể: Tăng thời gian nghỉ sinh con lên 6 tháng; thời gian nghỉ phụ thuộc vào phương thức sinh của người vợ; Linh hoạt hơn về mức hưởng đối với người được thụ hưởng khi người mẹ chết sau khi sinh.
Mức hưởng chế độ thai sản cũng được quy định cụ thể hơn với từng trường hợp tạo thuận lợi trong tổ chức thực hiện. Cụ thể, bổ sung thêm quy định về cách tính mức hưởng chế độ thai sản trong trường hợp Người lao động khi đi khám thai, sảy thai, nạo hút thai, thai chết lưu, thực hiện các biện pháp tránh thai mà đóng Bảo hiểm xã hội chưa đủ 06 tháng. Theo đó, trường hợp Người lao động đóng Bảo hiểm xã hội chưa đủ 6 tháng thì mức hưởng chế độ thai sản khi đi khám thai, khi sẩy thai, nạo, hút hoặc thai chết lưu, thực hiện các biện pháp tránh thai là mức bình quân tiền lương tháng của các tháng đã đóng Bảo hiểm xã hội.
Những thay đổi tích cực của Luật Bảo hiểm xã hội ngày 20/11/2024 về sửa đổi Luật Bảo hiểm xã hội đã gải quyết những bất cập, vướng mắc trong quá trình triển khai thực hiện Luật Bảo hiểm xã hội trong thời gian qua. Tuy nhiên, để Luật thực sự đi vào cuộc sống của Người lao động, các nhà làm Luật cần có các quy định rõ hơn về chế độ trợ cấp một lần khi sinh cho trường hợp chỉ có cha tham gia Bảo hiểm xã hội. Vì, với điều kiện về quản lý nhân khẩu và lao động hiện hành thì trong thực tế không thể xác định được người mẹ có tham gia Bảo hiểm xã hội hay không mà chỉ căn cứ vào đơn và xác nhận nên chắc chắn sẽ bị lạm dụng và không kiểm soát được khi cả cha, mẹ đóng Bảo hiểm xã hội tại các đơn vị khác nhau, thậm chí tại các địa phương khác nhau cũng đề nghị hưởng trợ cấp một lần khi sinh con. Luận văn: Giải pháp pháp luật bảo hiểm xã hội tại Bắc Từ Liêm.
- Về chế độ TNLĐ – BNN
Tôi rất tán thành với phần sửa đổi của Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024 một số quy định về chế độ TNLĐ, BNN. Điều kiện hưởng chế độ TNLĐ được quy định chi tiết và rõ ràng hơn so với quy định hiện hành tạo điều kiện thuận lợi trong quá trình thực hiện. Luật đã cụ thể hóa quy định tại khoản 1 Điều 43 trường hợp bị tai nạn trong các trường hợp nêu tại điểm a,b,c (khoản 1 Điều 43); bổ sung quy định các trường hợp cần loại trừ (khoản 2 Điều 43); các quy định nêu trên được thể hiện rõ và thuận lợi trong tổ chức thực hiện.
Thời điểm hưởng trợ cấp cũng được quy định chặt chẽ và đầy đủ hơn. Cụ thể là bổ sung quy định về thời điểm hưởng trợ cấp trong các trường hợp không điều trị nội trú (khoản 1, Điều 48); bổ sung quy định về thời điểm hưởng trợ cấp TNLĐ – BNN trong trường hợp không xác định được thời điểm điều trị ổn định xong, ra viện; bổ sung Điều 49 về điều chỉnh trợ cấp TNLĐ-BNN. Đây là một nội dung mới so với quy định của Luật hiện hành mặc dù trong tổ chức thực hiện đã được điều chỉnh cùng với lương hưu trong thời gian qua. Tuy nhiên, việc luật hóa nội dung này là cần thiết và phù hợp với yêu cầu thực tiễn đặt ra.
Quy định về phương thức cấp phương tiện trợ giúp sinh hoạt, dụng cụ chỉnh hình đã hợp lý hơn như nêu cụ thể phương thức cấp các phương tiện này cho đối tượng thụ hưởng. Luật quy định cấp bằng tiền để người bị TNLĐ – BNN trực tiếp mua, định mức số tiền được chi trả sẽ do Bộ LĐ – TB & XH quy định. Đây là một trong những sửa đổi phù hợp với thực tế, tạo chủ động cho Người lao động.
- Chế độ hưu trí Luận văn: Giải pháp pháp luật bảo hiểm xã hội tại Bắc Từ Liêm.
Tuổi nghỉ hưu và điều kiện nghỉ hưu vẫn giữ nguyên như cũ. Về mức hưởng hưu hàng tháng, Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024 đã đưa ra hai phương án: “Điều 55. Mức lương hưu hàng tháng Phương án 1 – theo ý kiến của Chính phủ.
- Mức lương hưu hàng tháng của người lao động đủ điều kiện quy định tại Điều 55 của Luật này được tính bằng 45% mức bình quân tiền lương tháng đóng Bảo hiểm xã hội quy định tại Điều 63 của Luật này tương ứng với 15 năm đóng Bảo hiểm xã hội, sau đó, cứ thêm mỗi năm thì tính thêm 2% đối với nam và 3% đối với nữ; mức tối đa bằng 75%.
- Mức lương bình hưu hàng tháng của người lao động quy định tại khoản 1 Điều này, từ năm 2018 được điều chỉnh như sau: số năm đóng Bảo hiểm xã hội tương ứng với 45% mức bình quân tiền lương tháng để tính lương hưu cho người nghỉ hưu vào năm 2018 là 16 năm; năm 2019 là 17 năm; năm 2020 là 18 năm; năm 2021 là 19 năm; và từ năm 2022 trở đi là 20 năm. Sau đó cứ thêm mỗi năm thì tính thêm 2% đối với nam và 3% đối với nữ; mức tối đa bằng 75%.
Phương án 2: (hướng tới mục tiêu nâng cao bình đẳng giới)
- Mức lương hưu hàng tháng của người lao động đủ điều kiện quy định tại Điều 55 của Luật này được tính bằng 45% mức bình quân tiền lương tháng đóng Bảo hiểm xã hội quy định tại Điều 63 của Luật này tương ứng với 15 năm đóng Bảo hiểm xã hội, sau đó, cứ thêm mỗi năm thì tính thêm 2% đối với nam và 3% đối với nữ; mức tối đa bằng 75%.
- Từ năm 2018, mức lương hưu hàng tháng của người lao động đủ điều kiện quy định tại Điều 55 của Luật này được tính bằng 45% mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội quy định tại Điều 63 của Luật này tương ứng với 15 năm đóng bảo hiểm xã hội của lao động nữ và 20 năm đóng bảo hiểm xã hội của lao động nam. Sau đó, cứ thêm mỗi năm, người lao động được tính thêm 2%; mức tối đa bằng 75%.
- Mức lương hưu hàng tháng của Người lao động đủ điều kiện quy định tại Điều 56 của Luật này được tính như quy định tại khoản 1 Điều này, sau đó cứ mỗi năm nghỉ hưu trước tuổi quy định thì giảm 2%.”
Về việc thực hiện điều chỉnh như phương án 1 trong thực tiễn sẽ ảnh hưởng nhất định đến quyền lợi của người nghỉ hưu trong khi tuổi nghỉ hưu không được điều chỉnh tăng lên. Do vậỵ, tỷ lệ hưởng lương hưu của người nghỉ hưu sau khi điều chỉnh sẽ giảm hơn so với hiện hành. Điều này sẽ dẫn tới việc mức lương hưu hàng tháng không đủ để đảm bảo chi trả trong sinh hoạt hàng hàng ngày của một bộ phận lớn người lao động. Luận văn: Giải pháp pháp luật bảo hiểm xã hội tại Bắc Từ Liêm.
Tôi nhất trí với phương án 2 mà Luật Bảo hiểm xã hội ngày 20/11/2024 đưa ra. mức lương hưu sẽ vẫn giữ nguyên đến hết năm 2017 và chỉ điều chỉnh từ năm 2018 trở đi. Đặc biệt, đối tượng được điều chỉnh chỉ là lao động nam, trong khi mức hưởng đối với lao động nữ giữ nguyên như cũ. Điều này thực sự hướng tới mục tiêu bình đẳng giới trong pháp luật Bảo hiểm xã hội. Trong bối cảnh dân số Việt Nam đang đứng trước nguy cơ già hoá, tuổi nghỉ hưu không được điều chỉnh tăng (nữ tối đa là 55 tuổi, nam tối đa là 60 tuổi) việc thực hiện điều chỉnh mức hưởng hưu trí theo phương án 2 sẽ kéo dần độ chênh lệch trong lương hưu hàng tháng giữa nam và nữ mà không gây nên nhiều xáo trộn cho tâm lý và mức sống của Người lao động.
Về bảo hiểm xã hội một lần, tôi cho rằng cần cân nhắc việc bổ sung quy định “Người đang bị mắc một trong những bệnh nguy hiểm đến tính mạng như ung thư, bại liệt, sơ gan cổ chướng, phong hủi, lao nặng, nhiễm HIV đã chuyển sang giai đoạn AIDS và những bệnh khắc theo quy định của Bộ Y tế mà có yêu cầu nhận bảo hiểm xã hội một lần”. Trước đây, thực hiện theo Điều lệ Bảo hiểm xã hội trường hợp Người lao động nghỉ việc nhưng chưa đủ tuổi đời để hưởng chế độ hưu trí thì được hưởng trợ cấp một lần. Qua thực tế triển khai, quy định này đã bộc lộ nhiều hạn chế, làm ảnh hưởng đến quyền được hưởng lương hưu hàng tháng của Người lao động, do vậy, Luật Bảo hiểm xã hội đã bãi bỏ quy định này. Đến nay, Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024 lại đưa chế độ này vào, tuy có giới hạn về điều kiện hưởng. Các nhà soạn Luật cần dự tính đến những bất cập, rủi ro khi điều luật này được Quốc hội thông qua. Việc sửa đổi Luật Bảo hiểm xã hội lần này nhằm mục đích bảo toàn, cân đối quỹ Bảo hiểm xã hội, hướng tới đảm bảo ASXH trên diện rộng cho Người lao động. Với quy định này, tình trạng lách luật, hợp lý hoá hồ sơ để hưởng chế độ Bảo hiểm xã hội một lần sẽ tái diễn.Như vậy, hiệu quả của việc sửa đổi Luật sẽ không đạt được mục đích như mong đợi.
Mức hưởng chế độ trợ cấp một lần: Mức hưởng tối thiểu vẫn giữ nguyên như cũ cho những năm đóng trước năm 2024, từ năm 2024 trở đi, mức hưởng Bảo hiểm xã hội một lần được tính bằng 2,0 tháng mức bình quân tiền lương tháng đóng Bảo hiểm xã hội. Tôi cho rằng, việc điều chỉnh mức hưởng theo Dự thảo là hoàn toàn hợp lý, phù hợp với việc điều chỉnh tăng mức đóng Bảo hiểm xã hội hiện nay. Luận văn: Giải pháp pháp luật bảo hiểm xã hội tại Bắc Từ Liêm.
Theo tinh thần của Luật Bảo hiểm xã hội ngày 20/11/2024 thì Người lao động thuộc đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định tham gia Bảo hiểm xã hội trước ngày 01/07/2025 thì việc điều chỉnh tiền lương đã đóng Bảo hiểm xã hội vẫn được điều chỉnh theo mức lương cơ sở tại thời điểm hưởng chế độ hưu trí như quy định hiện hành;
Đối với Người lao động bắt đầu tham gia Bảo hiểm xã hội từ ngày 01 tháng 7 năm 2025 trở đi thì tiền lương tháng đã đóng Bảo hiểm xã hội để làm căn cứ tính mức bình quân được điều chỉnh trên cơ sở chỉ số giá sinh hoạt của từng thời kỳ như đối với Người lao động đóng Bảo hiểm xã hội theo chế độ tiền lương do Người sử dụng lao động quyết định.
Tôi đồng ý với việc điều chỉnh này của Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024. Quy định mới này của Luật đã giải quyết bất hợp lý trong thực hiện chính sách Bảo hiểm xã hội đối với Người lao động giữa khu vực nhà nước và khu vực ngoài nhà nước, tạo sân chơi bình đẳng giữa những người tham gia Bảo hiểm xã hội, tạo sự đồng bộ với cách tính mức bình quân tiền lương tháng đóng Bảo hiểm xã hội để tính lương hưu, trợ cấp một lần, đồng thời đảm bảo được nguyên tắc đóng hưởng và góp phần cân đối quỹ Bảo hiểm xã hội.
- Chế độ tử tuất
Bất cập lớn nhất trong quá trình thực hiện Luật Bảo hiểm xã hội hiện hành về chế độ tử tuất, đó chính là sự chênh lệch giữa mức hưởng trợ cấp tuất hàng tháng và trợ cấp tuất 1 lần. Khắc phục điều này, Luật Bảo hiểm xã hội đã sửa đổi quy định về chế độ tử tuất theo hướng cho phép thân nhân Người lao động được lựa chọn hưởng trợ cấp tuất hàng tháng hoặc trợ cấp tuất một lần, trừ trường hợp có thân nhân là con dưới 06 tuổi, con hoặc vợ hoặc chồng mà bị suy giảm khả năng lao động từ 81 % trở lên (khoản 3, Điều 70); tăng mức trợ cấp tuất một lần đối với người bị chết khi chưa hưởng lương hưu lên 02 tháng cho mỗi năm đóng Bảo hiểm xã hội từ năm 2024 trở đi, tương đồng với mức Bảo hiểm xã hội 1 lần. [22].
Luật Bảo hiểm xã hội ngày 20/11/2024 cũng đã bổ sung đối tượng là Người lao động tham gia Bảo hiểm xã hội mà bị Tòa án tuyên bố là đã chết. Với quy định cụ thể này, tôi cho rằng Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024 đã giúp ngành Bảo hiểm xã hội tháo gỡ một vướng mắc trong quá trình giải quyết chế độ cho Người lao động, đảm bảo quyền được thụ hưởng Bảo hiểm xã hội trong những trường hợp đặc biệt. Luận văn: Giải pháp pháp luật bảo hiểm xã hội tại Bắc Từ Liêm.
Về cơ bản, chế độ tử tuất trong Luật Bảo hiểm xã hội đã có sự thay đổi đáng kể, tuy nhiên, qua thực tế công tác, tôi thấy, Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024 vẫn chưa giải quyết thoả đáng những khó khăn, vướng mắc trong triển khai thực hiện thời gian qua. Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024 nên quy định rõ thu nhập hàng tháng được xác định tại thời điểm nào và gồm những khoản gì vì đây là nội dung rất vướng trong tổ chức thực hiện. Mức hưởng trợ cấp tuất hàng tháng cũng cần phải được điều chỉnh theo hướng tăng lên để tương xứng với việc điều chỉnh tăng mức hưởng trợ cấp tuất một lần. Việc điều chỉnh này sẽ thu hẹp dần sự chênh lệch tương đối lớn giữa hai loại trợ cấp. Từ đó, thân nhân Người lao động sẽ không tìm cách để lạm dụng quỹ Bảo hiểm xã hội và cơ quan Bảo hiểm xã hội cũng thuận lợi hơn trong việc giải quyết chế độ.
Tóm lại, để chế độ tử tuất thực sự có ý nghĩa đối với Người lao động và thân nhân của họ, đồng thời góp phần ổn định xã hội, trước hết phải xây dựng, hoạch định chính sách một cách khoa học và khả thi, làm tiền đề cho khâu tổ chức thực hiện.
3.2.2. Xây dựng các chương trình phối hợp với các ngành, các cấp có liên quan để triển khai thực hiện pháp luật về bảo hiểm xã hội Luận văn: Giải pháp pháp luật bảo hiểm xã hội tại Bắc Từ Liêm.
Để triển khai thực hiện nghiêm chính sách, pháp luật về Bảo hiểm xã hội trong thời gian tới Bảo hiểm xã hội tỉnh chủ động xây dựng các chương trình, quy chế phối hợp chủ yếu với các ngành, cụ thể như sau:
Xây dựng chương trình phối hợp với Sở LĐTB&XH, Cục thuế, Sở Kế hoạch và Đầu tư rà soát, thống kê các đơn vị SDLĐ đang hoạt động trên địa bàn tỉnh, nắm chặt chẽ đối tượng thuộc diện phải đóng Bảo hiểm xã hội bắt buộc để quản lý và thực hiện chính sách, pháp luật về Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm y tế.
Xây dựng Quy chế phối hợp với Liên đoàn Lao động tỉnh về việc thực hiện chính sách, pháp luật về Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm y tế. Quy chế phối hợp với Sở Thông tin và Truyền thông về tuyên truyền, phổ biến, giáo dục chính sách, pháp luật Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm y tế. Quy chế phối hợp với Sở LĐ-TB&XH về tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát việc thực hiện pháp luật về Bảo hiểm xã hội; đồng thời xử lý nghiêm những tổ chức, cá nhân vi phạm theo Nghị định số 86/2020/NĐ-CP ngày 13/8/2020 của Chính phủ Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực Bảo hiểm xã hội. Quy chế phối hợp với Công an quận về phòng, chống tội phạm và các hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm y tế. Quy chế phối hợp liên ngành với Tòa án nhân dân quận, Thi hành án quận để thực hiện công tác khởi kiện và thi hành án đối với các đơn vị SDLĐ vi phạm pháp luật về Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm y tế.
Ngoài ra, Bảo hiểm xã hội Thành phố và Bảo hiểm xã hội các quận, huyện chủ động phối hợp với Cấp ủy, UBND, các ngành, đoàn thể, các cơ quan Báo, Đài thường xuyên tổ chức các hoạt động tuyên truyền, phổ biến, kiểm tra, giám sát và thực hiện tốt chính sách, pháp luật về Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm y tế bảo đảm quyền lợi cho Người lao động.
3.3. Những giải pháp bảo đảm thực hiện pháp luật Bảo hiểm xã hội trên địa bàn Quận Bắc Từ Liêm Luận văn: Giải pháp pháp luật bảo hiểm xã hội tại Bắc Từ Liêm.
3.3.1. Đổi mới tổ chức và hoạt động của bảo hiểm xã hội Quận
Để kiện toàn tổ chức bộ máy, nâng cao chất lượng hoạt động của phòng nghiệp vụ, Bảo hiểm xã hội các huyện, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ triển khai thực hiện pháp luật về Bảo hiểm xã hội trong thời gian tới, việc đổi mới tổ chức và hoạt động của Bảo hiểm xã hội Quận cần tập trung thực hiện tốt một số điểm sau đây:
- Một là, đổi mới và nâng cao chất lượng hoạt động của các phòng nghiệp vụ và Bảo hiểm xã hội Quận.
Tiếp tục rà soát, phân định rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm từng đơn vị. Nâng cao trách nhiệm của người đứng đầu trong công tác chỉ đạo, hướng dẫn thực thi nhiệm vụ. Kiên quyết khắc phục tình trạng đùn đẩy công việc giữa các phòng nghiệp vụ, tính thiếu đồng bộ trong chỉ đạo, hướng dẫn nghiệp vụ, tạo điều kiện thuận lợi cho Người lao động, Người sử dụng lao động, nhân dân tham gia và thụ hưởng chính sách Bảo hiểm xã hội.
Phân công nhiệm vụ, trách nhiệm rõ ràng cho từng công chức, viên chức; khắc phục tình trạng thụ động, phong cách làm việc hành chính, quan liêu trong chỉ đạo, điều hành thực thi nhiệm vụ, chuyển đổi nhanh sang phong cách phục vụ; gắn với việc đánh giá, phân loại công chức, viên chức hàng quý, hàng năm với kết quả thực hiện nhiệm vụ được giao; tăng cường tính gương mẫu và trách nhiệm của công chức, viên chức lãnh đạo trong chỉ đạo, điều hành đơn vị.
- Hai là, nâng cao năng lực đội ngũ công chức, viên chức thực thi pháp luật về Bảo hiểm xã hội.
Nâng cao năng lực đội ngũ công chức, viên chức thực thi pháp luật Bảo hiểm xã hội (đặc biệt là đội ngũ cán bộ lãnh đạo) là một trong những giải pháp cơ bản nhằm bảo đảm thực hiện pháp luật về Bảo hiểm xã hội. Trong đó, chú trọng việc xây dựng đội ngũ công chức, viên chức theo tiêu chuẩn vị trí chức danh, mạnh dạn thay thế những viên chức năng lực hạn chế, phẩm chất đạo đức sa sút không đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ; tuyển chọn viên chức có chất lượng, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ ngày càng cao của ngành. Luận văn: Giải pháp pháp luật bảo hiểm xã hội tại Bắc Từ Liêm.
Bảo hiểm xã hội là một ngành hoạt động nghiệp vụ mang tính chuyên môn sâu. Nhưng đội ngũ công chức, viên chức hiện tại của Bảo hiểm xã hội tỉnh chủ yếu được đào tạo về kinh tế, tài chính, xã hội, hầu hết chưa được đào tạo cơ bản nghiệp vụ về Bảo hiểm xã hội. Do đó, phải xây dựng kế hoạch dài hạn để đào tạo, đào tạo lại, bồi dưỡng nâng cao kiến thức, chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ công chức, viên chức, nhất là những người trong quy hoạch. Thường xuyên đào tạo, bồi dưỡng nâng cao chất lượng hoạt động của các đại lý thu, đại lý chi Bảo hiểm xã hội ở xã, phường, thị trấn.
Ba là, tiếp tục học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh để xây dựng đội ngũ công chức, viên chức Bảo hiểm xã hội tỉnh có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức tốt, giỏi về chuyên môn nghiệp vụ, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư trong thực thi nhiệm vụ thực hiện pháp luật về Bảo hiểm xã hội. Xây dựng và thực hiện nghiêm chuẩn mực đạo đức, quy tắc ứng xử, quy tắc phát ngôn; công chức, viên chức ngành Bảo hiểm xã hội phải tận tâm, tận lực hết lòng, hết sức phục vụ đối tượng tham gia và thụ hưởng chính sách Bảo hiểm xã hội.
Bốn là, thực hiện tốt công tác nâng lương thường xuyên, nâng lương trước thời hạn và các chế độ chính sách khác đối với viên chức Bảo hiểm xã hội tỉnh; đẩy mạnh các phòng trào thi đua, biểu dương khen thưởng kịp thời đối với những tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc trong đơn vị.
Năm là, nâng cao chất lượng công tác tiếp nhận hồ sơ và trả kết quả một cửa, cử viên chức nắm vững chuyên môn nghiệp vụ, có phẩm chất đạo đức tốt làm nhiệm vụ tiếp nhận hồ sơ và trả kết quả một cửa, niêm yết công khai quy trình, thời gian, thủ tục giải quyết công việc tại bộ phận một cửa ở Bảo hiểm xã hội các Quận. Xây dựng và triển khai thực hiện cải cách hành chính theo cơ chế một của liên thông tại Bảo hiểm xã hội TP và Bảo hiểm xã hội các huyện. Tiếp tục ứng dụng có hiệu quả các chương trình công nghệ thông tin trong quản lý và thực hiện nghiệp vụ thu, quản lý đối tượng tham gia; chương trình quản lý cấp sổ Bảo hiểm xã hội; quản lý đối tượng hưởng lương hưu, trợ cấp Bảo hiểm xã hội hàng tháng, 01 lần; chương trình thẩm định hồ sơ hưởng Bảo hiểm xã hội; chương trình tiếp nhận hồ sơ và trả kết quả một cửa; ứng dụng tốt đường truyền dữ liệu thông suốt từ Bảo hiểm xã hội tỉnh đến Bảo hiểm xã hội các huyện và ngược lại; quản lý, lưu trữ, bảo mật dữ liệu phục vụ tốt hoạt động của ngành.
Sáu là, bảo đảm trang bị mỗi Bảo hiểm xã hội huyện đều có máy chủ, mỗi công chức, viên chức đều có máy tính đủ tiêu chuẩn để thực thi nhiệm vụ; nâng cấp đường truyền dữ liệu nội bộ và thuê riêng đường truyền dữ liệu ngành Bảo hiểm xã hội đảm bảo thông suốt, phục vụ tốt hoạt động thực hiện pháp luật về Bảo hiểm xã hội.
3.3.2. Đổi mới hoạt động thông tin, tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật bảo hiểm xã hội Luận văn: Giải pháp pháp luật bảo hiểm xã hội tại Bắc Từ Liêm.
Để nâng cao nhận thức của các ngành, các cấp, Người sử dụng lao động, Người lao động và nhân dân những quan điểm của Đảng về chính sách An sinh xã hội được thể hiện trong Nghị quyết Đại hội lần thứ XI của Đảng, nhất là những nội dung cơ bản về Bảo hiểm xã hội như: khẳng định vị trí và vai trò của Bảo hiểm xã hội trong hệ thống chính sách An sinh xã hội; khẳng định chủ trương phát triển mạnh hệ thống Bảo hiểm xã hội; tiếp tục sửa đổi, hoàn thiện pháp luật Bảo hiểm xã hội; tạo mọi điều kiện thuận lợi để Người lao động tiếp cận và tham gia các loại hình bảo hiểm; đẩy mạnh xã hội hóa dịch vụ Bảo hiểm xã hội; giải thích rõ quyền lợi, nghĩa vụ của mỗi cá nhân, tổ chức khi tham gia Bảo hiểm xã hội, ý nghĩa quan trọng của việc tham gia Bảo hiểm xã hội đối với sự ổn định và an toàn nền kinh tế – xã hội, thúc đẩy công bằng xã hội, bảo đảm phát triển bền vững; các quy trình thực hiện đăng ký, thu nộp Bảo hiểm xã hội; thủ tục đề nghị hưởng chế độ Bảo hiểm xã hội và chi trả Bảo hiểm xã hội. Biểu dương những tập thể, cá nhân làm tốt công tác Bảo hiểm xã hội, phê phán những vi phạm trong thực hiện chế độ Bảo hiểm xã hội, vi phạm Luật Bảo hiểm xã hội.
Tiếp tục phối hợp với Báo Bảo hiểm xã hội, Đài Phát thanh và Truyền hình, các Bản tin của Ban Tuyên giáo Quận. Phối hợp với Phòng văn hóa Thông tin, Hội đồng phổ biến giáo dục pháp luật, Phòng LĐ-TB&XH, LĐLĐ và các đoàn thể tổ chức tuyên truyền thông qua hội nghị triển khai, tập huấn, phổ biến pháp luật Bảo hiểm xã hội, đặc biệt là tổ chức tuyên truyền trực tiếp cho NSDLD, Người lao động tại các đơn vị SDLĐ và hội viên, đoàn viên các đoàn thể.
Phối hợp với các hội doanh nghiệp của Huyện(nếu có), tuyên truyền, phổ biến đến các chủ doanh nghiệp, doanh nhân trẻ về chính sách, pháp luật Bảo hiểm xã hội. Luận văn: Giải pháp pháp luật bảo hiểm xã hội tại Bắc Từ Liêm.
Biên soạn các loại tài liệu như: Tờ gấp, tài liệu hỏi đáp, xây dựng các cụm panô tuyên truyền ở một số tuyến đường quan trọng ở huyện, các loại áp phích cổ động tuyên truyền nhân các ngày lễ kỷ niệm và ngày truyền thống của ngành Bảo hiểm xã hội 16/2.
Tăng cường tổ chức các cuộc hội thi tìm hiểu, thi tuyên truyền viên về Bảo hiểm xã hội.
Thiết lập các kênh thông tin đa chiều để tiếp nhận, phản hồi ý kiến của Người sử dụng lao động và Người lao động trong việc thực hiện chính sách Bảo hiểm xã hội.
Để thực hiện tốt những nội dung nêu trên, cần huy động được sự tham gia của các ngành, các cấp; xây dựng được đội ngũ cộng tác viên, tuyên truyền viên, đặc biệt là mỗi công chức, viên chức ngành Bảo hiểm xã hội phải thực sự là tuyên truyền viên về Bảo hiểm xã hội. Tăng cường đào tạo, bồi dưỡng kiến thức pháp luật và kỹ năng áp dụng pháp luật cho cán bộ, công chức, viên chức các cơ quan quản lý nhà nước và cơ quan thực thi pháp luật về Bảo hiểm xã hội nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức có ý thức pháp luật cao đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ quản lý và để góp phần tuyên truyền, giáo dục nâng cao ý thức pháp luật trong xã hội.
Công tác tuyên truyền giáo dục pháp luật về Bảo hiểm xã hội cần được tiến hành thường xuyên, liên tục với việc đầu tư kinh phí thỏa đáng và sự quan tâm chỉ đạo của Quận ủy, UBND Quận, xã nhằm tạo điều kiện để mọi Người lao động có cơ hội hiểu biết pháp luật về Bảo hiểm xã hội đầy đủ, toàn diện, góp phần nâng cao ý thức pháp luật của họ. Có như vậy thì pháp luật về Bảo hiểm xã hội mới có điều kiện thực thi tốt trong thực tiễn cuộc sống.
Phối hợp với Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội, LĐLĐ Quận, Chi cục thuế để nắm số doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh mới thành lập và đang hoạt động; số lao động đang làm việc trong các đơn vị đó để yêu cầu người SDLĐ tham gia Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm y tế cho Người lao động. Cập nhật kịp thời các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh giải thể, phá sản, ngừng hoạt động… với đầy đủ các căn cứ, thủ tục pháp lý để theo dõi đóng Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm y tế đảm bảo quyền lợi cho Người lao động. Luận văn: Giải pháp pháp luật bảo hiểm xã hội tại Bắc Từ Liêm.
3.3.3. Đổi mới về quản lý, phát triển đối tượng tham gia và thu Quỹ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp
Quản lý và phát triển đối tượng tham gia Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm thất nghiệp là một nguyên tắc cơ bản của Bảo hiểm xã hội, nhằm thực hiện đầy đủ quyền lợi cho Người lao động có quan hệ lao động, quan hệ tiền lương, tiền công với Người sử dụng lao động; bảo đảm được nguồn thu để chi trả các chế độ Bảo hiểm xã hội, tính bền vững của quỹ Bảo hiểm xã hội, tạo sự ổn định và phát triển kinh tế – xã hội, nhưng trên thực tế, việc phát triển đối tượng tham gia Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm thất nghiệp trong thời gian qua, nhất là ở khu vực ngoài nhà nước vẫn còn nhiều hạn chế. Mục tiêu phát triển đối tượng tham gia Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm thất nghiệp trong thời gian tới trên địa bàn Quận tập trung ở khu vực kinh tế ngoài nhà nước, do đó cần thực hiện tốt một số giải pháp chủ yếu sau đây:
3.3.4. Về quản lý đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội
Cơ quan Bảo hiểm xã hội phải chủ động phối hợp với các sở, ban, ngành và chính quyền, đoàn thể địa phương để trao đổi thông tin nắm chặt số đơn vị SDLD, Người lao động thuộc đối tượng bắt buộc đóng Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm thất nghiệp, cụ thể:
Phối hợp với Sở Kế hoạch – Đầu tư trao đổi nắm thông tin về số doanh nghiệp thành lập mới, sáp nhập, chuyển địa bàn, ngừng hoạt động, giải thể, phá sản; với Cục thuế nắm số doanh nghiệp đang hoạt động có đăng ký thuế và đang nộp thuế; với Hội Chế biến xuất khẩu thủy sản, Hiệp hội doanh nghiệp, Hội doanh nhân trẻ, Ban quản lý các khu công nghiệp, khu kinh tế nắm tình hình hoạt động của các doanh nghiệp; phối hợp với Liên minh Hợp tác xã nắm số Hợp tác xã, Tổ hợp tác đang hoạt động thuộc đối tượng bắt buộc đóng Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm thất nghiệp; phối hợp với UBND, các tổ chức đoàn thể huyện và xã, phường để kịp thời nắm được tình hình di biến động của loại hình doanh nghiệp, hộ kinh doanh cá thể, tổ hợp tác và đối tượng tham gia Bảo hiểm xã hội tự nguyện.
Phối hợp với Phòng LĐ-TB&XH, Liên đoàn Lao động nắm chặt số lao động trong các doanh nghiệp có hợp đồng lao động từ đủ 3 tháng trở lên, tiền lương, tiền công của từng Người lao động; nắm số người có hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định sau khi hết thời hạn hợp đồng nếu không ký tiếp hợp đồng mới nhưng Người lao động vẫn tiếp tục làm việc tại đơn vị thì sau 30 ngày Người lao động và Người sử dụng lao động phải đóng Bảo hiểm xã hội kể từ ngày hết hạn hợp đồng cũ.
Hướng dẫn, chỉ đạo Bảo hiểm xã hội các huyện phối hợp với chính quyền, các ngành, đoàn thể ở địa phương để nắm chặt số đơn vị, số lao động thuộc diện tham gia Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm thất nghiệp trên địa bàn Quận.
3.3.5. Về phát triển đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp Luận văn: Giải pháp pháp luật bảo hiểm xã hội tại Bắc Từ Liêm.
Trên cơ sở nắm và phân tích, đánh giá đúng thực chất số đơn vị SDLĐ, số lao động đang hoạt động có đủ các điều kiện đóng Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm thất nghiệp, cơ quan Bảo hiểm xã hội chủ động xây dựng đề án phát triển đối tượng tham gia theo lộ trình hợp lý với từng nhóm đối tượng, tổ chức triển khai quán triệt trong toàn hệ thống Bảo hiểm xã hội TP và kết hợp với chỉ tiêu được Bảo hiểm xã hội Việt Nam giao hàng năm, để cụ thể hóa và triển khai thực hiện trên địa bàn toàn TP.
Kết hợp với các ngành, đoàn thể tổ chức tuyên truyền, phổ biến, hướng dẫn kỹ những quy định của Luật Bảo hiểm xã hội, công khai quy trình thủ tục hồ sơ, thời gian, địa điểm đăng ký tham gia, phương thức trích nộp Bảo hiểm xã hội và yêu cầu doanh nghiệp đóng bảo hiểm đầy đủ cho Người lao động theo luật định.
Thành lập các Tổ phát triển đối tượng tham gia Bảo hiểm xã hội trực tiếp đến các đơn vị tuyên truyền, phổ biến, hướng dẫn giúp NSDLD, Người lao động lập thủ tục đóng Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm thất nghiệp. Kết hợp với Sở LĐ-TB&XH, Phòng LĐ-TB&XH thành lập Tổ Kiểm tra liên ngành để thanh tra, kiểm tra đối với đơn vị chưa đăng ký đóng, đóng chưa đầy đủ Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm thất nghiệp cho Người lao động để yêu cầu đơn vị đóng bảo hiểm đầy đủ cho Người lao động theo quy định của pháp luật.
Bên cạnh việc phát triển đối tượng tham gia Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm thất nghiệp cơ quan Bảo hiểm xã hội phải thực hiện tốt công tác cấp sổ Bảo hiểm xã hội và quản lý quá trình tham gia Bảo hiểm xã hội của Người lao động: khi Người lao động đăng ký đóng Bảo hiểm xã hội thì phải đồng thời lập các thủ tục để cấp sổ Bảo hiểm xã hội và quá trình đóng Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm thất nghiệp của Người lao động phải được cập nhật trong chương trình quản lý đối tượng tham gia Bảo hiểm xã hội để làm căn cứ giải quyết các chế độ Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm thất nghiệp.
3.3.6. Giải pháp về quản lý nguồn thu Quỹ bảo hiểm xã hội
Để quản lý tốt nguồn thu Quỹ Bảo hiểm xã hội phải quản lý được đối tượng tham gia, mức đóng, phương thức đóng, tiền lương, tiền công làm căn cứ đóng Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm thất nghiệp. Đây là tiêu chí bắt buộc các chủ thể quan hệ pháp luật Bảo hiểm xã hội phải tuân thủ đúng quy định khi đóng Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm thất nghiệp giải pháp này tập trung một số nhiệm vụ sau đây: Luận văn: Giải pháp pháp luật bảo hiểm xã hội tại Bắc Từ Liêm.
Tiền lương, tiền công làm căn cứ đóng Bảo hiểm xã hội đó là mức tiền cụ thể tính theo hệ số lương (đối với người hưởng lương theo thang bảng lương của Nhà nước) hoặc mức tiền tuyệt đối của Người lao động theo hợp đồng lao động với Người sử dụng lao động. Trên cơ sở đó, cơ quan Bảo hiểm xã hội nắm được tổng quỹ tiền lương của Người lao động và của Người sử dụng lao động, để làm căn cứ xác định tổng số tiền phải đóng Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm thất nghiệp từng tháng, quý, năm của từng đơn vị và toàn Quận.
Hàng năm, cơ quan Bảo hiểm xã hội phải rà soát, thống kê chính xác số đơn vị SDLĐ, Người lao động đã đăng ký đóng Bảo hiểm xã hội, khả năng mở rộng đối tượng tham gia mới, mức đóng, tiền lương hoặc tiền công của Người lao động và tổng quỹ tiền lương, tiền công của Người sử dụng lao động ở khu vực Nhà nước và khu vực ngoài nhà nước. Trên cơ sở đó, tiến hành lập kế hoạch chi tiết thu Quỹ Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm thất nghiệp trong toàn tỉnh và giao chỉ tiêu cụ thể cho Phòng thu Bảo hiểm xã hội TP và Bảo hiểm xã hội các quận, huyện thực hiện quản lý thu Quỹ Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm thất nghiệp đảm bảo kịp thời, đúng mức và đủ số lượng, tránh tùy tiện trong việc thu nộp Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm thất nghiệp.
Căn cứ vào số tiền phải đóng Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm thất nghiệp hàng tháng của Người sử dụng lao động, cơ quan Bảo hiểm xã hội gửi thông báo trực tiếp đến thủ trưởng các đơn vị SDLĐ để có kế hoạch chuyển tiền trích nộp Quỹ Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm thất nghiệp; cử cán bộ chuyên quản thu Bảo hiểm xã hội theo dõi đến các đơn vị SDLĐ kiểm tra, hướng dẫn, đôn đốc thực hiện việc trích nộp Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm thất nghiệp vào tài khoản “tiền gửi chuyên thu” tại Kho bạc Nhà nước và tài khoản “tiền gửi thu Bảo hiểm xã hội” tại các ngân hàng nông nghiệp & phát triển nông thôn, ngân hàng cổ phần công thương hàng tháng đúng quy định của pháp luật; các tài khoản này được cài đặt tự động chuyển nộp từ huyện về tỉnh và từ tỉnh về trung ương khi số tiền trong mỗi tài khoản vượt trên một tỷ đồng.
Các số liệu trích nộp Bảo hiểm xã hội phải được quản lý trên chương trình công nghệ thông tin thông suốt từ TP đến cấp Quận, huyện và phải được cập nhật hàng ngày, kết toán vào ngày cuối tháng và thực hiện nghiêm việc quyết toán số tiền thu Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm thất nghiệp hàng quý giữa Bảo hiểm xã hội Quận, huyện với Thành phố và tỉnh với trung ương. Tuyệt đối không được sử dụng tiền thu Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm thất nghiệp vào bất cứ mục đích nào khác; các trường hợp nộp thừa sẽ được thoái thu khi thực hiện đúng quy trình, thủ tục theo quy định của pháp luật.
3.3.7. Về khắc phục nợ đọng tiền bảo hiểm xã hội Luận văn: Giải pháp pháp luật bảo hiểm xã hội tại Bắc Từ Liêm.
Để hạn chế tình trạng nợ đọng Bảo hiểm xã hội cần tập trung thực hiện một số giải pháp cơ bản sau:
- Hàng tháng cơ quan Bảo hiểm xã hội thông báo kịp thời số tiền phải đóng Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm thất nghiệp cho Người sử dụng lao động đã tham gia Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm thất nghiệp thông báo phải được gửi trực tiếp đến thủ trưởng đơn vị SDLĐ để họ biết và có kế hoạch trích nộp Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm thất nghiệp.
- Tập trung rà soát các đơn vị SDLĐ nợ đọng kéo dài, nắm bắt nguyên nhân nợ là do thực sự khó khăn trong sản xuất – kinh doanh hay do nguyên nhân nào khác. Trên cơ sở đó xây dựng kế hoạch phối hợp với các ngành xử lý thu nợ
3.3.8. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý nghiêm khắc các trường hợp vi phạm pháp luật về bảo hiểm xã hội
Thanh tra, kiểm tra việc thực hiện pháp luật Bảo hiểm xã hội là một trong những khâu quan trọng trong việc bảo đảm thực hiện pháp luật về Bảo hiểm xã hội. Công tác thanh tra, kiểm tra thời gian qua còn nhiều hạn chế; Bảo hiểm xã hội tỉnh chủ yếu kiểm tra, nắm tình hình, chạy theo chỉ tiêu số lượng, chưa thanh tra, kiểm tra để khai thác mới, thu hồi nợ Bảo hiểm xã hội. Vì vậy, công tác thanh tra, kiểm tra thực thi pháp luật về Bảo hiểm xã hội ở Quận Bắc Từ Liêm cần phải đổi mới với một số nội dung chủ yếu như sau:
Công tác thanh tra, kiểm tra phải được phối hợp chặt chẽ giữa Thanh tra chuyên ngành của Phòng LĐ-TB&XH, của Liên đoàn Lao động, Công an, Sở Kế hoạch – Đầu tư, Thuế, Bảo hiểm xã hội và các cơ quan liên quan trong kiểm tra, giám sát, đôn đốc việc thực hiện các quy định của pháp luật về Bảo hiểm xã hội đây là một giải pháp quan trọng cần thực hiện thường xuyên và thông suốt từ Thành phố đến cấp huyện. Luận văn: Giải pháp pháp luật bảo hiểm xã hội tại Bắc Từ Liêm.
Hàng năm Bảo hiểm xã hội các cấp tham mưu cho UBND thành lập Tổ kiểm tra liên ngành của Thành phố Hà Nội và của các huyện để kiểm tra chuyên đề thực hiện pháp luật về Bảo hiểm xã hội; đồng thời xây dựng kế hoạch kiểm tra cụ thể để thực hiện kiểm tra, xử lý các đơn vị SDLĐ vi phạm pháp luật Bảo hiểm xã hội, nhất là vi phạm về không đăng ký đóng Bảo hiểm xã hội, đóng không đầy đủ, nợ đọng tiền Quỹ Bảo hiểm xã hội.
Tăng cường củng cố, kiện toàn Phòng kiểm tra của Bảo hiểm xã hội TP, viên chức phụ trách công tác kiểm tra của Bảo hiểm xã hội các huyện; lựa chọn xây dựng viên chức làm công tác kiểm tra có phẩm chất, năng lực và trình độ chuyên môn nghiệp vụ sâu đáp ứng yêu cầu kiểm tra, thực hiện pháp luật về Bảo hiểm xã hội.
BHXH TP và Bảo hiểm xã hội các Quận, huyện xây dựng kế hoạch thực hiện công tác kiểm tra đối với các đơn vị sử dụng lao động đăng ký với Thanh tra Nhà nước và tổ chức thực hiện; kế hoạch kiểm tra cần tập trung kiểm tra để khai thác phát triển đối tượng tham gia Bảo hiểm xã hội, ngăn ngừa tình trạng nợ Bảo hiểm xã hội, kiểm tra các đơn vị có dấu hiệu vi phạm pháp luật Bảo hiểm xã hội.
Việc thanh tra, kiểm tra phải bảo đảm nghiêm minh, tuân thủ đúng các quy định của pháp luật; tạo mọi điều kiện cho các chủ thể tham gia quan hệ Bảo hiểm xã hội hoạt động bình thường, không làm ảnh hưởng và cản trở hoạt động sản xuất – kinh doanh của đơn vị; đảm bảo sự bình đẳng giữa các chủ thể tham gia quan hệ Bảo hiểm xã hội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể, nghiêm cấm việc lợi dụng thanh tra, kiểm tra để xâm hại lợi ích hợp pháp của các chủ thể tham gia quan hệ Bảo hiểm xã hội; thông qua thanh tra, kiểm tra nếu phát hiện những vi phạm pháp luật về Bảo hiểm xã hội cần xử lý nghiêm minh, kịp thời theo đúng quy định của pháp luật.
KẾT LUẬN Luận văn: Giải pháp pháp luật bảo hiểm xã hội tại Bắc Từ Liêm.
Bảo hiểm xã hội là trụ cột, nền tảng cơ bản của ASXH. Thực hiện pháp luật về Bảo hiểm xã hội là quá trình hoạt động nhằm hiện thực hóa các quy định của pháp luật Bảo hiểm xã hội, làm cho những quy định của pháp luật Bảo hiểm xã hội trở thành hiện thực trong cuộc sống. Thực hiện pháp luật về Bảo hiểm xã hội suy cho cùng là nhằm mở rộng và nâng cao việc bảo đảm vật chất, góp phần ổn định đời sống cho Người lao động và gia đình họ trong các trường hợp rủi ro trong và sau quá trình lao động. Vì vậy, thực hiện pháp luật Bảo hiểm xã hội có vai trò quan trọng trong bảo đảm ASXH, góp phần phát triển kinh tế, ổn định chính trị trật tự xã hội trong địa bàn Quận nói riêng và thành phố Hà Nội nói chung.
Quá trình thực hiện cho thấy, Luật Bảo hiểm xã hội đã phù hợp với thực tiễn, được cuộc sống chấp nhận và ngày càng khẳng định vai trò quan trọng trong hệ thống chính sách xã hội của Đảng và Nhà nước. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện Luật Bảo hiểm xã hội cũng bộc lộ những bất cập, hạn chế đặt ra nhu cầu khách quan về việc sửa đổi Luật Bảo hiểm xã hội một cách căn cơ nhằm thiết lập khung chính sách, pháp luật Bảo hiểm xã hội phù hợp với sự phát triển của kinh tế thị trường, đáp ứng được nguyện vọng của Người lao động, đảm bảo ASXH và hội nhập kinh tế quốc tế trong tình hình mới.
Với những lý do khách quan nêu trên, Quốc hội khóa XIII đã đưa Luật Bảo hiểm xã hội (sửa đổi) vào chương trình xây dựng Luật và Pháp lệnh trong nhiệm kỳ XIII và Luật Bảo hiểm xã hội (sửa đổi) đã được Chính phủ trình Quốc hội cho ý kiến vào kỳ họp đầu năm và dự kiến thông qua vào kỳ hợp cuối năm 2024. Với những sửa đổi lần này, tôi hi vọng Luật Bảo hiểm xã hội sẽ phát huy được những giá trị tích cực trong nền ASXH của đất nước./. Luận văn: Giải pháp pháp luật bảo hiểm xã hội tại Bắc Từ Liêm.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Pháp luật về bảo hiểm xã hội tại Quận Bắc Từ Liêm

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com
