Luận văn: Thực trạng pháp luật bảo hiểm xã hội tại Bắc Từ Liêm

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Thực trạng pháp luật bảo hiểm xã hội tại Bắc Từ Liêm hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Thực trạng thực hiện pháp luật Bảo hiểm xã hội trên địa bàn Quận Bắc Từ Liêm dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

2.1. Giới thiệu chung về Bảo hiểm xã hội quận Bắc Từ Liêm và các yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện pháp luật về Bảo hiểm xã hội trên địa bàn quận

2.1.1. Quá trình hình thành Bảo hiểm xã hội Quận Bắc Từ Liêm

Huyện Từ Liêm được thành lập theo Quyết định số 78/QĐ-CP ngày 31/5/1961 của Chính phủ trên cơ sở Quận 5, Quận 6 và một số xã của huyện Hoài Đức, huyện Đan Phượng – tỉnh Hà Đông (nay là tỉnh Hà Tây); Huyện được thành lập gồm 26 xã, có diện tích đất trên 114 km2, dân số 12 vạn người. Sau 42 năm thành lập, với tốc độ đô thị hoá nhanh trên địa bàn, huyện đã góp phần thành lập 3 quận mới của Thủ đô, chuyển gần 1/3 diện tích đất tự nhiên và 1/2 dân số ở những vùng kinh tế phát triển về nội thành. Sau nhiều lần chia tách lãnh thổ để lập nên các quận mới, hiện nay, Từ Liêm còn lại 15 xã và 1 thị trấn với diện tích đất tự nhiên 75,15 km2, dân số trên 550.000 người.

Ngày 27 tháng 12 năm 2023. Chính phủ ban hành Nghị quyết 132/NQ-CP về việc điều chỉnh địa giới hành chính huyện Từ Liêm để thành lập 2 quận mới và 23 phường trực thuộc Thành phố Hà Nội, Nghị quyết của Chính phủ đã được tuyệt đại đa số nhân dân, đảng viên, cán bộ huyện Từ Liêm vui mừng, phấn khởi và đồng tình đón nhận, Theo đó, huyện Từ Liêm sẽ được chia tách thành hai quận mới là Bắc Từ Liêm và Nam Từ Liêm. Các đơn vị hành chính cũ của huyện Từ Liêm (15 xã, 01 thị trấn) được sắp xếp lại thành 23 phường; trong đó 13 phường thuộc quận Bắc Từ Liêm, 10 phường thuộc quận Nam Từ Liêm.

Để thực hiện Nghị quyết của Chính phủ, Thường trực Thành ủy – HĐND – UBND Thành phố đã có những chủ trương cụ thể, sâu sắc, đã quan tâm chỉ đạo các Ban ngành, MTTQ, đoàn thể của Thành phố Hà Nội và huyện Từ Liêm thực hiện công tác chuẩn bị đến ngày 01/04/2024 hai quận Bắc Từ Liêm, Nam Từ Liêm và 23 phường chính thức đi vào hoạt động. Trong một thời gian ngăn (01/01/2024- 31/03/2024), dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Thành phố, huyện Từ Liêm đã triển khai thực hiện và hoàn thành công tác tổng hợp, phân tích, thiết lập dữ liệu về địa giới hành chính, dân cư, dữ liệu kinh tế xã hội cho các đơn vị hành chính mới, chuẩn bị trụ sở, phương tiện phục vụ công tác lãnh đạo, điều hành của các tổ chức trong các hệ thống chính trị từ quận xuống các phường. Quận và 13 phường đã thực hiện đúng tư tưởng chỉ đạo của Thành ủy HĐND- UBND Thành phố: Bắt đầu từ 8h ngày 0104/2024 toàn bộ các cơ quan của Quận đã đi vào hoạt động ổn định. Việc phục vụ nhu cầu của các tổ chức và nhân dân về thủ tục hành chính được kế tiếp liên tục từ huyện Từ Liêm, không gián đoạn, các hoạt động kinh tế – xã hội, quốc phòng – an ninh trên địa bàn không bị xáo trộn, ảnh hưởng. Luận văn: Thực trạng pháp luật bảo hiểm xã hội tại Bắc Từ Liêm.

Tháng 01.01.2024, Bảo hiểm xã hội Quận Bắc Từ Liêm chính thức đi vào hoạt động độc lập. Thời gian này, do mới thành lập nên các cán bộ phải làm một khối lượng công việc lớn; cơ sở vật chất thiếu thốn, đội ngũ cán bộ chưa có nhiều kinh nghiệm nên công việc gặp không ít khó khăn, song cán bộ trong cơ quan đã đoàn kết, nỗ lực cố gắng vượt qua những khó khăn, từng bước ổn định công việc. Đến nay, đội ngũ cán bộ, công nhân viên được tăng cường cả về số lượng và chất lượng cùng với sự phát triển của cơ quan. Số cán bộ hiện có của cơ quan là 37 cán bộ (trong đó có 1 Giám đốc, 3 phó Giám đốc; có 34 cán bộ trình độ Đại học).

Với trọng tâm mở rộng đối tượng tham gia Bảo hiểm xã hội cho người lao động, Bảo hiểm xã hội Quận Bắc Từ Liêm chủ động hướng dẫn, đôn đốc tất cả các Đơn vị sử dụng lao động tham gia Bảo hiểm xã hội. Bám sát kế hoạch được giao, chủ động chỉ đạo công tác thu hàng tháng, quý đồng thời được sự phối hợp quan tâm của các cơ quan liên quan như: Phòng Lao động-Thương binh và Xã hội, Liên đoàn Lao động, Kho bạc Nhà Nước, Ngân hàng, Huyện ủy, UBND, các cán bộ cơ quan, công tác của Bảo hiểm xã hội Quận Bắc Từ Liêm đã đạt được kết quả cao trong tất cả các nghiệp vụ như: số đơn vị và số lao động tham gia Bảo hiểm xã hội ngày một tăng, số thu năm sau luôn cao hơn năm trước, công tác chi trả chế độ cho các đối tượng luôn được đổi mới đảm bảo chi đúng, chi đủ và kịp thời…

2.1.2 Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Bảo hiểm xã hội Quận Bắc Từ Liêm

BHXH Quận Bắc Từ Liêm là cơ quan trực thuộc B HXH TP Hà Nội đặt tại Khu đô thị Kiều Mai, Phường Phú Diễn, Quận Bắc Từ Liêm, Tp Hà Nội có chức năng giúp giám đốc Bảo hiểm xã hội Thành Phố tổ chức thực hiện chế độ  , chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế: quản lý thu, chi trả bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế trên địa bàn Quận theo phân cấp quản lý của Bảo Hiểm Xã Hội Việt Nam và quy định của pháp luật.

BHXH Quận Bắc Từ Liêm chịu sự quản lý trực tiếp, toàn diện của giám đốc Bảo hiểm xã hội TP Hà Nội và chịu sự quản lý hành chính nh à nước của Uỷ ban nhân dân Quận Bắc Từ Liêm Bảo hiểm xã hội Quận Bắc Từ Liêm có tư cách pháp nhân , có con dấu riêng, tài khoản và trụ sở riêng. Luận văn: Thực trạng pháp luật bảo hiểm xã hội tại Bắc Từ Liêm.

Theo quyết định số 99/QĐ-BHXH ngày 28/01/2025 của Tổng giám đốc bảo hiểm xã hội Việt Nam quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bảo hiểm xã hội địa phương có quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của Bảo hiểm xã hội Quận như sau: – (1)Xây dựng trình giám đốc Bảo hiểm xã hội TP kế hoạch phát triển Bảo hiểm xã hội Quận dài hạn, ngắn hạn và chương trình công tác hàng năm, tổ chức thực hiện kế hoạch, chương trình sau khi được phê duyệt; (2) Tổ chức thực hiện công tác thông tin, tuyên truyền, phổ biến các chế độ, chính sách, pháp luật về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế. (3)Tổ chức thực hiện các nhiệm vụ theo phân cấp của Bảo hiểm xã hội Việt Nam và Bảo hiểm xã hội tỉnh. (4) Kiểm tra, giải quyết các kiến nghị, khiếu nại, tố cáo về việc thực hiện chế độ, chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế đối với các tổ chức, cá nhân tham gia và các cơ sở khám, chữa bệnh bảo hiểm y tế theo quy định của pháp luật. (5) Tổ chức thực hiện chương trình, kế hoạch cải cách hành chính theo chỉ đạo, hướng dẫn của Bảo hiểm xã hội tỉnh; tổ chức bộ phận tiếp nhận, trả kết quả giải quyết chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế theo cơ chế “một cửa” tại Bảo hiểm xã hội huyện. (6) Tổ chức quản lý, lưu trữ hồ sơ của đối tượng tham gia và hưởng các chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế theo quy định. (7) Tổ chức hướng dẫn nghiệp vụ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế cho các tổ chức, cá nhân tham gia. (8) Tổ chức triển khai hệ thống quản lý chất lượng theo Tiêu chuẩn quốc gia TCVN ISO 9001:2018 vào hoạt động của Bảo hiểm xã hội huyện. (9) Chủ trì, phối hợp với các cơ quan nhà nước, các tổ chức chính trị – xã hội trên địa bàn, với các tổ chức, cá nhân tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế để giải quyết các vấn đề có liên quan đến việc thực hiện các chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế theo quy định của pháp luật. (10) Đề xuất, kiến nghị, phối hợp với cơ quan nhà nước có thẩm quyền thanh tra, kiểm tra các tổ chức, cá nhân trong việc thực hiện các chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp. (11) Có quyền khởi kiện vụ án dân sự đối với các đơn vị nợ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế để yêu cầu tòa án bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích nhà nước trong lĩnh vực bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế trên địa bàn. (12)Cung cấp đầy đủ và kịp thời thông tin về việc đóng, quyền được hưởng các chế độ, thủ tục thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế khi người lao động, người sử dụng lao động hoặc tổ chức công đoàn yêu cầu; Cung cấp đầy đủ và kịp thời tài liệu, thông tin liên quan theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.. (13) Quản lý viên chức của Bảo hiểm xã hội huyện.(14) Thực hiện chế độ thông tin, thống kê, báo cáo theo quy định.(15) Thực hiện các nhiệm vụ khác do Giám đốc Bảo hiểm xã hội tỉnh giao.

2.1.3. Cơ cấu tổ chức Bảo hiểm xã hội Quận Bắc Từ Liêm Luận văn: Thực trạng pháp luật bảo hiểm xã hội tại Bắc Từ Liêm.

  • Hệ thống tổ chức bộ máy

BHXH Quận Bắc Từ Liêm do Giám đốc quản lý và điều hành, giúp việc cho giám đốc là 3 phó giám đốc. Bảo hiểm xã hội Quận Bắc Từ Liêm không có cơ cấu tổ chức phòng ban mà chỉ được chia thành các bộ phận nghiệp vụ.

Với 37 cán bộ, Bảo hiểm xã hội Quận Bắc Từ Liêm được chia thành 5 bộ phận có chức năng, nhiệm vụ riêng biệt. Cả 5 bộ phận này đều được đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp của ban giám đốc. Sự phân chia được thể hiện qua sơ đồ sau:

  • Bảng 2.1: Sơ đồ cơ cấu tổ chức của Bảo hiểm xã hội Quận Bắc Từ Liêm TP Hà Nội

Chức năng và nhiệm vụ của từng bộ phận:

Giám đốc: Bảo hiểm xã hội huyện do Giám đốc quản lý và điều hành; giúp Giám đốc có các Phó Giám đốc. Giám đốc, Phó Giám đốc Bảo hiểm xã hội huyện do Giám đốc Bảo hiểm xã hội tỉnh bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức, điều động, thuyên chuyển, khen thưởng và kỷ luật theo quy trình bổ nhiệm và phân cấp quản lý cán bộ. Giám đốc Bảo hiểm xã hội huyện làm việc theo chế độ thủ trưởng; bảo đảm nguyên tắc tập trung dân chủ; ban hành Quy chế làm việc, chế độ thông tin, báo cáo của Bảo hiểm xã hội huyện theo chỉ đạo, hướng dẫn của Bảo hiểm xã hội tỉnh và chỉ đạo, kiểm tra việc thực hiện quy chế đó.

Giám đốc Bảo hiểm xã hội huyện phân công hoặc ủy quyền cho Phó Giám đốc giải quyết các công việc thuộc thẩm quyền của Giám đốc. Giám đốc chịu trách nhiệm về quyết định của Phó Giám đốc được phân công hoặc ủy quyền giải quyết.

  • Phó Giám đốc: (3 cán bộ) Luận văn: Thực trạng pháp luật bảo hiểm xã hội tại Bắc Từ Liêm.

01 phó giám đốc: phụ trách công tác thu Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm y tế, Bảo hiểm thất nghiệp, Bảo hiểm xã hộiTN, phụ trách phát hành thẻ Bảo hiểm y tế của đối tượng bắt buộc, phụ trách về phôi bìa, tờ rời sổ Bảo hiểm xã hội, phôi thẻ Bảo hiểm y tế;

01 phó giám đốc: phụ trách công tác giám định y tế; phụ trách công tác thu Bảo hiểm y tế tự nguyện nhân dân, Bảo hiểm y tế HS-SV; mở rộng đối tượng tự nguyện; phụ trách phát hành thẻ Bảo hiểm y tế tự nguyện, hưu trí, học sinh sinh viên; phụ trách mảng nội chính cơ quan, làm báo cáo công tác công đoàn; ký mảng duyệt chi 2 chế độ, ký mảng chính sách khi giám đốc đi vắng; thực hiện ủy quyền phó chủ tài khoản khi chủ tài khoản vắng mặt

01 phó giám đốc: Phụ trách công tác một cửa, kiểm tra việc thực hiện pháp luật về bảo hiểm xã hội, công tác chính sách Bảo hiểm xã hội dài hạn, phụ trách chi lương hưu cho đối tượng vào các tháng

Bộ phận tài vụ: (gồm 3 cán bộ): Nhiệm vụ chính của bộ phận này là quản lý quỹ tiền lương, kinh phí hoạt động của cơ quan; tính tiền lương; tiền trợ cấp, chi tiền cho các đối tượng đủ điều kiện hưởng các chế độ Bảo hiểm xã hội. Do điều kiện biên chế hiện nay, bộ phận này kiêm luôn công tác quản lý con dấu, quản lý cấp phát vật tư cho các bộ phận khác.

Bộ phận chính sách: (gồm 6 cán bộ): Nhiệm vụ chính của các cán bộ bộ phận này là giải thích, hướng dẫn và giải quyết mọi vấn đề về chính sách Bảo hiểm xã hội được ban hành trong điều lệ Bảo hiểm xã hội cho các đối tượng tham gia Bảo hiểm xã hội.

Bộ phận thu: (gồm 8 cán bộ): Thu Bảo hiểm xã hội là một nhiệm vụ quan trọng và là trọng tâm của ngành. Nhiệm vụ chính của bộ phận thu của Bảo hiểm xã hội Quận Bắc Từ Liêm là thu và đôn đốc thu Bảo hiểm xã hội đối với các đơn vị, cơ quan trên địa bàn Quận. Bên cạnh đó, cán bộ thu phải luôn theo sát cơ sở, kịp thời tháo gỡ những khó khăn trong công tác thu Bảo hiểm xã hội.

Bộ phận cấp sổ – thẻ: (gồm 3 cán bộ): Làm tổng hợp sổ thẻ, quản lý phôi tờ rơi, bìa sổ Bảo hiểm xã hội, phôi thẻ Bảo hiểm y tế; In sổ Bảo hiểm xã hội, thẻ Bảo hiểm y tế cho người tham gia Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm y tế; Cấp lại sổ Bảo hiểm xã hội, thẻ Bảo hiểm y tế trong trường hợp người tham gia bị mất, hỏng sổ Bảo hiểm xã hội, thẻ Bảo hiểm y tế; Sửa thẻ, đổi thẻ Bảo hiểm y tế trong trường hợp phát sinh; Quyết toán số liệu và báo cáo theo quy định.

Bộ phận giám định chi: (gồm 3 cán bộ): Nhiệm vụ của bộ phận này là giám định chi phí khám chữa bệnh của các đối tượng khám chữa bệnh có thẻ Bảo hiểm y tế tại các cơ sở khám chữa bệnh ký hợp đồng khám chữa bệnh Bảo hiểm y tế trên địa bàn huyện.

  • Bộ phận một cửa: (gồm 10 cán bộ):

Đảm nhiệm việc tiếp nhận hồ sơ, bao gồm 4 khu vực:

  • Khu vực tiếp nhận và trả kết quả cá nhân (2 người)
  • Khu vực tiếp nhận đơn vị (3 người)
  • Khu vực trả kết quả (1 người)
  • Khu vực chi trả chế độ và văn thư hành chính (3 người)

BHXH Quận tính đến nay có 37 cán bộ, đây đều là những cán bộ trẻ năng động, có chuyên môn, nghiệp vụ. Đội ngũ cán bộ của đơn vị còn khá trẻ, độ tuổi trung bình dưới 30. Cùng với sự năng động, nhiệt tình của mình, cán bộ đơn vị luôn chứng tỏ tinh thần trách nhiệm cao, chu đáo, hết mình trong công việc. Hiện 100% cán bộ của đơn vị sử dụng thành thạo máy vi tính, có thích ứng tốt công nghệ thông tin trong quá trình giải quyết công việc. Căn cứ vào tình hình thực tế của cơ quan, ngay từ đầu Ban Giám đốc đã sắp xếp đội ngũ cán bộ đảm bảo đúng người, đúng việc đảm bảo phù hợp với khả năng, trình độ của từng người, tạo điều kiện để phát huy, nâng cao trình độ và hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.

2.2 Thực trạng thực hiện pháp luật về Bảo hiểm xã hội trên địa bàn quận Bắc Từ Liêm Luận văn: Thực trạng pháp luật bảo hiểm xã hội tại Bắc Từ Liêm.

Luật Bảo hiểm xã hội đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI, Kỳ họp thứ 9 thông qua ngày 29/6/2016, gồm 11 chương, 141 điều, có hiệu lực thi hành từ 01/01/2017 đối với Bảo hiểm xã hội bắt buộc, từ ngày 01/01/2018 đối với Bảo hiểm xã hội tự nguyện và từ 01/01/2019 đối với Bảo hiểm thất nghiệp. Sự ra đời của Luật Bảo hiểm xã hội thể hiện sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, đánh dấu cột mốc quan trọng trong sự nghiệp an sinh xã hội của nước ta, là căn cứ pháp lý cao nhất để các tổ chức, cơ quan, đơn vị và cá nhân thực hiện. Luật Bảo hiểm xã hội được xây dựng trên cơ sở kế thừa và hoàn thiện những quy định của pháp luật về Bảo hiểm xã hội trước đó, vì vậy được Người sử dụng lao động và Người lao động nắm bắt kịp thời, việc triển khai thực hiện Luật cũng nhanh chóng đi vào đời sống, được đông đảo Người lao động quan tâm và thực hiện. Các nghị định và thông tư hướng dẫn ban hành kịp thời đã làm rõ và chi tiết hơn quy định của Luật, giúp cơ quan Bảo hiểm xã hội trong việc triển khai chính sách Bảo hiểm xã hội ra toàn dân. Thủ tục hồ sơ cũng như quy trình giải quyết hưởng các chế độ Bảo hiểm xã hội đơn giản tạo sự thuận tiện cho NSDLĐ, Người lao động tham gia và hưởng các chế độ Bảo hiểm xã hội.

Thực trạng triển khai thực hiện Luật Bảo hiểm xã hội trên địa bàn Quận Bắc Tư sau Liêm sau 5 năm kể từ năm 2020 đến năm 2024, được đánh giá trên các nội dung sau:

2.2.1 Công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật

Ngay sau khi Luật Bảo hiểm xã hội có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2017, Sở LĐ-TB&XH kết hợp với Bảo hiểm xã hội Thành phố tham mưu cho UBND TP tổ chức triển khai cho cán bộ chủ chốt của các sở, ban, ngành, đoàn thể cấp tỉnh và cấp huyện, Bảo hiểm xã hội Thành phố tổ chức nhiều cuộc tập huấn, triển khai cho người làm công tác Bảo hiểm xã hội tại các cơ quan, doanh nghiệp (đơn vị SDLĐ); Hàng năm, Bảo hiểm xã hội Quận đều xây dựng kế hoạch tuyên truyền triển khai thực hiện Luật Bảo hiểm xã hội, Luật Bảo hiểm y tế trên địa bàn quận. Qua các năm, có nghiên cứu đổi mới nội dung và hình thức cho phù hợp.

Để thực hiện tốt việc tuyên truyền về Luật Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm xã hội Quận đã phối hợp tốt với các phòng, ban, ngành, đoàn thể thuộc UBND Quận Bắc Từ Liêm các chế độ chính sách Bảo hiểm xã hội để giúp Người lao động hiểu rõ trách nhiệm và quyền lợi của mình, kịp thời biểu dương các đơn vị làm tốt cũng như phê phán các hành vi vi phạm chính sách Bảo hiểm xã hội. Bảo hiểm xã hội Quận cũng thường xuyên phối hợp chặt chẽ với Văn phòng UBND Quận, phòng Văn hóa Thông tin Quận, trung tâm Văn hóa Quận trả lời những thắc mắc của Người lao động.

Hàng năm, Bảo hiểm xã hội Quận phát hành, treo đồng loạt băng rôn, khẩu hiệu tờ rơi tóm tắt chế độ Bảo hiểm xã hội để phát trong khu công nghiệp, các trường học, khu phố để vận động tham gia Bảo hiểm xã hội.

2.2.2 Công tác quản lý và mở rộng đối tượng tham gia Bảo hiểm xã hội Luận văn: Thực trạng pháp luật bảo hiểm xã hội tại Bắc Từ Liêm.

  • Về đối tượng tham gia Bảo hiểm xã hội bắt buộc

Ở nước ta hiện nay, hình thức Bảo hiểm xã hội bắt buộc đang có sự phát triển khá nhanh, đối tượng tham gia ngày càng mở rộng. Từ chỗ chỉ bảo vệ cho người lao động trong khu vực nhà nước, hiện nay, Bảo hiểm xã hội bắt buộc đã bao phủ tất cả các đối tượng tham gia quan hệ lao động với thời hạn từ ba tháng trở lên, trong mọi thành phần kinh tế. Theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội và các văn bản hướng dẫn thực hiện Luật Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm xã hội bắt buộc áp dụng đối với Người lao động là cán bộ công chức, viên chức nhà nước, lực lượng vũ trang, Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động có thời hạn từ 3 tháng trở lên không phân biệt quy mô lao động. Người sử dụng lao động của những đối tượng này cũng là chủ thể bắt buộc tham gia đóng góp vào quỹ Bảo hiểm xã hội.

Tuy nhiên, thực tiễn thực hiện cho thấy số người tham gia Bảo hiểm xã hội bắt buộc còn thấp, mới chiếm khoảng 80% số người thuộc diện tham gia Bảo hiểm xã hội bắt buộc trên cả nước (chiếm khoảng 20% lực lượng lao động). Tốc độ phát triển đối tượng tham gia Bảo hiểm xã hội bắt buộc khá chậm chỉ đạt bình quân tăng khoảng trên 5% /năm.

Theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội thì vẫn còn một bộ phận lớn Người lao động là những người ký kết HĐLĐ dưới 3 tháng chưa được tham gia Bảo hiểm xã hội bắt buộc. Việc không quy định áp dụng Bảo hiểm xã hội bắt buộc đối với những lao động có HĐLĐ dưới 3 tháng vừa ảnh hưởng đến quyền lợi của Người lao động, vừa tạo cơ hội cho các doanh nghiệp trốn tránh việc tham gia Bảo hiểm xã hội cho Người lao động bằng cách ký HĐLĐ dưới 3 tháng theo chuỗi; Người lao động là chủ hộ kinh doanh cá thể, người quản lý doanh nghiệp, người quản lý điều hành HTX không hưởng tiền lương, tiền công cũng chưa được tham gia Bảo hiểm xã hội bắt buộc. Ngoài ra, nhóm đối tượng là người quản lý doanh nghiệp, người điều hành HTX có hưởng tiền lương, tiền công mặc dù đang được áp dụng các chế độ Bảo hiểm xã hội bắt buộc nhưng cũng chưa được quy định trong Luật Bảo hiểm xã hội. Luận văn: Thực trạng pháp luật bảo hiểm xã hội tại Bắc Từ Liêm.

Luật Bảo hiểm xã hội hiện hành mới chỉ quy định áp dụng đối với công dân Việt Nam mà chưa có quy định áp dụng đối với công dân nước ngoài vào làm việc tại Việt Nam. Trong xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế thì việc quy định áp dụng chính sách Bảo hiểm xã hội đối với công dân nước ngoài vào làm việc tại Việt Nam là cần thiết nhằm đảm bảo quyền lợi cho Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài mà nước đó có ký Hiệp định song phương với Việt Nam về lĩnh vực Bảo hiểm xã hội.

  • Hình 2.1: Số đơn vị tham gia Bảo hiểm xã hội bắt buộc trên địa bàn Quận Bắc Từ Liêm giai đoạn 2020-2024
  • Hình 2.2: Số người tham gia Bảo hiểm xã hội bắt buộc trên địa bàn Quận Bắc Từ Liêm giai đoạn 2020-2024
  • Hình 2.3: Số thu quỹ Bảo hiểm xã hội bắt buộc trên địa bàn Quận Bắc Từ Liêm giai đoạn 2020-2024

Sự gia tăng về số đơn vị tham gia Bảo hiểm xã hội bắt buộc cụ thể theo năm 2020, Bảo hiểm xã hội huyện Từ Liêm có 1,266 đơn vị với 38,937 lao động tham gia Bảo hiểm xã hội với số tiền đóng vào quỹ Bảo hiểm xã hội bắt buộc là 180 tỷ đồng; năm 2021 có 1,591 đơn vị với 42,747 người đóng vào quỹ Bảo hiểm xã hội là 246 tỷ đồng; năm 2022 có 2,055 đơn vị với 49,677 người đóng góp vào quỹ Bảo hiểm xã hội là 393 tỷ đồng; năm 2023 có 2,419 đơn vị với 55,779 người đóng góp vào quỹ Bảo hiểm xã hội 510 tỷ đồng. Năm 2024 có 1,221 đơn vị với 31,385 người đóng góp vào quỹ Bảo hiểm xã hội là 349 tỷ đồng . Ta có thể thấy ngày càng đông đảo số đơn vị cũng như số lượng người lao động tham gia Bảo hiểm xã hội đã cho ta thấy được việc nhận thức tầm quan trọng của Bảo hiểm xã hội và công tác tuyên truyền phát triển số lượng đơn vị mới ngày càng được nâng cao.

  • Về đối tượng tham gia Bảo hiểm xã hội tự nguyện:

Người tham gia Bảo hiểm xã hội tự nguyện là công dân Việt Nam trong độ tuổi lao động, không thuộc quy định tại Khoản 1 Điều 2 Luật Bảo hiểm xã hội.

BHXH tự nguyện là loại hình được áp dụng đối với đối tượng không thuộc đối tượng tham gia Bảo hiểm xã hội bắt buộc. Mục đích của loại hình này nhằm bảo vệ những người khó tham gia Bảo hiểm xã hội theo loại hình bắt buộc.

Đối tượng tham gia Bảo hiểm xã hội tự nguyện cũng ngày được mở rộng và không ngừng tăng. Năm 2020, trên địa bàn huyện Từ Liêm có 194 người tham gia Bảo hiểm xã hội tự nguyện; năm 2021 là 400 người; năm 2022 là 636 người, năm 2023 là 607 người, năm 2024 là 516 người. Như vậy công tác tuyên truyền cũng như ý thức của người dân đối với các chế độ chính sách của người dân đã được nâng cao. Luận văn: Thực trạng pháp luật bảo hiểm xã hội tại Bắc Từ Liêm.

  • Về đối tượng tham gia bảo hiểm thất nghiệp

Bảo hiểm thất nghiệp (BHTN) bắt đầu được triển khai thực hiện theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội (BHXH) từ ngày 01/01/2019 nhằm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi họ thất nghiệp, bên cạnh đó Bảo hiểm thất nghiệp còn hỗ trợ họ trong việc học nghề, tìm việc làm và chi trả bảo hiểm y tế (BHYT). Chính sách Bảo hiểm thất nghiệp là sự giúp đỡ hữu hiệu đối với người lao động trong thời điểm gặp khó khăn để họ có thể tiếp tục tham gia thị trường lao động. Tuy nhiên, do Bảo hiểm thất nghiệp là chính sách mới, lần đầu tiên thực hiện ở Việt Nam nên trong quá trình thực hiện còn nhiều tồn tại và gặp nhiều khó khăn. Cụ thể:

Các thủ tục hưởng trợ cấp thất nghiệp còn rườm rà, khó khăn cho việc xác định đối tượng cụ thể có tham gia bảo hiểm thất nghiệp hay không, khiến nhiều cán bộ các trung tâm giới thiệu việc làm lúng túng; các văn bản hướng dẫn không thống nhất, chưa phù hợp với thực tế, không trùng khớp về tiến độ triển khai. Nhiều người lao động phản ánh, họ có đi đăng ký thất nghiệp nhưng lại không được hưởng các chế độ bảo hiểm thất nghiệp vì doanh nghiệp nợ bảo hiểm xã hội nên không chốt được sổ bảo hiểm xã hội. Ngay cả cán bộ ở trung tâm giới thiệu việc làm cũng không hướng dẫn đăng ký thất nghiệp một cách cụ thể, thủ tục còn rườm rà, phải đi lại nhiều lần mới hoàn thành được hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp theo đúng quy định.

Về các quy định của bảo hiểm thất nghiệp: Quy định về điều kiện để người lao động tham gia bảo hiểm, nơi hưởng bảo hiểm thất nghiệp còn nhiều bất cập, trình tự thủ tục (từ khâu đăng ký đến giải quyết hồ sơ và nhận trợ cấp thất nghiệp) quá phức tạp; thời gian đăng ký thất nghiệp và thời gian làm thủ tục để hưởng trợ cấp thất nghiệp còn ngắn, người lao động không đủ thời gian để hoàn thiện hồ sơ.Trên thực tế, còn nhiều doanh nghiệp trốn đóng hoặc nợ đóng Bảo hiểm xã hội nói chung và Bảo hiểm thất nghiệp nói riêng, dẫn đến quá trình hoàn thiện hồ sơ để giải quyết chính sách Bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động còn gặp nhiều khó khăn. Luận văn: Thực trạng pháp luật bảo hiểm xã hội tại Bắc Từ Liêm.

Bên cạnh đó, theo quy định, Người lao động chỉ được hưởng trợ cấp nếu thời gian mất việc từ 15 ngày trở lên; tức là, sau khi có quyết định thôi việc, trong thời gian 15 ngày, Người lao động chưa tìm được việc làm mới thì sẽ được hưởng trợ cấp thất nghiệp. Tuy nhiên, một số Người lao động sau khi đã đăng ký mất việc, nhưng trong 15 ngày tiếp theo đã tìm được việc làm mới, vẫn được hưởng trợ cấp thất nghiệp, điều này cũng ảnh hưởng nhất định tới những đối tượng chưa tìm được việc làm trong thời gian pháp luật quy định.

Trong thời gian vừa qua, chính sách bảo hiểm thất nghiệp đã chứng tỏ tính đúng đắn và ưu việt của nó, nhưng khi thực hiện vẫn còn nhiều bất cập, hạn chế, đặc biệt là từ góc độ Người lao động, những người trực tiếp đóng góp và kỳ vọng vào chỗ dựa này khi họ gặp hoàn cảnh khó khăn Việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về lao động, Bảo hiểm xã hội nói chung và pháp luật về Bảo hiểm thất nghiệp nói riêng trong mối quan hệ với vấn đề bảo đảm an sinh xã hội là rất cần thiết. Để giải quyết được nạn thất nghiệp, cần thiết phải có những giải pháp mang tính tổng thể. Nhà nước cần xây dựng các chương trình hỗ trợ học nghề, tạo việc làm cho người lao động trên cơ sở phù hợp với nhu cầu cũng như đòi hỏi của thực tiễn; đẩy mạnh thu hút đầu tư trong nước và nước ngoài và đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài… Bên cạnh đó, Nhà nước cũng cần hoàn thiện hơn nữa hệ thống an sinh xã hội trong đó có Bảo hiểm xã hội và Bảo hiểm thất nghiệp, giúp người lao động vượt qua khó khăn khi có sự biến động về việc làm và thu nhập.

2.2.3. Về công tác thu và quản lý quỹ Bảo hiểm xã hội Luận văn: Thực trạng pháp luật bảo hiểm xã hội tại Bắc Từ Liêm.

Theo Điều 92 Luật Bảo hiểm xã hội, quỹ Bảo hiểm xã hội được hình thành từ nguồn đóng góp của Người lao động, Người sử dụng lao động, tiền sinh lời từ hoạt động đầu tư của quỹ, sự hỗ trợ của Nhà nước và các nguồn khác. Nếu cả một thời kỳ dài trước đây, nguồn quỹ để thực hiện các chế độ Bảo hiểm xã hội chủ yếu do ngân sách nhà nước bảo đảm thì đến nay nguồn quỹ này chủ yếu là do các bên tham gia Bảo hiểm xã hội đóng góp.Hơn nữa hoạt động Bảo hiểm xã hội là thành phần cơ bản của hệ thống bảo vệ quốc gia mà trực tiếp là hệ thống bảo đảm xã hội. Sự cần thiết phải thống nhất các hoạt động Bảo hiểm xã hội về một mối thống nhất và xây dựng cân đối quỹ lâu dài. Trong khoảng hơn 20 năm nữa, quỹ Bảo hiểm xã hội ở nước ta cũng như quỹ Bảo hiểm xã hội tại quận sẽ có khả năng thâm hụt. Do vậy, ngay từ bây giờ Chính phủ cần có những phương hướng sử dụng quỹ ra sao để cho phù hợp và có hiệu quả nhất.

Về thu và quản lý Quỹ Bảo hiểm xã hội hiện nay được thực hiện theo Quyết định số 04/2021/QĐ-TTg ngày 20/01/2021 của Thủ tướng Chí phủ về quản lý tài chính đối với Bảo hiểm xã hội Việt Nam và Thông tư số 134/2021/TT-BTC ngày 30/9/2021 của Bộ Tài chính quy định chi tiết và hướng dẫn thực hiện Quyết định số 04/2021/QĐ-TTg; Bảo hiểm xã hội Quận Bắc Từ Liêm đã mở tài khoản “tiền gửi chuyên thu” tại Kho bạc Nhà nước Quận và tài khoản “tiền gửi thu Bảo hiểm xã hội” tại các ngân hàng nông nghiệp & phát triển nông thôn Việt Nam tạo điều kiện thuận lợi cho trích nộp Bảo hiểm xã hội của các đơn vị SDLĐ.

2.2.4. Công tác giải quyết các chế độ Bảo hiểm xã hội

Trong hệ thống Bảo hiểm xã hội ở Việt Nam hiện nay có tất cả 6 loại chế độ trợ cấp đó là : Trợ cấp ốm đau, chế độ trợ cấp thai sản, chế độ nghỉ dưỡng sức, chế độ trợ cấp tai nạn – bệnh nghề nghiệp, chế độ hưu trí, chế độ tử tuất. Đây là 6 chế độ Bảo hiểm xã hội dành cho loại hình bắt buộc.

  • Chế độ ốm đau

Bảo hiểm ốm đau là một trong năm chế độ Bảo hiểm xã hội bắt buộc, nhằm bảo đảm thu nhập cho Người lao động (tham gia Bảo hiểm xã hội) tạm thời bị gián đoạn do phải nghỉ việc vì ốm đau, tai nạn, chăm sóc con ốm theo quy định của pháp luật. Qua hơn 7 năm triển khai áp dụng, bên cạnh những kết quả tích cực đã đạt được, thì chế độ ốm đau hiện nay đang bộc lộ một số hạn chế:

Khoản 2, Điều 22 Luật Bảo hiểm xã hội quy định điều kiện hưởng chế độ ốm đau đối với trường hợp có con dưới 7 tuổi bị ốm đau, “phải nghỉ việc” để chăm sóc con thì mới được hưởng chế độ ốm đau. Tuy nhiên, trong thực tế nhiều trường hợp vì công việc, không thể nghỉ việc để chăm sóc con mà phải nhờ hoặc thuê người khác chăm sóc, những trường hợp này không được hưởng chế độ ốm đau. Luận văn: Thực trạng pháp luật bảo hiểm xã hội tại Bắc Từ Liêm.

Quy định không giới hạn thời gian hưởng chế độ ốm đau đối với trường hợp mắc bệnh cần chữa trị dài ngày như hiện hành vừa không đảm bảo tương quan công bằng giữa các chế độ, vừa không đảm bảo nguyên tắc đóng-hưởng, đồng thời dễ dẫn đến tình trạng lạm dụng để hưởng chế độ khi người lao động phát hiện mắc bệnh cần chữa trị dài ngày mới tìm cách tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc khoảng 1 đến 2 tháng sau đó nghỉ việc hưởng chế độ ốm đau với thời gian hưởng không giới hạn.

Thời gian hưởng bảo hiểm ốm đau của người lao động mắc các bệnh thông thường theo quy định hiện hành tối đa 30 ngày nếu đóng bảo hiểm xã hội dưới 15 năm, tối đa 40 ngày nếu đóng bảo hiểm xã hội từ 15 năm đến dưới 30 năm và tối ta 60 ngày nếu đóng bảo hiểm xã hội từ 30 năm trở lên. Quy định khoảng cách thời gian đóng bảo hiểm xã hội giữa hai mức hưởng quá lớn nên tạo nên sự không công bằng, không thể hiện nguyên tắc đóng hưởng và không khuyến khích được đối với những người có thời gian đóng bảo hiểm xã hội nhiều hơn.

Theo quy định hiện hành thì công thức tính hưởng chế độ ốm đau được tính dựa trên cơ sở tiền lương, tiền công tháng đóng bảo hiểm xã hội chia cho 26 ngày. Quy định này được áp dụng đối với tất cả người những người lao động tham gia bảo hiểm xã hội, cả những người làm việc 6 ngày trong tuần (26 ngày/tháng) và người làm việc theo chế độ 5 ngày trong tuần (22 ngày/tháng) là không hợp lý và không công bằng giữa những người làm việc theo chế độ 5 ngày trong tuần và người làm việc theo chế độ 6 ngày trong tuần. Việc quy định mức hưởng chế độ ốm đau cho thời gian vượt quá 180 ngày trong năm đối với trường hợp ốm đau dài ngày nếu thấp hơn mức lương tối thiểu chung thì được tính bằng mức lương tối thiểu chung (khoản 4 Điều 25 Luật Bảo hiểm xã hội). Như vậy, còn chưa hợp lý và chưa thống nhất với các trường hợp khác. Vì theo quy định trong 180 ngày chỉ hưởng bằng 75% mức tiền lương, tiền công đóng Bảo hiểm xã hội của tháng liền kề trước khi nghỉ việc. Trong trường hợp này nếu thấp hơn mức lương tối thiểu chung thì không được điều chỉnh lên bằng mức lương tối thiểu chung, do đó có trường hợp mức trợ cấp sau 180 ngày sẽ cao hơn mức trợ cấp trong 180 ngày đầu trong năm. Mặt khác, đối với người mới tham gia Bảo hiểm xã hội và đóng trên mức tiền lương tối thiểu thì nếu nghỉ hưởng chế độ ốm đau dài ngày trong trường hợp này người lao động hưởng mức trợ cấp ốm đau bằng 100% mức tiền lương đóng Bảo hiểm xã hội.

Do vậy, cần có những quy định cụ thể, chi tiết thì mục đích của chế độ này mới đạt được và không ảnh hưởng đến hoạt động của quỹ Bảo hiểm xã hội. Luận văn: Thực trạng pháp luật bảo hiểm xã hội tại Bắc Từ Liêm.

  • Chế độ trợ cấp thai sản:

Là một chế độ đặc thù chủ yếu gắn liền với lao động nữ, gồm các quy định về việc đảm bảo thu nhập và đảm bảo sức khỏe cho lao động nữ nói riêng khi mang thai, sinh con và cho Người lao động nói chung khi nuôi con sơ sinh. Chế độ thai sản bộc lộ một số hạn chế sau:

Việc quy định điều kiện đóng Bảo hiểm xã hội tối thiểu, quy định lao động nữ sinh con được hưởng chế độ thai sản khi Người lao động đã đóng Bảo hiểm xã hội từ đủ 6 tháng trở lên trong thời gian 12 tháng trước khi sinh con, quy định này là tích cực nhằm khắc phục sự lạm dụng chế độ này. Tuy nhiên, quy định này lại không hợp lý với các trường hợp Người lao động đã có quá trình đóng Bảo hiểm xã hội dài, song vì lý do khó mang thai, thai bệnh lý, thai không bình thường nên phải nghỉ việc ngay khi mang thai. Do vậy Người lao động không đủ điều kiện đóng Bảo hiểm xã hội đủ 6 tháng trong vòng 12 tháng trước khi sinh để được hưởng chế độ thai sản. Trong trường hợp này là không công bằng và không đảm bảo quyền lợi của Người lao động vì họ đã có quá trình đóng Bảo hiểm xã hội dài nhưng lại không được hưởng chế độ thai sản.

Theo quy định hiện hành, khi lao động nữ sinh con thì chỉ lao động nữ được nghỉ việc để chăm sóc con. Tuy nhiên, chưa có quy định về lao động nam được nghỉ việc chăm sóc vợ và con.Đó là sự chia sẻ và cũng thể hiện rõ vấn đề giới trong lĩnh vực này. Đây là nhu cầu không chỉ riêng của lao động nữ sinh con mà của cả lao động nam có nguyện vọng được chia se trách nhiệm được có thời gian nghỉ việc chăm sóc con, đảm bảo tốt hơn sức khỏe của người mẹ và trẻ sơ sinh trong điều kiện quỹ còn có thể cân đối.

Theo Bộ luật Lao động được Quốc hội thông qua ngày 18/6/2022, quy định nữ được nghỉ trước và sau khi sinh con là 6 tháng. [28]. Vì vậy, Luật Bảo hiểm xã hội cần phải được điều chỉnh cho phù hợp với quy định của Bộ luật Lao động.

Cũng theo quy định của Bộ luật Lao động thì lao động nữ nhận nuôi con nuôi dưới 6 tháng tuổi nghỉ việc được hưởng chế độ thai sản cho đến khi con đủ 6 tháng tuổi. Quy định này tạo nên sự không thống nhất đối với trường hợp lao động nam nhận nuôi con nuôi chỉ được nghỉ việc hưởng chế độ khi nhận nuôi con nuôi dưới 4 tháng tuổi và chỉ được hưởng cho đến khi con đủ 4 tháng tuổi. Luận văn: Thực trạng pháp luật bảo hiểm xã hội tại Bắc Từ Liêm.

Theo quy định hiện hành, mức trợ cấp ốm đau được tính bằng mức trợ cấp tháng chia cho 26 ngày. Quy định này không phù hợp, thiệt cho Người lao động có thời gian làm việc trong tháng là 24 ngày hoặc 22 ngày.

Theo quy định tại Điều 36 Luật Bảo hiểm xã hội “Lao động nữ có thể đi làm trước khi hết thời hạn nghỉ sinh con…” nhưng để thực hiện quyền này, lao động nữ phải thỏa mãn các yêu cầu được quy định tại khoản 1 Điều 36 trong đó tại điểm c có quy định “ Phải báo trước và được Người sử dụng lao động đồng ý”. Như vậy, thời hạn báo trước là bao lâu hay vấn đề này do hai bên thỏa thuận hoặc do Người sử dụng lao động quy định. Thiết nghĩ, pháp luật cần phải quy định cụ thể nhằm đảm bảo quyền lợi cho lao động nữ cũng như phù hợp với sự sắp xếp, bố trí công việc của Người sử dụng lao động [24].

  • Chế độ tai nạn lao động – bệnh nghề nghiệp

Luật Bảo hiểm xã hội và các văn bản hướng dẫn quy định Người lao động được hưởng chế độ TNLĐ – BNN đã tương đối hợp lý, bao trùm được đầy đủ các trường hợp tai nạn liên quan tới công việc. Tuy nhiên, quy định như vậy vẫn còn chung chung, chưa có quy định cụ thể về một số trường hợp tai nạn nên chưa có căn cứ để giải quyết hoặc giải quyết không thống nhất về TNLĐ – BNN như trường hợp Người lao động tham gia phong trào thể thao, văn hóa, văn nghệ, thăm người ốm, đi đám ma…do đơn vị tổ chức, tham gia giao lưu với đơn vị khác hoặc được đơn vị cử đi mà bị tai nạn; trường hợp Người lao động bị tai nạn tại nơi làm việc, trong giờ làm việc nhưng không thực hiện công việc được phân công hàng ngày; trường hợp nguyên nhân do bệnh lý (tim, mạch, thần kinh…) hoặc do sử dụng chất kích thích, say rượu, bia, xích mích cá nhân…dẫn đến bị tai nạn trong giờ, tại nơi làm việc hoặc trên đường đi công tác, đi làm…

Một số trường hợp bị tai nạn được coi là TNLĐ, thủ tục, hồ sơ làm cơ sở xét hưởng chế độ Bảo hiểm xã hội chưa có quy định cụ thể, nhất là trường hợp bị tai nạn trên tuyến đường đi làm ở nơi vùng sâu, vùng xa không gần nơi dân cư, trụ sở công an; trường hợp tai nạn cần cấp cứu ngay hoặc tại lúc bị tai nạn thì bình thường sau đó mới phát hiện bị thương…Những trường hợp này tại lúc xảy ra tai nạn không lập biên bản hiện trường, nên Người lao động không đủ điều kiện hưởng chế độ theo quy định.

Luật và các văn bản hướng dẫn cũng chưa có hướng dẫn cụ thể về thời hạn Người sử dụng lao động phải hoàn tất thủ tục nộp cho cơ quan Bảo hiểm xã hội để giải quyết cho Người lao động được hưởng chế độ TNLĐ – BNN. Vì vậy, còn một số trường hợp bị tai nạn từ lâu (thậm chí từ trước khi Luật Bảo hiểm xã hội ra đời) nhưng đến nay đơn vị sử dụng lao động mới lập hồ sơ đề nghị giải quyết. Luận văn: Thực trạng pháp luật bảo hiểm xã hội tại Bắc Từ Liêm.

Về điều kiện Người lao động được hưởng chế độ BNN. Theo quy định, Người lao động muốn hưởng chế độ BNN thì cần phải có hai điều kiện là: Bị bệnh nằm trong các bệnh đã được quy định; Phải làm việc trong môi trường hoặc ngành nghề có yếu tố độc hại. Thực tiễn cho thấy: có trường hợp Người lao động đã làm việc ở môi trường, nghề độc hại nhưng sau đó chuyển sang nơi làm việc có yếu tố bình thường thì mới phát sinh BNN thì có được hưởng chế độ BNN không? Có tính đến vấn đề bảo lưu điều kiện lao động có hại cũng như nguyên tắc bảo lưu như thế nào? Trong trường hợp Người lao động bị mắc BNN sau khi đã rời khỏi nơi làm việc độc hại [28]. Một bất cập nữa mà trong thực tiến giải quyết chế độ BNN tôi nhận thấy, đó là quy định về hồ sơ hưởng BNN phải có “ biên bản đo đạc môi trường có yếu tố độc hại” [28]. Thông tư số 12/2016/TT-BYT ngày 10/11/2016 của Bộ Y tế quy định rõ thêm là kết quả xác định môi trường lao động có giá trị trong 24 tháng kể từ ngày biên bản được ký. Tuy nhiên, BNN chỉ phát sinh khi Người lao động làm việc trong môi trường độc hại trong thời gian dài, tiếp xúc nhiều và thường xuyên với các chất độc hại như khí, độ ồn, nồng độ bụi, các hơi…Nếu lấy kết quả đo đạc môi trường trong 24 tháng cuối cùng đủ tiêu chuẩn cho phép để không giải quyết BNN cho Người lao động là không hợp lý. Thay vào đó, theo tôi, nên cho phép lấy kết quả đo đạc môi trường trong khoảng thời gian Người lao động bắt đầu làm việc cho đến khi mắc BNN, nếu có biên bản đo đạc môi trường từ 02 năm liên tiếp không đạt được thì giải quyết BNN.

Theo quy định Luật Bảo hiểm xã hội hiện hành thì Người lao động bị TNLĐ, BNN mà bị tổn thương các chức năng hoạt động của cơ thể thì được cấp phương tiện trợ giúp sinh hoạt, dụng cụ chỉnh hình theo niên hạn căn cứ vào tình trạng thương tật, bệnh tật. Thực tiễn thời gian qua cho thấy, việc cấp tiền để mua các phương tiện trợ giúp sinh hoạt, dụng cụ chỉnh hình là phù hợp.

Năm 2020, số người được giải quyết hưởng chế độ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp trên địa bàn huyện Từ liêm là 18 người, trong đó số người bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp hàng tháng (có tỷ lệ suy giảm khả năng lao động từ 31% trở lên) chiếm tỷ lệ rất ít; năm 2021 là 26 người; năm 2022 là 22 người; năm 2023 là 20 người; năm 2024, sau khi tách quận, trên địa bàn quận Bắc Từ liêm đã giải quyết cho 15 người tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp. Dù số lao động tham gia Bảo hiểm xã hội tăng hàng năm nhưng tỷ lệ người bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp không tăng thêm có thể do nhiều nguyên nhân: việc huấn luyện an toàn lao động cho Người lao động thực hiện tốt; ý thức kỷ luật của Người lao động tăng, ngoài ra còn có các nguyên nhân khác như: khi tai nạn lao động xảy ra, nhiều Người sử dụng lao động không lập hồ sơ, thủ tục để giải quyết chế độ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp do sợ bị xử phạt hoặc do việc lập thủ tục tai nạn lao động phức tạp… mà lách luật để giải quyết chế độ ốm đau. Luận văn: Thực trạng pháp luật bảo hiểm xã hội tại Bắc Từ Liêm.

  • Chế độ hưu trí

Trợ cấp hưu trí nhằm mục đích đỡ người lao động có cuộc sống ổn định khi họ không còn khả năng lao động vì tuổi già. Chế độ trợ cấp hưu trí là chế độ bảo hiểm nòng cốt, cơ bản của Bảo hiểm xã hội. Trợ cấp hưu trí còn được coi là khoản tiền lương hưu, đây chính là kết quả của quá trình tích lũy, là phần tiết kiệm của người lao động khi còn trẻ, khỏe mạnh để đảm bảo cho cuộc sống hi về già, không còn lao động được nữa.

Nhìn chung, các quy định về chế độ hưu trí trong Luật Bảo hiểm xã hội hiện hành đã tương đối hợp lý về điều kiện nghỉ hưu , điều chỉnh tiền lương, tiền công đã đóng Bảo hiểm xã hội, điều chỉnh lương hưu…đã tạo được sự đồng tình của đa số Người lao động và từng bước cải thiện cuộc sống của người về hưu. Tuy nhiên, trước sự tăng trưởng của nền kinh tế và nhu cầu sử dụng nguồn lao động có chất lượng cao, và xu hướng già hóa dân số, chế độ hưu trí tại Luật Bảo hiểm xã hội đã bộc lộ một số bất cập sau:

Việc quy định tuổi nghỉ hưu của lao động nữ thấp hơn tuổi nghỉ hưu của lao động nam chỉ hợp lý đối với một số ngành nghề, lĩnh vực nhất định. Việc quy định tuổi nghỉ hưu của lao động nữ nói chung sớm hơn nam 5 tuổi vừa tạo nên sự bất bình đẳng giữa nam và nữ, hạn chế sự thăng tiến, đồng thời vừa gây lãng phí nguồn lao động (đặc biệt là những lao động có sự tích luỹ nhiều kinh nghiệm cần thiết trong công tác nghiên cứu), vừa dẫn đến quỹ Bảo hiểm xã hội phải chi trả cho những người có khả năng và nhu cầu làm việc, có thể sau khi nghỉ hưu vẫn làm việc có thu nhập.

Về tuổi nghỉ hưu nói chung quy định như hiện nay về cơ bản là hợp lý trong thời điểm hiện tại, tuy nhiên với thực trạng tuổi thọ dân số đang tăng lên sẽ là một trong những nguyên nhân làm cho quỹ không có khả năng chi trả.

Việc quy định Người lao động chưa hết tuổi lao động và còn khả năng lao động có dưới 20 năm đóng Bảo hiểm xã hội được nhận trợ cấp Bảo hiểm xã hội một lần là chưa đảm bảo khuyến khích Người lao động tham gia Bảo hiểm xã hội tự nguyện và chưa phù hợp với mục tiêu của Bảo hiểm xã hội là nhằm đảm bảo cuộc sống cho người lao động khi hết tuổi lao động, đảm bảo an sinh xã hội. Mức hưởng bảo hiểm một lần còn thấp so với mức đóng. Theo lộ trình tăng tỷ lệ đóng Bảo hiểm xã hội vào quỹ hưu trí và tử tuất theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội thì từ năm 2024 trở đi, mức đóng Bảo hiểm xã hội của Người lao động và Người sử dụng lao động là 22% mức tiền lương làm căn cứ đóng Bảo hiểm xã hội. Trong khi đó, mức hưởng Bảo hiểm xã hội một lần vẫn quy định mỗi năm đóng Bảo hiểm xã hội hưởng 1,5 mức bình quân tiền lương, tiền công tháng đóng Bảo hiểm xã hội. Quy định này là thiệt thòi cho Người lao động và chưa đảm bảo được nguyên tắc đóng – hưởng.

Cách tính mức bình quân tiền lương, tiền công tháng đóng Bảo hiểm xã hội để làm cơ sở tính lương hưu, trợ cấp Bảo hiểm xã hội một lần theo pháp luật hiện hành còn có sự phân biệt giữa Người lao động hưởng tiền lương và đóng Bảo hiểm xã hội theo chế độ tiền lương do Nhà nước quy định và người đóng Bảo hiểm xã hội theo chế độ tiền lương do Người sử dụng lao động quyết định. Điều đó không phù hợp với nguyên tắc bình đẳng giữa các thành phần kinh tế trong nền kinh tế thị trường.

Cách tính tỷ lệ hưởng lương hưu có sự khác biệt giữa nam và nữ, trong khi đó tỷ lệ đóng Bảo hiểm xã hội là như nhau. Điều này cũng tạo nên sự không công bằng trong quyền thụ hưởng giữa các đối tượng tham gia.

Mức lương hưu hiện nay còn thấp so với nhu cầu cuộc sống của người về hưu: Tiền lương làm căn cứ đóng Bảo hiểm xã hội hiện nay thấp hơn nhiều so với thu nhập thực tế của người lao động. Điều đó dẫn đến tình trạng mặc dù tỷ lệ% hưởng lương hưu khá cao (tối đa 75%) nhưng mức lương hưu của người nghỉ hưu còn thấp so với nhu cầu của cuộc sống, điều này cũng gây một áp lực lớn đối với quỹ Bảo hiểm xã hội trong việc điều chỉnh lương hưu.

Xu hướng giải quyết Bảo hiểm xã hội một lần (đối với người chưa hết tuổi lao động) ngày càng tăng: số Người lao động nghỉ việc giải quyết Bảo hiểm xã hội một lần hàng năm có chiều hướng gia tăng và chiếm khoảng từ 5-6% tổng số đối tượng tham gia Bảo hiểm xã hội, điều này đặt ra câu hỏi cho các cơ quan quản lý nhà nước và cơ quan Bảo hiểm xã hội khi nghiên cứu, xây dựng chính sách với mục tiêu từng bước mở rộng đối tượng tham gia đảm bảo cuộc sống người lao động khi hết tuổi lao động, đảm bảo an sinh xã hội. Luận văn: Thực trạng pháp luật bảo hiểm xã hội tại Bắc Từ Liêm.

Hệ thống hưu trí hiện hành của Việt Nam còn thiếu đa dạng, chính vì vậy áp lực về vấn đề cân đối quỹ hưu trí trong dài hạn và vấn đề mức lương hưu đảm bảo cuộc sống của người nghỉ hưu đang là vấn đề đáng quan tâm.

Năm 2020, Bảo hiểm xã hội Huyện Từ Liêm đã tiếp nhận 1244 người hưởng chế độ hưu trí bao gồm hưu viên chức và hưu quân đội, Năm 2021 là 1498 người, năm 2022 là 1361 người, năm 2023 là 1434 người, đến năm 2024, Bảo hiểm xã hội Quận Bắc Từ Liêm đã tiếp nhận 1022 người nâng số người hưởng chế độ lương hưu tại quận là 12611 người. Trong đó, người nghỉ hưu trước tuổi chiếm 58%, bình quân tuổi nghỉ hưu là 57 tuổi đối với nam, 53 tuổi đối với nữ.

Việc giải quyết chế độ hưu trí cho Người lao động luôn nhanh chóng, bảo đảm chặt chẽ thủ tục và đúng quy định. Từ năm 2020 đến năm 2024 Chính phủ đã 5 lần điều chỉnh lương hưu và nhiều văn bản điều chỉnh phụ cấp các loại làm tăng thêm khối lượng công việc rất lớn, nhưng Bảo hiểm xã hội quận luôn thực hiện nhanh, kịp thời, đảm bảo quyền lợi cho người hưởng lương hưu.

  • Hình 2.4: Đối tượng hưởng lương hưu và trợ cấp Bảo hiểm xã hội hàng tháng trên đại bàn Quận Bắc Từ Liêm giai đoạn 2020 – 2024

Đối tượng hưởng các chế độ Bảo hiểm xã hội biến động theo xu hướng các đối tượng hưởng chế độ Bảo hiểm xã hội do NSNN đảm bảo giảm dần tiến tới bằng không và đối tượng hưởng chế độ Bảo hiểm xã hội do quỹ Bảo hiểm xã hội đảm bảo tăng dần. Trong giai đoạn từ năm 2020 đến năm 2024, trung bình hàng năm số đối tượng hưởng lương hưu và trợ cấp Bảo hiểm xã hội quỹ Bảo hiểm xã hội đảm bảo năm sau so với năm trước tăng 11,34%, đối tượng hưởng chế độ Bảo hiểm xã hội từ NSNN giảm bình quân hàng năm là 1,58%. Luận văn: Thực trạng pháp luật bảo hiểm xã hội tại Bắc Từ Liêm.

  • Chế độ tử tuất

Đối tượng: Người lao động làm việc, người lao động nghỉ việc chờ giải quyết chế độ hưu trí, người lao động đang hưởng lương hưu hoặc trợ cấp lao động, bệnh nghề nghiệp.

Trường hợp được hưởng: Thân nhân của người chết bao gồm con đẻ, con nuôi hợp pháp dưới 15 tuổi ( hoặc đi học thì chưa đủ 18 tuổi), bố, mẹ, vợ, chồng đã hết tuổi lao động, số người được hưởng không quá 4 người. Trường hợp không có thân nhân hưởng hàng tháng thì được hưởng một lần.

Điều kiện được hưởng: Đã đóng phí Bảo hiểm xã hội đủ 15 năm trở lên, người bị tai nạn lao động- bệnh nghề nghiệp chết, người được hưởng trợ cấp hàng tháng chết thì thân nhân được hưởng trợ cấp hàng tháng. Nếu có thời gian tham gia Bảo hiểm xã hội dưới 15 năm ( trừ tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp) thì chỉ nhận trợ cấp một lần.

Theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội hiện hành, chế độ tử tuất có nhiều quy định theo hướng có lợi hơn cho thân nhân của Người lao động như: nâng mức trợ cấp mai tang từ 8 tháng lên 10 tháng lương tối thiều chung; nâng mức trợ cấp tuất hàng tháng từ 40% lên 50% mức lương tối thiểu chung; nâng mức trợ cấp tuất một lần cho thân nhân người đang đang đóng hoặc đang bảo lưu thời gian đóng Bảo hiểm xã hội chết lên mỗi năm đóng bằng 1,5 tháng mức bình quân tiền lương, tiền công tháng đóng Bảo hiểm xã hội, không khống chế mức tối đa. Trợ cấp tuất một lần đối với thân nhân của người đang hưởng lương hưu chết, cao nhất là 48 tháng lương hưu đang hưởng, Với quy định của Luật Bảo hiểm xã hội hiện hành đã đảm bảo tốt hơn quyền lợi của thân nhân Người lao động, đảm bảo tốt hơn nguyên tắc đóng – hưởng trong việc thực hiện chế độ tử tuất.

Bên cạnh những kết quả đạt được, trong quá trình thực hiện chế độ tử tuất theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội cũng bộc lộ những hạn chế, bất cập như:

Còn có sự chênh lệch lớn giữa trợ cấp tuất một lần và trợ cấp tuất hàng tháng:Trong một số trường hợp nhiều Người lao động chết còn ít thân nhân đủ điều kiện hưởng tuất hàng tháng hoặc thời gian hưởng trợ cấp hàng tháng là rất ngắn làm cho chênh lệch giữa tổng mức hưởng trợ cấp tuất hàng tháng và trợ cấp tuất một lần rất lớn. Mặt khác, chưa có quy định cụ thể xác định “thu nhập” của thân nhân. Điều này dễ tạo nên sự tùy tiện trong việc giải quyết, xảy ra các trường hợp thân nhân người chết tìm cách lách luật, kê khai hoàn cảnh gia đình để được hưởng trợ cấp tuất một lần hoặc hàng tháng theo hướng có lợi hơn, gây thất thoát cho quỹ Bảo hiểm xã hội. Luận văn: Thực trạng pháp luật bảo hiểm xã hội tại Bắc Từ Liêm.

Năm 2020, Bảo hiểm xã hội huyện Từ Liêm thực hiện chi trả cho 838 người là thân nhân của người đang đóng, đang bảo lưu Bảo hiểm xã hội hoặc đang hưởng lương hưu hàng tháng chết hưởng trợ cấp tiền tuất hàng tháng với số tiền là 4,728 tỷ đồng. Năm 2021, là 935 người với số tiền 5,571 tỷ đồng. Năm 2022, là 1.028 người với số tiền 6,291 tỷ đồng. Năm 2023, là 1.133 người với số tiền 7,078 tỷ đồng. Năm 2024, Bảo hiểm xã hội quận Bắc Từ Liêm thực hiện chi trả cho 725 trường hợp với số tiền 4,581 tỷ đồng. Trong đó số đối tượng hưởng trợ cấp thuộc nguồn NSNN chi trả so với nguồn quỹ Bảo hiểm xã hội chiếm tỷ lệ lớn hơn về đối tượng và số tiền chi trả.

Đối với trợ cấp Bảo hiểm xã hội 1 lần: Trợ cấp Bảo hiểm xã hội 1 lần chỉ được hưởng khi Người lao động nghỉ việc, hoặc đủ tuổi nghỉ hưu hoặc bị suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên mà chưa đủ 20 năm đóng Bảo hiểm xã hội hoặc đi định cư hợp pháp ở nước ngoài theo quy định tại Điều 55 Luật Bảo hiểm xã hội. Năm 2021, Bảo hiểm xã hội Thành phố thực hiện phân cấp thẩm quyền giải quyết chế độ trợ cấp Bảo hiểm xã hội 1 lần cho một số quận huyện, trong đó có Bảo hiểm xã hội huyện Từ Liêm.

  • Bảng 2.2: Tổng hợp đối tượng hưởng chế độ Bảo hiểm xã hội một lần Trên địa bàn quận Bắc Từ Liêm giai đoạn 2020 – 2024

Cụ thể năm 2021 Bảo hiểm xã hội huyện đã giải quyết cho 256 người với số tiền là 3,8 tỷ đồng, năm 2022 là 476 người với số tiền là 7,6 tỷ đồng; Năm 2023 là 467 người với số tiền 9,2 tỷ đồng. Năm 2024 giải quyết 217 người với số tiền thanh toán là 4,3 tỷ đồng. Trong 4 năm qua số lượng người hưởng trợ cấp Bảo hiểm xã hội 1 lần ngày càng tăng nhanh phát sinh khối lượng công việc tăng thêm nhiều, nhưng Bảo hiểm xã hội quận đã có nhiều nỗ lực trong việc tiếp nhận hồ sơ, giải quyết chính sách và tổ chức chi trả kịp thời cho Người lao động.

  • Tình hình chi trả lương hưu và trợ cấp Bảo hiểm xã hội hàng tháng

Tính đến 31/12/2023, Bảo hiểm xã hội huyện Từ Liêm có 23.198 người nhận lương hưu, trợ cấp hàng tháng; số tiền chi trả là 79,1 tỷ đồng. Năm 2024, Bảo hiểm xã hội quận Bắc Từ Liêm đã thực hiện chi trả cho 15,173 người nhận lương chi trả bằng tiền mặt với số tiền là 52,6 tỷ đồng. Luận văn: Thực trạng pháp luật bảo hiểm xã hội tại Bắc Từ Liêm.

Phương thức chi trả chế độ Bảo hiểm xã hội hàng tháng: Khi bắt đầu hoạt động, Bảo hiểm xã hội Huyện Từ Liêm chỉ mới thực hiện phương thức chi trả gián tiếp, sau một thời gian nghiên cứu đến năm 2010 thì thực hiện thêm phương thức chi trả trực tiếp cho các đối tượng hưởng Bảo hiểm xã hội, đến tháng 4/2016 Bảo hiểm xã hội Huyện Từ Liêm tiến hành chi trả lương hưu qua thẻ ATM cho những đối tượng có yêu cầu và đăng ký. Hiện nay, sau khi điều chỉnh địa giới hành chính tách huyện Từ Liêm thành hai quận, trên địa bàn Quận Bắc Từ Liêm vẫn đang duy trì tồn tại song song hai phương thức chi trả này, tùy vào điều kiện cụ thể (vị trí địa lý, số lượng đối tượng hưởng Bảo hiểm xã hội, đội ngũ cán bộ viên chức và phương tiện bảo đảm an toàn tiền mặt) Bảo hiểm xã hội Quận Bắc Từ Liêm đã áp dụng các phương thức chi trả khác nhau, đi đôi với các phương thức có những biện pháp khắc phục nhược điểm. Tính đến thời điểm năm 2024, Bảo hiểm xã hội Quận đã ký kết hợp đồng thành lập 13 đại lý chi trả, từng đại lý chi trả đều có sự ký kết hợp đồng giữa UBND phường với cơ quan Bảo hiểm xã hội nhằm tạo sự ràng buộc về mặt pháp lý trách nhiệm trong tổ chức chi trả và quản lý đối tượng.

Một trong những phương thức chi trả truyền thống là chi trả thông qua Đại lý chi trả ký hợp đồng trách nhiệm với cơ quan Bảo hiểm xã hội. Bản chất của phương thức này là cấp phường lại thực hiện công việc của cơ quan Bảo hiểm xã hội, trực tiếp chi trả cho đối tượng và hưởng thù lao bằng những khoản lệ phí. Tính đến tháng 12/2024, Bảo hiểm xã hội Quận Bắc Từ Liêm chi trả thông qua 13 Đại lý chi trả 52,6 tỷ đồng, chi trả qua hình thức ATM là 562 người với 2,6 tỷ đồng.

Tuy nhiên công tác chi trả lương hưu, trợ cấp Bảo hiểm xã hội bộc lộ những hạn chế. Trong hình thức chi bằng tiền mặt, sự phối kết hợp giữa Bảo hiểm xã hội Quận với UBND phường, xã trong công tác chi lương hưu, trợ cấp Bảo hiểm xã hội thời gian qua đạt hiệu quả cao, song việc quản lý đối tượng hưởng lương hưu và trợ cấp qua đời có những nơi chưa chặt chẽ, báo giảm chưa kịp thời dẫn đến chi sai, chi không đúng cho người được hưởng nên cơ quan Bảo hiểm xã hội phải thực hiện thủ tục truy thu.

Đối với đối tượng không đi lĩnh được phải có giấy ủy quyền hoặc quyết định công nhận người giám hộ (đối với đối tượng không còn đủ năng lực hành vi)… nhưng một số phường, xã chưa tạo điều kiện xác nhận ủy quyền nên gây bức xúc cho đối tượng.

Việc kiểm tra, kiểm soát chưa chặt chẽ nên còn tình trạng lĩnh hộ, lĩnh thay chưa đúng quy định. Lượng tiền mặt tồn quỹ tại Ban chi trả quá lớn, không an toàn vì chi từ 3 đến 5 ngày. Luận văn: Thực trạng pháp luật bảo hiểm xã hội tại Bắc Từ Liêm.

Đối với chi qua tài khoản thẻ ATM, nhằm hạn chế việc chi trả sai gây thiệt hại cho Ngân sách Nhà nước và quỹ Bảo hiểm xã hội nên định kỳ 6 tháng đối tượng phải đến ký xác nhận lại chữ ký (hoặc có xác nhận của chính quyền địa phương nơi cư trú) định kỳ vào tháng 5 và tháng 11 hàng năm. Bảo hiểm xã hội Quận thường xuyên phối hợp với các đại lý chi trả để thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng nhưng do đối tượng cao tuổi, nhiều khi đi vắng, thậm chí không nhớ lịch vì vậy gây khó khăn không nhỏ đến công tác chi trả.

Đối tượng khi đã có tài khoản thẻ ATM nhưng nếu không cùng hệ thống ngân hàng nơi cơ quan Bảo hiểm xã hội mở tài khoản tiền gửi (hoặc cùng hệ thống ngân hàng nhưng khác chi nhánh) thì khi ngân hàng chuyển tiền vào tài khoản ATM cho từng đối tượng phải mất phí. Ngoài ra, có nhiều trường hợp đối tượng hưởng chế độ Bảo hiểm xã hội cùng đồng thời là đối tượng hưởng chính sách người có công, nhưng hiện nay chỉ có ngành Bảo hiểm xã hội thực hiện chi trả qua thẻ ATM, trong khi ngành LĐTB&XH chi trả bằng tiền mặt nên gây khó khăn, bất tiện cho đối tượng thụ hưởng.

Ta có thể thấy rõ hơn về tình hình chi trả các chế độ Bảo hiểm xã hội qua bảng sau:

  • Bảng 2.3: Tình hình chi trả các chế độ Bảo hiểm xã hội trên địa bàn quận Bắc Từ Liêm giai đoạn 2020 – 2024

2.2.5 Một số ưu điểm, hạn chế trong thực hiện pháp luật về Bảo hiểm xã hội Luận văn: Thực trạng pháp luật bảo hiểm xã hội tại Bắc Từ Liêm.

  • Ưu điểm

Qua 5 năm triển khai thực hiện Luật Bảo hiểm xã hội trên địa bàn quận, được sự quan tâm chỉ đạo, hướng dẫn thường xuyên, kịp thời của Bảo hiểm xã hội Việt Nam; Bảo hiểm xã hội Thành phố Hà Nội, sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý, giám sát của Hội đồng nhân dân, UBND quận, sự phối hợp nhịp nhàng giữa cơ quan Bảo hiểm xã hội các cấp trong Thành phố, việc thực hiện pháp luật về Bảo hiểm xã hội cho Người lao động đã có những chuyển biến tích cực. Những ưu điểm cơ bản của việc thực hiện pháp luật về Bảo hiểm xã hội trên địa bàn quận Bắc Từ Liêm có thể khái quát những điểm chính sau:

Thứ nhất, công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật Bảo hiểm xã hội đã huy động được một số cơ quan, đơn vị cấp quận, huyện tham gia. Nhiều hình thức tuyên truyền bước đầu mang lại hiệu quả tích cực, như: tuyên truyền thông qua các phương tiện thông tin đại chúng của quận, tổ chức phát hành miễn phí các loại ấn phẩm tuyên tuyền, tổ chức tập huấn, hội nghị triển khai cho các cơ quan, đơn vị sử dụng lao động. Phối hợp với các ngành tổ chức tuyên truyền trực tiếp tại các đơn vị sử dụng lao động, tổ chức các hội thi. Nhìn chung qua thời gian triển khai thực hiện Luật Bảo hiểm xã hội, chính sách Bảo hiểm xã hội từng bước đi vào cuộc sống, các doanh nghiệp, chủ SDLĐ đã nắm được những nội dung cơ bản về chính sách Bảo hiểm xã hội, nhận thức về trách nhiệm và tính tuân thủ pháp luật Bảo hiểm xã hội của Người lao động và Người sử dụng lao động đã được nâng cao hơn.

Thứ hai, đối tượng tham gia Bảo hiểm xã hội ngày càng được mở rộng, cùng với đó là số người tham gia và thụ hưởng các chế độ Bảo hiểm xã hội ngày càng tăng trên cả 3 loại hình Bảo hiểm xã hội bắt buộc, Bảo hiểm xã hội tự nguyện và Bảo hiểm thất nghiệp. Số thu quỹ Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm thất nghiệp năm sau cao hơn năm trước. Đối với Bảo hiểm thất nghiệp, là chính sách mới áp dụng từ đầu năm 2019, nhưng số người tham gia và thụ hưởng chính sách này tăng rất nhanh. Hàng năm Bảo hiểm xã hội quận có các giải pháp tích cực phối hợp với các ngành kiểm tra, giám sát nắm các đơn vị chưa tham gia hoặc đã tham gia nhưng chưa hết số lao động hiện có để đưa vào danh sách quản lý và phát triển đối tượng tham gia bảo hiểm và xem đây là nhiệm vụ quan trọng để góp phần đảm bảo chính sách an sinh xã hội của tỉnh. Quỹ Bảo hiểm xã hội sau khi thu được chuyển nộp kịp thời vào tài khoản chuyên thu của Bảo hiểm xã hội cấp trên, không để tồn đọng nhiều, Bảo hiểm xã hội quận cũng có nhiều giải pháp để thu hồi nợ, giảm nợ đọng tiền Bảo hiểm xã hội kéo dài của các đơn vị SDLĐ.

Thứ ba, công tác giải quyết và chi trả các chế độ Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm thất nghiệp cho Người lao động được thực hiện đầy đủ, kịp thời, chính xác đúng quy định của pháp luật, ít xảy ra sai sót; việc tiếp nhận hồ sơ giải quyết và chi trả các chế độ Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm thất nghiệp được Bảo hiểm xã hội tỉnh áp dụng theo mô hình một cửa, thường xuyên rà soát giảm các thủ tục hành chính và ứng dụng tốt các trương trình công nghệ thông tin, rút ngắn thời gian nên được Người sử dụng lao động, Người lao động đồng tình hưởng ứng. Năm 2021, Bảo hiểm xã hội Thành phố phân cấp cho Bảo hiểm xã hội các huyện xét duyệt chi trả trợ cấp một lần và trực tiếp chi trợ cấp Bảo hiểm thất nghiệp đã tạo điều kiện thuận lợi cho Người lao động. Đối với chi trả lương hưu, trợ cấp Bảo hiểm xã hội hàng tháng và trợ cấp thất nghiệp được thực hiện kịp thời vào đầu tháng qua 02 hình thức cơ bản là chi trả qua ngân hàng – Thẻ ATM, chi trả thông qua các đại diện chi trả tại xã, phường, thị trấn với thời gian, địa điểm cố định, việc chi trả trợ cấp thất nghiệp được thực hiện chi trực tiếp tại Bảo hiểm xã hội các huyện. Nhìn chung, việc chi trả lương hưu, trợ cấp Bảo hiểm xã hội, trợ cấp thất nghiệp đã góp phần ổn định đời sống cho người thụ hưởng và đảm bảo an sinh xã hội trong quận. Luận văn: Thực trạng pháp luật bảo hiểm xã hội tại Bắc Từ Liêm.

Thứ tư, việc ứng dụng công nghệ thông tin trong các hoạt động thực hiện chế độ, chính sách Bảo hiểm xã hội của quận không ngừng phát triển. Bảo hiểm xã hội quận đã ứng dụng tốt các chương trình phần mềm công nghệ thông tin trong quản lý đối tượng tham gia và thu nộp Bảo hiểm xã hội, quản lý tài chính, cấp sổ Bảo hiểm xã hội phần mềm thẩm định hồ sơ và chi trả các chế độ Bảo hiểm xã hội, đặc biệt là cơ chế liên thông phần mềm tiếp nhận hồ sơ và trả kết quả một cửa, giao dịch điện tử tạo điều kiện để các đơn vị được giao dịch liên thông, không mất thời gian đi lại,giảm bớt thủ tục hành chính. Các phần mềm này bước dầu đã phát huy hiệu quả, đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính, nâng cao chất lượng công tác thu, chi và quản lý đối tượng tham gia và thụ hưởng chính sách Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm thất nghiệp; giúp cho việc cập nhật cơ sở dữ liệu chính xác, tạo được kho dữ liệu thông suốt từ Thành phố đến huyện phục vụ tốt yêu cầu quản lý của ngành.

Thứ năm, công tác quản lý nhà nước về Bảo hiểm xã hội trong tỉnh được tăng cường. UBND các cấp đã ban hành nhiều văn bản quản lý, chỉ đạo thực hiện chế độ, chính sách Bảo hiểm xã hội; sự phối hợp giữa cơ quan Bảo hiểm xã hội với Sở LĐ-TB&XH và các ngành, các cấp ngày càng chặt chẽ, thường xuyên và đồng bộ hơn. Công tác phối hợp tuyên truyền, thanh tra, kiểm tra, giám sát việc chấp hành pháp luật Bảo hiểm xã hội đối với các cơ quan, đơn vị sử dụng lao động được tổ chức ngày càng tăng về số lượng, chất lượng.

Thứ sáu, nhận thức và chấp hành pháp luật Bảo hiểm xã hội của cấp ủy, chính quyền, các ngành, các cấp trong tỉnh và Người sử dụng lao động, Người lao động và nhân dân từng bước được nâng cao. Qua phân tích tình hình chấp hành quy định của Luật Bảo hiểm xã hội ở các cơ quan, đơn vị SDLĐ có sự khác nhau: đối với các cơ quan quản lý nhà nước, đơn vị hành chính sự nghiệp, doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp cổ phần nhà nước thực hiện khá tốt quy định của pháp luật về Bảo hiểm xã hội; đối với đơn vị ngoài nhà nước chưa tự giác chấp hành quy định của pháp luật Bảo hiểm xã hội, còn mang tính chất đối phó; riêng hộ kinh doanh cá thể, hợp tác xã, tổ hợp tác hầu hết chưa đăng ký đóng Bảo hiểm xã hội cho Người lao động.

  • Hạn chế Luận văn: Thực trạng pháp luật bảo hiểm xã hội tại Bắc Từ Liêm.

Mặc dù, việc thực hiện pháp luật Bảo hiểm xã hội nói chung và Luật Bảo hiểm xã hội nói riêng đã đạt được những kết quả bước đầu, từng bước hạn chế sự vi phạm pháp luật Bảo hiểm xã hội. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được thì quá trình thực hiện pháp luật về Bảo hiểm xã hội cũng còn nhiều vấn đề cần được xem xét “tháo gỡ” sớm, đó là:

Thứ nhất, công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật Bảo hiểm xã hội triển khai chưa thực sự chuyên sâu, hình thức, biện pháp tuyên truyền chưa đa dạng và chưa được tổ chức thường xuyên, còn một bộ phận Người sử dụng lao động chưa hiểu đúng và thực hiện đúng pháp luật về Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm thất nghiệp. Cơ sở vật chất, phương tiện kỹ thuật, ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác tuyên truyền chưa được đầu tư thích đáng. Kinh phí tuyên truyền được Bảo hiểm xã hội Việt Nam cấp hàng năm còn hạn hẹp, nên việc tổ chức hội thi, tìm hiểu về pháp luật Bảo hiểm xã hội còn rất khó khăn. Một số cấp ủy, chính quyền, một số ngành, nhất là cấp huyện và cơ sở còn coi công tác tuyên truyền pháp luật Bảo hiểm xã hội là của cơ quan Bảo hiểm xã hội nên chưa có sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị và của toàn xã hội. Một bộ phận Người lao động do áp lực việc làm, thu nhập trước mắt nên không quan tâm đến nghĩa vụ và quyền lợi về Bảo hiểm xã hội, không đấu tranh, giám sát việc đóng Bảo hiểm xã hội của chủ SDLĐ.

Thứ hai, việc tuân thủ pháp luật về Bảo hiểm xã hội của phần lớn các doanh nghiệp dân doanh, hợp tác xã, hộ kinh doanh cá thể, tổ hợp tác chưa tốt, biểu hiện ở việc trốn đóng Bảo hiểm xã hội, đóng không đúng thời gian, không đúng mức hoặc không đủ số người theo quy định; một số đơn vị SDLĐ trích tiền đóng Bảo hiểm xã hội của Người lao động hàng tháng nhưng không nộp cho cơ quan Bảo hiểm xã hội trái quy định của pháp luật; nhiều doanh nghiệp ký hợp đồng lao động dưới 3 tháng để đối phó, lách luật hoặc chỉ đăng ký một phần trong tổng số Người lao động phải tham gia Bảo hiểm xã hội để né tránh việc đóng Bảo hiểm xã hội. Mặt khác, theo quy định đối tượng lao động có hợp đồng lao động dưới 3 tháng không thuộc diện tham gia Bảo hiểm xã hội thì Người sử dụng lao động phải trả tiền Bảo hiểm xã hội trong tiền lương hoặc tiền công để Người lao động có thể tham gia loại hình Bảo hiểm xã hội tự nguyện hoặc tự lo về bảo hiểm. Thực tế, Người lao động chưa hiểu biết về loại hình Bảo hiểm xã hội tự nguyện nên không muốn tham gia, còn việc thỏa thuận giữa Người lao động và Người sử dụng lao động về Bảo hiểm xã hội trong tiền lương thì pháp luật chưa kiểm soát được.

Cơ quan Bảo hiểm xã hội chưa có thẩm quyền xử phạt các doanh nghiệp vi phạm pháp luật về Bảo hiểm xã hội mà sau khi phát hiện chỉ dừng lại ở việc làm văn bản đề nghị các sở, ngành xử lý. Mặt dù mức xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực Bảo hiểm xã hội đã được tăng lên theo quy định tại Nghị định số 86/2020/NĐ-CP, song thực tế mức xử phạt này vẫn còn quá thấp, không đủ sức răn đe đối với những doanh nghiệp vị phạm. Khối lượng công việc của Bảo hiểm xã hội quận ngày càng tăng, biên chế chưa được Bảo hiểm xã hội thành phố bổ sung dẫn đến việc kiểm tra, đôn đốc các doanh nghiệp đóng Bảo hiểm xã hội của Bảo hiểm xã hội quận chưa kịp thời. Luận văn: Thực trạng pháp luật bảo hiểm xã hội tại Bắc Từ Liêm.

  • Thứ ba, Tình hình vi phạm pháp luật về Bảo hiểm xã hội

Các hành vi vi phạm và xử lý vi phạm pháp luật về Bảo hiểm xã hội đã được quy định khá rõ và cụ thể trong Luật và các văn bản hướng dẫn. Điều này đã giúp cho các bên tham gia Bảo hiểm xã hội tránh được những sai sót trong quá trình thực hiện, đồng thời giúp cho quá trình kiểm tra, thanh tra được dễ dàng, thuận tiện. Tuy nhiên, các quy định về xử lý hành vi vi phạm pháp luật về Bảo hiểm xã hội còn một số điểm chưa phù hợp, chưa sát với thực tế. Cụ thể:

Khoản 3 Điều 138 Luật Bảo hiểm xã hội quy định, Người sử dụng lao động có hành vi vi phạm đóng không đúng mức hoặc đóng không đúng thời hạn từ 30 ngày trở lên, phải đóng số tiền chưa đóng, chậm đóng, và phải đóng số tiền lãi của số tiền chưa đóng, chậm đóng theo mức lãi suất của hoạt động đầu tư từ quỹ Bảo hiểm xã hội trong năm. Thực tiễn cho thấy, do lãi suất hoạt động đầu tư quỹ Bảo hiểm xã hội thấp hơn nhiều so với lãi suất vay ngân hàng, và mức tiền phạt tối đa trong xử lý vi phạm hành chính còn thấp (75 triệu đồng), nên nhiều doanh nghiệp đã lợi dụng quy định này chiếm dụng tiền đóng Bảo hiểm xã hội trong thời gian kéo dài; có doanh nghiệp đã trích tiền đóng Bảo hiểm xã hội của Người lao động nhưng lại không đóng cho tổ chức Bảo hiểm xã hội, sử dụng để đầu tư sản xuất, kinh doanh, chấp nhận nộp phạt vì tổng số tiền phải nộp phạt và tiễn lãi chậm đóng còn thấp hơn lãi vay ngân hàng.

Các văn bản luật về Bảo hiểm xã hội đều có quy định cho phép truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các hành vi vi phạm pháp luật Bảo hiểm xã hội. Tuy nhiên do trong Bộ luật Hình sự hiện hành không quy định tội danh cụ thể đối với những hành vi bị coi là tội phạm về Bảo hiểm xã hội nên không phải bất cứ hành vi vi phạm nào mà pháp luật Bảo hiểm xã hội cho phép truy cứu trách nhiệm hình sự trên thực tế cũng có thể áp dụng những quy định đã có của Bộ luật Hình sự để xử lý được.

Hiện nay việc trốn đóng, nợ đọng Bảo hiểm xã hội đang là bài toán thực sự khó khăn đối với ngành Bảo hiểm xã hội nói chung và Bảo hiểm xã hội Quận Bắc Từ Liêm nói riêng. Luận văn: Thực trạng pháp luật bảo hiểm xã hội tại Bắc Từ Liêm.

Hiện nay, tình trạng các đơn vị SDLĐ không đóng Bảo hiểm xã hội cho Người lao động, đóng không đủ số lao động thuộc diện tham gia Bảo hiểm xã hội bắt buộc, đóng không đúng thời gian quy định, đóng không đúng mức quy định, nợ Bảo hiểm xã hội có xu hướng gia tăng.

Đặc biệt, có nhiều đơn vị để nợ Bảo hiểm xã hội trong thời gian dài, gây ảnh hưởng đến quyền lợi của Người lao động. Có trường hợp chủ SDLĐ trích trừ tiền Bảo hiểm xã hội của Người lao động nhưng không nộp hoặc khi các cơ quan thanh tra, xử lý thì doanh nghiệp truy nộp một ít mang tính chất đối phó rồi hứa sẽ trả dần. Thậm chí, có một số doanh nghiệp bị kiện ra tòa về việc chậm đóng Bảo hiểm xã hội nhưng cũng không chấp hành các phán quyết của Tòa.

  • Bảng 2.4: Số tiền nợ Bảo hiểm xã hội trên địa bàn quận Bắc Từ Liêm giai đoạn 2020 – 2024

Theo số liệu báo cáo cho thấy, số nợ đọng Bảo hiểm xã hội hàng năm ở Huyện nhìn chung đều tăng, nếu như năm 2020 số nợ Bảo hiểm xã hội là 33,950 triệu đồng, chiếm tỷ lệ 15,95% số Bảo hiểm xã hội phải thu thì năm 2023 số nợ đã tăng lên 147,168 triệu đồng, chiếm tỷ lệ 22,86% số Bảo hiểm xã hội phải thu.

Năm 2024, Bảo hiểm xã hội Quận Bắc Từ Liêm thực hiện quản lý thu Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm y tế của 1.221 đơn vị sử dụng lao động 161.473 người tham gia Bảo hiểm xã hội, BHYT trên địa bàn với số kế hoạch Thành phố Hà Nội giao 9 tháng năm 2024 là 343 tỷ đồng. Kết quả thu năm 2024 đạt 349,96 tỷ đồng đạt 102 %, mặc dù năm 2024 Bảo hiểm xã hội quận đã triển khai mọi biện pháp tích cực đôn đốc đơn vị nộp Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm y tế đúng thời gian, các biện pháp khai thác tăng nguồn thu, thực hiện rà soát đơn vị, khởi kiện …. nhằm thu đúng, thu đủ, thu kịp thời, khắc phục tình trạng trốn đóng, tuy nhiên số tiền nợ đọng lớn chiếm 13,7 % số thu. Điển hình một số đơn vị nợ Bảo hiểm xã hội thời gian dài, số tiền lớn sau :

  • Công ty cổ phần Bê tông xây dựng Hà Nội nợ : 8,31 tỷ đồng.
  • Công ty cổ phần xây dựng số 8 Thăng Long nợ 4,6 tỷ đồng
  • Công ty cổ phần xây dựng số 12 Thăng Long nợ 3,57 tỷ đồng
  • Công ty cổ phần LP Việt Nam nợ 3,41 tỷ đồng
  • Công ty cổ phần xây dựng số 9 Thăng Long nợ 2,91 tỷ đồng

Thứ tư, cơ chế phối kết hợp giữa cơ quan quản lý nhà nước về Bảo hiểm xã hội, cơ quan Bảo hiểm xã hội và Công đoàn thiếu chặt chẽ, xử lý các vụ việc chậm, thiếu tính răn đe, thậm chí có biểu hiện vì lợi ích cục bộ, cá nhân, thiếu kiên quyết xử lý làm cho tình trạng vi phạm pháp luật Bảo hiểm xã hội trở lên phức tạp, dây dưa, kéo dài. Thứ năm, số lượng biên chế so với nhu cầu công việc hiện tại còn thấp. Luận văn: Thực trạng pháp luật bảo hiểm xã hội tại Bắc Từ Liêm.

Phần lớn viên chức chưa được đào tạo cơ bản về chuyên ngành Bảo hiểm xã hội; công việc hàng năm phát sinh nhiều, công chức, viên chức thuộc hệ thống Bảo hiểm xã hội Quận luôn làm việc trong điều kiện quá tải, phải làm thêm giờ mới hoàn thành nhiệm vụ, đôi lúc công việc đạt được chưa như mong đợi. Do phải làm việc kiêm nhiệm, nên một số lĩnh vực còn bỏ trống, nguồn thu Bảo hiểm xã hội và Bảo hiểm thất nghiệp chưa được khai thác triệt để.

Thứ sáu, về giải quyết hưởng các chế độ Bảo hiểm xã hội theo quy định trong Luật Bảo hiểm xã hội và văn bản hướng dẫn thi hành còn khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện.

  • Chế độ ốm đau, thai sản

Theo quy định tại Điểm a, Khoản 2, Điều 92 Luật Bảo hiểm xã hội, Người sử dụng lao động được giữ lại 2% tiền đóng Bảo hiểm xã hội để kịp thời chi trả trợ cấp ốm đau, thai sản cho Người lao động sau 3 ngày nhận đủ hồ sơ, tuy nhiên do đặc thù của Quận chủ yếu là đơn vị SDLĐ có quy mô không lớn tổng số tiền giữ lại không đủ để chi trả cho Người lao động; một số doanh nghiệp khác thì nợ tiền đóng Bảo hiểm xã hội kéo dài nên việc giải quyết quyền lợi cho Người lao động không đảm bảo kịp thời. Cách tính trợ cấp ốm đau, nhất là ốm đau dài ngày phức tạp; chứng từ quy định để hưởng còn nhiều bất cập nên Người sử dụng lao động không dám chi trả trợ cấp trước cho Người lao động thường là chậm hơn so với quy định của luật. Có nhiều bệnh chưa có trong danh mục các bệnh cần chữa trị dài ngày hoặc danh mục bệnh cần chữa trị dài ngày trong Thông tư số 33 của Liên Bộ y tế, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam chưa được cụ thể nên thiệt thòi cho Người lao động.

Chế độ thai sản: tại Khoản 2, Điều 28 Luật Bảo hiểm xã hội quy định thời gian đóng Bảo hiểm xã hội đủ 6 tháng trong vòng 12 tháng trước khi sinh hoặc nhận nuôi con nuôi mới được hưởng trợ cấp thai sản và thời gian đó được tính là thời gian đóng Bảo hiểm xã hội. Trên thực tế, có trường hợp Người lao động đã tham gia Bảo hiểm xã hội nhiều năm trước đó nhưng khi có thai, vì lý do sức khoẻ phải nghỉ việc, không đóng Bảo hiểm xã hội trên 6 tháng trước khi sinh con nên không đủ điều kiện hưởng trợ cấp thai sản. Điều này là không hợp lý, không bảo đảm quyền lợi cho Người lao động và dẫn đến tình trạng “lách” luật là Người lao động nghỉ việc nhưng vẫn đóng Bảo hiểm xã hội để đủ điều kiện hưởng trợ cấp thai sản.

  • Chế độ tai nạn lao động – bệnh nghề nghiệp Luận văn: Thực trạng pháp luật bảo hiểm xã hội tại Bắc Từ Liêm.

Phần lớn khi tai nạn xảy ra, Người sử dụng lao động không lập thủ tục hồ sơ để giải quyết theo chế độ TNLĐ-BNN do sợ bị xử phạt hoặc do việc lập thủ tục hồ sơ tai nạn lao động quá phức tạp, nên lách luật để giải quyết chế độ ốm đau. Các trường hợp bị tai nạn giao thông, đặc biệt là ở các huyện vùng sâu, vùng xa hoặc vào ban đêm đa số không có biên bản của Công an giao thông, do đó những trường hợp này không được giải quyết chế độ tai nạn lao động do thiếu thủ tục hồ sơ cũng gây bức xúc cho cả Người lao động, Người sử dụng lao động. Đến nay, chưa có văn bản quy định, hướng dẫn giải quyết đối với trường hợp bị tai nạn giao thông do lỗi của Người lao động cũng đã làm cho dư luận ngộ nhận cơ quan Bảo hiểm xã hội nhũng nhiễu, gây khó khăn cho Người lao động.

  • Chế độ hưu trí

Việc áp dụng chế độ tiền lương do Nhà nước quy định, hiện nay các doanh nghiệp nhà nước trước đây chuyển thành công ty cổ phần được vận dụng hệ số lương theo thang lương, bảng lương do Nhà nước quy định làm căn cứ đóng Bảo hiểm xã hội nhưng thực tế một số doanh nghiệp không thực hiện đúng các quy định việc đăng ký với cơ quan quản lý nhà nước về lao động tiền lương do đó ảnh hưởng đến quyền lợi của Người lao động trong việc tính hưởng các chế độ Bảo hiểm xã hội.

Theo quy định lương hưu của Người lao động được nhận kể từ tháng liền kề với tháng nộp đủ hồ sơ cho cơ quan Bảo hiểm xã hội cũng đang gây khó khăn đối với một số trường hợp do chủ SDLĐ chậm nộp hồ sơ, do đó Người lao động không được nhận lương hưu các tháng chậm nộp hồ sơ, bị thiệt hại quyền lợi cho Người lao động. Cũng theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội người tham gia Bảo hiểm xã hội trên 20 năm, chưa đủ tuổi về hưu, bị ốm nặng xin hưởng 01 lần không được giải quyết.

Việc tính mức tiền lương bình quân đóng Bảo hiểm xã hội làm căn cứ tính lương hưu của Người lao động làm việc trong các đơn vị được thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định và Người lao động làm việc trong các đơn vị thực hiện chế độ tiền lương do Người sử dụng lao động quyết định (doanh nghiệp khu vực ngoài nhà nước) có sự khác nhau. Vì vậy, tạo ra tâm lý không thật sự thoải mái đối với Người lao động làm việc trong các đơn vị khu vực ngoài nhà nước (cho rằng chưa bình đẳng, công bằng trong quyền lợi hưởng). Luận văn: Thực trạng pháp luật bảo hiểm xã hội tại Bắc Từ Liêm.

  • Chế độ tử tuất

Do có sự chênh lệch giữa tiền tuất hàng tháng và tiền tuất 01 lần nên trong nhiều trường hợp thân nhân người chết tìm cách lách luật để kê khai hoàn cảnh gia đình theo hướng được giải quyết hưởng trợ cấp 01 lần. Thủ tục hưởng tuất khó kiểm soát được thông tin về thu nhập hàng tháng nên nhiều trường hợp mặc dù biết được thân nhân người chết lách luật để hưởng trợ cấp tuất gây khó khăn trong công tác quản lý, giải quyết của cơ quan Bảo hiểm xã hội. Đến nay chưa có cơ chế kiểm tra hoặc hướng dẫn rõ việc xác định mức thu nhập của thân nhân người chết nên cơ quan Bảo hiểm xã hội rất lúng túng và thực sự khó khăn trong quá trình xác định đối tượng để giải quyết hưởng trợ cấp tiền tuất. Quy định về thân nhân được xét hưởng chưa rõ ràng, cụ thể đối với những trường hợp hôn nhân thực tế, vợ của người đi tập kết ra Bắc có 2 vợ, người nuôi dưỡng khác. Nhiều trường hợp tuất 01 lần quá lớn, nhưng luật không quy định rõ cấp tiền cho ai trong số thân nhân, dẫn đến có trường hợp xảy ra tranh chấp.

Khoản 2, Điều 64 Luật Bảo hiểm xã hội quy định các thân nhân được hưởng tuất phải có thu nhập hoặc thu nhập hàng tháng nhưng thấp hơn mức lương tối thiểu chung: Khi giải quyết chế độ tuất phát sinh những trường hợp thân nhân từ đủ 80 tuổi trở lên đã được hưởng trợ cấp người cao tuổi hàng tháng theo Nghị định số 67/2017/NĐ-CP ngày 13/5/2017 của Chính phủ, có thẻ Bảo hiểm y tế, khi chết được Nhà nước lo mai táng, nếu nhận được trợ cấp tuất hàng tháng do cơ quan Bảo hiểm xã hội chi trả thì không được hưởng trợ cấp người cao tuổi, không có thẻ Bảo hiểm y tế, nên thân nhân đề nghị không nhận trợ cấp tuất hàng tháng để hưởng trợ cấp tuất 01 lần vì đã có thu nhập, những trường hợp này chưa có văn bản hướng dẫn rõ ràng.

  • Trợ cấp bảo hiểm thất nghiệp

Trong quá trình thực hiện Bảo hiểm xã hội tỉnh đã phát hiện có tình trạng thất nghiệp “ảo” nhiều lao động xin chấm dứt hợp đồng lao động ở doanh nghiệp này chuyển sang hợp đồng lao động ở doanh nghiệp khác nhưng lại đăng ký và hưởng trợ cấp thất nghiệp, có trường hợp nghỉ việc để hưởng trợ cấp thất nghiệp nhưng lại hợp đồng tiếp ở chính đơn vị mình vừa nghỉ việc, mà không khai báo với cơ quan lao động, đây được coi là biểu hiện lạm dụng quỹ Bảo hiểm thất nghiệp, vấn đề này hiện chưa có biện pháp kiểm soát.

Tình trạng Người lao động chủ động thôi việc để đăng ký hưởng trợ cấp thất nghiệp đã xuất hiện, kéo theo hệ lụy cho công tác nhân sự ở nhiều doanh nghiệp gặp khó khăn, ảnh hưởng tới sản xuất kinh doanh.

Việc cơ quan Bảo hiểm xã hội thu lại thẻ Bảo hiểm y tế của Người lao động trong thời gian chờ làm hồ sơ hưởng Bảo hiểm thất nghiệp cũng dẫn đến việc Người lao động có thể gặp khó khăn nếu ốm đau trong thời gian này.

2.2.6 Nguyên nhân của những mặt hạn chế Luận văn: Thực trạng pháp luật bảo hiểm xã hội tại Bắc Từ Liêm.

Nguyên nhân khách quan:

  • Thứ nhất, nhận thức về Bảo hiểm xã hội còn nhiều hạn chế:

BHXH ở nước ta mặc dù được thực hiện rất sớm, nhưng trước đây được thực hiện theo cơ chế quản lý tập trung, quan liêu, bao cấp. Khi chuyển sang cơ chế thị trường, cơ chế Bảo hiểm xã hội đã có thay đổi mạnh mẽ theo hướng phục vụ cho mọi người dân với nguyên tắc “có đóng, có hưởng”, “lấy số đông bù số ít” nhưng nhận thức của Người lao động và chủ SDLĐ vẫn chưa theo kịp. Người lao động không quan tâm đến Bảo hiểm xã hội vì chưa thấy ích lợi đâu cả, chỉ biết mỗi tháng phải mất một ít tiền nên khi DN không tham gia Bảo hiểm xã hội cho Người lao động, Người lao động cũng đồng tình. Việc này chính là tiếp tay cho DN làm sai và gây khó cho chính Người lao động khi gặp những tai nạn, bệnh tật bất ngờ và khó khăn cho cơ quan Bảo hiểm xã hội trong công tác phát triển đối tượng. Người lao động chưa nhận thức đầy đủ ý nghĩa, tầm quan trọng, quyền lợi, trách nhiệm và nghĩa vụ phải tham gia đóng góp để có nguồn tài chính để vừa đảm bảo quyền lợi Bảo hiểm xã hội cho Người lao động, vừa góp phần giữ ổn định chính trị, đảm bảo an toàn xã hội và phát triển kinh tế, xã hội của đất nước.

  • Thứ hai, các văn bản pháp luật về Bảo hiểm xã hội chưa đầy đủ và hoàn chỉnh:

Các văn bản pháp luật về Bảo hiểm xã hội còn chưa đồng bộ, chưa phù hợp với thực tế, chậm được triển khai hoặc chưa đáp ứng được yêu cầu quản lý thu Bảo hiểm xã hội trong giai đoạn hiện tại.

Cụ thể như nguyên nhân dẫn đến tình trạng nợ là do cơ chế, chính sách chưa đầy đủ, hiện tại Luật Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm y tế và các văn bản hướng dẫn Luật BHXH, Bảo hiểm y tế chưa quy định cụ thể vấn đề quản lý nợ Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm y tế; Bên cạnh đó, việc triển khai thực hiện còn có sự phân biệt và thiếu bình đẳng giữa các thành phần kinh tế. Công tác thu hồi nợ còn mang tính thời điểm, chưa được các ngành các cấp quan tâm; chế tài chưa đủ mạnh, lãi xuất chậm đóng thấp; công tác thanh tra, xử lý vi phạm pháp luật về Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm y tế của các cơ quan chức năng còn chưa thường xuyên, thiếu kiên quyết.

  • Thứ ba, tình trạng yếu kém của nhiều doanh nghiệp:

Nhìn chung, đại bộ phận doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ, luôn trong tình trạng đói vốn, ngừng hoạt động sản xuất trong tình trạng thiếu vốn, và không có khả năng huy động vốn để đổi mới công nghệ, công nghệ lạc hậu so với các nước trong khu vực, hoạt động sản xuất ở trình độ thủ công, hiệu quả sử dụng trang thiết bị trên dưới 50% công suất, là nguyên nhân dẫn đến khả năng cạnh tranh trên thị trường nội địa cũng như quốc tế hết sức thấp kém. Bên cạnh đó trình độ năng lực, bản lĩnh của người quản lý, người SDLĐ còn yếu, phần lớn chưa qua đào tạo.

Bên cạnh đó, một số DNNN sau cổ phần hóa tuy có quy mô lớn nhưng kinh doanh kém hiệu quả dẫn đến nợ đọng Bảo hiểm xã hội kéo dài, hoặc một số doanh nghiệp đã đăng ký thành lập nhưng không có trụ sở giao dịch, hoặc thành lập xong không hoạt động hay hoạt động một thời gian ngắn rồi giải thể, hoặc có đơn vị đăng ký kinh doanh nhưng không có lao động nên không có cơ sở để cơ quan Bảo hiểm xã hội thực hiện thu Bảo hiểm xã hội. Đối với mức lương mà người SDLĐ đóng cho Người lao động rất thấp, chỉ bằng mức lương tối thiểu vùng, có một số ít lao động được đóng Bảo hiểm xã hội ở mức cao hơn nhưng cũng không cao hơn nhiều so với mức tối thiểu vùng. Luận văn: Thực trạng pháp luật bảo hiểm xã hội tại Bắc Từ Liêm.

Ngoài ra, một số doanh nghiệp đã đối chiếu đóng Bảo hiểm xã hội với cơ quan Bảo hiểm xã hội vẫn còn nợ tiền nhưng nay đã giải thể, phá sản, dừng hoạt động, không còn chủ sở hữu mà chưa có biện pháp giải quyết số nợ này. Đặc biệt, tình trạng trốn đóng Bảo hiểm xã hội, nợ đọng tiền Bảo hiểm xã hội ở các doanh nghiệp vẫn còn nhiều…

  • Thứ tư, chế tài xử lý vi phạm chưa đủ mạnh, sự phối hợp của các ngành vẫn còn hạn chế:

Khung pháp lý về Bảo hiểm xã hội chưa hoàn chỉnh. Luật Bảo hiểm xã hội có hiệu lực từ 01/01/2017 với nhiều quy định mới, thay đổi nên trong quá trình triển khai có những vướng mắc là điều khó tránh khỏi. Một số chính sách Bảo hiểm xã hội chưa thật rõ ràng, chưa ổn định, lợi ích của chủ SDLĐ khi tham gia Bảo hiểm xã hội chưa rõ ràng; Người lao động nhận thức không đầy đủ, thậm chí hiểu sai chính sách Bảo hiểm xã hội. Mặt khác pháp luật Bảo hiểm xã hội vẫn chưa đưa ra được biện pháp chế tài đủ mạnh để răn đe những trường hợp không đóng, trốn đóng, nợ đọng Bảo hiểm xã hội, chiếm dụng Quỹ Bảo hiểm xã hội. Theo Nghị định số 86/2020/NĐ-CP ngày 13/8/2020 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực Bảo hiểm xã hội đã tăng mức xử phạt tối đa lên 30 triệu đồng (theo Nghị định 135/2017/NĐ-CP là 20 triệu đồng). Đơn vị có nhiều hành vi vi phạm có thể bị tước quyền sử dụng giấy phép vô thời hạn và bắt buộc phải khắc phục hậu quả. Tuy nhiên, mức xử phạt này vẫn còn quá nhẹ so với số tiền hàng trăm triệu, hàng tỷ mà các doanh nghiệp phải đóng Bảo hiểm xã hội, do đó các doanh nghiệp vẫn tiếp tục vi phạm và sẵn sàng nộp tiền phạt hành chính.

Tháng 2 năm 2018, Liên bộ LĐ-TB&XH, Bộ Tài chính và Ngân hàng nhà nước cũng đã ban hành Thông tư Liên tịch số 03/2018/TTLT-BLĐTBXH-BTC-NHNN hướng dẫn thủ tục buộc trích tiền từ tài khoản tiền gửi của Người sử dụng lao động để nộp tiền Bảo hiểm xã hội chưa đóng, chậm đóng và tiền lãi phát sinh. Ngay cả trong Luật Bảo hiểm xã hội cũng quy định doanh nghiệp nợ Bảo hiểm xã hội từ ngày thứ 31 trở đi phải chịu một khoản tiền lãi suất bằng với lãi suất đầu tư của Quỹ Bảo hiểm xã hội. Tuy nhiên, những văn bản pháp luật trên vẫn không hạn chế được tình trạng trốn đóng, nợ đọng Bảo hiểm xã hội do tính cưỡng chế của pháp luật chưa nghiêm. Luận văn: Thực trạng pháp luật bảo hiểm xã hội tại Bắc Từ Liêm.

Ta thấy, việc tuân thủ pháp luật về Bảo hiểm xã hội của phần lớn các doanh nghiệp dân doanh, hợp tác xã, hộ kinh doanh cá thể, tổ hợp tác chưa tốt, biểu hiện ở việc trốn đóng Bảo hiểm xã hội, đóng không đúng thời gian, không đúng mức hoặc không đủ số người theo quy định; một số đơn vị SDLĐ trích tiền đóng Bảo hiểm xã hội của Người lao động hàng tháng nhưng không nộp cho cơ quan Bảo hiểm xã hội trái quy định của pháp luật; nhiều doanh nghiệp ký hợp đồng lao động dưới 3 tháng để đối phó, lách luật hoặc chỉ đăng ký một phần trong tổng số Người lao động phải tham gia Bảo hiểm xã hội để né tránh việc đóng Bảo hiểm xã hội. Mặt khác, theo quy định đối tượng lao động có hợp đồng lao động dưới 3 tháng không thuộc diện tham gia Bảo hiểm xã hội thì Người sử dụng lao động phải trả tiền Bảo hiểm xã hội trong tiền lương hoặc tiền công để Người lao động có thể tham gia loại hình Bảo hiểm xã hội tự nguyện hoặc tự lo về bảo hiểm. Thực tế, Người lao động chưa hiểu biết về loại hình Bảo hiểm xã hội tự nguyện nên không muốn tham gia, còn việc thỏa thuận giữa Người lao động và Người sử dụng lao động về Bảo hiểm xã hội trong tiền lương thì pháp luật chưa kiểm soát được. Tình trạng nhiều doanh nghiệp sau khi đăng ký kinh doanh không đăng ký lao động với cơ quan lao động địa phương mà không bị xử lý. Sự phối hợp hoạt động của một số cơ quan quản lý nhà nước trên địa bàn còn chưa quan tâm đúng mức.

Cơ quan Bảo hiểm xã hội chưa có thẩm quyền xử phạt các doanh nghiệp vi phạm pháp luật về Bảo hiểm xã hội mà sau khi phát hiện chỉ dừng lại ở việc làm văn bản đề nghị các sở, ngành xử lý. Mặt dù mức xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực Bảo hiểm xã hội đã được tăng lên theo quy định tại Nghị định số 86/2020/NĐ-CP, song thực tế mức xử phạt này vẫn còn quá thấp, không đủ sức răn đe đối với những doanh nghiệp vị phạm. Khối lượng công việc của Bảo hiểm xã hội huyện ngày càng tăng, biên chế chưa được Bảo hiểm xã hội Thành phố bổ sung dẫn đến việc kiểm tra, đôn đốc các doanh nghiệp đóng Bảo hiểm xã hội của Bảo hiểm xã hội huyện còn hạn chế, chưa kịp thời.

Thứ năm, cơ chế phối kết hợp giữa cơ quan quản lý nhà nước về Bảo hiểm xã hội, cơ quan Bảo hiểm xã hội và Công đoàn thiếu chặt chẽ, xử lý các vụ việc chậm, thiếu tính răn đe, thiếu kiên quyết xử lý làm cho tình trạng vi phạm pháp luật Bảo hiểm xã hội trở lên phức tạp, dây dưa, kéo dài.

Việc triển khai thực hiện pháp luật về Bảo hiểm xã hội chưa thực sự được quan tâm đúng mức của UBND các cấp; chương trình, kế hoạch mang tính lâu dài, chiến lược để triển khai thực hiện chưa triệt để; thực tế cho thấy trước tình trạng doanh nghiệp trốn đóng, nợ đọng tiền Bảo hiểm xã hội kéo dài như phản ánh ở phần trên cơ quan Bảo hiểm xã hội đã nhiều lần báo cáo nhưng chưa được UBND các cấp quan tâm chỉ đạo, xử lý cụ thể. Nhiều doanh nghiệp vi phạm pháp luật Bảo hiểm xã hội nhưng vẫn được xét khen thưởng, tôn vinh. Luận văn: Thực trạng pháp luật bảo hiểm xã hội tại Bắc Từ Liêm.

Công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm về thực hiện chế độ, chính sách Bảo hiểm xã hội của Thanh tra Sở LĐ-TB&XH, Thanh tra Huyện, Liên ngành Huyện kiểm tra các đơn vị trên địa bàn huyện còn hạn chế về số lượng. Trong khi huyện có trăm đơn vị SDLĐ chưa chấp hành nghiêm Luật Bảo hiểm xã hội, nên vẫn còn tình trạng chưa chấp hành hoặc chấp hành chưa nghiêm pháp luật Bảo hiểm xã hội. Thậm chí các doanh nghiệp vi phạm đã được cơ quan Bảo hiểm xã hội đề nghị xử phạt hành chính không được xử lý. Trong khi đó, Công đoàn và cơ quan Bảo hiểm xã hội có chức năng kiểm tra, giám sát nhưng không có chức năng thanh tra, xử phạt đối với những vi phạm pháp luật Bảo hiểm xã hội, nên nhiều vụ vi phạm pháp luật Bảo hiểm xã hội do Công đoàn và Bảo hiểm xã hội phát hiện nhưng không được xử phạt.

Công tác phối hợp giữa các sở, ban, ngành để thực hiện chức năng quản lý nhà nước về Bảo hiểm xã hội của tỉnh thiếu thường xuyên, chưa chặt chẽ nhất là trong công tác tuyên truyền, phổ biến chính sách, pháp luật Bảo hiểm xã hội, công tác quản lý đối tượng thuộc diện bắt buộc tham gia Bảo hiểm xã hội.

Việc giải quyết các vụ việc liên quan đến Bảo hiểm xã hội là loại án mới nên các cơ quan thực thi pháp luật như cơ quan Thi hành án, Tòa án còn lúng túng, có nhiều quan điểm trái chiều nhau về xử lý vi phạm pháp luật Bảo hiểm xã hội nên việc khởi kiện đòi tiền các đơn vị nợ tiền Bảo hiểm xã hội gặp nhiều khó khăn, vướng mắc.

Nguyên nhân chủ quan:

  • Thứ nhất, trình độ quản lý và năng lực thực hiện nghiệp vụ của cán bộ, viên chức ngành Bảo hiểm xã hội còn hạn chế:

Số lượng biên chế so với nhu cầu công việc hiện tại còn thấp. Phần lớn viên chức chưa được đào tạo cơ bản về chuyên ngành Bảo hiểm xã hội; công việc hàng năm phát sinh nhiều, công chức luôn làm việc trong điều kiện quá tải, phải làm thêm giờ mới hoàn thành nhiệm vụ, đôi lúc công việc đạt được chưa như mong đợi. Do phải làm việc kiêm nhiệm, nên một số lĩnh vực còn bỏ trống, nguồn thu Bảo hiểm xã hội chưa được khai thác triệt để.

Mặc dù ngành Bảo hiểm xã hội từ Thành phố đến các quận, huyện đã có nhiều cố gắng và tiến bộ trong công tác đào tạo, tập huấn bồi dưỡng nâng cao trình độ nghiệp vụ cho viên chức, nhưng nhìn chung trình độ chuyên môn của một số viên chức chuyên môn của ngành Bảo hiểm xã hội còn yếu cả về kiến thức và kỹ năng thực hành. Trong khi đó, đơn vị, đối tượng phải quản lý quá đông, ý thức tự giác của người SDLĐ và Người lao động trong việc tham gia Bảo hiểm xã hội chưa cao… Điều đó đã gây nhiều khó khăn cho công tác quản lý và dẫn tới những sai sót, thiếu kịp thời… trong tổ chức quản lý thu Bảo hiểm xã hội trên địa bàn huyện. Luận văn: Thực trạng pháp luật bảo hiểm xã hội tại Bắc Từ Liêm.

  • Thứ hai, từ phía các đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội:

Nhận thức của Người sử dụng lao động và Người lao động về quyền lợi và nghĩa vụ Bảo hiểm xã hội không đầy đủ. Đối tượng chính không tuân thủ pháp luật Bảo hiểm xã hội là Người sử dụng lao động. Họ chỉ mới nghĩ đến lợi nhuận hiện tại mà không nhìn thấy vai trò của việc tham gia Bảo hiểm xã hội cho Người lao động trong chính sách nhân sự, có ảnh hưởng đến lợi nhuận tiềm năng của doanh nghiệp. Đối với Người lao động, có không ít trường hợp thực sự không biết mình có quyền được hưởng Bảo hiểm xã hội và tham gia Bảo hiểm xã hội. Mặt khác, cũng có một bộ phận Người lao động biết quyền và nghĩa vụ Bảo hiểm xã hội nhưng lại không hiểu tiền đóng Bảo hiểm xã hội là một khoản chiết khấu từ lương, nên họ cho rằng số tiền đó chính là nguyên nhân làm giảm thu nhập hiện tại và không muốn đóng Bảo hiểm xã hội.

Ý thức tuân thủ pháp luật Bảo hiểm xã hội của cả Người lao động và Người sử dụng lao động chưa cao. Nhiều Người sử dụng lao động có nhận thức về Bảo hiểm xã hội nhưng vẫn cố tình trốn đóng Bảo hiểm xã hội hoặc chây ỳ. Phần lớn do Người sử dụng lao động là các doanh nghiệp không có chiến lược kinh doanh bền vững mà chủ yếu là làm ăn theo kiểu “chộp giật” chỉ muốn càng thu được nhiều lợi nhuận hiện tại càng tốt. Cách Người sử dụng lao động thường làm là trốn đóng Bảo hiểm xã hội để giảm chi phí như không ký kết hợp đồng lao động, hoặc chỉ ký HĐLĐ dưới 3 tháng và một số doanh nghiệp có ký kết HĐLĐ nhưng dây dưa, nợ đọng Bảo hiểm xã hội.

Về phía Người lao động, mặc dù thấy lợi ích hiển nhiên của Bảo hiểm xã hội đối với bản thân và gia đình nhưng vẫn có một bộ phận Người lao động không đóng Bảo hiểm xã hội. Do chỉ quan tâm đến thu nhập và cuộc sống trước mắt, chưa có ý thức phòng thân, lo xa; một bộ phận nhầm lẫn Bảo hiểm xã hội với các bảo hiểm thương mại khác, nên thiếu niềm tin vào chính sách Bảo hiểm xã hội hoài nghi về khoản tiền mà họ đã đóng góp sẽ có hiệu quả thế nào. Một số ít các trường hợp Người lao động trốn đóng do ý thức tuân thủ kém là vì họ không kỳ vọng sống đến khi nhận được tiền lương hưu.

Tình trạng khó khăn về tài chính của các doanh nghiệp cũng là một nguyên nhân dẫn đến việc không tuân thủ pháp luật Bảo hiểm xã hội. Một số Người sử dụng lao động khởi sự kinh doanh vốn ít và còn nhiều khó khăn nên đôi khi lờ đi trách nhiệm và nghĩa vụ đóng Bảo hiểm xã hội cho Người lao động. Một số doanh nghiệp có đăng ký tham gia Bảo hiểm xã hội nhưng không đầy đủ, chỉ tập trung cho số ít Người lao động cần thiết và đóng không đúng với mức lương thực trả cho Người lao động. Một số khác lại đang ở trong tình trạng làm ăn suy yếu, có xu hướng thua lỗ, do đó chây ỳ việc đóng Bảo hiểm xã hội hoặc chiếm dụng tiền đóng Bảo hiểm xã hội của Người lao động để tăng vốn làm ăn.

  • Thứ ba, Bảo hiểm xã hội Quận chưa có kế hoạch chi tiết trong việc phát triển đối tượng tham gia Bảo hiểm xã hội:

Với công tác tuyên truyền trên phương tiện thông tin, truyền thông của Huyện, các xã, thị trấn, và phát tờ rơi khi đơn vị tới đăng ký mã số thuế và hàng tháng Bảo hiểm xã hội huyện tiếp nhận danh sách các doanh nghiệp trên địa bàn từ Chi cục thuế và phòng Kế hoạch-Tài chính, nhưng Bảo hiểm xã hội Quận chưa tổ chức điều tra số đơn vị, số LĐ tham gia Bảo hiểm xã hội bắt buộc thuộc khu vực DNNQD trên địa bàn huyện. Mới chỉ dừng lại ở việc tách danh sách từng xã, thị trấn và gửi xuống UBND xã, thị trấn đề nghị phối hợp tuyên truyền, đôn đốc. UBND xã, thị trấn cũng không có cán bộ chuyên trách để thực hiện yêu cầu này do vậy, công tác điều tra, thống kê tình trạng doanh nghiệp đến nay Quận chưa nắm được cụ thể số doanh nghiệp, số lao động ở khu vực DNNQD tồn tại hay không, để xây dựng kế hoạch phát triển đối tượng tham gia Bảo hiểm xã hội trên địa bàn sát với thực tế.

  • Thứ tư, công tác thông tin, tuyên truyền còn nhiều hạn chế:

Công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật Bảo hiểm xã hội triển khai chưa thực sự chuyên sâu, hình thức, biện pháp tuyên truyền chưa đa dạng và chưa được tổ chức thường xuyên, còn một bộ phận Người sử dụng lao động chưa hiểu đúng và thực hiện đúng pháp luật về Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm thất nghiệp. Kinh phí tuyên truyền được Bảo hiểm xã hội thành phố Hà Nội cấp hàng năm còn hạn hẹp. Sự chỉ đạo và phối hợp giữa cấp ủy, chính quyền, đoàn thể các cấp, các ngành của Quận còn chưa thực sự chặt chẽ, đồng bộ. Một số cấp ủy, chính quyền, một số ngành còn coi công tác tuyên truyền pháp luật Bảo hiểm xã hội là của cơ quan Bảo hiểm xã hội nên chưa có sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị và của toàn xã hội. Một bộ phận Người lao động do áp lực việc làm, thu nhập trước mắt nên không quan tâm đến nghĩa vụ và quyền lợi về Bảo hiểm xã hội, không đấu tranh, giám sát việc đóng Bảo hiểm xã hội của chủ SDLĐ. Luận văn: Thực trạng pháp luật bảo hiểm xã hội tại Bắc Từ Liêm.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:  

===>>> Luận văn: Giải pháp pháp luật bảo hiểm xã hội tại Bắc Từ Liêm

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464