Luận văn: Pháp luật về bảo hiểm xã hội tại Quận Bắc Từ Liêm

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Pháp luật về bảo hiểm xã hội tại Quận Bắc Từ Liêm hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Thực hiện pháp luật về bảo hiểm xã hội qua thực tiễn Quận Bắc Từ Liêm dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

LỜI MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Bảo hiểm xã hội (BHXH) là một trong những chính sách trụ cột của hệ thống chính sách an sinh xã hội, giúp người dân giảm bớt gánh nặng khi tuổi già, ốm đau, tai nạn, thất nghiệp. Thực hiện tốt chính sách Bảo hiểm xã hội góp phần bảo đảm đời sống cho cán bộ, công chức, viên chức, lao động (gọi tắt Người lao động), giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, thúc đẩy sự nghiệp xây dựng đất nước, bảo vệ Tổ quốc. Chính sách Bảo hiểm xã hội đã được Đảng và Nhà nước ta quan tâm từ ngay sau khi nước ta giành độc lập, góp phần làm nên những thắng lợi của các cuộc kháng chiến chống xâm lược, thống nhất đất nước, xây dựng chủ nghĩa xã hội. Ở Việt Nam, kể từ khi chính sách Bảo hiểm xã hội được ban hành, đến nay đã dần được phát triển và mở rộng, mang lại những lợi ích thiết thực cho người lao động và gia đình họ, nó có ý nghĩa to lớn trong quá trình giúp người lao động vượt qua khó khăn trong cuộc sống, tạo niềm tin cho người dân vào chính sách của Đảng và Nhà nước, ổn định và phát triển kinh tế – xã hội.

Năm 1994, tại Kỳ họp thứ 5, Quốc hội khóa IX đã thông qua Bộ Luật Lao động, trong đó có một chương quy định về chính sách Bảo hiểm xã hội bắt buộc và Chính phủ ban hành Nghị định số 12/CP ngày 26/01/1995 kèm theo Điều lệ Bảo hiểm xã hội đối với cán bộ, công nhân, viên chức, Người lao động theo nguyên tắc có đóng có hưởng, cân đối thu – chi với 5 chế độ: ốm đau, thai sản, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, hưu trí và tử tuất. Đặc biệt, năm 2016, Quốc hội khóa XI đã thông qua Luật Bảo hiểm xã hội và hàng loạt các văn bản hướng dẫn thi hành; có thể khẳng định pháp luật Bảo hiểm xã hội đã được xây dựng tương đối hoàn chỉnh, đầy đủ và có cơ sở pháp lý cao nhất để triển khai thực hiện trong đời sống xã hội. Song để pháp luật Bảo hiểm xã hội có thể phát huy được vai trò và ý nghĩa của nó, thì việc thực hiện pháp luật về Bảo hiểm xã hội là khâu quan trọng, không thể thiếu trong giai đoạn kinh tế thế giới đang khủng hoảng như hiện nay.

Thực hiện pháp luật từ lâu đã coi là một hiện tượng xã hội mang tính pháp lý và được nhiều nhà luật học nghiên cứu, tìm hiểu. Nhiều vấn đề chung về thực hiện pháp luật dường như đã được giải quyết như: khái niệm thực hiện pháp luật, các hình thức thực hiện pháp luật, khái niệm áp dụng pháp luật và quy trình các bước áp dụng pháp luật… Song thực hiện pháp luật về Bảo hiểm xã hội là một trong lĩnh vực cụ thể và mới mẻ. Nó có đặc điểm riêng biệt cần được định nghĩa, bổ sung, cụ thể hóa lý luận chung để đưa vào thực tiễn thực hiện pháp luật Bảo hiểm xã hội được đảm bảo, góp phần vào thực hiện mục tiêu Bảo hiểm xã hội cho mọi Người lao động và xây dựng một nền an sinh xã hội vững mạnh, công bằng.

Tuy nhiên, Bảo hiểm xã hội là một chính sách xã hội phức tạp, lại khá mới mẻ trong nền kinh tế thị trường mới định hình ở Việt Nam, nên việc thực hiện pháp luật Bảo hiểm xã hội không tránh khỏi những hạn chế, tồn tại nhất định trên địa bàn Thành phố Hà Nội nói chung cũng như trên địa bàn quận Bắc Từ Liêm nói riêng như: Việc phát triển đối tượng tham gia Bảo hiểm xã hội, nhất là khu vực dân doanh còn quá thấp, chưa đáp ứng yêu cầu và tương xứng với tiềm năng của tỉnh; công tác phối hợp giữa Bảo hiểm xã hội với các Sở, Ban, Ngành trong việc thực hiện chính sách Bảo hiểm xã hội theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội còn nhiều bất cập; chế tài xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực Bảo hiểm xã hội còn quá nhẹ, tính cưỡng chế của pháp luật chưa nghiêm; mức phạt lãi chậm nộp Bảo hiểm xã hội thấp so với lãi suất ngân hàng, nên tình trạng chậm đóng, nợ đọng, tham gia không đầy đủ, hoặc không tham gia Bảo hiểm xã hội đang xảy ra; nhận thức của một số chủ sử dụng lao động (SDLĐ) về chính sách, pháp luật Bảo hiểm xã hội còn hạn chế, trách nhiệm xã hội chưa cao, ý thức chấp hành pháp luật thấp, vì lợi nhuận chủ SDLĐ cố tình trốn tránh trách nhiệm đóng Bảo hiểm xã hội cho Người lao động, không ký kết hợp đồng lao động hoặc chỉ ký hợp đồng dưới 3 tháng (để lách luật), Người lao động thì do áp lực thu nhập, việc làm nên ngại đấu tranh; công tác tuyên truyền, phổ biến chính sách pháp luật Bảo hiểm xã hội chưa thực sự đi vào chiều sâu, thiếu tính đồng bộ giữa các ngành, nên một bộ phận Người lao động, nhân dân chưa hiểu được bản chất tốt đẹp, tính cộng đồng, nhân đạo và nhân văn cao cả của chính sách Bảo hiểm xã hội, do đó chưa tích cực tham gia Bảo hiểm xã hội.

Từ những bất cập nêu trên, việc nghiên cứu đề tài “Thực hiện pháp luật về bảo hiểm xã hội qua thực tiễn Quận Bắc Từ Liêm” là một đòi hỏi cấp bách, có ý nghĩa lý luận và thực tiễn thiết thực, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người tham gia và thụ hưởng chính sách Bảo hiểm xã hội, tạo tiền đóng góp phần phát triển kinh tế – xã hội và đảm bảo ổn định chính trị của Quận.

2. Tình hình nghiên cứu liên quan Luận văn: Pháp luật về bảo hiểm xã hội tại Quận Bắc Từ Liêm.

Cho đến nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu rộng mang tính bao quát cao ở lĩnh vực Bảo hiểm xã hội với qui mô rộng, hẹp khác nhau, trong điều kiện thời gian khác nhau. Bảo hiểm xã hội là một ngành có tầm quan trọng rất lớn đối với nền kinh tế xã hội, được coi là trụ cột quan trọng trong hệ thống an sinh xã hội của đất nước, vì vậy được Đảng và nhà nước ta hết sức quan tâm. Có rất nhiều tài liệu nghiên cứu về ngành Bảo hiểm xã hội tại Việt Nam. “Thực trạng và định hướng hoàn thiện tác nghiệp chi trả các chế độ bảo hiểm xã hội hiện nay”, đề tài cấp Bộ, chủ nghiệm đề tài TS. Dương Xuân Triệu. Đề tài “ Hoàn thiện về pháp luật Bảo hiểm xã hội ở Việt Nam”, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường, Trường Đại học Luật Hà Nội, chủ nhiệm đề tài Nguyễn Thị Kim Phụng, năm 2016. Đề tài: “Chiến lược phát triển bảo hiểm xã hội phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội đến năm 2020”, đề tài cấp Bộ, chủ nhiệm đề tài TS. Nguyễn Huy Ban. Đề tài: “Hoàn thiện quản lý quỹ bảo hiểm xã hội ở Việt Nam”, luận án tiến sĩ kinh tế, tác giả luận án TS. Đỗ Văn Sinh, năm 2015. Các đề tài nghiên cứu trước đó nghiên cứu đã chỉ ra những khía cạnh khác nhau về ngành Bảo hiểm xã hội trong các năm qua, đồng thời dự báo, định hướng phát triển trong tương lai và có liên quan nhất định tới thực hiện pháp luật quận Bắc Từ Liêm. Đề tài “Thực hiện pháp luật về bảo hiểm xã hội qua thực tiễn tại Quận Bắc Từ Liêm” tác giả lựa chọn nghiên cứu không trùng lặp với các nghiên cứu trước đó, đồng thời đề xuất các giải pháp và kiến nghị của mình nhằm đảm bảo thực hiện pháp luật Bảo hiểm xã hội trên địa bàn quận Bắc Từ Liêm góp phẩn đảm bảo an sinh và công bằng xã hội, vì một xã hội công bằng, dân chủ và văn minh.

3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích: Tìm hiểu thực trạng thực hiện pháp luật về Bảo hiểm xã hội ở Quận Bắc Từ Liêm, chỉ ra những mặt tồn tại, yếu kém và nguyên nhân, từ đó đề xuất các quan điểm, giải pháp phù hợp mang tính khả thi nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật Bảo hiểm xã hội trong thời gian tới, phục vụ tốt hơn quyền lợi Bảo hiểm xã hội cho Người lao động trong tỉnh.

Nhiệm vụ: đễ thực hiện mục tiêu trên luận văn có nhiệm vụ:

  • Làm ra lý luận chung về pháp luật Bảo hiểm xã hội; và thực hiện pháp luật về Bảo hiểm xã hội;
  • Phân tích đánh giá thực trạng thức hiện pháp luật về Bảo hiểm xã hội trên địa bàn Quận, tìm ra những hạn chế, vướng mắc và nguyên nhân; Luận văn: Pháp luật về bảo hiểm xã hội tại Quận Bắc Từ Liêm.
  • Đề ra một sè giải pháp đễ hoàn thiện pháp luật Bảo hiểm xã hội trên địa bàn Quận Bắc Từ Liêm.

4. Ðối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng: Luận văn sẽ tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn thực hiện pháp luật về Bảo hiểm xã hội qua thực tiễn tại Quận Bắc Từ Liêm dưới góc độ lý luận chung về nhà nước và pháp luật. Thời gian nghiên cứu giới hạn trong 3 năm từ năm 2022 đến năm 2024.

Phạm vi nghiên cứu

  • Những vấn đề lý luận về Bảo hiểm xã hội;
  • Thực trạng thực hiện pháp luật về Bảo hiểm xã hội;
  • Hướng hoàn thiện các chế độ Bảo hiểm xã hội.

Nghiên cứu: nghiên cứu thực hiện pháp luật về Bảo hiểm xã hội trên địa bàn Bảo hiểm xã hội Quận Bắc Từ Liêm trong thời gian 3 năm Từ năm 2022 – 2024.

5. Phương pháp nghiên cứu

Luận văn thực hiện trên cơ sở Phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối đổi mới của đảng được đề ra trong các kỳ đại hội đại biễu đảng toàn quận liên quan đến Bảo hiểm xã hội, đặc biệt là thị 15/CT-TW ngày 26/5/1997 của Bộ chính trị đảng Cộng sản Việt Nam. Luận văn: Pháp luật về bảo hiểm xã hội tại Quận Bắc Từ Liêm.

Phương pháp luận: Đề tài được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, hệ thống các quan điểm lý luận của Đảng, các quy định pháp luật của Chính Phủ và Nhà nước về công tác quản lý chi trả các chế độ bảo hiểm xã hội

  • Trong quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả sử dụng các phương pháp sau:

Phương pháp thống kê những số liệu thực tế qua các năm về thực hiện pháp luật trên địa bàn quận Bắc Từ Liêm

Phương pháp tổng hợp, phân tích, so sánh nhằm đưa ra những nhận định, đánh giá thực trạng thực hiện pháp luật trên địa bàn quận, so sánh về đối tượng tham gia Bảo hiểm xã hội, về tình hình quản lý thu, chi Bảo hiểm xã hội, về thực trạng chấp hành, áp dụng, sử dụng pháp luật Bảo hiểm xã hội qua các năm để có những phương hướng, giải pháp đảm bảo thực hiện pháp luật trên địa bàn quận Bắc Từ Liêm.

6. Ðóng góp của luận văn

Luận văn phân tích thực trạng thực hiện pháp luật Bảo hiểm xã hội trên địa bàn, trong đó nêu lên những kết quả đạt được, những vấn đề còn tồn tại và nguyên nhssn của nó đễ đề xuất một sè giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật Bảo hiểm xã hội tại Quận Bắc Từ Liêm.

7. Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm 3 chương:

  • Chương I. Cơ sở lý luận về thực hiện pháp luật Bảo hiểm xã hội
  • Chương II. Thực trạng thực hiện pháp luật Bảo hiểm xã hội trên địa bàn Quận Bắc Từ Liêm
  • Chương III. Phương hướng, giải pháp bảo đảm thực hiện pháp luật về bảo hiễm xã hội trên địa bàn Quận Bắc Từ Liêm

Chương I CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT BẢO HIỂM XÃ HỘI

1.1. Khái niệm về Bảo hiểm xã hội

1.1.1. Khái niệm Bảo hiểm xã hội

Hệ thống Bảo hiểm xã hội đầu tiên ra đời trên thế giới vào giữa thế kỷ XIX là công trình của Chính phủ Đức dưới thời Thủ tướng Bismark (1883-1889) với cơ chế ba bên (Nhà nước – giới chủ – giới thợ) cùng đóng góp nhằm bảo hiểm cho Người lao động trong một số trường hợp họ gặp rủi ro. Chế độ Bảo hiểm xã hội này bao gồm: Chế độ bảo hiểm ốm đau (1883); bảo hiểm tai nạn nghề nghiệp (1884) và bảo hiểm tuổi già, tàn tật (1889). Sau đó, trước tác dụng tích cực của Bảo hiểm xã hội trong quan hệ lao động nhiều nước bắt đầu áp dụng hệ thống Bảo hiểm xã hội. Trong những năm 30 của thế kỷ XX, một số nước còn mở rộng thêm những chế độ khác ngoài Bảo hiểm xã hội và xuất hiện khái niệm mới: Social Security (an sinh, an toàn xã hội). Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) đó có Công ước số 102 năm 1952 về an sinh xã hội. Hiện nay, trên thế giới nói chung người ta coi Bảo hiểm xã hội là một bộ phận cấu thành của an sinh xã hội. Luận văn: Pháp luật về bảo hiểm xã hội tại Quận Bắc Từ Liêm.

Ở nước ta, xét về mặt lịch sử, Bảo hiểm xã hội xuất hiện vào những năm 30 của thế kỷ XX, một số chế độ được áp dụng khi đó là chế độ ốm đau, chế độ tai nạn, chế độ hưu trí và cũng chỉ áp dụng cho một số đối tượng làm việc, phục vụ trong bộ máy hành chính, quân đội của Pháp. Sau khi nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời, tại văn bản pháp luật cao nhất đó có những quy định về Bảo hiểm xã hội, thể hiện sự quan tâm và nhận thức của Nhà nước về vấn đề này. Điều 14 Hiến pháp năm 1946 quy định: “Những người công dân già cả hoặc tàn tật, không làm được việc thì được giúp đỡ…”. Sau đó, các sắc lệnh số 29-SL ngày 12/3/1947, Sắc lệnh số 76-SL ngày 20/5/1950, Sắc lệnh số 77-SL ngày 22/5/1950 ở các mức độ khác nhau quy định về quyền hưởng Bảo hiểm xã hội của NLĐ thông qua các chế độ cụ thể. Song về tình hình chính trị – xã hội phức tạp khi đó cũng như những khó khăn về quỹ, về đối tượng tham gia và hưởng Bảo hiểm xã hội… mà pháp luật Bảo hiểm xã hội chưa được áp dụng theo nghĩa đầy đủ về mặt nội dung pháp lý cũng như xã hội của nó.

Pháp luật Bảo hiểm xã hội được chính thức áp dụng rộng rói kể từ khi Chính phủ ban hành Nghị định số 218/CP ngày 27/12/1961 kèm theo Điều lệ tạm thời về Bảo hiểm xã hội đối với công nhân, viên chức nhà nước. Văn bản pháp luật này điều chỉnh tất cả các vấn đề về Bảo hiểm xã hội ở nước ta trong suốt thời gian dài, từ khi được ban hành cho đến những năm 80 của thế kỷ XX. Sau đó, với sự thừa nhận và phát triển của nền kinh tế thị trường, pháp luật nói chung và pháp luật Bảo hiểm xã hội nói riêng đó có sự đổi mới về chất. Điều 56 Hiến pháp năm 1992 (được sửa đổi, bổ sung năm 2011) ghi nhận: “Nhà nước quy định… chế độ Bảo hiểm xã hội đối với viên chức nhà nước và những người làm công ăn lương; khuyến khích phát triển các hình thức Bảo hiểm xã hội khác đối với Người lao động”. Trên cơ sở đó, Chính phủ ban hành Nghị định số 43/CP ngày 22/6/1993 quy định tạm thời chế độ Bảo hiểm xã hội. Sau một thời gian thực hiện, trên cơ sở đúc rút kinh nghiệm và từ yêu cầu của thực tế đời sống, pháp luật Bảo hiểm xã hội được xây dựng thành một chương độc lập (chương XII) trong Bộ luật Lao động ngày 23/6/1994 đó tạo ra cơ sở pháp lý cho việc đổi mới, cải cách chế độ Bảo hiểm xã hội. Để cụ thể hóa các quy định của Bộ luật Lao động, Chính phủ ban hành Nghị định số 12/CP ngày 26/01/1995 kèm theo Điều lệ Bảo hiểm xã hội; Nghị định số 45/CP ngày 15/7/1995 về việc ban hành Điều lệ Bảo hiểm xã hội đối với sỹ quan, quân nhân chuyên nghiệp, hạ sỹ quan, binh sỹ quân đội nhân dân và công an nhân dân và Nghị định số 19/CP ngày 16/02/1995 về việc thành lập Bảo hiểm xã hội Việt Nam. Với sự sửa đổi, bổ sung Bộ luật Lao động (tháng 4/2012) trong đó có các nội dung về Bảo hiểm xã hội, Nghị định của Chính phủ số 01/2013/NĐ-CP ngày 09/01/2013 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Điều lệ Bảo hiểm xã hội ban hành kèm theo Nghị định số 12/CP ngày 26/01/1995 được ban hành. Tiếp đó, trên cơ sở các cam kết của Chính phủ Việt Nam trong việc gia nhập WTO về chính sách an sinh xã hội cùng với sự chín muồi về nhận thức, về điều kiện kinh tế – xã hội đất nước, nhu cầu của đời sống xã hội… ngày 29/6/2016 tại kỳ họp thứ 9, Quốc hội khóa XI nước ta đó thông qua Luật Bảo hiểm xã hội và có hiệu lực từ ngày 01/01/2017 (riêng đối với Bảo hiểm xã hội tự nguyện có hiệu lực từ ngày 01/01/2018; Bảo hiểm thất nghiệp có hiệu lực từ ngày 01/01/2019). Như vậy Bảo hiểm xã hội xuất hiện và phát triển cùng với quá trình phát triển kinh tế – xã hội của nhân loại. Theo Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) thì nước Phổ (nay thuộc Cộng hòa liên bang Đức) là nước đầu tiên trên thế giới ban hành chế độ bảo hiểm ốm đau vào năm 1883, đánh dấu sự ra đời của Bảo hiểm xã hội. Đến nay, Bảo hiểm xã hội trở thành nền tảng cơ bản của hệ thống ASXH của mỗi quốc gia, được thực hiện ở hầu hết các nước trên thế giới và ngày càng phát triển. Mặc dù đã có quá trình phát triển tương đối dài, nhưng cho đến nay còn có nhiều khái niệm về Bảo hiểm xã hội, chưa có khái niệm thống nhất, chẳng hạn như: Luận văn: Pháp luật về bảo hiểm xã hội tại Quận Bắc Từ Liêm.

Theo Tổ chức Lao động quốc tế: “BHXH là hình thức bảo trợ mà xã hội dành cho các thành viên của mình thông qua nhiều biện pháp công nhằm tránh tình trạng khốn khó về mặt kinh tế và xã hội do bị mất hoặc giảm đáng kể thu nhập vì bệnh tật, thai sản, tai nạn lao động, mất sức lao động và tử vong; chăm sóc y tế và trợ cấp cho các gia đình có con nhỏ”.

Theo Bộ luật Lao động: “Bảo hiểm xã hội là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho người lao động khi họ bị mất hoặc giảm khoản thu nhập từ nghề nghiệp do bị mất hoặc giảm khả năng lao động hoặc mất việc làm do những rủi ro xã hội thông qua việc hình thành, sử dụng một quỹ tài chính do sự đóng góp của các bên tham gia bảo hiểm xã hội, nhằm góp phần đảm bảo an toàn đời sống của người lao động và gia đình họ, đồng thời góp phần đảm bảo an toàn xã hội” [28, tr.7].

Theo Từ điển tiếng Việt, Bảo hiểm xã hội là sự: “Bảo đảm những quyền lợi vật chất cho công nhân, viên chức khi không làm việc được vì ốm đau, sinh đẻ, già yếu, bị tai nạn lao động…” [37, tr.36].Theo Đỗ Văn Sinh: “BHXH là biện pháp Nhà nước sử dụng để đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho người tham gia bảo hiểm, khi họ gặp phải những biến cố rủi ro làm suy giảm sức khỏe, mất khả năng lao động, mất việc làm, hết tuổi lao động, chết; gắn liền với quá trình tạo lập một quỹ tiền tệ tập trung được hình thành bởi các bên tham gia Bảo hiểm xã hội đóng góp và việc sử dụng quỹ đó cung cấp tài chính nhằm ổn định đời sống cho họ và gia đình họ, góp phần đảm bảo an toàn xã hội” [22, tr.14].

BHXH cũng được tiếp cận dưới những góc độ khác nhau:

  • Dưới góc độ chính sách: Bảo hiểm xã hội là một chính sách xã hội, nhằm giải quyết các chế độ xã hội liên quan đến một tầng lớp đông đảo người lao động và bảo vệ sự phát triển kinh tế – xã hội, sự ổn định chính trị quốc gia.
  • Dưới góc độ tài chính: Bảo hiểm xã hội là một quỹ tài chính tập trung, được hình thành từ sự đóng góp của các bên tham gia và có sự hỗ trợ của Nhà nước.
  • Dưới góc độ thu nhập: Bảo hiểm xã hội là sự đảm bảo thay thế một phần thu nhập khi người lao động có tham gia Bảo hiểm xã hội bị mất hoặc giảm thu nhập.
  • Dưới góc độ quản lý: Bảo hiểm xã hội là công cụ quản lý của Nhà nước để điều chỉnh mối quan hệ kinh tế giữa người lao động, người sử dụng lao động và Nhà nước; thực hiện quá trình phân phối và phân phối lại thu nhập giữa các thành viên trong xã hội.

Khái niệm Bảo hiểm xã hội được khái quát một cách đầy đủ nhất trong Luật Bảo hiểm xã hội được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa IX, kỳ họp thứ 9 thông qua ngày 29 tháng 6 năm 2016 như sau: “Bảo hiểm xã hội là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ bảo hiểm xã hội” [29].

Khái niệm Bảo hiểm xã hội được sử dụng trong toàn bộ nghiên cứu của luận văn là khái niệm Bảo hiểm xã hội đã được ghi trong Luật Bảo hiểm xã hội được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa IX, kỳ họp thứ 9 thông qua ngày 29 tháng 6 năm 2016.

1.1.2. Vai trò của Bảo hiểm xã hội Luận văn: Pháp luật về bảo hiểm xã hội tại Quận Bắc Từ Liêm.

Từ khi ra đời cho đến nay, Bảo hiểm xã hội thể hiện rất rõ vai trò của nó trong đời sống kinh tế – xã hội. Cụ thể:

  • Đối với người lao động

Mục đích chủ yếu của Bảo hiểm xã hội là bảo đảm thu nhập cho người lao động và gia đình họ khi gặp những khó khăn trong của họ trong cuộc sống làm giảm hoặc mất thu nhập; vì vậy, bảo hiểm xã hội có vai trò to lớn đối với người lao động. Trước hết đó là điều kiện cho người lao động được cộng đồng tương trợ khi ốm đau, tai nạn…Đồng thời, bảo hiểm xã hội cũng là cơ hội để mỗi người thực hiện trách nhiệm tương trợ cho những khó khăn của các thành viên khác. Tham gia Bảo hiểm xã hội còn giúp người lao động nâng cao hiệu quả trong chi dùng cá nhân, giúp họ tiết kiệm những khoản nhỏ, đều đặn để có nguồn dự phòng cần thiết chi dùng khi già cả, mất sức lao động…góp phần ổn định cuộc sống cho bản thân và gia đình. Đó không chỉ là nguồn hỗ trợ vật chất mà còn là nguồn động viên tinh thần to lớn đối với mỗi cá nhân khi gặp khó khăn, làm cho họ ổn định về tâm lý, giảm bớt lo lắng khi ốm đau, tai nạn, tuổi già. Người lao động tham gia bảo hiểm xã hội được đảm bảo về thu nhập ổn định ở mức độ cần thiết nên thường có tâm lý yên tâm, tự tin hơn trong cuộc sống. Nhờ có Bảo hiểm xã hội, cuộc sống của những thành viên trong gia đình người lao động cũng được đảm bảo an toàn.

  • Đối với người sử dụng lao động

BHXH giúp cho các tổ chức sử dụng lao động ổn định hoạt động, ổn định sản xuất kinh doanh thông qua việc phân phối các chi phí cho người lao động một cách hợp lý. Bởi bảo hiểm xã hội giúp ổn định tâm lý người lao động giúp họ yên tâm làm việc tại đơn vị, do đó ổn định được số lao động tại các đơn vị. Bảo hiểm xã hội tạo điều kiện để người sử dụng lao động có trách nhiệm với người lao động, không chỉ khi trực tiếp sử dụng lao động mà trong suốt cuộc đời người lao động, cho đến khi già yếu.

BHXH còn giúp các đơn vị sử dụng lao động ổn định nguồn chi, ngay cả khi có rủi ro lớn xảy ra thì cũng không lâm vào tình trạng nợ nần hay phá sản. Nhờ đó các chi phí được chủ động hạch toán, ổn định và tạo điều kiện để phát triển không phụ thuộc nhiều vào hoàn cảnh khách quan. Luận văn: Pháp luật về bảo hiểm xã hội tại Quận Bắc Từ Liêm.

  • Đối với nhà nước và hệ thống an sinh xã hội

Với tư cách là một trong những chính sách kinh tế xã hội của Nhà nước, Bảo hiểm xã hội sẽ “ bảo hiểm” cho người lao động, hoạt động Bảo hiểm xã hội sẽ giải quyết những “ trục trặc”,“ rủi ro” xảy ra đối với những người lao động, góp phần tích cực của mình vào việc phục hồi năng lực làm việc, khả năng sáng tạo của sức lao động. Sự góp phần này tác động trực tiếp đến việc nâng cao năng suất lao động cá nhân, đồng thời góp phần tích cực của mình vào việc nâng cao năng suất lao động xã hội. Với sự trợ giúp cho người lao động khi họ gặp phải rủi ro bằng cách tạo ra thu nhập thay thế thì Bảo hiểm xã hội đã gián tiếp tác động đến chính sách tiêu dùng quốc gia làm tăng sự tiêu dùng cho xã hội.

BHXH còn là sự phản ánh trình độ phát triển kinh tế xã hội của một quốc gia. Nếu nền kinh tế chậm phát triển, xã hội lạc hậu, đời sống nhân dân thấp kém thì chính sách bảo hiểm xã hội cũng chậm phát triển ở mức tương ứng. Khi kinh tế càng phát triển, đời sống của người lao động được nâng cao thì nhu cầu tham gia Bảo hiểm xã hội của họ càng lớn. Thông qua hệ thống bảo hiểm xã hội, trình độ tổ chức, quản lý rủi ro xã hội của các nhà nước cũng ngày càng được nâng cao thể hiện bằng việc mở rộng đối tượng tham gia, đa dạng về hình thức bảo hiểm, quản lý được nhiều trường hợp rủi ro trên cơ sở phát triển các chế độ bảo hiểm xã hội  Ở một phương diện nhất định, bảo hiểm xã hội còn phản ánh và góp phần nâng cao trình độ văn hóa của cộng đồng.

Hiện nay, khi đã trở thành một cấu phần cơ bản nhất trong hệ thống an sinh xã hội, bảo hiểm xã hội là cơ sở để phát triển các bộ phận an sinh xã hội khác. Các nhà nước thường căn cứ vào mức độ bao phủ chính sách bảo hiểm xã hội để xác định những đối tượng nào còn gặp khó khăn, cần cộng đồng chia sẻ nhưng chưa được tham gia Bảo hiểm xã hội để thiết kế những mạng lưới khác của anh sinh xã hội như trợ cấp, cứu trợ xã hội…Trên cơ sở đó, bảo hiểm xã hội là căn cứ để đánh giá trình độ quản lý rủi ro của từng quốc gia và mức độ an sinh xã hội đạt được trong mỗi nước. Bảo hiểm xã hội góp phần vào việc thực hiện công bằng xã hội, là công cụ phân phối lại thu nhập giữa những người tham gia Bảo hiểm xã hội

1.1.3. Các chế độ Bảo hiểm xã hội và hình thức tham gia Bảo hiểm xã hội

  • Các chế độ Bảo hiểm xã hội Luận văn: Pháp luật về bảo hiểm xã hội tại Quận Bắc Từ Liêm.

Chế độ Bảo hiểm xã hội là sự cụ thể hoá chính sách Bảo hiểm xã hội, là hệ thống các quy định cụ thể và chi tiết, là sự bố trí, sắp xếp các phương tiện để thực hiện Bảo hiểm xã hội đối với Người lao động. Nói cách khác, đó là một hệ thống các quy định được pháp luật hoá về đối tượng hưởng, nghĩa vụ và mức đóng góp cho từng trường hợp Bảo hiểm xã hội cụ thể.

Hiện nay, tồn tại 9 chế độ Bảo hiểm xã hội, song tuỳ theo điều kiện kinh tế – xã hội của mỗi quốc gia trong từng thời kỳ, mà số lượng các chế độ được thực hiện ở mỗi nước khác nhau. Ở nước ta, Điều 4 Luật Bảo hiểm xã hội quy định rõ các chế độ Bảo hiểm xã hội, gồm:

BHXH bắt buộc bao gồm các chế độ sau đây: (1)Ốm đau; (2)Thai sản; (3)Tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; (4)Hưu trí; (5)Tử tuất. BHXH tự nguyện bao gồm các chế độ sau đây: (1) Hưu trí; (2) Tử tuất. BHTN bao gồm các chế độ sau đây: (1) Trợ cấp thất nghiệp; (2) Hỗ trợ học nghề; (3) Hỗ trợ tìm việc làm.

  • Hình thức tham gia Bảo hiểm xã hội

Hiện nay, có hai loại hình Bảo hiểm xã hội cơ bản: Bảo hiểm xã hội bắt buộc và Bảo hiểm xã hội tự nguyện

BHXH bắt buộc là loại hình Bảo hiểm xã hội mà Người lao động và người SDLĐ bắt buộc phải tham gia. [29]

BHXH tự nguyện là loại hình Bảo hiểm xã hội mà Người lao động tự nguyện tham gia, được lựa chọn mức đóng và phương thức đóng phù hợp với thu nhập của mình để hưởng Bảo hiểm xã hội.[29]

Thực tế cho thấy, giữa Bảo hiểm xã hội bắt buộc và Bảo hiểm xã hội tự nguyện vẫn có một vài điểm khác nhau: Đối tượng tham gia, phương thức đóng, mức đóng và hưởng giữa hai hình thức tham gia…

Qua đó, cần phân biệt rõ trong công tác quản lý Nhà nước về Bảo hiểm xã hội bắt buộc và tự nguyện. Tránh nhầm lẫn khi xem xét các vấn đề liên quan trong công tác chi trả các chế độ Bảo hiểm xã hội cho người lao động theo hình thức mà họ tham gia là bắt buộc hay tự nguyện. Mỗi quốc gia có những điều kiện kinh tế – xã hội khác nhau, vì thế tùy theo khả năng của quốc gia đó mà triển khai các chế độ Bảo hiểm xã hội tự nguyện cho hợp lý, đạt mục tiêu cao nhất là sự an tâm cho đối tượng tham gia Bảo hiểm xã hội dù ở hình thức bắt buộc hay tự nguyện.

Dù tham gia Bảo hiểm xã hội bắt buộc hay tự nguyện thì mục tiêu của Bảo hiểm xã hội vẫn là: đảm bảo lợi ích của người tham gia bảo hiểm và ổn định cuộc sống cho họ khi gặp khó khăn. Các quốc gia đang dần tiến tới Bảo hiểm xã hội cho toàn dân, nhằm đảm bảo cho xã hội phát triển an toàn và bền vững….

1.2. Khái niệm thực hiện pháp luật và thực hiện pháp luật bảo hiểm xã hội Luận văn: Pháp luật về bảo hiểm xã hội tại Quận Bắc Từ Liêm.

1.2.1. Khái niệm thực hiện pháp luật

Cho đến nay, có rất nhiều nhà khoa học về luật học đứng trên các bình diện khác nhau nghiên cứu về thực hiện pháp luật và có nhiều cách luận giải vấn đề thực hiện pháp luật như sau:

Quan điểm thứ nhất: Giáo trình Lý luận chung Nhà nước và Pháp luật của Học viện Chính trị – Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh có viết: “Thực hiện pháp luật là một hiện tượng xã hội mang tính quản lý. Quá trình hoạt động thực hiện pháp luật diễn ra đồng thời và tiếp nối quá trình xây dựng và hoàn thiện pháp luật của Nhà nước” [23, tr.270].

Theo quan điểm trên thì xây dựng pháp luật và thực hiện pháp luật là hai dạng hoạt động khác nhau nhưng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Xây dựng pháp luật là quá trình hoạt động của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhằm ban hành pháp luật và không ngừng hoàn thiện hệ thống pháp luật, còn thực hiện pháp luật là hoạt động diễn ra đồng thời và nhằm thực hiện vai trò quản lý xã hội của nhà nước.

Quan điểm thứ hai: Theo giáo trình Lý luận chung Nhà nước và Pháp luật của Trường Đại học Luật Hà Nội: “Thực hiện pháp luật là hoạt động có mục đích nhằm thực hiện các quy định của pháp luật, làm cho chúng đi vào cuộc sống, trở thành hành vi thực tế hợp pháp của chủ thể pháp luật” [34, tr.463].

Quan điểm này cho thấy thực hiện pháp luật có thể là hành vi của cá nhân, cũng có thể là hoạt động của các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội… nhằm làm cho pháp luật được thực thi trong cuộc sống.

Quan điểm thứ ba: Theo giáo trình Lý luận chung Nhà nước và Pháp luật của Khoa Luật, Trường Đại học Quốc gia Hà Nội:

Thực hiện pháp luật là hành vi hành động hoặc không hành động của con người phù hợp với những quy định của pháp luật. Nói cách khác, tất cả những hoạt động nào của con người, của tổ chức mà thực hiện phù hợp với quy định của pháp luật thì được coi là sự thực hiện thực tế của quy phạm pháp luật [36, tr.369].

Bên cạnh những quan điểm chính thức như trên, hiện nay còn có một số nhà khoa học pháp lý có cách tiếp cận về thực hiện pháp luật và đưa ra các luận giải về thực hiện pháp luật khá phong phú như:

PGS.TS Nguyễn Minh Đoan cho rằng: Thực hiện pháp luật trước hết là một trong những hình thức để thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước. Tất cả các Nhà nước để có thể tổ chức, quản lý được xã hội đều bắt buộc phải tiến hành xây dựng pháp luật và ban hành quy phạm pháp luật, Nhà nước mong muốn sử dụng pháp luật để điều chỉnh các quan hệ xã hội phục vụ lợi ích và mục đích của Nhà nước và xã hội. [1, tr 18 ] Luận văn: Pháp luật về bảo hiểm xã hội tại Quận Bắc Từ Liêm.

Điều đó chỉ có thể đạt được khi các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành được các tổ chức và cá nhân trong xã hội thực hiện một cách chính xác, đầy đủ.

Theo đó, thực hiện pháp luật là hành vi hợp pháp của các chủ thể pháp luật. Pháp luật được đặt ra là để điều chỉnh ở dạng hành vi pháp luật của con người. Hành vi đó có thể là hành vi hành động hoặc không hành động phù hợp với những quy luật.

Tóm lại, trong tất cả các quan điểm về thực hiện pháp luật nêu trên đều có những khía cạnh, ý kiến khác nhau về thực hiện pháp luật. Tuy nhiên, tựu chung lại, các quan điểm về thực hiện pháp luật đều thể hiện nội dung cốt lõi của vấn đề đó là:

Thực hiện pháp luật là quá trình hoạt động có mục đích làm cho những quy định của pháp luật trở thành hiện thực trong cuộc sống, tạo ra cơ sở pháp lý cho hoạt động thực tế của chủ thể pháp luật.

Qua khái niệm về thực hiện pháp luật nêu trên, có thể hiểu rằng các tổ chức và cá nhân là chủ thể của pháp luật khi gặp phải những tình huống mà quy phạm pháp luật đã nêu ra ở phần giả định thì các chủ thể phải tự hành động hoặc không hành động sao cho phù hợp với những quy định của pháp luật. Hay nói cách khác thực hiện pháp luật là một quá trình hoạt động có mục đích, có lý trí và có ý chí của các chủ thể pháp luật, làm cho những quy định của pháp luật đi vào cuộc sống, phù hợp với lợi ích và ý chí của Nhà nước.

Quá trình thực hiện pháp luật được tiến hành qua các hình thức khác nhau và thực hiện pháp luật bao gồm các hình thức: tuân thủ pháp luật, thi hành pháp luật, sử dụng pháp luật và áp dụng pháp luật.

Từ các quan điểm lý luận về thực hiện pháp luật trên có thể đi đến khái niệm thực hiện pháp luật như sau: Thực hiện pháp luật là hoạt động có mục đích nhằm hiện thực hóa các quy định của pháp luật, làm cho chúng đi vào cuộc sống, trở thành những hành vi thực tế hợp pháp của các chủ thể pháp luật.

1.2.2. Khái niệm thực hiện pháp luật về bảo hiểm xã hội Luận văn: Pháp luật về bảo hiểm xã hội tại Quận Bắc Từ Liêm.

  • Khái niệm pháp luật bảo hiểm xã hội

Pháp luật Bảo hiểm xã hội là hệ thống các quy tắc xử sự bao gồm các quyền và nghĩa vụ của các chủ thể tham gia Bảo hiểm xã hội. Tổng thể các quyền và nghĩa vụ này tạo thành quy chế pháp lý buộc Người lao động, Người sử dụng lao động và Nhà nước phải có trách nhiệt với nhau trong việc thực hiện và bảo đảm duy trì quan hệ lao động hài hòa, ổn định. Tổng hợp các quy phạm pháp luật về Bảo hiểm xã hội này do Cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành nhằm thực hiện hiến pháp, luật và các văn bản dưới luật, trong đó Luật Bảo hiểm xã hội là trung tâm quy định các chế độ, chính sách Bảo hiểm xã hội, quyền và trách nhiệm của Người lao động, của cơ quan, tổ chức và cá nhân tham gia Bảo hiểm xã hội, tổ chức Bảo hiểm xã hội, quỹ Bảo hiểm xã hội, thủ tục thực hiện Bảo hiểm xã hội và quản lý nhà nước về Bảo hiểm xã hội.

  • Đặc điểm của pháp luật bảo hiểm xã hội

Pháp luật về Bảo hiểm xã hội chủ yếu mang tính bắt buộc và thường phát sinh trên cơ sở của quan hệ lao động

BHXH là một trong những chính sách xã hội cơ bản của Nhà nước, được áp dụng cho mọi Người lao động. Tuy nhiên, Bảo hiểm xã hội lại có tính bắt buộc đối với một số đối tượng lao động nhất định và đây là một trong những đặc trưng của quan hệ pháp luật về Bảo hiểm xã hội so với các quan hệ pháp luật an sinh xã hội khác. Bởi vì, chế độ Bảo hiểm xã hội là để bảo đảm ổn định đời sống cho những Người lao động có thu nhập. Khi có thu nhập thường xuyên, mỗi Người lao động đều phải có trách nhiệm tích lũy, đề phòng những rủi ro trong cuộc sống. Mặt khác, quy định bắt buộc của Nhà nước còn nhằm mục đích ràng buộc trách nhiệm của Người sử dụng lao động với Người lao động trong quá trình sử dụng lao động. Họ không chỉ phải trả tiền lương cho Người lao động khi làm việc mà còn phải đóng Quỹ Bảo hiểm xã hội để bảo đảm đời sống cho Người lao động khi ốm đau, tai nạn, già yếu… Vì vậy, đối với những Người lao động có việc làm và thu nhập tương đối ổn định, dù muốn hay không, khi đã tham gia quan hệ lao động thì đồng thời họ và Người sử dụng lao động của họ cũng phải tham gia quan hệ pháp luật Bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật. Luận văn: Pháp luật về bảo hiểm xã hội tại Quận Bắc Từ Liêm.

Trong quan hệ pháp luật về Bảo hiểm xã hội, người hưởng bảo hiểm có nghĩa vụ đóng góp để hình thành Quỹ Bảo hiểm xã hội

Trong các quan hệ pháp luật an sinh xã hội khác như quan hệ pháp luật ưu đãi xã hội, cứu trợ xã hội, những đối tượng được hưởng không phải đóng góp quỹ. Nguồn quỹ để thực hiện các chế độ đó được lấy chủ yếu từ ngân sách nhà nước và sự hỗ trợ của các tổ chức cá nhân trong và ngoài nước. Riêng trong quan hệ pháp luật về Bảo hiểm xã hội, Quỹ Bảo hiểm xã hội được hình thành trên sự đóng góp của các bên tham gia Bảo hiểm xã hội. Với tư cách là người tổ chức, thực hiện các chính sách xã hội, Nhà nước có trách nhiệm bảo trợ cho quỹ để đảm bảo thực hiện các chế độ Bảo hiểm xã hội đã được Nhà nước quy định. Đây cũng là điều dễ lý giải bởi người có nhu cầu Bảo hiểm xã hội hoàn toàn khác so với những đối tượng được ưu đãi xã hội, và người cần cứu trợ xã hội. Khi còn sức lao động, còn khả năng lao động, Người lao động tham gia quan hệ lao động, được hưởng lương và mang lại lợi nhuận cho Người sử dụng lao động. Vì vậy, khi họ không còn khả năng lao động nữa hoặc khi họ bị suy giảm khả năng lao động thì Người sử dụng lao động phải có một phần trách nhiệm đối với họ. Về phía Người lao động, họ cũng phải có trách nhiệm đối với chính bản thân mình: tích lũy để đề phòng những bất trắc, rủi ro có tính tất yếu trong cuộc sống. Nhà nước chỉ hỗ trợ cho quá trình tích lũy cá nhân trở thành sự tích lũy của cộng đồng để giảm thiểu mức để dành (đóng quỹ) nhưng lại tăng hiệu quả sử dụng quỹ do có sự tương trợ cộng đồng giữa những người tham gia Bảo hiểm xã hội.

  • Khái niệm thực hiện pháp luật bảo hiểm xã hội

Thực hiện pháp luật Bảo hiểm xã hội nhằm tạo ý thức pháp luật cho các tổ chức, cá nhân thực hiện một cách nghiêm chỉnh, đầy đủ các quy định của pháp luật Bảo hiểm xã hội, góp phần quan trọng đối với sự phát triển kinh tế, sự ổn định và phát triển xã hội, góp phần giữ vững ổn định chính trị của đất nước.

Từ khái niệm về thực hiện pháp luật, khái niệm Bảo hiểm xã hội và pháp luật về Bảo hiểm xã hội có thể đi đến khái niệm thực hiện pháp luật về Bảo hiểm xã hội như sau: Thực hiện pháp luật về Bảo hiểm xã hội là quá trình hoạt động có mục đích của các chủ thể pháp luật Bảo hiểm xã hội nhằm hiện thực hoá các quy định của pháp luật Bảo hiểm xã hội, tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động thực tế của các chủ thể pháp luật, làm cho những quy định của pháp luật Bảo hiểm xã hội trở thành hiện thực trong cuộc sống.

1.2.3. Đặc điểm của thực hiện pháp luật về bảo hiểm xã hội Luận văn: Pháp luật về bảo hiểm xã hội tại Quận Bắc Từ Liêm.

BHXH là một hoạt động không thể thiếu trong đời sống xã hội và càng không thể thiếu được đối với Người lao động, vì nó đảm bảo điều kiện để ổn định cuộc sống cho Người lao động và gia đình họ. Trong quá trình thực hiện pháp luật Bảo hiểm xã hội có những đặc điểm căn bản khác với các ngành luật khác như sau:

  • Chủ thể thực hiện pháp luật về bảo hiểm xã hội

Nói đến chủ thể thực hiện pháp luật là nói đến cá nhân hoặc tổ chức mà theo quy định của pháp luật có các quyền và nghĩa vụ pháp lý và có khả năng trực tiếp hoặc thông qua người đại diện thực hiện các quyền và nghĩa vụ pháp lý đó. Các chủ thể thực hiện pháp luật phải có năng lực chủ thể và chịu trách nhiệm về hành vi của mình. Trong quan hệ về Bảo hiểm xã hội, các bên (thành viên, chủ thể) tham gia thực hiện pháp luật về Bảo hiểm xã hội gồm có: bên thực hiện Bảo hiểm xã hội, bên tham gia Bảo hiểm xã hội, bên được Bảo hiểm xã hội.

Ở nước ta, hiện nay hoạt động Bảo hiểm xã hội do Nhà nước thống nhất quản lý và tổ chức thực hiện. Hệ thống cơ quan Bảo hiểm xã hội được tổ chức thống nhất từ trung ương đến địa phương. Trong đó, hệ thống Bảo hiểm xã hội ở địa phương, ở cơ sở có ý nghĩa quan trọng trong việc đảm bảo đầy đủ, nhanh chóng, kịp thời các khoản trợ cấp cho người được bảo hiểm theo quy định của pháp luật. Các nhiệm vụ khác dù rất cần thiết nhưng đều phụ thuộc hoặc bổ sung cho nhiệm vụ trên. Nư vậy, bên thực hiện Bảo hiểm xã hội chịu trách nhiệm trước Nhà nước về việc thực hiện Bảo hiểm xã hội đối với mọi Người lao động theo quy định của pháp luật, đồng thời chịu trách nhiệm vật chất và tài chính đối với bên được bảo hiểm khi họ có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật.

Bên tham gia Bảo hiểm xã hội là người đóng góp phí Bảo hiểm xã hội để bảo hiểm cho mình hoặc cho người khác được hưởng Bảo hiểm xã hội. Theo quy định của pháp luật Việt Nam, bên tham gia Bảo hiểm xã hội bắt buộc gồm: Người sử dụng lao động, Người lao động và trong một số trường hợp là Nhà nước (đối với bảo hiểm thất nghiệp, một số đối tượng đặc biệt như: lực lượng vũ trang hưởng lương từ ngân sách nhà nước, chức vụ dân cử, Người lao động có thời gian công tác trước năm 1995).

Bên hưởng Bảo hiểm xã hội là Người lao động hoặc thành viên gia đình họ khi thỏa mãn đầy đủ các điều kiện Bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật. Luận văn: Pháp luật về bảo hiểm xã hội tại Quận Bắc Từ Liêm.

Bên thực hiện Bảo hiểm xã hội là cơ quan, đơn vị hoặc tổ chức thực hiện chức năng thu, quản lý và chi trả bảo hiểm cho người được Bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật. Nếu xét trong phạm vi chủ thể của một quan hệ Bảo hiểm xã hội nói chung, còn có thể gọi bên thực hiện Bảo hiểm xã hội là bên nhận Bảo hiểm xã hội.

Các bên tham gia quan hệ Bảo hiểm xã hội có mối quan hệ mật thiết với nhau. Việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của các bên được đặt trong mối liên hệ thống nhất. Song cũng như bất cứ một quan hệ pháp luật nào, trong quá trình phát sinh, tồn tại của quan hệ Bảo hiểm xã hội giữa các chủ thể không tránh khỏi có sự bất đồng với nhau dẫn đến tranh chấp. Đặc biệt khi bên tham gia Bảo hiểm xã hội (NSDLĐ) không phải là đối tượng được thụ hưởng các chế độ Bảo hiểm xã hội một cách trực tiếp, dễ dẫn đến những vi phạm pháp luật Bảo hiểm xã hội. Vì vậy, trong quá trình thực thi pháp luật Bảo hiểm xã hội cần nắm rõ đặc điểm này để có biện pháp quản lý phù hợp.

Trong đời sống kinh tế – xã hội các quy định của pháp luật thường được các chủ thể pháp luật nghiêm chỉnh thực hiện. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong xã hội vẫn có các chủ thể bất chấp các quy định của pháp luật dẫn đến sự vi phạm pháp luật. Vi phạm pháp luật là hành vi của các cá nhân hoặc tổ chức cụ thể, được thể hiện dưới dạng hành động hoặc không hành động. Thông qua những hành động hay không hành động cụ thể mới bị coi là hành vi vi phạm pháp luật. “Vi phạm pháp luật là hành vi trái luật, có lỗi do chủ thể có đủ năng lực trách nhiệm pháp lý thực hiện xâm phạm đến các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ” [23, tr.376].

Theo quy định tại Điều 41 và Điều 42 Nghị định số 86/2020/NĐ-CP ngày 13/8/2020 của Chính phủ (thay thế Nghị định số 135/2017/NĐ-CP ngày 16/8/2017) quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực Bảo hiểm xã hội, có hiệu lực thi hành từ 01/10/2020, các cơ quan tổ chức, cá nhân có thẩm quyền áp dụng pháp luật Bảo hiểm xã hội đó là:

Thanh tra nhà nước về lao động là cơ quan chuyên trách có chức năng kiểm tra, giám sát và xử phạt hành chính đối với những đối tượng có hành vi vi phạm pháp luật Bảo hiểm xã hội. Tùy theo mức độ vi phạm và thẩm quyền quy định mà Chánh thanh tra Bộ Lao động – Thương binh và xã hội (LĐ-TB&XH), Chánh thanh tra lao động cấp Sở hoặc thanh tra viên lao động khi đang thi hành công vụ ra quyết định xử lý vi phạm. Chủ tịch ủy ban nhân dân các cấp cũng có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực Bảo hiểm xã hội ở địa phương mình quản lý theo quy định của pháp luật. Trong trường hợp vi phạm nghiêm trọng thì sẽ bị xử lý hình sự theo quy định của Bộ luật Hình sự Việt Nam (sửa đổi, bổ sung năm 2019).

Ngoài ra, trong trường hợp xảy ra tranh chấp giữa Người lao động và Người sử dụng lao động về Bảo hiểm xã hội thì giải quyết theo quy định về giải quyết tranh chấp lao động. Nếu tranh chấp giữa Người lao động đã nghỉ việc với Người sử dụng lao động hoặc với cơ quan Bảo hiểm xã hội, giữa Người sử dụng lao động với cơ quan Bảo hiểm xã hội do hai bên thỏa thuận, trường hợp không giải quyết được thì do Tòa án nhân dân giải quyết (Điều 151 Bộ luật Lao động sửa đổi 2012).

1.2.4. Các hình thức thực hiện pháp luật về Bảo hiểm xã hội

Thực hiện pháp luật là một quá trình hoạt động có lý trí, có ý chí của các chủ thể pháp luật làm cho những quy định của pháp luật đi vào cuộc sống nhằm đạt được những mục đích nhất định vì lợi ích của mỗi thành viên, cũng như cả cộng đồng xã hội. Ở góc độ lý luận, thực hiện pháp luật Bảo hiểm xã hội là thực hiện pháp luật về một lĩnh vực cụ thể được tiến hành dưới bốn hình thức: tuân thủ pháp luật, chấp hành pháp luật, sử dụng pháp luật và áp dụng pháp luật.

  • Tuân thủ pháp luật trong lĩnh vực bảo hiểm xã hội Luận văn: Pháp luật về bảo hiểm xã hội tại Quận Bắc Từ Liêm.

Tuân thủ pháp luật là hình thức thực hiện pháp luật, trong đó yêu cầu các chủ thể pháp luật kiềm chế không tiến hành những hoạt động mà pháp luật cấm. Những quy phạm pháp luật cấm đoán được thực hiện ở hình thức này.

Tuân thủ pháp luật Bảo hiểm xã hội là việc chủ thể thực hiện pháp luật về Bảo hiểm xã hội tự kiềm chế không thực hiện những hành vi mà pháp luật Bảo hiểm xã hội ngăn cấm nhằm bảo đảm quyền lợi của Người lao động. Những hành vi bị nghiêm cấm được quy định tại Điều 14 Luật Bảo hiểm xã hội và Điều 7 Nghị định 152/2016/NĐ-CP ngày 22/12/2016 của Chính phủ hướng dẫn một số điều của Luật Bảo hiểm xã hội về Bảo hiểm xã hội bắt buộc, cụ thể như: không đóng Bảo hiểm xã hội, đóng không đúng mức, không đúng thời gian hoặc đóng không đủ số người thuộc diện tham gia Bảo hiểm xã hội theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội; gian lận, giả mạo hồ sơ trong việc thực hiện Bảo hiểm xã hội gồm kê khai không đúng sự thật hoặc sửa chữa, tẩy xóa làm sai lệch những nội dung có liên quan đến việc đóng, hưởng Bảo hiểm xã hội, làm giả các văn bản để đưa vào hồ sơ hưởng Bảo hiểm xã hội, cấp giấy chứng nhận sai quy định để làm cơ sở hưởng Bảo hiểm xã hội; sử dụng quỹ Bảo hiểm xã hội sai mục đích, sai chính sách, chế độ; gây phiền hà, trở ngại, làm thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của Người lao động, Người sử dụng lao động như cố tình gây khó khăn, cản trở, làm chậm việc đóng, hưởng Bảo hiểm xã hội của Người lao động, không cấp sổ Bảo hiểm xã hội hoặc không trả sổ Bảo hiểm xã hội cho Người lao động theo quy định; báo cáo sai sự thật, cung cấp sai lệch thông tin, số liệu về Bảo hiểm xã hội…

Như vậy, việc các chủ thể thực hiện pháp luật về Bảo hiểm xã hội (gồm Người lao động, Người sử dụng lao động, cơ quan Bảo hiểm xã hội) biết kiềm chế không thực hiện các hành vi được quy định ở trên thì quá trình đó gọi là tuân thủ pháp luật Bảo hiểm xã hội.

  • Chấp hành pháp luật về bảo hiểm xã hội

Chấp hành (thi hành) pháp luật là hình thức thực hiện pháp luật trong đó các chủ thể thực hiện nghĩa vụ pháp lý của mình bằng những hành động tích cực. Khác với hình thức tuân thủ pháp luật, chấp hành pháp luật đòi hỏi chủ thể phải thực hiện trách nhiệm pháp lý một cách tích cực. Ở đây chủ thể cần phải thực hiện những hành động cụ thể, chứ không chỉ dừng lại ở việc không thực hiện những gì pháp luật ngăn cấm. Chấp hành pháp luật thể hiện tính tự giác, tính tích cực của chủ thể thực hiện pháp luật chứ không phải là sự xử sự thụ động như hình thức tuân thủ pháp luật.

Từ đó, chấp hành pháp luật Bảo hiểm xã hội là việc các chủ thể pháp luật Bảo hiểm xã hội thực hiện các nghĩa vụ, trách nhiệm của mình theo quy định của pháp luật Bảo hiểm xã hội. Chủ thể chấp hành pháp luật Bảo hiểm xã hội có thể là Người lao động, Người sử dụng lao động, tổ chức Bảo hiểm xã hội, tổ chức công đoàn, cơ quan, tổ chức đại diện Người sử dụng lao động. Việc thực hiện các quy định tại Điều 16, Điều 18, Điều 20 Luật Bảo hiểm xã hội về trách nhiệm của Người lao động, Người sử dụng lao động, tổ chức Bảo hiểm xã hội được hiểu là chấp hành pháp luật Bảo hiểm xã hội.

  • Sử dụng pháp luật bảo hiểm xã hội Luận văn: Pháp luật về bảo hiểm xã hội tại Quận Bắc Từ Liêm.

Sử dụng pháp luật là hình thức thực hiện pháp luật, trong đó các chủ thể pháp luật thực hiện quyền, tự do pháp lý của mình, nghĩa là thực hiện những hành vi mà pháp luật cho phép chủ thể được thực hiện. Khác với hai hình thức trên, chủ thể pháp luật có nghĩa vụ phải thực hiện các quy định của pháp luật một cách thụ động hay tích cực, còn ở hình thức này chủ thể có thể thực hiện hoặc không thực hiện các quyền và tự do pháp lý mà pháp luật cho phép tùy thuộc vào ý chí của mình chứ không bắt buộc phải tuân thủ hay chấp hành.

Sử dụng pháp luật Bảo hiểm xã hội là hình thức thực hiện pháp luật mà chủ thể quan hệ Bảo hiểm xã hội có quyền thực hiện hoặc không thực hiện các quyền mà pháp luật Bảo hiểm xã hội cho phép. Trong hình thức này, chủ thể quan hệ Bảo hiểm xã hội có thể thực hiện quyền của mình hoặc không thực hiện quyền của mình mà không bị ép buộc. Các quyền của chủ thể quan hệ Bảo hiểm xã hội được quy định trong Luật Bảo hiểm xã hội gồm Khoản 1 Điều 11 về quyền của tổ chức công đoàn, Khoản 1 Điều 12 về quyền của đại diện Người sử dụng lao động, Điều 15 về quyền của Người lao động, Điều 17 về quyền của Người sử dụng lao động và Điều 19 về quyền của tổ chức Bảo hiểm xã hội. Khi các chủ thể pháp luật Bảo hiểm xã hội thực hiện hoặc không thực hiện các quyền nêu trên chính là họ đang thực hiện quyền sử dụng pháp luật mà pháp luật Bảo hiểm xã hội cho phép.

  • Áp dụng pháp luật bảo hiểm xã hội

Áp dụng pháp luật là hình thức thực hiện pháp luật, trong đó Nhà nước thông qua các cơ quan nhà nước tổ chức hoặc các cá nhân được Nhà nước giao quyền tổ chức cho các chủ thể pháp luật thực hiện những quy định của pháp luật, thông qua các quyết định của cơ quan, tổ chức, cá nhân đó sẽ làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt những quan hệ pháp luật cụ thể.

Áp dụng pháp luật Bảo hiểm xã hội là việc Nhà nước thông qua các cơ quan nhà nước hoặc các cá nhân, tổ chức được Nhà nước trao quyền để tổ chức cho các chủ thể quan hệ Bảo hiểm xã hội thực hiện những quy định của pháp luật Bảo hiểm xã hội.

Cụ thể, Điều 8 Luật Bảo hiểm xã hội quy định: “Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về Bảo hiểm xã hội. Bộ LĐ-TB&XH chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện thống nhất quản lý nhà nước về Bảo hiểm xã hội. Bộ, cơ quan ngang bộ trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình thực hiện quản lý nhà nước về Bảo hiểm xã hội. Ủy ban nhân dân các cấp thực hiện quản lý nhà nước về Bảo hiểm xã hội trong phạm vi địa phương theo phân cấp của Chính phủ [30, tr.12].

Như vậy, Bộ LĐ-TB&XH là cơ quan chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện thống nhất quản lý nhà nước về Bảo hiểm xã hội có quyền chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành, cơ quan, tổ chức nghiên cứu, xây dựng, trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành hoặc ban hành theo thẩm quyền các văn bản quy phạm pháp luật về Bảo hiểm xã hội; chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành thực hiện công tác thống kê, thông tin; tuyên truyền, phổ biến chế độ, chính sách, pháp luật về Bảo hiểm xã hội; kiểm tra việc thực hiện các quy định của pháp luật về Bảo hiểm xã hội và thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành về Bảo hiểm xã hội; Ủy ban nhân dân các cấp thực hiện quản lý nhà nước về Bảo hiểm xã hội trong phạm vi địa phương theo phân cấp của Chính phủ. Luận văn: Pháp luật về bảo hiểm xã hội tại Quận Bắc Từ Liêm.

Do đó, khi phát hiện thấy những hành vi vi phạm pháp luật Bảo hiểm xã hội thì tất cả Người lao động, Người sử dụng lao động, cá nhân, cơ quan, tổ chức đều có quyền khiếu nại, tố cáo hành vi vi phạm pháp luật nhưng chỉ có thanh tra nhà nước chuyên ngành về lao động, Chủ tịch ủy ban nhân dân các cấp mới có thẩm quyền thực hiện chức năng thanh tra và ra các quyết định xử phạt hành chính và Tòa án nhân dân các cấp ra quyết định xử phạt theo quy định đối với các hành vi vi phạm pháp luật Bảo hiểm xã hội. Đó gọi là áp dụng pháp luật Bảo hiểm xã hội.

Như vậy, áp dụng pháp luật Bảo hiểm xã hội là hoạt động có tổ chức, mang tính quyền lực nhà nước của các cơ quan quản lý nhà nước, người có thẩm quyền, nhằm cá biệt hóa những quy phạm pháp luật Bảo hiểm xã hội vào các trường hợp cụ thể đối với các cá nhân, tổ chức cụ thể. Hoạt động áp dụng pháp luật trong lĩnh vực Bảo hiểm xã hội khác với hoạt động tuân thủ pháp luật, chấp hành pháp luật, sử dụng pháp luật ở chỗ: ba hình thức trên đều phát sinh các quyền, nghĩa vụ liên quan từ cả hai phía, còn hoạt động áp dụng pháp luật Bảo hiểm xã hội luôn có sự tham gia của Nhà nước, Cơ quan nhà nước.

1.2.5. Các nội dung thực hiện pháp luật về Bảo hiểm xã hội

  • Công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật Bảo hiểm xã hội

Thực hiện tốt công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật Bảo hiểm xã hội góp phần đảm bảo người dân sẽ chấp hành những quy định pháp luật Bảo hiểm xã hội. Để thực hiện tốt công tác này cần phối hợp với Trung tâm văn hóa Quận, Phòng văn hóa thông tin quận, Phòng tư pháp quận đặc biệt là UBND các phường phổ biến, tuyên truyền giáo dục nâng cao nhận thức của Người lao động, chủ SDLĐ, ý thức chấp hành chủ trương, chính sách của Đảng về Bảo hiểm xã hội tới các chủ doanh nghiệp, nhân dân trên địa bàn. Phối hợp chặt chẽ, tích cực với các cơ quan thông tin đại chúng, các cơ quan chuyên môn đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến sâu, rộng về sự ưu việt của chính sách Bảo hiểm xã hội đến toàn dân. Đa dạng hoá công tác tuyên truyền về chính sách Bảo hiểm xã hội. Ngoài các hình thức tuyên truyền trên diện rộng còn tập trung theo chiều sâu trên các nhóm đối tượng, truyền thông hướng tới chiều sâu với nhóm đối tượng cán bộ chủ chốt tại địa phương; cùng các cơ quan Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc, Hội Nông dân, Hội Phụ nữ lồng ghép tuyên truyền chính sách Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm y tế trong các hội nghị chuyên đề. Nhóm người SDLĐ, Người lao động trong các doanh nghiệp qua đội ngũ cán bộ công đoàn ở các doanh nghiệp có số lao động lớn tại khu công nghiệp. Luận văn: Pháp luật về bảo hiểm xã hội tại Quận Bắc Từ Liêm.

  • Công tác quản lý đối tượng tham gia Bảo hiểm xã hội

Quản lý đối tượng tham gia Bảo hiểm xã hội là một trong những vấn đề mấu chốt của công tác thu Bảo hiểm xã hội. Đây là cơ sở để hình thành quỹ Bảo hiểm xã hội, là cơ sở để thu đúng, thu đủ, là điều kiện thuận lợi để giải quyết các chế độ Bảo hiểm xã hội đảm bảo việc thực hiện pháp luật Bảo hiểm xã hội trên địa bàn quận.

Ở nước ta, Điều 2, Luật Bảo hiểm xã hội quy định đối tượng áp dụng như sau: NLĐ tham gia Bảo hiểm xã hội bắt buộc là công dân Việt Nam, bao gồm:

  • Người làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ ba tháng trở lên;
  • Cán bộ, công chức, viên chức;
  • Công nhân quốc phòng, công nhân công an;
  • Sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp quân đội nhân dân; sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp vụ, sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên môn kỹ thuật công an nhân dân; người làm cơ yếu hưởng lương như đối với quân đội nhân dân, công an nhân dân;
  • Hạ sĩ quan, binh sĩ quân đội nhân dân và hạ sĩ quan, chiến sĩ công an nhân dân phục vụ có thời hạn;
  • Người làm việc có thời hạn ở nước ngoài mà trước đó đó đóng Bảo hiểm xã hội bắt buộc.

Người SDLĐ tham gia Bảo hiểm xã hội bắt buộc bao gồm: Cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp, đơn vị vũ trang nhân dân; tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội khác; cơ quan, tổ chức nước ngoài, tổ chức quốc tế hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam; doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh cá thể, tổ hợp tác, tổ chức khác và cá nhân có thuê mướn, sử dụng và trả công cho Người lao động.

Khi kinh tế phát triển, số lượng Người lao động có việc làm sẽ tăng lên do có sự mở rộng về quy mô sản xuất xã hội. Số đối tượng thuộc diện tham gia Bảo hiểm xã hội không ngừng tăng lên sẽ đặt ra những vấn đề và yêu cầu nhất định đối với việc tổ chức quản lý Bảo hiểm xã hội. Nếu trình độ dân trí cao, khả năng tiếp cận với thông tin, khoa học – kỹ thuật của người dân dễ dàng thì người dân (bao gồm Người lao động và người SDLĐ) sẽ nhanh chóng nắm bắt được ý nghĩa to lớn của chính sách, chế độ Bảo hiểm xã hội. Nhờ đó, pháp luật Bảo hiểm xã hội sẽ có điều kiện thuận lợi được đảm bảo thực hiện. Cụ thể, có tác động tích cực đến quản lý thực hiện pháp luật Bảo hiểm xã hội, giảm bớt tình trạng trốn đóng, nợ đọng Bảo hiểm xã hội. Ngược lại, nếu trình độ dân trí thấp thì việc thực hiện pháp luật Bảo hiểm xã hội sẽ gặp nhiều khó khăn, không được đảm bảo.

  • Công tác thu và quản lý quỹ Bảo hiểm xã hội Luận văn: Pháp luật về bảo hiểm xã hội tại Quận Bắc Từ Liêm.

Thu được coi là công tác trọng tâm của Bảo hiểm xã hội, thực hiện tốt công tác thu sẽ đảm bào việc thực hiện pháp luật Bảo hiểm xã hội được triệt để. Tổ chức tốt công tác thu tiền đóng Bảo hiểm xã hội hàng tháng đồng thời giải quyết nhanh gọn, chế độ chính sách Bảo hiểm xã hội, bảo đảm quyền, lợi ích cho Người lao động. Tập trung đôn đốc đơn vị ngay từ khi đơn vị có dấu hiệu chậm đóng Bảo hiểm xã hội từ 1 đến 2 tháng.

Chủ động phối hợp với các ngành chức năng liên quan tổ chức thanh tra, kiểm tra những doanh nghiệp nợ đọng Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm y tế, xử lý nghiêm, kịp thời các đơn vị cố tình chậm đóng, trốn đóng Bảo hiểm xã hội làm ảnh hưởng đến quyền lợi của Người lao động. Xem việc khởi kiện như là biện pháp thu nợ cuối cùng, xây dựng tiêu chí nợ làm cơ sở khởi kiện và khởi kiện kịp thời (tránh để nợ kéo dài, khó thu hồi nợ sau khởi kiện).

Quỹ Bảo hiểm xã hội là quỹ tiền tệ độc lập được hình thành từ sự đóng góp của Người lao động và Người sử dụng lao động đặt dưới sự bảo trợ của Nhà nước. Tuy nhiên tỷ lệ % chi so với thu của quỹ Bảo hiểm xã hội bắt buộc đều có xu hướng gia tăng và đang có nguy cơ mất cân đối thu chi quỹ hưu trí – tử tuất đang cận kề điều này ảnh hưởng không nhỏ tới việc thực hiện pháp luật Bảo hiểm xã hội.

  • Công tác xử lý vi phạm

Luật Bảo hiểm xã hội có hiệu lực từ 01/01/2017 với nhiều quy định mới, thay đổi nên trong quá trình triển khai có những vướng mắc là điều khó tránh khỏi. Một số chính sách Bảo hiểm xã hội chưa thật rõ ràng, chưa ổn định, lợi ích của chủ SDLĐ khi tham gia Bảo hiểm xã hội chưa rõ ràng; Người lao động nhận thức không đầy đủ, thậm chí hiểu sai chính sách Bảo hiểm xã hội. Mặt khác pháp luật Bảo hiểm xã hội vẫn chưa đưa ra được biện pháp chế tài đủ mạnh để răn đe những trường hợp không đóng, trốn đóng, nợ đọng Bảo hiểm xã hội, chiếm dụng Quỹ Bảo hiểm xã hội. Theo Nghị định số 86/2020/NĐ-CP ngày 13/8/2020 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực Bảo hiểm xã hội đã tăng mức xử phạt tối đa lên 30 triệu đồng (theo Nghị định 135/2017/NĐ-CP là 20 triệu đồng). Đơn vị có nhiều hành vi vi phạm có thể bị tước quyền sử dụng giấy phép vô thời hạn và bắt buộc phải khắc phục hậu quả. Tuy nhiên, mức xử phạt này vẫn còn quá nhẹ so với số tiền hàng trăm triệu, hàng tỷ mà các doanh nghiệp phải đóng Bảo hiểm xã hội, do đó các doanh nghiệp vẫn tiếp tục vi phạm và sẵn sàng nộp tiền phạt hành chính. Luận văn: Pháp luật về bảo hiểm xã hội tại Quận Bắc Từ Liêm.

  • Trách nhiệm của người tham gia Bảo hiểm xã hội trong việc thực hiện pháp luật Bảo hiểm xã hội

Thực hiện pháp luật về Bảo hiểm xã hội là một quá trình hoạt động có mục đích nhằm đảm bảo các quyền lợi về vật chất cho Người lao động và gia đình họ khi gặp những rủi ro làm mất hoặc giảm thu nhập do thất nghiệp, ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, tuổi già và chết. Do đó, thực hiện pháp luật về Bảo hiểm xã hội có tác dụng rất lớn đối với Người lao động, nó làm cho Người lao động yên tâm cống hiến và không phải lo lắng về những rủi ro mà mình có thể gặp phải trong hoạt động lao động, sản xuất, công tác và sinh hoạt. Theo điều 16 luật Bảo hiểm xã hội quy định về trách nhiệm của người lao động như: đóng bảo hiễm xã hội theo quy định của Luật này; Thực hiện quy định về việc lập hồ sơ bảo hiễm xã hội; Bảo quản sỗ bảo hiễm xã hội theo đóng quy định; Các trách nhiệm khác theo quy định của pháp luật. Theo điều 18 Luật Bảo hiểm xã hội quy định trách nhiệm của người số đông lao động :đóng bảo hiểm xã hội theo quy định tại điều 92 và hàng tháng trích Từ tiền lương, tiền công của người lao động theo quy định tại khoản 1 điều 91 của Luật này để đóng cùng một lóc vào quỹ bảo hiểm xã hội; Bảo quản sỗ bảo hiểm xã hội của người lao động trong thời gian người lao động làm việc; Trả sỗ bảo hiểm xã hội cho người lao động khi người đó không cần làm việc; Lập hồ sơ đễ người lao động được cấp sỗ, đóng và hướng bảo hiểm xã hội; Trả cấp bảo hiểm xã hội cho người lao động; Giới thiệu người lao động đi giám định mức suy giảm khả năng lao động tại Hội đồng Giám định y khoa theo quy định tại điểm a khoản 1 điều 41, điều 51 và điểm b khoản 1 điều 55 của Luật này; Cung cấp tài liệu, thông tin liên quan theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẫm quyền; Cung cấp thông tin về việc đóng bảo hiểm xã hội của người lao động khi người lao động hoặc tỗ chức công đoàn yêu cầu.

Để đảm bảo cho mục đích của Bảo hiểm xã hội được thực thi trong cuộc sống, thì đòi hỏi các đối tượng tham gia Bảo hiểm xã hội bao gồm cả Người lao động, Người sử dụng lao động phải tuân thủ nghiêm túc các quy định của pháp luật về trách nhiệm tham gia Bảo hiểm xã hội của mình, đặc biệt là việc đóng Bảo hiểm xã hội một cách đầy đủ, đúng quy định.

Hệ thống tổ chức Bảo hiểm xã hội, từ hoạt động của bộ máy đến hoạt động của các công chức, viên chức làm công tác Bảo hiểm xã hội trong và ngoài hệ thống phải được vận hành một cách nhịp nhàng, thống nhất, đúng pháp luật. Mọi hoạt động của bất cứ cá nhân, tổ chức nào có liên quan đến hoạt động Bảo hiểm xã hội đều phải tuân thủ đầy đủ các quy định của pháp luật Bảo hiểm xã hội và đều hướng tới một mục đích chung là bảo đảm quyền lợi cho Người lao động, Người sử dụng lao động và lợi ích của Nhà nước. Luận văn: Pháp luật về bảo hiểm xã hội tại Quận Bắc Từ Liêm.

Trong thực tiễn quá trình thực hiện pháp luật về Bảo hiểm xã hội, không phải mọi Người lao động và Người sử dụng lao động đều có ý thức chấp hành nghiêm các quy định của pháp luật Bảo hiểm xã hội, đặc biệt là trách nhiệm đóng Bảo hiểm xã hội. Nhiều Người lao động vì nhu cầu việc làm, vì sự kém hiểu biết pháp luật đã không quan tâm đến vấn đề Bảo hiểm xã hội khi ký kết hợp đồng lao động. Nhiều Người sử dụng lao động vì lợi nhuận, ý thức chấp hành pháp luật Bảo hiểm xã hội chưa cao đã trốn đóng, nợ, chậm đóng Bảo hiểm xã hội cho Người lao động của đơn vị mình. Chính vì vậy, thực hiện pháp luật về Bảo hiểm xã hội là một cơ chế hữu hiệu để làm cho quan hệ lao động được hài hòa ổn định, không chỉ bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của Người lao động mà còn đảm bảo quyền lợi cho doanh nghiệp, Người sử dụng lao động và lợi ích nhà nước.

1.3. Các yếu tố tác động và các điều kiện bảo đảm thực hiện pháp luật Bảo hiểm xã hội

Để bảo đảm thực hiện pháp luật nói chung và thực hiện pháp luật Bảo hiểm xã hội nói riêng phụ thuộc vào nhiều yếu tố. Trong mỗi yếu tố đều có mối quan hệ tác động qua lại với nhau và đảm bảo cho sự cần thiết thực hiện pháp luật Bảo hiểm xã hội. Các yếu tố bảo đảm cho việc thực hiện pháp luật về Bảo hiểm xã hội đó là:

1.3.1. Sự hoàn thiện của hệ thống pháp luật về bảo hiểm xã hội Luận văn: Pháp luật về bảo hiểm xã hội tại Quận Bắc Từ Liêm.

Trong thời gian qua, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về Bảo hiểm xã hội đã được Nhà nước từng bước hoàn thiện. Đặc biệt là sự ra đời của Luật Bảo hiểm xã hội năm 2016 đã tạo ra cơ sở pháp lý cao hơn trong việc thực hiện pháp luật về Bảo hiểm xã hội, góp phần hoàn thiện hệ thống an sinh xã hội ở nước ta.

Để đánh giá hệ thống quy phạm pháp luật có hoàn thiện hay không phải xem xét trên các phương diện sau: xem xét tính toàn diện, tính đầy đủ, tính đồng bộ, tính phù hợp, tính kỹ thuật trong việc xây dựng văn bản quy phạm pháp luật về Bảo hiểm xã hội, nghĩa là chất lượng của văn bản pháp luật phải phù hợp với thực tiễn, có tính khả thi, có tính ổn định tương đối, chất lượng kỹ thuật lập pháp cao với ngôn ngữ, diễn đạt rõ ràng, ngắn gọn.

Tính toàn diện: là yếu tố xem xét về mức độ hoàn thiện của hệ thống pháp luật Bảo hiểm xã hội. Đảm bảo tính toàn diện nghĩa là các văn bản quy phạm pháp luật Bảo hiểm xã hội phải bảo đảm đầy đủ, đa dạng về số lượng, chất lượng, và đảm bảo mối tương quan giữa văn bản quy phạm pháp luật Bảo hiểm xã hội với các văn bản quy phạm pháp luật khác. Sao cho chất lượng các văn bản quy phạm pháp luật đủ khả năng điều chỉnh các quan hệ xã hội hình thành trong lĩnh vực Bảo hiểm xã hội và tạo thành một mạng lưới an toàn cho mọi thành viên trong xã hội, không một ai bị lọt hoặc bị loại trừ trong trường hợp bị giảm hoặc mất thu nhập hoặc phải tăng chi phí đột xuất do bị rủi ro xã hội.

Tính đồng bộ: khi ban hành các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến lĩnh vực Bảo hiểm xã hội phải thống nhất về nội dung và hình thức, các văn bản quy phạm pháp luật Bảo hiểm xã hội không được chồng chéo, văn phong của văn bản gọn gàng, dễ hiểu. Các văn bản quy phạm pháp luật luôn tồn tại trong mối liên hệ với nhau, luôn nằm trong một hệ thống, trong đó mỗi văn bản có một vị trí, vai trò riêng. Để tránh sự trùng lặp, chồng chéo giữa các quy định, cần xác định phạm vi điều chỉnh của mỗi văn bản là những nhóm quan hệ xã hội khác nhau về tính chất chẳng hạn như nhóm quan hệ Bảo hiểm xã hội bắt buộc, nhóm quan hệ Bảo hiểm xã hội tự nguyện, bảo hiểm thất nghiệp…

Tính phù hợp của văn bản quy phạm pháp luật: Văn bản quy phạm pháp luật luôn tồn tại trong một điều kiện kinh tế xã hội nhất định. Theo triết học Mác-Lênin thì pháp luật là kiến trúc thượng tầng của xã hội, các điều kiện hiện tại là cơ sở hạ tầng. Cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng phải phù hợp với nhau là điều kiện quan trọng cho xã hội phát triển. Nói đến pháp luật thì nó tồn tại trong khoảng thời gian, điều kiện xã hội nhất định và pháp luật luôn phải thay đổi cho phù hợp với điều kiện, xã hội là rất cần thiết. Luận văn: Pháp luật về bảo hiểm xã hội tại Quận Bắc Từ Liêm.

Tính nghiêm minh của pháp luật: mọi hành vi vi phạm pháp luật đều phải được xử lý triệt để, chính xác và kịp thời. Nếu quá trình xử lý chưa nghiêm sẽ dẫn đến hiện tượng coi thường pháp luật, trật tự pháp luật bị đảo lộn, ảnh hưởng đến quá trình thực hiện pháp luật.

Như vậy, một khi hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về Bảo hiểm xã hội hoàn chỉnh sẽ góp phần tích cực trong việc thực hiện tốt các quy định của Nhà nước về Bảo hiểm xã hội.

1.3.2. Ý thức pháp luật và trách nhiệm của các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật về bảo hiểm xã hội

Thực tế cho thấy, một trong những nguyên nhân dẫn đến hành vi vi phạm pháp luật là trình độ nhận thức pháp luật của công dân còn hạn chế. Một chính sách pháp luật có được nhận thức đầy đủ và tự giác thi hành hay không phụ thuộc vào trình độ văn hóa pháp lý và ý thức pháp luật của các chủ thể pháp luật đó. Nếu ý thức pháp luật kém sẽ dẫn đến tình trạng vi phạm pháp luật diễn ra thường xuyên làm ảnh hưởng lớn đến quá trình quản lý xã hội.

Ý thức pháp luật là vấn đề khá phức tạp. Trong khoa học pháp lý nước ta hiện nay vẫn còn nhiều quan niệm khác nhau về vấn đề này, nhưng nhìn chung đều có quan niệm: “Ý thức pháp luật là một hình thái ý thức xã hội, là tổng hợp những học thuyết, quan điểm, tư tưởng, tình cảm của con người, thể hiện thái độ, sự đánh giá về tính công bằng hay không công bằng, đúng đắn hay không đúng đắn của pháp luật, về tính hợp pháp hay không hợp pháp trong hành vi xử sự của con người, trong hoạt động của các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội và của các chủ thể khác [28, tr.326].

Chính vì vậy, việc nâng cao trình độ pháp luật cho nhân dân, đáp ứng yêu cầu quản lý xã hội bằng pháp luật hiện nay là vấn đề cần thiết. Ý thức pháp luật biểu hiện khả năng nhận thức của con người trong lĩnh vực pháp luật. Sự nhận thức pháp luật của công dân mà tích cực sẽ trở thành điều kiện trực tiếp, quan trọng để xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật. Bởi vì, một khi Người lao động và Người sử dụng lao động có được nhận thức đúng về tầm quan trọng của Bảo hiểm xã hội thì khi đó ý thức tham gia và thực hiện trách nhiệm về Bảo hiểm xã hội của họ sẽ được nâng lên, dẫn đến có các hành vi ứng xử phù hợp và hành vi đó là một dạng của hình thái ý thức xã hội. Ngoài ý thức pháp luật và trách nhiệm của Người lao động và Người sử dụng lao động có ảnh hưởng trực tiếp đến công tác thực hiện pháp luật về Bảo hiểm xã hội thì đòi hỏi những người có trách nhiệm soạn thảo, xây dựng, ban hành pháp luật về Bảo hiểm xã hội có sự hiểu biết pháp luật tốt, có trình độ pháp luật mới tạo ra những văn bản pháp luật có hiệu quả và hiệu lực cao. Luận văn: Pháp luật về bảo hiểm xã hội tại Quận Bắc Từ Liêm.

Tóm lại, chúng ta phải xây dựng một xã hội mà công dân có được sự ý thức pháp luật. Khi xã hội mà công dân có ý thức pháp luật nói chung và ý thức pháp luật về Bảo hiểm xã hội nói riêng được nâng cao, thì các hành vi vi phạm pháp luật về Bảo hiểm xã hội sẽ được hạn chế.

1.3.3. Năng lực tổ chức thực hiện pháp luật về bảo hiểm xã hội của các cơ quan quản lý nhà nước về bảo hiểm xã hội, hệ thống bảo hiểm xã hội Việt Nam và đội ngũ công chức, viên chức ngành bảo hiểm xã hội

Luật Bảo hiểm xã hội được ban hành năm 2016 và có hiệu lực thi hành từ năm 2017 đến nay, đối tượng Bảo hiểm xã hội ngày càng được mở rộng, ý thức chấp hành pháp luật Bảo hiểm xã hội của Người lao động và Người sử dụng lao động được nâng lên, việc chi trả chế độ Bảo hiểm xã hội cho Người lao động được đơn giản, thuận tiện hơn. Tuy nhiên, tình hình vi phạm pháp luật Bảo hiểm xã hội vẫn còn diễn ra ở nhiều nơi, đặc biệt là tình trạng doanh nghiệp nợ đọng, trốn đóng Bảo hiểm xã hội vẫn còn phổ biến và ảnh hưởng lớn đến quyền lợi Bảo hiểm xã hội của Người lao động. Một trong những nguyên nhân được cho là công tác quản lý nhà nước về Bảo hiểm xã hội còn chưa nghiêm, thiếu sự phối hợp chặt chẽ giữa các ngành, các cấp có liên quan trong việc quản lý các doanh nghiệp, hệ thống tổ chức, bộ máy ngành Bảo hiểm xã hội và đội ngũ công chức, viên chức làm công tác Bảo hiểm xã hội còn thiếu và yếu chưa làm hết trách nhiệm của mình trong việc quản lý thu Bảo hiểm xã hội, gây ảnh hưởng đến quyền lợi của người tham gia Bảo hiểm xã hội.

Bên cạnh đó, công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát việc thực hiện pháp luật Bảo hiểm xã hội nhằm phát hiện và xử lý kịp thời các hành vi vi phạm pháp luật Bảo hiểm xã hội cũng là một trong những yếu tố có tác động tích cực đến việc thực hiện pháp luật Bảo hiểm xã hội. Khi phát hiện có những vi phạm pháp luật về Bảo hiểm xã hội thì cần xử lý ngay, tránh tình trạng để nợ đọng dây dưa, kéo dài, khó đòi và cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan quản lý nhà nước về Bảo hiểm xã hội. Có như vậy, việc thực thi pháp luật về Bảo hiểm xã hội mới được bảo đảm.

1.3.4. Hội nhập quốc tế Luận văn: Pháp luật về bảo hiểm xã hội tại Quận Bắc Từ Liêm.

Xuất phát từ yêu cầu khách quan thì thực hiện pháp luật về Bảo hiểm xã hội là để hội nhập quốc tế. Việt Nam gia nhập WTO chính là sự gắn kết nền kinh tế nước ta với nền kinh tế thế giới, từng bước đưa nền kinh tế nước ta trở thành bộ phận cấu thành của nền kinh tế thế giới và thị trường nước ta trở thành bộ phận cấu thành của thị trường thế giới. Việc gia nhập WTO đã mở ra một cơ hội rộng lớn cho sự tác động trực tiếp, toàn diện vào các thị trường hàng hóa, thị trường tiền tệ và thị trường lao động trong nước. Sự tác động này sẽ tạo ra một động lực mới, một không gian mới cho sự cạnh tranh và phát triển.Đồng thời thị trường lao động tăng lên, tiền lương và thu nhập bình quân chung của Người lao động được nâng cao chính là điều kiện để mở rộng và tăng cường hệ thống Bảo hiểm xã hội.

Những tác động tiêu cực của quá trình này cũng đồng thời khiến cho sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp ngày càng quyết liệt sẽ dẫn đến nhiều doanh nghiệp bị thua lỗ, phá sản, một bộ phận lao động bị thất nghiệp, sức ép về việc làm ngày càng lớn, cường độ lao động gia tăng, điều kiện sống của một bộ phận lao động sẽ khó khăn hơn. Hậu quả của vấn đề lao động nghỉ việc, mất việc làm từ các lĩnh vực, các ngành có sức cạnh tranh kém và Người lao động không đáp ứng nhu cầu công nghệ mới sẽ diễn ra khá mạnh trong thời kỳ đầu hội nhập, hậu quả của việc gia tăng khoảng cách giàu nghèo, hậu quả của bệnh tật không được chữa trị… là bài toán đặt ra đối với hệ thống an sinh xã hội.

Do vậy, cùng với các công cụ điều tiết khác như: chính sách thuế, chính sách an sinh xã hội, thì Bảo hiểm xã hội đang trở thành một công cụ đắc lực của Nhà nước ta trong việc điều tiết cân bằng xã hội, vì nó liên quan đến nhiều lĩnh vực cấp thiết của đời sống xã hội và được nhiều tầng lớp dân cư hưởng ứng.

Xuất phát từ thực trạng hiện nay, việc thực hiện pháp luật về Bảo hiểm xã hội còn một số hạn chế, vướng mắc như: việc mở rộng đối tượng tham gia Bảo hiểm xã hội bắt buộc còn chậm. Trong quá trình triển khai thực hiện Luật Bảo hiểm xã hội còn nhiều vướng mắc phát sinh cần tiếp tục nghiên cứu, bổ sung, ban hành văn bản hướng dẫn thi hành. Tình trạng trốn đóng, nợ đọng Bảo hiểm xã hội của các doanh nghiệp còn tràn lan và làm ảnh hưởng không nhỏ đến quyền lợi của Người lao động… Cho nên, việc thực hiện tốt các quy định của pháp luật về Bảo hiểm xã hội nhằm hạn chế vi phạm pháp luật Bảo hiểm xã hội, bảo đảm quyền lợi của Người lao động trong và sau quá trình lao động là yêu cầu hết sức cấp thiết của mỗi quốc gia nói chung và của Việt Nam nói riêng trong giai đoạn hiện nay. Luận văn: Pháp luật về bảo hiểm xã hội tại Quận Bắc Từ Liêm.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:  

===>>> Luận văn: Thực trạng pháp luật bảo hiểm xã hội tại Bắc Từ Liêm

One thought on “Luận văn: Pháp luật về bảo hiểm xã hội tại Quận Bắc Từ Liêm

  1. Pingback: Luận văn: Giải pháp pháp luật bảo hiểm xã hội tại Bắc Từ Liêm

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464