Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Hoàn thiện chế độ tài sản vợ chồng theo Luật Hôn nhân hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Thực tiễn áp dụng và một số kiến nghị hoàn thiện chế độ tài sản của vợ chồng dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
3.1 THỰC TIỄN ÁP DỤNG CHẾ ĐỘ TÀI SẢN CỦA VỢ CHỒNG
3.1.1. Áp dụng chế độ tài sản của vợ chồng trong thực tiễn xét xử
3.1.1.1. Căn cứ xác định tài sản chung vợ chồng
Chế độ tài sản của vợ chồng theo pháp luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam hiện hành là chế độ cộng đồng tạo sản. Đây là chế độ tài sản có tính ưu việt nhất, kết hợp hài hoà giữa lợi ích của gia đình với lợi ích của cá nhân vợ, chồng. Thực tế áp dụng chế độ tài sản này trong các quan hệ Hôn nhân và gia đình đã khẳng định điều đó. Tuy nhiên, Luật Hôn nhân và gia đình hiện hành còn có điểm chưa rõ ràng, dẫn đến nhiều cách hiểu và vận dụng khác nhau trong vấn đề liên quan đến tài sản chung của vợ chồng, trong đó đáng chú ý là các vấn đề sau:
- Vấn đề thừa nhận tài sản chung của vợ chồng nhưng do một bên đứng tên trong giấy tờ về quyền sở hữu:
Luật Hôn nhân và gia đình quy định: “Trong trường hợp tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng mà pháp luật có quy định phải đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng thì giấy chứng nhận quyền sở hữu, giấy chứng nhận quyền sử dụng phải ghi tên cả hai vợ chồng” [54, Điều 27, Khoản 2]; [60, Điều 34, Khoản 1]. Các văn bản hướng dẫn cũng quy định nhà ở, quyền sử dụng đất và các tài sản khác có giá trị lớn thuộc sở hữu riêng của một bên chỉ được xác định là nhập vào tài sản chung khi được lập thành văn bản, có chữ ký hai bên. Điều 5 Nghị định số 70/2001 quy định kể từ ngày Nghị định có hiệu lực, thì việc đăng ký các tài sản, quyền tài sản thuộc sở hữu chung vợ chồng phải được thực hiện. Nhưng trên thực tế, một số cơ quan có thẩm quyền đã không thực hiện đúng việc này, nhất là ở nông thôn. Việc kê khai đăng ký quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất tại một số địa phương vẫn chỉ dựa trên kê khai của người dân để cấp cho người đã kê khai. Trong gia đình, đa số người chồng là người đứng ra kê khai nên được cấp giấy chứng nhận, có trường hợp chỉ ghi tên người chồng, có trường hợp ghi “hộ ông, bà ….” nhưng lại không ghi hộ là gồm những ai, nên không thể xác định được chính xác chủ sử dụng. Điều này dẫn đến các Toà án dễ gặp sai sót khi giải quyết án hôn nhân – gia đình ở khâu xác định tài sản chung, riêng của vợ chồng.
- Sau đây chúng tôi xin nêu một ví dụ cụ thể về việc giải quyết quan hệ tài sản của vợ chồng:
Vụ án giữa nguyên đơn là chị Trần Thị Lẫm và bị đơn là anh Trần Văn Hoàng cùng trú tại bản C, xã Y, huyện YC, tỉnh S.
Chị Trần Thị Lẫm và anh Trần Văn Hoàng kết hôn năm 1999, đến năm 2010 do cuộc sống chung có nhiều mâu thuẫn nên chị Lẫm nộp đơn xin ly hôn với anh Hoàng. Trong số phần tài sản không thống nhất có nhà đất. Luận văn: Hoàn thiện chế độ tài sản vợ chồng theo Luật Hôn nhân.
Theo hồ sơ thì nhà, đất thổ cư, đất vườn, đất canh tác, đất nương có nguồn gốc của bố mẹ anh Hoàng để lại gồm: đất ở 400m2 (trị giá 32.000.000 đồng), đất vườn 656m2 (trị giá 2.624.000 đồng), 03 mảnh đất lương (gồm thửa đất số 01 diện tích 2.340m2, thửa đất số 02 diện tích 494m2 có tổng trị giá 13.603.000 đồng và thửa số 07 diện tích 3.985m2 trị giá 19.108.000 đồng). Toàn bộ diện tích đất đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên anh Trần Văn Hoàng.
- Chị Lẫm khai: gia đình anh em chồng có họp bàn giao cho vợ chồng chị được sở hữu nhà, đất. Anh Hoàng đã đứng tên trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 1999, nên chị xác định toàn bộ tài sản nhà, đất là của vợ chồng, chị yêu cầu chia hiện vật cho chị.
- Anh Hoàng cùng anh trai cho rằng: đây là tài sản chung của anh, chị, em anh Hoàng nên không đồng ý chia.
Tại Bản án sơ thẩm số 05/2011/HNGĐ-ST ngày 24/5/2011 của Toà án nhân dân huyện YC đã giải quyết về tài sản như sau:
- Giao cho chị Lẫm quyền sử dụng thửa đất số 01 diện tích 2.340m2 và thửa đất số 02 diện tích 494m2 có tổng trị giá 13.603.000 đồng.
- Giao toàn bộ diện tích đất ở 400m2, đất vườn 656m2 cho anh Hoàng và anh Thuý; Giao cho anh Hoàng quyền sử dụng đất thửa số 07 diện tích 3.985m2 trị giá 19.108.000 đồng.
Tại Bản án phúc thẩm số 18/2011/HNGĐ-PT ngày 20/9/2011, Toà án nhân dân tỉnh S đã quyết định:
- Giao chị Lẫm: 328m2 đất vườn trị giá 1.312.000 và quyền sử dụng thửa đất số 07 diện tích 3.985m2.
- Giao anh Hoàng: 400m2 đất ở, 01 nhà gỗ lợp ngói 5 gian và 3 gian bếp lợp ngói; đất vườn 328m2, thửa đất nương số 01 và 02 có tổng trị giá 13.603.000 đồng. Luận văn: Hoàn thiện chế độ tài sản vợ chồng theo Luật Hôn nhân.
Nghiên cứu tài liệu trong hồ sơ có cơ sở kết luận về giải quyết vấn đề tài sản là nhà đất trong vụ án như sau:
Về các thửa đất nương: Ngay từ khi anh Hoàng, chị Lẫm chung sống với nhau, cả hai đã cùng quản lý, sử dụng, canh tác diện tích đất nương. Cả hai anh, chị đều có nhu cầu sử dụng, đều là người làm nông nghiệp. Anh Hoàng cũng có lời khai đồng ý chia cho chị đất nương, nên Toà án chia cho mỗi người một phần diện tích đất nương, tạo điều kiện cho mỗi bên ổn định cuộc sống. Do chị Lẫm đang nuôi 02 cháu nhỏ, lại là phụ nữ, có khó khăn hơn, Toà án cấp phúc thẩm có điều chỉnh, chia lại số thửa, diện tích cho mỗi bên là cần thiết.
Về đất ở, đất vườn, nhà: Anh Hoàng kết hôn với chị Lẫm ngày 25/02/1999. Anh Hoàng được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 29/12/1999. Biên bản họp gia đình thoả thuận giao tài sản cho anh Hoàng đề ngày 20/10/1998, trước ngày anh chị kết hôn (Biên bản không có xác nhận của chính quyền). Toà án cấp phúc thẩm nhận định: “Khi làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, anh Hoàng không thoả thuận và không làm thủ tục cấp riêng, chính quyền địa phương xác nhận thực hiện chính sách giao đất, giao rừng cho các hộ tại địa phương vào năm 1999, toàn bộ diện tích anh Hoàng được cấp là Nhà nước cấp cho hộ gia đình” để xác định đây là tài sản chung của anh Hoàng – chị Lẫm và chia cho anh Hoàng, chị Lẫm mỗi người một phần là không đúng, bởi các căn cứ sau đây:
Nhà, đất ở, đất vườn đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của Uỷ ban nhân dân huyện YC ghi: “Chứng nhận ông Trần Văn Hoàng được quyền sử dụng 7875m2 đất tại…” và ghi số thửa, diện tích từng thửa. Trong quyết định cũng như trong giấy chứng nhận không ghi cấp cho “hộ gia đình” như Bản án phúc thẩm đã nhận định.
Theo lời khai của các nhân chứng và chị Lẫm cũng thừa nhận nhà, đất có từ trước khi anh, chị kết hôn. Chị Lẫm chỉ khai: “Khi chúng tôi xây dựng gia đình, anh Thuý (anh cả của anh Hoàng) có bàn giao nhà đất cho vợ chồng tôi sở hữu và sử dụng bằng lời nói không có giấy tờ …”. Chị Lẫm không cung cấp được tài liệu chứng cứ gì khác để chứng minh tài sản trên đã được cho cả hai vợ chồng.
Bố mẹ anh Hoàng đều chết trước khi anh Hoàng, chị Lẫm kết hôn. Hai ông bà có bảy người con. Trong hồ sơ không có tài liệu nào thể hiện bảy anh chị em thống nhất cho vợ chồng anh Trần Văn Hoàng nhà đất đang tranh chấp. Dù anh Thuý có nói cho vợ chồng anh Hoàng nhà đất như chị Lẫm khai, thì việc tặng cho miệng (nếu có) cũng vô hiệu cả hình thức lẫn nội dung.
Do đó, Toà án cấp phúc thẩm chỉ căn cứ vợ chồng anh Hoàng đang sống, sử dụng nhà đất, hàng năm đóng thuế cho Nhà nước và lời xác nhận của ông Đỗ Xuân Các (nguyên Chủ tịch xã cũ) là “sổ đỏ giao đất thuộc hộ anh Hoàng năm 1999 là hoàn toàn hợp pháp, không có tranh chấp theo đơn trình bày là hoàn toàn đúng” để xác định đất thổ cư, đất vườn, được cấp cho hộ gia đình anh Hoàng là tài sản chung của vợ chồng là không có căn cứ, không đúng pháp luật.
Về cách thể hiện ở phần quyết định của bản án: Trên diện tích đất ở, đất vườn có 5 gian nhà ở lợp ngói, 3 gian nhà bếp lợp ngói… Toà án cấp sơ thẩm nhận định nhà, đất ở, đất vườn của anh em bên chồng, không phải tài sản của vợ chồng, nhưng khi quyết định lại tuyên: “giao toàn bộ diện tích đất ở 400m2, đất vườn 656m2 cho anh Trần Văn Hoàng, anh Trần Văn Thuý” là không đúng. Luận văn: Hoàn thiện chế độ tài sản vợ chồng theo Luật Hôn nhân.
Nhà, đất ở, đất vườn nói trên không phải là của riêng anh Hoàng, anh Thuý mà là di sản do bố mẹ hai anh để lại cho bảy anh em. Do đó, quyết định như Toà án cấp sơ thẩm là không rõ ràng, thiếu chính xác. Mặt khác trên đất có các công trình kiến trúc… nhưng Toà án cấp sơ thẩm không đề cập gì đến các công trình trên đất. Vậy các công trình đó ai được sử dụng.
Trong trường hợp đã kết luận không phải là tài sản chung vợ chồng thì bác yêu cầu của đương sự về vấn đề này là đủ [66].
- Việc vận dụng nguyên tắc suy đoán tài sản chung:
Luật Hôn nhân và gia đình quy định: “Trong trường hợp không có chứng cứ chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung” [54, Điều 27, Khoản 3]; [60, Điều 33, Khoản 3].
Quy định về việc suy đoán tài sản chung trong Luật Hôn nhân và gia đình có ý nghĩa như một nguyên tắc có tính chất định hướng trong việc giải quyết các tranh chấp giữa vợ chồng với nhau về nguồn gốc tài sản. Tuy nhiên, với tư cách là một nguyên tắc suy đoán, tác dụng của nguyên tắc này chỉ dừng lại ở chỗ thiết lập một sự suy đoán, không có ý nghĩa khẳng định chắc chắn tất cả tài sản trong thời kỳ hôn nhân đều là tài sản chung của vợ chồng. Trong thực tế một số Toà án trong quá trình giải quyết đã không bám sát nguyên tắc suy đoán trên dẫn đến thiếu sót trong bản án, quyết định của mình. Ví dụ, Toà án nhân dân quận Ba Đình – Hà Nội khi giải quyết tranh chấp tài sản khi ly hôn giữa anh Phạm Quý Tuân và chị An Thị Phượng về ngôi nhà số 18 phố Sơn Tây – Hà Nội (3/2001), đã xác định ngôi nhà đó thuộc sở hữu riêng của anh Tuân với các lý do: Giấy tờ mua nhà này đứng tên anh vào ngày 22/10/1991 và theo anh Tuân: nguồn gốc ngôi nhà là do bà Mão (mẹ anh) bán nhà số 34 phố Nguyễn Trường Tộ rồi cho anh tiền để mua. Tuy nhiên, trên thực tế chính bà Mão cũng xác nhận bà không uỷ quyền cho anh Tuân mua nhà số 18 phố Sơn Tây và cũng không có tài liệu gì để chứng minh là bà đã cho anh Tuân tiền để mua nhà này. Với những tình tiết trên, không đủ chứng cứ để khẳng định anh Tuân có quyền sở hữu riêng đối với nhà số 18 phố Sơn Tây. Vì vậy, Bản án phúc thẩm số 54/LHPT ngày 24/5/2001 của Toà án nhân dân Thành phố Hà Nội đã sửa án sơ thẩm theo hướng: Xác định nhà số 18 Sơn Tây là tài sản chung của anh Tuân và chị Phượng để chia theo pháp luật [24].
3.1.1.2. Việc nhập tài sản riêng của vợ hoặc chồng vào tài sản chung
Việc nhập tài sản riêng của một bên vợ hoặc chồng vào tài sản chung. Đây là một nguồn hình thành tài sản chung của vợ chồng. Đối với tài sản riêng của một bên vợ hoặc chồng (do có trước khi kết hôn, được thừa kế riêng, được tặng cho riêng …) nhưng bên kia có tài sản riêng đã tự nguyện nhập vào khối tài sản chung, hoặc cả vợ chồng có thoả thuận việc nhập tài sản riêng vào khối tài sản chung, thì được coi là tài sản chung của vợ chồng.
Theo quy định tại khoản 2 Điều 32 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000, khoản 1 Điều 13 Nghị định số 70/2001/NĐ-CP ngày 03/10/2001 thì việc nhập tài sản là nhà ở, quyền sử dụng đất và các tài sản khác có giá trị lớn thuộc sở hữu riêng của một bên vợ hoặc chồng vào tài sản chung của vợ chồng phải được lập thành văn bản, có chữ ký của cả vợ và chồng. Văn bản đó có thể được công chứng hoặc chứng thực theo quy định của pháp luật.
Việc nhập tài sản riêng của một bên vào khối tài sản chung của vợ chồng nhằm trốn tránh thực hiện các nghĩa vụ riêng của bên đó về tài sản thì vô hiệu. Luận văn: Hoàn thiện chế độ tài sản vợ chồng theo Luật Hôn nhân.
Tuy nhiên, trong thực tiễn không phải lúc nào việc nhập tài sản riêng vào tài sản chung cũng đều lập thành văn bản, có chữ ký của cả hai bên, do đó, nếu sau khi kết hôn, bên có tài sản riêng đã làm thủ tục chuyển thành sở hữu chung (như có văn bản thoả thuận nhập tài sản riêng vào tài sản chung, bên có tài sản riêng khi kê khai cấp giấy chứng nhận đã ghi tên cả hai vợ chồng; một bên hay cả hai bên bán tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân và mua tài sản mới đứng tên vợ chồng thì cũng coi tài sản mới mua là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp hai bên có thoả thuận khác.
Đối với trường hợp khi bán tài sản riêng, bên kia cũng góp tài sản riêng của mình để cùng mua một tài sản mới, hoặc đưa một phần tài sản chung vào để mua tài sản mới (phải có chứng cứ thể hiện rõ trong hồ sơ), dù chỉ một bên đứng tên, nếu không có thoả thuận nào khác và không có chứng cứ gì để khẳng định là mỗi bên vẫn giữ theo tỷ lệ riêng khi góp vào mua tài sản mới) và vợ chồng cùng sử dụng, dù khi ly hôn một bên khai là tài sản chung, một bên khai là tài sản riêng, thì Toà án vẫn công nhận là tài sản chung với ý nghĩa là họ đã nhập vào khối tài sản chung (trừ trường hợp hai bên có thoả thuận khác, có chứng cứ khác). Khi giải quyết, nếu các bên xuất trình được tài liệu, chứng cứ để chứng minh và có thể xác định được một cách tương đối về tỷ lệ mỗi bên đóng góp để mua tài sản mới và có cơ sở để xác định tài sản mới là tài sản chung, thì căn cứ vào tỷ lệ đó để xác định công sức đóng góp của mỗi bên cho phù hợp.
Trên thực tế khi giải quyết tranh chấp, có trường hợp Toà án cũng khó xác định được việc nhập hay chưa tài sản riêng của một bên vào tài sản chung của vợ chồng. Sau đây là một ví dụ cụ thể:
Vụ án xin ly hôn giữa nguyên đơn ông Trần Kim Chung và bị đơn bà Tôn Nữ Thị Trinh.
Ông Trần Kim Chung và bà Tôn Nữ Thị Trinh kết hôn năm 1982, có 2 con chung và đã ly hôn năm 2004, chưa giải quyết về tài sản. Năm 2006 ông Trần Kim Chung đề nghị giải quyết về tài sản, trong đó có: Căn nhà 2 gian trên 345,5m2 đất tại Quốc Lộ 22, số 61/1D, ấp Đông Lân, xã Bà Điểm, huyện Hóc Môn; nhà đất là của mẹ ông cho ông trước khi lấy bà Trinh.
Trước khi ly hôn, ông cùng bà Trinh ký tờ thoả thuận cho con là chị Thuỷ các tài sản trong đó có nhà số 61/1D ấp Đông Lân. Sau khi ly hôn, ông và bà Trinh tiếp tục ký đơn để lại các tài sản trong đó có nhà số 61/1D ấp Đông Lân cho chị Thuỷ. Sau đó chị Thuỷ đã ký tờ thoả thuận cho bà Trinh tài sản trong đó có nhà số 61/1D. Nay ông Chung xác định các giấy tờ cho tài sản trên đều là giấy viết tay, không có xác nhận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền nên chưa có hiệu lực pháp luật. Tại đơn khởi kiện, ông cho rằng nhà số 61/1D ấp Đông Lân là tài sản riêng của ông, không yêu cầu chia.
Bà Trinh không đồng ý, tại đơn phản tố ngày 14/7/2008, bà Trinh yêu cầu công nhận nhà 61/1D ấp Đông Lân là của chị Thuỷ. Tại đơn phản tố ngày 16/6/2009, bà Trinh yêu cầu công nhận nhà số 61/1D ấp Đông Lân là tài sản chung của bà và ông Chung.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 2079/2009/DS-ST ngày 14/8/2009, Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh quyết định: Đình chỉ yêu cầu của bà Tôn Nữ Thị Trinh đòi công nhận căn nhà số 61/1D, ấp Đông Lân, xã Bà Điểm, huyện Hóc Môn vì không thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
Tại Bản án phúc thẩm dân sự số 135/2010/DS-PT ngày 06/7/2010, Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh quyết định: Giữ nguyên bản án sơ thẩm. Luận văn: Hoàn thiện chế độ tài sản vợ chồng theo Luật Hôn nhân.
- Nhận xét về vụ án:
Đối với nhà đất tại số 61/1D ấp Đông Lân, xã Bà Điểm, huyện Hóc Môn. Ông Chung xuất trình “Tờ khai nguồn gốc căn nhà” ngày 19/9/1992 (do ông Chung đứng tên khai) và “Tờ tự khai nguồn gốc khu đất xin sử dụng” ngày 20/9/1992 (do mẹ ông Chung là cụ Trần Thị Bông khai), có nội dung căn nhà số 61/1D ấp Đông Lân do cụ Bông xây dựng năm 1982, đất do cụ Bông sử dụng từ năm 1975. Hai tài liệu này đều có xác nhận của Uỷ ban nhân dân xã Bà Điểm. Ông Chung cho rằng nhà đất này ông được cha mẹ cho riêng ông trước khi kết hôn với bà Trinh; năm 2004 ông và bà Trinh có ký giấy cho con là chị Thuỷ tài sản này, nhưng giấy đó chưa có chính quyền xác nhận, ông không đồng ý cho nữa, đề nghị là tài sản riêng của ông. Bà Trinh có đơn phản tố đề nghị nhà đất này trước đây là tài sản chung vợ chồng, nhưng vợ chồng đã ký giấy cho con là chị Thuỷ, nêu yêu cầu công nhận quyền sở hữu cho chị Thuỷ nhà đất này.
Tại phiên tòa sơ thẩm, ông Chung vẫn giữ nguyên yêu cầu trên, còn bà Trinh xác định là tài sản chung, đề nghị chia cho ông Chung hưởng 3 phần, bà hưởng 7 phần; không có nội dung nào bà Trinh rút yêu cầu này. Như vậy, tài sản này các đương sự có tranh chấp về quyền sở hữu. Nhà đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở, nhưng đã có các giấy tờ kê khai nguồn gốc và được chính quyền xác nhận nên nội dung tranh chấp tài sản này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.
Năm 2009, bà Trinh xây dựng cơi nới nhà 61/1D ấp Đông Lân không có giấy phép, nên tại Quyết định số 12/QĐ-UBND ngày 24/3/2009 và Quyết định số 14/QĐ-UBND ngày 27/3/2009, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã Bà Điểm quyết định đình chỉ thi công và cưỡng chế phá dỡ công trình xây dựng vi phạm 344m2 trên diện tích đất 380,9m2. Nhưng sau đó, tại Biên bản xác minh ngày 06/7/2009, đại diện Uỷ ban nhân dân xã Bà Điểm xác định nhà đất trên dù nằm trong quy hoạch công viên cây xanh, sau này giải tỏa sẽ được đền bù, nếu không có tranh chấp sẽ được làm thủ tục để được cấp “chủ quyền” theo quy định. Như vậy, căn nhà cũ trên đất vẫn được tồn tại, không bị cưỡng chế, đất được tiếp tục sử dụng hợp pháp. Lẽ ra, Tòa án cấp sơ thẩm và cấp phúc thẩm phải thu thập chứng cứ làm rõ chính quyền địa phương đã thi hành dứt điểm các quyết định hành chính nêu trên chưa? Nếu chưa bị cưỡng chế và chính quyền địa phương vẫn tiếp tục thi hành quyết định cưỡng chế thì phải tách phần giải quyết về tài sản này để giải quyết thành vụ án khác khi có đương sự yêu cầu. Nếu chính quyền địa phương không tiếp tục thi hành quyết định cưỡng chế thì phải giải quyết tài sản tranh chấp theo quy định.
Tòa án cấp sơ thẩm cho rằng các đương sự không có tranh chấp về tài sản này và không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, để đình chỉ giải quyết yêu cầu của đương sự đối với nhà đất số 61/1D ấp Đông Lân là không đúng. Ông Chung đã kháng cáo về phần quyết định này, nhưng Tòa án cấp phúc thẩm vẫn nhận định như Tòa án cấp sơ thẩm và giữ nguyên nội dung quyết định này cũng không đúng [34]. Luận văn: Hoàn thiện chế độ tài sản vợ chồng theo Luật Hôn nhân.
Trong thực tế những vụ án có tranh chấp về tài sản khi ly hôn tại Toà án tương đối nhiều và phức tạp. Quá trình giải quyết vụ án vẫn còn để xảy ra sai sót ảnh hưởng đến quyền lợi hợp pháp của đương sự. Vì vậy, các Thẩm phán khi giải quyết vụ án cần phải nghiên cứu kỹ các quy định của pháp luật cũng như thu thập chứng cứ đầy đủ để giải quyết cho phù hợp với thực tế, đảm bảo được quyền lợi hợp pháp của những người tham gia tố tụng trong vụ án. Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đã bổ sung điều luật mới (Điều 46) quy định việc nhập tài sản riêng của vợ, chồng vào tài sản chung, tuy nhiên hiện nay chưa có văn bản hướng dẫn nên các cơ quan có thẩm quyền khó áp dụng vấn đề này để giải quyết trong thực tiễn.
3.1.1.3. Trách nhiệm liên đới giữa vợ và chồng đối với tài sản chung
Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định: “Vợ hoặc chồng phải chịu trách nhiệm liên đới đối với giao dịch dân sự hợp pháp do một trong hai người thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt thiết yếu của gia đình” [54, Điều 25].
Quy định này đã được sửa đổi, bổ sung tại Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Theo đó, phạm vi chịu trách nhiệm liên đới mở rộng hơn Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000:
- Vợ, chồng chịu trách nhiệm liên đới đối với giao dịch do một bên thực hiện quy định tại khoản 1 Điều 30 (giao dịch nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình) hoặc giao dịch khác phù hợp với quy định về đại diện tại các Điều 24, 25 và 26 của Luật này.
- Vợ, chồng chịu trách nhiệm liên đới về các nghĩa vụ quy định tại Điều 37 của Luật này [60, Điều 27].
Theo các quy định trên, khi vợ chồng thực hiện các giao dịch liên quan đến tài sản chung hay thực hiện các nghĩa vụ liên quan đến tài sản chung thì phải đặt phần tài sản đó ngay trong khối tài sản của vợ chồng để xem xét. Tuy nhiên, trên thực tế việc xác định tài sản chung của vợ chồng khi xét xử tại Toà án còn có trường hợp không đúng, gây thiệt hại quyền lợi của vợ, chồng.
Chúng tôi xin nêu ví dụ như sau: Nguyên đơn: Ông Nguyễn Đức Anh, sinh năm 1950; Địa chỉ: số 1390 Queen Street West, Toronto, Ontario, Canada. Bị đơn: Bà Lã Thị Bích Liên, sinh năm 1957; địa chỉ: số 9065-161 St.Surrey, BC Canada. Cả hai đều có văn bản uỷ quyền. Theo đơn khởi kiện ngày 20/8/2004 và trong quá trình giải quyết vụ án, ông Nguyễn Đức Anh (do ông Võ Thanh Tùng đại diện) trình bày: Luận văn: Hoàn thiện chế độ tài sản vợ chồng theo Luật Hôn nhân.
Năm 1975, ông chung sống với bà Lã Thị Bích Liên, ngày 5/12/1976 ông và bà Liên đăng ký kết hôn. Năm 1979, vợ chồng ông mua căn nhà số 526 An Dương Vương, phường 9, quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh của cụ Tiêu Mộc. Do không có hộ khẩu tại Thành phố Hồ Chí Minh nên ông để bà Liên đứng tên và để giảm thuế hai bên không lập hợp đồng mua bán mà ngày 7/6/1979 cụ Tiêu Mộc lập “Giấy uỷ quyền” cho bà Liên căn nhà trên. Ngày 29/8/1979, Sở Quản lý nhà đất Thành phố Hồ Chí Minh cấp Giấy phép cho nhà số 926/GP-SNĐ, sau khi nhận chuyển nhượng thì gia đình ông quản lý, sử dụng. Năm 1984, ông cùng hai người con của ông, bà vượt biên cư trú ở Canada, mẹ con bà Liên tiếp tục quản lý sử dụng căn nhà trên. Tháng 2/1992, ông bảo lãnh cho bà Liên cùng các con của ông, bà (còn ở Việt Nam) sang Canada. Do căn nhà cũ bị hư hỏng nên năm 1994 ông có hợp đồng với Công ty NOVINA để xây dựng lại căn nhà, đồng thời vay của ông Trần Ngọc Trường 250.000.000 đồng để trả tiền xây dựng và nhờ ông Trường giám sát thi công. Năm 2003, ông và bà Liên ly hôn tại Canada nhưng chưa đề cập đến căn nhà số 526 An Dương Vương. Vì vậy, đề nghị xác định căn nhà trên là tài sản chung của ông và bà Liên để chia (sau khi trừ chi phí xây dựng).
Bà Lã Thị Bích Liên trình bày: Do có quan hệ gia đình nên năm 1979 cụ Tiêu Mộc cho riêng bà căn nhà trên, việc cho đã hoàn thiện nên Sở Quản lý nhà đất Thành phố Hồ Chí Minh cấp Giấy phép cho nhà số 926/GP-SNĐ ngày 29/8/1979 trong đó xác định bà là người được cho. Do căn nhà cũ bị hư hỏng nên bà giao cho ông Lê Bích 2.000 USD để ông Bích sửa lại nhà. Vì vậy, bà xác định căn nhà trên là tài sản riêng của bà nên không đồng ý với yêu cầu của ông Đức Anh.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 3282/2009/DS-ST ngày 03/11/2009, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh quyết định, trong đó có nội dung:
- Chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Đức Buộc bà Lã Thị Bích Liên có trách nhiệm hoàn lại cho ông Nguyễn Đức Anh số tiền 2.411.860.725 đồng.
- Sau khi trả số tiền này bà Liên được toàn quyền sở hữu căn nhà 526 An Dương Vương, phường 9, quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh.
Tại Bản án dân sự phúc thẩm số 197/2010/DS-PT ngày 11/9/2010, Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh quyết định sửa án sơ thẩm như sau:
- Bác yêu cầu của ông Nguyễn Đức Anh kiện đòi chia giá trị căn nhà 526 An Dương Vương, phường 9, quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh đối với bà Lã Thị Bích Liên.
- Công nhận căn nhà số 526 An Dương Vương, phường 9, quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh là tài sản riêng của bà Lã Thị Bích Liên. Luận văn: Hoàn thiện chế độ tài sản vợ chồng theo Luật Hôn nhân.
Nhận xét về vụ án:
Bà Lã Thị Bích Liên cho rằng tại “Tờ ủy quyền căn nhà cho cháu” lập năm 1979 thì cụ Tiêu Mộc “bằng lòng cho đứt căn nhà nói trên cho cháu ruột tôi tên Lã Thị Bích Liên, là chủ căn nhà nói trên” và tại “Giấy phép cho nhà” số 926/GP-SNĐ nói ngày 29/8/1979 Sở Quản lý nhà đất Thành phố Hồ Chí Minh cho phép cụ Mộc cho bà Liên căn nhà trên, nên bà là chủ sở hữu căn nhà và không chấp nhận yêu cầu của ông Đức Anh.
Như vậy, tuy bà Liên đứng tên riêng trong các giấy tờ nhà nhưng trong thực tế năm 1979 thì giữa ông Anh với bà Liên vẫn tồn tại hôn nhân hợp pháp. Nên theo qui định tại Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 thì tài sản trên là tài sản chung vợ chồng.
Mặt khác, tại “Văn tự nhượng và thụ nhượng nhà (ủy quyền quản lý nhà)” do bà Liên lập ngày 14/02/1992 (Văn bản này bà Liên ủy quyền cho bà Cao Thị Thanh Hồng quản lý sử dụng để mẹ con bà Liên xuất cảnh sang Canada do ông Anh bảo lãnh) thì bà Liên thừa nhận căn nhà trên là tài sản của bà và chồng của bà là ông Nguyễn Đức Anh. Văn bản trên có chữ ký của bà Liên, bà Hồng và có xác nhận của chính quyền địa phương nơi bà Hồng, bà Liên cư trú.
Theo xác nhận ngày 24/8/2004 thì ông Mai Văn Dung (là Phó Trưởng Công an phường 15, quận 5 vào năm 1979) thì căn nhà trên do ông Anh, bà Liên mua để bà Liên đứng tên vì ông Anh không có hộ khẩu ở Thành phố Hồ Chí Minh. Còn ông Nguyễn Ngọc Anh, ông Trần Ngọc Trường xác nhận năm 1979 ông Anh là người mua căn nhà trên của cụ Tiêu Mộc.
Ngoài ra, bà Lã Thị Bích Thơm (em của bà Liên) khẳng định ông Đức Anh là người mua nhà để bà Liên đứng tên. Còn bà Hồng yêu cầu ông Anh, bà Liên trả tiền công trông giữ nhà vì cho rằng ông Anh, bà Liên nhờ bà trông nhà hộ và hứa trả công cho bà mỗi tháng 100 USD.
Mặt khác, sau khi mua nhà thì ông Anh còn mượn tiền, nhờ ông Trần Ngọc Trường ký hợp đồng với Công ty NOVINA đồng thời giám sát việc sửa nhà nên có căn nhà như hiện nay.
Với các chứng cứ nêu trên lẽ ra phải xác định căn nhà có tranh chấp là tài sản chung của ông Anh, bà Liên như Tòa án cấp sơ thẩm xác định để chia theo yêu cầu của ông Anh mới đúng. Tòa án cấp phúc thẩm chỉ căn cứ vào “Tờ ủy quyền căn nhà cho cháu” do cụ Tiêu Mộc lập năm 1979; “Giấy phép cho nhà” số 926/GP-SNĐ ngày 29/8/1979 của Sở Quản lý nhà đất Thành phố Hồ Chí Minh và lời khai của bà Liên để cho rằng căn nhà có tranh chấp là tài sản riêng của bà Liên từ đó bác yêu cầu của ông Nguyễn Đức Anh là không đúng, gây thiệt hại quyền lợi của ông [35].
3.1.1.4. Áp dụng tập quán để phân chia tài sản chung vợ, chồng
Tại khoản 1 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định trách nhiệm của Nhà nước và xã hội:
Vận động nhân dân xoá bỏ phong tục, tập quán lạc hậu về hôn nhân và gia đình, phát huy truyền thống, phong tục tập quán tốt đẹp thể hiện bản sắc của mỗi dân tộc; xây dựng quan hệ hôn nhân và gia đình tiến bộ, và Điều 6 Luật đã khẳng định: Trong quan hệ hôn nhân và gia đình, những phong tục, tập quán thể hiện bản sắc của mỗi dân tộc mà không trái với những nguyên tắc quy định tại Luật này thì được tôn trọng và phát huy [54]. Về cơ bản, các nội dung này giữ nguyên tại Điều 4 và Điều 7 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Luận văn: Hoàn thiện chế độ tài sản vợ chồng theo Luật Hôn nhân.
Tập quán về hôn nhân và gia đình được giải thích: “Là quy tắc ứng xử có nội dung rõ ràng về quyền, nghĩa vụ của các bên trong quan hệ hôn nhân và gia đình, được lặp đi, lặp lại trong một thời gian dài và được thừa nhận rộng rãi trong một vùng, miền hoặc cộng đồng” [60, Điều 3]. Vận dụng các quy định của pháp luật trong thực tiễn xét xử của Toà án, đặc biệt Toà án ở các tỉnh miền núi, vùng sâu, vùng xa đã áp dụng nhiều phong tục, tập quán để giải quyết các tranh chấp về hôn nhân và gia đình. Tuy nhiên, trên thực tế việc áp dụng phong tục, tập quán để giải quyết vẫn còn nhiều kẽ hở, hiệu quả chưa cao, còn nhiều bất cập trong việc áp dụng phong tục tập quán trong quá trình xét xử của Toà án; chưa có quy định thống nhất về quan điểm, về các nguyên tắc và điều kiện đặt ra trong áp dụng phong tục, tập quán.
Về nguyên tắc, Nhà nước và xã hội chỉ tôn trọng và phát huy các phong tục, tập quán tốt đẹp về hôn nhân và gia đình. Tuy nhiên, tính chất tốt đẹp của phong tục, tập quán là một giá trị trừu tượng, nội dung của giá trị này thay đổi theo từng giai đoạn phát triển của xã hội, đồng thời cũng phụ thuộc vào quan điểm của từng cá nhân, gia đình, cộng đồng, tầng lớp xã hội và giai cấp. Vì vậy, nó có thể được xác định đánh giá theo nhiều góc độ, nhiều quan niệm khác nhau. Trên thực tế đã có nhiều cách hiểu khác nhau trong việc xác định phong tục, tập quán nào là tốt đẹp cần được kế thừa và phát huy; phong tục, tập quán nào cần được xoá bỏ, do đó đã tạo kẽ hở cho những tập quán lạc hậu tồn tại, hoặc gây ra sự lạm dụng tập quán nhiều hơn là áp dụng quy phạm pháp luật. Việt Nam ngày nay, vẫn còn có những địa phương, đặc biệt là khu vực miền núi còn có quan niệm “trọng nam”, vì vậy khi giải quyết tranh chấp về tài sản vợ chồng đặc biệt là đối với các tài sản có giá trị lớn thì ảnh hưởng của tư tưởng này trong việc phân chia tài sản chung của vợ chồng tại một số Toà án dẫn đến quyền lợi của phụ nữ không được bảo vệ. Tuy nhiên, nếu áp dụng cứng nhắc các quy định của pháp luật mà không vận dụng tập quán để phân chia tài sản chung của vợ, chồng thì người phụ nữ cũng sẽ chịu nhiều thiệt thòi. Ví dụ: Trước đây việc áp dụng phong tục, tập quán là chủ yếu thì khi kết hôn người phụ nữ theo chồng, được bố, mẹ bên chồng cho hai vợ chồng đất để ở riêng tạo lập cuộc sống. Việc tặng cho này thường chỉ bằng lời nói, hành vi, đất không có “bìa đỏ”, giấy tờ. Sau khi sang đất mới để ở, quá trình sử dụng vợ, chồng kê khai và được nhà nước cấp quyền sử dụng thì quyền sử dụng đất đó là tài sản chung vợ chồng, nếu có xảy ra việc ly hôn thì quyền lợi của người phụ nữ được bảo vệ. Ngày nay, đất đai cơ bản đã được cấp quyền sử dụng, xã hội ngày càng phát triển thì nhận thức pháp luật của người dân càng nâng cao, họ đã biết áp dụng các quy định pháp luật để bảo vệ quyền lợi của mình. Vì vậy, thực tế có nhiều trường hợp quyền lợi của người phụ nữ không được bảo vệ, như:
Những người trước khi kết hôn đã được cha, mẹ tặng cho quyền sử dụng đất. Theo quy định của pháp luật phải có văn bản thoả thuận mới được coi là tài sản chung của vợ chồng. Tuy nhiên trên thực tế, đặc biệt là ở nông thôn ít có những người vợ đề nghị chồng lập văn bản để nhập vào tài sản chung; vợ, chồng khi chung sống hoàn toàn tin tưởng nhau và mục đích là cùng nhau xây dựng cuộc sống hạnh phúc, chăm sóc con cái nên mặc dù qua vài chục năm chung sống họ cũng không để ý gì đến tài sản chung, riêng, đến khi ly hôn thì người vợ chịu nhiều thiệt thòi. Luận văn: Hoàn thiện chế độ tài sản vợ chồng theo Luật Hôn nhân.
Sau khi kết hôn nhiều cặp vợ chồng thường chung sống cùng bố mẹ chồng, trường hợp này quyền sử dụng nhà, đất vẫn thuộc tài sản của bố, mẹ chồng nên khi ly hôn người vợ không được xem xét quyền lợi đối với nhà, đất ngoại trừ công sức đóng góp tôn tạo, sửa chữa. Hoặc cho dù được bố mẹ chồng cho ra ở riêng, thì khi làm thủ tục tặng cho quyền sử dụng nhà, đất bố mẹ chồng thường tặng cho riêng con trai, vì vậy theo quy định thì đây vẫn là tài sản riêng của người chồng.
Do vậy, ảnh hưởng của quan niệm “trọng nam” ở một số vùng miền và việc áp dụng các quy định cứng nhắc của pháp luật trong nhiều trường hợp khó có thể bảo đảm được quyền lợi của người phụ nữ, khi chia tài sản khó có thể bảo đảm được sự công bằng. Việc áp dụng tập quán để phân chia tài sản chung của vợ, chồng là cần thiết, tuy nhiên những tập quán được áp dụng phải có nội dung không được trái với các nguyên tắc cơ bản của Luật Hôn nhân và gia đình, không được tuỳ tiện, đó là điều kiện, là nguyên tắc mà Toà án các địa phương, đặc biệt là khu vực nông thôn, miền núi cần xem xét.
Ví dụ: Vụ án tranh chấp đòi lại quyền sử dụng đất giữa nguyên đơn là ông Phan Văn Nôm với bị đơn là vợ chồng anh Phan Văn Hải, chị Nguyễn Thị Đoàn.
Nội dung vụ án: Ông Phan Văn Nôm và bà Phan Thị In kết hôn với nhau từ năm 1958, có 05 người con chung là các anh chị Phan Văn Hải, Phan Văn Dương, Phan Thị Ẩn, Phan Thị Loan và Phan Thị Doan. Năm 1982, vợ chồng ông Nôm, bà In tạo lập được 03 gian nhà xây gạch lợp ngói và công trình phụ trên diện tích 502m2 đất tại thửa số 441, 442 tờ bản đồ số 28 thôn Tam Kiệt, xã Hữu Bằng, huyện Kiến Thụy. Nguồn gốc là đất thổ cư do bố mẹ ông Nôm để lại. Năm 1971, Hợp tác xã nông nghiệp Hồng Phong thôn Tam Kiệt, xã Hữu Bằng đổi đất cho gia đình ông Nôm, năm 1983 kê khai số mục kê của xã Hữu Bằng, chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Năm 1992, khi anh Hải lập gia đình, ông Nôm, bà In cho vợ chồng anh Hải xây dựng nhà trên diện tích 263m2 đất mà không chuyển quyền sử dụng đất cho anh Hải. Năm 1994, anh Dương lập gia đình, vợ chồng ông Nôm, bà In xây dựng nhà cho vợ chồng anh Dương trên diện tích còn lại 239m2 đất cũng không chuyển quyền sử dụng đất cho anh Dương. Việc vợ chồng ông Nôm, bà In cho vợ chồng anh Hải, anh Dương xây dựng nhà trên đất để ở, sinh hoạt, nhưng không lập biên bản mà chỉ nói miệng. Do vợ chồng anh Hải vi phạm nghĩa vụ chăm sóc, phụng dưỡng bố mẹ, cản trở việc thực hiện quyền sử dụng đất của ông Nôm nên ông Nôm chỉ đòi vợ chồng anh Hải trả lại toàn bộ diện tích 263m2 đất. Đối với nhà cấp 4 và diện tích 126m2 đất mà anh Dương bán cho anh Hải năm 2001 do các bên tự giải quyết với nhau, nên ông Nôm không có ý kiến gì. Tại phiên tòa sơ thẩm, ông Nôm tự nguyện tặng cho vợ chồng anh Hải 65m2 đất, chỉ đòi vợ chồng anh Hải phải trả lại 198m2 đất và cũng thừa nhận vợ chồng anh Hải, chị Đoàn có công sức tu bổ, cải tạo làm tăng giá trị quyền sử dụng đất tranh chấp và trích công sức cho vợ chồng anh Hải số tiền theo luật định.
Đồng bị đơn anh Phan Văn Hải và chị Nguyễn Thị Đoàn cho rằng: Nay, ông Nôm yêu cầu vợ chồng anh phải trả lại diện tích 263m2 đất, vợ chồng anh không đồng ý vì diện tích đất khoảng 263m2 vợ chồng anh đang sử dụng được bố mẹ tặng cho từ năm 1992, vợ chồng anh, chị sử dụng đất ổn định, thực hiện nộp thuế và nghĩa vụ khác cho Nhà nước từ đó đến nay.
Tòa án cấp sơ thẩm quyết định: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phan Văn Nôm về “đòi lại tài sản và quyền sử dụng đất”, buộc vợ chồng anh Phan Văn Hải, chị Nguyễn Thị Đoàn phải trả lại vợ chồng ông Phan Văn Nôm, bà Phan Thị In diện tích đất 91m2. Giao cho vợ chồng ông Nôm và bà In quyền sử dụng đất 91m2 [72, tr.4].
- Nhận xét về vụ án: Luận văn: Hoàn thiện chế độ tài sản vợ chồng theo Luật Hôn nhân.
Vợ chồng anh Hải và bà In đều thống nhất là ông Nôm và bà In đã tặng cho vợ chồng anh Hải và vợ chồng anh Dương 02 thửa đất nói trên nhưng chưa tiến hành các thủ tục chuyển giao theo đúng quy định. Ông Nôm khai chỉ cho vợ chồng anh Phan Văn Hải mượn đất để xây nhà nhưng năm 1992 anh Hải xây dựng nhà cửa, công trình trên diện tích đất đó ông Nôm đã đồng ý, không có ý kiến gì. Như vậy, việc vợ chồng anh Hải, chị Đoàn xây dựng nhà ở ổn định trên đất bố mẹ từ năm 1992 đến nay có khuôn viên riêng thì hướng giải quyết là không nên chấp nhận việc đòi lại đất của ông Nôm.
Toà án chấp nhận việc đòi đất của ông Nôm đồng nghĩa với việc Toà án không xem xét diện tích 502m2 là tài sản chung của ông Nôm và bà In, trong khi theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959, chế độ tài sản của vợ chồng là chế độ cộng đồng toàn sản: “Vợ chồng đều có quyền sở hữu, hưởng thụ và sử dụng ngang nhau đối với tài sản có trước và sau khi cưới” [49]. Mặt khác nguồn gốc diện tích 502m2 đất là đất thổ cư do bố mẹ ông Nôm để lại, mặc dù bố mẹ ông Nôm cho riêng ông nhưng ông bà đã cất nhà và sinh sống ổn định, lâu dài và theo truyền thống của người Việt Nam luôn coi trọng yếu tố tình cảm, không phân biệt quan hệ tài sản của chung hay riêng, nhất là các vùng nông thôn, miền núi. Việc bố mẹ tặng cho con đất thường không được lập thành văn bản mà thể hiện bằng hành vi cụ thể. Do vậy, đối chiếu với trường hợp này Toà án phải xác định diện tích 502m2 đất là tài sản chung của ông Nôm và bà In.
Ông Nôm nói rằng không tặng cho quyền sử dụng đất cho vợ chồng anh Hải, nhưng bà In lại đồng ý là đã tặng cho vợ chồng anh Hải từ năm 1992. Nếu ông Nôm không thừa nhận việc tặng cho vợ chồng anh Hải thì bà In cũng có quyền tặng cho vợ chồng anh Hải quyền sử dụng 1/2 diện tích đất thuộc quyền sử dụng chung của ông, bà (1/2 của 502m2 = 251m2). Như vậy, ông Nôm khởi kiện đòi lại quyền sử dụng 263m2 đất vợ chồng anh Hải đang sử dụng là không có căn cứ chấp nhận. Vì vậy, chúng tôi cho rằng cần sửa bản án sơ thẩm theo hướng bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
3.1.2. Áp dụng chế độ tài sản của vợ chồng thông qua hoạt động công chứng tại các Văn phòng công chứng Luận văn: Hoàn thiện chế độ tài sản vợ chồng theo Luật Hôn nhân.
3.1.2.1. Thỏa thuận chia tài sản chung vợ chồng nhằm trốn tránh nghĩa vụ tài sản khác
Luật Hôn nhân và gia đình luôn thể hiện sự tôn trọng thoả thuận của vợ chồng, khẳng định quyền của vợ chồng trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung. Tuy nhiên, bên cạnh việc tôn trọng quyền định đoạt tài sản chung của vợ chồng, Luật Hôn nhân và gia đình cũng dự liệu đến những trường hợp vợ chồng lạm dụng quyền của mình trong việc chia tài sản chung có thể gây hậu quả xấu, xâm phạm đến lợi ích hợp pháp khác được pháp luật bảo vệ. Vì vậy, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định: “Việc chia tài sản chung của vợ chồng nhằm trốn tránh thực hiện nghĩa vụ về tài sản không được pháp luật công nhận” [54, Điều 29, Khoản 2].
Như vậy, nếu vợ chồng đã thoả thuận chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân nhưng sau đó có chứng cứ cho rằng việc chia tài sản đó là nhằm trốn tránh thực hiện nghĩa vụ về tài sản thì việc chia tài sản đó không được pháp luật công nhận.
Theo khoản 2 Điều 6 Nghị định số 70/2001/NĐ-CP ngày 03/10/2001 của Chính phủ và khoản 2 Điều 38 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014: “Văn bản thoả thuận chia tài sản chung được công chứng theo yêu cầu của vợ chồng hoặc theo quy định của pháp luật” [10]; [60].
Hiện nay, văn bản thoả thuận chia tài sản chung của vợ chồng thường được công chứng tại các Văn phòng công chứng. Việc áp dụng quy định của Luật công chứng khi công chứng các giao dịch đã nâng cao giá trị pháp lý đồng thời tạo tâm lý an toàn cho người dân. Tuy nhiên, trong một số trường hợp các cặp vợ chồng vì mục đích cá nhân nhằm hưởng lợi và trốn tránh nghĩa vụ về tài sản đã lạm dụng quyền được thoả thuận chia tài sản chung gây khó khăn và làm tăng gánh nặng cho các cơ quan chức năng. Xin nêu ví dụ cụ thể như sau:
Bà Tình và ông Lê Văn Tời kết hôn năm 2002. Trước khi kết hôn, ông Tời đã mua căn nhà và đất tại số nhà 72/36 Kim Đồng, Mật Sơn 2, P. Đông Vệ, thành phố Thanh Hoá, nhưng chưa làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Năm 2005 ông và bà Tình được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (ông Tời đồng ý cho bà Tình cùng đứng tên). Trong quá trình chung sống với nhau hai ông, bà có tu sửa lại một số công trình của ngôi nhà.
Ngày 24/6/2012 gia đình ông Tời tổ chức họp gia đình trong đó có ông Tời, bà Tình, anh Lê Văn Thành (con trai ông Tời, bà Tuyết) và các cháu trong dòng họ. Nội dung biên bản họp gia đình xác định: Tài sản là nhà và đất tại SN 72/36 Kim Đồng, Mật Sơn 2, P. Đông Vệ, thành phố Thanh Hóa là tài sản của ông Tời và bà Tuyết (vợ cả của ông Tời); Bà Tình đồng ý rút tên trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để ông Tời đứng tên; Khi ông Tời chết trước giao lại cho bà Tình ở thờ cúng, đến khi bà chết giao lại cho chú Thành (con trai ông Tời) quản lý; Tài sản không được bán, chuyển nhượng cho ai trong khi bà Tình đang ở; trong trường hợp các bên đồng ý bán thì phân chia: bà Tình được hưởng 40%, chú Thành (con ông Tời, bà Tuyết) hưởng 30%; ông Tâm hưởng 20%, ông Liên hưởng 10%…
Sau khi họp gia đình, chú Thành (con trai ông Tời) đem biên bản họp gia đình và các thủ tục lên Phòng công chứng để mời Phòng công chứng về nhà công chứng việc chia tài sản chung.
Ngày 25/6/2012 Phòng Công chứng số I – tỉnh Thanh Hóa đến gia đình ông, bà để cho ông, bà ký vào Văn bản thỏa thuận chia tài sản chung của vợ chồng đã được Văn phòng công chứng số I in sẵn ra trước. Do tin tưởng vào Văn phòng công chứng đã làm đúng như nội dung của biên bản họp gia đình, nên bà và ông đã ký vào Văn bản công chứng.
Sau khi ký vào Văn bản công chứng xong, bà Tình phát hiện nội dung của văn bản thỏa thuận chia tài sản chung của Phòng Công chứng số I chỉ ghi là: “Tài sản nhà và đất tại SN 72/36 Kim Đồng, Mật Sơn 2, P. Đông Vệ, thành phố Thanh Hóa là tài sản của ông Tời mua trước khi kết hôn với Tình và bà Tình trả lại toàn bộ phần quyền sở hữu nhà ở và sử dụng đất ở của mình trong căn nhà và đất tại SN 72/36 Kim Đồng, Mật Sơn 2, P. Đông Vệ, thành phố Thanh Hóa mà trước đây ông Tời gộp tài sản riêng thành tài sản chung của vợ chồng cho ông Lê Văn Tời để ông Lê Văn Tời được quyền sở hữu, sử dụng. Ông Tời có quyền đề nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền làm thủ tục đăng ký sang tên cho mình toàn bộ căn nhà và đất tại 72/36 Kim Đồng, Mật Sơn 2, P. Đông Vệ, thành phố Thanh Hóa”; chứ không có nội dung “Khi ông Tời chết trước giao lại cho bà Tình ở thờ cúng, đến khi bà chết giao lại cho chú Thành (con trai ông Tời) quản lý; Tài sản không được bán, chuyển nhượng cho ai trong khi bà Tình đang ở; trong trường hợp các bên đồng ý bán thì phân chia: bà Tình được hưởng 40%” như biên bản họp gia đình ngày 24/6/2012. Bà Tình cho rằng quyền và lợi ích của bà bị xâm phạm vì bà đã có công tu sửa và bảo quản ngôi nhà đó cùng ông Tời trong 10 năm qua, nhưng theo nội dung văn bản công chứng thì bà không được quyền gì trong khối tài sản trên, nên bà đã nhiều lần gửi đơn lên Văn phòng công chứng, Uỷ ban nhân dân thành phố Thanh Hóa để yêu cầu huỷ văn bản công chứng và đề nghị không làm thủ tục sang tên trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Tời. Sau đó, bà Tình được Uỷ ban nhân dân thành phố Thanh Hóa hướng dẫn khởi kiện ra Tòa án thành phố Thanh Hóa. Tháng 3 năm 2014 bà Tình gửi đơn khởi kiện đến Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu vì bà cho rằng nội dung văn bản công chứng của Phòng công chứng không ghi đầy đủ nội dung trong biên bản họp gia đình, nên đã xâm phạm đến quyền và lợi ích của bà. Luận văn: Hoàn thiện chế độ tài sản vợ chồng theo Luật Hôn nhân.
Ông Lê Văn Tời cho rằng: Văn bản công chứng đã không ghi đúng nội dung trong biên bản họp gia đình, không có phần bà Tình được hưởng 40% giá trị tài sản, ông bàn với bà Tình để nguyên văn bản công chứng và ông sẽ viết di chúc cho bà Tình được hưởng 40% giá trị tài sản nếu đem bán, nhưng bà Tình không đồng ý viết di chúc, mà việc chia tài sản phải được thỏa thuận trong Văn bản phân chia tài sản chung.
Phòng công chứng cho rằng: Việc công chứng là đúng pháp luật và đề nghị Tòa án bác yêu cầu khởi kiện của bà Tình (bản tự khai); Tại buổi hòa giải đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật và Phòng công chứng không phải là bị đơn, mà họ chỉ là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, vì theo quy định tại Điều 45 Luật công chứng và Điều 4 Nghị quyết 03/2012 của HĐTP Toà án nhân dân TC thì họ không thuộc trường hợp có tranh chấp với ai.
- Nhận xét về vụ án:
Bà Tình và ông Tời đều cho rằng Phòng công chứng đã không công chứng đúng nội dung thoả thuận. Bà Tình khởi kiện yêu cầu tuyên bố Văn bản công chứng vô hiệu theo quy định tại khoản 9 Điều 25 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 1 Điều 4 Nghị quyết số 03/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao. Ông Tời tuy biết văn bản công chứng không có nội dung như gia đình ông đã thoả thuận nhưng có ý định giữ nguyên văn bản công chứng.
Phòng công chứng đã căn cứ vào Điều 45 Luật công chứng năm 2006 và khoản 2 Điều 4 Nghị quyết số 03/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao để cho rằng việc công chứng là đúng pháp luật.
Như vậy, giữa bà Tình, ông Tời và Phòng công chứng không cùng đồng ý yêu cầu Toà án tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu nên không thuộc trường hợp sẽ giải quyết theo quy định tại khoản 6 Điều 26 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự: “Yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu” [59]. Ở đây, rõ ràng quyền và lợi ích của bà Tình đã bị xâm phạm và điều này ông Tời cũng đã biết, trong khi Phòng công chứng là cơ quan có thẩm quyền công chứng các giao dịch phải có trách nhiệm đảm bảo tính minh bạch, tạo sự tin cậy và tâm lý an toàn cho người dân nhưng lại thể hiện sự thiếu trách nhiệm làm ảnh hưởng tới quyền lợi của họ. Vì vậy, với tình huống này, việc bà Tình khởi kiện Phòng công chứng đã ghi nội dung văn bản công chứng không đầy đủ dẫn đến quyền lợi của bà bị xâm phạm, Toà án cần giải quyết theo quy định tại khoản 9 Điều 25 và điểm b khoản 3 Điều 159 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự: “Tranh chấp liên quan đến yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu” [59], với thời hiệu khởi kiện là 02 năm.
Xét nguyên nhân sâu sắc hơn, khi tổ chức họp gia đình, ông Tời đã đồng ý để bà Tình được hưởng 40% nếu tài sản đem bán. Nhưng sau khi công chứng ông lại bàn với bà Tình giữ nguyên văn bản công chứng (bà Tình không được hưởng 40% theo nội dung công chứng). Phải chăng đây là một hành vi lừa dối trong việc chia tài sản chung của vợ chồng. Vì thực tế, có rất nhiều trường hợp các bên yêu cầu công chứng văn bản thoả thuận để nhằm che giấu các mục đích khác nhau mà không loại trừ khả năng vợ, chồng trốn tránh nghĩa vụ tài sản của mình. Luận văn: Hoàn thiện chế độ tài sản vợ chồng theo Luật Hôn nhân.
3.1.2.2. Trách nhiệm liên đới giữa vợ và chồng khi một bên vợ hoặc chồng tham gia giao dịch dân sự
Theo quy định của pháp luật, khi tham gia vào giao dịch dân sự đối với tài sản chung của vợ và chồng đều phải có sự thoả thuận và đồng ý của cả vợ và chồng. Nếu một bên vợ hoặc chồng không thể hiện sự đồng ý thì giao dịch dân sự đó là bất hợp pháp, bị coi là vô hiệu. Đối với các giao dịch dân sự do một bên vợ hoặc chồng thực hiện, thì vợ hoặc chồng chỉ phải chịu trách nhiệm liên đới khi giao dịch đó là hợp pháp và nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt của gia đình. Trên thực tế, có không ít trường hợp một bên vợ hoặc chồng tham gia giao dịch dân sự bằng tài sản chung đã không đáp ứng các điều kiện trên và lạm dụng quy định này gây ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác. Sau đây là một ví dụ cụ thể:
Chị Vũ Thị Thu Hương sinh năm 1995 (là con của chị Trần Thị Dung và anh Vũ Quang Hưng), năm 2010 chị Dung chết.
Năm 2011 anh Hưng (bố chị Hương) đến Văn phòng công chứng yêu cầu công chứng về việc chia di sản thừa kế của chị Dung để lại trong khối tài sản chung với anh Hưng. Tại buổi công chứng có mặt anh Hưng, bố mẹ chị Dung và hai con của anh Hưng và chị Dung là chị Hương và cháu Huy cùng ký vào văn bản phân chia di sản thừa kế với nội dung “nhường toàn bộ quyền hưởng di sản thừa kế của mình cho anh Vũ Quang Hưng”. Sau khi có văn bản công chứng anh Hưng làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và đem thế chấp bảo đảm nghĩa vụ trả nợ cho người khác.
Tháng 3/2014 chị Hương mới biết quyền và lợi ích của mình bị xâm phạm. Ngày 04/4/2014 chị Hương khởi kiện Văn phòng công chứng về việc yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu và yêu cầu huỷ Quyết định cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho anh Hưng vì chị cho rằng:
Tại thời điểm ký văn bản phân chia di sản thừa kế bản thân chị mới 16 tuổi và em trai chị mới 08 tuổi (chưa đủ năng lực hành vi dân sự để tự định đoạt, quyết định liên quan đến bất động sản). Trong thủ tục công chứng không có bất kỳ văn bản nào thể hiện chị và em trai chị có người đại diện. Mặt khác, nếu ông Hưng là đại diện cũng không được định đoạt tài sản của người được đại diện cho chính mình, do đó văn bản công chứng vi phạm điều cấm và còn thời hiệu khởi kiện theo quy định tại khoản 1 Điều 20, khoản 5 Điều 144, Điều 128 của Bộ luật Dân sự.
Ý kiến của Phòng công chứng:
- Việc công chứng không trái quy định của pháp luật vì theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình thì cha, mẹ có quyền quản lý, định đoạt tài sản của con chưa thành niên, nên không đồng ý hủy văn bản công chứng.
- Thời hiệu khởi kiện không còn vì đã quá 02 năm kể từ ngày ký văn bản công chứng và các cháu ở với bố nên luôn có người đại diện.
- Theo Điều 4 Nghị quyết số 03/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao thì Phòng công chứng không phải là đối tượng bị kiện, vì không phải là đối tượng tranh chấp với nhau theo quy định, nên không phải là bị đơn. Luận văn: Hoàn thiện chế độ tài sản vợ chồng theo Luật Hôn nhân.
Qua nội dung trên xét thấy:
Chị Hương khởi kiện yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu là có căn cứ, bởi lẽ theo quy định tại khoản 5 Điều 144 Bộ luật Dân sự năm 2005 thì: “Người đại diện không được xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự với chính mình”, do đó vi phạm Điều 128 Bộ luật Dân sự (vi phạm điều cấm của pháp luật).
Về định đoạt tài sản riêng của con chưa thành niên, theo Điều 46 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000:
- Trong trường hợp cha mẹ quản lý tài sản riêng của con dưới mười lăm tuổi thì có quyền định đoạt tài sản đó vì lợi ích của con, có tính đến nguyện vọng của con, nếu con từ đủ chín tuổi trở lên.
- Con từ đủ mười lăm tuổi đến dưới mười tám tuổi có quyền định đoạt tài sản riêng; nếu định đoạt tài sản có giá trị lớn hoặc dùng tài sản để kinh doanh thì phải có sự đồng ý của cha mẹ [54].
Như vậy, Phòng công chứng đưa ra lý do để bác bỏ nội dung khởi kiện của chị Hương là hoàn toàn không đúng với quy định của Bộ luật Dân sự, Luật Hôn nhân và gia đình và Nghị quyết số 03/2012/NQ-HĐTP. Quyền và lợi ích hợp pháp của chị Hương đã bị xâm phạm, các bên lại không cùng có yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu. Việc xác định đây là vụ án để giải quyết là hoàn toàn phù hợp quy định của pháp luật đồng thời là cách tốt nhất để bảo vệ quyền lợi của chị Hương.
Theo quy định của pháp luật thời hiệu khởi kiện là 02 năm. Tuy nhiên, quy định 02 năm phải được hiểu là kể từ khi một người biết quyền và lợi ích hợp pháp của họ bị xâm phạm. Do vậy, kể từ tháng 3/2014 đến ngày 04/4/2014 chị Hương mới khởi kiện Phòng công chứng là không vi phạm về thời hiệu.
Theo cách nhìn nhận khác, việc anh Hưng làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và đem thế chấp bảo đảm nghĩa vụ trả nợ cho người khác ngay sau khi có văn bản công chứng “nhường toàn bộ quyền hưởng di sản thừa kế của chị Hương và cháu Huy cho anh Hưng”, đây là tài sản nằm trong khối tài sản chung của anh Hưng và chị Dung. Hành vi này của anh Hưng xét dưới góc độ nào đó đã kéo theo cả trách nhiệm của chị Dung vào việc thực hiện nghĩa vụ của chồng trong khi chỉ có một bên tham gia giao dịch dân sự và giao dịch đó lại không hợp pháp.
3.2 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN CHẾ ĐỘ TÀI SẢN CỦA VỢ CHỒNG TRONG LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH VIỆT NAM Luận văn: Hoàn thiện chế độ tài sản vợ chồng theo Luật Hôn nhân.
Nghiên cứu các vấn đề về chế độ tài sản của vợ chồng, việc áp dụng chế độ này trong thực tiễn xét xử và hoạt động công chứng, có thể thấy rằng hệ thống pháp luật nói chung và pháp luật về chế độ tài sản của vợ chồng nói riêng vẫn còn nhiều hạn chế, khi vận dụng vào thực tế đã có nhiều cách hiểu không thống nhất làm cho việc thực thi pháp luật đạt hiệu quả không cao. Vì vậy, qua nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn áp dụng chế độ tài sản của vợ chồng, tôi xin kiến nghị một số giải pháp chủ yếu như sau:
3.2.1. Những kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về chế độ tài sản của vợ chồng
3.2.1.1. Quy định về căn cứ xác định tài sản chung và việc chia tài sản chung của vợ chồng
- Về căn cứ xác định tài sản chung của vợ chồng:
Tài sản chung của vợ chồng nhưng do một bên đứng tên trong giấy tờ về quyền sở hữu:
Tại khoản 1 Điều 27 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 và khoản 1 Điều 33 Luật HN&GĐ năm 2014 quy định: “Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra….. trong thời kỳ hôn nhân; tài sản mà vợ, chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và những tài sản khác mà vợ chồng có thoả thuận là tài sản chung” [54]; [60]. Tiếp đó, tại khoản 2 Điều 27 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 và khoản 1 Điều 34 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Trong trường hợp tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng mà pháp luật có quy định phải đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng thì giấy chứng nhận quyền sở hữu, giấy chứng nhận quyền sử dụng phải ghi tên cả hai vợ chồng” [54]; [60].
Như đã phân tích, việc áp dụng quy định trên đã dẫn đến nhiều cách hiểu khác nhau, ảnh hưởng tới quyền lợi của người phụ nữ, trong gia đình khó có thể đảm bảo được nguyên tắc bình đẳng. Nếu cho rằng: tài sản riêng có trước khi kết hôn hoặc tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng do một người đứng tên mặc dù được đưa vào khai thác, sử dụng chung nhưng không có văn bản thoả thuận đưa vào tài sản chung thì vẫn là tài sản riêng. Theo quan điểm này, người phụ nữ trong gia đình sẽ chịu nhiều thiệt thòi đặc biệt là nó không phản ánh đúng thực trạng xã hội ở khu vực nông thôn, miền núi. Có quan điểm cho rằng: Tài sản mà vợ chồng đang quản lý, sử dụng chung (có trước hoặc sau thời kỳ hôn nhân) mặc dù do một người đứng tên nhưng không có văn bản thoả thuận là tài sản riêng thì đó vẫn là tài sản chung; tài sản riêng của vợ hoặc chồng nhưng đã đưa vào khai thác, sử dụng chung là tài sản chung. Ở nhiều địa phương, đặc biệt là khu vực nông thôn, miền núi việc cha mẹ tặng cho con đất để cất nhà ở khi người con lập gia đình thường chỉ thực hiện bằng lời nói hoặc hành vi. Khi xảy ra tranh chấp thì việc xác định tài sản chung, tài sản riêng là rất khó khăn. Hoặc nếu có thể hiện bằng văn bản, thì thông thường cha mẹ sẽ tặng cho con trai và vì vậy người phụ nữ cho dù qua bao nhiêu năm chung sống cũng chỉ được xem xét đến công sức đóng góp trong việc tôn tạo, tu sửa. Theo tinh thần của pháp luật là phải ưu tiên bảo vệ quyền lợi của phụ nữ và trẻ em, song việc áp dụng trên thực tế đang trở thành ngược lại. Vì vậy, việc áp dụng quy định trên cần có hướng dẫn cụ thể, chi tiết, mặc dù hiện nay Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 được ban hành nhưng với những quy định mang tính khái quát sẽ dẫn đến nhiều cách hiểu khác nhau, quan điểm cá nhân tôi cho rằng nên có hướng dẫn theo tinh thần sau: Luận văn: Hoàn thiện chế độ tài sản vợ chồng theo Luật Hôn nhân.
Trường hợp vợ, chồng sau khi kết hôn cất nhà ở trên đất của cha mẹ bên vợ (hoặc chồng) nhưng không có giấy tờ gì thể hiện là được cho tặng quyền sử dụng đất đó; khi ly hôn, cha mẹ bên vợ (hoặc chồng) nói là chỉ cho mượn đất nhưng nếu phần đất cất nhà ở riêng biệt với đất cha mẹ đang sinh sống hoặc trên cùng thửa đất nhưng đã có ranh giới, khuôn viên rõ ràng. Vợ chồng cất nhà sinh sống, ổn định, lâu dài, xây dựng các công trình trên đất cha mẹ biết nhưng không phản đối…. thì Toà án xác định quyền sử dụng đất gắn liền nhà hoặc quyền sử dụng đất là tài sản chung của vợ chồng và chia theo quy định nhưng có xét đến công sức đóng góp của mỗi bên.
Ngoài tài sản là quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở, trên thực tế những loại tài sản đặc biệt như giấy tờ có giá, sổ tiết kiệm chỉ ghi tên một người, nhưng tài sản đó có thể là tài sản chung của vợ chồng được tạo lập trong thời kỳ hôn nhân. Hơn nữa, theo quy định tại khoản 1 Điều 32 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014: “Trong giao dịch với người thứ ba ngay tình thì vợ, chồng là người đứng tên tài khoản ngân hàng, tài khoản chứng khoán được coi là người có quyền xác lập, thực hiện giao dịch liên quan đến tài sản đó” [60]. Quy định này nhằm bảo vệ quyền lợi của người thứ ba, nhưng trên thực tế giao dịch được xác lập giữa người đứng tên trong các giấy tờ này với người thứ ba có thể bị tuyên bố vô hiệu nếu không chứng minh được giao dịch đó đã có ý kiến đồng ý của đồng sở hữu. Do vậy, cần có hướng dẫn cụ thể quy định đối với tài sản chung theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, đặc biệt là những tài sản mà trên giấy tờ do một người đứng tên cho phù hợp, ngoài đảm bảo quyền lợi của vợ chồng còn phải đảm bảo quyền lợi của người thứ ba khi xác lập giao dịch liên quan đến tài sản chung của vợ chồng theo hướng: Nên có quy định nếu tài sản chung của vợ chồng là các loại giấy tờ có giá, tài sản chung mà giấy tờ sở hữu chỉ đứng tên một bên vợ hoặc chồng thì coi người đứng tên là người đại diện để tham gia giao dịch với người khác. Nếu bên vợ hoặc chồng có yêu cầu huỷ giao dịch này với lý do không có ý kiến đồng ý của người kia thì không coi đó là vi phạm quyền định đoạt của chủ sở hữu chung.
- Nguyên tắc suy đoán tài sản chung:
Khoản 3 Điều 27 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 và khoản 3 Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Trong trường hợp không có chứng cứ chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó là tài sản chung” [54]; [60]. Đây là quy định mang tính chất như một nguyên tắc suy đoán, đến nay Luật Hôn nhân và gia đình không quy định gì về các loại bằng chứng được sử dụng để chứng minh trong tranh chấp tài sản giữa vợ và chồng, quy định này còn rất đơn giản về tài sản chung nên trong thực tiễn tất cả các loại bằng chứng đều có thể được chấp nhận. Để bảo vệ tốt hơn quyền của chủ sở hữu tài sản riêng đồng thời làm đơn giản hoá việc tìm các chứng cứ chứng minh trong tranh chấp, pháp luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam có thể tham khảo thêm trong Luật dân sự Pháp khi đưa ra hướng dẫn Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 như sau: Luận văn: Hoàn thiện chế độ tài sản vợ chồng theo Luật Hôn nhân.
Nếu không có chứng cứ hoặc dấu vết về nguồn gốc của tài sản thì khi có tranh chấp, quyền sở hữu riêng của vợ, chồng phải được chứng minh bằng văn bản. Trong trường hợp không có bản kiểm kê tài sản thì khi có tranh chấp, quyền sở hữu riêng của vợ, chồng phải được chứng minh bằng văn bản. Trường hợp không có kiểm kê tài sản hoặc không có chứng cứ nào được xác lập từ trước, thẩm phán có thể xem xét mọi loại giấy tờ, đặc biệt là các loại giấy tờ, sổ sách của gia đình cũng như các loại tài liệu của ngân hàng và các hoá đơn thanh toán. Thẩm phán cũng có thể chấp nhận lời khai của nhân chứng hoặc suy đoán nếu nhận thấy vợ, chồng không có khả năng cung cấp chứng cứ bằng văn bản [45, Điều 1402].
Quy định như vậy sẽ thể hiện rõ các loại bằng chứng chứng minh được liệt kê cụ thể, trong đó Giấy chứng nhận quyền sở hữu tài sản có giá trị pháp lý cao nhất trong thủ tục chứng minh nguồn gốc tài sản.
- Về chia tài sản chung của vợ chồng:
Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định: “Việc chia tài sản chung của vợ chồng nhằm trốn tránh thực hiện nghĩa vụ về tài sản không được pháp luật công nhận” [54, Điều 29, Khoản 2]. Nội dung này tiếp tục được quy định tại Điều 38 và Điều 42 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Mục đích của việc chia tài sản chung phải phù hợp với các quy định của pháp luật, đây là một giải pháp nhằm xác định quyền và nghĩa vụ của bên vợ hoặc chồng trong việc sử dụng tài sản, vì có nhiều lý do khách quan, vợ, chồng có thể thoả thuận chia tài sản chung khi hôn nhân vẫn tồn tại, nhất là nhằm ngăn chặn hành vi tẩu tán, lãng phí tài sản của gia đình vào những việc không lành mạnh.
Nếu vợ chồng đã thoả thuận chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân nhưng sau đó có chứng cứ cho rằng việc chia tài sản đó là nhằm trốn trách thực hiện nghĩa vụ về tài sản thì việc chia tài sản đó không được pháp luật công nhận. Điều 42 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 tuy là điều luật mới, nhưng đây là một điều luật mang tính chất liệt kê trên cơ sở nội dung này đã được quy định tại khoản 2 Điều 29 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000. Trong thực tế hiện nay, ảnh hưởng của việc tham gia vào các quan hệ kinh tế của mỗi thành viên trong gia đình đã khiến cho các cặp vợ chồng trong nhiều trường hợp sử dụng tài sản của mình phục vụ cho mục đích không lành mạnh, vi phạm nghĩa vụ của vợ hoặc chồng, ảnh hưởng tới quyền lợi của bên kia. Hành vi vi phạm này là ý chí chủ quan của vợ, chồng, pháp luật quy định việc chia tài sản chung của vợ chồng nhằm trốn tránh thực hiện nghĩa vụ về tài sản thì vô hiệu và liệt kê các nghĩa vụ đó, nhưng vấn đề là ở chỗ khả năng có được chứng cứ chứng minh để đưa ra kết luận phù hợp và cơ chế xử lý các trường hợp vợ, chồng cố tình vi phạm quy định này. Pháp luật chỉ quy định tài sản đó “không được pháp luật công nhận”, trong khi các hành vi vi phạm quy định này sẽ ngày càng gia tăng là một gánh nặng lớn cho các cơ quan có thẩm quyền. Vì vậy, để giảm bớt tình trạng vợ chồng tự thoả thuận chia tài sản nhằm tẩu tán và trốn tránh nghĩa vụ tài sản với người khác, bên cạnh việc đưa ra hướng dẫn cụ thể về vấn đề này để hiểu rõ hơn tinh thần của điều luật, cần bổ sung quy định nhằm xử lý triệt để hành vi cố tình vi phạm nghĩa vụ của vợ chồng thông qua việc chia tài sản chung.
3.2.1.2. Quy định về nhập tài sản riêng của vợ hoặc chồng vào tài sản chung
Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định: “Vợ, chồng có quyền nhập hoặc không nhập tài sản riêng vào khối tài sản chung” [54, Điều 31, Khoản 2]. Việc nhập một tài sản riêng vào khối tài sản chung rõ ràng chỉ có thể xuất phát từ ý chí của chủ sở hữu. Tuy nhiên, đó không phải là một giao dịch đơn phương. Như đã nói, thực ra không có sự phân biệt giữa việc nhập một tài sản riêng vào khối tài sản chung và việc thoả thuận giữa vợ chồng coi một tài sản nào đó là của chung. Việc nhập tài sản riêng vào tài sản chung thực sự là một hợp đồng giữa vợ và chồng. Do luật hiện hành không có quy định gì đặc biệt, ta nói rằng hợp đồng này được giao kết theo luật chung nghĩa là chỉ đòi hỏi sự gặp gỡ ý chí của các bên giao kết mà không cần tuân theo một quy định đặc biệt về thủ tục, thể thức. Luận văn: Hoàn thiện chế độ tài sản vợ chồng theo Luật Hôn nhân.
- Theo Nghị định số 70/2001/NĐ-CP ngày 03/10/2001:
Việc nhập tài sản riêng là nhà ở, quyền sử dụng đất và các tài sản khác có giá trị lớn thuộc sở hữu riêng của một bên vợ hoặc chồng vào tài sản chung của vợ chồng theo quy định tại khoản 2 Điều 32 của Luật hôn nhân và gia đình phải được lập thành văn bản, có chữ ký của cả vợ và chồng. Văn bản đó có thể được công chứng hoặc chứng thực theo quy định của pháp luật [10, Điều 13, Khoản 1].
Trong trường hợp này, việc lập văn bản là điều kiện để hợp đồng nhập tài sản riêng vào khối tài sản chung có giá trị – “phải được”. Vấn đề là ở chỗ trong trường hợp có tranh cãi về việc lập hay không lập văn bản ghi nhận việc nhập vào khối tài sản chung một tài sản riêng nào đó mà không phải là nhà ở hay quyền sử dụng đất, thì đâu là tiêu chí xác định tài sản liên quan là có giá trị lớn hoặc không lớn? Với nội dung này, theo tôi cần hướng dẫn thêm: “Điều kiện lập văn bản chỉ áp dụng đối với việc nhập các tài sản thuộc loại phải đăng ký quyền sở hữu”.
Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đã dành riêng một điều luật mới quy định về nhập tài sản riêng của vợ, chồng vào tài sản chung (Điều 46). Tuy nhiên, nếu xem xét kỹ, nội dung này không cụ thể hơn so với quy định tại khoản 2 Điều 32 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 và khoản 1 Điều 13 Nghị định số 70/2001/NĐ-CP ngày 03/10/2001. Vì vậy, theo tôi ngoài nội dung trên, pháp luật cần đưa ra hướng dẫn cụ thể hơn quy định về hiệu lực và tính chất của giao dịch, theo đó:
Về thời điểm có hiệu lực của giao dịch: Trong điều kiện không có quy định cụ thể của luật viết, có thể vận dụng các quy định của luật chung về hiệu lực của một hợp đồng để xác định thời điểm có hiệu lực của giao dịch nhập tài sản riêng vào khối tài sản chung. Trên nguyên tắc, việc nhập tài sản riêng vào khối tài sản chung có hiệu lực vào thời điểm giao dịch được xác lập. Trong trường hợp tài sản được nhập là nhà ở, quyền sử dụng đất, các tài sản khác thuộc loại phải đăng ký quyền sở hữu, thì việc nhập tài sản có hiệu lực vào thời điểm đăng ký.
Về tính chất của giao dịch: Việc xác định tính chất của giao dịch nhập tài sản riêng vào khối tài sản chung cần theo hướng thừa nhận rằng đây là một giao dịch đặc biệt chỉ có trong Luật Hôn nhân và gia đình về tài sản, có tác dụng biến một tài sản riêng thành một tài sản thuộc sở hữu chung hợp nhất của vợ và chồng. Tài sản được nhập sẽ đi vào khối tài sản chung và được vợ chồng cùng quản lý theo luật chung về quan hệ tài sản giữa vợ và chồng. Việc nhập tài sản riêng vào khối tài sản chung được coi như một hình thức đóng góp của chủ sở hữu riêng vào sự phát triển của khối tài sản chung, chủ sở hữu có quyền yêu cầu ghi nhận sự đóng góp này khi tính toán để xác định giá trị phần quyền của mình trong khối tài sản chung sau khi hôn nhân chấm dứt.
Bằng những nội dung cụ thể trên, khi đưa vào hướng dẫn Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 có lẽ sẽ góp phần đáng kể trong việc giải quyết vấn đề liên quan tới việc nhập tài sản riêng của vợ hoặc chồng vào tài sản chung.
3.2.1.3. Trách nhiệm liên đới giữa vợ và chồng khi một bên vợ hoặc chồng tham gia giao dịch dân sự
- Đối với giao dịch dân sự hợp pháp: Luận văn: Hoàn thiện chế độ tài sản vợ chồng theo Luật Hôn nhân.
Về trách nhiệm liên đới của vợ, chồng đối với giao dịch dân sự hợp pháp do một trong hai người thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt thiết yếu của gia đình được quy định tại Điều 25 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000. Đến Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 vẫn tiếp tục kế thừa nội dung trên: “Vợ, chồng chịu trách nhiệm liên đới đối với giao dịch do một bên thực hiện quy định tại khoản 1 Điều 30 của Luật này” [60, Điều 27]. Theo đó, Điều 30 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 tiếp tục quy định:
- Vợ, chồng có quyền, nghĩa vụ thực hiện giao dịch nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình.
- Trong trường hợp vợ chồng không có tài sản chung hoặc tài sản chung không đủ để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình thì vợ, chồng có nghĩa vụ đóng góp tài sản riêng theo khả năng kinh tế của mỗi bên [60, Điều 30].
Tuy nhiên, Luật Hôn nhân và gia đình hiện hành không đưa ra giải thích thế nào được gọi là “nhu cầu sinh hoạt thiết yếu của gia đình”, điều này đã dẫn đến nhiều cách hiểu khác nhau trong giải quyết tranh chấp về tài sản của vợ chồng. Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đã giải quyết vấn đề trên, quy định những nhu cầu nào là nhu cầu thiết yếu của gia đình để làm cơ sở xác định trách nhiệm của vợ chồng đối với giao dịch dân sự với người thứ ba. Theo đó, khoản 20 Điều 3 quy định: “Nhu cầu thiết yếu là nhu cầu sinh hoạt thông thường về ăn, mặc, ở, học tập, khám bệnh, chữa bệnh và nhu cầu sinh hoạt thông thường khác không thể thiếu cho cuộc sống của mỗi người, mỗi gia đình” [60].
- Đối với giao dịch dân sự bất hợp pháp:
Trong thực tế, có các giao dịch dân sự (hợp đồng mua bán nhà và hợp đồng vay nợ) đều được một bên vợ hoặc chồng xác lập liên quan đến tài sản chung của vợ chồng, các giao dịch dân sự đó đều bị Toà án các cấp tuyên bố vô hiệu do vi phạm quy định của pháp luật. Song việc xác định trách nhiệm liên đới của vợ chồng đối với hợp đồng dân sự do một bên thực hiện và việc xử lý hậu quả pháp lý của hợp đồng vô hiệu có khác nhau, điều này có nguyên nhân một phần là do pháp luật không có quy định rõ ràng, cụ thể nên đã dẫn tới nhiều cách hiểu khác nhau của các Toà án. Vì vậy, để khắc phục tình trạng trên khi giải quyết các vụ án xác định trách nhiệm liên đới liên quan đến giao dịch dân sự bất hợp pháp do một bên vợ hoặc chồng thực hiện đối với tài sản chung của vợ chồng, tôi nhất trí với hướng bổ sung quy định của pháp luật để giải quyết loại việc này như sau:
Nếu một bên vợ hoặc chồng tham gia các giao dịch dân sự liên quan đến tài sản chung có giá trị lớn mà không có sự đồng ý của bên kia, thì bên đó có quyền yêu cầu Toà án huỷ bỏ giao dịch dân sự đó, Toà án phải tuyên bố giao dịch dân sự đó là vô hiệu.
Tuy một bên vợ hoặc chồng không có sự tham gia giao dịch dân sự, làm cho giao dịch dân sự đó trở nên bất hợp pháp, bị coi là vô hiệu, song thông qua các giao dịch đó vẫn nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt của gia đình, thì bên vợ hoặc chồng không tham gia giao dịch dân sự đó vẫn phải chịu trách nhiệm liên đới đối với việc xử lý hậu quả pháp lý của giao dịch vô hiệu.
Việc thể hiện sự đồng ý hay không đồng ý của bên vợ hoặc chồng không tham gia giao dịch dân sự, không nhất thiết phải được xác định bằng văn bản thoả thuận, mà chỉ cần xác định bên vợ hoặc chồng không tham gia giao dịch dân sự đó có biết và phải biết việc tham gia giao dịch dân sự của phía bên kia, thì sẽ buộc họ phải có trách nhiệm liên đới đối với việc xử lý hậu quả pháp lý của giao dịch vô hiệu [1]. Luận văn: Hoàn thiện chế độ tài sản vợ chồng theo Luật Hôn nhân.
3.2.1.4. Quy định về áp dụng tập quán để phân chia tài sản chung của vợ chồng
Như đã đề cập, việc áp dụng tập quán ở một số địa phương còn nhiều bất cập, không đảm bảo được quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, chồng trong quan hệ tài sản. Nguyên nhân cơ bản của vấn đề này là ở chỗ chúng ta chưa có văn bản quy định cụ thể, thống nhất về quan niệm, về các nguyên tắc và điều kiện đặt ra trong áp dụng tập quán dẫn đến tình trạng áp dụng không đúng quy định chung về tập quán trong Luật Hôn nhân và gia đình, lạm dụng hoặc đi ngược lại tâm tư, nguyện vọng của cộng đồng dân cư nơi có tập quán. Vì vậy, để áp dụng tập quán trong quan hệ hôn nhân và gia đình đạt hiệu quả cao, hạn chế và bài trừ những hủ tục lạc hậu, không phù hợp, Luật Hôn nhân và gia đình cần xây dựng cụ thể việc áp dụng tập quán theo nguyên tắc cơ bản sau:
Thứ nhất, nước ta hiện nay, quan hệ bất bình đẳng giữa vợ chồng vẫn tồn tại ở một số dân tộc miền núi, quan hệ tài sản của vợ chồng vì thế cũng không đảm bảo sự công bằng. Việc áp dụng tập quán theo nguyên tắc: Hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng sẽ góp phần đáng kể vào việc giải quyết quan hệ hôn nhân gia đình nói chung, quan hệ tài sản của vợ chồng nói riêng.
Thứ hai, việc áp dụng tập quán không được trái với nguyên tắc của Luật Hôn nhân và gia đình, không được phân biệt đối xử giữa nam và nữ. Trên thực tế, hầu hết ở các dân tộc ít người đều có sự phân biệt đối xử giữa nam và nữ. Nhiều dân tộc (Tày, Nùng, Thái ở Lào Cai…) chỉ cho con trai được hưởng gia tài. Tập quán này cần phê phán, không áp dụng trong việc giải quyết các tranh chấp, đặc biệt các tranh chấp liên quan đến tài sản vợ chồng.
- Thứ ba, chỉ áp dụng tập quán đã thông dụng, được đông đảo mọi người cùng sinh sống trên địa bàn, cùng dân tộc đó, cùng tôn giáo thừa nhận và chỉ áp dụng trên địa bàn đó.
- Thứ tư, phát huy vai trò của người đứng đầu cộng đồng, các chức sắc tôn giáo trong việc áp dụng tập quán giải quyết các tranh chấp hôn nhân và gia đình trong đó có vấn đề tài sản vợ chồng.
- Thứ năm, cần quy định cụ thể hơn theo hướng mở, tức là nếu tập quán tốt đẹp, phù hợp với xã hội thì áp dụng tập quán đó.
Để việc áp dụng tập quán trong giải quyết các tranh chấp hôn nhân và gia đình nói chung, tranh chấp về tài sản giữa vợ và chồng nói riêng đạt hiệu quả cao, trong thời gian tới cần tiến hành giải pháp sau:
Xây dựng một hệ thống quy phạm pháp luật hoàn chỉnh về kế thừa, phát huy truyền thống, tập quán trong gia đình. Bao gồm các quy phạm điều chỉnh các quan hệ Hôn nhân và gia đình mang tính tộc người và khu vực; các quy phạm pháp luật quy định danh mục các tập quán lạc hậu về Hôn nhân và gia đình không được áp dụng và danh mục các tập quán tốt đẹp về Hôn nhân và gia đình được khuyến khích và phát huy. Như vậy, tập quán sẽ phát huy được vai trò là công cụ bổ sung điều chỉnh một số quan hệ Hôn nhân và gia đình đồng thời cũng là yếu tố góp phần giữ gìn những giá trị truyền thống, chuẩn mực đạo đức của gia đình Việt Nam.
3.2.2. Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về chế độ tài sản của vợ chồng Luận văn: Hoàn thiện chế độ tài sản vợ chồng theo Luật Hôn nhân.
Pháp luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam đã có sự phát triển ngày càng cao, đáp ứng được tốt hơn các yêu cầu khách quan trong sự phát triển của xã hội và gia đình, chế độ tài sản của vợ chồng là một trong những chế định của Luật Hôn nhân và gia đình phản ánh rõ nét nhất vấn đề này. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy, các quy định về chế độ tài sản của vợ chồng trong pháp luật Hôn nhân và gia đình hiện hành còn chưa thực sự đi vào đời sống xã hội, điều này không chỉ do thiếu một số quy định pháp luật, các quy định pháp luật chưa cụ thể mà còn do sự nhận thức của người dân còn hạn chế về pháp luật Hôn nhân và gia đình đối với các quy định về chế độ tài sản của vợ chồng; sự yếu kém trong công tác tổ chức và áp dụng Luật Hôn nhân và gia đình; thái độ, tinh thần trách nhiệm của một số cá nhân, cơ quan, tổ chức khi giải quyết các vấn đề liên quan tới chế độ tài sản của vợ chồng. Xuất phát từ những lý do đó và để khắc phục hiện tượng nêu trên, theo tôi cần tiến hành đồng bộ các giải pháp sau:
3.2.2.1. Phát huy vai trò của công tác tuyên truyền, phổ biến các quy định của pháp luật về chế độ tài sản của vợ chồng
Bên cạnh việc củng cố và kiện toàn hệ thống pháp luật, nâng cao điều kiện vật chất và con người góp phần thực hiện có hiệu quả công tác giải quyết các vụ việc liên quan tới chế độ tài sản của vợ chồng, các cấp, các ngành cần quan tâm tuyên truyền, phổ biến cho người dân biết các quy định pháp luật về chế độ tài sản của vợ chồng, để họ có thể tự chủ động bảo vệ được quyền lợi của mình. Vì rất nhiều trường hợp Toà án chỉ có quyền can thiệp bảo vệ lợi ích của các bên khi có yêu cầu của chính các bên đó.
Nâng cao hiệu quả hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền, từ đó tạo điều kiện cho người dân hiểu và thực hiện đúng các quy định của pháp luật.
Tăng cường tích cực hoạt động của các tổ chức xã hội, các đoàn thể trong việc tổ chức hoà giải cơ sở giúp giải quyết mâu thuẫn giữa vợ chồng, hạn chế việc ly hôn dẫn đến yêu cầu giải quyết tranh chấp về chế độ tài sản của vợ chồng.
Các cơ quan áp dụng và bảo vệ pháp luật cần tiến hành tập huấn chuyên sâu về Luật Hôn nhân và gia đình nói chung và nhiệm vụ kế thừa, phát huy truyền thống, phong tục, tập quán tốt đẹp nói riêng cho thẩm phán, kiểm sát viên, thư ký toà án, hội thẩm nhân dân, hộ tịch viên và nhân viên tư pháp khác. Tránh hiện tượng cực đoan hoặc phủ nhận toàn bộ các giá trị truyền thống trong phong tục, tập quán về Hôn nhân và gia đình, hoặc quá lạm dụng phong tục, tập quán về Hôn nhân và gia đình làm giảm tính hiệu lực của các quy phạm pháp luật Hôn nhân và gia đình.
Tạo sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan nhà nước có thẩm quyền với các tổ chức chính trị xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức nghề nghiệp, tổ chức tôn giáo… đẩy mạnh công tác phổ biến tuyên truyền và giáo dục pháp luật Hôn nhân và gia đình trong nhân dân. Qua đó, nâng cao ý thức của nhân dân trong gìn giữ và phát huy các giá trị truyền thống đạo đức tốt đẹp về Hôn nhân và gia đình. Đồng thời, giúp nhân dân nhận biết các phong tục tập quán lạc hậu cần được loại bỏ ra khỏi đời sống xã hội và đời sống gia đình. Luận văn: Hoàn thiện chế độ tài sản vợ chồng theo Luật Hôn nhân.
3.2.2.2. Giải pháp nâng cao chất lượng xét xử các vụ việc liên quan tới chế độ tài sản của vợ chồng
Thứ nhất, tăng cường công tác giáo dục chính trị, tư tưởng; bồi dưỡng thẩm phán, cán bộ Toà án; rèn luyện phẩm chất chính trị, nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ để xây dựng đội ngũ thẩm phán và cán bộ Toà án vững về chính trị, giỏi về chuyên môn nghiệp vụ đáp ứng ngày càng cao của công cuộc cải cách tư pháp và yêu cầu của nhân dân.
Thứ hai, bổ sung kịp thời số cán bộ, Thẩm phán còn thiếu cho các đơn vị trong toàn ngành, tránh hiện tượng quá tải trong công việc. Đề cao trách nhiệm của người đứng đầu các đơn vị. Đối với các đơn vị có kết quả công tác chưa cao cần làm rõ các nguyên nhân, xác định trách nhiệm cá nhân người đứng đầu đơn vị. Tăng cường tinh thần trách nhiệm của từng cán bộ, Thẩm phán trong công tác.
Thứ ba, một trong những khó khăn mà Toà án nhân dân các cấp thường gặp trong xét xử các vụ việc liên quan tới chế độ tài sản của vợ chồng là do các quy định của pháp luật hoặc thiếu hoặc không cụ thể. Để khắc phục tình trạng này, Toà án cần đa dạng hoá việc áp dụng pháp luật, đặc biệt vận dụng các phong tục, tập quán truyền thống tốt đẹp trong đời sống xã hội về Hôn nhân và gia đình. Ngoài ra, cần phải công nhận hình thức án lệ áp dụng cho các quan hệ mới phát sinh khi chưa có quy định pháp luật điều chỉnh hoặc đã có quy định pháp luật nhưng việc điều chỉnh không còn phù hợp với thực tế. Toà án nhân dân tối cao cần định kỳ ban hành các tập hợp án lệ điển hình để Toà án các cấp học tập và rút kinh nghiệm trong hoạt động xét xử.
Thứ tư, bảo đảm cơ sở vật chất và quan tâm hơn nữa về chế độ, chính sách cho cán bộ làm công tác tại Toà án.
Trước hết, cần đảm bảo trang thiết bị, máy móc phục vụ cho cán bộ, Thẩm phán làm việc; kịp thời sửa chữa, thay mới các thiết bị đã hư hỏng hoặc quá lạc hậu. Đẩy nhanh việc đầu tư cơ sở vật chất, trang bị phương tiện làm việc theo hướng hiện đại kể cả việc xây dựng các phòng xử án; ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động quản lý, hoạt động xét xử; tạo điều kiện thuận lợi cho người dân khi tiếp cận Toà án như nộp đơn khởi kiện qua mạng, lưu trữ Bản án, Quyết định trên đường truyền mạng nội bộ phục vụ nhanh chóng cho người dân khi có nhu cầu khai thác tài liệu.
Mặc dù chế độ chính sách tiền lương đối với cán bộ đã được quan tâm chỉnh sửa theo hướng tăng dần cho cán bộ. Tuy nhiên, so với sự phát triển chung của xã hội thì vẫn chưa đáp ứng đủ các nhu cầu trong đời sống. Vì vậy, cần có giải pháp tiếp tục cải cách chế độ tiền lương, phải cải tổ một cách mạnh mẽ để cán bộ an tâm công tác.
3.2.2.3. Giải pháp nâng cao chất lượng công chứng của các tổ chức hành nghề công chứng
Bên cạnh những kết quả đạt được của các tổ chức hành nghề công chứng, cụ thể là những hoạt động của các Văn phòng công chứng. Song, chất lượng đội ngũ công chứng viên, chất lượng hoạt động công chứng còn nhiều hạn chế, điều này có ảnh hưởng không nhỏ tới quyền lợi của người dân khi tham gia các giao dịch, trong đó các vấn đề liên quan tới chế độ tài sản của vợ chồng chiếm một tỷ trọng tương đối lớn. Đặc biệt những đối tượng tranh chấp là nhà, đất của vợ chồng.
Trên thực tế có các hợp đồng mua bán nhà là các hợp đồng không có đủ các điều kiện có hiệu lực của một hợp đồng mua bán nhà hợp pháp, như trường hợp nhà ở đều thuộc sở hữu chung của vợ chồng nhưng một bên lại đứng ra bán, không đáp ứng điều kiện về hình thức (thiếu trách nhiệm trong việc xác định chữ ký của chủ sở hữu), tuy nhiên, hợp đồng vẫn được Phòng công chứng chứng nhận. Hoặc có trường hợp Phòng công chứng không xác minh về tình trạng căn nhà đem bán, cho rằng đó là tài sản riêng của một bên vợ hoặc chồng (có chữ ký của một bên), nhưng thực chất lại là tài sản chung của vợ chồng và khi công chứng Phòng công chứng vẫn chứng nhận hợp đồng hợp pháp. Vậy trách nhiệm của Công chứng viên và cơ quan công chứng được xử lý như thế nào? Đây là vấn đề khá bức xúc, bởi Nhà nước đã giao cho Công chứng viên thay mặt Nhà nước và giúp người dân đảm bảo tính hợp pháp của các giao dịch quan trọng bậc nhất trong đời sống, nhưng họ đã thiếu trách nhiệm, hoặc cố tình tạo điều kiện vi phạm pháp luật. Luận văn: Hoàn thiện chế độ tài sản vợ chồng theo Luật Hôn nhân.
Để khắc phục tình trạng nêu trên, tôi hoàn toàn nhất trí với quan điểm: Phải đưa ra các biện pháp triệt để, sao cho việc công chứng không chỉ nhằm đảm bảo điều kiện về mặt hình thức của hợp đồng, mà còn cần phải chứng nhận cả tính hợp pháp về mặt nội dung của hợp đồng, tạo cho các giao lưu dân sự đi đúng quỹ đạo của pháp luật, giảm bớt các tranh chấp dân sự, phải kiện tại Toà án [2].
Bên cạnh đó, theo quy định của pháp luật và xét tình hình thực tế hiện nay, mọi văn bản thoả thuận chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân đều phải công chứng hoặc được Toà án công nhận, điều này dẫn tới cần thiết phải có cơ chế hỗ trợ công chứng phát triển. Vì vậy, việc cấp phép thành lập mới các Văn phòng công chứng tư phải đảm bảo theo quy hoạch, phân bổ hợp lý giữa các vùng, các địa phương. Đồng thời, Nhà nước cũng cần xây dựng cơ chế kiểm tra, giám sát hiệu quả để đảm bảo chất lượng công chứng.
Bên cạnh các kiến nghị về chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định, trong thời gian tới khi đưa ra hướng dẫn Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, theo tôi cần bổ sung các nội dung sau khi áp dụng chế độ tài sản ước định:
- Pháp luật cần quy định thêm trong trường hợp sửa đổi, bổ sung nội dung thoả thuận mà ảnh hưởng đến quyền lợi của người thứ ba thì chế tài xử lý như thế nào.
- Cần đưa ra các điều kiện để thoả thuận về tài sản có hiệu lực bắt buộc, như: Thoả thuận được ký kết bởi tất cả các bên; trước khi ký kết thoả thuận các bên đã được tư vấn pháp lý một cách độc lập, liên quan đến hiệu lực của thoả thuận, các mặt lợi và bất lợi khi ký kết thoả thuận và trước khi ký kết thoả thuận, các bên được cung cấp chứng nhận của trung tâm trợ giúp khẳng định đã trợ giúp cho khách hàng về các nội dung được quy định trong luật.
- Cần có quy định về việc chấm dứt thoả thuận về tài sản. Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 mới chỉ đưa ra quy định về sửa đổi, bổ sung nội dung của thoả thuận về chế độ tài sản và thoả thuận của vợ chồng bị tuyên vô hiệu khi không đáp ứng các điều kiện được pháp luật quy định, theo tôi cần bổ sung các trường hợp để chấm dứt thoả thuận về tài sản của vợ chồng, như vậy mới thể hiện hết nội dung của những quy định về chế độ tài sản của vợ chồng theo thoả thuận.
Với những đề xuất trên, tôi hy vọng sẽ góp phần hoàn thiện các quy định của pháp luật, đảm bảo việc áp dụng chế độ tài sản của vợ chồng tại Toà án và các Văn phòng công chứng được thực hiện có hiệu quả, đáp ứng nhu cầu của người dân, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của đương sự khi có yêu cầu các cơ quan chức năng giải quyết.
KẾT LUẬN Luận văn: Hoàn thiện chế độ tài sản vợ chồng theo Luật Hôn nhân.
Chế độ tài sản của vợ chồng thực chất là chế độ sở hữu đối với tài sản của vợ chồng, có những đặc điểm riêng với ý nghĩa rất quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của gia đình, xã hội. Vợ chồng đều có trách nhiệm không những về mặt xã hội, mà còn là trách nhiệm pháp lý. Sự ràng buộc nhau giữa vợ và chồng không những về quan hệ tình cảm, mà còn là quan hệ tài sản chung hợp nhất thì quan hệ hôn nhân mới thật sự bền vững. Quan hệ tài sản trong gia đình trước hết được điều chỉnh bởi pháp luật Hôn nhân và gia đình. Các giao dịch liên quan đến tài sản của vợ chồng ngày càng nhiều và phức tạp. Vì vậy, việc giải quyết các vụ việc liên quan tới tài sản của vợ chồng cũng gặp nhiều khó khăn, rắc rối; đòi hỏi pháp luật phải cụ thể hơn, những người thực thi pháp luật phải nâng cao hơn nữa trách nhiệm của mình trong giải quyết đảm bảo quyền, lợi ích chính đáng của các đương sự.
Với đề tài “Chế độ tài sản của vợ chồng theo Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam”, luận văn được hoàn thành với những nội dung chủ yếu sau:
- Đưa ra khái niệm chế độ tài sản của vợ chồng. Phân tích các đặc điểm, ý nghĩa của chế độ tài sản của vợ chồng đối với sự tồn tại và phát triển của gia đình và xã hội.
- Phân tích các loại chế độ tài sản của vợ chồng theo pháp luật về Hôn nhân và gia đình của một số nước trên thế giới và hệ thống pháp luật Việt Nam. Trên cơ sở đó, so sánh, đối chiếu để thấy được nét tương đồng và đặc thù. Qua đó, khẳng định và lý giải tại sao Luật Hôn nhân và gia đình của Nhà nước ta không quy định về chế độ tài sản ước định.
- Hệ thống hoá sự phát triển của pháp luật Việt Nam điều chỉnh chế độ tài sản giữa vợ chồng.
- Phân tích các quy định của pháp luật Hôn nhân và gia đình về nội dung chế độ tài sản của vợ chồng.
- Phân tích tính kế thừa và phát triển của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 về chế độ tài sản của vợ chồng. Nêu rõ những điểm mới về chế độ tài sản của vợ chồng trong Luật Hôn nhân và gia đình hiện hành so với các văn bản pháp luật về Hôn nhân và gia đình trước đó.
- Trên cơ sở nghiên cứu về mặt lý luận và thực tiễn áp dụng chế độ tài sản của vợ chồng trong hoạt động xét xử của Toà án và hoạt động công chứng tại các Văn phòng công chứng, luận văn chỉ rõ những quy định còn bất cập, chưa hợp lý, không phù hợp thực tiễn. Từ đó, luận văn đưa ra một số kiến nghị đề xuất những hướng hoàn thiện các quy định về chế độ tài sản của vợ chồng theo pháp luật hiện hành, cùng với việc đưa ra các giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật Hôn nhân và gia đình nói chung và chế độ tài sản của vợ chồng nói riêng. Luận văn: Hoàn thiện chế độ tài sản vợ chồng theo Luật Hôn nhân.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Chế độ tài sản của vợ chồng theo Luật Hôn nhân

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com
