Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Thực tiễn chế độ tài sản vợ chồng theo Luật Hôn nhân hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Chế độ tài sản của vợ chồng theo Luật Hôn nhân và gia đình hiện hành dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
2.1 TÀI SẢN CHUNG CỦA VỢ CHỒNG
2.1.1. Căn cứ xác lập tài sản chung của vợ chồng
Một trong những yếu tố quan trọng nhất để cuộc sống chung của vợ chồng được duy trì là việc tạo lập tài sản để nuôi sống gia đình. Việc xác định tài sản chung của vợ chồng được quy định tương đối đầy đủ, cụ thể, căn cứ để xác định tài sản chung của vợ chồng dựa trên hai cơ sở là “thời kỳ hôn nhân” và “nguồn gốc tài sản”. Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định:
Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và những tài sản khác mà vợ chồng thoả thuận là tài sản chung.
Quyền sử dụng đất mà vợ chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng. Quyền sử dụng đất mà vợ hoặc chồng có được trước khi kết hôn, được thừa kế riêng chỉ là tài sản chung khi vợ chồng có thoả thuận.
Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất.
Trong trường hợp không có chứng cứ chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó là tài sản chung [54, Điều 27, Khoản 1, 3].
Trên cơ sở khoản 1, Điều 27, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đã sửa đổi, bổ sung như sau: Luận văn: Thực tiễn chế độ tài sản vợ chồng theo Luật Hôn nhân.
Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thoả thuận là tài sản chung.
Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.
Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng [60, Điều 33, Khoản 1, 2].
2.1.1.1. Tài sản chung của vợ chồng được xác lập trong thời kỳ hôn nhân
Theo Khoản 7 Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 và khoản 13 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014: “Thời kỳ hôn nhân là khoảng thời gian tồn tại quan hệ vợ chồng, tính từ ngày đăng ký kết hôn đến ngày chấm dứt hôn nhân” [54]; [60]. Như vậy, việc xác định tài sản chung của vợ chồng sẽ được tính từ ngày đăng ký kết hôn đến ngày phán quyết ly hôn của Toà án có hiệu lực pháp luật hoặc từ ngày đăng ký kết hôn đến ngày vợ, chồng chết hoặc bị Toà án tuyên bố là đã chết. Tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân được tạo thành từ các nguồn gốc sau:
Những tài sản do vợ chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và những thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng:
Hành vi tạo ra tài sản là một trong những chức năng chính để nuôi sống gia đình. Sau khi kết hôn, vợ chồng cùng chung sức trong việc tạo lập tài sản để duy trì cuộc sống và đảm bảo cho gia đình tồn tại. Hành vi tạo ra tài sản là việc vợ chồng tạo ra tài sản bằng chính sức lao động của mình dựa trên công việc hoặc nghề nghiệp chuyên môn của mình. Vợ chồng có thể trực tiếp tạo ra tài sản như trồng trọt, chăn nuôi,… hoặc thông qua các hợp đồng với người khác như hợp đồng lao động, mua bán tài sản nhằm tạo ra thu nhập đảm bảo các nhu cầu sinh hoạt, tiêu dùng của gia đình.
Thu nhập hợp pháp của vợ chồng là việc hưởng thành quả lao động do tham giao lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh theo tính chất nghề nghiệp, công việc, chuyên môn mà vợ chồng thực hiện. Tài sản chung từ thu nhập hợp pháp của vợ chồng thường là tiền lương, tiền công lao động, tài sản thu được qua hoạt động sản xuất như trồng trọt, chăn nuôi, lợi nhuận thu được thông qua hoạt động sản xuất, kinh doanh…. Luận văn: Thực tiễn chế độ tài sản vợ chồng theo Luật Hôn nhân.
Ngoài ra, tài sản chung của vợ chồng còn bao gồm các khoản thu nhập hợp pháp khác nhưng không do lao động như thu nhập do trúng thưởng [70], khoản tiền thưởng, tiền trợ cấp. Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đã bổ sung thêm điểm mới khi quy định về căn cứ xác lập tài sản chung của vợ chồng, đó là: các hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng của vợ, chồng trong thời kỳ hôn nhân cũng thuộc sở hữu chung của vợ chồng. Các hoa lợi, lợi tức từ tài sản, do việc khai thác tự nhiên hoặc khai thác pháp lý: cây con sinh ra từ cây mẹ, gia súc con sinh ra từ gia súc mẹ, cá con, chứng, tiền cho thuê nhà, tiền lãi tiết kiệm,… bất kể tài sản gốc là của riêng hay của chung, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản đều là của chung.
- Những tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung, được tặng cho chung:
Việc xác lập loại tài sản này phụ thuộc vào ý chí của chủ sở hữu hoặc do pháp luật quy định về thừa kế. Việc tặng cho một tài sản chung cho cả vợ và chồng thường được ghi nhận trong thực tiễn Việt Nam, người tặng cho thường là cha mẹ của vợ hoặc chồng. Khi xác lập hợp đồng tặng cho chung hoặc di chúc để lại tài sản chung cho vợ chồng, chủ sở hữu không có sự phân biệt kỷ phần cho mỗi bên vợ, chồng được hưởng. Nếu có sự xác định tỷ lệ tài sản cho mỗi bên vợ, chồng thì phần tài sản đó sẽ thuộc tài sản riêng của mỗi bên theo tỷ lệ được thừa kế, tặng cho và chỉ là tài sản chung khi vợ, chồng tự nguyện nhập vào khối tài sản chung hay vợ chồng thoả thuận đó là tài sản chung.
Trường hợp vợ chồng cùng hàng thừa kế theo quy định của pháp luật về thừa kế thì tài sản được thừa kế “theo hàng thừa kế” đó thuộc tài sản riêng của vợ, chồng; chỉ là tài sản chung khi vợ chồng tự nguyện nhập vào tài sản chung hoặc có thoả thuận là tài sản chung của vợ chồng [25, tr.157].
- Quyền sử dụng đất mà vợ chồng có được sau khi kết hôn:
Đất đai là một loại tài sản đặc biệt thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý. Quyền sử dụng đất là một loại quyền tài sản được pháp luật công nhận và bảo vệ. Quyền sử dụng đất mà vợ chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng. Theo quy định tại Nghị định số 70/2001/NĐ-CP:
Quyền sử dụng đất mà cả vợ và chồng hoặc mỗi bên vợ hay chồng được Nhà nước giao, kể cả giao khoán là tài sản chung của vợ chồng (các quyền sử dụng đất đối với đất nông nghiệp để trồng cây hàng năm, đất nuôi trồng thuỷ sản, đất làm muối; đất nông nghiệp để trồng cây lâu năm, đất lâm nghiệp để trồng rừng, đất ở được Nhà nước giao, đất chuyên dùng).
Sau khi kết hôn, quyền sử dụng đất mà cả vợ và chồng hay chỉ một bên vợ hoặc chồng được Nhà nước cho thuê là tài sản chung của vợ chồng, cũng là tài sản chung của vợ chồng đối với giá trị quyền sử dụng đất mà vợ chồng nhận thế chấp quyền sử dụng đất của người khác.
Quyền sử dụng đất mà vợ hoặc chồng có được trước khi kết hôn, được thừa kế riêng chỉ là tài sản chung khi vợ chồng có thoả thuận. Luận văn: Thực tiễn chế độ tài sản vợ chồng theo Luật Hôn nhân.
2.1.1.2. Tài sản chung của vợ chồng còn bao gồm những tài sản mà vợ chồng thoả thuận là tài sản chung
Để xây dựng một gia đình hạnh phúc, bền vững thì việc phát triển kinh tế, tạo lập tài sản của vợ chồng được các bên chú trọng. Khi cuộc sống hoà thuận hạnh phúc, việc xác định rạch ròi tài sản chung của vợ chồng và tài sản riêng của mỗi bên ít được quan tâm, coi trọng. Vợ chồng thường có xu hướng sử dụng các tài sản có được vào mục đích chung của gia đình, giới hạn giữa tài sản chung và riêng không có sự phân biệt rõ ràng. Các bên thường có xu hướng nhập phần tài sản riêng của mình vào khối tài sản chung của vợ chồng nhằm đảm bảo đời sống của gia đình. Pháp luật ghi nhận việc thoả thuận của các bên trên nguyên tắc quyền tự định đoạt, giữa vợ và chồng có thể thoả thuận tài sản nào là tài sản chung của vợ chồng và tài sản nào là tài sản riêng của vợ, chồng. Việc nhập hay không nhập tài sản riêng của mỗi bên vợ, chồng vào khối tài sản chung của vợ chồng có thể mặc nhiên hoặc được thoả thuận bằng văn bản.
Khi vợ chồng có mâu thuẫn về tình cảm thì yếu tố tài sản cũng được các bên đem ra tính toán. Do tính chất phức tạp của quan hệ tài sản mà việc xác định đâu là tài sản chung của vợ chồng và đâu là tài sản riêng của mỗi bên vợ, chồng gặp nhiều khó khăn. Có trường hợp tài sản riêng của một bên được sử dụng nhằm đảm bảo cuộc sống chung của vợ chồng, giữa tài sản chung và tài sản riêng có sự chuyển hoá, chộn lẫn với nhau dẫn đến khó xác định chính xác. Do vậy, khoản 3 Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 vẫn giữ nguyên quy định tại khoản 3 Điều 27 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000: “Trong trường hợp không có chứng cứ chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó là tài sản chung” [60].
Ví dụ: Anh A và chị B kết hôn với nhau, sau khi kết hôn anh A đã bán số vàng của mình có trước khi kết hôn để thêm tiền vào xây một ngôi nhà trên mảnh đất được cha mẹ anh cho anh dùng làm chỗ ở chung cho hai vợ chồng. Như vậy, anh A đã tự nguyện nhập số vàng là tài sản riêng của anh (có được trước khi kết hôn) vào tài sản chung của vợ chồng (ngôi nhà chung). Việc nhập số vàng là tài sản riêng của anh A vào tài sản chung được coi là sự mặc nhiên vì số tiền có được do bán vàng đã dùng vào mục đích chung của gia đình. Tuy nhiên, nếu anh A muốn nhập tài sản riêng là mảnh đất do cha mẹ anh cho riêng anh hoặc mua trước khi kết hôn vào tài sản chung của vợ chồng thì phải làm các thủ tục pháp lý có liên quan. Việc anh dùng mảnh đất này để xây ngôi nhà chung cho vợ chồng không mặc nhiên được coi là nhập vào khối tài sản chung của vợ chồng. Anh A muốn chứng minh tài sản nào là tài sản riêng của mình thì phải đưa ra được chứng cứ chứng minh, nếu không chứng minh được thì tuỳ từng trường hợp Toà án có thể suy đoán đó là tài sản chung của vợ chồng hoặc là tài sản riêng của anh A.
Như vậy, so với các văn bản pháp luật trước đây, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 đã đưa ra được điểm mới là nguyên tắc suy đoán tài sản chung của vợ chồng và được giữ nguyên trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, đây là một trong những công cụ hữu hiệu để bảo vệ khối tài sản chung. Nguyên tắc này đã phần nào đảm bảo được sự công bằng trên cơ sở vì lợi ích chung của gia đình.
2.1.2. Quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với tài sản chung Luận văn: Thực tiễn chế độ tài sản vợ chồng theo Luật Hôn nhân.
Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định tương đối cụ thể về quyền bình đẳng của vợ chồng đối với tài sản thuộc sở hữu chung hợp nhất, các quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với tài sản chung. Theo khoản 2 Điều 219 Bộ luật Dân sự năm 2005 và khoản 1 Điều 28 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000: “Vợ, chồng có quyền và nghĩa vụ ngang nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung” [54]. Như vậy, về nguyên tắc, vợ, chồng có quyền và nghĩa vụ bình đẳng với nhau trong việc xây dựng, phát triển và duy trì khối tài sản, đồng thời họ cũng có quyền và nghĩa vụ ngang nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng và định đoạt đối với tài sản thuộc sở hữu chung hợp nhất. Tại Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định như sau:
- Vợ, chồng bình đẳng với nhau về quyền, nghĩa vụ trong việc tạo lập, chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung; không phân biệt giữa lao động trong gia đình và lao động có thu nhập.
- Vợ, chồng có nghĩa vụ bảo đảm điều kiện để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình.
- Việc thực hiện quyền, nghĩa vụ về tài sản của vợ chồng mà xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, chồng, gia đình và của người khác thì phải bồi thường [60, Điều 29].
Quyền bình đẳng của vợ chồng đối với khối tài sản chung thể hiện trong việc xác lập, thực hiện và chấm dứt giao dịch dân sự liên quan đến tài sản chung có giá trị lớn hoặc là nguồn sống duy nhất của gia đình, việc dùng tài sản chung để đầu tư, kinh doanh phải được vợ chồng bàn bạc, thoả thuận [54, Điều 28]. Theo Luật Hôn nhân và gia đình hiện hành quyền bình đẳng của vợ chồng còn được khẳng định rõ hơn đối với các tài sản cụ thể, việc định đoạt tài sản chung phải có sự thoả thuận bằng văn bản của vợ chồng trong trường hợp tài sản đó là bất động sản, là động sản mà theo quy định của pháp luật phải đăng ký quyền sở hữu hay tài sản đó đang là nguồn tạo ra thu nhập chủ yếu của gia đình [60, Điều 35]. Như vậy, mọi giao dịch dân sự có liên quan đến tài sản có giá trị lớn hoặc là nguồn sống duy nhất của gia đình thì vợ chồng cần phải bàn bạc, thoả thuận với nhau thì những giao dịch đó mới có giá trị pháp lý. Luận văn: Thực tiễn chế độ tài sản vợ chồng theo Luật Hôn nhân.
Đối với những giao dịch dân sự có liên quan đến tài sản có giá trị không lớn hoặc để phục vụ nhu cầu thiết yếu hàng ngày của gia đình thì chỉ cần một bên vợ hoặc chồng thực hiện hoặc đương nhiên coi là có sự đồng ý của bên kia. Trong trường hợp vì lý do nào đó mà chỉ có một bên vợ hoặc chồng thực hiện giao dịch dân sự có liên quan đến tài sản chung của vợ chồng nhằm để phục vụ nhu cầu sinh hoạt thiết yếu hàng ngày của gia đình thì bên kia phải chịu trách nhiệm liên đới [54, Điều 25]. Quy định này khẳng định quyền tự chủ của vợ, chồng trong việc thực hiện các giao dịch dân sự nhằm đảm bảo nhu cầu thiết yếu hàng ngày của gia đình cũng chính là nhằm bảo vệ lợi ích của gia đình, đồng thời cũng khẳng định trách nhiệm của bên kia đối với các hành vi dân sự hợp pháp do vợ hoặc chồng mình thực hiện vì lợi ích chính đáng của gia đình. Ví dụ: người vợ ký kết với ông A hợp đồng vay tài sản với số tiền là 5.000.000 để mua thuốc chữa bệnh cho con. Trong trường hợp này, người vợ vay tiền nhằm mục đích phục vụ nhu cầu thiết yếu của gia đình là chăm sóc sức khoẻ cho con nên cả hai vợ chồng đều phải có trách nhiệm trả nợ cho ông A. Trách nhiệm liên đới phát sinh đòi hỏi nghĩa vụ tài sản phải được thanh toán bằng tài sản chung của vợ chồng. Nếu tài sản chung không đủ thì vợ, chồng có nghĩa vụ thanh toán bằng tài sản riêng.
Vợ, chồng có quyền và nghĩa vụ ngang nhau trong việc quản lý và sử dụng tài sản chung. Vợ, chồng sử dụng tài sản chung của vợ chồng đương nhiên được coi là có sự thoả thuận của cả hai vợ chồng. Theo khoản 2 Điều 28 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000: “Tài sản chung của vợ chồng được chi dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện các nghĩa vụ chung của vợ chồng” [54]. Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đã dành riêng một điều luật mới quy định nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng, theo đó vợ chồng có các nghĩa vụ chung về tài sản sau đây:
- Nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch do vợ chồng cùng thoả thuận xác lập, nghĩa vụ bồi thường thiệt hại mà theo quy định của pháp luật vợ chồng cùng phải chịu trách nhiệm;
- Nghĩa vụ do vợ hoặc chồng thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình;
- Nghĩa vụ phát sinh từ việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung;
- Nghĩa vụ phát sinh từ việc sử dụng tài sản riêng để duy trì, phát triển khối tài sản chung hoặc để tạo ra nguồn thu nhập chủ yếu của gia đình;
- Nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do con gây ra mà theo quy định của Bộ luật dân sự thì cha mẹ phải bồi thường;
- Nghĩa vụ khác theo quy định của các luật có liên quan [60, Điều 37].
Do vậy, trong việc duy trì và phát triển khối tài sản chung không cần căn cứ vào công sức đóng góp của vợ, chồng. Trong những trường hợp vì lý do chính đáng và hoàn cảnh riêng của từng gia đình mà có thể vợ hoặc chồng không trực tiếp lao động tạo ra tài sản mà chỉ “lao động trong gia đình” như làm nội trợ, chăm sóc con… thì quyền sở hữu của họ đối với tài sản chung vẫn ngang bằng với người kia. Điều đó có nghĩa là “lao động của vợ chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập” [54, Điều 95].
Theo khoản 3 Điều 219 Bộ luật Dân sự năm 2005, khoản 1 Điều 24 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 và khoản 2 Điều 24 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung, phải có sự bàn bạc, thoả thuận của vợ chồng. Trong trường hợp vợ, chồng uỷ quyền cho nhau thì người được uỷ quyền có quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản chung trong phạm vi được uỷ quyền. Việc uỷ quyền phải được lập thành văn bản có chữ ký của cả vợ và chồng.
Pháp luật quy định quyền và nghĩa vụ bình đẳng của vợ, chồng đối với tài sản chung là nhằm bảo vệ khối tài sản chung, tránh những trường hợp một trong hai vợ chồng có hành vi phá tán tài sản chung, huỷ hoại tài sản chung hoặc tự mình thực hiện những giao dịch dân sự làm tổn thất khối tài sản chung, ảnh hưởng đến quyền lợi của gia đình và của người kia. Đồng thời, quy định này còn khẳng định quyền bình đẳng của vợ chồng trong quan hệ gia đình.
2.1.3. Chia tài sản chung của vợ chồng theo Luật Hôn nhân và gia đình
2.1.3.1. Chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân Luận văn: Thực tiễn chế độ tài sản vợ chồng theo Luật Hôn nhân.
Lần đầu tiên việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân được đề cập tới là trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986, tại Điều 18 quy định: “Khi hôn nhân tồn tại, nếu một bên yêu cầu và có lý do chính đáng, thì có thể chia tài sản chung của vợ chồng theo quy định ở Điều 42 của Luật này” [51]. Tiếp đó, nội dung này được kế thừa trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000, khoản 1 Điều 29 quy định:
Khi hôn nhân tồn tại, trong trường hợp vợ chồng đầu tư kinh doanh riêng, thực hiện nghĩa vụ dân sự riêng hoặc có lý do chính đáng khác thì vợ chồng có thể thoả thuận chia tài sản chung; việc chia tài sản chung phải lập thành văn bản; nếu không thoả thuận được thì có quyền yêu cầu Toà án giải quyết [54]. Đến Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 vẫn tiếp tục quy định: Trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng có quyền thoả thuận chia một phần hoặc toàn bộ tài sản chung; nếu không thoả thuận được thì có quyền yêu cầu Toà án giải quyết [60, Điều 38].
Về điều kiện chia, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 và Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định rõ hơn so với Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986:
- Điều kiện về nội dung:
Thứ nhất, vợ, chồng đầu tư kinh doanh riêng: Xuất phát từ việc tôn trọng quyền tự do kinh doanh của cá nhân, khi chia tài sản sẽ tạo điều kiện để hai vợ, chồng có tài sản riêng làm vốn kinh doanh, đồng thời cũng hạn chế tiêu cực có thể xảy ra trong kinh doanh. Luận văn: Thực tiễn chế độ tài sản vợ chồng theo Luật Hôn nhân.
Thứ hai, trường hợp vợ, chồng phải thực hiện nghĩa vụ dân sự riêng mà họ không có tài sản riêng hoặc tài sản riêng không đủ để thực hiện nghĩa vụ thì họ có thể chia tài sản chung để giúp người có nghĩa vụ thực hiện nghĩa vụ của mình.
Thứ ba, trường hợp có lý do chính đáng khác: Quy định này cũng xuất phát từ lợi ích của gia đình, lợi ích của vợ, chồng hoặc của người thứ ba. Trên thực tế không có một chuẩn mực nào để đánh giá sự chính đáng trong lý do của việc chia tài sản chung, vì vậy tuỳ từng trường hợp mà đánh giá một lý do có được coi là chính đáng hay không. Ví dụ, vợ chồng tính tình không hợp nhưng con cái đã lớn không muốn ly hôn mà chỉ muốn ở riêng và có yêu cầu chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân. Đây được coi là một lý do chính đáng vì thể hiện sự quan tâm tới suy nghĩ của con cái.
Theo khoản 2 Điều 29 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 thì việc chia tài sản chung của vợ chồng không được nhằm mục đích trốn tránh thực hiện nghĩa vụ về tài sản. Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đã bổ sung một điều mới quy định các trường hợp chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân bị vô hiệu, theo đó:
Việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân bị vô hiệu khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:
- Ảnh hưởng nghiêm trọng đến lợi ích của gia đình; quyền, lợi ích hợp pháp của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình;
- Nhằm trốn tránh thực hiện các nghĩa vụ sau đây:
- Nghĩa vụ nuôi dưỡng, cấp dưỡng;
- Nghĩa vụ bồi thường thiệt hại;
- Nghĩa vụ thanh toán khi bị Toà án tuyên bố phá sản;
- Nghĩa vụ trả nợ cho cá nhân, tổ chức;
- Nghĩa vụ nộp thuế hoặc nghĩa vụ tài chính khác đối với Nhà nước;
Nghĩa vụ khác về tài sản theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và quy định khác của pháp luật có liên quan [60, Điều 42].
Điều kiện về hình thức: Chia tài sản chung của vợ chồng phải được lập thành văn bản và có thể được công chứng theo yêu cầu của vợ chồng hoặc theo quy định của pháp luật [60, Điều 38]. Luận văn: Thực tiễn chế độ tài sản vợ chồng theo Luật Hôn nhân.
Về nguyên tắc chia: Pháp luật hiện hành quy định chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân trước hết do vợ chồng thoả thuận. Nếu vợ chồng không thoả thuận được thì yêu cầu Toà án giải quyết. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành không quy định thế nào là không thoả thuận được và không quy định nguyên tắc chia khi chia tài sản chung tại Toà án. Trước đây, theo Điều 18 Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986, trong các trường hợp chia tài sản chung của vợ chồng khi hôn nhân đang tồn tại đều phải do Toà án quyết định và nguyên tắc chia tài sản của vợ chồng trong trường hợp này giống với trường hợp vợ chồng ly hôn. Tại khoản 3 Điều 38 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đã chỉ dẫn về nguyên tắc chia tài sản của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân giống với Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986, đó là áp dụng nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn. Như vậy, qua hơn 10 năm thực hiện mặc dù đã có sự sửa đổi cho phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh mới nhưng Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 cũng có những điểm không phù hợp với thực tế, thiếu căn cứ khi giải quyết vấn đề tài sản, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đã ghi nhận lại nguyên tắc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân, thừa nhận ưu điểm của Luật cũ, giúp Toà án giải quyết nhanh chóng vấn đề tài sản của vợ chồng khi hôn nhân đang tồn tại.
- Về hậu quả pháp lý:
Quan hệ nhân thân: Sau khi chia tài sản chung, về mặt pháp lý, quan hệ nhân thân của vợ chồng không có gì thay đổi. Vợ, chồng vẫn có đầy đủ các quyền, nghĩa vụ về nhân thân đối với nhau và với gia đình như nghĩa vụ chung thuỷ, thương yêu, chăm sóc nhau, cùng nhau xây dựng gia đình no ấm ….
Quan hệ tài sản: Tài sản chung đã chia trở thành tài sản riêng của vợ, chồng. Phần tài sản chung còn lại không chia và hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản đó vẫn thuộc sở hữu chung của vợ chồng. Tuy nhiên, theo khoản 2 Điều 8 Nghị định số 70/2001/NĐ-CP thì “thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của mỗi bên sau khi chia tài sản chung là tài sản riêng của vợ, chồng trừ trường hợp vợ chồng có thoả thuận khác” [10, Điều 8, Khoản 2].
Sau khi đã chia tài sản chung, pháp luật còn quy định quyền của vợ chồng được thoả thuận khôi phục chế độ tài sản chung tại khoản 1 Điều 9 Nghị định số 70/2001/NĐ-CP.
Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đã sửa đổi, bổ sung quy định về hậu quả của việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân như sau:
- Trong trường hợp chia tài sản chung của vợ chồng thì phần tài sản được chia, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng của mỗi bên sau khi chia tài sản chung là tài sản riêng của vợ, chồng, trừ trường hợp vợ chồng có thoả thuận khác. Phần tài sản còn lại không chia vẫn là tài sản chung của vợ chồng.
- Thoả thuận của vợ chồng quy định tại khoản 1 Điều này không làm thay đổi quyền, nghĩa vụ về tài sản được xác lập trước đó giữa vợ, chồng với người thứ ba [60, Điều 40].
Để bảo vệ quyền lợi của người thứ ba khi xác lập, thực hiện giao dịch với vợ chồng, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đã bổ sung khoản 2 Điều 40. Mặc dù quan hệ hôn nhân vẫn tồn tại nhưng nếu vợ chồng đã chia tài sản chung thì việc chia tài sản đó không làm ảnh hưởng đến giao dịch giữa vợ chồng với người thứ ba. Quy định này là phù hợp với thực tế, trong điều kiện nền kinh tế thị trường hiện nay, các quan hệ kinh doanh thương mại ngày càng gia tăng, vợ chồng dùng tài sản chung để đầu tư kinh doanh ngày càng nhiều, việc chia tài sản chắc chắn sẽ ảnh hưởng tới lợi ích của người thứ ba khi xác lập thực hiện giao dịch với vợ chồng. Vì vậy đây là cơ chế hợp lý để các bên thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình mà không làm đảo lộn trật tự trong kinh doanh. Luận văn: Thực tiễn chế độ tài sản vợ chồng theo Luật Hôn nhân.
2.1.3.2. Chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn
Việc chia tài sản chung của vợ chồng được quy định tại các Điều 95, 96, 97, 98 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 và được sửa đổi, bổ sung tại các Điều 59, 61, 62 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Điều kiện chia: Khi ly hôn, vấn đề chia tài sản chung của vợ chồng được đặt ra như một tất yếu vì ly hôn làm chấm dứt quan hệ hôn nhân của vợ chồng, chấm dứt cơ sở hình thành, phát triển của khối tài sản chung.
Nguyên tắc chia: Việc chia tài sản chung của vợ chồng trước hết là dựa trên nguyên tắc bảo đảm quyền tự định đoạt của vợ chồng. Theo quy định tại khoản 1 Điều 95 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000: “Việc chia tài sản khi ly hôn do các bên thoả thuận, nếu không thoả thuận được thì yêu cầu Toà án giải quyết” [54]. Theo khoản 2 Điều 95 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 và khoản 2, 3 Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, khi ly hôn tài sản chung của vợ chồng về nguyên tắc được chia đôi. Tuy nhiên, để đảm bảo thanh toán tài sản chung được công bằng, hợp lý Toà án cần xem xét công sức đóng góp của mỗi bên vào việc tạo lập, duy trì, phát triển khối tài sản chung, hoàn cảnh của mỗi bên, tình trạng tài sản… để quyết định chia tài sản chung bằng hiện vật hay giá trị, hoặc chia loại tài sản nào cho phù hợp. Khi chia quyền sử dụng đất, nhà ở phải đồng thời kết hợp với các nguyên tắc đặc thù khác để phù hợp với các quy định của pháp luật về đất đai, nhà ở. Nghị định số 70/2001/NĐ-CP (các Điều từ 23 đến 29) đã quy định khá cụ thể về chia tài sản là nhà ở hoặc quyền sử dụng đất đó thuộc tài sản chung của vợ chồng hay tài sản riêng của mỗi bên vợ, chồng; hoặc thuộc khối tài sản của gia đình (bên nhà chồng hoặc bên nhà vợ)…. Tuỳ từng vụ việc cụ thể, theo quy định của pháp luật mà Toà án quyết định việc chia tài sản giữa vợ chồng khi ly hôn, bảo đảm quyền lợi chính đáng của các đương sự, nhất là quyền lợi chính đáng của người vợ và con chưa thành niên hoặc đã thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi sống bản thân. Mục 12 – Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP đã hướng dẫn: Việc chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn phải theo đúng các nguyên tắc được quy định tại Điều 95. Ngoài ra, tuỳ vào từng trường hợp cụ thể mà áp dụng các quy định tại Điều 96, Điều 97, Điều 98 tương ứng. Tuy nhiên, cần chú ý: Việc xác định giá trị khối tài sản chung của vợ chồng hoặc phần giá trị mà họ phải thanh toán, họ được hưởng là căn cứ vào giá giao dịch thực tế tại địa phương vào thời điểm xét xử. Để đảm bảo quyền bình đẳng giữa vợ, chồng trong quan hệ tài sản, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đã bổ sung điểm mới nổi bật: “Việc chia tài sản chung có tính đến yếu tố lỗi của mỗi bên trong phạm vi quyền, nghĩa vụ của vợ chồng” [60, Điều 59].
Hậu quả pháp lý của việc chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn: Chế độ tài sản chung của vợ chồng hoàn toàn chấm dứt. Tài sản chung của vợ chồng sau khi chia cho vợ, chồng sẽ trở thành tài sản riêng của mỗi người và chịu sự điều chỉnh bởi các quy định pháp luật về sở hữu riêng. Luận văn: Thực tiễn chế độ tài sản vợ chồng theo Luật Hôn nhân.
2.1.3.3. Chia tài sản chung của vợ chồng khi một bên vợ, chồng chết trước hoặc bị Toà án tuyên bố là đã chết
Điều kiện chia: Khi vợ hoặc chồng chết, tài sản chung của vợ chồng có thể được chia theo yêu cầu chia di sản của người thừa kế hoặc yêu cầu của chính người chồng hoặc vợ còn sống. Nếu việc chia di sản làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của bên chồng hoặc vợ còn sống và gia đình thì việc chia di sản có thể được tạm hoãn với thời hạn tối đa là ba năm (Điều 31 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000, Điều 12 Nghị định số 70/2001/NĐ-CP, điểm a mục 4 Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP, Điều 66 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014).
Ví dụ: Trước khi kết hôn, anh A mua được một ngôi nhà cấp 4 có diện tích 25m2. Sau đó anh A kết hôn với chị B và không nhập ngôi nhà này vào khối tài sản chung của vợ chồng. Sau khi sinh được một người con thì anh A bị chết và không để lại di chúc. Bố mẹ của anh A yêu cầu chia di sản thừa kế là ngôi nhà của anh A. Chị B và con không có chỗ ở nào khác và cũng chưa có điều kiện để tạo lập chỗ ở khác. Ngôi nhà này lại không thể chia được bằng hiện vật. Trong trường hợp này việc chia di sản thừa kế là ngôi nhà sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của chị B và con. Chị B có quyền yêu cầu Toà án chưa cho chia di sản thừa kế là ngôi nhà của anh A trong thời hạn 3 năm.
Nguyên tắc chia: Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 không quy định về nguyên tắc chia tài sản chung của vợ chồng khi vợ hoặc chồng chết. Trước đây, theo quy định tại Điều 17 Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986: “Khi một bên chết trước, nếu cần chia tài sản chung của vợ chồng thì chia đôi. Phần tài sản của người chết được chia theo quy định của pháp luật về thừa kế” [51]. Đây là một quy định hợp lý, bởi quan hệ tài sản của vợ chồng là quan hệ sở hữu chung hợp nhất; mọi tài sản do vợ chồng lao động, sản xuất kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của vợ, chồng tạo ra trong thời kỳ hôn nhân; những tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung, tặng cho chung đều là tài sản chung của vợ chồng. Vợ chồng có quyền sở hữu ngang nhau đối với khối tài sản chung mà không phụ thuộc vào công sức đóng góp của mỗi bên vào việc xây dựng và phát triển vào khối tài sản chung nhiều hay ít. Hiện nay, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đã bổ sung quy định về nguyên tắc chia tài sản chung, tạo cơ sở pháp lý khi giải quyết việc phân chia tài sản, theo đó: “Khi có yêu cầu về chia di sản thì tài sản chung của vợ chồng được chia đôi, trừ trường hợp vợ chồng có thoả thuận về chế độ tài sản. Phần tài sản của vợ, chồng chết hoặc bị Toà án tuyên bố là đã chết được chia theo quy định của pháp luật về thừa kế” [60, Điều 66].
Hậu quả pháp lý: Sau khi chia tài sản chung, tài sản của người chồng hoặc vợ còn sống do người đó toàn quyền sử dụng, định đoạt. Tài sản của vợ, chồng đã chết trở thành di sản của người đó và được chia theo quy định của pháp luật thừa kế. Trong trường hợp người chồng hoặc vợ trước đó bị Toà án ra quyết định tuyên bố là đã chết nay quay trở về, theo quy định tại Điều 83 Bộ luật Dân sự năm 2005 và Điều 26 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 thì người bị Toà án tuyên bố là đã chết hoặc người có quyền, lợi ích liên quan có quyền yêu cầu Toà án ra quyết định huỷ bỏ quyết định tuyên bố người đó là đã chết. Trường hợp vợ hoặc chồng của người bị tuyên bố là đã chết đã kết hôn với người khác thì quan hệ hôn nhân sau vẫn được thừa nhận, còn quan hệ hôn nhân trước sẽ không được phục hồi. Người bị tuyên bố là đã chết mà còn sống có quyền yêu cầu những người đã nhận tài sản thừa kế trả lại tài sản, giá trị tài sản hiện còn. Khi Toà án ra quyết định huỷ bỏ tuyên bố một người là đã chết mà vợ hoặc chồng của người đó chưa kết hôn với người khác thì quan hệ hôn nhân (quan hệ nhân thân và tài sản) đương nhiên được khôi phục. Tại khoản 2 Điều 67 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đã bổ sung quy định sau:
Quan hệ tài sản của người bị tuyên bố là đã chết trở về với người vợ hoặc chồng được giải quyết như sau:
- Trong trường hợp hôn nhân được khôi phục thì quan hệ tài sản được khôi phục kể từ thời điểm quyết định của Toà án huỷ bỏ tuyên bố chồng, vợ là đã chết có hiệu lực. Tài sản do vợ, chồng có được kể từ thời điểm quyết định của Toà án về việc tuyên bố chồng, vợ là đã chết có hiệu lực đến khi quyết định huỷ bỏ tuyên bố chồng, vợ đã chết có hiệu lực là tài sản riêng của người đó; Luận văn: Thực tiễn chế độ tài sản vợ chồng theo Luật Hôn nhân.
- Trong trường hợp hôn nhân không được khôi phục thì tài sản có được trước khi quyết định của Toà án về việc tuyên bố vợ, chồng là đã chết có hiệu lực mà chưa chia được giải quyết như chia tài sản khi ly hôn [60].
Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 mới chỉ dự liệu quan hệ hôn nhân được khôi phục (nếu người chồng, vợ kia chưa kết hôn với người khác), Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đã xác định được vấn đề tài sản của vợ chồng và hậu quả pháp lý của quan hệ hôn nhân có được khôi phục hay không liên quan đến vấn đề tài sản của vợ chồng. Điều này giúp Toà án xác định và giải quyết nhanh chóng vấn đề tài sản của vợ, chồng khi một bên bị tuyên bố là đã chết mà trở về, có cơ sở pháp lý, tháo gỡ được những vướng mắc trong thời gian qua của ngành Toà án.
2.2 TÀI SẢN RIÊNG CỦA VỢ, CHỒNG Luận văn: Thực tiễn chế độ tài sản vợ chồng theo Luật Hôn nhân.
2.2.1. Căn cứ xác lập tài sản riêng của vợ, chồng
Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 đã quy định chế độ tài sản của vợ chồng là chế độ cộng đồng toàn sản, toàn bộ tài sản do vợ, chồng có được hoặc tạo ra trước và trong thời kỳ hôn nhân đều thuộc tài sản chung của vợ chồng.
Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 được ban hành vào thời kỳ đầu của sự nghiệp đổi mới, lần đầu tiên ghi nhận vợ chồng có tài sản riêng tại Điều 16. Kế thừa và phát triển quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 đã quy định chế độ sở hữu riêng của vợ, chồng cụ thể hơn, tạo cơ sở pháp lý thống nhất khi áp dụng vào thực tế.
- Khoản 1 Điều 32 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định:
Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại khoản 1 Điều 29 và Điều 30 của Luật này; đồ dùng, tư trang cá nhân [54]. Đến Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đã bổ sung thêm nội dung: Tài sản được hình thành từ tài sản riêng của vợ, chồng cũng là tài sản riêng của vợ, chồng [60, Điều 43].
Tài sản riêng của vợ, chồng được xác lập dựa vào thời điểm tài sản đó phát sinh trước khi kết hôn; sự định đoạt của chủ sở hữu tài sản đã chuyển dịch tài sản của mình cho mỗi bên vợ, chồng và trên sự kiện chia tài sản chung của vợ, chồng trong thời kỳ hôn nhân.
2.2.1.1. Tài sản riêng của vợ, chồng bao gồm tài sản mà mỗi bên vợ, chồng có từ trước khi kết hôn
Thông qua lao động, hoạt động sản xuất kinh doanh và các thu nhập hợp pháp khác, mỗi người có thể tạo ra một khối tài sản hoặc có được tài sản thông qua các giao dịch dân sự trước khi kết hôn. Những tài sản này thuộc quyền sở hữu riêng của mỗi bên và được pháp luật thừa nhận, bảo hộ. Những tài sản này không phải do vợ, chồng tạo ra trong thời kỳ hôn nhân, không chịu sự tác động bởi tính chất cộng đồng của quan hệ hôn nhân và lợi ích chung của gia đình. Vì vậy, vợ chồng có thể xác lập quyền sở hữu của mình đối với những tài sản phát sinh trước khi kết hôn dựa trên các căn cứ được quy định từ Điều 233 đến Điều 247 Bộ luật Dân sự năm 2005. Luận văn: Thực tiễn chế độ tài sản vợ chồng theo Luật Hôn nhân.
Quy định tài sản mà mỗi bên vợ, chồng có trước khi kết hôn là tài sản riêng của vợ, chồng đã bảo vệ được quyền sở hữu cá nhân của vợ, chồng, là căn cứ pháp lý bảo đảm tài sản riêng của vợ chồng khi giải quyết tranh chấp trên thực tế, đồng thời phù hợp với quy định quyền sở hữu riêng của công dân được Hiến pháp ghi nhận và bảo vệ.
2.2.1.2. Tài sản riêng của vợ, chồng bao gồm tài sản mà vợ, chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân
Những tài sản này không do vợ, chồng tạo ra trong thời kỳ hôn nhân mà được định đoạt bởi ý chí của chủ sở hữu. Việc pháp luật quy định những tài sản này thuộc khối tài sản riêng của vợ, chồng nhằm bảo đảm quyền tự định đoạt của các chủ sở hữu tài sản theo quy định của pháp luật về việc chuyển dịch tài sản của mình cho mỗi bên vợ, chồng được hưởng. Những tài sản mà vợ, chồng được thừa kế riêng, tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân thường do những người thân thuộc, bạn bè của mỗi bên cho vợ, chồng được hưởng giá trị tài sản đó. Đó có thể là những tài sản do cha, mẹ cho riêng con trong ngày cưới, cha mẹ một bên khi chết để lại di chúc cho con mình là người vợ, chồng được hưởng… Những tài sản mà vợ, chồng được thừa kế riêng, tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân là tài sản riêng của vợ, chồng.
2.2.1.3. Tài sản riêng của vợ, chồng gồm đồ dùng, tư trang cá nhân
Theo Từ điển tiếng Việt của Nhà xuất bản Đà Nẵng năm 1997 thì “đồ dùng là vật do con người tạo ra để dùng trong sinh hoạt, hoạt động hàng ngày”, còn “tư trang là các thứ quý giá đi theo người của một cá nhân” [74].
Trong cuộc sống thường ngày, mỗi người đều cần có những đồ dùng phù hợp phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt và công việc chuyên môn của mình. Ví dụ như quần áo, giày dép, sách vở phục vụ cho việc học tập… Vì vậy, pháp luật quy định những đồ dùng, tư trang cá nhân là tài sản riêng của vợ, chồng là cần thiết và phù hợp với thực tế cuộc sống, mọi cá nhân đều cần đến những đồ dùng phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt, làm việc thường ngày của bản thân. Đây là một trong những điểm mà Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đã kế thừa của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000, quy định này đảm bảo được quyền tự do cá nhân và cuộc sống riêng tư của vợ chồng.
Tuy nhiên, từ khi Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 có hiệu lực cho đến nay vẫn chưa có một văn bản hướng dẫn nào của cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải thích và hướng dẫn cụ thể trường hợp này. Trong điều kiện kinh tế – xã hội ngày càng phát triển, nhu cầu sinh hoạt của nhân dân ngày càng cao, những đồ dùng, tư trang cá nhân cũng rất phong phú và có giá trị. Việc xem xét những trường hợp này gặp những khó khăn nhất định và còn nhiều quan điểm chưa thống nhất. Vì vậy, cần có văn bản hướng dẫn cụ thể để việc giải quyết được thống nhất, đáp ứng quyền lợi hợp pháp của những người tham gia tố tụng.
2.2.1.4. Tài sản riêng của vợ, chồng gồm những tài sản mà vợ, chồng được chia khi chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân Luận văn: Thực tiễn chế độ tài sản vợ chồng theo Luật Hôn nhân.
Xuất phát từ thực tế cuộc sống, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 trên cơ sở kế thừa Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 và năm 2000 đã quy định việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân và hậu quả pháp lý sau khi chia tài sản chung. Theo đó, Điều 30 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 và khoản 1 Điều 40 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định “trường hợp chia tài sản chung của vợ chồng thì hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản đã được chia thuộc sở hữu riêng của mỗi người; phần tài sản còn lại không chia vẫn thuộc sở hữu chung của vợ chồng” [54]; [60]. Như vậy, phần tài sản chung đã được chia riêng cho mỗi bên vợ, chồng là tài sản riêng của người đó. Những hoa lợi, lợi tức phát sinh từ phần tài sản riêng được chia là tài sản riêng của vợ, chồng. Thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của mỗi bên sau khi chia tài sản chung là tài sản riêng của vợ, chồng, trừ trường hợp vợ chồng có thoả thuận khác [10].
Như vậy, pháp luật đã quy định rõ tài sản riêng của vợ, chồng còn có những tài sản mà vợ, chồng có được khi chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân.
2.2.2. Quyền và nghĩa vụ của vợ, chồng đối với tài sản riêng Luận văn: Thực tiễn chế độ tài sản vợ chồng theo Luật Hôn nhân.
2.2.2.1. Quyền của vợ, chồng đối với tài sản riêng
Khoản 1 Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 và khoản 1 Điều 44 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Vợ, chồng có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản riêng của mình, nhập hoặc không nhập tài sản riêng vào tài sản chung” [54]; [60]. Với tư cách là chủ sở hữu tài sản của mình, vợ, chồng có toàn quyền sở hữu đối với tài sản riêng, không phụ thuộc bởi ý chí của bên người chồng, vợ kia.
Khoản 2 Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 và khoản 2 Điều 44 Luật HN&GĐ năm 2014 quy định: “Vợ, chồng tự quản lý tài sản riêng; trong trường hợp vợ hoặc chồng không thể tự mình quản lý tài sản riêng và cũng không uỷ quyền cho người khác quản lý thì bên kia có quyền quản lý tài sản đó” [54]; [60]. Trong việc quản lý tài sản riêng của vợ, chồng mình, người chồng, vợ có nghĩa vụ bảo quản giữ gìn các tài sản đó như tài sản của mình, nếu làm hư hại, thất thoát mà không có lý do chính đáng thì có nghĩa vụ bồi thường (khi có yêu cầu). Trường hợp một bên đã tự ý định đoạt tài sản riêng của vợ, chồng mình khi tham gia các giao dịch dân sự thì bên kia có quyền yêu cầu Toà án tuyên bố giao dịch đó vô hiệu. Với tư cách là chủ sở hữu tài sản riêng của mình, khi thực hiện quyền sở hữu (đối với các tài sản theo khoản 5 Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 và khoản 4 Điều 44 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014), vợ, chồng có thể uỷ quyền cho nhau xác lập, thực hiện và chấm dứt các giao dịch mà theo quy định của pháp luật phải có sự đồng ý của cả vợ chồng, việc uỷ quyền đó phải được lập thành văn bản [60, Điều 24].
Đối với tài sản riêng, vợ, chồng có quyền nhập hoặc không nhập tài sản riêng vào khối tài sản chung của vợ chồng [60, Điều 44], quy định này có tính chất tuỳ nghi cho phép vợ, chồng có quyền nhập hoặc không nhập tài sản riêng của mình vào khối tài sản chung của vợ chồng. Tuy nhiên, vấn đề vợ, chồng đã nhập hay chưa nhập tài sản riêng của mình vào khối tài sản chung của vợ chồng khi có tranh chấp về tài sản giữa vợ chồng rất phức tạp. Trước đây, tại Nghị quyết số 01/NQ-HĐTP đã hướng dẫn: Đối với tài sản riêng của vợ, chồng mà đã đưa vào sử dụng chung, không còn nữa thì không phải thanh toán, không được đền bù… hướng dẫn này dựa trên nguyên tắc suy đoán: Người vợ, chồng có tài sản riêng mà đã sử dụng cho nhu cầu chung của gia đình thì phải coi vợ, chồng đã mặc nhiên nhập tài sản của mình vào khối tài sản chung của vợ chồng. Khi có tranh chấp, họ không có quyền đòi lại các tài sản riêng đó. Hiện nay, vấn đề nhập hay không nhập tài sản riêng của vợ, chồng vào khối tài sản chung của vợ chồng nhất là những tài sản có giá trị lớn, theo Nghị định số 70/2001/NĐ-CP đã quy định:
Việc nhập tài sản là nhà ở, quyền sử dụng đất và các tài sản khác có giá trị lớn thuộc sở hữu riêng của một bên vợ hoặc chồng vào tài sản chung của vợ chồng theo quy định tại khoản 2 Điều 32 của Luật Hôn nhân và gia đình phải được lập thành văn bản, có chữ ký của cả vợ và chồng. Văn bản đó có thể được công chứng hoặc chứng thực theo quy định của pháp luật [10, Điều 13, Khoản 1]. Luận văn: Thực tiễn chế độ tài sản vợ chồng theo Luật Hôn nhân.
Quy định này là căn cứ khi xác định vợ, chồng có tài sản riêng đã nhập hay chưa nhập vào khối tài sản chung của vợ chồng. Mặt khác, để ngăn chặn những mục đích không lành mạnh của vợ, chồng khi nhập tài sản riêng vào khối tài sản chung của vợ chồng, cũng là bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của những người khác liên quan. Nghị định số 70/2001/NĐ-CP quy định: “Việc nhập tài sản riêng của một bên vào khối tài sản chung của vợ chồng nhằm trốn tránh thực hiện các nghĩa vụ riêng của bên đó về tài sản thì vô hiệu theo quy định tại Điều 11 của Nghị định này” [10, Điều 13, Khoản 2].
Ngoài việc quy định về quyền quản lý, quyền sở hữu của vợ, chồng đối với tài sản riêng, khoản 5 Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 và khoản 4 Điều 44 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đã đưa ra quy định hạn chế quyền sở hữu của vợ, chồng đối với tài sản riêng vì lợi ích chung của gia đình: “Trong trường hợp tài sản riêng của vợ hoặc chồng đã được đưa vào sử dụng chung mà hoa lợi, lợi tức từ tài sản riêng đó là nguồn sống duy nhất của gia đình thì việc định đoạt tài sản riêng đó phải được sự thoả thuận của cả vợ chồng” [54]; [60].
2.2.2.2. Nghĩa vụ được thực hiện bằng tài sản riêng của vợ, chồng
Theo khoản 3 Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 và khoản 3 Điều 44 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014: “Nghĩa vụ riêng về tài sản của mỗi người được thanh toán từ tài sản riêng của người đó” [54]; [60]. Nghĩa vụ về tài sản của vợ, chồng phát sinh từ các khoản nợ mà vợ, chồng vay của người khác, sử dụng vào mục đích cá nhân mà không vì mục đích của gia đình hoặc nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do hành vi trái pháp luật của vợ, chồng hay các loại nghĩa vụ khác theo luật định (nghĩa vụ cấp dưỡng giữa các thành viên trong gia đình như cha, mẹ, vợ, chồng, con mà vợ, chồng phải thực hiện). Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 chỉ quy định nghĩa vụ riêng về tài sản của mỗi bên vợ, chồng được thanh toán từ tài sản riêng của người có nghĩa vụ. Quy định này còn quá chung chung, chưa có căn cứ cụ thể để xác định loại nghĩa vụ tài sản này. Ngoài quy định trên, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đã bổ sung quy định cụ thể nghĩa vụ riêng về tài sản của vợ, chồng. Theo đó, vợ, chồng phải bằng tài sản riêng của mình để bảo đảm thực hiện các loại nghĩa vụ sau đây:
Một là, nghĩa vụ của mỗi bên vợ, chồng có trước khi kết hôn;
Hai là, nghĩa vụ phát sinh từ việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản riêng, trừ trường hợp nghĩa vụ phát sinh trong việc bảo quản, duy trì, tu sửa tài sản riêng của vợ, chồng (trường hợp hoa lợi, lợi tức từ tài sản riêng là nguồn sống duy nhất của gia đình và trường hợp sử dụng tài sản riêng để duy trì, phát triển khối tài sản chung hoặc để tạo ra nguồn thu nhập chủ yếu của gia đình); Luận văn: Thực tiễn chế độ tài sản vợ chồng theo Luật Hôn nhân.
Ba là, nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch do một bên xác lập, thực hiện không vì nhu cầu của gia đình;
Bốn là, nghĩa vụ phát sinh từ hành vi vi phạm pháp luật của vợ, chồng. Về nguyên tắc, đối với các khoản nợ và nghĩa vụ phát sinh trên đây, vợ, chồng có nghĩa vụ phải thanh toán, bồi thường bằng tài sản riêng của mình; nếu tài sản riêng không có hoặc không đủ thì trích chia phần tài sản của vợ, chồng trong khối tài sản chung của vợ chồng (sau khi chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân) để thực hiện nghĩa vụ. Những quy định này là cơ sở pháp lý cho việc xác định nghĩa vụ được thực hiện bằng tài sản riêng của vợ, chồng.
Luật Hôn nhân và gia đình hiện hành chỉ quy định một chế độ tài sản của vợ chồng là chế độ tài sản pháp định, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 được ban hành tuy chưa có hiệu lực thi hành nhưng với nội dung chế độ tài sản của vợ chồng theo thoả thuận được bổ sung (các Điều 47, 48, 49, 50) dễ nhận thấy sẽ giải quyết được các vấn đề liên quan tới tài sản vợ chồng như:
Đảm bảo được quyền tự định đoạt của cá nhân đối với tài sản của mình. Vợ, chồng có thể tự bảo toàn khối tài sản riêng của mình, giảm hoặc tránh được những xung đột, tranh chấp về tài sản sau khi ly hôn, từ đó góp phần giảm chi phí khi ly hôn và giúp Toà án xác định được tài sản riêng, tài sản chung nhanh chóng và dễ dàng hơn. Nếu vợ chồng thực hiện chế độ tài sản theo thoả thuận thì khi ly hôn nếu tranh chấp về tài sản của vợ chồng, thì hôn ước là căn cứ giúp Toà án giải quyết thuận tiện và nhanh chóng.
Nếu xét về góc độ kinh tế, trong điều kiện kinh tế thị trường, sở hữu cá nhân và tự do kinh doanh đang dẫn đến ý thức tự chủ ngày càng cao của cá nhân về sở hữu tài sản. Chế độ tài sản theo thoả thuận cho phép vợ chồng tự quyết định quyền sở hữu trong gia đình, tạo ra khả năng đôi bên có thể tự giác thực hiện nghĩa vụ và quyền đã theo thoả thuận, giúp họ giảm thiểu các rủi ro trong kinh doanh. Luận văn: Thực tiễn chế độ tài sản vợ chồng theo Luật Hôn nhân.
Tuy nhiên, chế độ tài sản của vợ chồng theo thoả thuận theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 bộc lộ một số hạn chế như:
Thứ nhất, Điều 49 cho phép vợ chồng được sửa đổi, bổ sung thoả thuận về chế độ tài sản. Điều này ảnh hưởng đến quyền lợi của người thứ ba đã xác lập, thực hiện giao dịch với vợ, chồng, cho dù vợ, chồng có nghĩa vụ phải cung cấp cho người thứ ba biết về những thông tin liên quan nhưng với sự biến thiên của tài sản và những thủ tục khi áp dụng trong quá trình sửa đổi, bổ sung nội dung thoả thuận sẽ ảnh hưởng đến lợi ích của người khác đặc biệt là đối với bên tham gia là các nhà kinh doanh.
Thứ hai, trong thực tế hiện nay ở nước ta, thu nhập của vợ chồng trong gia đình còn ở mức thấp, tài sản để tích luỹ của nhiều gia đình không lớn hoặc không có, cho dù pháp luật có cho phép vợ chồng được lựa chọn áp dụng chế độ tài sản theo thoả thuận thì điều này chỉ có các cặp vợ chồng tham gia quan hệ kinh doanh có cơ hội áp dụng.
Thứ ba, chế độ tài sản theo thoả thuận đề cao lợi ích cá nhân, mâu thuẫn với bản chất của gia đình là bổn phận và trách nhiệm, lợi ích riêng của cá nhân sẽ không đảm bảo cho gia đình có cuộc sống ổn định, bền vững.
Mặc dù vậy, để phù hợp với hoàn cảnh của đất nước và xu thế phát triển nền kinh tế xã hội hiện nay thì quy định về chế độ tài sản theo thoả thuận được đưa vào Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 là cần thiết, trong thời gian tới cần có hướng dẫn cụ thể để việc áp dụng chế độ tài sản ước định đạt hiệu quả cao. Luận văn: Thực tiễn chế độ tài sản vợ chồng theo Luật Hôn nhân.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Hoàn thiện chế độ tài sản vợ chồng theo Luật Hôn nhân

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com
