Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Chế độ tài sản của vợ chồng theo Luật Hôn nhân hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Chế độ tài sản của vợ chồng theo Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Chế độ tài sản của vợ chồng là một chế định quan trọng của pháp luật hôn nhân và gia đình. Luật Hôn nhân và gia đình đã đưa ra các quy định về vấn đề sở hữu tài sản của vợ chồng; căn cứ xác lập tài sản chung và tài sản riêng của vợ, chồng; vấn đề chia tài sản chung và hậu quả chia tài sản chung của vợ chồng; quyền thừa kế tài sản giữa vợ chồng…. Chế độ tài sản của vợ chồng được quy định phụ thuộc chặt chẽ vào sự phát triển của các điều kiện kinh tế, văn hoá, xã hội, tập quán… của đất nước. Những quy định về chế độ tài sản của vợ chồng trong hệ thống pháp luật Việt Nam đã có từ lâu, được các nhà làm luật lựa chọn theo thời gian và ngày càng thêm hoàn thiện.
Chế độ tài sản của vợ chồng ở mỗi quốc gia và trong cùng một đất nước ở các giai đoạn phát triển là khác nhau. Ở Việt Nam, từ năm 1945 đến nay đã có nhiều quy định về chế độ tài sản của vợ chồng: Từ chế độ cộng đồng toàn sản, Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 không thừa nhận vợ chồng có tài sản riêng, đến chế độ cộng đồng tạo sản của vợ chồng theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 và 2000. Pháp luật điều chỉnh về chế độ tài sản của vợ chồng vừa mang tính khách quan, vừa thể hiện ý chí chủ quan của Nhà nước. Kế thừa và phát triển các quy định về chế độ tài sản của vợ chồng trong pháp luật Việt Nam, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 của Nhà nước ta đã quy định chế độ cộng đồng tạo sản của vợ chồng tương đối cụ thể, có nhiều điểm khác biệt và tiến bộ hơn, đã xoá bỏ được những phong tục tập quán lạc hậu về hôn nhân và gia đình, thừa nhận chế độ tài sản chung, tài sản riêng của vợ chồng, đảm bảo được quyền bình đẳng của vợ chồng …. Thực hiện và áp dụng chế độ tài sản của vợ chồng góp phần vào sự ổn định các quan hệ hôn nhân và gia đình, tạo cơ sở pháp lý thực hiện các quyền, nghĩa vụ về tài sản của vợ chồng. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được của pháp luật điều chỉnh vấn đề tài sản của vợ chồng, quá trình thực hiện và áp dụng Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 về chế độ tài sản của vợ chồng cho thấy còn có những bất cập và vướng mắc, gây khó khăn trong việc giải quyết các tranh chấp tài sản trong các vụ án ly hôn, áp dụng luật vào thực tế của các cơ quan có thẩm quyền, quá trình áp dụng đã có nhiều quan điểm, nhận thức, đánh giá khác nhau liên quan đến chế độ tài sản của vợ chồng như vấn đề xác định tài sản chung và tài sản riêng của vợ chồng để đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng; vấn đề đóng góp vào việc thực hiện nghĩa vụ; nguyên tắc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân; xác định tài sản khi một bên bị tuyên bố là đã chết mà sau đó trở về; việc xác định nợ chung, nợ riêng…. Các quy định về chế độ tài sản của vợ chồng trong Luật Hôn nhân và gia đình mới chỉ dừng lại ở tính chất định khung, văn bản hướng dẫn còn thiếu, chưa cụ thể, chưa theo kịp với tình hình phát triển kinh tế – xã hội hiện nay.
Xuất phát từ những lý do trên, với đề tài luận văn “Chế độ tài sản của vợ chồng theo Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam” sẽ góp phần làm rõ hơn những quy định của pháp luật điều chỉnh chế độ tài sản của vợ chồng; trên cơ sở nghiên cứu các quy định hiện hành của pháp luật hôn nhân và gia đình, cùng với việc tìm hiểu thực trạng áp dụng các quy định pháp luật về chế độ tài sản của vợ chồng để đưa ra những điểm hợp lý hay không hợp lý. Từ đó, luận văn đưa ra các kiến nghị nhằm hoàn thiện chế độ tài sản của vợ chồng theo Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài Luận văn: Chế độ tài sản của vợ chồng theo Luật Hôn nhân.
Trong thời gian qua, ở nước ta đã có một số công trình nghiên cứu liên quan đến chế độ tài sản của vợ chồng. Có thể phân loại các công trình nghiên cứu này thành ba nhóm lớn như sau:
Nhóm các luận văn, luận án: Các công trình nghiên cứu tiêu biểu trong nhóm này có: Chế độ tài sản của vợ chồng theo Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam (Nguyễn Văn Cừ, Luận án Tiến sĩ, 2005); Xác định chế độ tài sản của vợ chồng – một số vấn đề lý luận và thực tiễn (Nguyễn Hồng Hải, Luận văn Thạc sĩ, 2002); Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 – Thành tựu, vướng mắc và hướng hoàn thiện (Trần Thị Thuỳ Liên, Luận văn Thạc sĩ, 2012); Chia tài sản chung của vợ chồng theo pháp luật Việt Nam – Thực tiễn áp dụng và hướng hoàn thiện (Nguyễn Thị Hạnh, Luận văn Thạc sĩ, 2012); … Các công trình này có công trình có phạm vi nghiên cứu rộng, đề cập đến nhiều khía cạnh khác nhau, có công trình chỉ giải quyết một khía cạnh nhỏ trong vấn đề tài sản vợ chồng, có công trình nghiên cứu riêng và chuyên sâu về chế độ tài sản của vợ chồng. Song, các công trình nghiên cứu trên cho dù có những nội dung ưu việt, tiên tiến nhưng cũng còn nhiều vấn đề không bắt kịp nhịp sống xã hội vốn luôn chuyển biến ảnh hưởng trực tiếp tới cuộc sống vợ chồng, đặc biệt là vấn đề tài sản.
Nhóm giáo trình, sách chuyên khảo: Trong nhóm này phải kể đến một số công trình tiêu biểu như: Giáo trình Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam (Trường Đại học Luật Hà Nội, Nxb Công an nhân dân, 2008); Giáo trình Kỹ năng giải quyết vụ việc dân sự (Học viện Tư pháp, Nxb Công an nhân dân, 2007); Bình luận khoa học Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam (Nguyễn Ngọc Điện, Nxb Trẻ, 2004); Chế độ tài sản của vợ chồng theo pháp luật hôn nhân và gia đình Việt Nam (Nguyễn Văn Cừ, Nxb Tư pháp, 2008); Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 (Tác giả Nguyễn Văn Cừ – Ngô Thị Hường, Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội, 2002);… Trong các cuốn sách trên, chế độ tài sản của vợ chồng đã được phân tích một cách chung chung, có tính chất tổng quát, có cuốn đi vào phân tích chuyên sâu và cụ thể nhưng chưa nêu hết được những bất cập, hạn chế trước những biến đổi của đời sống xã hội có ảnh hưởng tới chế độ tài sản của vợ chồng.
Nhóm các bài viết trên các báo, tạp chí: Có thể kể đến một số bài như Hậu quả pháp lý của việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân (Nguyễn Phương Lan, 2002, Tạp chí Luật học, số 6); Bàn thêm về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân theo pháp luật hôn nhân gia đình hiện hành (Nguyễn Hồng Hải, 2003, Tạp chí Luật học, số 5); Chế độ tài sản theo thoả thuận của vợ chồng liên hệ từ pháp luật nước ngoài đến pháp luật Việt Nam (Bùi Minh Hồng, 2009, Tạp chí Luật học, số 11);…. Các bài viết này thường phân tích rất sâu một vấn đề trong chế độ tài sản của vợ chồng, nhưng do tính chất của một bài viết nghiên cứu, các tác giả chỉ đề cập đến một khía cạnh hoặc một trường hợp cụ thể liên quan đến chế độ tài sản của vợ chồng mà không thể phân tích toàn diện các khía cạnh của chế định này.
Một điểm chung của cả ba nhóm công trình nghiên cứu kể trên, đó là phần lớn các tác giả thường thiên về việc phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật quy định về chế độ tài sản của vợ chồng. Một số công trình nghiên cứu, cũng đã có dẫn chiếu, liên hệ thực tiễn áp dụng một số quy định pháp luật, tuy nhiên, sự liên hệ, phân tích đó chỉ có tính chất minh hoạ cho một số trường hợp cụ thể mà chưa có sự soi chiếu một cách tổng thể, toàn diện tất cả các khía cạnh của việc áp dụng quy định về chế độ tài sản của vợ chồng vào thực tiễn. Luận văn: Chế độ tài sản của vợ chồng theo Luật Hôn nhân.
Trong các nhóm trên, có công trình đã nghiên cứu về chế độ tài sản của vợ chồng, nhưng đứng trước sự phát triển kinh tế – xã hội với nhiều chuyển biến, chịu sự ảnh hưởng của tập quán của đất nước tất yếu có sự tác động lớn trong tâm lý của mỗi cá nhân, mỗi gia đình, mỗi cặp vợ chồng. Vấn đề tài sản là một trong những vấn đề quan trọng đảm bảo cho cuộc sống gia đình ổn định, phát triển phù hợp với tình hình mới, điều kiện mới, vì vậy luận văn đi vào nghiên cứu chế độ tài sản của vợ chồng theo Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam với hy vọng thể hiện một số ý kiến nhỏ của bản thân trước nhu cầu sửa đổi Luật Hôn nhân và gia đình trong thời gian tới.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
Trên cơ sở tìm hiểu các quy định của pháp luật Việt Nam về chế độ tài sản của vợ chồng, luận văn phân tích, đánh giá việc áp dụng pháp luật, nhận dạng những thuận lợi cũng như những bất cập, hạn chế trong quá trình áp dụng pháp luật về chế độ tài sản của vợ chồng, trên cơ sở đó chỉ ra những điểm còn thiếu sót, chưa phù hợp của luật thực định và của quá trình áp dụng luật vào thực tiễn. Từ đó, luận văn đưa ra một số kiến nghị, giải pháp có tính chất khả thi nhằm góp phần hoàn thiện quy định pháp luật về chế độ tài sản của vợ chồng đáp ứng đòi hỏi của thực tiễn đời sống đang ngày càng phát triển đa dạng, phong phú.
Để đạt được mục tiêu nêu trên, luận văn xác định những nhiệm vụ cơ bản sau đây:
Thứ nhất: Nghiên cứu những vấn đề lý luận về chế độ tài sản của vợ chồng.
Thứ hai: Nghiên cứu các quy định của pháp luật hiện hành về chế độ tài sản của vợ chồng.
Thứ ba: Tìm hiểu thực tiễn áp dụng pháp luật về chế độ tài sản của vợ chồng qua hoạt động xét xử của ngành Toà án giải quyết các tranh chấp từ quan hệ Hôn nhân và gia đình liên quan trực tiếp về vấn đề tài sản giữa vợ và chồng; Tìm hiểu thực tiễn áp dụng pháp luật về chế độ tài sản của vợ chồng tại các Văn phòng công chứng thông qua hoạt động công chứng các Hợp đồng, giao dịch liên quan đến tài sản của vợ chồng. Qua đó, đánh giá về những thành công và hạn chế của việc áp dụng pháp luật về chế độ tài sản của vợ chồng.
Thứ tư: Trên cơ sở phân tích nội dung và thực tiễn áp dụng chế độ tài sản của vợ chồng theo luật thực định, luận văn kiến nghị một số giải pháp nhằm hoàn thiện quy định pháp luật về chế độ tài sản của vợ chồng dưới góc độ pháp luật và áp dụng pháp luật.
4. Phạm vi nghiên cứu Luận văn: Chế độ tài sản của vợ chồng theo Luật Hôn nhân.
- Trong khuôn khổ của một luận văn thạc sĩ, luận văn tập trung vào một số vấn đề sau:
Quy định của pháp luật Việt Nam về chế độ tài sản của vợ chồng. Trong đó tập trung chủ yếu vào chế độ tài sản của vợ chồng được quy định trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 và một số văn bản pháp luật khác có liên Bên cạnh đó, khi mà Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đã được ban hành nhưng chưa có hiệu lực thi hành, luận văn so sánh các quy định của Luật Hôn nhân và gia đình hiện hành (Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000) với Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 để đưa ra những nội dung còn thiếu sót của luật hiện hành nhưng đã được giải quyết hay chưa được giải quyết trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật hiện hành về chế độ tài sản của vợ chồng. Trong đó, tập trung vào một số vấn đề khó khăn, vướng mắc, điển hình,… tìm hiểu và nghiên cứu những ví dụ cụ thể, những bản án thực tế từ đó bình luận và phân tích những nguyên nhân chính làm giảm hiệu quả áp dụng pháp luật về chế độ tài sản của vợ chồng trong thực tế.
Nghiên cứu một số quy định của pháp luật các nước trên thế giới về chế độ tài sản của vợ chồng, có sự so sánh và đối chiếu với pháp luật Việt Nam, qua đó tiếp thu những điểm tiến bộ và phù hợp với thực tiễn Việt Nam.
5. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, tác giả Luận văn sử dụng phối hợp nhiều phương pháp khác nhau như:
- Phương pháp lịch sử được sử dụng khi nghiên cứu, tìm hiểu chế độ tài sản của vợ chồng qua các thời kỳ ở Việt Nam.
- Phương pháp phân tích, tổng hợp được sử dụng khi phân tích các vấn đề liên quan đến chế độ tài sản của vợ chồng và khái quát những nội dung cơ bản được nghiên cứu trong luận văn.
- Phương pháp so sánh được thực hiện nhằm tìm hiểu quy định của pháp luật hiện hành với hệ thống pháp luật trước đây của Việt Nam cũng như pháp luật của một số nước khác quy định về chế độ tài sản của vợ chồng.
- Phương pháp thống kê được thực hiện trong quá trình khảo sát thực tiễn.
6. Những điểm mới của luận văn
- Luận văn hệ thống hoá và phân tích khái niệm chế độ tài sản của vợ chồng.
- Luận văn khái quát và phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn của các quy định pháp luật về chế độ tài sản của vợ chồng.
- Từ những ví dụ cụ thể về thực tiễn áp dụng pháp luật, luận văn nhận dạng những quy định chưa phù hợp, những điểm còn khiếm khuyết của pháp luật hiện hành về chế độ tài sản của vợ chồng cả dưới góc độ pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật. Đồng thời, luận văn đưa ra và phân tích một số yếu tố khác tác động vào và làm giảm hiệu quả áp dụng pháp luật về chế độ tài sản của vợ chồng. Trên cơ sở đó, luận văn kiến nghị một số giải pháp có tính chất khả thi nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật và tiến tới hoàn thiện pháp luật về chế độ tài sản của vợ chồng.
- Luận văn nêu và phân tích điểm mới của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, trong đó có nội dung chế độ tài sản của vợ chồng theo thoả thuận, phân tích ưu và nhược điểm của việc quy định chế độ tài sản này trước tình hình kinh tế – xã hội Việt Nam hiện nay. Luận văn: Chế độ tài sản của vợ chồng theo Luật Hôn nhân.
7. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
Ý nghĩa khoa học:
- Trước hết, luận văn góp phần nêu lên những thành tựu đã đạt được trong quá trình áp dụng pháp luật quy định về chế độ tài sản của vợ chồng.
- Luận văn là cơ sở tham khảo cho các công trình nghiên cứu sau này về chế độ tài sản của vợ chồng.
- Hoàn thành luận văn này, tác giả hy vọng luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo trong quá trình nghiên cứu, hoàn thiện pháp luật quy định về chế độ tài sản của vợ chồng; Luận văn cũng có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu và học tập các môn học như Luật dân sự, Luật Hôn nhân và gia đình … tại các cơ sở đào tạo pháp luật.
Ý nghĩa thực tiễn:
Nội dung của luận văn có ý nghĩa thiết thực cho mọi cá nhân, đặc biệt là cho các cặp vợ chồng tìm hiểu các quy định về chế độ tài sản của vợ chồng; biết được cơ sở pháp lý tạo lập các loại tài sản chung và tài sản riêng của vợ, chồng; quyền và nghĩa vụ cụ thể của vợ, chồng đối với những loại tài sản này; các trường hợp và nguyên tắc phân chia tài sản của vợ chồng …. Từ đó, góp phần thực hiện pháp luật, xây dựng gia đình dân chủ, hoà thuận, hạnh phúc, bền vững.
8. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và danh mục tài liệu Tham khảo, nội dung của luận văn gồm ba chương như sau:
- Chương 1: Những vấn đề lý luận về chế độ tài sản của vợ chồng.
- Chương 2: Chế độ tài sản của vợ chồng theo Luật Hôn nhân và gia đình hiện hành.
- Chương 3: Thực tiễn áp dụng và một số kiến nghị hoàn thiện chế độ tài sản của vợ chồng.
Chương 1 Những vấn đề lý luận về chế độ tài sản của vợ chồng
1.1 Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của chế độ tài sản của vợ chồng
1.1.1. Khái niệm chế độ tài sản của vợ chồng
Gia đình là tế bào của xã hội, thể hiện tính chất và kết cấu của xã hội. Gia đình có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của xã hội, gia đình tốt thì xã hội mới tốt. Để xây dựng gia đình tốt thì nền tảng hôn nhân phải bền vững, ngoài việc được hình thành trên cơ sở tự nguyện, bình đẳng, tiến bộ thì việc tạo lập tài sản là một trong những điều kiện tất yếu để nuôi sống gia đình, là điều kiện vật chất, cơ sở kinh tế cho hôn nhân tồn tại bền vững. Vì vậy, các nhà làm luật đã quan tâm xây dựng các quy định về chế độ tài sản của vợ chồng là một trong những chế định quan trọng, cơ bản nhất của pháp luật hôn nhân và gia đình. Luận văn: Chế độ tài sản của vợ chồng theo Luật Hôn nhân.
Trước khi kết hôn và sau khi hôn nhân chấm dứt, vợ, chồng là những người độc thân có tài sản riêng, còn gọi là tài sản cá nhân. Tài sản theo nghĩa từ điển Luật học là “của cải, vật chất dùng vào mục đích sản xuất hoặc tiêu dùng” [75], còn theo Bộ luật dân sự (BLDS) năm 2005 “tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản” [57, Điều 163]. Trước khi kết hôn, tài sản của vợ, chồng thuộc phạm trù tài sản riêng của cá nhân. Vợ, chồng có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt đối với tài sản thuộc quyền sở hữu của mình. Chỉ sau khi kết hôn và trong thời kỳ hôn nhân, vấn đề tài sản giữa vợ chồng mới bị ràng buộc, tài sản chung được hình thành, các lợi ích và các quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt đối với khối tài sản này cũng được hình thành, do tính chất đặc biệt của quan hệ hôn nhân – tính cộng đồng, hai vợ chồng cùng đóng góp công sức trong việc tạo dựng tài sản, xây dựng gia đình hoà thuận, hạnh phúc.
Trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng ràng buộc lẫn nhau bởi nhiều bổn phận, trong đó có những bổn phận có ảnh hưởng nhất định đối với quyền hạn của vợ, chồng trong việc xác lập các giao dịch liên quan đến tài sản, thậm chí có những bổn phận có tác dụng đặt cơ sở cho việc xác định tính chất chung hay riêng của một tài sản do vợ hoặc chồng tạo ra. Tất cả các tài sản của vợ, chồng, dù là của riêng mỗi người hay của chung hai người, đều phải được khai thác, sử dụng trước hết nhằm bảo đảm sự duy trì và phát triển của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau; nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục các con,… sau đó mới phục vụ cho cá nhân chủ sở hữu. Nhân danh lợi ích của gia đình, vợ hoặc chồng có thể tự mình xác lập, thực hiện các giao dịch trên tài sản chung và trong một số trường hợp, nghĩa vụ phát sinh từ các giao dịch ấy có thể ràng buộc cả vợ và chồng một cách liên đới, nghĩa là khiến cho chồng hoặc vợ, dù không trực tiếp đứng ra giao dịch, phải có trách nhiệm cùng với vợ hoặc chồng thực hiện nghĩa vụ bằng tài sản chung, thậm chí bằng tài sản riêng của mình. Do vậy, tài sản không chỉ gắn liền với những lợi ích thiết thực của hai bên mà còn liên quan đến người thứ ba, đặc biệt là khi vợ chồng tham gia vào hoạt động kinh doanh thương mại. Đây là một trong những lý do mà các nhà lập pháp phải dự liệu về chế độ tài sản của vợ chồng. Nhờ có chế độ tài sản của vợ chồng được quy định, tạo điều kiện cho vợ, chồng và người thứ ba tự do tham gia các giao dịch liên quan đến tài sản của vợ chồng trong khuôn khổ luật định, bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình.
Mặt khác, dựa vào các quy định của pháp luật mà quyền và nghĩa vụ về tài sản của vợ chồng mới được bảo đảm, “vợ, chồng có quyền và nghĩa vụ ngang nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung” [54, Điều 28]. Vợ chồng có quyền ngang nhau trong việc sở hữu tài sản chung nhằm đảm bảo nhu cầu đời sống chung của gia đình, có quyền khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản chung nhưng phải có nghĩa vụ sử dụng tài sản đúng mục đích luật định, vì lợi ích của vợ chồng và các thành viên trong gia đình. Mọi giao dịch liên quan đến tài sản chung có giá trị lớn hoặc dùng tài sản chung để đầu tư kinh doanh, hoặc tài sản chung là nguồn sống duy nhất của gia đình thì về nguyên tắc phải có sự thoả thuận của hai vợ chồng.
Hơn nữa, để bảo vệ quyền lợi của người thứ ba khi tham gia vào các giao dịch có liên quan đến tài sản của vợ chồng, pháp luật cần phải quy định người thứ ba có quyền biết rằng giao dịch đó được bảo đảm thực hiện từ tài sản chung của vợ chồng hay tài sản riêng của vợ, chồng nhằm bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình.
Lý do cuối cùng khiến nhà làm luật dự liệu về chế độ tài sản của vợ chồng thể hiện ở chỗ: việc quy định chế độ tài sản của vợ chồng trong pháp luật là cơ sở pháp lý để các cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp về tài sản giữa vợ chồng với nhau và với người khác. Luận văn: Chế độ tài sản của vợ chồng theo Luật Hôn nhân.
Ví dụ: Việc giải quyết những món nợ mà vợ chồng vay chung vì lợi ích chung của gia đình hoặc mỗi bên vợ, chồng vay riêng, sử dụng vào mục đích riêng. Tuỳ theo từng trường hợp cụ thể mà áp dụng chế độ tài sản của vợ chồng quy kết theo nghĩa vụ chung của vợ chồng hay nghĩa vụ riêng của vợ, chồng phải thanh toán trả món nợ đó.
Như vậy, điều kiện hình thành và duy trì chế độ tài sản của vợ chồng là có tồn tại quan hệ hôn nhân hợp pháp giữa vợ chồng. Chế độ tài sản của vợ chồng được nhà làm luật dự liệu do tính chất, mục đích của quan hệ hôn nhân được xác lập, thể hiện như là yếu tố khách quan; phụ thuộc vào các điều kiện kinh tế – xã hội, phong tục, tập quán, truyền thống văn hoá để Nhà nước quy định trong pháp luật về chế độ tài sản của vợ chồng.
Vì vậy, tôi đồng ý với luận điểm khái quát chế độ tài sản của vợ chồng như sau: “Chế độ tài sản của vợ chồng là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh về tài sản của vợ chồng, bao gồm các quy định về căn cứ xác lập tài sản, quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với tài sản chung, tài sản riêng; nguyên tắc phân chia tài sản giữa vợ và chồng” [24].
Tài sản được phân loại gồm: tài sản chung và tài sản riêng. Với quan hệ tài sản chung, vợ chồng cùng tham gia vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản mà họ có quyền sở hữu chung. Trong khi quan hệ tài sản riêng bảo tồn sự độc lập của mỗi người trong việc xác lập và thực hiện quyền sở hữu đối với tài sản. Việc quy định chế độ tài sản vợ chồng ở các quốc gia là khác nhau tuỳ thuộc vào chế độ kinh tế, xã hội cũng như tập quán, thuần phong, mỹ tục. Riêng đối với việc xác lập tài sản của vợ chồng, pháp luật hôn nhân gia đình nói chung quy định hai cách thức tương ứng với hai chế độ tài sản vợ chồng: chế độ tài sản vợ chồng theo pháp luật (chế độ hôn sản pháp định) và chế độ tài sản vợ chồng theo thoả thuận (chế độ hôn sản ước định).
1.1.2. Đặc điểm của chế độ tài sản của vợ chồng Luận văn: Chế độ tài sản của vợ chồng theo Luật Hôn nhân.
Chế độ tài sản của vợ chồng thực chất là chế độ sở hữu tài sản của vợ chồng. Vợ, chồng với tư cách là công dân, vừa là chủ thể của quan hệ hôn nhân và gia đình, vừa là chủ thể của quan hệ dân sự khi thực hiện quyền sở hữu của mình, tham gia các giao dịch dân sự. Vì vậy, chế độ tài sản của vợ chồng có những đặc điểm riêng biệt sau:
Thứ nhất, xét về chủ thể của quan hệ sở hữu trong chế độ tài sản này, thì các bên phải có quan hệ hôn nhân hợp pháp với tư cách là vợ chồng của nhau. Do vậy, để trở thành chủ thể của quan hệ sở hữu này, các chủ thể ngoài việc có đầy đủ năng lực chủ thể trong quan hệ pháp luật dân sự còn đòi hỏi phải tuân thủ các điều kiện kết hôn được quy định trong pháp luật hôn nhân và gia đình.
Thứ hai, xuất phát từ vị trí, vai trò quan trọng của gia đình đối với sự tồn tại và phát triển của xã hội, Nhà nước bằng pháp luật quy định chế độ tài sản của vợ chồng đều xuất phát từ mục đích trước tiên và chủ yếu nhằm bảo đảm quyền lợi của gia đình, trong đó có lợi ích cá nhân của vợ và chồng. Những quy định của pháp luật về chế độ tài sản của vợ chồng là cơ sở tạo điều kiện để vợ chồng chủ động thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình đối với tài sản của vợ chồng.
Thứ ba, căn cứ xác lập, chấm dứt chế độ tài sản này phụ thuộc vào sự kiện phát sinh và chấm dứt của quan hệ hôn nhân. Hay nói cách khác, chế độ tài sản của vợ chồng chỉ tồn tại trong thời kỳ hôn nhân.
Thứ tư, chế độ tài sản của vợ chồng cũng mang những đặc thù riêng trong việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ của chủ thể. Đối với tài sản chung của vợ chồng, bắt buộc vợ chồng khi tham gia các giao dịch dân sự, kinh tế phải xuất phát từ lợi ích chung của gia đình. Thông thường, khi vợ chồng sử dụng tài sản chung để đáp ứng những nhu cầu thiết yếu của gia đình thì pháp luật luôn coi là có sự thoả thuận đương nhiên của cả hai vợ chồng, trừ những tài sản chung có giá trị lớn. Đối với tài sản riêng, thông thường người có tài sản có quyền tự mình định đoạt không phụ thuộc ý chí của người khác. Tuy nhiên, với chế độ tài sản của vợ chồng trong một số trường hợp quyền năng này của họ bị hạn chế (ví dụ, nếu tài sản riêng đang là nguồn sống duy nhất của cả gia đình, khi định đoạt liên quan đến tài sản này thì phải có thoả thuận của hai vợ chồng).
1.1.3. Ý nghĩa của chế độ tài sản của vợ chồng
Pháp luật là công cụ để Nhà nước quản lý xã hội, quản lý nền kinh tế. Vì vậy, bên cạnh việc ban hành pháp luật buộc tất cả mọi công dân phải nghiêm chỉnh chấp hành, Nhà nước bảo đảm pháp luật phải được thực thi và đi vào cuộc sống. Việc quy định chế độ tài sản của vợ chồng trong Luật Hôn nhân và gia đình có những ý nghĩa quan trọng đối với xã hội:
Chế độ tài sản của vợ chồng với ý nghĩa là một chế định trong pháp luật hôn nhân và gia đình được Nhà nước quy định dựa trên sự phát triển của các điều kiện kinh tế – xã hội. Nó thể hiện tính giai cấp, bản chất của chế độ chính trị – xã hội cụ thể. Nhìn vào chế độ tài sản của vợ chồng được quy định trong pháp luật của Nhà nước, người ta có thể nhận biết được trình độ phát triển của các điều kiện kinh tế – xã hội và ý chí của Nhà nước thể hiện bản chất của chế độ xã hội đó. Tương ứng với mỗi chế độ xã hội cụ thể là một chế độ hôn nhân và gia đình, trong đó có các quy định về chế độ tài sản của vợ chồng. Trong xã hội phong kiến, quan hệ tài sản giữa vợ và chồng là bất bình đẳng, pháp luật hầu như không bảo vệ quyền lợi của người phụ nữ, ở nhà chồng, tài sản làm ra thuộc sở hữu của nhà chồng, khi chồng còn sống, người vợ không có quyền lợi kinh tế, khi chồng chết, tài sản không thuộc về họ mà thuộc về con cái và dòng họ nhà chồng, như vậy vợ và chồng không có quan hệ tài sản, càng không thể có sự thoả thuận về tài sản giữa vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân. Dưới thời Pháp thuộc, chế độ tài sản của vợ chồng được quy định có tiến bộ hơn, pháp luật thừa nhận cho vợ chồng có quyền xây dựng các quan hệ tài sản theo thoả thuận, miễn là các thoả thuận ấy không có tác dụng tước đi quyền đứng đầu gia đình của người chồng và không trái với thuần phong mỹ tục; song các quan hệ tài sản theo thoả thuận hầu như không được các cặp vợ chồng Việt Nam quan tâm. Đến luật Việt Nam hiện đại, đã ghi nhận quyền và nghĩa vụ giữa vợ và chồng là bình đẳng. Vợ chồng bình đẳng trong việc dạy dỗ con cái, chia sẻ công việc gia đình, cùng lao động để tạo dựng khối tài sản chung của gia đình và cùng quản lý, sử dụng, định đoạt khối tài sản chung đó. Vợ chồng có thể uỷ quyền cho nhau quản lý khối tài sản chung, có quyền thừa kế tài sản của nhau khi người kia chết. Hệ thống pháp luật Hôn nhân và gia đình của Nhà nước ta từ năm 1945 đến nay đều thực hiện nguyên tắc vợ chồng bình đẳng khi quy định về chế độ tài sản của vợ chồng, không bên nào được áp đặt, phụ thuộc bên nào.
Chế độ tài sản của vợ chồng được quy định trong pháp luật có ý nghĩa nhằm xác định các loại tài sản trong quan hệ giữa vợ chồng và gia đình. Khi hai bên nam nữ kết hôn với nhau trở thành vợ chồng, chế độ tài sản của vợ chồng được dự liệu với những thành phần tài sản của vợ chồng. Dù vợ chồng lựa chọn chế độ tài sản ước định hay chế độ tài sản pháp định, dù chế độ tài sản cộng đồng hay theo tiêu chuẩn phân sản thì các loại tài sản của vợ chồng luôn được pháp luật quy định rõ.
Việc phân định các loại tài sản trong quan hệ giữa vợ chồng của chế độ tài sản còn nhằm xác định các quyền và nghĩa vụ của các bên vợ, chồng đối với các loại tài sản của vợ chồng. Luận văn: Chế độ tài sản của vợ chồng theo Luật Hôn nhân.
Chế độ tài sản của vợ chồng được sử dụng với ý nghĩa là cơ sở pháp lý để giải quyết các tranh chấp về tài sản giữa vợ và chồng với nhau hoặc với những người khác trong thực tế, nhằm bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng về tài sản cho các bên vợ, chồng hoặc người thứ ba tham gia giao dịch liên quan đến tài sản của vợ chồng. Khi vợ, chồng tham gia các giao dịch nhằm đáp ứng cho nhu cầu thiết yếu của gia đình như ăn, mặc, ở, học hành của con,…. Những giao dịch đó được xác lập vì lợi ích chung của gia đình nên cả vợ và chồng đều phải liên đới trách nhiệm trong việc thực hiện giao dịch với người khác. Trong suốt thời kỳ hôn nhân, vợ, chồng sẽ tham gia rất nhiều các giao dịch vì cuộc sống chung của gia đình hay vì mục đích riêng của mỗi bên vợ, chồng. Căn cứ vào những quy định của pháp luật về chế độ tài sản của vợ chồng mà các cơ quan có thẩm quyền có cơ sở để giải quyết các tranh chấp liên quan, bảo vệ quyền lợi của các bên, góp phần tạo sự ổn định trật tự xã hội.
1.2 Nội dung các loại chế độ tài sản của vợ chồng Luận văn: Chế độ tài sản của vợ chồng theo Luật Hôn nhân.
Chế độ tài sản của vợ chồng trong pháp luật về hôn nhân và gia đình ở mỗi quốc gia được quy định gắn liền với các điều kiện kinh tế – xã hội, chế độ sở hữu, truyền thống, phong tục, tập quán, tâm lý, nguyện vọng của người dân. Do đó, giữa các nước khác nhau thường có những quy định khác biệt về tài sản của vợ chồng. Tuy nhiên, về cơ bản pháp luật của các quốc gia trên thế giới đã quy định có hai chế độ tài sản của vợ chồng đó là chế độ tài sản theo sự thoả thuận của vợ chồng (chế độ tài sản ước định) và chế độ tài sản theo quy định của pháp luật (chế độ tài sản pháp định).
1.2.1. Chế độ tài sản dựa trên sự thoả thuận của vợ chồng (chế độ tài sản ước định)
Chế độ tài sản ước định là chế độ tài sản vợ chồng được quyền xác định quan hệ tài sản của mình trên cơ sở tự thoả thuận. Văn bản ghi nhận sự thoả thuận đó là hôn ước. Ở nhiều nước trên thế giới, hôn ước được pháp luật công nhận. Hôn ước giúp vợ, chồng bảo vệ phần tài sản trước hôn nhân của mình. Trong hôn ước, hai bên vợ, chồng thoả thuận cụ thể về tài sản và quyền sở hữu tài sản có trước và sau khi kết hôn, cũng như việc phân chia tài sản đó khi hôn nhân chấm dứt.
Theo quy định tại Bộ luật Dân sự Cộng hoà Pháp thì vợ chồng có quyền tự do lựa chọn chế độ tài sản: “Luật pháp chỉ điều chỉnh quan hệ vợ chồng về tài sản khi không có thoả thuận riêng, mà vợ chồng có thể làm vì cho rằng điều đó là cần thiết, miễn sao những thoả thuận đó không trái với thuần phong mỹ tục và những quy định sau đây” [45, Điều 1387].
- Còn theo Bộ luật Dân sự và Thương mại Thái Lan thì:
Khi vợ chồng không có sự thoả thuận đặc biệt về tài sản của họ trước khi kết hôn, thì quan hệ giữa họ về tài sản sẽ được điều chỉnh bởi những quy định của Chương này.
Bất cứ điều khoản nào trong thoả thuận trước khi thành hôn trái với trật tự công cộng, với đạo đức, hoặc quy định là quan hệ giữa hai vợ chồng về tài sản đó sẽ phải được điều chỉnh bởi luật pháp nước ngoài, thì vô hiệu [63, Điều 1465].
Trước khi kết hôn vợ chồng hoàn toàn có quyền tự do lập hôn ước để quy định chế độ tài sản của họ. Họ muốn lựa chọn chế độ tài sản nào cũng được, pháp luật chỉ can thiệp và quy định chế độ tài sản của vợ chồng khi họ không lập hôn ước. Hôn ước là một văn kiện ký kết giữa một cặp nam nữ trước khi kết hôn, do vậy:
Hôn ước là văn bản ghi nhận sự thoả thuận của hai người nam nữ trước khi kết hôn về vấn đề điều chỉnh quan hệ tài sản của họ trong thời kỳ hôn nhân. Văn bản này được lập trước khi các bên nam nữ kết hôn và chỉ phát sinh hiệu lực trong thời kỳ hôn nhân.
Nội dung của hôn ước phải là sự thoả thuận về vấn đề sở hữu tài sản của vợ chồng. Hôn ước trước hết phải quy định rõ cách thức xác định đâu là tài sản chung, tài sản riêng của vợ chồng. Trong hôn ước có thể xác định về quyền và nghĩa vụ về tài sản của vợ chồng đối với nhau hay đối với bên thứ ba trong trường hợp có giao dịch với bên thứ ba. Hôn ước có tính ổn định cao, việc xác lập, thay đổi chế độ tài sản theo thoả thuận hôn ước phải tuân theo những thể thức nhất định, Điều 1397 Bộ luật Dân sự Cộng hoà Pháp (Luật số 65-570 ngày 13/7/1965 và Luật số 89-18 ngày 13/1/1989) quy định:
Sau hai năm áp dụng chế độ tài sản trong hôn nhân theo thoả thuận hoặc theo luật định, hai vợ chồng có thể vì lợi ích của gia đình, xin sửa đổi hoặc thay đổi hoàn toàn chế độ tài sản trong hôn nhân bằng một chứng thư có chứng thực của Công chứng viên và được Toà án nơi cư trú phê chuẩn [45]. Luận văn: Chế độ tài sản của vợ chồng theo Luật Hôn nhân.
- BLDS và Thương mại Thái Lan quy định:
Sau khi kết hôn, bản thoả thuận trước khi thành hôn không thể bị sửa đổi, trừ trường hợp Toà án cho phép. Khi có một quyết định cuối cùng của Toà án cho phép tiến hành sửa đổi hoặc huỷ bỏ bản thoả thuận trước khi thành hôn, thì Toà án phải thông báo cho viên chức đăng ký kết hôn nội dung quyết định đó để ghi nội dung đó vào sổ đăng ký kết hôn [63, Điều 1467].
Như vậy, mặc dù hôn ước mang tính ổn định cao nhưng pháp luật các nước đã dần thừa nhận các thoả thuận trong hôn ước có thể thay đổi trong thời kỳ hôn nhân, pháp luật đã tạo cho vợ chồng quyền chủ động hơn trong việc quy định chế độ tài sản của mình.
Tại Việt Nam, hôn ước đã từng tồn tại trong thời kỳ Pháp thuộc, ở thời kỳ này, hôn ước được quy định do chịu ảnh hưởng của pháp luật nước Pháp chứ không phải xuất phát dưới góc độ nhu cầu đời sống thực tiễn trong quan hệ tài sản của vợ chồng. Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, không có bất cứ quy định nào của pháp luật đề cập đến hôn ước. Hiện nay, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đã bổ sung quy định về áp dụng chế độ tài sản của vợ chồng: “Vợ chồng có quyền lựa chọn áp dụng chế độ tài sản theo luật định hoặc chế độ tài sản theo thoả thuận” [60, Điều 28].
Để phù hợp với sự thay đổi của xã hội Việt Nam, với quá trình hội nhập quốc tế kéo theo sự thay đổi về chức năng kinh tế của gia đình, hôn ước được thừa nhận trong Luật sẽ thể hiện sự văn minh, tiến bộ trong việc thực hiện quyền sở hữu tài sản của chủ sở hữu.
1.2.2. Chế độ tài sản của vợ chồng theo các căn cứ quy định của pháp luật (chế độ tài sản pháp định)
Chế độ tài sản pháp định là chế độ tài sản trong đó pháp luật quy định cụ thể về căn cứ xác định tài sản của vợ chồng, quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với tài sản đó, cũng như trong việc thực hiện các giao dịch giữa vợ chồng với người thứ ba.
Chế độ tài sản của vợ chồng theo quy định của pháp luật được tất cả các nước dự liệu trong hệ thống pháp luật của mình nhằm điều chỉnh quan hệ tài sản giữa vợ chồng. Có nước quy định chế độ tài sản pháp định mang tính chất thay thế trong trường hợp vợ chồng không có thoả thuận bằng hôn ước, hoặc với mục đích để vợ chồng lựa chọn chế độ tài sản áp dụng cho họ, điển hình là pháp luật của Pháp, Nhật Bản, Thái Lan, ….. Ví dụ, Điều 1400 Bộ luật Dân sự Cộng hoà Pháp quy định: “Chế độ cộng đồng tài sản được thiết lập khi không có hôn ước hoặc khi vợ chồng tuyên bố kết hôn theo chế độ cộng đồng tài sản” [45]. Ở Việt Nam, dưới chế độ nguỵ quyền Sài Gòn cũng có quy định tương tự, Điều 150 Bộ luật Dân sự Sài Gòn năm 1972 quy định:
Chế độ cộng đồng tài sản là chế độ phu phụ tài sản thường luật trong trường hợp vợ chồng không lập hôn ước hoặc khai kết hôn dưới chế độ cộng đồng tài sản. Chế độ này khởi đầu từ ngày lập hôn thú, không ai có thể định một ngày nào khác cho khởi điểm này [62]. Luận văn: Chế độ tài sản của vợ chồng theo Luật Hôn nhân.
Có nước quy định chế độ tài sản pháp định như là căn cứ duy nhất để xác định tài sản của vợ chồng, phổ biến trong pháp luật Hôn nhân và gia đình các nước Xã hội chủ nghĩa như Việt Nam, Trung Quốc, Cu-ba, … Điều 29 Luật Gia đình Cộng hoà Cu-ba quy định:
Chế độ tài sản của vợ chồng là chế độ tài sản chung theo quy định của Bộ luật này. Chế độ tài sản này áp dụng kể từ ngày việc kết hôn được chính quyền công nhận hoặc từ ngày có cuộc sống chung …; chế độ tài sản này chấm dứt khi quan hệ hôn nhân chấm dứt không kể vì lý do gì [31].
Chế độ tài sản pháp định được quy định ở nhiều hình thức khác nhau, nhưng tựu chung lại thường dưới hai hình thức: Chế độ tài sản theo tiêu chuẩn cộng đồng (chế độ tài sản cộng đồng) và chế độ tài sản theo tiêu chuẩn phân sản (chế độ phân sản).
- Chế độ tài sản của vợ chồng theo tiêu chuẩn cộng đồng:
Chế độ cộng đồng toàn sản: Theo chế độ tài sản này, thì tất cả các tài sản mà vợ, chồng có được đều thuộc khối tài sản chung của vợ chồng. Chế độ cộng đồng toàn sản không thừa nhận quyền sở hữu riêng của vợ, chồng mà chỉ thừa nhận quyền sở hữu chung, theo đó toàn bộ tài sản vợ, chồng có trước và trong thời kỳ hôn nhân đều thuộc khối tài sản chung. Quy định đó xuất phát từ quan niệm nhu cầu chung, lợi ích chung của gia đình là tối cao, tài sản của vợ chồng được pháp luật thừa nhận và bảo vệ là vì mục đích đó, nên tất cả tài sản vợ, chồng có trước và trong thời kỳ hôn nhân phải thuộc khối tài sản chung, quyền có tài sản riêng không được thừa nhận vì mâu thuẫn với lợi ích của gia đình. Chế độ tài sản này chỉ phù hợp với quan hệ Hôn nhân và gia đình trong xã hội truyền thống. Trong điều kiện phát triển kinh tế – xã hội hiện nay, khi quyền tự do cá nhân luôn được đề cao, chế độ cộng đồng toàn sản đã bộc lộ những hạn chế cơ bản, vì không đảm bảo quyền tự định đoạt của người có tài sản, đặc biệt khi tài sản đó do vợ, chồng làm ra trước khi kết hôn, tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng; nó cũng không đảm bảo được sự độc lập của vợ, chồng do họ không có tài sản riêng để tham gia các quan hệ xã hội khác ngoài quan hệ gia đình; mặt khác, việc chế độ cộng đồng toàn sản được áp dụng trong giai đoạn hiện nay có thể khuyến khích cho các quan hệ hôn nhân thực dụng, dễ nảy sinh các quan hệ hôn nhân được xác lập không phải vì tình cảm yêu thương, gắn bó với mục đích xác lập quan hệ vợ chồng chung sống lâu dài, hạnh phúc, mà chỉ nhằm vào tiền bạc, tài sản. Vì vậy, các nước thường không lựa chọn chế độ tài sản cộng đồng này.
Chế độ cộng đồng động sản và tạo sản: Chế độ tài sản này đã thừa nhận trong hôn nhân bao gồm có tài sản chung và tài sản riêng của vợ, chồng. Chế độ cộng đồng động sản và tạo sản xác định tài sản của vợ chồng dựa trên việc phân định tài sản của vợ, chồng là động sản hay bất động sản. Theo đó, khối tài sản chung chỉ bao gồm các động sản của vợ, chồng có trước và trong thời kỳ hôn nhân, các hoa lợi và các bất động sản mà vợ, chồng mua lại bằng tài sản chung. Vợ, chồng có quyền sở hữu riêng đối với bất động sản có trước khi kết hôn và bất động sản mà vợ, chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân. Luận văn: Chế độ tài sản của vợ chồng theo Luật Hôn nhân.
Việc quy định chế độ cộng đồng động sản và tạo sản là xuất phát từ quan điểm của nhà làm luật một số nước cho rằng: Vợ, chồng phải để dành cho mình làm của riêng những tài sản chính của mình và theo các nhà làm luật đó là bất động sản [31]. Bộ luật Dân sự năm 1804 của Cộng hoà Pháp đã quy định dành cho mỗi bên vợ, chồng giữ làm của riêng các bất động sản hiện có khi lập hôn thú và tất cả các bất động sản mà người vợ, người chồng có được do được tặng cho riêng, được thừa kế riêng trong thời kỳ hôn nhân. Bởi những bất động sản này thường do cha mẹ, ông bà hoặc các thành viên khác trong gia đình của người vợ, người chồng truyền lại nên cần phải để làm của riêng.
Ở nước ta dưới chế độ nguỵ quyền Sài Gòn, Sắc Luật 15/64 ngày 23/7/1964 áp dụng ở miền Nam trước ngày giải phóng cũng đã dự liệu chế độ cộng đồng động sản và tạo sản là chế độ tài sản pháp định giành cho các cặp vợ chồng không lập hôn ước. Những quy định của chế độ tài sản theo Sắc Luật 15/64 đã được ghi nhận lại trong Bộ luật Dân sự năm 1972 dưới chế độ nguỵ quyền Sài Gòn (các Điều 150, 151, 152,…). Điều 152 Bộ luật Dân sự Sài Gòn năm 1972 quy định: “Bất động sản thuộc quyền sở hữu của mỗi vợ chồng ngày lập hôn thú hoặc thủ đắc trong thời gian hôn thú do sự thừa kế, tặng dữ và di tặng là của riêng của mỗi người” [62]. Chế độ tài sản cộng đồng này chỉ phù hợp với giai đoạn phát triển kinh tế – xã hội lấy bất động sản là tiêu chí xác định thành phần chính yếu và chắc chắn của tài sản trong gia đình.
Với điều kiện phát triển kinh tế hiện nay, việc xác định tài sản chung, tài sản riêng của vợ, chồng dựa trên sự phân tách động sản và bất động sản đã mất đi sự công bằng trong gia đình và đã không đảm bảo được mục đích đề ra ban đầu của nhà làm luật, vì lúc này tài sản chính yếu không chỉ là bất động sản mà còn gồm những tài sản thuộc về động sản, quyền tài sản hoặc các giấy tờ trị giá được bằng tiền. Do vậy, hiện nay nhiều nước không ghi nhận chế độ tài sản này.
Chế độ cộng đồng tạo sản: Theo quy định của chế độ tài sản này, thành phần, phạm vi các loại tài sản thuộc khối tài sản chung của vợ chồng được thu hẹp hơn nữa so với chế độ cộng đồng động sản và tạo sản. Chế độ cộng đồng tạo sản có đặc điểm, tài sản chung của vợ chồng chỉ được xác định đối với những tài sản mà vợ, chồng có được trong thời kỳ hôn nhân; những tài sản khác không phân biệt động sản hay bất động sản mà vợ, chồng có được trước khi kết hôn, hay được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân thuộc sở hữu riêng của vợ hoặc chồng.
Chế độ cộng đồng tạo sản được hệ thống pháp luật của nhiều quốc gia lựa chọn quy định trong pháp luật, như Pháp, Trung Quốc, Việt Nam,…. Điều 13 Luật hôn nhân năm 1980 của Cộng hoà nhân dân Trung Hoa quy định: “Tài sản của vợ chồng làm ra trong suốt thời kỳ hôn nhân là tài sản chung của vợ chồng, ngoài ra, mỗi bên có thể có tài sản riêng ngoài quy định trên” [31]. Bộ luật Dân sự Cộng hoà Pháp cũng quy định: “Tài sản cộng đồng gồm những thu nhập chung của hai vợ chồng hoặc thu nhập riêng của từng người trong thời kỳ hôn nhân và có nguồn gốc từ công việc làm ăn của họ, cũng như từ những khoản tiết kiệm có được do hoa lợi, lợi tức từ tài sản riêng của họ” [45, Điều 1401]. Ở Việt Nam, Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 (Điều 14, 15, 16) và Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 (Điều 27, 28, 32, 33) cũng lựa chọn chế độ cộng đồng tạo sản để áp dụng cho các cặp vợ chồng từ khi xác lập quan hệ hôn nhân. Luận văn: Chế độ tài sản của vợ chồng theo Luật Hôn nhân.
Việc chế độ cộng đồng tạo sản được thừa nhận rộng rãi ở các nước là do chế độ tài sản cộng đồng này rất phù hợp với tình hình thực tế ở mỗi nước. Một mặt, nó không làm phá vỡ chế độ tài sản chung của vợ chồng, mặt khác chế độ tài sản này còn tạo điều kiện thuận lợi cho vợ, chồng có thể chủ động trong việc định đoạt tài sản thuộc sở hữu riêng của mình, ngăn chặn các trường hợp kết hôn với mục đích không lành mạnh, việc kết hôn chỉ nhằm vào khối tài sản đã sẵn có của bên kia.
- Chế độ tài sản theo tiêu chuẩn phân sản:
Chế độ phân sản là một hình thức của chế độ tài sản pháp định, trong đó giữa vợ chồng không tồn tại khối tài sản chung, tất cả các loại tài sản mà mỗi bên vợ, chồng đã có từ trước khi kết hôn hoặc tạo ra được trong thời kỳ hôn nhân đều thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng. Pháp luật chỉ quy định nghĩa vụ của vợ, chồng về đóng góp vào chi tiêu chung của gia đình.
Trong chế độ phân sản còn có chế độ hồi môn. Chế độ tài sản này có nguồn gốc từ pháp luật La Mã cổ đại. Theo đó, những tài sản thuộc của hồi môn của người vợ sẽ giao cho người chồng để người chồng quản lý và sử dụng. Như vậy, hoa lợi từ tài sản riêng của người chồng và từ của hồi môn của người vợ thuộc về người chồng. Đặc điểm của chế độ hồi môn là tài sản hồi môn không thể được chuyển nhượng, người chồng không có quyền bán tài sản hồi môn vì người chồng không phải là chủ sở hữu, người vợ cũng không có quyền chấp thuận để người chồng bán. Cho dù có sự thoả thuận của cả hai vợ chồng, tài sản hồi môn cũng không thể bán được [31].
Trước đây, chế độ tài sản này đã từng được áp dụng ở Italia và ở Anh từ năm 1857. Khi một đôi vợ chồng tạo lập một tài sản thành của hồi môn, họ phải ký một hôn ước theo chế độ của hồi môn. Vì vậy, tại những nước này, chế độ tài sản áp dụng cho những đôi vợ chồng không lập hôn ước là chế độ phân sản [24]. Hiện nay, chế độ phân sản không được pháp luật của nhiều nước áp dụng, vì nó đề cao lợi ích cá nhân của vợ, chồng mà xem nhẹ lợi ích gia đình.
1.3 Khái quát chế độ tài sản của vợ chồng trong pháp luật Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử Luận văn: Chế độ tài sản của vợ chồng theo Luật Hôn nhân.
1.3.1. Chế độ tài sản của vợ chồng trong pháp luật thời kỳ phong kiến
Xã hội phong kiến Việt Nam chịu ảnh hưởng sâu sắc của nho giáo, trong đó có các quan niệm về hôn nhân và gia đình. Các quy định về Hôn nhân và gia đình chiếm một vị trí quan trọng trong các văn bản luật, tiêu biểu nhất là hai bộ luật: Quốc triều hình luật (còn gọi là Bộ luật Hồng Đức – thời Lê) và Hoàng Việt luật lệ (còn gọi là Bộ luật Gia Long – thời Nguyễn). Theo các nhà nghiên cứu, chế độ tài sản của vợ chồng không được quy định như một chế định riêng rẽ và cụ thể. Trong Quốc triều hình luật (QTHL) đã thiết lập một chế độ tài sản tương đối bình đẳng giữa vợ và chồng, quyền bình đẳng về tài sản thể hiện qua các quyền sở hữu tài sản của vợ và chồng đối với tài sản chung và tài sản riêng.
Nguồn tài sản gồm có:
- Tài sản của chồng được thừa kế từ gia đình chồng (phu điền sản);
- Tài sản của vợ được thừa kế từ gia đình vợ (thê điền sản);
- Tài sản chung do hai vợ chồng cùng kiếm được sau khi lấy nhau (tần tảo điền sản).
Toàn bộ tài sản trong gia đình được hợp thành một khối. Mặc dù Bộ luật Hồng Đức và Bộ luật Gia Long không trực tiếp đề cập đến việc quản lý tài sản trong gia đình, nhưng quy định tại các Điều 374, 375, 376 của Bộ luật nhà Lê đã gián tiếp thừa nhận năng lực bình đẳng của vợ chồng trong việc quản lý tài sản của gia đình. Các văn cổ lập dưới thời Lê cho thấy các định đoạt quan trọng đối với tài sản như bán, tặng cho, cầm cố, lập chúc thư, … do hai vợ chồng cùng thực hiện, các văn tự đều do hai vợ chồng cùng ký [40].
Với tư cách là người chủ gia đình, người chồng có quyền quản lý và sử dụng tài sản của gia đình nhưng phải xuất phát vì lợi ích của gia đình, nếu làm tổn hại đến tài sản của gia đình thì người vợ có quyền phản đối.
Trong Bộ luật cũng thừa nhận vợ chồng đều có quyền sở hữu tài sản riêng. Tài sản riêng của vợ chồng là tài sản có trước khi kết hôn, được thừa kế từ gia đình mỗi người. Đối với tài sản này vợ, chồng đều có quyền sở hữu riêng, mặc dù tài sản này được quản lý chung bởi vợ chồng và các lợi tức từ tài sản đó mang lại là tài sản chung, nhưng tài sản này chỉ tạm thời gộp lại để vợ chồng quản lý trong thời gian hôn nhân. Như vậy, có thể hiểu tài sản riêng của vợ và chồng thì cả hai đều có quyền chiếm hữu, sử dụng trong thời gian hôn nhân nhưng không có quyền định đoạt đối với tài sản riêng của người khác. Do đó, khi họ ly hôn thì tài sản riêng của ai vẫn thuộc về người đó và họ có quyền mang theo trừ trường hợp ly hôn do vợ gian dâm. Việc thừa nhận vợ có quyền sở hữu tài sản riêng là điểm đặc sắc của pháp luật phong kiến nhà Lê và tạo cho người vợ có vị thế ngang bằng nhất định với người chồng. Luận văn: Chế độ tài sản của vợ chồng theo Luật Hôn nhân.
Tuy nhiên, sự bất bình đẳng trong quan hệ tài sản của vợ chồng theo quy định của Bộ luật Hồng Đức thể hiện ở chỗ trong trường hợp người chồng chết trước, nếu người vợ lấy chồng khác thì người vợ mất quyền hưởng hoa lợi từ tài sản của người chồng đã chết; nhưng ngược lại, nếu người vợ chết trước thì mặc dù người chồng lấy vợ khác, nhưng vẫn được hưởng hoa lợi từ tài sản của người vợ đã chết.
Đến thế kỷ XIX, Bộ luật Gia Long cho phép người chồng có toàn quyền chuyển nhượng tài sản của gia đình, vấn đề tài sản giữa vợ và chồng hầu như không được Luật Gia Long đề cập tới, người vợ phải phụ thuộc người chồng một cách tuyệt đối. Quy định này xuất phát từ chỗ Bộ luật Gia Long đã sao chép máy móc các quy định của Nhà Thanh và đã làm hạn chế quyền tài sản của người vợ so với các quy định tiến bộ của Bộ luật Hồng Đức.
Qua nghiên cứu các quy định liên quan đến vấn đề tài sản của vợ chồng trong Quốc triều hình luật và Hoàng Việt luật lệ có thể thấy rằng, chế độ tài sản của vợ chồng được áp dụng trong thời kỳ phong kiến là chế độ cộng đồng toàn sản, với nội dung toàn bộ tài sản mà vợ, chồng có được từ trước khi kết hôn hoặc do vợ chồng tạo dựng trong thời kỳ hôn nhân đều thuộc khối tài sản chung của vợ chồng, khối tài sản chung này được sử dụng vào mục đích là nuôi dưỡng, giáo dục các con, để lại cho các con khi cha, mẹ chết. Tài sản chung của vợ chồng bao gồm các tài sản là động sản (QTHL gọi là phù vật) và các bất động sản (điền sản). Trong đó điền sản được coi là tài sản chủ yếu, chiếm vị trí quan trọng hàng đầu trong khối tài sản chung của vợ chồng. Nó có ý nghĩa thiêng liêng và thể hiện trật tự giữa các thành viên trong gia đình.
1.3.2. Chế độ tài sản của vợ chồng trong pháp luật thời kỳ Pháp thuộc Luận văn: Chế độ tài sản của vợ chồng theo Luật Hôn nhân.
Trong thời kỳ Pháp thuộc, thực dân Pháp ban hành ở nước ta ba Bộ luật dân sự áp dụng cho ba miền:
- Ở Bắc Kỳ áp dụng Bộ luật Dân sự năm 1931 (DLBK);
- Ở Trung Kỳ áp dụng Bộ luật Dân sự năm 1936 (DLTK);
- Ở Nam Kỳ cho ban hành tập Dân luật giản yếu năm 1883 (DLGYNK). Trong cả ba Bộ dân luật nói trên đều có phần quy định về Hôn nhân và gia đình, trong đó có chế độ tài sản vợ chồng.
Bộ dân luật giản yếu Nam Kỳ có 5 tiết nói về hôn thú, ly dị, phụ hệ, nuôi con nuôi và phụ quyền; không có quy định về hôn sản, di sản và tư sản. Thời kỳ đầu các án lệ của Nam Kỳ có công nhận người vợ có của riêng và chế độ hôn nhân theo tục lệ là cộng đồng tạo sản. Nhưng sau đó các án lệ lại đổi hướng không công nhận quyền có tài sản riêng của người vợ, với lập luận rằng nếu công nhận chế độ cộng đồng tài sản tức là đã gán cho người vợ những quyền ngang hàng với quyền của người chồng, trong khi đó trong gia đình, người vợ chỉ có địa vị của một người con gái.
- Chế độ hôn sản được áp dụng tại Nam Kỳ theo các nguyên tắc:
Người vợ không có của riêng, do đó không thể có cộng đồng tài sản giữa vợ và chồng. Toàn thể tài sản trong gia đình đều thuộc quyền sở hữu và quyền quản lý của người chồng trong thời kỳ hôn nhân cũng như sau khi người vợ chết. Trong trường hợp vợ chết thì chồng là chủ sở hữu đối với toàn bộ tài sản của gia đình do hiệu lực của hôn nhân chứ không phải là hưởng gia tài của người vợ; nhưng nếu người chồng chết thì người vợ chỉ có quyền hưởng dụng thu lợi trên toàn bộ tài sản gia đình trong khi còn ở goá.
Theo đó, các án lệ tại các Toà án ở Nam Kỳ đã áp dụng nguyên tắc chồng là chủ sở hữu duy nhất các tài sản của gia đình, bao gồm:
- Các động sản đã mua trong thời kỳ hôn nhân, kể cả các động sản khi mua đã đứng tên vợ;
- Các bất động sản đã ban cấp riêng cho người vợ;
- Các bất động sản có được trong thời kỳ hôn nhân, mặc dù các bất động sản đó đứng tên người vợ khi mua …
Như vậy, chế độ tài sản của vợ chồng được áp dụng trong thời Pháp thuộc ở Nam Kỳ là rất bất công đối với người vợ, nhất là khi tài sản mà vợ tạo ra được do hành nghề riêng trong thời kỳ hôn nhân vẫn phải coi là thuộc tài sản của người chồng.
Tuy nhiên, án lệ cũng công nhận trong một số trường hợp thì những tài sản sau đây được coi là tài sản riêng của vợ:
- Các đồ tư trang của người vợ; Luận văn: Chế độ tài sản của vợ chồng theo Luật Hôn nhân.
- Tài sản người vợ có được do được gia đình vợ tặng cho hoặc được hưởng di sản của gia đình vợ;
- Bất động sản đã ghi rõ tên vợ là chủ sở hữu trong sổ địa bộ.
Do các án lệ đã công nhận chồng là chủ sở hữu đối với tài sản của gia đình nên trong việc quản lý tài sản, người chồng có thể một mình đứng ra thực hiện các giao dịch và thu nhận hoa lợi; nếu con nợ vay tiền của vợ thì có thể trả nợ đó cho người chồng. Ngược lại, người vợ không được ký kết các hợp đồng một mình và người chồng có quyền khiếu nại để phủ nhận hợp đồng đó. Là chủ sở hữu đối với tài sản của gia đình, người chồng có thể một mình ký kết để chuyển dịch động sản và bất động sản. Trên thực tế, mỗi khi chồng bán hoặc tặng cho bất động sản thì người vợ cũng thường ký cùng chồng vào các giấy tờ, nhưng các án lệ không coi đó là một thể thức có giá trị pháp lý [40].
Tại Bắc và Trung Kỳ, ảnh hưởng của Bộ luật Dân sự Pháp (1804) thể hiện trong việc nhà làm luật dự liệu chế độ tài sản ước định và áp dụng nguyên tắc bất di, bất dịch của chế độ tài sản của vợ chồng theo hôn khế. Điều 104 Dân luật Bắc kỳ quy định:
Về đường tài sản, pháp luật chỉ can thiệp đến đoàn thể vợ chồng là khi nào vợ chồng không có tuỳ ý lập ước riêng với nhau mà thôi, miễn là ước riêng ấy không được trái với phong tục và không được trái với quyền lợi người chồng là người chủ trương trong đoàn thể [6]. Tiếp đó, Điều 105 quy định: Phàm tư ước về tài sản giá thú phải làm thành chứng thư tại trước mặt, hoặc do Lý trưởng thị thực, mà phải làm trước khi khai giá thú. Đã khai giá thú rồi thì không được thay đổi gì nữa [6].
Quy định chế độ tài sản ước định này lần đầu tiên được dự liệu trong hệ thống pháp luật Việt Nam theo quan niệm của nhà làm luật tư sản là không phù hợp với tục lệ và truyền thống của gia đình người Việt Nam, nên mặc dù được hai bộ Dân luật Bắc kỳ và Dân luật Trung kỳ dự liệu, các cặp vợ chồng thường không thoả thuận lựa chọn loại chế độ tài sản ước định này.
Trường hợp vợ chồng không thoả thuận lập hôn khế khi kết lập giá thú, Dân luật Bắc kỳ và Dân luật Trung kỳ đều dự liệu một chế độ tài sản pháp định để áp dụng cho họ, đó là chế độ cộng đồng toàn sản. Theo tục lệ của người Việt Nam thì mọi tài sản trong gia đình đều là tài sản chung và đều để dành cho con cháu. Các quy định trong hai Bộ Dân Luật Bắc kỳ và Hoàng Việt Trung kỳ hộ luật cũng chấp nhận tục lệ này. Điều 106 Dân luật Bắc kỳ và Điều 104 Dân luật Trung kỳ quy định: “Nếu hai vợ chồng không lập hôn ước riêng thì hai người đã theo chế độ cộng đồng toàn sản, gồm tất cả của cải và hoa lợi của chồng cũng như của vợ” [6]; [73]. Luận văn: Chế độ tài sản của vợ chồng theo Luật Hôn nhân.
Vợ hoặc chồng có thể có của riêng trước khi kết hôn, nhưng kể từ khi kết hôn và trong suốt thời kỳ hôn nhân thì các tài sản riêng đó (bao gồm cả động sản và bất động sản) hợp nhất thành khối tài sản chung. Tuy nhiên, đó chỉ là sự hợp nhất tạm thời trong thời kỳ hôn nhân. Chỉ có những tài sản do hai vợ chồng tạo ra trong thời kỳ hôn nhân mới là tài sản chung chính thức. Khi hôn nhân chấm dứt thì các tài sản riêng của vợ chồng đã được hợp nhất tạm thời vào khối tài sản chung lại được tách ra để chia theo nguyên tắc của ai thì người đó lấy lại, còn các tài sản chung thì được chia đôi cho vợ và chồng.
Theo quy định tại Điều 107 Dân luật Bắc kỳ và Điều 105 Dân luật Trung kỳ thì tài sản chung của vợ và chồng gồm có:
- Các tài sản do vợ chồng có được trong thời kỳ hôn nhân;
- Tài sản do vợ chồng làm việc mà kiếm ra;
- Lợi tức của toàn bộ tài sản trong gia đình, không phân biệt lợi tức từ tài sản riêng hay lợi tức từ tài sản chung [6]; [73].
Như vậy, toàn bộ tài sản mà vợ chồng có được trong thời kỳ hôn nhân (cả động sản và bất động sản) đều là tài sản chung của vợ chồng. Để phân biệt được động sản hoặc bất động sản nào là tài sản riêng hay tài sản chung của vợ chồng, thì căn cứ vào việc đăng ký hoặc có chứng thư xác nhận nguồn gốc của tài sản đó. Đối với các động sản không được đăng ký và cũng không có chứng thư xác nhận nguồn gốc thì Toà án suy đoán là tài sản chung của vợ chồng; nếu vợ hoặc chồng muốn khiếu nại đó là tài sản riêng của mình thì phải chứng minh.
Điều 111 Bộ Dân luật Bắc kỳ và Điều 109 Hoàng Việt Trung kỳ hộ luật quy định khối tài sản cộng đồng phải gánh chịu các khoản nợ sau đây:
- Các khoản nợ của vợ chồng đã vay trước khi kết hôn;
- Các khoản nợ của chồng vay trong thời kỳ hôn nhân;
- Các khoản nợ do vợ vay với tư cách là đại diện cho đoàn thể vợ chồng hoặc vay với sự ưng thuận của người chồng;
- Các khoản nợ do hành vi phạm pháp của người vợ gây ra [6]; [40].
Theo quy định trên, tất cả các khoản nợ của chồng, dù vay từ trước khi kết hôn hoặc trong thời kỳ hôn nhân, không phân biệt là do ký kết hợp đồng hoặc do hành vi phạm pháp mà gây ra thì đều phải coi là nợ của hai vợ chồng và do khối cộng đồng phải gánh chịu. Mặc dù các món nợ do hành vi phạm pháp của người chồng gây ra không được quy định rõ trong hai bộ dân luật, nhưng theo đạo lý thì phải trích từ khối tài sản chung của gia đình để thanh toán.
Về việc quản lý tài sản của gia đình, theo Điều 100, Điều 111 Dân luật Bắc kỳ và Điều 98, Điều 109 Dân luật Trung kỳ quy định đối với các nhu cầu của gia đình thì vợ hoặc chồng đều có thể đại diện cho gia đình để giao dịch và được trích từ khối tài sản của gia đình để chi dùng. Luận văn: Chế độ tài sản của vợ chồng theo Luật Hôn nhân.
Theo quy định tại Điều 109 Bộ Dân luật Bắc kỳ và Điều 107 Hoàng Việt Trung kỳ hộ luật vợ chồng muốn sử dụng tài sản chung thì phải có sự ưng thuận của vợ và của chồng, chồng có quyền sử dụng các động sản mà không cần phải có sự đồng ý của vợ, miễn là việc sử dụng đó đem lại lợi ích cho gia đình; việc ưng thuận của người chồng phải được thể hiện bằng văn bản, có chữ ký của người chồng, còn việc ưng thuận của người vợ thì chỉ cần là sự ưng thuận công nhiên hoặc mặc nhiên không cần phải ghi chép hoặc giấy tờ. Quy định này cũng nói lên sự bất bình đẳng trong quan hệ vợ chồng khi định đoạt các tài sản của gia đình. Ngoài ra, pháp luật còn cho phép người chồng có đặc quyền được thực hiện các giao dịch mua bán bất động sản và các bất động sản chung của gia đình (chỉ trừ bất động sản riêng của người vợ) mà không cần phải có sự tham gia hoặc ưng thuận của người vợ, miễn là việc mua bán đó đem lại lợi ích cho gia đình [6, Điều 109].
Để bảo vệ khối tài sản của gia đình, các Bộ dân luật đều có quy định trong trường hợp người vợ một mình thực hiện các giao dịch cho gia đình mà lạm dụng quyền đó thì người chồng có quyền thu hồi một phần hoặc toàn bộ quyền của người vợ [6, Điều 100].
Ngược lại, trong trường hợp người chồng không chu cấp để nuôi dưỡng vợ con hoặc phá tán tài sản của gia đình thì người vợ có quyền xin Toà án cấm người chồng sử dụng kỷ phần của mình, và tất cả các tài sản do nghề nghiệp riêng của vợ tạo ra. Trong trường hợp này, Toà án có thể cho phép người vợ được quản lý, hưởng dụng các tài sản đó [6, Điều 110].
Khi ly hôn, nếu người vợ không có con thì được lấy lại kỷ phần của mình bằng hiện vật và được nửa của chung. Nếu là vợ thứ thì không được dự phần của chung, chỉ được lấy lại tài sản riêng [6, Điều 112].
Trong trường hợp vợ chồng ly dị mà có con thì pháp luật quy định sẽ không thanh toán tài sản. Điều 112 Bộ Dân luật Bắc kỳ quy định trong trường hợp này, người vợ được hưởng một phần từ khối tài sản chung, phần đó nhiều hay ít tuỳ thuộc vào sự đóng góp của người vợ đã là tăng khối tài sản chung và do Toà án quyết định; nếu người vợ thông gian mà bị ly hôn thì phần đó sẽ bị bớt đi 1/2; Người vợ bị ly hôn bao giờ cũng có quyền lấy lại các đồ tư trang, phục sức của mình. Tuy nhiên, Bộ Hoàng Việt Trung kỳ hộ luật quy định phần của người vợ khi vợ chồng ly hôn mà có con bằng 1/3 khối tài sản chung, nếu người vợ thông gian mà bị ly dị thì bị mất cả quyền lợi về tài sản chung (Điều 110).
Khi người chồng chết mà người vợ không tái giá, của chung vẫn để nguyên, người vợ goá được thay quyền chồng quản lý tài sản chung.
- Nếu người vợ chết trước, người chồng thành sở hữu tất cả tài sản chung kể cả kỷ phần của người vợ.
- Vợ thứ được giữ quyền sở hữu và quản lý, hưởng thụ cùng định đoạt tài sản riêng của mình.
1.3.3. Chế độ tài sản của vợ chồng trong pháp luật Hôn nhân và gia đình của nước ta từ Cách mạng tháng Tám (1945) đến nay Luận văn: Chế độ tài sản của vợ chồng theo Luật Hôn nhân.
- Giai đoạn 1945 – 1954:
Ngay sau Cách mạng tháng Tám thành công, do điều kiện lịch sử xã hội, Nhà nước ta chưa thể ban hành ngay một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh. Các quan hệ dân luật và Hôn nhân và gia đình từ năm 1945 – 1950 vẫn được điều chỉnh bởi ba văn bản luật (DLBK, Dân luật Trung kỳ, Dân luật Giản yếu Nam kỳ) do thực dân Pháp ban hành trước năm 1945 (theo Sắc lệnh số 90-SL ngày 10/10/1945 của Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hoà đã cho phép áp dụng pháp luật cũ một cách chọn lọc; miễn sao không trái với lợi ích của chính thể Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà và lợi ích của nhân dân lao động).
Năm 1946 Hiến pháp đầu tiên của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà đã khẳng định quyền bình đẳng giữa nam và nữ. Hiến pháp quy định: “Đàn bà ngang quyền với đàn ông về mọi phương diện” [47, Điều 9]. Đây là cơ sở pháp lý đầu tiên khẳng định quyền bình đẳng giữa nam và nữ và cũng chính là cơ sở pháp lý xác nhận quyền bình đẳng giữa vợ và chồng.
Đến năm 1950, Nhà nước ta đã ban hành sắc lệnh đầu tiên điều chỉnh quan hệ Hôn nhân và gia đình, đó là Sắc lệnh 97/SL ngày 22/5/1950 về sửa đổi một số quy lệ và chế định trong dân luật và Sắc lệnh số 159/SL ngày 17/11/1950 quy định về vấn đề ly hôn. Một trong những nội dung của hai sắc lệnh này là thể hiện nguyên tắc “nam nữ bình đẳng” và nguyên tắc “người chồng và người vợ có địa vị bình đẳng trong gia đình”. Đây là những quy định mới và tiến bộ góp phần đáng kể vào việc xoá bỏ chế độ Hôn nhân và gia đình phong kiến lạc hậu, nói lên quan hệ bình đẳng giữa vợ và chồng trong đó có quan hệ về tài sản.
Sắc lệnh số 97/SL quy định: “Trong lúc còn sinh thời người chồng goá hay vợ goá, các con đã thành niên có quyền xin chia phần tài sản thuộc quyền sở hữu của người chết, sau khi đã thanh toán tài sản chung” [17, Điều 11], trong khi Sắc lệnh số 90/SL đã cho phép vận dụng pháp luật cũ có chọn lọc. Theo đó, ta suy luận: Mặc dù Sắc lệnh số 97/SL không có điều nào quy định về thành phần tài sản chung của vợ chồng thì chế độ tài sản của vợ chồng được áp dụng theo tinh thần của các sắc lệnh trên là chế độ cộng đồng toàn sản (chế độ tài sản này đã được áp dụng theo Dân luật Bắc kỳ và Dân luật Trung kỳ).
Sắc lệnh số 159/SL quy định: “Hai vợ chồng đã ly hôn phải cùng chịu phí tổn về việc nuôi dạy con, mỗi bên tuỳ theo khả năng của mình” [18, Điều 6]. Theo đó, khi ly hôn, tài sản chung của vợ chồng phải được chia tuỳ theo khả năng của mỗi bên vợ, chồng phải cùng có nghĩa vụ trong việc nuôi dạy con. Luận văn: Chế độ tài sản của vợ chồng theo Luật Hôn nhân.
Như vậy, Sắc lệnh số 97/SL và Sắc lệnh số 159/SL đã góp phần quan trọng vào việc xoá bỏ chế độ hôn nhân và gia đình phong kiến lạc hậu, thúc đẩy sự phát triển của xã hội Việt Nam trong thời kỳ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân. Nội dung của hai sắc lệnh đã thể hiện tính dân chủ và tiến bộ của một nền pháp chế mới.
- Giai đoạn 1954 – 1975:
Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi, nước ta tạm thời bị chia cắt làm hai miền với hai chế độ chính trị khác biệt. Miền Bắc được giải phóng, bước vào thời kỳ quá độ xây dựng chủ nghĩa xã hội, miền Nam tiếp tục cuộc cách mạng dân tộc, dân chủ, đấu tranh thống nhất nước nhà. Vì vậy, pháp luật được áp dụng trong giai đoạn này ở hai miền là khác nhau, trong đó có chế độ Hôn nhân và gia đình.
Ở miền Bắc, Sắc lệnh số 97/SL và Sắc lệnh số 159/SL tuy góp phần vào việc xoá bỏ chế độ Hôn nhân và gia đình phong kiến lạc hậu nhưng không còn đáp ứng được tình hình mới. Việc xây dựng và ban hành một đạo luật mới về HN&GĐ là một tất yếu khách quan. Vào thời gian này, bản Hiến pháp thứ hai của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà đã được Quốc hội thông qua vào năm 1959. Hiến pháp năm 1959 đã quy định và ghi nhận quyền bình đẳng giữa nam và nữ về mọi mặt, là cơ sở pháp lý cho việc xây dựng chế độ Hôn nhân và gia đình mới Xã hội chủ nghĩa. Vì vậy, cùng thời gian này, Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 đã ra đời và có những quy định về chế độ tài sản của vợ chồng.
Theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959, chế độ tài sản của vợ chồng là chế độ cộng đồng toàn sản quy định: “vợ chồng đều có quyền sở hữu, hưởng thụ và sử dụng ngang nhau đối với tài sản có trước và sau khi cưới” [49, Điều 15]. Nghĩa là toàn bộ các tài sản của vợ chồng dù có trước khi kết hôn hoặc được tạo ra trong thời kỳ hôn nhân; dù vợ, chồng được tặng cho riêng, được thừa kế riêng hoặc cả hai vợ chồng được tặng cho chung hay thừa kế chung, không phân biệt nguồn gốc tài sản và công sức đóng góp đều thuộc khối tài sản chung của vợ chồng. Luật không thừa nhận vợ, chồng có tài sản riêng. Vợ, chồng có quyền bình đẳng ngang nhau khi thực hiện quyền sở hữu đối với tài sản chung và luôn có kỷ phần bằng nhau trong khối tài sản thuộc sở hữu chung hợp nhất đó. Có hai trường hợp chia tài sản chung của vợ chồng là khi vợ, chồng chết trước (Điều 16) và khi vợ chồng ly hôn (Điều 29). Về nguyên tắc, tài sản chung của vợ chồng được chia căn cứ vào công sức đóng góp của mỗi bên vào tình hình tài sản. Lao động trong gia đình được kể như lao động sản xuất.
Ở miền Nam, hệ thống các văn bản pháp luật Hôn nhân và gia đình được ban hành bao gồm:
- Luật gia đình ngày 2/1/1959 (Luật số 1 – 59) dưới chế độ Ngô Đình Diệm.
- Sắc luật số 15/64 ngày 23/7/1964 về giá thú, tử hệ và tài sản cộng đồng.
- Bộ dân luật ngày 20/12/1972 dưới chế độ Nguyễn Văn Thiệu.
Về chế độ tài sản của vợ chồng, cả ba văn bản luật này đều dự liệu chế độ tài sản ước định, cho phép vợ chồng ký kết với nhau một hôn ước thoả thuận về vấn đề tài sản từ trước khi kết hôn, miễn là sự thoả thuận bằng hôn ước đó không trái với trật tự công cộng, thuần phong mỹ tục và quyền lợi của con. Trong trường hợp hai vợ chồng không lập hôn ước với nhau về tài sản thì áp dụng chế độ tài sản của vợ chồng theo các căn cứ quy định của pháp luật. Bộ luật Dân sự Sài Gòn năm 1972 quy định: “Luật pháp chỉ quy định chế độ phu phụ tài sản khi vợ chồng không lập hôn ước. Vợ chồng có thể tự do lập hôn ước tuỳ ý muốn, miễn không trái với trật tự công cộng và thuần phong mỹ tục” [62, Điều 144, 145]. Điều 45 Luật Gia đình; Điều 49 Sắc luật số 15/64 cũng quy định tương tự. Về chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì Luật Gia đình năm 1959 đã dự liệu chế độ cộng đồng toàn sản, còn Sắc luật số 15/64 và Bộ luật Dân sự năm 1972 dự liệu chế độ cộng đồng động sản và tạo sản với những thành phần tài sản, phạm vi quản lý, định đoạt tài sản và việc phân chia tài sản chung của vợ chồng có những nội dung khác nhau. Cả ba văn bản luật này vẫn bảo vệ quyền gia trưởng của người chồng trong gia đình, quan hệ bất bình đẳng về tài sản giữa vợ và chồng vẫn tồn tại trong pháp luật và trong thực tế.
- Giai đoạn từ 1975 đến nay: Luận văn: Chế độ tài sản của vợ chồng theo Luật Hôn nhân.
Cuộc kháng chiến chống Mỹ thắng lợi, cả nước thống nhất, trước thực tế đó đòi hỏi phải có hệ thống pháp luật Xã hội chủ nghĩa thống nhất trên cả hai miền Nam – Bắc, trong đó có pháp luật về Hôn nhân và gia đình. Ngày 25/3/1977, Hội đồng Chính phủ đã ra Nghị quyết số 76/CP, quy định về việc thực hiện pháp luật thống nhất trong phạm vi cả nước, trong đó có Đạo luật số 13 về hôn nhân và gia đình (Luật hôn nhân và gia đình năm 1959).
Quá trình thực hiện và áp dụng Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 đã góp phần xoá bỏ những tàn tích lạc hậu của chế độ Hôn nhân và gia đình phong kiến, thực hiện chế độ Hôn nhân và gia đình xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Tuy nhiên, đến những năm 1980 nền kinh tế xã hội nước ta đã có những thay đổi căn bản, ảnh hưởng sâu sắc tới vấn đề thực hiện và áp dụng pháp luật, trong đó có pháp luật về Hôn nhân và gia đình. Việc áp dụng Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959, một số điều không phù hợp. Việc ban hành Luật Hôn nhân và gia đình mới là một tất yếu khách quan. Trước thực tế đó, năm 1986 Quốc hội khoá VII kỳ họp thứ 12 đã thông qua Luật Hôn nhân và gia đình mới, trong đó có các điều quy định về chế độ tài sản của vợ chồng.
Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 cũng không ghi nhận chế độ tài sản ước định mà chỉ quy định chế độ cộng đồng tài sản pháp định áp dụng cho các cặp vợ chồng. Chế độ cộng đồng tài sản của vợ chồng theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 là chế độ cộng đồng tạo sản, với phạm vi thành phần khối tài sản chung của vợ chồng hẹp hơn rất nhiều so với chế độ cộng đồng toàn sản mà Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 áp dụng. Điều 14 quy định: “Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ hoặc chồng tạo ra, thu nhập về nghề nghiệp và những thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được cho chung” [49].
Bên cạnh khối tài sản chung của vợ chồng, Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 đã ghi nhận vợ, chồng có quyền có tài sản riêng quy định: “Đối với tài sản mà vợ hoặc chồng có trước khi kết hôn, tài sản được thừa kế riêng hoặc được cho riêng trong thời kỳ hôn nhân thì người có tài sản đó có quyền nhập hoặc không nhập vào khối tài sản chung của vợ chồng” [51, Điều 16].
Về quyền và nghĩa vụ của vợ chồng, Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 đảm bảo quyền bình đẳng của vợ chồng đối với tài sản chung, quy định rõ mục đích sử dụng tài sản chung của vợ chồng nhằm đảm bảo những nhu cầu chung của gia đình: “Vợ, chồng có quyền và nghĩa vụ ngang nhau đối với tài sản chung. Việc mua bán, cho, đổi, vay mượn và những giao dịch khác có quan hệ đến tài sản có giá trị lớn thì phải được sự thoả thuận của hai vợ chồng” [51, Điều 15].
Về chia tài sản chung của vợ chồng thì ngoài hai trường hợp như Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959: Chia khi một bên vợ, chồng chết trước (Điều 17) và khi vợ, chồng ly hôn (Điều 42), Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 còn quy định thêm chia tài sản chung của vợ chồng khi hôn nhân đang tồn tại (Điều 18). Đây là quy định mới, xuất phát từ thực tiễn của đời sống xã hội và với mục đích bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ, chồng cũng như của những người có lợi ích liên quan (người thứ ba) đến tài sản chung của vợ chồng. Ngoài ra, trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 còn quy định “nguyên tắc chia đôi tài sản chung” của vợ chồng [51, Điều 17, 18, 42]. Luận văn: Chế độ tài sản của vợ chồng theo Luật Hôn nhân.
Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 đã dự liệu tương đối đầy đủ các quan hệ Hôn nhân và gia đình cần được điều chỉnh, tuy nhiên, sau hơn 10 năm thực hiện, theo sự phát triển của nền kinh tế xã hội, việc áp dụng Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 đã bộc lộ những hạn chế nhất định: các quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 vẫn rất cô đọng, khái quát, mang tính định khung [78, tr.71]. Vì vậy, quá trình thực hiện và áp dụng Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc. Trước thực tế đó, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 đã ra đời với những quy định mới phù hợp với hoàn cảnh của đất nước, trong đó có các quy định về chế độ tài sản của vợ chồng.
Giống với Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 của Nhà nước ta cũng không dự liệu về chế độ tài sản ước định giữa vợ chồng. Chế độ cộng đồng tài sản pháp định mà Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định là chế độ cộng đồng tạo sản, áp dụng cho các cặp vợ chồng. Cũng như Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định về phạm vi thành phần khối tài sản chung, tài sản riêng của vợ, chồng; quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với các loại tài sản đó; các trường hợp chia tài sản chung và hậu quả của việc chia tài sản chung của vợ chồng.
Khác với Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 và năm 1986, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 có quy định về việc đăng ký quyền sở hữu đối với tài sản chung của vợ chồng; các quy định về chế độ tài sản của vợ chồng được cụ thể hơn, khắc phục một số điểm hạn chế khi dự liệu về chế độ tài sản của vợ chồng góp phần điều chỉnh kịp thời những phát sinh trong đời sống hôn nhân và gia đình. Tuy nhiên, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định chưa rõ ràng về chế độ sở hữu của vợ chồng, thiếu cơ chế công khai minh bạch về tài sản chung, tài sản riêng. Sự không minh bạch này gây hậu quả không an toàn cho các giao dịch dân sự liên quan đến người thứ ba. Luật chủ yếu đề cập đến vấn đề đất đai, còn các tài sản khác như chứng khoán, tài sản trong doanh nghiệp thì chưa được đề cập tới, gây khó khăn trong quá trình giải quyết tranh chấp. Bên cạnh đó, Luật Hôn nhân và gia đình hiện hành chỉ quy định một chế độ tài sản của vợ chồng là chế độ tài sản pháp định có một số hạn chế, như: Quy định của luật hiện hành không bảo đảm quyền tự định đoạt của chủ sở hữu tài sản. Về nguyên tắc, mỗi cá nhân có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản thuộc quyền sở hữu và theo ý chí của mình, miễn sao không xâm phạm lợi ích của người khác, không trái với đạo đức xã hội; Việc chỉ áp dụng một chế độ hôn sản pháp định cho tất cả các trường hợp không đáp ứng được nhu cầu của một số cặp vợ chồng. Thực tế, có những trường hợp mà hai người kết hôn muốn tất cả tài sản mà mỗi bên có trước khi kết hôn cũng như trong thời kỳ hôn nhân đều là tài sản chung; ngược lại, có những trường hợp mà người kết hôn có nhiều tài sản riêng có nguồn gốc từ gia đình mình hoặc vì lý do kinh doanh riêng nên muốn thực hiện một chế độ tách riêng tài sản và thoả thuận với nhau về việc đóng góp cho đời sống chung của gia đình. Xuất phát từ những lý do đó, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 được ban hành đã giải quyết được một số vấn đề bất cập của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 và bổ sung nội dung chế độ tài sản của vợ chồng theo thoả thuận. Luận văn: Chế độ tài sản của vợ chồng theo Luật Hôn nhân.
- Chế độ tài sản của vợ chồng trong pháp luật hôn nhân và gia đình của một số nước trên thế giới
Chế độ tài sản của vợ chồng luôn là nội dung quan trọng trong pháp luật Hôn nhân và gia đình của các nước. Nhiều luật gia trên thế giới cho rằng vấn đề sở hữu tài sản của vợ chồng luôn là một chế định chứa đựng tính phức tạp trên cả phương diện lý luận và thực tiễn. Việc quy định chế độ tài sản của vợ chồng gắn liền với điều kiện của mỗi nước, giữa các nước khác nhau thì chế độ tài sản của vợ chồng được quy định là khác nhau. Tuy nhiên, do ảnh hưởng của xu thế hội nhập về kinh tế, sự hợp tác trong quan hệ chính trị, văn hoá, xã hội; cũng như ảnh hưởng của truyền thống và tư tưởng pháp lý, về cơ bản giữa các nước có các điều kiện kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội tương đồng thì có những quan điểm chung về chế độ tài sản của vợ chồng.
Nhiều nhà làm luật các nước tư sản cho rằng, hôn nhân thực chất là một loại hợp đồng dân sự, hôn nhân chỉ khác với các loại hợp đồng dân sự thông thường khác ở tính chất “long trọng” trong thiết lập và chấm dứt. Bên cạnh đó, nhà làm luật ở một số nước thường đề cao quyền tự do cá nhân, quyền tự định đoạt đối với tài sản của vợ, chồng. Tự do lập hôn ước đã trở thành một nguyên tắc và là giải pháp đầu tiên khi quy định chế độ tài sản của vợ chồng trong pháp luật về Hôn nhân và gia đình, quan niệm này được thể hiện phổ biến là ở các nước phương Tây.
Ở Pháp, theo quy định của Bộ luật Dân sự Pháp: “pháp luật không điều chỉnh quan hệ tài sản giữa vợ và chồng nếu giữa vợ chồng đã có thoả thuận riêng mà vợ chồng cho là phù hợp và không trái với thuần phong mĩ tục hoặc với các quy định sau đây” [45, Điều 1378]. Thực tế, nhà lập pháp của Pháp cũng đã đưa ra một hệ thống các chế độ tài sản của vợ chồng, bao gồm chế độ tài sản pháp định và chế độ tài sản ước định. Dưới ảnh hưởng của nguyên tắc tự do lựa chọn chế độ tài sản của vợ chồng, chế độ tài sản pháp định không áp dụng một cách đương nhiên, nó chỉ là một chế độ tuỳ nghi. Những người kết hôn hoàn toàn có quyền tự do thoả thuận một chế độ tài sản cho riêng mình. Nếu họ không thiết lập những thoả thuận về vấn đề này, chế độ tài sản pháp định sẽ đương nhiên được áp dụng.
Ở Đức, Luật gia đình Đức phân biệt các quy định về tài sản hôn nhân do luật định và các quy định thoả thuận qua hợp đồng hôn nhân (hôn khế). Nguyên tắc tự do quy định qua hợp đồng cũng được áp dụng cho tài sản hôn nhân nên vợ chồng có thể tự thoả thuận các quan hệ về tài sản của họ trong hợp đồng hôn nhân hay thoả thuận áp dụng những quy định luật định nào.
Nếu không có hợp đồng hôn nhân thì quan hệ tài sản trong hôn nhân sẽ tuân theo các quy định của chế độ tài sản cộng đồng gia tăng (Điều 1361 Bộ luật Dân sự). Ở chế độ này, tài sản của vợ hay chồng, kể cả tài sản có được sau khi kết hôn, vẫn là tài sản riêng của người ấy, mỗi người tự quản lý và chịu trách nhiệm về tài sản của mình, và chỉ cần ý kiến đồng thuận của người kia khi muốn chuyển nhượng toàn bộ tài sản của mình hay một đồ vật thuộc về đồ đạc trong nhà. Tài sản gia tăng của vợ chồng chỉ được chia khi cộng đồng gia tăng chấm dứt. Nếu chế độ cộng đồng gia tăng bị chấm dứt vì người vợ hay chồng chết thì sự chia tài sản gia tăng được thực hiện qua việc phần thừa kế của người sống được tăng thêm 1/4. Nếu chế độ cộng đồng gia tăng bị chấm dứt qua ly hôn thì người nào có phần tài sản gia tăng cao hơn, sẽ phải chia đôi phần nhiều hơn với người kia, để cho phần gia tăng tài sản của hai vợ chồng trong thời gian hôn nhân bằng nhau. Tài sản gia tăng là sự chênh lệch về giá trị (tức là phần gia tăng) của tài sản tính từ ngày kết hôn đến ngày đơn xin ly hôn đến Toà án gia đình. Những tài sản mà người vợ hay người chồng nhận được từ cha mẹ hay họ hàng của mỗi người như của hồi môn, thừa kế, quà tặng riêng… trong thời gian hôn nhân không bị coi là phần gia tăng của tài sản khi ly hôn. Luận văn: Chế độ tài sản của vợ chồng theo Luật Hôn nhân.
Qua hợp đồng hôn nhân, vợ chồng có thể thoả thuận không theo chế độ tài sản cộng đồng gia tăng mà chọn chế độ tài sản sở hữu tài sản tách riêng hoặc chế độ tài sản sở hữu tài sản chung.
Ở chế độ tài sản sở hữu tài sản tách riêng (Điều 1414 Bộ luật Dân sự) tài sản của vợ chồng, kể cả tài sản mà vợ chồng có được sau khi kết hôn qua lao động, là tài sản riêng của người ấy. Mỗi người tự quản lý và chịu trách nhiệm về tài sản của mình, có quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt độc lập không cần có ý kiến của người kia. Nếu người vợ hay người chồng lâm vào tình trạng phá sản thì chỉ có tài sản của người này trở thành khối tài sản để thanh toán nợ.
Ở chế độ tài sản sở hữu tài sản chung, tất cả tài sản của hai vợ chồng có từ trước ngày kết hôn và tài sản vợ chồng có được trong thời gian hôn nhân qua lao động, thừa kế… trở thành tài sản chung của hai vợ chồng mà không cần một nghi thức pháp lý nào. Cả hai vợ chồng có quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt như nhau đối với tài sản chung, nhưng nếu người vợ hay người chồng bị phá sản thì toàn bộ tài sản chung sẽ bị đưa vào khối tài sản để thanh toán nợ. Chế độ tài sản sở hữu tài sản chung kết thúc qua ly hôn, hoặc qua cái chết của một người vợ hay chồng hoặc qua đơn xin kết thúc chế độ tài sản. Lúc đó tài sản sẽ chia đôi giữa vợ chồng sau khi thanh toán hết những nghĩa vụ chi trả. Trong trường hợp người vợ hay chồng chết thì tài sản sẽ chia đôi giữa người còn sống và các con sau khi thanh toán hết những nghĩa vụ chi trả [8].
Ở Châu Á, pháp luật Nhật Bản cũng có những quy định tương tự như một số nước phương Tây, chế độ tài sản của vợ chồng do chính họ lựa chọn, pháp luật chỉ quy định một chế độ tài sản cho họ khi vợ chồng không có hoặc không thoả thuận được một chế độ tài sản cho mình. Quan niệm này được thể hiện rõ trong quy định tại Điều 755 và Điều 756 Bộ luật Dân sự Nhật Bản, Điều 1465 Bộ luật Dân sự và Thương mại Thái Lan, Điều 1387 Bộ luật Dân sự Cộng hoà Pháp (Luật số 65-570 ngày 13/7/1965). Bộ luật Dân sự Nhật Bản quy định: “Nếu vợ hoặc chồng trước khi đăng ký kết hôn không ký một hợp đồng nào nhằm quy định khác đi tài sản của mình, thì quan hệ tài sản của họ được điều chỉnh bởi các quy định của tiểu mục II (tiểu mục quy định chế độ tài sản pháp định)” [7, Điều 756].
Như vậy, bên cạnh chế độ tài sản ước định, pháp luật Hôn nhân và gia đình của một số nước (Pháp, Đức, Nhật Bản, Thái Lan) đều quy định chế độ tài sản theo quy định của pháp luật. Chế độ tài sản pháp định được quy định ở nhiều hình thức khác nhau, nhưng hình thức phổ biến nhất là chế độ tài sản theo tiêu chuẩn cộng đồng (chế độ tài sản cộng đồng). Bản thân chế độ tài sản cộng đồng cũng có nhiều hình thức khác nhau phụ thuộc vào các yếu tố vận động khách quan của các điều kiện kinh tế – xã hội. Ngoài việc ghi nhận hình thức chế độ tài sản cộng đồng, pháp luật Hôn nhân và gia đình của một số nước còn ghi nhận hình thức chế độ phân sản. Dưới chế độ tư bản chủ nghĩa, quan niệm của các nhà làm luật luôn lấy lợi ích vật chất làm trọng, lợi ích cá nhân được đề cao, sự bền vững của gia đình vì thế được xem xét dựa trên vấn đề đảm bảo lợi ích cá nhân của vợ, chồng.
Khác với quan điểm của các nhà làm luật tư sản, nhà làm luật các nước Xã hội chủ nghĩa không quan niệm hôn nhân là một loại “hợp đồng dân sự” [24], mà thực chất hôn nhân là sự liên kết tình cảm giữa nam và nữ trong quan hệ vợ chồng. Sự liên kết này không phụ thuộc vào tính toán vật chất mà dựa trên cơ sở tình yêu thương, quý trọng, bình đẳng và tự nguyện giữa vợ và chồng. Pháp luật Xã hội chủ nghĩa cũng tôn trọng và phát huy quyền tự do cá nhân, lợi ích riêng của vợ, chồng, nhưng để đảm bảo lợi ích chung của gia đình, của cộng đồng và xã hội, pháp luật quy định rất cụ thể các quyền và nghĩa vụ của vợ chồng. Vợ chồng phải tuân thủ sự quy định của pháp luật, không thể bằng những thoả thuận của mình làm thay đổi các quyền và nghĩa vụ pháp lý đó. Luận văn: Chế độ tài sản của vợ chồng theo Luật Hôn nhân.
Xuất phát từ quan niệm trên, nhà làm luật các nước Xã hội chủ nghĩa đã không thừa nhận chế độ tài sản ước định, mà chỉ thừa nhận chế độ tài sản pháp định, như: Việt Nam, Trung Quốc, Cu-ba. Trong đó, hình thức chế độ tài sản pháp định thường được lựa chọn là chế độ tài sản cộng đồng, trong đó chế độ cộng đồng tạo sản được áp dụng phổ biến nhất (ở Việt Nam có thời kỳ áp dụng chế độ cộng đồng toàn sản – Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959).
- Hiện nay, Việt Nam đã ghi nhận chế độ tài sản của vợ chồng theo thoả thuận:
Vợ chồng có quyền lựa chọn áp dụng chế độ tài sản theo luật định hoặc chế độ tài sản theo thoả thuận [60, Điều 28].
Trong trường hợp hai bên kết hôn lựa chọn chế độ tài sản theo thoả thuận thì thoả thuận này phải được lập trước khi kết hôn, bằng hình thức văn bản có công chứng hoặc chứng thực. Chế độ tài sản của vợ chồng theo thoả thuận được xác lập kể từ ngày đăng ký kết hôn [60, Điều 47]. Tiếp đó pháp luật cũng quy định: vợ chồng có quyền sửa đổi, bổ sung nội dung thoả thuận về chế độ tài sản [60, Điều 49].
Chế độ tài sản pháp định được áp dụng trong pháp luật Hôn nhân và gia đình ở các nước Xã hội chủ nghĩa cũng thể hiện tính ưu việt của nó trong việc gắn lợi ích cá nhân của vợ, chồng với lợi ích chung của gia đình, tuy nhiên, do đặc thù của mỗi nước ở mỗi giai đoạn phát triển khác nhau sẽ quy định hình thức chế độ tài sản pháp định là khác nhau. Có nước đã quy định chế độ tài sản pháp định nhưng đồng thời cũng ghi nhận vợ chồng có quyền thoả thuận thay đổi một số nội dung trong chế độ tài sản được pháp luật quy định với điều kiện thoả thuận đó phải có lý do chính đáng và không làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến lợi ích của gia đình. Việc ghi nhận nội dung này thể hiện sự thông thoáng, hạn chế quy định cứng nhắc của pháp luật, đặc biệt tạo điều kiện để vợ, chồng có thể tham gia vào các giao dịch dân sự, kinh tế vì lợi ích chung của gia đình. Luận văn: Chế độ tài sản của vợ chồng theo Luật Hôn nhân.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Thực tiễn chế độ tài sản vợ chồng theo Luật Hôn nhân

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com
