Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Thực trạng quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài ở VN hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Những qui định của pháp luật Việt nam và các Điều ước quốc tế mà Việt nam ký kết điều chỉnh quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
2.1. Quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành điều chỉnh quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài
2.1.1. Giải quyết xung đột pháp luật về điều kiện kết hôn có yếu tố nước ngoài
Điều kiện kết hôn là những đòi hỏi của pháp luật đặt ra khi kết hôn. Khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện đó thì việc kết hôn là hợp pháp, được pháp luật bảo vệ. Do vậy, đây là một trong hai tiêu chí xem xét tính hợp pháp của việc kết hôn.
Do tính đặc thù của quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài nên quan hệ này sẽ được nhiều hệ thống pháp luật các nước khác nhau điều chỉnh. Mà pháp luật mỗi nước có quy định về điều kiện kết hôn khác nhau nên vấn đề đặt ra là phải giải quyết xung đột pháp luật tức là chọn luật áp dụng. Việc điều chỉnh quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài của các nước trên thế giới thường dựa vào nguyên tắc luật quốc tịch; luật nơi cư trú của đương sự hoặc luật nơi thực hiện hành vi (tiến hành kết hôn). Đương sự mang quốc tịch hoặc có nơi cư trú ở nước nào thì sẽ phải tuân theo điều kiện kết hôn của pháp luật nước đó. Ngoài ra, pháp luật một số nước còn quy định các bên đương sự phải tuân theo pháp luật nước nơi tiến hành kết hôn về điều kiện kết hôn và cấm kết hôn. Thông thường các nước theo hệ thống Civil Law quy định dùng dấu hiệu quốc tịch, các nước theo Common law dùng dấu hiệu nơi cư trú của đương sự để xác định luật áp dụng.
Pháp luật Việt Nam hiện hành quy định giải quyết xung đột pháp luật về điều kiện kết hôn có yếu tố nước ngoài tại khoản 1 Điều 103 Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam 2000: Luận văn: Thực trạng quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài ở VN.
“Trong việc kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, mỗi bên phải tuân theo pháp luật của nước mình về điều kiện kết hôn; nếu việc kết hôn được tiến hành tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam thì người nước ngoài còn phải tuân theo các quy định của Luật này về điều kiện kết hôn. Việc kết hôn giữa những người nước ngoài với nhau tại Việt Nam trước cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam phải tuân theo các quy định của Luật này về điều kiện kết hôn”.
- Vấn đề này được quy định cụ thể trong Nghị định số 68/NĐ – CP ngày 10/7/2002 tại Điều 10:
Trong trường hợp kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, mỗi bên phải tuân theo pháp luật nước mình về điều kiện kết hôn, đồng thời người nước ngoài còn phải tuân theo Điều 9, Điều 10 Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam 2000 về điều kiện kết hôn và các trường hợp cấm kết hôn, nếu việc kết hôn được tiến hành trước cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam
Trong trường hợp người nước ngoài kết hôn với nhau tại Việt Nam trước cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam thì mỗi bên phải tuân theo pháp luật nước mình là công dân hoặc theo pháp luật nơi thường trú (đối với người không quốc tịch) về điều kiện kết hôn; ngoài ra, các bên còn phải tuân theo Điều 9, Điều 10 của Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam 2000 về điều kiện kết hôn và các trường hợp cấm kết hôn”.
Theo đó, pháp luật Việt Nam hiện hành giải quyết xung đột pháp luật về điều kiện kết hôn có yếu tố nước ngoài theo các nguyên tắc: Luật quốc tịch, luật nơi cư trú và luật nơi thực hiện hành vi. Công dân Việt Nam và người nước ngoài phải tuân theo pháp luật nước mà họ là công dân về điều kiện kết hôn.
Nếu việc kết hôn giữa công dân Việt Nam và người nước ngoài hoặc giữa người nước ngoài với nhau tiến hành trước cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam thì người nước ngoài phải tuân theo quy định pháp luật Việt Nam về điều kiện kết hôn tức là áp dụng luật nơi thực hiện hành vi. Luận văn: Thực trạng quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài ở VN.
Việc kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài hay giữa người nước ngoài với nhau tại Việt Nam mà người nước ngoài không có quốc tịch hoặc có nhiều quốc tịch thì người không có quốc tịch tuân theo pháp luật nơi cư trú, người nhiều quốc tịch tuân theo pháp luật nước họ là công dân và đang thường trú về điều kiện kết hôn có yếu tố nước ngoài.
Thứ nhất, kết hôn không được tiến hành trước cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam. Trường hợp này xảy ra khi công dân Việt Nam kết hôn với người nước ngoài mà việc kết hôn không được tiến hành trước cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam mà tiến hành trước cơ quan có thẩm quyền nước ngoài thì nguyên tắc giải quyết xung đột pháp luật là luật quốc tịch. Khi đó, công dân Việt Nam phải tuân theo điều kiện kết hôn của pháp luật Việt Nam và người nước ngoài tuân theo pháp luật nước mà họ mang quốc tịch còn người không quốc tịch thì tuân theo điều kiện kết hôn của pháp luật nơi họ cư trú. Thông thường các nước trên thế giới đều quy định các bên kết hôn phải tuân theo điều kiện kết hôn của pháp luật nước mình. Quy định này là hoàn toàn phù hợp xuất phát từ điều kiện kinh tế – xã hội, phong tục tập quán, địa lý, sự phát triển tâm sinh lý của nam và nữ,… của các nước, đảm bảo các quyền và lợi ích của các bên đương sự. Đây là tiêu chí để cơ quan có thẩm quyền xem xét tính hợp pháp của việc kết hôn có yếu tố nước ngoài khi việc kết hôn đó không được tiến hành trước cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam. Việt Nam quy định vấn đề chọn luật áp dụng cũng phù hợp với thực tiễn pháp luật quốc tế.
Thứ hai, kết hôn được tiến hành trước cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài; giữa người nước ngoài với nhau tại Việt Nam. Các bên phải tuân theo pháp luật nước mình về điều kiện kết hôn, ngoài ra đối với người nước ngoài phải tuân theo pháp luật Việt Nam về điều kiện kết hôn theo quy định tại Điều 10 Nghị định 68/NĐ – CP ngày 10/7/2002 như trên đã phân tích.
Cụ thể, điều kiện kết hôn theo quy định của pháp luật Việt Nam trong các trường hợp có yếu tố nước sẽ được áp dụng cụ thể như sau:
- Điều kiện về tuổi kết hôn:
Pháp luật tất cả các nước đều xem tuổi kết hôn là một trong những điều kiện kết hôn quan trọng. Theo các nhà nghiên cứu y học thì nam từ mười sáu tuổi trở lên, nữ từ mười ba tổi trở lên đã có khả năng sinh sản nhưng để đảm bảo sức khoẻ, nòi giống phát triển tốt thì nam phải từ mười tám và nữ từ mười bảy tuổi trở lên. Tuy nhiên, xuất phát từ sự khác nhau về trình độ kinh tế, phong tục tập quán mà pháp luật các nước có quy định không giống nhau về độ tuổi kết hôn. Theo quy định pháp luật Việt Nam trong các trường hợp có yếu tố nước ngoài sẽ được áp dụng cụ thể:
Trường hợp nếu hai bên kết hôn mang quốc tịch Việt Nam nhưng việc kết hôn tiến hành ở nước ngoài thì nam phải từ hai mươi tuổi trở lên, nữ từ mười tám tuổi trở lên. Luận văn: Thực trạng quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài ở VN.
Trường hợp nếu một bên là công dân Việt Nam và một bên là người nước ngoài kết hôn với nhau ở nước ngoài mà việc kết hôn không tiến hành trước cơ quan có thẩm quyền Việt Nam thì nam công dân Việt Nam từ hai mươi tuổi trở lên, nữ công dân Việt Nam từ mười tám tuổi trở lên; nam, nữ người nước ngoài phải tuân theo pháp luật nước mà họ mang quốc tịch về độ tuổi kết hôn.
Trường hợp nếu công dân Việt Nam kết hôn với người nước ngoài hoặc những người nước ngoài kết hôn với nhau trước cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam thì các bên không những phải tuân theo pháp luật của nước mà họ mang quốc tịch mà người nước ngoài còn phải tuân theo pháp luật Việt Nam về độ tuổi kết hôn. Theo quy định pháp luật Việt Nam thì nam phải từ hai mươi tuổi trở lên, nữ từ mười tám tuổi trở lên.
Ví dụ: nam công dân Anh kết hôn với nữ công dân Việt Nam tiến hành trước cơ quan có thẩm quyền Việt Nam thì nam công dân Anh phải tuân theo pháp luật Anh và pháp luật Việt Nam về độ tuổi kết hôn và nữ công dân Việt Nam phải tuân theo pháp luật Việt Nam về tuổi kết hôn. Pháp luật Anh quy định tuổi kết hôn với cả nam và nữ là mười sáu tuổi. Pháp luật Việt Nam quy định nam phải từ hai mươi tuổi trở lên, nữ từ mười tám tuổi trở lên. Như vậy, nam công dân Anh phải từ hai mươi tuổi trở lên mới được kết hôn với nữ công dân Việt Nam từ mười tám tuổi trở lên.
Pháp luật Việt Nam cũng như pháp luật các nước chỉ quy định độ tuổi tối thiểu để kết hôn nhưng không quy định độ tuổi tối đa, đồng thời không quy định sự chênh lệch tuổi giữa nam, nữ trong việc kết hôn là phù hợp vì quan điểm cho rằng hôn nhân bắt nguồn từ tình yêu nên không giới hạn về tuổi tác. Nhưng đây lại là kẽ hở cho kẻ xấu trục lợi để môi giới hôn nhân vì mục đích vật chất, gây ra các tệ nạn xã hội. Tình trạng này xảy ra rất nhiều ở Việt Nam, các nhà nghiên cứu cần tìm ra biện pháp ngăn chặn.
- Điều kiện sự tự nguyện của hai bên nam –nữ:
Đây là điều kiện bắt buộc trong quan hệ kết hôn vì quan hệ này hình thành xuất phát từ tình yêu đôi lứa, một tình cảm thiêng liêng gắn kết hai người nam – nữ với nhau. Sự gắn kết này phải là sự tự nguyện thì mới đảm bảo hôn nhân hạnh phúc, bền vững. Do vậy, không chỉ pháp luật Việt Nam mà các nước trên thế giới đều quy định đây là điều kiện bắt buộc. Khoản 2 Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam 2000 quy định: “Việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định không bên nào được ép buộc, lừa dối bên nào; không ai được cưỡng ép hoặc cản trở”. Sự tự nguyện là hai bên nam và nữ tự mình quyết định việc kết hôn với nhau xuất phát từ tình yêu thương, thể hiện rõ ý chí của bản thân, không chịu sự tác động của bên nào hay của người khác. Sự tự nguyện là yếu tố quan trọng đảm bảo cho hôn nhân tồn tại lâu dài, bền vững. Để đảm bảo cho sự tự nguyện, pháp luật quy định, hai người muốn kết hôn với nhau phải cùng có mặt tại uỷ ban nhân dân nộp tờ khai đăng ký kết hôn, không cho phép cử người đại diện đăng ký kết hôn hoặc vắng mạt tại lễ đăng ký kết hôn.
Pháp luật quy định không được ép buộc, lừa dối, cưỡng ép hoặc cản trở hôn nhân tiến bộ để đảm bảo cho việc kết hôn hoàn toàn tự nguyện. Tuy nhiên trong thực tế, việc kết hôn do cưỡng ép, ép buộc hoặc lừa dối vẫn xảy ra ảnh hưởng đến quyền lợi của công dân cũng như hậu quả xấu cho xã hội. Luận văn: Thực trạng quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài ở VN.
- Điều kiện sức khỏe:
Pháp luật các nước có sự khác nhau về quy định các loại bệnh mà những người mắc các bệnh này không được phép kết hôn với nhau. Nhưng nhìn chung, pháp luật các nước đều quy định những bệnh liên quan đến thần kinh và đường sinh dục không được phép kết hôn.
- Pháp luật Việt Nam cũng có quy định một số bệnh:
Điều 10 Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam 1959 quy định: những người bất lực hoàn toàn về sinh lý , mắc một trong các bệnh hủi, hoa liễu, loạn óc mà chưa chữa khỏi thì không được kết hôn;
Điều 7(b) Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam 1986 quy định: những người đang mắc bệnh tâm thần không có khả năng nhận thức hành vi của mình, đang mắc bệnh hoa liễu không được phép kết hôn.
Khoản 1 Điều 6 Pháp lệnh hôn nhân và gia đình giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài năm 1993 quy định: “Trong việc kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, mỗi bên phải tuân theo pháp luật của nước mình về điều kiện kết hôn và cấm kết hôn. Nếu việc kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài tiến hành trước cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam thì người nước ngoài còn phải tuân theo các quy định tại Điều 5,6 và 7 của Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam, không bị nhiễm HIV và được cơ quan có thẩm quyền của nước mà người đó là công dân xác nhận có đủ điều kiện kết hôn và việc kết hôn đó được nước họ công nhận”.
Khoản 2 Điều 10 Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam 2000 quy định: người mất năng lực hành vi dân sự không được kết hôn. Người mất năng lực hành vi dân sự là người mắc bệnh tâm thần hoặc các bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, Tòa án ra quyết định tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự trên cơ sở kết luận của tổ chức giám định có thẩm quyền. Những người mắc bệnh tâm thần hoặc các bệnh khác mà không thể nhận thức được, không làm chủ hành vi của mình tức là bộ não không điều khiển được mọi hành vi và suy nghĩ. Mà quan hệ kết hôn phải dựa trên cơ sở tự nguyện ý chí của hai bên nam, nữ nên những người mất năng lực hành vi dân sự không thể tham gia quan hệ kết hôn được. Đồng thời xét về khía cạnh y học, những người bị bệnh tâm thần là loại bệnh có tính di truyền nên cần phải cấm để đảm bảo sức khoẻ cho con cái và đảm bảo cho sự phát triển nòi giống tốt. Quy định này là hoàn toàn phù hợp với sự phát triển của xã hội và đảm bảo quyền tự do định đoạt của công dân.
Để thực hiện quy định về điều kiện sức khỏe trên, Nghị định 68/NĐ -CP ngày 10/7/2002 quy định một số giấy tờ trong hồ sơ xin đăng ký kết hôn là Giấy xác nhận của tổ chức y tế có thẩm quyền của Việt Nam hoặc của nước ngoài cấp chưa quá 6 tháng (tính cho đến ngày nhận hồ sơ) xác nhận hiện tại người xin đăng ký kết hôn không mắc bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh tâm thần và các bệnh khác nhưng chưa đến mức không nhận thức, làm chủ được hành.
Tuy nhiên nhiều phụ nữ Việt Nam trẻ, khỏe, xinh đẹp vẫn sẵn sàng hoặc bị lừa kết hôn với người nước ngoài nhiều tuổi, dị tật hoặc bại liệt là không bình thường cần phải kiểm tra, xác minh tình trạng sức khỏe kỹ lưỡng. Vấn đề này được quy định tại khoản 2 Điều 18 Nghị định 68/NĐ – CP đã được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 69/NĐ – CP ngày 21/7/2006: “Việc đăng ký kết hôn cũng sẽ bị từ chối, nếu kết quả thẩm tra, xác minh cho thấy việc kết hôn thông qua môi giới bất hợp pháp, kết hôn giả tạo, không nhằm mục đích xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, bền vững; kết hôn không phù hợp với thuần phong mỹ tục của dân tộc, lợi dụng việc kết hôn để mua bán phụ nữ, xâm phạm tình dục đối với phụ nữ hoặc vì mục đích trục lợi khác”. Với quy định này nhưng làm thế nào để cơ quan chức năng thẩm tra, xác minh chính xác kết hôn nào là giả tạo, là vì mục đích trục lợi. Cần nghiên cứu để các quy định pháp luật được thực hiện có hiệu quả, nên bổ sung chi tiết thủ tục xác định người mất năng lực hành vi dân sự. Luận văn: Thực trạng quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài ở VN.
- Điều kiện về tình trạng hôn nhân
Trong quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài, tình trạng hôn nhân của các bên cũng được xem như một trong các điều kiện kết hôn, pháp luật các nước cũng có quy định về vấn đề này.
Khoản 1 Điều 10 Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam 2000 có quy định “Cấm người đang có vợ hoặc có chồng kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác; hoặc người chưa có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có vợ, có chồng”. Việc cấm như vậy khẳng định chế độ hôn nhân tiến bộ một vợ một chồng là hoàn toàn đúng đắn và phù hợp sự phát triển xã hội. Điều 13 Nghị định 68/NĐ – CP ngày 10/7/2002 cụ thể hóa:
“Một trong những giấy tờ cần thiết cho việc xin đăng ký kết hôn là tờ khai xin đăng ký kết hôn có xác nhận chưa quá 6 tháng (kể từ ngày nhận hồ sơ) của cơ quan có thẩn quyền về việc hiện tại người xin đăng ký kết hôn không có vợ hoặc chồng
Trong trường hợp này, các bên đã có vợ hoặc có chồng nhưng đã ly hôn hoặc đã chết thì phải có bản sao bản án, sao chứng tử của người vợ họăc chồng đã chết”. Việc quy định điều kiện về tình trạng hôn nhân một vợ, một chồng vừa bảo vệ quyền lợi của các bên đương sự đồng thời bảo vệ truyền thống đạo đức và trật tự xã hội.
Điều kiện về quan hệ huyết thống và quan hệ thân thuộc là một trong những điều kiện không chỉ được pháp luật Việt Nam quan tâm mà còn được nhiều nước trên thế giới cũng quan tâm. Việc quy định này để bảo vệ sức khoẻ vợ chồng đồng thời bảo vệ sức khoẻ con cái, duy trì nòi giống tốt và bảo vệ luân thường đạo lý. Quan hệ huyết thống là quan hệ giữa những người cùng dòng máu và quan hệ trong phạm vi ba đời.. Khoản 3 Điều 10 Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam cấm những người cùng huyết thống kết hôn với nhau. Quan hệ giữa những người cùng dòng máu là quan hệ giữa cha mẹ với con; ông bà với cháu nội, cháu ngoại phát sinh do sự kiện sinh đẻ. Những người có họ trong phạm vi ba đời là mối quan hệ giữa người này sinh ra người kia cứ thế về sau. Việc pháp luật Việt Nam cấm những người cùng dòng máu và quan hệ trong phạm vi ba đời kết hôn với nhau là có căn cứ. Đó là dựa trên cơ sở nghiên cứu y học và điều tra thực tế cho thấy, những người có cùng huyết thống lấy nhau thì con cái sinh ra thường bị bệnh tật, sức khoẻ yếu hoặc dị dạng: bệnh câm, điếc, mù màu, bạch tạng,…Tỷ lệ trẻ sơ sinh tử vong cao nếu quan hệ huyết thống của bố mẹ gân nhau. Đồng thời quy định này cũng phù hợp với đạo đức, bảo vệ luân thường đạo lý. Tuy nhiên, mỗi nước có quy định một khác, pháp luật các nước có phạm vi cấm kết hôn khác nhau.
Pháp luật hôn nhân và gia đình còn cấm kết hôn giữa những người có quan hệ thích thuộc tại khoản 4 Điều 10 là quan hệ giữa cha,mẹ nuôi và con nuôi; giữa người đã từng là cha mẹ nuôi với con nuôi; bố chồng với con dâu; mẹ vợ với con rể; bố dượng với con riêng của vợ; mẹ kế với con riêng của chồng. Quy định này nhằm ngăn chặn sự lợi dụng mối quan hệ phụ thuộc để cưỡng ép, ép buộc, cản trở kết hôn vi phạm nguyên tắc xây dựng chế độ hôn nhân tiến bộ.Trong quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài vấn đề kết hôn giữa những người cùng dòng máu và những người có quan hệ thân thuộc cũng được đặt ra. Thực tế, ở Việt Nam (Đà Nẵng) có nhiều trường hợp công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài hoặc đã nhập quốc tịch nước ngoài, sau đó về Việt Nam kết hôn với công dân Việt Nam trong nước nhưng lại có quan hệ huyết thống với nhau. Pháp luật Việt Nam nghiêm cấm các trường hợp này, để xác định rõ quan hệ giữa các bên kết hôn, Nghị định 69/NĐ – CP ngày 21/7/2006 quy định tại Điều 13, khoản 1d trong hồ sơ xin đăng ký kết hôn phải có Lý lịch cá nhân theo mẫu quy định.
- Điều kiện không cùng giới tính Luận văn: Thực trạng quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài ở VN.
Việc pháp luật quy định điều kiện này dựa trên cơ sở các quy luật tự nhiên của con người, xã hội, sinh đẻ là kết quả của quan hệ tình dục giữa các bên nam nữ. Pháp luật Việt Nam cấm kết hôn giữa những người cùng giới vì nó không đảm bảo mục đích của hôn nhân. Xung quanh vấn đề này vẫn có nhiều quan điểm: có quan điểm cho rằng cấm những người cùng giơi tính kết hôn với nhau là vi phạm quyền tự do của công dân vì họ cũng như bao nhiêu người khác đều có nhận thức, lao động làm việc bình thường có thu nhập nên họ có quyền tự định đoạt mọi việc. Pháp luật Việt Nam xuất phát từ quan điểm: mục đích của quan hệ kết hôn là thiết lập quan hệ hôn nhân, xây dựng gia đình hạnh phúc, thực hiện chức năng sinh sản để duy trì nòi giống. Để thực hiện được điều này, khoa học hiện đại nghiên cứu cho thấy chỉ những người khác gíơi tính kết hôn với nhau mới đảm bảo mục đích đó.
Nghiên cứu pháp luật một số nước trên thế giới, tác giả thấy các nước này đều nghiêng về áp dụng nguyên tắc luật nhân thân (lex personalis) của các bên để giải quyết xung đột pháp luật về điều kiện kết hôn có yếu tố nước ngoài. Theo đó, có nước áp dụng nguyên tắc luật quốc tịch (lex patriae), có nước lại áp dụng nguyên tắc luật nơi cư trú (lex domicili).
Pháp luật Đức áp dụng nguyên tắc giải quyết xung đột pháp luật về điều kiện kết hôn phổ biến nhất là nguyên tắc Luật quốc tịch. Điều 13, Bộ dân luật Đức quy định: điều kiện kết hôn của các bên đương sự là do pháp luật nước đương sự mang quốc tịch.
Pháp luật Anh quy định điều kiện kết hôn của các bên đương sự trong quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài do pháp luật của nước nơi đương sự cư trú quyết định. Nếu hai bên đương sự cư trú mỗi người một nơi thì điều kiện kết hôn được xác định theo pháp luật nơi cặp vợ chồng này chung sống. Riêng pháp luật Anh áp dụng nguyên tắc luật nơi cư trú về điều kiện kết hôn.
Khác với pháp luật Đức, Anh, pháp luật của Pháp và Trung Quốc lại quy định nguyên tắc giải quyết xung đột pháp luật về điều kiện kết hôn có yếu tố nước ngoài theo Luật nơi thực hiện hành vi.
Cụ thể, đối với hôn nhân được tiến hành tại Pháp, các đương sự ngoài việc tuân thủ luật của nước mà họ mang quốc tịch, người nước ngoài còn phải tuân theo một số điều kiện do pháp luật Pháp hay nói cách khác là pháp luật nơi thực hiện hành vi quy định: tuổi kết hôn, sự đồng ý của cha mẹ, của người giám hộ nếu người kết hôn chưa đến tuổi thành niên vì độ tuổi kết hôn của Pháp đối với nam là18 tuổi, nữ 16 . Như vậy, pháp luật Pháp áp dụng nguyên tắc luật nơi thực hiện hành vi và luật quốc tịch để giải quyết xung đột pháp luật về điều kiện kết hôn. Luận văn: Thực trạng quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài ở VN.
Pháp luật Trung Quốc điều chỉnh quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài được quy định tại một số văn bản: “Một số quy định về đăng ký kết hôn giữa người Trung Quốc và người nước ngoài” ban hành 17/8/1983; “Một số quy định về thẩm quyền giải quyết các vấn đề kết hôn giữa người Trung Quốc ở nước ngoài của các Đại sứ quán và cơ quan lãnh sự Trung Quốc ở nước ngoài” do Bộ ngoại giao, Toà án nhân dân Tối Cao, Bộ hành chính tư pháp, Bộ Tư pháp, Văn phòng người Trung Quốc ở nước ngoài thuộc Hội đồng nhà nước ban hành ngày 28/11/1983; Công văn về việc giải quyết một số vấn đề có yếu tố nước ngoài trong việc giải quyết đăng ký kết hôn giữa người Trung Quốc hải ngoại ngày 09/12/1983 của Bộ hành chính tư pháp; Những nguyên tắc chung về pháp luật dân sự của nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa ban hành 12/4/1986. Theo các văn bản này, nguyên tắc giải quyết xung đột pháp luật trong quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài ở Trung Quốc là: việc kết hôn giữa công dân Trung Quốc với người nước ngoài chịu sự điều chỉnh của luật nước nơi đăng ký kết hôn (lex loci celebrationis). Nguyên tắc này, không phân biệt giữa điều kiện kết hôn và nghi thức kết hôn nên theo các nhà nghiên cứu Trung Quốc nguyên tắc này áp dụng cho cả hai.
Điều 147, những nguyên tắc chung về pháp luật dân sự của nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa quy định việc kết hôn giữa công dân Trung Quốc và người nước ngoài; giữa người nước ngoài thuộc các quốc tịch khác nhau được đăng ký tại Trung Quốc thì áp dụng luật Trung Quốc. Do vậy, những người nước ngoài đăng ký kết hôn tại Trung Quốc phải tuân theo pháp luật Trung Quốc cả về điều kiện kết hôn và nghi thức kết hôn. Kể cả trường hợp người nước ngoài đủ điều kiện kết hôn theo pháp luật nước mà họ là công dân nhưng theo pháp luật Trung Quốc chưa đủ điều kiện kết hôn cũng không được đăng ký kết hôn.
Việc kết hôn giữa công dân Trung Quốc và người nước ngoài; giữa người nước ngoài với nhau ở nước ngoài thực hiện theo luật nước ngoài về đăng ký kết hôn, và sẽ được công nhận tại Trung Quốc [Thực tiễn hôn nhân có yếu tố nước ngoài tại Trung Quốc – Chen Weizuo, GV ĐH Luật Thanh Hoa].
So với pháp luật Việt Nam, pháp luật Trung Quốc có điểm khác biệt chỉ áp dụng duy nhất hệ thuộc luật nơi thực hiện hành vi.
Tại Việt nam có khá nhiều công dân Pháp công tác, học tập, nghiên cứu và cũng có rất nhiều người đã kết hôn tại Việt Nam. Theo quy định pháp luật Pháp thì khi công dân Pháp kết hôn ở nước ngoài, thì bên cạnh việc phải tuân thủ quy định của pháp luật nơi tiến hành kết hôn, công dân Pháp phải thông báo việc kết hôn này về nước cho cơ quan có thẩm quyền.
Pháp luật Pháp cũng có quy định không phân biệt việc áp dụng pháp luật về điều kiện kết hôn và về nghi thức kết hôn. Chúng ta có thể hiểu nguyên tắc giải quyết xung đột pháp luật của pháp luật Pháp là dùng hệ thuộc luật nơi tiến hành kết hôn về điều kiện kết hôn và nghi thức kết hôn điều chỉnh quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài.
2.2. Giải quyết xung đột pháp luật về hình thức kết hôn có yếu tố nước ngoài: Luận văn: Thực trạng quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài ở VN.
Hình thức kết hôn hay còn gọi nghi thức thức kết hôn là trình tự tiến hành chính thức công nhận một cách hợp pháp quan hệ vợ chồng. Khi các bên nam, nữ muốn kết hôn, bên cạnh việc có đủ điều kiện kết hôn theo quy định pháp luật thì còn phải tiến hành kết hôn theo quy định pháp luật. Pháp luật của các nước khác nhau có quy định khác nhau về nghi thức kết hôn nhưng nhìn chung có ba loại hình thức kết hôn: kết hôn theo nghi thức dân sự, kết hôn theo nghi thức tôn giáo, kết hôn kết hợp nghi thức dân sự và nghi thức tôn giáo. Sở dĩ có ba loại nghi thức khác nhau là xuất phát từ sự phát triển kinh tế – văn hoá – xã hội và phong tục tập quán của các nước khác nhau.
Nghi thức kết hôn dân sự là kết hôn đó phải được cơ quan có thẩm quyền của nhà nước công nhận và ghi vào sổ đăng ký kết hôn và cấp giấy chứng nhận kết hôn cho các bên.
Nghi thức kết hôn tôn giáo áp dụng phổ biến ở các nước tôn giáo như đạo thiên chúa giáo và đạo hồi giáo, nghi thức được tiến hành theo quy định của đạo giáo.
Nghi thức kết hôn kết hợp cả nghi thức dân sự và nghi thức tôn giáo là nghi thức kết hôn mà các bên sau khi tiến hành đăng ký kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền của nhà nước theo nghi thức dân sự thì sẽ tiến hành kết hôn trước sự chứng kiến của người có thẩm quyền trong đạo giáo theo quy định của đạo giáo.
Do có sự quy định khác nhau như vậy, nên dẫn đến xung đột pháp luật về nghi thức kết hôn có yếu tố nước ngoài. Để giải quyết xung đột pháp luật về vấn đề này, thường áp dụng nguyên tắc luật nơi tiến hành kết hôn nhằm xác định tính hợp pháp về nghi thức kết hôn có yếu tố nước ngoài. Theo đó, kết hôn được tiến hành ở đâu thì pháp luật nơi đó được áp dụng, bên cạnh đó có kèm theo một số điều kiện bổ sung nhằm xác định tính hợp pháp của nghi thức kết hôn.
Theo pháp luật Việt Nam, Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam không có quy định cụ thể về việc chọn luật áp dụng điều chỉnh nghi thức kết hôn có yếu tố nước ngoài nhưng có quy định tại khoản 1 Điều 20 Nghị định 68/NĐ -CP ngày 10/7/2002 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài: “Việc kết hôn giữa công dân Việt Nam với nhau hoặc với người nước ngoài đã được đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài, phù hợp với pháp luật của nước đó thì được công nhận tại Việt Nam, nếu vào thời điểm kết hôn công dân Việt Nam không vi phạm quy định của pháp luật Việt nam về điều kiện kết hôn và các trường hợp cấm kết hôn”. Việc kết hôn có yếu tố nước ngoài được tiến hành phù hợp với pháp luật của nước ngoài thì sẽ được công nhận tại Việt Nam. Sự phù hợp ở đây là phù hợp cả về các điều kiện kết hôn và phù hợp cả về nghi thức kết hôn, có nghĩa chúng ta gián tiếp công nhận việc áp dụng luật nơi tiến hành kết hôn để đảm bảo tính hợp pháp của nghi thức kết hôn. Tuy nhiên, đây chỉ là vấn đề công nhận nghi thức kết hôn ở nước ngoài chứ không phải là quy định về chọn luật áp dụng. Luận văn: Thực trạng quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài ở VN.
Điều 11 Nghị định 68/NĐ – CP ngày 10/7/2002 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài: “Việc đăng ký kết hôn phải được đăng ký và do cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Nhà nước Việt Nam thực hiện theo nghi thức đã được pháp luật quy định, mọi nghi thức kết hôn khác đều không có giá trị pháp lý; các bên nam nữ không đăng ký kết hôn mà chung sống với nhau như vợ chồng thì không được công nhận là vợ chồng”.
Như vậy nghi thức kết hôn theo pháp luật Việt Nam là nghi thức kết hôn dân sự. Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam 2000 quy định tại Điều 14 về nghi thức kết hôn: Việc kết hôn phải được đăng ký trước cơ quan có thẩm quyền; khi đăng ký phải có mặt cả hai bên nam nữ kết hôn, đại diện cơ quan đăng ký kết hôn yêu cầu hai bên cho biết ý muốn tự nguyện kết hôn của họ nếu hai bên đồng ý tự nguyện kết hôn thì đại diện cơ quan đăng ký kết hôn trao Giấy chứng nhận kết hôn cho hai bên kết hôn. Mọi nghi thức kết hôn không theo quy định tại Điều 14 Luật hôn nhân và gia đình Việt nam 2000 sẽ không được pháp luật công nhận là vợ chồng.
Cụ thể Nghị định 68/NĐ – CP ngày 10/7/2002 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài, Nghị định số 69/NĐ – CP ngày 21/7/2006 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 68/NĐ – CP ngày 10/7/2002 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài và Thông tư số 07/TT – BTP ngày 16/12/2002 quy định hướng dẫn một số điều của Nghị định 68/NĐ – CP ngày 10/7/2002 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài quy định cụ thể thủ tục kết hôn có yếu tố nước ngoài chia làm hai trường hợp: Nghi thức kết hôn trước cơ quan có thẩm quyền tại Việt Nam; Nghi thức kết hôn tại cơ quan Ngoại giao, cơ quan lãnh sự của Việt Nam ở nước ngoài và vấn đề công nhận việc kết hôn ở nước ngoài tại Việt Nam.
- Nghi thức kết hôn trước cơ quan có thẩm quyền tại Việt Nam.
Theo quy định nghi thức thức kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài và giữa người nước ngoài với nhau thường trú tại Việt Nam trên lãnh thổ Việt Nam sẽ căn cứ theo pháp luật Việt Nam về nghi thức kết hôn. Như vậy, việc kết hôn có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam chỉ có giá trị pháp lý khi nó được tiến hành trước cơ quan có thẩm quyền theo nghi thức dân sự. Theo quy định của pháp luật Việt Nam, việc kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài được đăng ký tại UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Đây là cơ quan chuyên môn có trình độ cao với đội ngũ cán bộ có chuyên môn nghiệp vụ tốt.
Về thủ tục kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài được tiến hành trước cơ quan có thẩm quyền tại Việt Nam: Các bên đương sự phải làm hồ sơ đăng ký kết hôn nộp Sở Tư Pháp nơi thường trú (hoặc tạm trú có thời hạn) của công dân Việt Nam. Hồ sơ gồm: Luận văn: Thực trạng quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài ở VN.
Tờ khai đăng ký kết hôn theo mẫu quy định, có xác nhận chưa quá 06 tháng (trước đây quy định là 03 tháng) tính đến ngày nhận hồ sơ của cơ quan có thẩm quyền về việc hiện tại đương sự là người không có vợ hoặc chồng.
Đối với công dân Việt Nam thường trú ở trong nước thì do cơ quan có thẩm quyền xác nhận theo quy định pháp luật về đăng ký hộ tịch.
Đối với công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài thì do cơ quan có thẩm quyền của nước nơi người đó định cư hoặc do cơ quan đại diện ngoại giao hoặc cơ quan lãnh sự của Việt Nam tại nước đó xác nhận.
Đối với người nước ngoài thường trú ở nước ngoài thì do cơ quan có thẩm quyền của nước nơi người đó có quốc tịch hoặc thường trú xác nhận. Nếu pháp luật nước ngoài không quy định xác nhận vào tờ khai đăng ký kết hôn hoặc không cấp giấy tờ xác nhận về tình trạng hôn nhân thì thay thế bằng văn bản tuyên thệ của người đó là hiện tại họ không có vợ hoặc không có chồng.
Đối với người nước ngoài thường trú tại Việt Nam thì do UBND cấp xã nơi người đó đang thường trú xác nhận.
Giấy tờ xác nhận là hiện tại đương sự không mắc bệnh tâm thần hoặc mắc các bệnh khác nhưng chưa đến mức không có khả năng nhận thức, làm chủ hành vi của mình được. Thẩm quyền cấp giấy xác nhận này là do tổ chức y tế chuyên khoa về tâm thần của Việt Nam từ cấp tỉnh trở lên hoặc do tổ chức y tế chuyên khoa về tâm thần của nước ngoài nơi người đó thường trú xác nhận. Với quy định này đã mở rộng phạm vi điều chỉnh đối với quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài, phù hợp với đường lối, chính sách hội nhập quốc tế, phù hợp với sự phát triển của xã hội. Loại bỏ một số bệnh mà trước đây do hạn chế về y học cũng như nhận thức, pháp luật Việt Nam vẫn quy định cấm kết hôn: bệnh hoa liễu và bệnh SIDA. Tuy nhiên, pháp luật Việt Nam chưa có cơ chế kiểm tra, xác minh giấy xác nhận là hiện tại người tham gia quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài không bị bệnh về thần kinh và đường tình dục. Luận văn: Thực trạng quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài ở VN.
Bản sao giấy chứng minh nhân dân (đối với công dân Việt Nam ở trong nước), hộ chiếu hoặc giấy tờ có giá trị thay thế (đối với người nước ngoài hoặc công dân Việt Nam ở nước ngoài).
Bản sao sổ hộ khẩu, giấy chứng nhận nhân khẩu tập thể hoặc giấy xác nhận đăng ký tạm trú (đối với công dân Việt Nam ở trong nước), thẻ thường trú, thẻ tạm trú hoặc giấy xác nhận tạm trú (đối với người nước ngoài ở Việt Nam).
- Lý lịch cá nhân theo mẫu
Ngòai các giấy tờ trên, tuỳ từng trường hợp mà pháp luật quy định phải có thêm một số giấy tờ khác:
Trong trường hợp công dân Việt Nam đã có bản án, quyết định ly hôn (giữa người việt Nam với nhau hoặc giữa công dân Việt nam và người nước ngoài) do Toà án hoặc cơ quan có thẩm quyền khác của nước ngoài xét xử, quyết định thì phải làm thủ tục ghi chú vào sổ tại Sở Tư Pháp và nộp giấy xác nhận của Sở Tư Pháp về việc đã ghi chú bản án, quyết định ly hôn đó (nếu ghi chú tại nơi khác). Nếu ly hôn tại toà án Việt nam thì nộp bản sao bản án hoặc trích lục án ly hôn đã có hiệu lực pháp luật. Người nước ngoài kết hôn và ly hôn với nhau ở nước ngoài thì không cần ghi chú việc ly hôn, chỉ cần nộp bản sao bản án, quyết định ly hôn có hiệu lực pháp luật, nếu kết hôn với nhau tại Việt Nam hoặc kết hôn với công dân Việt Nam tại Việt Nam và ly hôn ở nước ngoài thì phải làm thủ tục ghi chú.
- Trường hợp đương sự có vợ hoặc có chồng đã chết thì phải nộp bản sao giấy chứng tử.
Đối với công dân Việt Nam đang phục vụ trong các lực lượng vũ trang hoặc đang làm việc có liên quan trự tiếp đến bí mật quốc gia thì phải nộp giấy xác nhận của cơ quan tổ chức đó kết hôn với người nước ngoài không ảnh hưởng đến bí mật quốc gia hoặc không trái với quy định của ngành đó.
Theo hướng dẫn của Nghị định 68/NĐ – CP ngày 10/7/2002, Nghị định số 69/NĐ – CP ngày 21/7/2006 và Thông tư số 07/TT – BTP ngày 16/12/2002 trên, các giấy tờ do cơ quan, tổ chức nước ngoài cấp, công chứng, chứng thực ở nước ngoài để sử dụng cho việc kết hôn có yếu tố nước ngoài tại cơ quan có thẩm quyền của Việt nam phải được hợp pháp hoá lãnh sự. Hợp pháp hoá lãnh sự là việc chứng thực chữ ký, con dấu trên các giấy tờ của nước ngoài để sử dụng tại Việt nam. Việc chứng thực này do Cục lãnh sự (Bộ ngoại giao), Sở ngoại vụ thành phố Hồ Chí Minh, cơ quan đại diện ngoại, cơ quan lãnh sự hoặc cơ quan khác của Việt nam được uỷ nhiệm thực hiện chức năng lãnh sự ở nước ngoài tiến hành thủ tục hợp pháp hoá lãnh sự.
Các giấy tờ sau khi được hợp pháp hoá lãnh sự phải được dịch ra tiếng việt. Bản dịch phải được công chứng theo quy định của pháp luật Việt nam, giấy tờ do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền của các nước láng giềng cấp cho công dân của họ thường trú tại khu vực biên giới với Việt Nam để sử dụng cho việc kết hôn với công dân Việt Nam thường trú ở khu vực biên giới với nước đó thì chỉ cần dịch ra tiếng việt và có cam kết bằng văn bản của người dịch về việc dịch đúng nội dung của thứ tiếng đó, không cần công chứng bản dịch hay giấy tờ của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền của các nước đã ký kết với Việt Nam Điều ước quốc tế trong đó có quy định về việc miễn hợp pháp hoá lãnh sự đối với giấy tờ, tài liệu của nhau; giấy tờ do cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự của nước ngoài tại Việt Nam cấp cho công dân nước đó để sử dụng tại Việt Nam trên nguyên tắc có đi có lại theo Điều 14 Nghị định 68/NĐ – CP ngày 10/7/2002 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài. Về nguyên tắc, cả hai bên đương sự phải có mặt khi nộp hồ sơ xin kết hôn nhưng trong trường hợp một bên do ốm đau bệnh tật, bận công tác hoặc có lý do chính đáng khác thì có thể uỷ quyền cho người kia nộp thay hồ sơ. Quy định này đã giải quyết vướng mắc trong giải quyết thực tế, giúp quy định pháp luật đi vào đời sống. Luận văn: Thực trạng quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài ở VN.
Theo đường lối, chính sách cải cách thủ tục hành chính đồng thời đáp ứng nhu cầu đăng ký kết hôn ngày càng tăng giữa công dân Việt Nam và người nước ngoài, Điều 15 Nghị định 68/NĐ – CP ngày 10/7/2002 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài đã quy định rút ngắn thời hạn đăng ký kết hôn tại UBND cấp tỉnh không quá 30 ngày kể từ ngày Sở Tư Pháp cấp tỉnh nhận hồ đủ hồ sơ hợp lệ. Trường hợp nào cần xác minh thì có thể kéo dài nhưng không quá 20 ngày nữa. Khi nhận đủ hồ sơ hợp lệ và lệ phí, trong thời hạn 20 ngày, Sở Tư Pháp có trách nhiệm: thực hiện phỏng vấn trực tiếp hai bên đương sự tại trụ sở Sở Tư Pháp để kiểm tra, làm rõ sự tự nguyện của họ, khả năng giao tiếp bằng ngôn ngữ chung và mức độ hiểu biết hoàn cảnh của nhau; niêm yết việc kết hôn tại UBND cấp tỉnh và UBND cấp xã; nghiên cứu thẩm tra hồ sơ đăng ký kết hôn; Báo cáo kết quả thẩm tra và đề xuất ý kiến giải quyết việc đăng ký kết hôn, trình UBND cấp tỉnh quyết định. Nếu thấy vấn đề cần xác minh thuộc chức năng của cơ quan công an, Sở tư Pháp phải có Công văn yêu cầu và đề nghị trả lời bằng văn bản trong 20 ngày. Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận văn bản trình của Sở Tư Pháp,
Chủ tịch UBND cấp tỉnh ký giấy chứng nhận kết hôn nếu xét đủ điều kiện kết hôn, nếu không thuộc một trong các trường hợp từ chối đăng ký kết hôn. Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày Chủ tịch UBND cấp tỉnh ký giấy đăng ký kết hôn thì phải tổ chức lễ đăng ký kết hôn, lễ này có thể hoãn tối đa trong vòng 90 ngày nếu đương sự có lý do chính đáng. Sau thời hạn này mà đương sự vẫn không tổ chức lễ đăng ký kết hôn (vì vắng mặt một hoặc hai bên) thì huỷ việc kết hôn, đương sự sẽ không được hoàn trả lệ phí đã nộp. Sau này họ muốn kết hôn thì phải làm lại thủ tục từ đầu.
Tuy nhiên, việc đăng ký tại UBND cấp tỉnh sẽ gây khó khăn về điều kiện đi lại xa, phương tiện đi khó khăn, thủ tục rườm rà gây không ít khó khăn cho công dân Việt Nam, nhất là công dân Việt Nam cư trú ở biên giới. Chính vì thế, lần đầu tiên Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam 2000 quy định tại khoản 1 Điều 102, Điều 69 Nghị định 68/NĐ – CP ngày 10/7/2002 quy định chi tiết thực thi một số điều của Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài: “Uỷ bân nhân dân cấp xã nơi thường trú của công dân Việt Nam ở khu vực biên giới thực hiện đăng ký kết hôn giữa công dân Việt Nam thường trú ở khu vực biên giới với công dân của nước láng giềng thường trú ở khu vực biên giới với Việt Nam theo quy định này và các quy định khác của pháp luật Việt Nam về đăng ký kết hôn”. Cụ thể việc đăng ký kết hôn này theo nghi thức quy định tại khoản 6 điều 69 Nghị định 68/NĐ – CP được đăng ký tại UBND cấp xã. UBND cấp xã quyết định việc đăng ký kết hôn và tổ chức hôn lễ như đối với trường hợp kết hôn giữa công dân Việt Nam với nhau trong nước. Nếu hai công dân Việt nam xin đăng ký kết hôn thì phải có mặt tại UBND cấp xã nộp tờ khai đăng ký kết hôn và xuất trình những giấy tờ sau: Giấy khai sinh của mỗi bên; Sổ hộ khẩu gia đình. Sau khi nhận đủ hồ sơ hợp lệ, UBND cấp xã tiến hành xác minh, xem xét và niêm yết công khai tại trụ sở UBND trong thời hạn 07 ngày ( trường hợp cần thiết có thể kéo dài thời hạn tối đa không quá 07 ngày). Nếu hai bên đáp ứng đầy đủ theo quy định pháp luật, không có khiếu nại về việc kết hôn thì UBND cấp xã thông báo cho hai bên biết ngày đăng ký kết hôn, Chủ tịch UBND cấp xã sẽ ký và trao cho mỗi bên giấy chứng nhận kết hôn. Luận văn: Thực trạng quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài ở VN.
- Ngoài các giấy tờ trên, đương sự còn phải xuất trình:
Đối với công dân Việt Nam là giấy chứng minh nhân dân biên giới nếu không có thì giấy chứng minh thường trú ở khu vực biên giới cùng giấy tuỳ thân khác.
Đối với công dân nước láng giềng: giấy tuỳ thân do cơ quan có thẩm quyền của họ cấp cho người đó khi thường trú ở khu vực biên giới với Việt Nam. Cũng như công dân Việt Nam nếu họ không có giấy tờ đó thì phải xuất trình giấy tờ chứng minh việc thường trú ở khu vực biên giới với Việt Nam kèm giấy tờ tuỳ thân khác.
Ngoài ra, tuỳ từng trường hợp mà đương sự có thể phải xuất trình bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật về việc ly hôn hoặc giấy chứng tử của vợ hoặc chồng.
Thông tư số 07/TT – BTP ngày 16/12/2002 hướng dẫn chi tiết một số điều của Nghị định 68/NĐ – CP ngày 10/7/2002 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài, các giấy tờ của công dân nước láng giềng thường trú ở khu vực biên giới với Việt Nam liên quan đến việc kết hôn giữa công dân Việt Nam thường trú ở khu vực biên giới với công dân của nước láng giềng thường trú ở khu vực biên giới với Việt Nam được miễn hợp pháp hoá lãnh sự nhưng vẫn phải dịch ra tiếng việt và có cam kết của người dịch về việc dịch đúng nội dung không cần công chứng.
Lệ phí đăng ký kết hôn được quy định các mức khác nhau đối với đăng ký kết hôn ở UBND cấp tỉnh và đăng ký kết hôn ở UBND cấp xã. Việc quy định này xuất phát từ mức sống, thu nhập của các công dân trong từng khu vực.
Những trường hợp từ chối đăng ký kết hôn cũng được quy định cụ thể trong Nghị định số 68/NĐ – CP đã được trình bày ở trên.
- Nghi thức kết hôn có yếu tố nước ngoài tiến hành tại cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự Việt Nam ở nước ngoài. Luận văn: Thực trạng quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài ở VN.
Theo quy định tại khoản 2 Điều 102 Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam 2000: “Cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự của Việt Nam ở nước ngoài thực hiện việc đăng ký kết hôn có yếu tố nước ngoài theo quy định của luật này”. Để cụ thể thủ tục, trình tự đăng ký kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam ở nước ngoài, Điều 19 Nghị định số 69/NĐ – CP ngày 21/7/2006 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 68/NĐ – CP ngày 10/7/2002 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài như sau:
Trong thời hạn 20 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ và lệ phí, cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự của Việt Nam ở nước ngoài phải thực hiện các việc: thực hiện phỏng vấn trực tiếp hai bên đương sự tại trụ sở cơ quan ngoại giao để kiểm tra, làm rõ sự tự nguyện của họ, khả năng giao tiếp bằng ngôn ngữ chung và mức độ hiểu biết hoàn cảnh của nhau; niêm yết việc kết hôn tại cơ quan ngoại giao; nghiên cứu, thẩm tra hồ sơ đăng ký kết hôn; Nếu thấy vấn đề cần xác minh thuộc chức năng của cơ quan hữu quan trong nước, cơ quan ngoại giao phải có Công văn yêu cầu và đề nghị Bộ ngoại giao phối hợp cùng cơ quan hữu quan chuyên ngành trả lời bằng văn bản trong 20 ngày. Nếu các bên đương sự đáp ứng đủ điều kiện kết hôn khôn thuộc trường hợp từ chối kết hôn, người đứng đầu cơ quan ngoại giao, cơ quan lãnh sự ký giấy chứng nhận kết hôn cho các bên đương sự. Trường hợp từ chối đăng ký kết hôn phải có văn bản thông báo cho các đương sự nêu rõ lý do từ chối.
Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày người đứng đầu cơ quan ngoại giao, cơ quan lãnh sự ký giấy chứng nhận kết hôn thì phải tổ chức lễ đăng ký kết hôn có mặt hai bên và ghi vào sổ đăng ký kết hôn.
- Công nhận việc kết hôn được tiến hành trước cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài tại Việt Nam:
Do pháp luật các nước có quy định khác nhau nên đặt ra vấn đề công nhận việc kết hôn có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam. Vấn đề này được quy định cụ thể tại Điều 20 Nghị định 68/NĐ – CP ngày 10/7/2002 quy định chi tiết thực thi một số điều của Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài được sửa đổi bổ sung bởi Nghị định số 69/NĐ – CP ngày 21/7/2006:
“Việc kết hôn giữa công dân Việt Nam với nhau hoặc với người nước ngoài đã được đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền nước ngoài, phù hợp với pháp luật nước đó thì được công nhận tại Việt Nam, nếu vào thời điểm kết hôn, công dân Việt Nam không vi phạm quy định của pháp luật Việt Nam về điều kiện kết hôn.
Trong trường hợp có sự vi phạm pháp luật Việt Nam về điều kiện kết hôn, nhưng vào thời điểm công nhận việc kết hôn, hậu quả của sự vi phạm đó đã được khắc phục hoặc việc công nhận kết hôn đó là có lợi để bảo vệ quyền lợi của phụ nữ và trẻ em thì việc kết hôn đó cũng được công nhận tại Việt Nam”. Luận văn: Thực trạng quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài ở VN.
Như vậy, quy định này đã mở rộng phạm vi điều chỉnh so với Pháp lệnh 1993 về quan hệ hôn nhân và gia đình giữa công dân Việt Nam và người nước ngoài và Nghị định 184/NĐ – CP ngày 30/11/1994 về đăng ký và quản lý hộ tịch, công nhận cả việc kết hôn giữa công dân Việt Nam với nhau ở nước ngoài, đồng thời bỏ quy định Chủ tịch UBND cấp tỉnh ký quyết định công nhận tại Điều 12 Nghị định 184/NĐ – CP ngày 30/11/1994 về đăng ký kết hôn, nuôi con nuôi, nhận đỡ đầu giữa công dân Việt Nam và người nước ngoài, giảm bớt thủ tục hành chính đảm bảo quyền lợi của các bên đương sự. Trường hợp việc kết hôn đó vi phạm pháp luật Việt Nam về điều kiện kết hôn nhưng đến thời điểm yêu cầu công nhận thì hậu quả của sự vi phạm đã được khắc phục hoặc việc công nhận là có lợi cho phụ nữ và trẻ em là quy định hợp lý, đảm bảo quyền, lợi ích chính đáng của phụ nữ và trẻ em là những người yếu thế trong quan hệ hôn nhân và gia đình. Đây là một quy định hết sức linh hoạt, tránh gây thiệt hại vật chất, tinh thần cho các bên.
- Theo quy định này, pháp luật Việt Nam cũng tuân thủ nghi thức kết hôn theo luật nơi tiến hành kết hôn.
Khác với pháp luật Việt Nam, pháp luật Đức, khoản 3 Điều 13 Tư pháp quốc tế Đức được sửa đổi ngày 15/7/1986 quy định: một cuộc hôn nhân có yếu tố nước ngoài nếu không phù hợp với pháp luật nước nơi tiến hành kết hôn, nhưng phù hợp với pháp luật quốc tịch của đương sự thì cuộc hôn nhân đó vẫn được coi là hợp pháp về mặt nghi thức. Quy định giải quyết xung đột pháp luật về nghi thức kết hôn của Đức khác với quy định pháp luật Việt Nam. Pháp luật Việt Nam chỉ công nhận hôn nhân được tiến hành theo nghi thức mà pháp luật nước nơi tiến hành kết hôn quy định, trừ hôn nhân vi phạm quy định pháp luật Việt Nam về điều kiện kết hôn.
2.1.3. Thẩm quyền giải quyết quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài: Luận văn: Thực trạng quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài ở VN.
Thẩm quyền giải quyết các việc về hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài được quy định tại Điều 102 Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam 2000, Điều 3 Nghị định số 68/NĐ – CP ngày 10/7/2002 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài và một số văn bản liên quan khác. Cụ thể, thẩm quyền giải quyết chia làm hai căn cứ theo thủ tục giải quyết: thẩm quyền giải quyết việc hôn nhân và gia đình theo thủ tục hành chính, thẩm quyền giải quyết các tranh chấp về hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài theo thủ tục tư pháp. Trong đó, quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài thuộc loại quan hệ hành chính nên thẩm quyền giải quyết quan hệ này theo thủ tục hành chính.
Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam 2000 quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 102, Điều 3 Nghị định số 68/NĐ – CP ngày 10/7/2002 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài về thẩm quyền giải quyết việc kết hôn có yếu tố nước ngoài “UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thực hiện việc đăng ký kết hôn có yếu tố nước ngoài theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật Việt Nam”. Như vậy, khi đăng ký kết hôn có yếu tố nước ngoài thực hiện tại Việt nam, thẩm quyền đăng ký đó thuộc UBND cấp tỉnh. Cụ thể, khoản 1 Điều 12 Nghị định số 68/NĐ – CP ngày 10/7/2002: “UBND cấp tỉnh nơi thường trú của công dân Việt Nam thực hiện việc đăng ký kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài. Trong trường hợp công dân Việt Nam không có hoặc chưa có hộ khẩu thường trú nhưng đã đăng ký tạm trú có thời hạn theo quy định của pháp luật về hộ khẩu thì UBND cấp tỉnh nơi tạm trú có thời hạn của công dân Việt Nam thực hiện việc đăng ký kết hôn giữa người đó với người nước ngoài. Trong trường hợp người nước ngoài thường trú tại Việt Nam xin kết hôn với nhau thì UBND cấp tỉnh nơi thường trú của một trong hai bên đương sự thực hiện việc đăng ký kết hôn ”. Giải quyết việc kết hôn giữa công dân Việt Nam và người nước ngoài tại Việt Nam; giữa người nước ngoài thường trú tại Việt sẽ thuộc thẩm quyền của:
- UBND cấp tỉnh nơi thường trú của công dân Việt Nam hoặc nơi thường trú của người nước ngoài tại Việt Nam;
- UBND cấp tỉnh nơi tạm trú có thời hạn của công dân Việt Nam trong trường hợp không có hoặc chưa có hộ khẩu thường trú. Luận văn: Thực trạng quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài ở VN.
Bên cạnh đó, theo quy định tại khoản 2 Điều 102, đối với quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài được thực hiện ở nước ngoài thì cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự của Việt Nam ở nước ngoài có thẩm quyền thực hiện đăng ký kết hôn theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình, các quy định khác có liên quan của pháp luật Việt Nam và các Điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết. Cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự cũng là cơ quan hành chính của Việt Nam có chức năng thực hiện các công tác hộ tịch đối với các công dân Việt Nam cư trú ở nước ngoài. Khoản 3 Điều 3 Nghị định số 68/NĐ – CP quy định “ Cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự của Việt Nam ở nước ngoài thực hiện đăng ký việc kết hôn giữa công dân Việt Nam cư trú ở nước ngoài với người nước ngoài theo quy định của Nghị định này, nếu việc đăng ký đó không trái với pháp luật nước tiếp nhận”. Theo những quy định này, cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự chỉ có thẩm quyền giải quyết việc kết hôn giữa công dân Việt Nam cư trú ở nước ngoài với người nước ngoài trên cơ sở pháp luật Việt Nam. Nếu việc đăng ký kết hôn trái với quy định pháp luật nước tiếp nhận thì sẽ không được công nhận tại Việt Nam. Với quy định thẩm quyền của các cơ quan này, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Việt Nam đang cư trú ở nước ngoài được đảm bảo.
Thẩm quyền giải quyết việc kết hôn có yếu tố nước ngoài ở khu vực biên giới được quy định riêng xuất phát từ tính đặc thù về địa lý, trình độ phát triển kinh tế, phong tục tập quán và các đặc điểm khác. Trong những năm gần đây, quan hệ kết hôn giữa công dân Việt Nam ở khu vực biên giới với công dân nước láng giềng có chung đường biên giới với Việt Nam diễn ra khá phổ biến, phức tạp cần có những quy định phù hợp. Luật hôn nhân và gia đình Việt đã đáp ứng yêu cầu quy định “việc đăng ký kết hôn giữa công dân Việt Nam ở khu vực biên giới với công dân nước láng giềng cùng cư trú ở khu vực biên giới với Việt Nam do Chính Phủ quy định”. Đây là quy định thông thoáng, mở của Luật hôn nhân và gia đình 2000, theo đó các thủ tục hành chính liên quan đến quan hệ kết hôn sẽ được quy định trong văn bản của Chính Phủ. Cụ thể được quy định trong Nghị định số 68/NĐ – CP tại điều 66: “UBND cấp xã, nơi thường trú của công dân Việt Nam ở khu vực biên giới với công dân nước láng giềng cùng thường trú tại khu vực biên giới theo quy định tại Nghị định này và các quy định khác của pháp luật Việt nam”. Như vậy, thẩm quyền giải quyết việc đăng ký kết hôn ở khu vực biên giới do UBND cấp xã giải quyết bao gồm các xã, phường thị trấn, có địa giới hành chính tiếp giáp với đường biên giới quốc gia trên đất liền của Việt Nam theo quy định tại khoản 1 Điều 2 Nghị định số 34/NĐ – CP ngày 18/8/2000 về quy chế khu vực biên giới đất liền của Cộng hoà xã hội chủ nghiã Việt Nam. Công dân nước láng giềng cùng cư trú ở khu vực biên giới với Việt Nam là công dân nước Lào, Campuchia, Trung Quốc, trong đó, công dân Việt Nam kết hôn với công dân Trung Quốc nhiều nhất.
2.2. Quy định của Điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết điều chỉnh quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài: Luận văn: Thực trạng quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài ở VN.
Trong xu thế hội nhập khu vực và toàn cầu hóa trong mọi lĩnh vực là một xu thế tất yếu của nhân loại đã thúc đẩy phát triển quan hệ giưã các quốc gia trong mọi lĩnh vực. Nhận thức được điều đó, Đảng và Nhà nước ta đã khẳng định đường lối, chính sách trong các lĩnh vực để chuẩn bị các điều kiện cần thiết hội nhập khu vực và thế giới. Một trong các lĩnh vực đó là pháp luật, đây là điều kiện cần thiết và quan trọng khi chúng ta gia nhập khu vực và thế giới. Pháp luật tạo cơ sở hành lang pháp lý để hợp tác, phát triển các ngành, lĩnh vực, phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Trong đó, pháp luật về các vấn đề dân sự là một trong vấn đề quan trọng được Nhà nước ta quan tâm, đàm phán, ký kết rất nhiều Điều ước quốc tế với các nước trong khu vực và thế giới bao gồm: hôn nhân và gia đình, lao động, kinh tế, thừa kế, các vấn đề liên quan đến hợp đồng, tài sản,….Về vấn đề dân sự, Việt Nam đã ký kết các Hiệp định tương trợ tư pháp với các nước trên thế giới để giải quyết xung đột pháp luật giữa các nước này. Việt Nam mới chỉ ký kết HĐTTTP với một số nước có chế độ chính trị khác nhau nên pháp luật điều chỉnh quan hệ dân sự cũng khác nhau dẫn đến xung đột pháp luật nên cần phải chọn luật áp dụng. Để giải quyết vấn đề này các nước đã ký kết HĐTTTP bao gồm các quy phạm xung đột thống nhất để chọn luật áp dụng. Riêng trong quan hệ kết hôn giữa công dân các nước ký kết HĐTTTP, các Hiệp định (trừ Hiệp định tương trợ tư pháp với Trung Quốc, Cộng hoà Pháp và Hàn Quốc) đều quy định việc áp dụng pháp luật để giải quyết điều kiện kết hôn, hình thức kết hôn. Cụ thể, để giải quyết xung đột pháp luật trong quan hệ kết hôn, các HĐTTTP chủ yếu dùng hệ thuộc luật quốc tịch, luật nơi cư trú và luật nơi thực hện hành vi của đương sự.
2.2.1. Giải quyết xung đột pháp luật về điều kiện kết hôn có yếu tố nước ngoài:
Mỗi một nước có hệ thống pháp luật riêng được xây dựng trên các căn cứ khác nhau, nhất là mỗi nước có một chế độ chính trị khác nhau nên các quy định pháp luật cũng khác nhau. Khi phát sinh một vấn đề chung rất khó giải quyết, do vậy, các nước đã ký kết các Điều ước quốc tế để giải quyết các quan hệ pháp luật phát sinh giữa các nước tham gia hoặc ký kết Điều ước quốc tế. Như trong vấn đề quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài, Việt Nam đã ký kết các Hiệp định tương trợ tư pháp với một số nước trên thế giới. Các Hiệp định tương trợ tư pháp này bao gồm các quy phạm pháp luật xung đột chỉ ra pháp luật nước nào được áp dụng để điều chỉnh quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài hay nói cách khác, đưa ra nguyên tắc áp dụng áp luật.
Cụ thể, các Hiệp định tương trợ tư pháp mà Việt Nam ký kết đều quy định nguyên tắc luật quốc tịch để điều chỉnh điều kiện kết hôn có yếu tố nước ngoài. Các Hiệp định quy định: “Việc kết hôn giữa công dân nước ký kết này với công dân nước ký kết kia phải tuân theo những điều kiện kết hôn do pháp luật của nước ký kết mà họ là công dân quy định”. Quy định này vừa đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của công dân các nước ký kết Hiệp định đồng thời tránh tình trạng trốn tránh pháp luật, vi phạm điều cấm của pháp luật nước họ là công dân. Luận văn: Thực trạng quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài ở VN.
Ví dụ: Nam công dân Trung Quốc 20 tuổi du học tại Pháp kết hôn với nữ công dân Pháp 17 tuổi tại Pháp. Theo quy định pháp luật Pháp, hôn nhân này là hợp pháp nhưng theo pháp luật Trung Quốc nam công dân phải từ 22 tuổi và nữ công dân phải từ 20 tuổi trở lên mới đủ tuổi kết hôn nên quan hệ kết hôn này đã vi phạm điều kiện kết hôn của pháp luật Trung Quôc, hôn nhân này sẽ không được công nhận tại Trung Quốc.
Công ước La Haye 1902 điều chỉnh quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài giữa một số nước trên thế giới: áo, Italia, Rumani,…. cũng áp dụng nguyên tắc phổ biến này điều chỉnh quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài để giải quyết xung đột pháp luật về điều kiện kết hôn. Trong đó quy định rõ: Điều kiện kết hôn sẽ do pháp luật của đương sự quyết định. Tuy nhiên, để bảo lưu trật tự công cộng, Công ước quy định: nếu luật quốc tịch của đương sự có quy định những điều kiện nào trái với trật tự công cộng của nước sở tại thì nước sở tại có quyền không chấp nhận điều kiện đó. Công ước chỉ quy định nguyên tắc duy nhất giải quyết xung đột pháp luật là nguyên tắc luật quốc tịch. Vậy, đối với trường hợp kết hôn giữa người có một quốc tịch với người không có quốc tịch, với người nhiều quốc tịch hoặc kết hôn giữa những người không quốc tịch hoặc nhiều quốc tịch với nhau thì giải quyết như thế nào.
Theo các Hiệp định song phương, việc kết hôn với người không quốc tịch hoặc nhiều quốc tịch thì đa số đều áp dụng luật nơi cư trú, luật của nước mà họ có quốc tịch và có quan hệ gắn bó nhất để giải quyết xung đột pháp luật về điều kiện kết hôn.
Ngoài ra, một số Hiệp định tương trợ tư pháp mà Việt Nam ký kết quy định về điều kiện kết hôn còn phải tuân theo nguyên tắc luật nơi thực hiện hành vi. Theo đó, người kết hôn phải tuân theo pháp luật của nước ký kết nơi tiến hành việc kết hôn về những trường hợp ngăn cấm kết hôn. Hôn nhân phải tuân thủ pháp luật nước tiến hành kết hôn về những trường hợp cấm kết hôn: chưa đủ tuổi, mất năng lực hành vi dân sự, …..mới được coi là hôn nhân hợp pháp. Cuộc hôn nhân đó mới được công nhận ở nước họ là công dân nhưng không là nơi tiến hành hôn lễ.
2.2.2. Giải quyết xung đột pháp luật về nghi thức kết hôn có yếu tố nước ngoài:
Tất cả các Hiệp định tương trợ tư pháp giữa Việt Nam và các nước (trừ Hiệp định tương trợ tư pháp với Trung Quốc, Cộng hoà Pháp, Hàn Quốc) đều có quy phạm xung đột thống nhất giải quyết vấn đề chọn luật áp dụng về nghi thức kết hôn giữa công dân của hai nước ký kết Hiệp định. Luận văn: Thực trạng quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài ở VN.
Theo đó, xung đột pháp luật về nghi thức kết hôn có yếu tố nước ngoài được giải quyết dựa trên nguyên tắc luật nơi thực hiện hành vi. Cụ thể, các Hiệp định tương trợ tư pháp đều quy định “Nghi thức kết hôn do pháp luật của nước ký kết tiến hành việc kết hôn quy định”. Điều đó có nghĩa, việc kết hôn được tổ chức ở đâu thì nghi thức kết hôn phải tuân theo pháp luật của nước ký kết tổ chức kết hôn. Việc kết hôn được tiến hành theo đúng pháp luật nơi tiến hành kết hôn là điều kiện bắt buộc để công nhận tính hợp pháp của quan hệ hôn nhân. Một số Hiệp định tương trợ tư pháp quy định cụ thể, chặt chẽ khác về nghi thức kết hôn. Hiệp định tương trợ tư pháp giữa Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt nam và Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Tiệp Khắc quy định rõ tại khoản 4 Điều 18 “việc kết hôn giữa công dân hai nước ký kết với nhau, nhất thiết phải theo hình thức Nhà nước mới có giá trị”, điều này khẳng định nghi thức kết hôn là nghi thức dân sự. Hôn nhân được coi là hợp pháp khi việc đó phải được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Quy định này cũng phù hợp với pháp luật Việt Nam về đăng ký kết hôn có yếu tố nước ngoài. Một số Hiệp định còn quy định hình thức kết hôn trước cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự như HĐTTTP với Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Tiệp Khắc; Cộng hòa Bêlarut. Nghi thức kết hôn trước cơ quan đại diện ngoại giao hoặc cơ quan lãnh sự tuân theo pháp luật của nước ký kết có cơ quan ngoại giao hoặc cơ quan lãnh sự. Quy định này cũng phù hợp với pháp luật Việt Nam điều chỉnh nghi thức kết hôn tại cơ quan ngoại giao, cơ quan lãnh sự của Việt Nam.
Qua phân tích trên cho thấy, Việt Nam đã ký kết một số Hiệp định tương trợ tư pháp để giải quyết xung đột pháp luật về quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài. Và nguyên tắc giải quyết xung đột pháp luật trong các Hiệp định này cũng tương đồng với nguyên tắc giải quyết xung đột về nghi thức kết hôn của Công ước LaHaye 1902. Điều 15 Công ước quy định “Nghi thức kết hôn được công nhận là hợp pháp nếu nó tuân theo luật nơi tiến hành kết hôn”.
Tuy nhiên, thực tế cho thấy nhiều quan hệ kết hôn phát sinh rất đa dạng, không chỉ phát sinh giữa công dân Việt Nam với các nước trên mà còn với nhiều nước khác mà vẫn chưa có quy định điều chỉnh: Trung Quốc, Pháp, Hàn Quốc,….. nên dẫn đến hậu quả xấu. Vậy tại sao, Việt nam chưa ký kết Hiệp định tương trợ tư pháp với các nước này hay gia nhập Công ước La Hay 1902 về quan hệ hôn nhân và gia đình. Luận văn: Thực trạng quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài ở VN.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Hoàn thiện quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài ở VN

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Luận văn: Quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam