Luận văn: Quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam trong thời kỳ hội nhập quốc tế dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

PHẦN MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài:

Hiện nay, xu thế hội nhập quốc tế là tất yếu, cấp thiết đang được các quốc gia trên thế giới quan tâm và Việt Nam chúng ta cũng không nằm ngoài xu thế đó. Nhờ có hội nhập quốc tế nên việc giao lưu văn hóa, kinh tế, xã hội giữa các nước diễn ra rất sôi nổi không chỉ góp phần phát triển kinh tế mà còn góp phần làm các quan hệ xã hội của mỗi nước ngày càng phong phú và đa dạng. Việt Nam chúng ta đã và đang hội nhập quốc tế nên các quan hệ xã hội cũng rất phát triển. Một trong những quan hệ xã hội khá phát triển phải kể đến quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài, nhất là quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài ngày càng được mở rộng. Trong quá trình giao lưu, trao đổi giữa các nền văn hóa, kinh tế, xã hội, thông qua các hình thức làm việc, học tập, nghiên cứu và sinh sống công dân của mỗi nước hòa nhập vào cuộc sống của cộng đồng mình đang sinh sống, hiểu và tiếp nhận phong tục, tập quán của nhau và đã đi đến quan hệ kết hôn.

Cùng với sự phát triển của các quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài, Đảng và Nhà nước ta đã đổi mới chính sách, pháp luật góp phần quan trọng vào quá trình giao lưu dân sự quốc tế điều chỉnh các quan hệ xã hội nói chung và quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài nói riêng. Cụ thể, để điều chỉnh quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài, Nhà nước đã ban hành các văn bản pháp luật: Luật hôn và gia đình 1986; Pháp lệnh hôn nhân và gia đình giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài 1993 và văn bản mới nhất là Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2000 và các văn bản hướng dẫn thi hành: Nghị định số 68/2002/NĐ – CP ngày 10/7/2003 của Chính Phủ qui định chi tiết thi hành một số điều của Luật hôn nhân và gia đình 2000 về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài; Nghị định số 69/NĐ – CP ngày 21/7/2006 của Chính Phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 68/2002/NĐ – CP ngày 10/7/2003 của Chính Phủ qui định chi tiết thi hành một số điều của Luật hôn nhân và gia đình 2000 về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài;….Bên cạnh đó chúng ta còn ký kết rất nhiều Hiệp định tương trợ tư pháp với các nước để điều chỉnh quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài. Mặc dù, trong thời gian vừa qua, các qui định điều chỉnh quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài đã có những đóng góp nhất định nhưng vẫn còn thiếu sót và bộc lộ một số nhược điểm nhất là trong xu thế ngày càng phát triển của quan hệ quốc tế.

Hơn nữa, quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài là một quan hệ khá nhạy cảm liên quan đến chính sách đối ngoại của quốc gia. Theo báo cáo tình hình đăng ký kết hôn có yếu tố nước ngoài ở các Sở Tư Pháp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, nhiều đối tượng đã lợi dụng việc kết hôn với người nước ngoài để môi giới hoặc xác lập quan hệ kết hôn với người nước ngòai không vì mục đích hôn nhân mà vì mục đích kinh tế hoặc một số mục đích khác xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của công dân Việt nam. Thậm chí, nhiều đối tượng đã thiết lập cả đường dây mua bán phụ nữ thông qua việc kết hôn với người nước ngoài, gây rối loạn xã hội. Đây là mối đe dọa nguy hiểm đến sự ổn định an ninh, chính trị của nước ta cũng như đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước.

Chính vì những lý do trên, tác giả muốn nghiên cứu vấn đề kết hôn có yếu tố nước ngoài ở Việt nam trong thời kỳ hội nhập quốc tế để củng cố nhận thức của bản thân cũng như đưa ra những kiến nghị nhằm hoàn thiện các qui định pháp luật về vấn đề này. Từ đó khắc phục tình trạng vi phạm pháp luật về kết hôn có yếu tố nước ngoài.

2. Mục đích nghiên cứu: Luận văn: Quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam.

Quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài là một loại quan hệ khá nhạy cảm và phức tạp nên trong luận văn này, trước hết, tác giả muốn làm sáng tỏ những vấn đề lý luận cơ bản về quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài.

Thứ hai, tác giả muốn nghiên cứu các qui định pháp luật về quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài bao gồm: các qui định của pháp luật Việt nam và Điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết điều chỉnh quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài.

Thứ ba, qua quá trình nghiên cứu, tác giả sẽ đưa ra những kiến nghị, giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật Việt nam về quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài nói riêng và hệ thống pháp luật Việt Nam nói chung.

3. Phạm vi nghiên cứu:

Với tính cấp thiết của đề tài và để đạt được mục đích nghiên cứu, luận văn sẽ đi sâu phân tích các qui định pháp luật Việt nam về quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài và các Điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết điều chỉnh quan hệ kết hôn giữa công dân Việt nam và người nước ngoài tiến hành trên lãnh thổ Việt Nam.

4. Phương pháp nghiên cứu:

  • Phương pháp phân tích, tổng hợp.
  • Phương pháp so sánh.
  • Phương pháp lịch sử.
  • Phương pháp điều tra xã hội học.
  • Phương pháp thống kê.

5. Bố cục luận văn:

Ngoài phần mở đầu, kết luận, và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn sẽ gồm 3 chương:

  • Chương 1: Những vấn đề chung về quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài.
  • Chương 2: Những qui định của pháp luật Việt nam và các Điều ước quốc tế mà Việt nam ký kết điều chỉnh quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài.
  • Chương 3: Thực trạng và những kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật Việt Nam và điều chỉnh quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài.

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUAN HỆ KẾT HÔN CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI

1.1. Khái niệm Quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài

1.1.1. Khái niệm kết hôn

Kết hôn xác lập quan hệ hôn nhân và là cơ sở hình thành gia đình – tế bào xã hội. Trong mỗi chế độ xã hội, gia đình đều thực hiện chức năng cơ bản là duy trì nòi giống, sản sinh ra con người giúp xã hội phát triển nên “Gia đình tốt thì xã hội mới tốt, xã hội tốt thì gia đình càng tốt”[  ]. Luận văn: Quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam.

Hôn nhân là một hiện tượng xã hội đặc biệt, trong đó các bên chủ thể gắn kết với nhau với mục đích tạo dựng một tế bào của xã hội là gia đình. Khác với các quan hệ dân sự bình thường, mục đích của các chủ thể trong quan hệ hôn nhân không nhằm thoả mãn nhu cầu vật chất hay tinh thần trong một thời điểm nhất định mà nhằm xác lập mối quan hệ lâu dài.

Hôn nhân là sự liên kết đặc biệt giữa một người nam và một người nữ, sự liên kết đó phải được Nhà nước thừa nhận dưới một hình thức pháp lý nhất định, đó là đăng ký kết hôn.

Theo qui định khoản 2, Điều 8, Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam 2000, kết hôn là “việc nam và nữ xác lập quan hệ vợ chồng theo qui định của pháp luật về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn”.

  • Như vậy, pháp luật hôn nhân và gia đình Việt Nam qui định việc kết hôn phải đảm bảo hai yếu tố:

Hai bên nam, nữ phải thể hiện ý chí muốn kết hôn với nhau để xác lập quan hệ vợ chồng. Đảm bảo hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, không được cưỡng ép kết hôn hoặc kết hôn giả tạo, lừa dối để kết hôn, cấm tảo hôn. Điều đó có nghĩa kết hôn phải đảm bảo độ tuổi, đảm bảo sự phát triển tâm sinh lý ổn định đồng thời đảm bảo sự tự nguyện đến với nhau của người nam và nữ. Kết hôn để thiết lập quan hệ hôn nhân ổn định lâu dài, xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, hạnh phúc, bền vững không vì mục đích nhằm thoả mãn nhu cầu vật chất và nhu cầu tinh thần trong một thời điểm ngắn. Đảm bảo được yếu tố này thì sẽ đảm bảo cho hôn nhân có giá trị pháp lý và là cơ sở xây dựng hạnh phúc bền vững.

Yếu tố thứ hai, phải được nhà nước thừa nhận: Đây là yếu tố đảm bảo sự tồn tại về mặt pháp lý của quan hệ hôn nhân, là cơ sở đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các bên trong quan hệ hôn nhân. Tại Điều 64 Hiến pháp 1992 (sửa đổi 2001) qui định: “Nhà nước bảo hộ hôn nhân và gia đình”. Nhà nước chỉ bảo hộ quan hệ hôn nhân hợp pháp, đó là quan hệ hôn nhân tuân thủ các qui định pháp luật về hôn nhân và gia đình Việt Nam.

1.1.2. Yếu tố nước ngoài trong quan hệ kết hôn

Quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài thuộc nhóm quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài là một loại quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài đặc biệt. Quan hệ kết hôn có yêú tố nước ngoài cũng được hình thành trên nguyên tắc tự do ý chí, tự nguyện của hai bên nam, nữ thống nhất đến với nhau, đăng ký kết hôn xác lập quan hệ hôn nhân bền vững, tạo nên tính đặc biệt của quan hệ. Theo Điều 758, Bộ luật dân sự năm 2005: “quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài là quan hệ dân sự có ít nhất một trong các bên tham gia là cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài hoặc là các quan hệ dân sự giữa các bên tham gia là công dân, tổ chức Việt Nam nhưng căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài, phát sinh tại nước ngoài hoặc tài sản liên quan đến quan hệ đó ở nước ngoài”. Như vậy, yếu tố nước ngoài được xác định căn cứ vào các tiêu chí sau: Luận văn: Quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam.

  • Thứ nhất, căn cứ vào chủ thể: có ít nhất một trong các bên tham gia quan hệ dân sự là cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài hoặc người

Việt Nam định cư ở nước ngoài. Các cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài (sau đây gọi tắt là người nước ngoài). Theo khoản 2,3 Điều 3 Nghị định số 138/NĐ – CP ngày 15/11/2006 của Chính Phủ quy định chi tiết thi hành các quy định của Bộ Luật dân sự năm 2005 về quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài (gọi tắt là Nghị định số 138/NĐ – CP ngày 15/11/2006): Người nước ngòai là người không có quốc tịch Việt Nam bao gồm: người có quốc tịch nước ngoài, người không quốc tịch; người Việt Nam định cư ở nước ngoài là người có quốc tịch Việt Nam, người gốc Việt Nam đang làm ăn, cư trú, sinh sống lâu dài ở nước ngoài.

  • Thứ hai, căn cứ vào các sự kiện pháp lý để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ theo pháp luật nước ngoài hoặc phát sinh ở nước ngoài.
  • Thứ ba, căn cứ đối tượng của quan hệ đó là tài sản ở nước ngoài. Theo Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam 2000 qui định tại khoản 14,

Điều 8 và khoản 4 Điều 100 , quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài là quan hệ hôn nhân và gia đình (gồm quan hệ kết hôn):

  • Giữa công dân Việt Nam và người nước ngoài, căn cứ vào chủ thể;
  • Giữa công dân Việt Nam với nhau mà căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài hoặc tài sản liên quan đến quan hệ đó ở nước ngoài, căn cứ vào sự kiện pháp lý và tài sản ở nước ngoài.
  • Giữa người nước ngoài với nhau thường trú tại Việt Nam, căn cứ vào nơi cư trú;
  • Giữa công dân Việt Nam với nhau mà một hoặc cả hai bên định cư ở nước ngoài (khoản 4, điều 100), căn cứ vào nơi cư trú. Luận văn: Quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam.

Việc xác định dấu hiệu yếu tố nước ngoài trong quan hệ hôn nhân và gia đình theo Luật hôn nhân và gia đình căn cứ vào chủ thể, sự kiện pháp lý, đối tượng của quan hệ là tài sản, và nơi cư trú của các bên đương sự.

Căn cứ yếu tố chủ thể: cũng giống như quy định của Bộ luật dân sự, các chủ thể tham gia quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài gồm: công dân Việt Nam; người nước ngoài (gồm người có quốc tịch nước ngoài, người không quốc tịch và nhiều quốc tịch); người Việt Nam định cư ở nước ngoài.

Căn cứ sự kiện pháp lý làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quan hệ hôn nhân và gia đình theo pháp luật nước ngoài, tài sản liên quan đến quan hệ đó ở nước ngoài. Trong quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài có các loại sự kiện pháp lý: sự kiện làm phát sinh, sự kiện làm thay đổi, sự kiện chấm dứt quan hệ hôn nhân và gia đình. Tuy nhiên, sự kiện kết hôn chỉ là loại sự kiện làm phát sinh quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài.

Căn cứ nơi cư trú của các bên đương sự, đây là một căn cứ mới quy định trong Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam 2000 để xác định yếu tố nước ngoài trong quan hệ kết hôn. Nơi cư trú của các bên đương sự trong quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài có hai trường hợp:

Trường hợp thứ nhất, công dân Việt Nam cư trú ở nước ngoài theo quy định tại khoản 4 Điều 100 Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam thì các quy định tại chương XI của Luật này cũng được áp dụng đối với quan hệ kết hôn giữa công dân Việt Nam với nhau mà một hoặc cả hai bên định cư ở nước ngoài. Với quy định này, pháp luật được áp dụng theo nguyên tắc luật quốc tịch của các bên đương sự. Việc áp dụng nguyên tắc này là hoàn toàn hợp lý, thể hiện quan điểm của Đảng và Nhà nước ta không có sự phân biệt đối xử giữa công dân Việt Nam ở trong nước và ngoài nước, đồng thời thể hiện chính sách “mở cửa”, “hội nhập” với các nước trong khu vực và thế giới.

Trường hợp thứ hai, người nước ngoài cư trú ở Việt Nam theo quy định tại khoản 14 Điều 8 Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam 2000 cũng là một căn cứ xác định yếu tố nước ngoài của quan hệ kết hôn. Pháp luật áp dụng để điều chỉnh quan hệ kết hôn giữa người nước ngoài thường trú tại Việt Nam là pháp luật Việt Nam, tức là áp dụng nguyên tắc luật nơi cư trú. Việc áp dụng nguyên tắc này là hoàn toàn hợp lý vì người nước ngoài đang cư trú tại Việt Nam, các cơ quan thẩm quyền Việt Nam áp dụng pháp luật Việt Nam sẽ giải quyết vụ việc nhanh chóng, thuận lợi do không phải áp dụng pháp luật nước ngoài.

Từ những phân tích trên có thể rút ra khái niệm quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài là quan hệ kết hôn phát sinh giữa công dân Việt Nam và người nước ngoài hoặc giữa người nước ngoài với nhau thường trú tại Việt Nam hoặc giữa công dân Việt Nam với nhau cư trú tại nước ngoài mà căn cứ để xác lập quan hệ đó phát sinh ở nước ngoài.

Khác với pháp luật Việt Nam, quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài trong pháp luật Trung Quốc có phạm vi điều chỉnh gồm:

  • Kết hôn giữa người Trung Quốc và người nước ngoài được đăng ký tại Trung Quốc;
  • Kết hôn giữa người Trung Quốc và người nước ngoài được đăng ký tại nước ngoài;
  • Kết hôn giữa người nước ngoài với nhau đăng ký tại Trung Quốc;
  • Kết hôn giữa người nước ngoài với nhau đăng ký tại nước ngoài.

Như vậy, pháp luật Trung Quốc quy định kết hôn giữa người nước ngoài với nhau đăng ký ở nước ngoài phù hợp với pháp luật nơi đăng ký kết hôn thì cũng được cộng nhận tại Trung Quốc.

1.1.3. Khái niệm pháp luật điều chỉnh quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài Luận văn: Quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam.

Quan hệ kết hôn là tiền đề hình thành gia đình, gia đình là tế bào của xã hội, xã hội thịnh hay suy phụ thuộc vào các tế bào cấu tạo nên nó. Các tế bào này giúp xã hội phát triển trên tất cả các phương diện chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội,… Chính vì vậy, phải có pháp luật điều chỉnh quan hệ kết hôn.

Pháp luật là công cụ quản lý hữu hiệu của bất cứ Nhà nước nào để thực hiện chức năng của mình. Nội dung pháp luật điều chỉnh quan hệ kết hôn phụ thuộc vào chế độ kinh tế, xã hội, phong tục, tập quán nhất định. Mỗi một xã hội, một chế độ có điều kiện kinh tế, xã hội, phong tục, tập quán khác nhau thì pháp luật điều chỉnh quan hệ kết hôn cũng có nội dung khác nhau. Khác nhau về đối tượng điều chỉnh và phương pháp điều chỉnh, đối tượng điều chỉnh là quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài, đăc biệt bởi yếu tố nước ngoài. Do vậy, quan hệ này không chỉ chịu sự điều chỉnh của các quy phạm quốc gia mà còn chịu sự điều chỉnh của các quy phạm điều ước quốc tế của các bên liên quan. Pháp luật điều chỉnh quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài bao gồm các quy phạm xung đột và quy phạm thực chất, trong đó, qui phạm xung đột là quy phạm cơ bản điều chỉnh quan hệ. Các loại quy phạm này có mối liên hệ mật thiết với nhau, tạo nên sự thống nhất trong việc điều chỉnh quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài. Nếu quan hệ kết hôn không được điều chỉnh bởi qui phạm thực chất thì cơ quan có thẩm quyền sẽ áp dụng qui phạm xung đột để chọn luật áp dụng.

Do vậy, pháp luật điều chỉnh quan hệ kết hôn là tổng thể các nguyên tắc, các quy phạm pháp luật có mối liên hệ nội tại thống nhất với nhau (quy phạm xung đột, quy phạm thực chất) được lựa chọn để điều chỉnh quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài.

1.1.4. Đặc trưng của pháp luật điều chỉnh quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài

  • Đối tượng điều chỉnh Luận văn: Quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam.

Pháp luật điều chỉnh quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài đặc trưng bởi đối tượng điều chỉnh. Đối tượng điều chỉnh bị phức tạp hoá bởi yếu tố nước ngoài, đây cũng là điểm phân biệt với các quan hệ kết hôn thông thường khác. Các nước trên thế giới có nhiều quan điểm khác nhau về “yếu tố nước ngoài” trong quan hệ dân sự nói chung và trong quan hệ kết hôn nói riêng. Để xác định yếu tố nước ngoài trong quan hệ dân sự, các quốc gia thường căn cứ vào ba dấu hiệu: quan hệ đó có ít nhất một bên chủ thể là người nước ngoài; khách thể của quan hệ đó là tài sản hoặc quyền tài sản và quyền nhân thân được thực thi ở nước ngoài; sự kiện pháp lý làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó xảy ra ở nước ngoài.

Theo Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam 2000, yếu tố nước ngoài trong quan hệ kết hôn được hiểu theo khoản 14 Điều 8 và khoản 4 Điều 100 như trên đã phân tích.

  • Phương pháp điều chỉnh

Quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài là một trong những quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài thuộc lĩnh vực điều chỉnh của Tư pháp quốc tế nên cũng có phương pháp điều chỉnh đặc trưng của Tư pháp quốc tế. Đó là hai phương pháp xung đột và thực chất, hai phương pháp này được kết hợp hài hoà, tương hỗ nhau trong việc điều chỉnh quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài.

Phương pháp xung đột là phương pháp điều chỉnh gián tiếp, được sử dụng phổ biến trong việc điều chỉnh quan hệ hôn nhân và gia đình nói chung và quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài nói riêng. Phương pháp này có nhiều ưu việt hơn vì phương pháp xung đột dựa vào các quy tắc được ấn định chỉ ra pháp luật của một nước được áp dụng để điều chỉnh quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài thông qua quy phạm pháp luật xung đột. Quy phạm pháp luật xung đột gồm quy phạm xung đột của quốc gia và quy phạm xung đột trong các Điều ước quốc tế mà quốc gia đó là thành viên. Các quy phạm này không trực tiếp điều chỉnh quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài mà nó chỉ ra pháp luật nước nào sẽ điều chỉnh cụ thể.

Có hai loại quy phạm xung đột: quy phạm xung đột một bên và quy phạm xung đột hai bên. Quy phạm xung đột một bên hay còn gọi một chiều là quy phạm chỉ ra áp dụng pháp luật một nước cụ thể.

Quy phạm xung đột hai bên hay còn gọi là hai chiều là quy phạm định ra nguyên tắc chung để các cơ quan có thẩm quyền áp dụng pháp luật một nước nào đó để điều chỉnh quan hệ tương ứng.

Quy phạm xung đột có cơ cấu khác với các quy phạm thông thường, nó được cấu tạo bởi hai bộ phận: bộ phận phạm vi và bộ phận hệ thuộc. Phần hệ thuộc là bộ phận quan trọng trong quy phạm xung đột, hệ thuộc quy định quy tắc lựa chọn luật áp dụng. Điều chỉnh quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài có các hệ thuộc: Luật quốc tịch; Luật nơi cư tú; luật toà án; luật nơi thực hiện hành vi Luận văn: Quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam.

Quy phạm xung đột điều chỉnh quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài theo pháp luật Việt nam được quy định trong Luật hôn nhân và gia đình; các Hiệp định tương trợ tư pháp và các văn bản khác có liên quan.

Phương pháp thực chất hay còn gọi là phương pháp điều chỉnh trực tiếp là phương pháp điều chỉnh thông qua các quy phạm thực chất để định rõ các quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong quan hệ. Quy phạm thực chất là quy phạm quy định cụ thể các quyền và nghĩa vụ của các chủ thể tham gia quan hệ.

Các quy phạm thực chất được quy định trong các văn bản pháp luật quốc gia hoặc Điều ước quốc tế mà quốc gia đó là thành viên. Việc áp dụng quy phạm thực chất làm đơn giản hoá trong điều chỉnh quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài tạo điều kiện cho các cơ quan có thẩm quyền giải quyết quan hệ nhanh chóng, thuận lợi. Đồng thời loại trừ vấn đề phải lựa chọn luật hoặc áp dụng pháp luật nước ngoài.

1.2. Các nguyên tắc điều chỉnh quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài Luận văn: Quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam.

1.2.1. Các nguyên tắc chung điều chỉnh quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài

Quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài là một trong các quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài nên quan hệ này cũng chịu sự điều chỉnh của các nguyên tắc chung điều chỉnh quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài.

Nguyên tắc điều chỉnh quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài là những nguyên lý, tư tưởng chỉ đạo các qui phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài. Các nguyên tắc này được qui định trong Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam 2000, các văn bản quy phạm pháp luật khác.

Các nguyên tắc chung điều chỉnh quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài, ngoài các nguyên tắc qui định tại Điều 2, Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam còn bao gồm các nguyên tắc:

Nguyên tắc tôn trọng và bảo vệ quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam phù hợp các qui định của pháp luật Việt Nam và Điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia. Nguyên tắc này được qui định tại khoản 1 Điều 100 Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam 2000. Điều đó có nghĩa, các quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam phải tuân theo pháp luật Việt Nam và Điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia về vấn đế liên quan.

Ví dụ: nam công dân Trung Quốc kết hôn với nữ Công dân Việt Nam tại Việt Nam phải tuân theo pháp luật Việt Nam, Hiệp định tương trợ tư pháp giữa Việt Nam và Trung Quốc về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn.

Quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài thực hiện theo qui định pháp luật sẽ được tôn trọng và bảo vệ bằng nhiều biện pháp khác nhau, tuỳ theo mức độ vi phạm. Các chủ thể có quyền sử dụng các biện pháp bảo vệ mà pháp luật cho phép hoặc yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền bảo vệ quyền lợi cho mình, các biện pháp đó phải phù hợp với pháp luật Việt Nam và Điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết. Luận văn: Quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam.

Nguyên tắc bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Việt Nam ở nước ngoài phù hợp với pháp luật Việt nam, pháp luật nước sở tại, pháp luật và tập quán quốc tế. Đồng thời không phân biệt đối xử với người nước ngoài trong quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài ở Việt nam. Nguyên tắc này được qui định tại khoản 2,3 Điều 100 Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam 2000.

Theo nguyên tắc này, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Việt Nam ở nước ngoài phù hợp pháp luật Việt Nam, pháp luật nước sở tại và tập quán quốc tế thì sẽ được bảo hộ. Địa vị pháp lý của công dân Việt Nam cư trú, sinh sống và làm ăn ở nước ngoài do pháp luật nước sở tại qui định, đồng thời vẫn chịu sự điều chỉnh của pháp luật Việt Nam và các Điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia. Do vậy, công dân Việt Nam ở nước ngoài khi tham gia vào các quan hệ kết hôn sẽ được pháp luật Việt Nam bảo hộ. Quy định này là thể hiện chính sách của Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến người Việt Nam định cư ở nước ngoài, bao gồm công dân Việt Nam, người gốc Việt Nam đang thường trú hoặc tạm trú ở nước ngoài, tạo điều kiện thuận lợi, khuyến khích để họ giữ mối quan hệ gắn bó với gia đình và quê hương. Việc bảo hộ này được thực hiện thông qua các cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự của Việt Nam ở nước ngoài được qui định tại khoản 2 Điều 102 Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam 2000.

Bên cạnh việc bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp của người Việt Nam ở nước nước ngoài thì pháp luật Việt Nam cũng bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp của người nước ngoài tại Việt Nam. Người nước ngoài tham gia vào quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài được hưởng qui chế pháp lý đãi ngộ như công dân, người nước ngoài tại Việt Nam được hưởng các quyền và có nghĩa vụ như công dân Việt Nam, trừ trường hợp pháp luật có qui định khác. Theo nguyên tắc này, người nước ngoài sẽ được hưởng các quyền nhân thân và quyền tài sản như công dân Việt Nam. Trừ một số trường hợp, quyền lựa chọn nơi cư trú sẽ bị hạn chế, người nước ngoài không được cư trú ở một số khu vực như khu vực biên giới,…Việc qui định này xuất phát từ tình hình chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội của Việt Nam để bảo vệ nên kinh tế, bảo vệ chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ.

Nguyên tắc áp dụng pháp luật nước ngoài đối với quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài, nếu việc áp dụng đó không trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam. Việc áp dụng pháp luật nước ngoài điều chỉnh quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài được qui định trong các văn bản quy phạm pháp luật trong nước. Điều này là hết sức cần thiết trong trường hợp pháp luật Việt Nam, Điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết chưa có qui định điều chỉnh. Đảm bảo được quyền và lợi ích hợp pháp của các bên đương sự, đồng thời phát triển quan hệ giao lưu dân sự quốc tế. Nguyên tắc này được quy định tại Điều 101 Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam 2000. Theo đó, pháp luật nước ngoài được áp dụng trong các trường hợp sau:

  • Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam 2000, các văn bản pháp luật khác của Việt Nam quy định;
  • Điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia viện dẫn.

Trong tất cả các trường hợp áp dụng pháp luật nước ngoài nêu trên, pháp luật nước ngoài chỉ được áp dụng nếu việc áp dụng hoặc hậu quả của việc áp dụng không trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam. Các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam là những nguyên tắc được quy định trong Hiến pháp 1992 (sửa đổi 2001) và các văn bản pháp luật khác của Việt Nam. Việc không áp dụng trong trường hợp này không phải pháp luật nước ngoài mâu thuẫn với pháp luật Việt Nam mà vì hậu quả của nó sẽ không tốt, không lành mạnh, ảnh hưởng đến nền tảng đạo đức, thuần phong, mỹ tục của dân tộc ta.

Nguyên tắc áp dụng pháp luật về hôn nhân và gia đình Việt Nam đối với quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài. Nguyên tắc này được quy định tại Điều 7 Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam 2000, theo đó, nếu chương XI không có quy định điều chỉnh quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài thì sẽ áp dụng các quy định của Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam. Quy định này hoàn toàn phù hợp với thực tế pháp luật Việt Nam hiện chưa có các quy phạm xung đột để điều chỉnh tất cả các quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài phát sinh. Ngoài ra, Điều 5 Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam cũng quy định áp dụng Bộ luật dân sự điều chỉnh quan hệ hôn nhân và gia đình, có nghĩa Bộ luật dân sự sẽ được áp dụng điều chỉnh quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài nếu như Luật hôn nhân và gia đình không quy định.

1.2.2. Các nguyên tắc chuyên biệt điều chỉnh quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài Luận văn: Quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam.

  • Nguyên tắc điều chỉnh quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài theo pháp luật của nước mà đương sự có quốc tịch hay còn gọi nguyên tắc luật quốc tịch của đương sự (lex patriae).

Đây là nguyên tắc được áp dụng phổ biến trong các quan hệ dân sự quốc tế nói chung và quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài nói riêng. Theo nguyên tắc này, quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài phát sinh giữa công dân nước nào thì áp dụng pháp luật của nước đó để điều chỉnh. Các Hiệp định tương trợ tư pháp; Điều 103 Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam 2000 quy định việc kết hôn giữa công dân Việt Nam và người nước ngoài, mỗi bên phải tuân theo pháp luật nước mình về điều kiện kết hôn.

  • Nguyên tắc điều chỉnh quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài theo luật nơi cư trú của các bên đương sự.

Nguyên tắc này được áp dụng điều chỉnh điều kiện kết hôn của các bên đương sự quy định tại khoản 1 Điều 103 Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam 2000 “Việc kết hôn giữa những người nước ngoài với nhau tại Việt Nam trước cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam phải tuân theo các quy định của Luật này về điều kiện kết hôn”.

Cụ thể, khoản 2 Điều 10 Nghị định 68/NĐ – CP ngày 10/7/2002 của Chính Phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật hôn nhân và gia đình về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài (sau đây viết tắt là Nghị định số 68/NĐ – CP ngày 10/7/2002): “Trong trường hợp người nước ngoài kết hôn với nhau tại Việt Nam trước cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam thì mỗi bên phải tuân theo pháp luật nơi thường trú (đối với người không quốc tịch) về điều kiện kết hôn; ngoài ra, các bên còn phải tuân theo Điều 9 và Điều 10 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 về điều kiện kết hôn và các trường hợp cấm kết hôn”.

Việc pháp luật Việt Nam quy định áp dụng nguyên tắc này là hoàn toàn phù hợp với thực tế quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài. Tham gia quan hệ này, không chỉ có công dân Việt Nam và người có quốc tịch nước ngoài mà còn cả người không quốc tịch. Do đó, nếu áp dụng nguyên tắc luật quốc tịch sẽ không giải quyết được trong trường hợp này mà phải căn cứ vào nơi cư trú. Luận văn: Quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam.

  • Nguyên tắc điều chỉnh quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài theo luật của nước có Toà án, cơ quan có thẩm quyền (lex fori) đối với các vấn đề phát

Nguyên tắc này được áp dụng điều chỉnh vấn đề đăng ký kết hôn của các bên đương sự quy định tại khoản 1,2 Điều 102 Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam 2000. Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thực hiện việc đăng ký kết hôn có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam; Cơ quan đại diện ngoại giao, Cơ quan lãnh sự của Việt Nam ở nước ngoài thực hiện đăng ký kết hôn có yếu tố nước ngoài theo pháp luật Việt Nam, Điều ước quốc tế mà Việt Nam ký nếu việc đăng ký không trái pháp luật nước sở tại.

  • Nguyên tắc điều chỉnh quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài theo luật nơi thực hiện hành vi (lex loci astus)

Nguyên tắc này được hiểu là các hành vi được thực hiện ở nước nào sẽ được điều chỉnh theo pháp luật của nước đó. Nguyên tắc luật nơi thực hiện hành vi được áp dụng để điều chỉnh quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài trong các Hiệp định tương trợ tư pháp. Cụ thể, điều chỉnh Nghi thức kết hôn, các Hiệp định tương trợ quy định áp dụng luật nơi tiến hành kết hôn: Hiệp định giữa Việt Nam và Liên bang Cộng hoà Xô Viết cũ,…

1.3. Nguồn pháp luật điều chỉnh quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài Luận văn: Quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam.

1.3.1. Pháp luật trong nước

Nguồn pháp luật trong nước là hình thức chứa đựng các nguyên tắc, các quy phạm pháp luật của quốc gia nhằm điều chỉnh quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài. Nguồn pháp luật trong nước có rất nhiều hình thức khác nhau, tuỳ theo quy định trong hệ thống pháp luật mỗi nước. Trên thế giới có hai hệ thống pháp luật lớn nhất Common law và Civil law có nguồn pháp luật khác nhau. Common law sử dụng nguồn án lệ chính, bên cạnh đó có cả nguồn thành văn; Civil law sử dụng nguồn pháp luật thành văn. Nguồn pháp luật Việt Nam là hệ thống pháp luật thành văn, pháp luật điều chỉnh quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài được quy định trong các loại văn bản sau:

Hiến pháp, là văn bản pháp luật có giá trị pháp lý cao nhất, quy định các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam nói chung và của quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài nói riêng,trong đó có quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài. Quyền về hôn nhân và gia đình là quyền cơ bản của công dân được ghi nhận trong các Hiến pháp 1946; Hiến pháp 1959; Hiến pháp 1980; Hiếp pháp 1992 (sửa đổi 2001) (Điều 64). Đây là cơ sở để các văn bản pháp luật khác cụ thể hoá, đưa luật vào cuộc sống điều chỉnh các quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài.

  • Bộ luật dân sự

Quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài là một trong các loại quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài nên quan hệ này cũng được điều chỉnh trong Bộ luật dân sự. Bộ luật dân sự năm 2005 là Bộ luật chung điều chỉnh tất cả các quan hệ dân sự theo nghĩa rộng, chứa đựng các nguyên tắc cơ bản điều chỉnh quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam.

  • Luật hôn nhân và gia đình

Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam là luật chuyên điều chỉnh quan hệ hôn nhân và gia đình gồm cả quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài. Hiện nay, Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam 2000 là văn bản mới nhất dành chương XI để quy định về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài, trong đó có quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài.

Điều chỉnh quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài, ngoài ba văn bản chính nêu trên còn có các văn bản pháp luật khác điều chỉnh: Luật quốc tịch Việt Nam 2001; Pháp lệnh lãnh sự 1990; Nghị định số 158/NĐ – CP ngày 27/12/2005 của Chính Phủ điều chỉnh về đăng ký và quản lý hộ tịch (viết tắt Nghị định số 158/NĐ – CP ngày 27/12/2005); Nghị định số 68 /2002/NĐ – CP ngày 10/7/2002; Nghị định số 69/NĐ – CP ngày 21/7/2006 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 68 /2002/NĐ – CP ngày 10/7/2002 (viết tắt là Nghị định số 69/NĐ – CP ngày 21/7/2006); Thông tư số 07/TT – BTP ngày 16/12/2002 về việc hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định 68/NNĐ -CP ngày 10/7/2002 (viết tắt là Thông tư số 07/TT – BTP ngày 16/12/2002);…

1.3.2. Điều ước quốc tế Luận văn: Quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam.

Điều ước quốc tế là một trong các loại nguồn quan trọng nhất điều chỉnh các quan hệ quốc tế giữa các quốc gia, là văn bản thoả thuận giữa các chủ thể của luật quốc tế (chủ yếu là các quốc gia) nhằm điều chỉnh các vấn đề về quyền và nghĩa vụ giữa các chủ thể trong quan hệ quốc tế.

Điều ước quốc tế về hôn nhân và gia đình là Điều ước quốc tế chứa đựng các quy phạm điều chỉnh quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài, trong đó có quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài. Các quốc gia thường ký kết các Điều ước quốc tế song phương điều chỉnh quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài là một loại quan hệ dân sự. Trong đó, các Điều ước quốc tế chỉ ra pháp luật nước nào sẽ được áp dụng để điều chỉnh quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài, có nghĩa là Điều ước quôc tế chỉ có các quy phạm xung đột.

Hiện nay, quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam được điều chỉnh bởi các Hiệp định tương trợ tư pháp. Các Hiệp định tương trợ tư pháp đưa ra nguyên tắc lựa chọn pháp luật áp dụng trong trường hợp có xung đột pháp luật trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình nói chung và quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài nói riêng.

1.3.3. Tập quán quốc tế

Trên thế giới, tập quán quốc tế cũng là một loại nguồn không kém phần quan trọng so với Điều ước quốc tế. Tập quán quốc tế là những tập quán được hình thành lâu đời, có nội dung cụ thể, rõ ràng và được các quốc gia thừa nhận có giá trị ràng buộc và được áp dụng liên tục. Nhờ có tập quán quốc tế, nhiều quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài đã được điều chỉnh khi pháp luật trong nước và Điều ước quốc tế không quy định. Thông thường, các tập quán quốc tế điều chỉnh một cách gián tiếp quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài thông qua việc chọn pháp luật áp dụng.

Ở Việt Nam, nguyên tắc áp dụng tập quán quốc tế không được quy định cụ thể trong Luật hôn nhân và gia đình 2000 nhưng được quy định tại khoản 4 Điều 759 Bộ luật dân sự: “Trong trường hợp quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài không được Bộ luật này, các văn bản pháp luật khác của Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên hoặc hợp đồng dân sự giữa các bên điều chỉnh thì áp dụng tập quán quốc tế , nếu việc áp dụng hoặc hậu quả của việc áp dụng không trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam”. Quy định này cũng được áp dụng để điều chỉnh quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài vì đây cũng là một loại quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài.

1.3.4. Mối quan hệ giữa các loại nguồn pháp luật điều chỉnh quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài: Luận văn: Quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam.

Như trên đã phân tích, có nhiều loại nguồn pháp luật khác nhau điều chỉnh quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài nhưng luôn có mối quan hệ khăng khít, hỗ trợ cho nhau điều chỉnh quan hệ này.

Nguồn pháp luật trong nước là một loại nguồn cơ bản, phổ biến để điều chỉnh quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài. Nguồn pháp luật này do Nhà nước của mỗi nước ban hành để điều chỉnh quan hệ kết hôn trong phạm vi lãnh thổ nước mình. Tuy nhiên, do tính đặc thù của yếu tố nước ngoài nên quy phạm pháp luật trong nước cũng có thể được áp dụng ở nước khác tuỳ theo từng trường hợp cụ thể. Trường hợp này xảy ra khi Toà án của một nước áp dụng pháp luật của nước khác để giải quyết, tức là khi pháp luật nước có Toà án quy định áp dụng pháp luật nước ngoài. Hiện nay, Việt Nam chưa ký kết nhiều Điều ước quốc tế về vấn đề kết hôn có yếu tố nước ngoài nên chúng ta chủ yếu áp dụng pháp luật trong nước. Đồng thời, việc áp dụng này đảm bảo quyền và lợi ích hợp của công dân Việt Nam khi tham gia quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài. Do vậy, loại nguồn này có vai trò rất quan trọng trong việc điều chỉnh quan hệ này.

Nguồn Điều ước quốc tế cũng được coi là một loại nguồn cơ bản điều chỉnh quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài. Các Điều ước quốc tế do các chủ thể Luật quốc tế xây dựng nên, thể hiện ý chí của mình trong việc chấp nhận sự ràng buộc đối với Điều ước quốc tế đó. Do vậy, khi ký kết Điều ước quốc tế, các quốc gia phải tuân thủ nguyên tắc thiện chí thực hiện các cam kết quốc tế hay nói một cách khác là Điều ước quốc tế đó đương nhiên có hiệu lực đối với quốc gia ký kết. Các quy phạm quốc tế này điều chỉnh mọi quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài trong đó có quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài. Đồng thời, trong thực tiễn áp dụng pháp luật, các quốc gia đều khẳng định giá trị ưu tiên áp dụng của các quy phạm Điều ước quốc tế so với quy phạm luật trong nước khi chúng cùng điều chỉnh một quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài nói chung và quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài nói riêng. Việt Nam cũng ghi nhận vấn đề này tại Điều 6 Luật ký kết, gia nhập và thực hiện Điều ước quốc tế 2005; khoản 2 Điều 759 Bộ luật dân sự 2005; khoản 2 Điều 7 Luật hôn nhân và gia đình 2000. Việc ghi nhận này là hoàn toàn phù hợp với nguyên tắc pacta sunt servanda. Luận văn: Quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam.

Nguồn tập quán quốc tế là loại nguồn bổ trợ trong việc điều chỉnh quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài. Tính bổ trợ được thể hiện ở chỗ: tập quán quốc tế không mang tính bắt buộc áp dụng. Thông thường tập quán quốc tế chỉ được áp dụng trong trường hợp không có quy phạm trong nước hoặc quy phạm Điều ước quốc tế có liên quan điều chỉnh hoặc các bên chủ thể không có thoả thuận. Và các nước này thừa nhận hiệu lực ràng buộc của tập quán quốc tế thì khi đó tập quán quốc tế mới được áp dụng. Bộ luật dân sự Việt Nam năm 2005 cũng quy định tại Điều 759 khoản 4: “trong trường hợp quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài không được Bộ luật này, các văn bản pháp luật khác của Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chu nghĩa Việt Nam là thành viên hoặc hợp đồng dân sự giữa các bên điều chỉnh thì áp dụng tập quán quốc tế, nếu việc áp dụng hoặc hậu quả của việc áp dụng không trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam”. Như vậy, tập quán quốc tế chỉ được áp ở Việt Nam khi các văn bản pháp luật Việt Nam, Điều ước quốc tế mà Việt nam là thành viên hoặc hợp đồng dân sự giữa các bên không quy định. Giá trị của tập quán quốc tế điều chỉnh các quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài được đánh giá sau cùng.

1.4. Quá trình phát triển của pháp luật Việt Nam điều chỉnh quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài

Xã hội Việt Nam trải qua nhiều giai đoạn phát triển, mỗi một giai đoạn nước ta có một chế độ kinh tế – xã hội khác nhau. Đặc điểm về kinh tế – xã hội quyết định đặc điểm của pháp luật vì pháp luật là công cụ quản lý của Nhà nước. Nhà nước càng phát triển thì pháp luật cũng được ban hành kịp thời để điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh. Khi phân chia sự phát triển của pháp luật Việt Nam điều chỉnh quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài thành các giai đoạn khác nhau cần căn cứ vào các mốc ban hành văn bản pháp luật mới điều chỉnh quan hệ này.

1.4.1. Giai đoạn trước thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế

  • Giai đoạn trước 1945

Trước cách mạng tháng tám năm 1945, nứơc ta là nước thuộc địa nửa phong kiến, quan hệ hôn nhân và gia đình thời kỳ này được điều chỉnh bởi các quy phạm trong một số Bộ luật dân sự. Thời kỳ này, nước ta bị chia làm ba kỳ: Bắc Kỳ; Trung Kỳ; nam Kỳ. Tương ứng với mỗi Kỳ, các quan hệ hôn nhân được điều chỉnh bởi một Bộ luật: Bộ dân luật Bắc Kỳ ban hành 30/3/1931 thi hành trên toàn Bắc Kỳ; Bộ dân luật Trung Kỳ ban hành năm 1936 thi hành trên toàn bộ Trung Kỳ; Bộ dân luật giản yếu Nam Kỳ áp dụng ở Nam Kỳ và ba thành phố Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng. Cả ba Bộ luật này đều có quy phạm điều chỉnh quan hệ hôn nhân và gia đình nhưng không có Bộ luật nào có quy phạm cụ thể điều chỉnh quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nứơc ngoài, kể các văn bản pháp luật khác của Việt Nam lúc bấy gìơ cũng vậy. Mặc dù, trên thực tế có không ít quan hệ hôn nhân được xác lập giữa công dân Việt Nam và người nước ngoài, đặc biệt là người Pháp. Chỉ có một số quy phạm đề cập đến quan hệ gia đình có yếu tố nước ngoài nhưng thực chất chủ yếu điều chỉnh vấn đề quốc tịch. Điều 15,16 Bộ dân luật Bắc Kỳ quy định:

“Đàn bà quốc dân An Nam kết hôn với người Đại Pháp hay người ngoại quốc thì sẽ theo quốc tịch của người chồng, trừ khi quốc luật của người ngoại quốc ấy không nhận cho vào quốc tịch người chồng thì không kể . Khi ấy, người đàn bà vẫn thuộc luật An Nam” Luận văn: Quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam.

Hoặc “Đàn bà Pháp hay ngoại quốc mà kết hôn theo pháp luật với một quốc dân An Nam thì cũng thành ra quốc dân An Nam trong khi đương lấy nhau, trừ khi nào quốc luật người đàn bà ấy không nhận cho theo quốc tịch người chồng, hay là lúc làm lễ kết hôn, người đàn bà ấy đã khai rõ với quan Hộ lẳng không muốn theo quốc tịch người chồng thì không kể. Lời khai ấy phải biên vào trong chứng thư giá thú do quan Hộ lại Đại Pháp làm”.

  • Giai đoạn từ 1945 đến 1959

Cách mạng tháng tám thành công khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hoà non trẻ. Trong hoàn cảnh vừa đánh thắng thực dân Pháp, toàn bộ chí lực, vật lực tập trung cho cuộc kháng chiến nên rất ít văn bản pháp luật được ban hành điều chỉnh quan hệ hôn nhân và gia đình. Các quan hệ hôn nhân và gia đình vẫn chịu sự điều chỉnh của ba Bộ dân luật trên. Trong giai đoạn này có một văn bản pháp luật có giá trị pháp lý cao nhất đề cập gián tiếp đến quan hệ hôn nhân, Hiến pháp 1946 được Quốc hội ban hành 09/11/1946. Điều 9 Hiến pháp quy định “Đàn bà ngang quyền với đàn ông về mọi phương diện”, đây là cơ sở pháp lý tiến bộ cho quyền bình đẳng nam nữ trong quan hệ hôn nhân, là nguyên tắc giải quyết các quan hệ hôn nhân trong chế độ mới.

Ngày 22/5/1950, Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ký Sắc lệnh số 97/SL quy định sửa đổi một số quy lệ, chế định dân luật, tuyên bố bãi bỏ các quy định trái với các nguyên tắc tiến bộ trong quan hệ hôn nhân và gia đình. Tuy chưa có văn bản riêng điều chỉnh quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài nhưng vấn đề này có được quy định trong một số văn bản khác: Sắc lệnh số 53/SL ngày 20/10/1945 về quốc tịch Việt Nam, Điều 5, Điều 6 đã trực tiếp công nhận một thực tế khách quan tồn tại quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài nhưng không có quy định nào đề cập đến kết hôn có yếu tố nước ngoài.

Đến năm 1959, Quốc hội ta đã ban hành bản Hiến pháp mới là cơ sở pháp lý quan trọng điều chỉnh quan hệ hôn nhân và gia đình nhưng vẫn chưa có quy định cụ thể điều chỉnh trực tiếp quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài.

Nhìn chung, pháp luật điều chỉnh quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài nói chung và quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài nói riêng trong thời kỳ này hết sức đơn giản, quy định không tập trung, chưa điều chỉnh đầy đủ các quan hệ này.

  • Giai đoạn 1959 đến 1986 Luận văn: Quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam.

Cùng với bản Hiến pháp 1959 được thông qua 31/12/1959 tiếp tục khẳng định và ghi nhận quyền bình đẳng nam nữ . Xuất phát từ tình hình thực tế của quan hệ hôn nhân và gia đình trong thời kỳ mới, Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam đã được Quốc hội thông qua ngày 29/12/1959 công bố ngày 13/01/1960. Tuy nhiên, Luật hôn nhân và gia đình 1959 không có quy phạm điều chỉnh quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài.

Ở miền Bắc, năm 1961, Chính Phủ ban hành Nghị định số 04 ngày 16/01/1961 kèm theo Điều lệ và đăng ký hộ tịch, có quy định vấn đề sinh, tử, kết hôn. Bộ Nội vụ ban hành Thông tư số 05/NV ngày 21/6/1961 hướng dẫn thi hành Điều lệ về đăn ký hộ tịch. Trong các văn bản này vẫn không có quy định điều chỉnh quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài nhưng sẽ là nền móng cơ bản để chúng ta giải quyết quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài sau này.

Ở miền Nam, dưới sự cai trị của bộ máy nguỵ quân, nguỵ quyền miền Nam, các quan hệ dân sự nói chung, quan hệ hôn nhân và gia đình nói riêng trong thời kỳ này vẫn chịu sự điều chỉnh của Pháp quy giản yếu 1883 cho đến 1959. Dưới sự cai trị của Ngô Đình Diệm, Luật gia đình của chế độ họ Ngô được công bố ngày 02/01/1959, chấm dứt sự điều chỉnh của Pháp quy giản yếu. Các quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài được Luật gia đình quy định tại Điều 24,25,70 các điều kiện và thủ tục về tính hợp pháp của hôn thú được lập ở nước ngoài giữa người Việt Nam với nhau hoặc giữa người Việt Nam và người nước ngoài. Sau đó đến 1963, chính quyền họ Ngô bị lật đổ, có nhiều văn bản pháp lý thay thế Luật gia đình 1959 điều chỉnh quan hệ hôn nhân. Ngày 20/12/1972, Bộ dân luật được ban hành thay thế các văn bản pháp luật trước đó. Bộ dân luật quy định quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài nói chung, quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài nói riêng tại Điều 125 chỉ quy định các điều kiện và thủ tục để một hôn thú được lập ở nước ngoài có giá trị tại miền Nam Việt nam lúc bấy giờ: “Trong trường hợp hôn thú lập ở ngoại quốc, trong vòng 3 tháng sau khi trở về lãnh thổ Việt Nam, người có quốc tịch Việt Nam phải xuất trình một bản sao chứng thơ hôn thú cũ nhất là 3 tháng gửi cho biện lý Toà án nơi trú ngụ. Biện lý sẽ ra lệnh đăng ký vào sổ giá thú đương nhiên và ghi chú vào lề chứng thư khai sinh của đương sự, ở sổ chánh cũng như ở sổ kép”.

Sau khi thống nhất đất nước năm 1975, Việt Nam mở rộng quan hệ giao lưu với các nước trên mọi phương diện. Nhiều công dân Việt Nam ra nước ngoài học tập, làm việc, nghiên cứu cũng như nhiều người nước ngoài sang Việt Nam làm việc, học tập, nghiên cứu nên càng phát sinh nhiều quan hệ xã hội đòi hỏi phải được điều chỉnh bằng văn bản pháp luật trong đó có quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài nói chung và quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài nói riêng. Trước tình hình đó, Việt Nam đã ký kết các Hiệp định tương trợ tư pháp với Cộng hoà dân chủ Đức năm 1980; Tiệp Khắc năm 1982; Cu Ba năm 1984; Hungari năm 1985; Bungari năm 1986. Các Hiệp định tương trợ tư pháp điều chỉnh quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài bằng các quy phạm xung đột chứ không điều chỉnh trực tiếp. Quy phạm này chỉ ra hệ thống pháp luật nước nào sẽ được áp dụng để điều chỉnh quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài.

1.4.2. Giai đoạn đổi mới và hội nhập quốc tế Luận văn: Quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam.

Pháp luật điều chỉnh quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài có thể chia thành các giai đoạn phát triển như sau:

  • Giai đoạn từ 1986 đến 2000

Sau Đại hội Đảng lần thứ VI, với chủ trương, chính sách đổi mới, nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nhiều quan hệ xã hội mới phát sinh.

Ngày 29/12/1986, Quốc hội thông qua Luật hôn nhân và gia đình, trong đó có dành một chương IX quy định quan hệ hôn nhân và gia đình giữa công dân Việt Nam và người nước ngoài, trong đó có quan hệ kết hôn. Việc kết hôn giữa công dân Việt nam với người nước ngoài quy định tại Điều 52 “mỗi bên tuân theo những quy định của pháp luật nước mình về kết hôn. Nếu việc kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài tiến hành ở Việt Nam thì người nước ngoài còn phải tuân theo các quy định tại Điều 5, Điều 6, Điều 7 Luật hôn nhân và gia đình Việt nam”. Cụ thể Điều này, Hội đồng Bộ trưởng đã ban hành Nghị định số 12/HĐBT ngày 01/02/1989 về thủ tục kết hôn giữa công dân Việt Nam và người nước ngoài tiến hành trước cơ quan có thẩm quyền của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Việc Luật hôn nhân và gia đình 1986 dành hẳn một chương để điều chỉnh quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài là tiến bộ vượt bậc trong công tác lập pháp và thể hiện sự phát triển của xã hội. Luận văn: Quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam.

Trong khoảng thời gian từ năm 1986 đến năm 1992, Quốc hội đã ban hành một số văn bản pháp luật có liên quan đến quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài, trong đó có quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài: Luật quốc tịch 1988, Pháp lệnh lãnh sự 1990 quy định tại Điều 22 “Trường hợp công dân Việt Nam kết hôn với công dân nước ngoài thì Lãnh sự chỉ đăng ký khi nước tiếp nhận đồng ý”. Năm 1993, sự ra đời của Pháp lệnh hôn nhân và gia đình giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, văn bản đầu tiên điều chỉnh quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài bằng quy phạm xung đột, và quy định áp dụng tập quán quốc tế. Cụ thể Pháp lệnh này, Chính Phủ đã ban hành Nghị định 184/NĐ – CP ngày 30/11/1994 về thủ tục kết hôn, nhận con ngoài giá thú, nuôi con nuôi, nhận đỡ đầu giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài. Bên cạnh sự ra đời của Pháp lệnh hôn nhân và gia đình giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, từ năm 1993 đến năm 2000, một số văn bản pháp luật liên quan cũng được ban hành điều chỉnh quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài nói chung và quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài nói riêng: Pháp lệnh công nhận và thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của Toà án nước ngoài 1993; Bộ luật dân sự 1995; Luật quốc tịch Việt Nam 1998; Nghị định số 83/NĐ – CP ngày 10/10/1998 về đăng ký hộ tịch. Trên cơ sở mở rộng quan hệ quốc tế, Nhà nước ta tiếp tục ký kết các Hiệp định tương trợ tư pháp với Ba Lan năm 1993; Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào năm 1998; Liên bang Nga năm 1998; Cộng hoà nhân dân Trung Hoa năm 1998; Cộng hoà Pháp năm 1999; Ucraina năm 2000; Mông Cổ năm 2000; Bêlarut năm 2000; Cộng hoà dân chủ nhân dân Triều Tiên năm 2002.

Trong giai đoạn 1986 đến 2000, Nhà nước ta đã xây dựng hệ thống pháp luật điều chỉnh quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài khá hoàn chỉnh. Phát triển theo xu hướng thời đại, chúng ta cũng đã xây dựng quy phạm xung đột điều chỉnh quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài quy định vấn đề chọn pháp luật áp dụng. Đây là tiến bộ vượt bặc của nền lập pháp Việt Nam.

  • Giai đoạn từ năm 2000 đến nay:

Cùng với sự phát triển của xã hội, chính sách đối ngoại của Nhà nước ta cũng mở rộng hơn nên quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài trong đó có quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài ngày càng đa dạng. Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam 1986 không còn phù hợp nữa, nên Quốc hội đã ban hành Luật hôn nhân và gia đình 2000 thay thế. Luật này cũng dành một chương XI quy định quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài, trong đó có quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài. Luật xác định rõ nguyên tắc, cách giải quyết xung đột pháp luật, xung đột thẩm quyền trong quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài. Luật có phạm vi điều chỉnh rộng hơn Luật hôn nhân và gia đình 1986 và Pháp lệnh 1993 về đối tượng điều chỉnh gồm cả quan hệ kết hôn giữa người nước ngoài với nhau thường trú tại Việt Nam. Đặc biệt có quy định riêng áp dụng cho vùng biên giới. Cùng với việc ban hành Luật, Nhà nước ta cũng đã ban hành các văn bản pháp luật hướng dẫn mới: Nghị định số 68/NĐ – CP ngày 10/7/2002; Nghị định số 69/NĐ – CP ngày 21/7/2006; Thông tư số 07/TT – BTP ngày 16/12/2002. Bên cạnh đó, Nhà nước ta còn ban hành một số văn bản liên quan điều chỉnh quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài: Luật quốc tịch năm 2001; Bộ luật dân sự 2005; Nghị định 138/NĐ – CP ngày 15/11/2006; Nghị định số 158/NĐ – CP ngày 27/12/2005;….và một số văn bản khác.

Như vậy, cùng sự phát triển của xã hội qua các giai đoạn lịch sử khác nhau, pháp luật điều chỉnh quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài nói chung và quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài nói riêng cũng hoàn thiện từng bước. Và đến nay, chúng ta đã có một hệ thống pháp luật điều chỉnh quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài tương đối đầy đủ. Hệ thống các quy phạm đã đi vào cuộc sống giải quyết các quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài đáp ứng sự phát triển của xã hội và góp phần triển khai chính sách đối ngoại của Nhà nứơc ta. Tuy nhiên, hệ thống pháp luật này vẫn chưa hoàn chỉnh, tạo kẽ hở cho những kẻ xấu lợi dụng làm rối loạn xã hội mà chúng ta cần nghiên cứu để giải quyết. Luận văn: Quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:  

===>>> Luận văn: Thực trạng quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài ở VN

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464