Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Pháp luật vấn đề ô nhiễm không khí xuyên biên giới hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Vấn đề ô nhiễm không khí xuyên biên giới theo pháp luật quốc tế hiện đại dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Dưới tác động của quá trình toàn cầu hóa và sự phát triển vượt bậc của khoa học kỹ thuật, kinh tế xã hội cũng như các hệ quả của vấn đề biến đổi khí hậu, trong những năm qua, hiện tượng ô nhiễm môi trường xuyên biên giới ngày càng trở nên phổ biến và trở thành thách thức không chỉ với một quốc gia hay một khu vực mà với toàn thế giới. Đặc trung của ô nhiễm không khí xuyên biên giới chính là sự khuếch tán của các loại chất gây ô nhiễm trong môi trường không khí, nước và đất mà con người không thể kiểm soát được bằng các đường phân chia ranh giới quốc tế, do đó, việc giải quyết chúng rất phực tạp và khó khăn. Việc phát sinh những nguồn thải gây ô nhiễm không chỉ ảnh hưởng tới một nước mà nó ảnh hưởng tới nhiều nước mang tính chất liên vùng, liên quốc gia và châu lục. Báo cáo của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) ngày 7/5/2014 cho biết phần lớn trong số 1.600 thành phố thuộc 91 quốc gia đang chìm trong ô nhiễm, vượt quá mức độ cho phép về độ ô nhiễm . Chỉ có 12% dân số ở 1.600 thành phố được sống trong bầu không khí đạt các tiêu chuẩn quy định của WHO. Số còn lại phải sống ở những nơi có không khí ô nhiễm nặng nề, khiến họ thường xuyên mắc các bệnh về hô hấp và các trọng bệnh khác[9].
Tại Việt Nam, trong những năm gần đây, vấn đề ô nhiễm không khí xuyên biên giới đã xuất hiện một số biểu hiện nhất định, cụ thể, toàn bộ miền Bắc và miền Trung Việt Nam được đánh giá là chịu tác động đáng kể từ các nguồn phát thải của các khu vực phía Đông, Đông Bắc, Đông Nam của Trung Quốc, Đài Loan. Một số kết quả nghiên cứu cho thấy có sự vận chuyển các chất ô nhiễm theo gió mùa Đông bắc vào mùa đông, đóng góp một lượng khí ô nhiễm và bụi mịn trong không khí miền Bắc Việt Nam. Ô nhiễm không khí xuyên biên giới gây ra những ảnh hưởng trực tiếp tới sức khỏe con người, đến hệ sinh thái, ngoài ra còn tác động tới chất lượng và tuổi thọ công trình xây dựng và vật liệu, …
Xuất phát từ tầm quan trọng của việc bảo vệ môi trường không khí đối với con người, đồng thời, để cung cấp một cách nhìn tổng quan về ô nhiễm môi trường xuyên biên giới, đánh giá các nguyên nhân chủ yếu gây ô nhiễm không khí, có tính chất xuyên biên giới, cũng như đưa ra những khuyến nghị, giải pháp cho các vấn đề này trong thời gian tới tại Việt Nam, tác giả xin lựa chọn đề tài: “Vấn đề ô nhiễm không khí xuyên biên giới theo pháp luật quốc tế hiện đại” làm nội dung Luận văn Thạc sĩ của mình.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Mục đích của Luận văn là phân tích, làm rõ tính chất, nội hàm của khái niệm ô nhiễm không khí xuyên biên giới thông qua việc luận giải cơ sở lý luận cũng như thực tiễn của vấn đề này trong pháp luật và đời sống quốc tế hiện đại nói chung và ở Việt Nam nói riêng. Luận văn: Pháp luật vấn đề ô nhiễm không khí xuyên biên giới.
- Để đạt được mục đích đó, luận văn có nhiệm vụ cơ bản sau:
Thứ nhất, phân tích bản chất và nội dung của vấn đề ô nhiễm không khí xuyên biên giới dưới góc độ pháp luật quốc tế.
Thứ hai, nghiên cứu những quy định của pháp luật quốc tế, pháp luật Việt Nam liên quan đến ô nhiễm không khí xuyên biên giới; tìm hiểu các thiết chế kiểm soát ô nhiễm không khí xuyên biên giới để từ đó làm rõ và có nhận thức đúng đắn về vấn đề này trong tiến trình toàn cầu hóa.
Thứ ba, phân tích thực trạng và những thách thức đối với ô nhiễm không khí xuyên biên giới ở Việt Nam và trên thế giới. Đồng thời đưa ra những kiến nghị nhằm đảm bảo kiểm soát ô nhiễm không khí xuyên biên giới được thực hiện toàn diện và hiệu quả hơn ở Việt Nam.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu về ô nhiễm không khí xuyên biên giới dưới góc độ pháp luật quốc tế hiện đại và ở Việt Nam hiện tại.
Luận văn đưa ra các quan điểm đa chiều cũng như sự phát triển của khái niệm ô nhiễm không khí xuyên biên giới. Liệt kê và phân tích các quy định của pháp luật quốc tế trong lĩnh vực ô nhiễm không khí xuyên biên giới. Nêu ra thực trạng và thách thức đối với ô nhiễm không khí xuyên biên giới.
Luận văn cũng đề cập đến vấn đề kiểm soát và đối phó ô nhiễm không khí xuyên biên giới tại Việt Nam thông qua các chính sách, quy định pháp luật cũng như thiết chế quốc gia, từ đó đưa ra những kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả kiểm soát ô nhiễm không khí xuyên biên giới.
4. Phương pháp nghiên cứu Luận văn: Pháp luật vấn đề ô nhiễm không khí xuyên biên giới.
Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận của Chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề ô nhiễm môi trường nói chung và ô nhiễm xuyên biên giới nói riêng.
Luận văn được xây dựng trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử; sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu khoa học như: phân tích, tổng hợp, quy nạp, đối chiếu,…để làm sáng tỏ vấn đề ô nhiễm xuyên biên giới trong pháp luật quốc tế cũng như đưa ra những đánh giá khách quan về lý luận, thực tiễn và giải pháp để kiểm soát vấn đề ô nhiễm xuyên biên giới ở Việt Nam.
5. Kết cấu Luận văn
Ngoài phân mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của Luận văn bao gồm 3 chương:
- Chương 1: Khái quát về ô nhiễm không khí xuyên biên giới và Pháp luật quốc tế về ô nhiễm không khí xuyên biên giới
- Chương 2: Thực thi pháp luật quốc tế về vấn đề ô nhiễm không khí xuyên biên giới
- Chương 3: Chính sách, pháp luật và giải pháp tăng cường đảm bảo kiểm soát ô nhiễm không khí xuyên biên giới tại Việt Nam
Chương 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ Ô NHIỄM KHÔNG KHÍ XUYÊN BIÊN GIỚI VÀ PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VỀ Ô NHIỄM KHÔNG KHÍ XUYÊN BIÊN GIỚI
1.1. Khái niệm về ô nhiễm không khí xuyên biên giới
Cùng với sự phát triển kinh tế và quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, trong những năm gần đây, tình trạng ô nhiễm không khí đang trở thành một thách thức to lớn cả trước mắt và lâu dài đối với sự phát triển bền vững của không chỉ một quốc gia mà trên phạm vi toàn thế giới.“Ô nhiễm không khí là sự có mặt một chất lạ hoặc một sự biến đổi quan trọng trong thành phần không khí, làm cho không khí không sạch hoặc gây ra sự tỏa mùi, có mùi khó chịu, giảm tầm nhìn xa (do bụi)”[27].
Liên quan đến khái niệm ô nhiễm không khí, Viện Pháp luật quốc tế cũng đưa ra định nghĩa trong Nghị quyết về ô nhiễm không khí xuyên biên giới tại phiên họp Cairo năm 1987, theo đó: Luận văn: Pháp luật vấn đề ô nhiễm không khí xuyên biên giới.
Ô nhiễm không khí xuyên biên giới có nghĩa là bất kỳ thay đổi vật lý, hóa học hoặc sinh học trong thành phần hoặc chất lượng không khí mà kết quả trực tiếp hoặc gián tiếp từ hành vi của con người, và tạo ra tác động có hại đến môi trường của các quốc gia khác hoặc các khu vực xa hơn, vượt quá những giới hạn của quyền tài phán quốc gia [31].
- Tại điểm b Điều 1 của Công ước CLTAP năm 1979 quy định:
Ô nhiễm không khí xuyên biên giới tầm xa có nghĩa là ô nhiễm không khí có nguồn gốc vật lý nằm hoàn toàn hoặc một phần trong khu vực thuộc quyền tài phán quốc gia của một nước và có tác động tiêu cực đến khu vực thuộc thẩm quyền của nhà nước khác ở một khoảng cách xa, nó không phân biệt là nguồn phát thải cá nhân hay của nhóm nguồn phát thải nào [15].
Như vậy, dựa trên các quy định của các điều ước quốc tế, có thể hiểu, ô nhiễm không khí xuyên biên giới là sự thay đổi vật lý, hóa học hoặc sinh học trong chất lượng không khí nguyên nhân là do hành vi trực tiếp hoặc gián tiếp của con người (gọi là nguồn phát thải) tại một khu vực thuộc quyền tài phán của một quốc gia nhưng tác động tiêu cực đến môi trường của các khu vực thuộc thẩm quyền của các quốc gia khác.
1.2. Các nguồn chính gây ô nhiễm môi trường không khí Luận văn: Pháp luật vấn đề ô nhiễm không khí xuyên biên giới.
Có rất nhiều nguồn gây ô nhiễm không khí. Có thể chia ra thành nguồn tự nhiên và nguồn nhân tạo. Nguồn tự nhiên bao gồm hoạt động của núi lửa, cháy rừng phát thải nhiều bụi và khí, bão bụi… Nguồn gây ô nhiễm nhân tạo rất đa dạng, nhưng chủ yếu là do hoạt động công nghiệp, đốt cháy nhiên liệu hóa thạch và hoạt động của các phương tiện giao thông.
1.2.1. Hoạt động giao thông
Hoạt động giao thông vận tải được xem là một trong những nguồn gây ô nhiễm lớn đối với môi trường không khí, đặc biệt là ở các khu vực đô thị và khu vực đông dân cư. Cùng với sự phát triển của hệ thống cơ sở hạ tầng giao thông, tăng trưởng các phương tiện cơ giới và khối lượng vận tải hàng hóa hành khách là sự phát thải các chất gây ô nhiễm môi trường không khí.
Tại Việt Nam hiện nay, sự gia tăng các phương tiện đặc biệt là ô tô và xe máy cùng với chất lượng các tuyến đường chưa đáp ứng nhu cầu là một trong những nguyên nhân chính gây ô nhiễm môi trường không khí. Khí thải từ phương tiện giao thông vẫn đang là một trong những tác nhân lớn gây ô nhiễm môi trường không khí.
Với nhiên liệu chủ yếu để vận hành động cơ xe máy, ô tô là các nhiên liệu hóa thạch như xăng, dầu nên lượng phát thải các chất ô nhiễm không khí TSP, NOx, CO, SO2,… tăng lên hàng năm cùng với sự phát triển về số lượng của các phương tiện giao thông đường bộ. Với tốc độ tăng trưởng hàng năm các loại xe ô tô đạt 12%, trong đó xe ô tô con có tốc độ tăng cao nhất là 17% năm, xe tải khoảng 13%, xe máy tăng khoảng 15% kèm theo việc sử dụng nhiên liệu (chủ yếu là xăng, dầu diezen), cùng với chất lượng phương tiện còn hạn chế (xe cũ, không được bảo dưỡng thường xuyên) làm gia tăng đáng kể nồng độ các chất ô nhiễm trong không khí [3, tr.27]. Một số các quốc gia phát triển như Đức, Nhật, Hoa Kỳ cũng đã bắt đầu nghiên cứu việc thay thế xăng bằng các nhiên liệu sạch nhưng giá thành cao và gần như mới chỉ dừng lại ở mức độ thử nghiệm, chưa thực sự được áp dụng phổ biến trên thực tế.
1.2.2. Hoạt động sản xuất công nghiệp Luận văn: Pháp luật vấn đề ô nhiễm không khí xuyên biên giới.
Hoạt động sản xuất công nghiệp với nhiều loại hình khác nhau được đánh gia là một trong những nguồn gây ô nhiễm môi trường đánh kể. Các tác nhân gây ô nhiễm chủ yếu phát sinh từ quá trình khai thác và cung ứng nguyên vật liệu đầu vào, khí thải từ các công đoạn sản xuất như đốt nhiên liệu hóa thạch, khí thải lò hơi, hóa chất bay hơi, … Nguồn ô nhiễm không khí từ hoạt động công nghiệp thường có nồng độ các chất độc hại cao, tập trung trong một vùng. Tùy thuộc vào loại hình sản xuất, quy trình công nghệ, quy mô sản xuất và nhiên liệu sử dụng mà các hoạt động công nghiệp khác nhau sẽ phát sinh khí thải với thành phần và nồng độ khác nhau.
Các chất độc hại từ khí thải công nghiệp được phân loại thành các nhóm bụi, nhóm chất vô cơ và nhóm các chất hữu cơ ô nhiễm phổ biến gồm NO2, SO2, VOC, TSP các hóa chất và các kim loại. Trong đó lượng phát thải SO2 là 655.899 tấn/năm tỷ lệ 18,52%, NO2 là 1.117.757 tấn/năm tỷ lệ 31,56% và TSP là 673.842 tấn/năm tỷ lệ 19,02% chiếm phần lớn trong tải lượng các chất ô nhiễm (nguồn: Ngân hàng Thế giới năm 2010) [3, tr. 28]. Trong các nhóm ngành công nghiệp ở Việt Nam, các hoạt động: khai thác và chế biến than, sản xuất thép, sản xuất vật liệu xây dựng và nhiệt điện đang được đánh giá là những nguồn gây ô nhiễm môi trường đánh kể hiện nay.
1.2.3. Hoạt động xây dựng
Bên cạnh hoạt động giao thông, hoạt động xây dựng trong đô thị cũng là nguồn gây ảnh hưởng đến môi trường không khí. Trong những năm gần đây, hoạt động xây dựng các khu chung cư, khu đô thị mới, cầu đường, sửa chữa nhà, vận chuyển vật liệu và phế thải xây dựng,… diễn ra ở khắp nơi, đặc biệt là các đô thị lớn. Các hoạt động như đào lấp đất, đập phá công trình cũ, vật liệu xây dựng bị rơi vãi trong quá trình vận chuyển thường gây ô nhiễm bụi đối với môi trường xung quanh. Mặc dù có quy định về che chắn bụi tại các công trường xây dựng và phương tiện chuyên chở nguyên vật liệu và phế thải xây dựng phải rửa trước khi ra khỏi công trường nhưng việc thực hiện còn nhiều hạn chế. Vì vậy, đây là nguồn phát tán lượng bụi lớn vào môi trường không khí. Bên cạnh bụi, các thiết bị xây dựng (máy xúc, máy ủi…) các phương tiện vận chuyển vật liệu xây dựng còn thải ra môi trường không khí các khí thải khác như: SO2, CO, VOC, … Luận văn: Pháp luật vấn đề ô nhiễm không khí xuyên biên giới.
1.2.4. Hoạt động nông nghiệp và làng nghề
Hiện nay, tại các vùng nông thôn rơm rạ không còn là chất đốt chủ yếu do có các nhiên liệu khác thay thế như: điện, khí gas… Thêm vào đó, việc gia tăng số mùa vụ canh tác hàng năm cũng làm gia tăng lượng rơm rạ thải ra môi trường. Biện pháp chính được người dân sử dụng đối với lượng rơm rạ thải nói trên là đốt ngay trên đồng ruộng. Chính vì vậy, sau mỗi vụ thu hoạch, hoạt động đốt rơm rạ đã gây hiện tượng khói mù cho các vùng lân cận. Việc đốt rơm rạ ngoài trời là quá trình đốt không kiểm soát, trong đó sản phẩm chủ yếu là các chất khí: bụi, CO2, CO, NOx. Khi rơm rạ cháy không hết có thể tạo ra hợp chất Andehit và bụi mịn là những chất gây ảnh hưởng xấu tới sức khỏe con người. Tại Châu Á, dựa trên các công trình nghiên cứu cho thấy, hàng năm nguồn phát xạ do đốt sinh khối ngoài trời ước tính đạt 0,37 triệu tấn SO2, 2,8 triệu tấn NOx, 1100 triệu tấn CO2, 67 triệu tấn CO và 3,1 triệu tấn CH4. Riêng lượng phát thải do đốt cây trồng theo ước tính đạt: 0,1 triệu tấn SO2, 0,96 triệu tấn NOx, 379 triệu tấn CO2, 23 triệu tấn CO và 0,68 triệu tấn CH4 [3, tr. 34].
Ô nhiễm môi trường không khí tại các làng nghề có nguồn gốc chủ yếu từ việc sử dụng than làm nhiên liệu (phổ biến là than chất lượng thấp), sử dụng nguyên vật liệu và hóa chất trong dây chuyển công nghệ sản xuất, khí thải chứa các thành phần đặc trưng là bụi, CO2, CO, SO2, NOx và chất hữu cơ bay hơi, trong khi đó lại không có các hệ thống xử lý chất thải, khí thải hiệu quả. Tùy theo tính chất của từng loại làng nghề mà loại ô nhiễm môi trường cũng khác nhau. Trong đó, ngành sản xuất có thải lượng ô nhiễm lớn nhất là tái chế kim loại, quá trình tái chế và gia công cũng gây phát sinh các khí độc như hơi axit, kiềm, oxit kim loại (PbO, ZnO, Al2O3) [7]. Luận văn: Pháp luật vấn đề ô nhiễm không khí xuyên biên giới.
1.2.5. Chôn lấp và xử lý chất thải
Tại nhiều khu chôn lấp, đặc biệt các bãi rác lộ thiên, đã và đang diễn ra hoạt động đốt rác thải tùy tiện, gây ảnh hưởng đến chất lượng môi trường không khí tại những thời điểm nhất định. Rác thải tại các bãi rác (giấy, gỗ, cao su, ni lông, nhựa, vải, các chất khác…) khi bị đốt đã thải ra môi trường các chất khí chủ yếu như: NOx, CO, CO2, SOx, HCl, HF, Dioxin, Furan và tro [3, tr. 37]. Tuy nhiên, hiện nay chưa có nhiều nghiên cứu cũng như các số liệu cụ thể về tải lượng phát thải các chất khí từ hoạt động đốt bãi rác.
Hiện nay biện pháp xử lý chất thải nguy hiểm (CTNH) đang được áp dụng phổ biến ở nước ta là sử dụng công nghệ lò đốt. Tính đến năm 2006, hơn 500 lò đốt đã được lắp đặt tại các cơ sở y tế, các lò đốt chất thải công nghiệp, sinh hoạt… cũng được đầu tư lắp đặt ở nhiều địa phương. Quá trình vận hành và sử dụng các lò đốt chất thải bộc lộ nhiều hạn chế do liên quan công nghệ chưa hiện đại, sử dụng công nghệ đa dụng cho nhiều loại CTNH và thường ở quy mô nhỏ. Do đó, xét về khía cạnh môi trường, công nghệ xử lý CTNH vẫn gây ra những tác động nhất định đến môi trường không khí. Các chất tạo khí tạo ra sau quá trình đốt: SO2, HCl, Dioxin và Furan bám trên bề mặt hạt bụi phát tán vào không khí [3, tr. 37].
1.3. Những ảnh hưởng của ô nhiễm không khí
1.3.1. Tác hại của ô nhiễm không khí đến sức khỏe con người
Ô nhiễm không khí có những ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe con người, đặc biệt là đối với đường hô hấp. Kết quả nghiên cứu cho thấy, khi môi trường không khí bị ô nhiễm, sức khỏe con người bị suy giảm, quá trình lão hóa trong cơ thể bị thúc đẩy, chức năng của phổi bị suy giảm; gây bệnh hen suyễn, ho, viêm mũi, viêm họng, viêm phế quản; suy nhược thần kinh, tim mạch và làm giảm tuổi thọ con người. Nguy hiểm nhất là có thể gây ra bệnh ung thư phổi. Các nhóm cộng động nhạy cảm nhất với ô nhiễm không khí là những người cao tuổi, phụ nữ mang thai, trẻ em dưới 15 tuổi người đang mang bệnh, phổi và tim mạch, người thường xuyên phải làm việc ngoài trời… [8]. Mức độ ảnh hưởng đối với từng người tùy thuộc vào tình trạng sức khỏe, nồng độ, loại chất ô nhiễm và thời gian tiếp xúc với môi trường ô nhiễm.
Theo số liệu thống kê của Bộ Y tế, trong những năm gần đây, các bệnh về đường hô hấp có tỷ lệ mắc cao nhất trên toàn quốc và một trong các nguyên nhân là ô nhiễm không khí. Luận văn: Pháp luật vấn đề ô nhiễm không khí xuyên biên giới.
Theo cơ quan quốc tế chuyên nghiên cứu về bệnh ung thư thuộc WHO, đã xếp ô nhiễm không khí là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây các căn bệnh ung thư ở người. Cơ quan này phân tích hơn 1000 nghiên cứu trên toàn thế giới và đưa ra đủ bằng chứng cho thấy ô nhiễm không khí là nguyên nhân chính dẫn đến ung thư phổi. Năm 2010, có hơn 220.000 trường hợp tử vong do ung thư phổi trên toàn thế giới có liên quan đến ô nhiễm không khí.
Trong những năm gần đây, ô nhiễm không khí là vấn đề nghiêm trọng mà Bắc Kinh phải đương đầu. Trong một năm có đến 190 ngày thủ đô này vượt ngưỡng cho phép về không khí. Báo cáo do hai cơ quan là Báo chí Hàn Lâm Khoa học Xã Hội và Viện Khoa học Xã hội Thương Hại thực hiện đưa ra hồi đầu tháng hai năm 2014 nêu rõ Bắc Kinh là thành phố xếp thứ hai trong số 40 thành phố có điều kiện môi trường tồi tệ nhất thế giới. Từ tháng 2/2014, ô nhiễm không khí ở đây đã thường xuyên duy trì ở mức báo động ―cảnh báo cam‖ – mức nghiêm trọng sau mức màu đỏ trong hệ thống cảnh báo 4 bậc ô nhiễm của nước này. Vào đầu tháng 12 năm 2015, ô nhiễm không khí ở Bắc Kinh đã ở mức báo động đỏ mức báo động cao nhất.Ô nhiễm không khí ảnh hưởng đến trực tiếp sức khỏe con người tại Bắc Kinh. Theo WHO, ung thư phổi vẫn là căn bệnh gây phổ biến và gây tử vong nhiều trên thế giới, trong đó 1/3 số trường hợp này xảy ra ở Trung Quốc [3, tr. 79].
1.3.2. Ảnh hưởng đến chất lượng công trình xây dựng và vật liệu
Ô nhiễm các chất SO2, NOx trong môi trường không khí gây ra hiện tượng lắng đọng và mưa axit. Chính các hiện tượng này là nguyên nhân chính làm giảm tính bền vững của các công trình xây dựng và các dạng vật liệu [5].
Kết cấu của các công trình xây dựng có thể bị suy yếu do không khí bị ô nhiễm. Khí SO2, NO2 và O3 cũng là nguyên nhân gây hao mòn công trình, nhiều loại nguyên vật liệu quan trọng có thể bị ảnh hưởng, ví dụ: kim loại (sắt, đồng, thiếc), hợp chất hữu cơ (sơn,…), các loại đá,… Ô nhiễm không khí còn làm giảm sức bền cơ khí, gây han rỉ, hỏng lớp sơn bảo vệ, mất các chi tiết trang trí, ăn mòn đường ống, rỉ sét,…Hao mòn công trình dẫn tới giảm tuổi thọ, làm tăng chi phí bảo dưỡng và thay thế.
Mưa axit cũng làm hư vải sợi, sách và các đồ quý giá. Hệ thống thông khí của các thư viện, viện bảo tàng đã đưa các hạt axit vào trong nhà và chúng tiếp xúc và phá hủy các vật liệu nói trên.
Ví dụ về sự phá hoại các kết cấu công trình do lắng đọng axit. Tại Virginia Mỹ, các nhà nghiên cứu đã ghi nhận, ở những khu vực có lượng tích tụ axit trong không khí cao, người dân phải sơn lại nhà hai năm một lần hoặc thậm chí hàng năm, trong khí ở những nơi có lượng axit thấp, khoảng thời gian phải sơn lại nhà là bốn năm.
1.3.3. Ảnh hưởng tới hệ sinh thái và biến đổi khí hậu Luận văn: Pháp luật vấn đề ô nhiễm không khí xuyên biên giới.
Ô nhiễm không khí là mối đe dọa nghiêm trọng tới đa dạng sinh học và các hệ sinh thái. Tác động của ô nhiễm không khí đến các quần xã rừng rõ rệt nhất. Khi rừng bị suy giảm, cây cối bị chết, các loài sinh vật khác trong rừng cũng sẽ bị tuyệt chủng cục bộ. Mặc dù quần xã có thể không bị tiêu diệt do ô nhiễm không khí nhưng cấu trúc quần thể các loài cũng sẽ bị thay đổi và các loài mẫn cảm thường bị tổn thương và sẽ bị tiêu diệt.
Bụi trong không khí hấp thụ những tia cực ngắn của mặt trời làm cho cây không lớn và khó nảy mầm. Những nơi ô nhiễm không khí nặng, cây cối ở đó còi cọc không phát triển được, lá cây hai bên đường quốc lộ bị phủ một lớp đất bụi dày đặc làm cản quá trình quang hợp nên rất cằn cỗi.
Các loại thực vật bị ảnh hưởng bởi ô nhiễm không khí nhiều hơn so với động vật: Về bản chất, khả năng thích nghi trong môi trường bị ô nhiễm hoặc biến đổi khí hậu của thực vật kém hơn so với các loài động vật. Một điều tra cho thấy các loài thực vật trên cạn bị ảnh hưởng gấp 3 lần do ô nhiễm không khí so với động vật.
Khói quang hóa trong khí quyển được hình thành do sự tương tác giữa ánh sáng mặt trời và các chất gây ô nhiễm như cacbua hydro và Oxit nitơ. Kết quả là ozon tích tụ lại và sinh ra một số chất gây ô nhiễm như Formaldehyt, Aldehyt, PAN. Các chất này thường là chất kích thích, làm giảm quá trình sinh trưởng của cây, phá hoại tế bào lá và gây tổn thương nhiều loại cây. Lá cây trong khu vực có sương mù quang hóa xuất hiện những đốm nâu trên bề mặt lá, sau đó chuyển sang màu vàng [3, tr. 86].
1.4. Các quy định của pháp luật quốc tế về vấn đề ô nhiễm không khí xuyên biên giới Luận văn: Pháp luật vấn đề ô nhiễm không khí xuyên biên giới.
Pháp luật quốc tế về ô nhiễm không khí xuyên biên giới được quy định trong các điều ước quốc tế khu vực và điều ước quốc tế song phương giữa các quốc gia. Hiện nay, vẫn chưa có điều ước quốc tế toàn cầu về vấn đề ô nhiễm không khí xuyên biên giới. Tuy nhiên, xuất phát từ đặc thù và tác động ảnh hưởng của ô nhiễm không khí đã có nhiều điều ước quốc tế khu vực về ô nhiễm không khí xuyên biên giới tiêu biểu như Công ước CLTAP năm 1979, Hiệp định AATHP năm 2002 và một hiệp định mang tính song phương giữa Canada và Hoa Kỳ về chất lượng không khí được Canada và Hoa Kỳ năm 1991. Để nhận diện được ô nhiễm không khí xuyên biên giới thì các quốc gia nhận phải nhận diện được các tác động của môi trường xuyên biên giới, và hiện nay đã có Công ước EIA năm 1991 ngăn ngừa, giải quyết những vấn đề liên quan đến tác động môi trường xuyên biên giới. Trước đây, vấn đề đề ô nhiễm không khí xuyên biên giới được đề cập rải rác trong các văn kiện như: Tuyên bố Stockhom năm 1971, Tuyên bố của Liên hợp quốc về môi trường và phát triển tại Rio năm 1992. Trong khuôn khổ của Luận văn, tác giả đề cập đến các quy định của pháp luật quốc tế về vấn đề ô nhiễm không khí xuyên biên giới thông qua hai phần: các quy định về đánh giá các tác động xuyên biên giới và các quy định về kiểm soát ô nhiễm không khí.
1.4.1. Các quy định về đánh giá các tác động xuyên biên giới
Đầu tư các dự án mới là một xu hướng, một nhu cầu tất yếu của quá trình phát triển góp phần quan trọng vào sự tăng trưởng kinh tế của mỗi quốc gia. Tuy nhiên, ngay từ những năm đầu thập kỷ 70 của thế kỷ XX, ngoài những lợi ích kinh tế – xã hội to lớn đem lại, người ta đã nhận thấy, việc đầu tư các dự án mới này cũng có những tác động tiêu cực đến môi trường tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên cho khu vực dự án và lân cận.
Các tác động này có ảnh hưởng lên một phạm vi không gian nhất định và nhiều khi vượt ra khỏi ranh giới của một quốc gia. Điều này có nghĩa, các hoạt động phát triển trên lãnh thổ của một quốc gia này có thể gây ra tác động tiêu cực lên môi trường của một hay nhiều quốc gia liền kề khác. Tác động môi trường có tính chất như vậy được gọi là ―Tác động môi trường xuyên biên giới‖. Khái niệm này lần đầu tiên được đưa ra tại Tuyên bố Stockhom năm 1972.
Để ngăn ngừa, giải quyết những vấn đề phức tạp và hậu quả nghiêm trọng của TĐMTXBG đến sự phát triển bền vững ở quy mô quốc gia và khu vực, ngay từ những năm đầu thập kỷ 90 của thế kỷ XX cho đến nay, đã có nhiều Công ước, Hiệp định mang tính khu vực, song phương, đa phương được thiết lập và được sử dụng như một khung pháp lý để giải quyết vấn đề ĐTMXBG. Tiêu biểu là Công ước EIA, Hiệp định Bắc Mỹ về đánh giá tác động môi trường trong bối cảnh xuyên biên giới, Công ước CLTAP.
Công ước EIA được 39 nước gồm các nước Tây Âu, Đông Âu, Nga, Canada và Mỹ phê chuẩn tại Espoo (Phần Lan) vào năm 1991 và có hiệu lực từ năm 1997. Mục tiêu của Công ước nhằm đảm bảo phát triển bền vững đi đôi với BVMT trong lành thông qua áp dụng công cụ đánh giá tác động môi trường để ngăn ngừa suy thoái môi trường xuyên biên giới. Công ước có 20 điều với 7 hướng dẫn kỹ thuật kèm theo. Nội dung của Công ước là đưa ra một khung pháp lý về thực hiện ĐTMXBG, trong đó quy định đánh giá tác động môi trường xuyên biên giới đối với các dự án nằm trong danh sách các dự án hoạt động thuộc phụ lục I của công ước (trong danh sách này có các dự án có thể gây ảnh hưởng ô nhiễm không khí xuyên biên giới), có khả năng ảnh hưởng xuyên biên giới một cách bất lợi đến các nước bị tác động về nhiều mặt, làm rõ trách nhiệm và nghĩa vụ của các bên tham gia gồm nước gây tác động (nước có dự án) và nước bị tác động để đánh giá tác động môi trường trong giai đoạn đầu của dự án. Ngoài ra, Công ước cũng quy định rõ các nghĩa vụ chung của các quốc gia thông báo và tham vẫn lẫn nhau về các dự án được xem xét, đánh giá có khả năng gây tác động môi trường xuyên biên giới, các thủ tục từ việc chuẩn bị hồ sơ về ĐTMXBG, thủ tục giải quyết bất đồng, phân tích đánh giá sau dự án và hợp tác song phương và đa phương [42].
Trên cơ sở Công ước EIA đã có hàng loạt các hoạt động và thỏa thuận song phương, đa phương giữa các nước thành viên đã được thực hiện ở mức độ là các hiệp định song phương, đa phương hoặc đối với dự án cụ thể.
Các Hiệp định song phương và đa phương: Hiệp định về ĐTMXBG giữa Bỉ và Hà Lan năm 1994; Hiệp định song phương giữa Anbani và Macedonia năm 1993 về mức độ ô nhiễm và chất lượng nước hồ Ohrid; Hiệp định giữa Pháp – Đức – Thụy Sỹ về trách nhiệm thông báo và trao đổi thông tin về những tác động có tiềm năng gây tác động xấu lên môi trường ra ngoài phạm vi nước mình. Luận văn: Pháp luật vấn đề ô nhiễm không khí xuyên biên giới.
Sau một thời gian thực hiện công ước, Nghị định thư về đánh giá tác động môi trường chiến lược ra đời, Nghị định thư được thông qua trong một cuộc họp bất thường của các bên tham gia Công ước EIA tại hội nghị cấp bộ trưởng môi trường châu âu, tổ chức vào ngày 21 tháng 5 năm 2003 và đến ngày 11 tháng 7 năm 2010 thì Nghị định thư này mới có hiệu lực. Nghị định thư này tăng cường cho công ước EIA bằng cách bảo đảm các bên tích hợp các đánh giá môi trường vào các kế hoạch và chương trình của họ ở giai đoạn đầu, vì vậy giúp đặt nền móng cho sự phát triển bền vững. Nghị định thư cũng cung cấp về sự tham gia sâu rộng một cách công khai vào quá trình ra quyết định của chính phủ. Đánh giá môi trường chiến lược được thực hiện sớm hơn nhiều trong quá trình ra quyết định so với đánh giá tác động môi trường dự án. Và do đó nó được xem như công cụ quan trọng cho sự phát triển bền vững.
Công ước CLTAP được 31 nước thuộc châu Âu, Mỹ và Canada ký vào ngày 13/9/1979 và có hiệu lực từ ngày 16/3/1983 [36]. Công ước đưa ra các nguyên tắc cơ bản với sự cam kết của các quốc gia về việc bảo vệ môi trường khỏi tác động ô nhiễm của không khí, trao đổi thông tin giữa các bên. Nội dung của Công ước quy định rõ về việc thực hiện và phát triển hơn nữa chương trình hợp tác giám sát và đánh giá sự lan truyền ô nhiễm không khí tầm xa tại châu Âu theo Điều 9 [32] của công ước. Tại điểm c, Điều này nhấn mạnh việc mong muốn tiến hành thành lập các trạm quan trắc về ô nhiễm không khí và thu thập dữ liệu các bên dưới sự cho phép của các quốc gia nơi các trạm giám sát được đặt để đánh giá mức độ ô nhiễm không khí mà các quốc gia bị ảnh hưởng. Thêm vào đó, quy định tại điểm d Điều 9 của Công ước thể hiện nhu cầu cần thiết đối với việc thiết lập một khuôn khổ chương trình hợp tác giám sát môi trường, được dựa trên và tính đến thời điểm hiện tại và tương lai của các quốc gia, tiểu khu vực, khu vực và các chương trình quốc tế khác.
Ngoài ra, Điều 9 Công ước cũng nhấn mạnh sự cần thiết phải trao đổi dữ liệu về sự phát thải ở những khoảng thời gian được xác định, về các chất phát thải ô nhiễm không khí được xác định, bắt đầu với sulphur dioxide đến từ mạng lưới đơn vị của kích thước định sẵn, hay về dòng chảy các chất phát thải gây ô nhiễm không khí, bắt đầu với sulphua dioxide, vượt qua biên giới quốc gia, ở những khoảng cách và những khoảng thời gian đã xác định tại điểm e. Trong khuôn khổ thực hiện Công ước, nhiều Nghị định thư quan trọng đã được thiết lập gồm: Nghị định thư năm 1984 về tài trợ dài hạn của Chương trình hợp tác giám sát và đánh giá ô nhiễm không khí xuyên biên giới tầm xa được 41 nước phê chuẩn và có hiệu lực từ ngày 28/1/1988; được sửa đổi, bổ sung năm 2014 [41].
1.4.2. Các quy định về kiểm soát ô nhiễm không khí Luận văn: Pháp luật vấn đề ô nhiễm không khí xuyên biên giới.
Ô nhiễm không khí thường rất khó kiểm soát, một phần do phạm vi ảnh hưởng của loại ô nhiễm này, có nghĩa là trong hầu hết các trường hợp, tổn hại gây ra không chỉ cho bầu khí quyển nơi có nguồn phát thải mà còn xa hơn rất nhiều. Ô nhiễm từ một vùng thuộc chủ quyền của một quốc gia có thể gây hậu quả nghiêm trọng cho những quốc gia láng giềng, thậm chí cho cả thế giới, do tính thống nhất của môi trường. Vì vậy, các quốc gia có nghĩa vụ kiểm soát và quản lý các nguồn thải, trong phạm vi quốc gia hoặc những khu vực thuộc chủ quyền quốc gia, có khả năng gây ô nhiễm nghiêm trọng đến môi trường toàn cầu hoặc tác hại xuyên biên giới.
Nghĩa vụ này lần đầu tiên được hình thành từ vụ tranh chấp Trail Smelter giữa Canada và Mỹ (1939-1941) [24]. Phiên xử trọng tài được thành lập nhằm xác định liệu khói thải từ lò luyện kim Trail ở Canada, nằm cách biên giới với Mỹ bảy dặm, có gây thiệt hại cho tiểu bang Washington hay không, và nếu có, lò luyện kim phải bồi thường bằng hình thức nào cũng như phải có những biện pháp nào nhằm ngăn ngừa những tác hại trong tương lai. Trọng tài vụ Trail Smelter phán quyết “không quốc gia nào có quyền sử dụng hoặc cho phép sử dụng lãnh thổ của mình để phát tán khói gây thiệt hại nghiêm trọng đến lãnh thổ, tài sản và người dân của quốc gia khác; những thiệt hại phải thể hiện ở những chứng cứ xác thực và thuyết phục” [28]. Trong phán quyết cuối cùng, hoạt động của lò luyện kim phải hạn chế. Sau này, nghĩa vụ này được đề cập trong Nguyên tắc 21, Tuyên bố Stockholm 1972, “các quốc gia… có trách nhiệm bảo đảm những hoạt động thuộc chủ quyền quốc gia không gây thiệt hại đến môi trường của các quốc gia khác hoặc các khu vực vượt quá giới hạn chủ quyền quốc gia” [14]. Nguyên tắc không quy định rõ ràng về mức độ cũng như đối tượng chịu thiệt hại như trong phán quyết vụ Trail Smelter, do sự khác nhau về đối tượng bảo vệ. Trọng tài vụ Trail Smelter tập trung vào những tài sản bị thiệt hại ở Mỹ, trong khi Nguyên tắc 21 đề cập đến thiệt hại về môi trường nói chung, tức là có khả năng gây tổn hại sức khỏe con người.
Theo Nghị quyết của Viện Pháp luật quốc tế, phiên họp Cairo năm 1987, Điều 2 quy định nghĩa vụ trong việc thực hiện quyền chủ quyền để khai thác tài nguyên theo quy định về chính sách môi trường của riêng quốc gia đó, các quốc gia sẽ có nhiệm vụ thực hiện tất cả các biện pháp thích hợp và hiệu quả để đảm bảo các hoạt động khai thác tài nguyên trong phạm vi thẩm quyền của mình không gây ra ô nhiễm không khí xuyên biên giới. Mục đích thực hiện các nghĩa vụ này nhằm để ngăn chặn bắt kì hình thức mới hay sự gia tăng của ô nhiễm không khí xuyên biên giới và để dần dần loại bỏ ô nhiễm không khí xuyên biên giới trong thời gian ngắn nhất có thể. Để tuân thủ các nghĩa vụ, các nước có trách nhiệm sử dụng các biện pháp như sau theo Điều 4 của Nghị quyết: Ở cấp quốc gia, ban hành các luật và quy định cần thiết, áp dụng các biện pháp hành chính và kỹ thuật, thủ tục pháp lý hiệu quả, đầy đủ cho việc thi hành các luật và quy định trên. Ở cấp độ quốc tế, khu vực hoặc phổ cập phối hợp thiện chí với các quốc gia khác liên quan. Luận văn: Pháp luật vấn đề ô nhiễm không khí xuyên biên giới.
- Khi thực hiện hợp tác, các nước có trách nhiệm thực hiện theo khoản 1 Điều 8 của Nghị quyết:
a) Thường xuyên thông báo cho các quốc gia khác có liên quan tất cả các dữ liệu thích hợp về ô nhiễm không khí trong vùng lãnh thổ của quốc gia đó, trong đó có nguyên nhân, bản chất của ô nhiễm do nhân tạo hoặc tự nhiên và các biện pháp phòng ngừa được thực hiện hoặc đề xuất; b) Thông báo cho các quốc gia khác có liên quan trong thời gian thích hợp bất kỳ hoạt động nào trên vùng lãnh thổ của mình có thể gây ra mối đe dọa lớn ô nhiễm không khí xuyên biên giới; c) Tham khảo ý kiến với các quốc gia khác có liên quan về các vấn đề thực tế và tiềm năng gây ô nhiễm của không khí xuyên biên giới để có các giải pháp phù hợp với lợi ích các quốc gia và việc bảo vệ môi trường;
Quy định tại Điều 8 của Nghị quyết còn khuyến khích các quốc gia ký kết các điều ước quốc tế với mục đích phối hợp và cùng hợp tác nghiên cứu khoa học, kỹ thuật để chống lại ô nhiễm không khí xuyên biên giới; thiết lập các ủy ban quốc tế hoặc khu vực với phạm vi thẩm quyền rộng nhất; cố gắng hài hòa các tiêu chuẩn môi trường cũng như các chỉ tiêu liên quan đến mức độ ô nhiễm.
Đồng thời, theo quy định tại Khoản 3 Điều 8 của Nghị quyết, các quốc gia sẽ phải có các biện pháp để bảo vệ những người có thể bị ảnh hưởng bởi ô nhiễm không khí xuyên biên giới, để phòng chống và bồi thường các thiệt hại xảy ra, bằng cách cho phép sự không phân biệt đối xử cơ sở tiếp cận rộng nhất đến các thử tục tư pháp và hành chính trong các quốc gia nơi khởi nguồn của sự ô nhiễm. Bên cạnh đó, trách nhiệm pháp lý của quốc gia còn được quy định cụ thể tại Điều 9 của Nghị quyết, như sau:
Thứ nhất, trong trường hợp tai nạn hay các hoạt động gây ra một sự gia tăng đột ngột về mức độ ô nhiễm không khí, thậm chí nếu xuất phát từ nguyên nhân tự nhiên, có khả năng gây nguy hại đáng kể khác, các nước khởi nguồn của ô nhiễm có nhiệm vụ:
- Kịp thời để cảnh báo tất cả các ảnh hưởng hoặc có khả năng bị ảnh hưởng tới các quốc gia xung quanh;
- Thực hiện mọi biện pháp thích hợp để giảm thiểu những tác động của sự gia tăng đó.
Thứ hai, trong trường hợp có thảm họa liên quan đến ô nhiễm không khí tại lãnh thổ của một quốc gia, các nước khác và
Các tổ chức quốc tế có thẩm quyền sau, như là một vấn đề cấp bách và với sự đồng ý của Nhà nước có liên quan, thực hiện hành động nhân đạo để giúp đỡ các nạn nhân. Tại Điều 10 của Nghị quyết có quy định không làm phương hại đến các nghĩa vụ khác của các quốc gia liên quan đến các vụ nổ hạt nhân, các quốc gia có trách nhiệm cấm, ngăn chặn và kiềm chế không tiến hành bất cứ vụ nổ hạt nhân có khả năng gây ra ô nhiễm không khí xuyên biên giới của một chất phóng xạ.
Công ước CLTAP có quy định về việc các quốc gia tiến hành (hoặc dự định tiến hành) hoạt động bất kỳ trên lãnh thổ của mình hoặc thuộc quyền tài phán quốc gia, mà các hoạt động bất kỳ trên lãnh thổ của mình hoặc thuộc quyền tài phán quốc gia, mà các hoạt động này có thể gây ra mức độ ô nhiễm lớn trong khí quyển ở các nước khác, thì phải có nghĩa vụ thi hành các hoạt động tư vấn với các quốc gia bị ô nhiễm khí quyển theo yêu cầu của họ [19].
Công ước này được coi như là thỏa thuận khu vực duy nhất quy định việc kiểm soát ô nhiễm không khí tầm xa, trong đó bầu khí quyển châu Âu được coi như là một nguồn tài nguyên dùng chung và do đó bắt buộc các quốc gia phải có sự hợp tác xây dựng và thực hiện các biện pháp kiểm soát ô nhiễm cũng như những tiêu chuẩn phát thải chung. Vì vậy, mục tiêu của Công ước là ngăn ngừa, giảm thiểu và kiểm soát ô nhiễm không khí tầm xa, từ bất kể nguồn gây ô nhiễm nào, nhưng không quy định trách nhiệm đối với tổn hại do ô nhiễm không khí. Các quốc gia chịu thiệt hại từ ô nhiễm không khí không thỏa mãn với những quy định của Công ước, tuy nhiên sự thống nhất chỉ có thể đạt được trên cơ sở những cam kết về lợi ích thiết thực của các bên.
Ô nhiễm không khí tầm xa là loại ô nhiễm ảnh hưởng đến một khoảng cách mà khó có thể phân biệt được những nguồn phát thải riêng biệt hay những nhóm nguồn gây ô nhiễm (Điều 1, b). Do đó, vụ Trail Smelter sẽ không thuộc phạm vi của định nghĩa này, mà chỉ những vấn đề khu vực như mưa acid hay những chất thải có khả năng phát tán xa. Công ước cũng không chỉ giới hạn ở những ảnh hưởng có hại đến sức khỏe hoặc tài sản mà được quy định rộng hơn, thậm chí hơn cả những quy định trong các thỏa ước về ô nhiễm môi trường biển, bao gồm tổn hại đến nguồn sinh vật, hệ sinh thái, cơ sở hạ tầng và việc sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên môi trường (Điều 1, a). Tóm lại, mục đích của Công ước là giảm đến mức thấp nhất các tổn hại tiềm tàng đến môi trường. Luận văn: Pháp luật vấn đề ô nhiễm không khí xuyên biên giới.
Công ước không quy định bất kỳ một nghĩa vụ cụ thể nào về việc cắt giảm các nguồn ô nhiễm không khí, mà các bên chỉ cam kết xây dựng một chính sách kiểm soát ô nhiễm, trên cơ sở những nguyên tắc và mục tiêu chung. Với những từ ngữ không mang tính cưỡng chế, ví dụ nghĩa vụ ―nỗ lực hạn chế‖ và ―dần dần cắt giảm và ngăn ngừa‖ ô nhiễm không khí (Điều 2), Công ước bị xem chẳng hơn một ―chiến thắng biểu trưng‖ nhằm làm yên tâm cả người gây ô nhiễm và nạn nhân, nghĩa là các quốc gia cam kết xây dựng chính sách, chiến lược và những biện pháp kiểm soát, nhưng phải cân đối với sự phát triển và tính khả thi kinh tế của các công nghệ hữu hiệu nhất sẵn có (Điều 6). Vì vậy, các quốc gia có toàn quyền quyết định mức độ nỗ lực kiểm soát ô nhiễm của họ, cũng như chi phí họ sẵn lòng bỏ ra cho toàn bộ quá trình phát triển kinh tế. Đối với một số quốc gia gây ô nhiễm chủ yếu, ví dụ Anh và Tây Đức, nghĩa vụ linh động này là điều kiện tiên quyết để họ phê chuẩn Công ước vào năm 1979, và tạo điều kiện để Mỹ tiếp tục gây ô nhiễm trầm trọng cho Canada mà không vi phạm Công ước.
Công ước CLTAP cũng quy định về nghĩa vụ thông báo và thảo luận trong trường hợp có những rủi ro nghiêm trọng có thể dẫn đến ô nhiễm tầm xa. Những quy định này khá lỏng lẻo so với những quy tắc tập quán liên quan đến quá trình thảo luận về những rủi ro đối với các nguồn tài nguyên dùng chung. Quy định này chỉ được áp dụng đối với những thay đổi chủ yếu trong chính sách hoặc sự phát triển công nghiệp có khả năng gây ra những thay đổi đáng kể về ô nhiễm không khí tầm xa, và do đó các quốc gia mới có nghĩa vụ thông báo cho các quốc gia khác. Nếu không, việc thảo luận chỉ được tổ chức do yêu cầu của các bên “thực sự bị ảnh hưởng hoặc có khả năng bị một rủi ro đáng kể về ô nhiễm không khí tầm xa” (Điều 5), có nghĩa là cơ chế thảo luận không hiệu quả bằng những Công ước liên quan đến Đánh giá Tác động Môi trường (nghĩa vụ tổ chức thảo luận ngay từ khi đề xuất dự án sau khi đã thông báo cho tất cả các bên có khả năng chịu tổn hại từ hoạt động phát triển để họ có thể tham gia).
Ngoại trừ những khiếm khuyết đã nêu, Công ước CLTAP đã xây dựng được một khung pháp lý cho sự hợp tác và tạo tiền đề cho việc phát triển những biện pháp kiểm soát ô nhiễm. Các điều 3, 4, 5 và 8 xác định nghĩa vụ các quốc gia trao đổi thông tin, nghiên cứu và thảo luận về chính sách, chiến lược và các biện pháp nhằm cắt, giảm ô nhiễm không khí. Công ước là cơ sở để tiếp tục nghiên cứu về vấn đề này nhằm tìm những giải pháp để cùng hợp tác giải quyết. Các bên đều nhất trí về ảnh hưởng tích cực của Công ước đối với việc kiểm soát ô nhiễm không khí và quản lý chất lượng không khí trong khu vực, thể hiện ở những hành động của các quốc gia để cải thiện môi trường, giảm tỷ lệ phát thải ô nhiễm, và phát triển công nghệ. Ở một mức độ nào đó, Công ước được xem là một thành công đáng khích lệ, đặc biệt đối với việc làm thay đổi chính sách trong Cộng đồng châu Âu và thúc đẩy mối quan tâm của công chúng đối với vấn đề này. Luận văn: Pháp luật vấn đề ô nhiễm không khí xuyên biên giới.
Tuy nhiên, Công ước CLTAP chỉ có giá trị ràng buộc với một số quốc gia châu Âu và Bắc Mỹ, trong khi đó vấn đề ô nhiễm không khí xuyên biên giới đang đe dọa sự tồn tại của cả nhân loại. Do đó, ở mức độ toàn cầu, cơ sở để xác định trách nhiệm đối với hành vi gây ô nhiễm không khí tầm xa vẫn là nghĩa vụ tập quán quốc tế [11].
Sau khi công ước có hiệu lực, 8 Nghị định thư đã được thông qua trong khuôn khổ thực hiện công ước, trong đó có 7 nghị định thư về kiểm soát các chất phát thải gây ô nhiễm không khí [37].
Một Hiệp định kiểm soát ô nhiễm không khí xuyên biên giới khu vực được nhắc đến nữa là Hiệp định AATHP [47], được thành lập năm 2002 giữa các quốc gia Đông Nam Á, mãi đến ngày 16/9/2014 Quốc hội Indonesia mới phê chuẩn Hiệp định, Hiệp định này được Chính phủ Indonesia ký cách đây 12 năm, nhưng đến nay mới được thông qua cho thấy nỗ lực ngăn chặn tình trạng ô nhiễm khói mù trong khu vực, làm ảnh hưởng đến quan hệ ngoại giao giữa Indonesia với Singapore và Malaysia. Trong khi tại một số vùng ở Đông Nam Á, hiện tượng cháy rừng có thể xuất phát từ những nguyên nhân tự nhiên như sấm sét hay đốt rừng làm nương rẫy, thì bằng chứng thực nghiệm thu thập được từ những nghiên cứu lớn cho thấy tại Indonesia phần lớn những thảm họa cháy rừng xuất phát từ các đồn điền cây cọ dầu quy mô lớn với mục đích thương mại. Thêm vào đó, trong khi những yếu tố tự nhiên có thể làm cho hậu quả cháy rừng tệ hại hơn, như hiện tượng El Nino năm 1997-1998, thì chính sự thiếu ý chí chính trị đã cản trở các chính sách chống cháy rừng hiệu quả. Và điều đáng nói là hậu quả cháy rừng không chỉ ảnh hưởng đến những người dân địa phương và hệ sinh thái ở Indonesia, mà còn có tác động đến các quốc gia khác.
Cháy rừng được xem là một trong những nguyên nhân gây suy thoái đa dạng sinh học ở Đông Nam Á. Tác động của những đám cháy ở Indonesia lên sức khỏe và sức sản xuất của các nước trong khu vực, đặc biệt là Malaysia, Singapore, Thái Lan, và trên phạm vi hẹp hơn là ở Myanmar và Việt Nam cũng nghiêm trọng không kém. Chỉ tính riêng giai đoạn 1997-1998, cháy rừng đã ảnh hưởng đến khoảng 20 triệu người và gây ra thiệt hại ước tính từ 4,5 đến 9,3 tỉ USD [43].
- Hiệp định đề cập đến các nghĩa vụ chung của các quốc gia tại Điều 4 quy định ba nghĩa vụ như sau:
Thứ nhất, hợp tác trong việc xây dựng và thực thi các biện pháp về ngăn chăn và theo dõi ô nhiễm khói mù xuyên biên giới xuất phát từ các vụ cháy đất hoặc là cháy rừng mà cần được giảm bớt, và kiểm soát các nguồn gốc của các vụ cháy, kể cả nhận dạng và xác định các vụ cháy, xây dựng các hệ thống theo rõi, đánh giá và cảnh báo sớm, trao đổi thông tin và công nghệ, và tiến hành tương trợ lẫn nhau. Luận văn: Pháp luật vấn đề ô nhiễm không khí xuyên biên giới.
Thứ hai, khi ô nhiễm khói mù xuyên biên giới xuất phát ngay trên lãnh thổ của mình thì các Bên cần nhanh chóng đáp ứng yêu cầu cung cấp thông tin liên quan hoặc tham khảo ý kiên do một Quốc gia hoặc các Quốc gia bị tác động hoặc có khả năng chịu tác động của ô nhiễm khói mù xuyên biên giới đó, nhằm giảm bớt đến mức tối thiểu hậu quả của ô nhiễm khói mù xuyên biên giới.
Thứ ba, tiến hành những biện pháp lập pháp, hành chính và/hoặc khác để thực thi nghĩa vụ của mình theo đúng Hiệp nghị này.
Một trong các biện pháp kiểm soát nguồn gốc các đám cháy, là nguyên nhân gây ô nhiễm khói mù xuyên biên giới đó là theo dõi: mọi vùng dễ phát sinh cháy, mọi vụ cháy đất hoặc cháy rừng, các điều kiện môi trường có thể dẫn đến các vụ cháy đất và/hoặc cháy rừng, ô nhiễm khói mù xuyên biên giới xuất phát từ các vụ cháy hoặc/và cháy rừng. Mỗi bên tham gia hiệp định sẽ chỉ định một hoặc nhiều cơ quan thực thi chức năng các Trung tâm Quốc gia về theo dõi để tiến hành việc theo dõi, theo đúng các thủ tục quốc gia của mình. Trong trường hợp có cháy, các Bên sẽ có hành động ngay để kiểm soát hoặc dập tắt các vụ cháy.
Các bên sẽ tiến hành biện pháp ngăn chặn để ngăn chặn và kiểm soát những hoạt động liên quan đến các vụ cháy đất và/hoặc cháy rừng mà có thể dẫn đến ô nhiễm bao gồm: xây dựng và thực thi các luật pháp và biện pháp điều tiết, cũng như các chương trình và chiến lược để thúc đẩy ―chính sách không đốt‖ nhằm đối phó với các vụ cháy đất và/hoặc cháy rừng mà tạo ra ô nhiễm khói mù xuyên biên giới, xây dựng các chính sách phù hợp khác để hạn chế các hoạt động mà sẽ dẫn đến các vụ cháy đất và/hoặc cháy rừng, xác định và theo dõi các khu vực dễ xảy ra cháy đất và/hoặc cháy rừng, tăng cường quản lý cháy và khả năng chữa cháy và sự phối hợp của địa phương nhằm ngăn chặn việc xẩy ra cháy đất và/hoặc cháy rừng, thúc đẩy giáo dục công cộng và các chiến dịch phát triển hiểu biết và tăng cường sự tham gia của cộng đồng vào quản lý cháy để ngăn chặn các vụ cháy đất và/hoặc cháy rừng và ô nhiễm khói mù xuất phát từ những vụ cháy đó, thúc đẩy và sử dụng tri thức dân gian bản địa và cách làm của dân gian bản địa trong việc ngăn chặn và quản lý các vụ cháy, và đảm bảo rằng các luật pháp, các biện pháp hành chính và/hoặc các biện pháp liên quan khác được tiến hành để ngăn chặn việc khai hoang bằng đốt cháy.
Các biện pháp kiểm soát ở trên chỉ mang tính khuyến nghị, để kiểm soát tình trạng cháy tạo nên ô nhiễm khói mù, các quốc gia cần chú trọng hơn nữa các chế tài xử phạt trong chính các quốc gia đó. Hiện nay, các nước ASEAN có nền kinh tế công nghiệp đang phát triển, hiệp định về chống khói mù giải quyết bức thiết vấn đề khói mù do cháy rừng hoặc cháy đất, nhưng xa hơn nữa, các nước cần phải có lộ trình để giải quyết vấn đề ô nhiễm không khí xuyên biên giới do quá trình xả thải các chất gây ô nhiễm không khí. Luận văn: Pháp luật vấn đề ô nhiễm không khí xuyên biên giới.
Một hiệp định mang tính song phương giữa Canada và Hoa Kỳ về chất lượng không khí được Canada và Hoa Kỳ [33] ký kết tại Ottawa, vào ngày 13/03/1991, để giải quyết tình trạng ô nhiễm không khí xuyên biên giới dẫn đến mưa axit. Cả hai nước đã nhất trí để giảm lượng khí thải SO2 và NOx – nguyên nhân gây mưa axit, hợp tác khoa học và kỹ thuật liên quan đến mưa axit. Hiệp định này cũng đưa ra các trách nhiệm của hai bên thực hiện mục tiêu chung về chất lượng không khí theo Điều 3 của Hiệp định: thiết lập các mục tiêu cụ thể về phát thải hạn chế hoặc cắt giảm các chất ô nhiễm không khí và áp dụng cần thiết chương trình và các biện pháp khác để thực hiện các mục tiêu cụ thể đó phù hợp với Điều 4; thực hiện đánh giá tác động môi trường, thông báo trước và có các biện pháp thích hợp phù hợp với Điều 5; thực hiện các hoạt động khoa học và kỹ thuật phối hợp, hợp tác phù hợp với Điều 6 và Điều 7; thiết lập các thiết chế phù hợp với Điều 8 và Điều 9; xem xét đánh giá tiến độ và giải quyết tranh chấp phù hợp với Điều 10, Điều 11, Điều 12 và Điều 13. Để kiểm soát ô nhiễm không khí xuyên giới các bên sẽ phải thiếp lập các mục tiêu cụ thể như hạn chế phát thải hoặc cắt giảm các chất ô nhiễm không khí, theo khoản 2 Điều 4 quy định mục tiêu cụ thể mỗi bên để hạn chế khí thải như giảm lượng lưu huỳnh dioxide và nitrogen oxides, mà sẽ làm giảm dòng chảy xuyên biên giới của những tiền chất lắng đọng axit được quy định trong Phụ lục 1. Mỗi bên sẽ thông qua các chương trình và các biện pháp cần thiết khác để thực hiện mục tiêu cụ thể đặt ra trong bất kỳ phụ lục. Trong quá trình thực hiện các mục tiêu cụ thể, rất cần thiết nếu các bên trao đổi thông tin một cách thường xuyên thông qua ủy ban chất lượng không khí được thành lập theo Điều 8 của Hiệp định, các thông tin được quy định theo khoản 1 Điều V về giám sát khí thải; công nghiệp, biện pháp và cơ chết kiểm soát phát thải; các quá trình khí quyển; và hiệu ứng của các chất ô nhiễm không khí. Những nỗ lực để giải quyết những hạt bụi mịn (PM) trong không khí quan trọng của cả Hoa Kỳ và Canada. Canada và Hoa Kỳ đã hoàn thành các báo cáo đánh giá khoa học hạt vật chất xuyên biên giới chung trong sự hỗ trợ của Hiệp định chất lượng không khí giữa Canada và Hoa Kỳ. Vào tháng 01/2003, Chính phủ Canada đã bắt đầu làm việc với Cơ quan Bảo vệ Môi trường Hoa Kỳ để phát triển chiến lược chất lượng không khí xuyên biên giới để xác định các dự án thí điểm phù hợp để giải quyết tình trạng ô nhiễm không khí xuyên biên giới [38]. Luận văn: Pháp luật vấn đề ô nhiễm không khí xuyên biên giới.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Thực thi PL vấn đề ô nhiễm không khí xuyên biên giới

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com
