Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Nâng cao hiệu quả pháp luật điều chỉnh về gia đình hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Thực tiễn thực hiện các quy định về gia đình và một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả pháp luật điều chỉnh về gia đình dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
3.1. Thực tiễn thực hiện các quy định về gia đình
3.1.1. Những vướng mắc về quy định đại diện cho nhau giữa vợ và chồng
Pháp luật Việt Nam thừa nhận vợ chồng có quyền đại diện cho nhau trước pháp luật. Với những sửa đổi, bổ sung trong Luật HN&GĐ năm 2014, vấn đề đại diện giữa vợ và chồng trong giao dịch dân sự và kinh doanh ngày càng được cụ thể hóa và chặt chẽ hơn. Tuy nhiên, một số tồn tại của vấn đề đại diện này vẫn chưa thực sự được giải quyết thấu đáo, có thể ảnh hưởng đến quyền, lợi ích của một trong hai bên vợ chồng hoặc quyền và lợi ích hợp pháp của người thứ ba trong giao dịch dân sự và kinh doanh. Cụ thể:
- Về căn cứ xác lập đại diện giữa vợ và chồng
Điều 24 HN&GĐ năm 2014 quy định về căn cứ xác lập đại diện giữa vợ và chồng. Có thể nói, quyền đại diện giữa vợ chồng là một trong những quyền phản ánh cao nhất bình đẳng giữa vợ và chồng. Đại diện sẽ là phương thức pháp lý cần thiết trong việc thực hiện các quyền này của chủ sở hữu tài sản trong gia đình, đảm bảo cho mọi giao dịch dân sự hợp pháp được tiến hành nhanh chóng, thuận lợi.
Vợ, chồng đại diện cho nhau khi một bên mất NLHVDS mà bên kia có đủ điều kiện làm người giám hộ. Một vấn đề đặt ra là nếu người vợ, chồng là người giám hộ đương nhiên của người chồng, vợ bị mất NLHVDS mà lợi dụng quyền giám hộ của mình để làm thiệt hại về tài sản của người kia hoặc có những hành vi ngược đãi thì giải quyết thế nào? Thực tế có trường hợp bố, mẹ đẻ của người vợ mất NLHVDS muốn thực hiện việc giám hộ cho con trong việc giải quyết quan hệ tài sản chung, tài sản riêng của con hoặc để bảo vệ lợi ích của người con bị mất NLHVDS thì pháp luật lại không cho phép, bởi vì người chồng đang là người giám hộ đương nhiên của người vợ bị mất NLHVDS (theo quy định của Bộ luật Dân sự). Vậy có đặt ra vấn đề giám sát việc giám hộ hay không như quy định tại Điều 59 BLDS năm 2005. Và, kể cả vấn đề giám sát việc giám hộ được đặt ra, thì quyền của người giám sát chưa được pháp luật quy định rõ ràng, chỉ là sự giám sát trong các giao dịch liên quan đến tài sản có giá trị lớn (Điều BLDS năm 2005), còn đối với các tài sản có giá trị nhỏ, hoặc người đó có hành vi chia nhỏ khối tài sản lớn để tẩu tán dần thì chưa có chế tài cụ thể. Luận văn: Nâng cao hiệu quả pháp luật điều chỉnh về gia đình.
Ví dụ: A và B kết hôn năm 2014. Đầu năm 2015, B bị Tòa án tuyên bố mất NLHVDS, A trở thành giám hộ đương nhiên của B. Sau đó, A liên tục có hành vi đánh đập, ngược đãi, hành hạ đối với B và có hành vi phá tán tài sản chung. Bố, mẹ B thấy được hành vi của A nhưng không có bất cứ quyền gì trong việc ngăn chặn hành vi phá tán tài sản của A, yêu cầu chia tài sản chung cho B trong thời kỳ hôn nhân. Giả sử, C là bố đẻ của B, được cử là người giám sát việc giám hộ thì cũng chỉ giám sát đối với tài sản có giá trị lớn của B trong một số giao dịch.
- Về phạm vi đại diện giữa vợ và chồng
Khoản 2 Điều 44 Luật NH&GĐ năm 2014 quy định: “Trong trường hợp vợ hoặc chồng không thể tự mình quản lý tài sản riêng và cũng không ủy quyền cho người khác quản lý thi bên kia có quyền quản lý tài sản đó. Việc quản lý tài sản phải bảo đảm lợi ích của người có tài sản”.
Thông thường, trường hợp vợ hoặc chồng bị tuyên bố mất NLHVDS, bên còn lại trở thành người giám hộ đương nhiên của người đó khi có đủ điều kiện. Người giám hộ sẽ đại diện cho bên còn lại xác lập các giao dịch liên quan. Các giao dịch liên quan ở đây theo cách hiểu của các nhà làm luật là liên quan đến tài sản chung của vợ chồng. Vậy, đặt ra vấn đề, một bên giám hộ cho bên kia, đại diện cho bên đó xác lập các giao dịch liên quan đến tài sản riêng của bên được đại diện, vì lợi ích của người được đại diện, phát sinh các quyền và nghĩa vụ thì người đại diện đó có trách nhiệm gì hay không, giới hạn “vì lợi ích của người có tài sản” đến đâu? Vấn đề giám sát việc giám hộ có quyền gì?
Ví dụ: Với ví dụ trên, giả sử B có tài sản riêng là mảnh đất đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, và Nhà nước có quyết định thu hồi đất có đền bù, A là người giám hộ đương nhiên của B, đại diện cho B nhận tiền bồi thường. Sau đó, A dùng số tiền này để mua sắm tài sản cá nhân, chữa bệnh cho B, ăn chơi… thì lợi ích của người có tài sản có được bảo đảm hay không? quyền và lợi ích hợp pháp của B sẽ được kiểm soát và bảo vệ như thế nào?
- Về thời điểm phát sinh vấn đề đại diện Luận văn: Nâng cao hiệu quả pháp luật điều chỉnh về gia đình.
Khi một bên mất NLHVDS, thời điểm phát sinh quan hệ đại diện đương nhiên giữa vợ và chồng (khi có đủ điều kiện) là căn cứ vào quyết định tuyên bố mất NLHVDS của Tòa án có hiệu lực pháp luật. Tuy nhiên trên thực tế, trong quá trình giải quyết ly hôn, một bên có yêu cầu Tòa án tuyên bố người kia là mất NLHVDS. Thông thường, Tòa án có thẩm quyền đình chỉ vụ án giải quyết ly hôn, sau đó thụ lý yêu cầu tuyên bố mất NLHVDS. Kể từ thời điểm quyết định của Tòa án có hiệu lực, do quan hệ hôn nhân vẫn còn tồn tại, người còn lại là người giám hộ đương nhiên của người kia. Và người đó có hành vi phá tán tài sản chung của gia đình. Quyền lợi của người bị mất NLHVDS chỉ có thể được bảo đảm khi cha, mẹ, người thân thích khác có quyền yêu cầu ly hôn, và theo quy định của pháp luật, Tòa án chỉ định người khác đại diện cho người bị mất NLHVDS để giải quyết việc ly hôn.
- Đại diện giữa vợ và chồng trong quan hệ kinh doanh
Điều 25 Luật HN&GĐ năm 2014 quy định:
“1. Trong trường hợp vợ, chồng kinh doanh chung thì vợ, chồng trực tiếp tham gia quan hệ kinh doanh là người đại diện hợp pháp của nhau trong quan hệ kinh doanh đó, trừ trường hợp trước khi tham gia quan hệ kinh doanh, vợ chồng có thỏa thuận khác hoặc Luật này và các luật liên quan có quy định khác.
2. Trong trường hợp vợ, chồng đưa tài sản chung vào kinh doanh thì áp dụng quy định tại Điều 36 của Luật này”.
Với việc loại trừ tại khoản 2, khoản 1 điều luật trên xác định trường hợp vợ, chồng kinh doanh chung ở đây là bằng tài sản riêng? Là người đại diện hợp pháp của nhau trong quan hệ kinh doanh đó. Tuy nhiên, pháp luật lại không đòi hỏi việc kinh doanh chung đó phải lập dưới hình thức gì, thỏa thuận miệng hay lập thành văn bản, có cần công chứng, chứng thực hay không? Và việc đại diện cho nhau một cách khá tùy tiện, không cần có sự đồng ý của bên còn lại trong các giao dịch với bên thứ ba như quy định trên có phụ thuộc vào tài sản của mỗi bên đóng góp khi kinh doanh chung, vấn đề giải quyết hậu quả khi không còn kinh doanh chung nữa là những vấn đề mà luật chưa giải quyết triệt để.
Giao dịch với người thứ ba ngay tình liên quan đến tài khoản ngân hàng, tài khoản chứng khoán và động sản khác mà theo quy định của pháp luật không phải đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng
Theo quy định tại Điều 32 Luật NH&GĐ năm 2014, nếu vợ, chồng là người đứng tên tài khoản ngân hàng, tài khoản chứng khoán, chiếm hữu động sản không phải đăng ký quyền sở hữu được coi là người có quyền xác lập, thực hiện giao dịch liên quan đến tài sản đó. Cũng theo quy định tại Điều 35 Luật HN&GĐ, việc định đoạt tài sản chung phải có sự thỏa thuận bằng văn bản của vợ chồng có trường hợp là: “Tài sản đang là nguồn tạo ra thu nhập chủ yếu của gia đình”. Vậy, giả sử, gia đình đó có một khoản tiền lớn gửi trong ngân hàng, đứng tên một bên vợ hoặc chồng, lãi từ tiền gửi hiện đang là nguồn tạo ra thu nhập chủ yếu của gia đình. Luận văn: Nâng cao hiệu quả pháp luật điều chỉnh về gia đình.
Người đứng tên trên tài khoản tự mình xác lập giao dịch được coi là trường hợp giao dịch với người thứ ba ngay tình (hợp đồng mua bán vẫn có hiệu lực) hay trường hợp phải có sự thỏa thuận bằng văn bản của vợ chồng (khi đó, hợp đồng mua bán sẽ bị vô hiệu).
Hoặc, trong trường hợp động sản có đăng ký quyền sở hữu khi định đoạt phải có sự đồng ý bằng văn bản của vợ, chồng. Nhưng, một gia đình có nhiều vàng, đá quý có giá trị lớn, phát sinh trong thời kỳ hôn nhân. Một bên đưa ra giao dịch với bên thứ ba, thì căn cứ theo quy định của Điều 32 nêu trên, giao dịch đó có hiệu lực. Vậy, vấn đề bảo đảm quyền và lợi ích của bên kia sẽ như thế nào? Điều này pháp luật cũng chưa thể dự liệu được.
3.1.2. Những vướng mắc về quy định chế độ tài sản vợ chồng
Chế độ tài sản của vợ chồng được qui định tại các điều 28 đến điều 50 Luật HN&GĐ năm 2014, trong đó chế độ tài sản chung là chế độ tài sản pháp định với hình thức chế độ cộng đồng tạo sản (tài sản mà vợ, chồng có được trong thời kỳ hôn nhân được xác định là tài sản chung, trừ những tài sản theo qui định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng). Về nguyên tắc, khi hôn nhân còn tồn tại thì tài sản chung cũng vẫn còn tồn tại, chế độ tài sản này chỉ chấm dứt khi hôn nhân chấm dứt về mặt pháp lý (ly hôn; một bên vợ, chồng chết hoặc bị Toà án tuyên bố là đã chết). Tuy nhiên, trên thực tế nhiều cặp vợ chồng muốn được chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân (có thể xuất phát từ mâu thuẫn giữa vợ chồng trong quản lý sử dụng, định đoạt tài sản chung xuất phát từ mâu thuẫn về tình cảm, song họ không muốn ly hôn nhưng muốn được độc lập về tài sản để tránh phát triển mâu thuẫn và được độc lập trong cuộc sống…). Theo qui định của pháp luật HN&GĐ hiện hành, trong trường hợp có lý do chính đáng, việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân có thể được thực hiện thông qua thoả thuận bằng văn bản giữa vợ và chồng, hoặc bản án, quyết định của Toà án. Khi chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân, quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng không thay đổi. Đây chính là điểm khác biệt cơ bản nhất của chế định này so với chế định ly thân được qui định trong pháp luật của một số nước phương Tây. Tuy nhiên, quan hệ sở hữu giữa vợ và chồng đối với tài sản đã có sự thay đổi rất nhiều.
Việc pháp luật HN&GĐ chỉ công nhận vợ, chồng hoặc cả hai vợ chồng có quyền yêu cầu Toà án chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân, quyền khởi kiện của người thứ ba trong trường hợp này không được thừa nhận (Điều 38 Luật HN&GĐ năm 2014), là hoàn toàn phù hợp về mặt nguyên tắc. Tuy nhiên, nếu áp dụng qui định này vào thực tiễn vẫn còn vấn đề bất cập cần phải có sự vận dụng linh hoạt hơn. Theo luật hiện hành, khi vợ, chồng có nghĩa vụ tài sản riêng thì nghĩa vụ tài sản đó được thực hiện bằng tài sản riêng của họ, tài sản chung của vợ chồng không sử dụng cho việc thanh toán các khoản nợ này trừ khi vợ chồng có thoả thuận. Vấn đề đặt ra là, rất có thể người có nghĩa vụ tài sản không có hoặc không đủ tài sản riêng để thanh toán các khoản nợ và vợ chồng đã không có thỏa thuận hoặc yêu cầu Tòa án chia tài sản chung để trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ tài sản. Trong trường hợp này, nếu không thừa nhận quyền yêu cầu của người có quyền (chủ nợ) về chia tài sản chung của vợ chồng để lấy phần tài sản của người có nghĩa vụ thanh toán nợ, thì quyền lợi của họ được đảm bảo như thế nào?. Luận văn: Nâng cao hiệu quả pháp luật điều chỉnh về gia đình.
Qui định trong thời kỳ hôn nhân, nếu có lý do chính đáng vợ chồng có thể thỏa thuận chia tài sản chung bằng văn bản mà không qui định trách nhiệm của họ đối với gia đình sau khi chia tài sản chung là một qui định quá “mở”. Giả sử, ngay sau khi kết hôn với lý do kinh doanh riêng, vợ chồng có thoả thuận toàn bộ tài sản chung được chia, tài sản của ai làm ra thuộc về người đó, thì khi đó lợi ích gia đình được đặt ở vị trí nào? Nếu thoả thuận này được thực hiện thì quan hệ hôn nhân chỉ còn tồn tại về mặt nhân thân, còn quan hệ tài sản giữa vợ chồng đã được dân sự hóa, bản chất của hôn nhân XHCN vì thế không được thực hiện.
Luật HN&GĐ năm 2014 qui định các trường hợp chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân mà không có lý do chính đáng thì bị Toà án tuyên bố là vô hiệu. Tuy nhiên, Luật HN&GĐ lại không qui định ai là người có thể yêu cầu Toà án hủy bỏ thoả thuận chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân trong trường hợp thoả thuận này vi phạm các điều kiện được qui định tại Điều 38 Luật HN&GĐ hoặc gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống gia đình, đến việc trông nom, nuôi dưõng, chăm sóc, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên bị tàn tật, mất NLHVDS, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình. Mặt khác, Luật HN&GĐ cũng chưa qui định hậu quả pháp lý của việc Tòa án tuyên bố vô hiệu đối với thoả thuận chia tài sản chung. Theo đó, cần qui định rõ: Trong trường hợp thoả thuận chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân bị Toà án tuyên bố vô hiệu, chế độ tài sản chung của vợ chồng được khôi phục lại tình trạng trước khi có thoả thuận chia tài sản chung.
Việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân theo qui định của pháp luật không làm thay đổi quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng và quan hệ giữa cha mẹ và con. Thực tế, việc vợ chồng áp dụng chế định này đã phản ánh những mâu thuẫn tồn tại trong quan hệ giữa họ. Sự độc lập về tài sản sau khi chia tài sản chung, có thể dẫn đến vợ chồng sống ly thân hoặc một trong các bên lại lẩn tránh trách nhiệm đối với gia đình, từ đó có tranh chấp về việc chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chưa thành niên hoặc con đã thành niên mất NLHVDS, không có khả năng lao động, không có thu nhập, không có tài sản để tự nuôi mình. Để bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của các con, theo chúng tôi, pháp luật cần qui định rõ: Trong trường hợp sau khi chia tài sản chung, vợ chồng có tranh chấp về chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất NLHVDS, không có khả năng lao động, không có thu nhập và không có tài sản để tự nuôi mình, thì Toà án quyết định theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của các cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền. Việc giải quyết tranh chấp liên quan đến con áp dụng tương tự qui định về quyền và nghĩa vụ giữa cha mẹ và con khi ly hôn.
3.1.3. Những khó khăn thực thi quy định về mang thai hộ Luận văn: Nâng cao hiệu quả pháp luật điều chỉnh về gia đình.
Thứ nhất, Việc đưa ra quy định giới hạn đối tượng là người mang thai hộ nhằm mục đích ngăn ngừa tình trạng thương mại hóa hoạt động này. Câu hỏi đặt ra là, liệu có thể ngăn chặn được hiện tượng lách luật để biến mang thai nhân đạo thành mang thai thương mại hay không? Có nhiều ý kiến cho rằng, nếu chỉ cho đối tượng mang thai hộ là người trong phạm vi gia đình thì sẽ có rất nhiều người thiệt thòi, như những người không có chị em nào để nhờ mang thai hộ hoặc nếu có mà chị em đó không muốn mang thai hộ… Và khi đó, liệu họ có thể chấp nhận việc mãi mãi không có con hay sẽ tìm đến một đối tượng khác nhờ mang thai hộ, lúc ấy sẽ không tránh khỏi các loại “biến tướng” đã bị cấm như “đẻ thuê”.
Thực tế cho thấy, việc “đẻ thuê” vốn dĩ đã tồn tại từ rất lâu dù vi phạm pháp luật và vấn đề đạo đức xã hội. Vẫn có nhiều cặp gia đình hiếm muộn hoặc những người chồng lỡ thì tìm đến những nơi có dịch vụ này để giải quyết vấn đề con cái. Với cái giá từ 10-15 triệu/lần thì đó không phải là vấn đề quá khó khăn đối với những gia đình có điều kiện. Việc cho phép mang thai hộ theo Luật HN&GĐ sửa đổi mới đây cũng chỉ khiến cho chuyện này trở nên dễ dàng hơn mà thôi. Người ta thường nói, có cầu ắt có cung, khi nhu cầu của những người cần có con vẫn cao thì không thể tránh được việc nhiều người nhận “đẻ thuê”. Hiện tại, khi đã cho phép “mang thai hộ”, vấn đề đối với người nhờ mang thai hộ chỉ nằm trên giấy tờ. Nếu muốn quản lý chặt chẽ, cấm chuyện “đẻ thuê”, chúng ta cần phải theo sát những vấn đề liên quan như làm giả giấy tờ, đi cửa sau để có giấy tờ hợp lệ. Hơn nữa, với việc thích thủ tục nhanh gọn, không lằng nhằng, không phải nài nỉ nhờ vả thì chuyện các gia đình hiếm muộn tìm đến dịch vụ “đẻ thuê” là điều không tránh khỏi. Thật vậy, nhiều người dân thích sự nhanh gọn, đơn giản và cũng vì thế mà sinh ra nạn “phong bì”. Thế nên chắc chắn rằng chuyện bỏ tiền ra để có được đứa con một cách nhanh chóng, không lằng nhằng thủ tục sẽ vẫn còn được nhiều người tìm đến. Cho đến khi họ chưa nhìn thấy được hậu quả, hệ lụy và các rắc rối phát sinh từ việc nhờ “đẻ thuê” trái pháp luật mang đến thì họ vẫn tìm đến loại dịch vụ này. Ngoài những vấn đề mâu thuẫn phát sinh giữa người “đẻ thuê” và khách hàng thì việc tìm đến dịch vụ này cũng đã tiếp tay khiến các tệ nạn buôn bán người để “đẻ thuê” nhức nhối hơn. Nhưng hiện tại pháp luật chưa quy định nào về việc xử phạt đối với những người mang thai hộ vì mục đích thương mại.
Thứ hai, Xin nêu ra những bất cập khó khả thi của điều 95 là ở chỗ tại Điểm b, Khoản 2 có quy định: Vợ chồng có quyền nhờ người mang thai hộ khi có đủ các điều kiện sau đây: b) Vợ chồng đang không có con chung. Nếu quy định như trên tức là đã hạn chế quyền có con thứ hai, nói cách khác là những người vì lý do nào đó nên không may mắn là chỉ sinh được một con thì sẽ bị cắt mất quyền được làm cha, làm mẹ của con thứ hai. Trong khi đó, chính sách của Nhà nước khuyến khích mỗi gia đình có một đến hai con. Đối với những vợ chồng tuy đã có con chung, nhưng người con bị khuyết tật nên muốn được nhờ người khác mang thai hộ thì không được pháp luật cho phép. Vì trong Luật HN&GĐ không có điều khoản nào quy định về vấn đề này. Bởi vì hiện nay, pháp luật Việt Nam coi người khuyết tật cũng là người có quyền lợi, nghĩa vụ của một công dân. Tuy nhiên, xét ở góc độ nhân đạo thì đối với những vợ chồng trong hoàn cảnh này nếu có thêm một đứa con từ việc mang thai hộ với sức khỏe tốt, sau này sẽ chăm sóc cha mẹ già yếu và người anh/chị bị khuyết tật… là rất nhân đạo.
Bất cập thứ ba, nằm ở điều kiện đối với người mang thai hộ được quy định tại Điểm a, Khoản 3 cũng ở Điều 95 như sau: 3. Người được nhờ mang thai hộ phải có đủ các điều kiện sau đây: a) Là người thân thích cùng hàng của bên vợ hoặc bên chồng nhờ mang thai hộ… Theo quy định trên, ai sẽ là người xác nhận, cơ quan nào có đầy đủ tư cách về mặt tư pháp để xác nhận cho người có nhu cầu mang thai hộ? Chưa hết, việc xác nhận này được chứng thực trên những loại giấy tờ gì?… Việc xác nhận người mang thai hộ cùng hàng bên vợ hoặc bên chồng với vợ hay chồng người cần mang thai hộ nếu là trách nhiệm của cơ quan hành chính, vậy thì người ký phải chịu trách nhiệm trước pháp luật như thế nào về việc xác nhận này. Việc xin giấy xác nhận này do vợ hoặc chồng người có nhu cầu mang thai hộ tự lo về mặt thủ tục hành chính hay người mang thai hộ phải làm.
3.2. Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật về hôn nhân và gia đình Luận văn: Nâng cao hiệu quả pháp luật điều chỉnh về gia đình.
3.2.1. Kiến nghị hoàn thiện quy định đại diện giữa vợ và chồng
Luật HN&GĐ 2014 đã có rất nhiều tiến bộ, theo sát với thực tiễn cuộc sống, thể hiện sự bình đẳng giới trong mối quan hệ giữa vợ và chồng, tuy nhiên, như phân tích ở trên, vẫn còn một số vấn đề về đại diện cho nhau giữa vợ và chồng trong các giao dịch dân sự và kinh doanh chưa được Luật này quy định chi tiết và triệt để, chưa tạo thành hành lang pháp lý vững chắc đáp ứng được yêu cầu thực tiễn của xã hội. Tác giả xin đề xuất một số giải pháp để tiến tới hoàn thiện pháp luật về HN&GĐ trong thời gian tới, đặc biệt là các văn bản dưới luật:
Thứ nhất, về vấn đề đại diện giữa vợ và chồng, Luật xác định lấy đại diện ủy quyền làm cơ sở, điều này phù hợp với nguyên tắc bình đẳng giới, bảo vệ lợi ích chung và lợi ích của người thứ ba. Tuy nhiên, ở Điều 24 như phân tích ở trên thì với trường hợp một trong hai người mất năng lực hành vi dân sự, người kia có đủ điều kiện làm người giám hộ thì mặc nhiên được đại diện theo pháp luật là không hợp lý. Vấn đề này có thể dẫn đến nhiều mâu thuẫn về lợi ích của hai bên vợ, chồng. Tác giả cho rằng, luật cần có quy định về việc ủy quyền hoặc cử đại diện để tránh xung đột lợi ích giữa vợ và chồng, cần tăng thêm vai trò và sự tham gia của những người thân thích của vợ, chồng (người mất năng lực hành vi dân sự) nhằm đảm bảo hơn nữa quyền và lợi ích hợp pháp của người đó.
Thứ hai, pháp luật cần có quy định cụ thể hơn nữa về quyền, nghĩa vụ cũng như trách nhiệm của người giám sát việc giám hộ trong việc bảo vệ quyền lợi của người được giám hộ khi lợi ích chính đáng, hợp pháp của họ bị xâm hại hoặc có nguy cơ bị xâm hại. Đặc biệt là trong vấn đề về quản lý tài sản chung, tài sản riêng của người được giám hộ khi người giám hộ có những hành vi tẩu tán tài sản. Dự thảo Bộ luật Dân sự (sửa đổi) có nêu ra hai vấn đề: “Trường hợp cử người giám sát việc giám hộ liên quan đến quản lý tài sản của người được giám hộ thì người được cử làm người giám sát phải đăng ký tại Ủy ban nhân dân cấp xã” (khoản 4 Điều 50 Dự thảo lần 4); và “Các giao dịch dân sự giữa người giám hộ và người được giám hộ có liên quan đến tài sản của người được giám hộ đều vô hiệu, trừ trường hợp giao dịch được thực hiện vì lợi ích của người được giám hộ và có sự đồng ý của người giám sát việc giám hộ”. Tuy nhiên, theo quan điểm của tác giả, quy định như dự thảo cũng chưa giải quyết triệt để vấn đề giám hộ đương nhiên giữa vợ và chồng, nghĩa vụ của người giám sát việc giám hộ đến đâu cũng chưa được pháp luật ghi nhận. Và đây cũng là vấn đề mà pháp luật cần hoàn thiện trong thời gian tới.
Thứ ba, Luật HN&GĐ 2014 cũng chưa có quy định cụ thể về trường hợp vợ, chồng đại diện cho nhau trong việc thực hiện các giao dịch dân sự liên quan đến tài sản riêng của vợ, chồng. Nếu như bên có tài sản riêng đột nhiên bị mất năng lực hành vi dân sự thì pháp luật quy định bên còn lại có quyền quản lý tài sản đó, nhưng việc quản lý đó có đương nhiên được tiếp tục thực hiện các giao dịch liên quan đến tài sản riêng nữa không thì pháp luật chưa quy định rõ nên chưa có cơ chế để bảo vệ lợi ích hợp pháp của các bên có liên quan. Luận văn: Nâng cao hiệu quả pháp luật điều chỉnh về gia đình.
Thứ tư, theo khoản 1 Điều 25 Luật HN&GĐ 2014 thì trong trường hợp vợ, chồng kinh doanh chung thì vợ, chồng trực tiếp tham gia quan hệ kinh doanh là người đại diện hợp pháp của nhau trong quan hệ kinh doanh đó, trừ trường hợp trước khi tham gia quan hệ kinh doanh, vợ chồng có thỏa thuận khác. Tuy nhiên Luật không quy định rõ thỏa thuận của vợ chồng trong trường hợp này được lập dưới hình thức nào, thỏa thuận miệng hay thỏa thuận bằng văn bản, nên có công chứng hay không. Vấn đề này có ý nghĩa quan trọng trong việc đại diện của vợ, chồng trong kinh doanh. Luật mới chỉ quy định về việc vợ, chồng đưa tài sản chung vào kinh doanh thì cần có sự thỏa thuận lập thành văn bản (Điều 36). Tác giả đề xuất trong thời gian tới, pháp luật nên quy định các vấn đề về thỏa thuận đại diện giữa vợ, chồng trong kinh doanh nên được lập thành văn bản nhằm tránh các mâu thuẫn phát sinh, tạo thuận lợi trong giải quyết các hậu quả pháp lý.
Thứ năm, giao dịch với người thứ ba ngay tình liên quan đến tài khoản ngân hàng, tài khoản chứng khoán và động sản khác mà theo quy định của pháp luật không phải đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng cần có sự hướng dẫn cụ thể về các trường hợp như đã phân tích ở trên. Theo quan điểm của nhóm, quy định của Luật HN&GĐ năm 2014 đã bảo đảm được quyền, lợi ích hợp pháp của người thứ ba ngay tình, tuy nhiên lại chưa bảo vệ được lợi ích của một bên vợ hoặc chồng. Do đó, pháp luật cần có những hướng dẫn cụ thể về tài sản tạo ra nguồn thu nhập chủ yếu của gia đình để từ đó có những giới hạn nhất định cho các bên tham gia giao dịch.
Như vậy, kế thừa Luật HN&GĐ năm 2000, Bộ luật Dân sự năm 2005, và với những sửa đổi, bổ sung quan trọng, Luật HN&GĐ năm 2014 đã có bước hoàn thiện mạnh mẽ, tạo khung khổ pháp lý quan trọng cho thực thi vấn đề về HN&GĐ nói chung, về đại diện giữa vợ và chồng trong các giao dịch dân sự và kinh doanh nói riêng. Tuy còn một số tồn tại nhất định, tuy nhiên với việc xác định cụ thể các trường hợp đại diện, điều kiện đại diện, hình thức đại diện, phạm vi đại diện, chấm dứt đại diện, quyền và nghĩa vụ của các bên khi đại diện, pháp luật đã tạo thuận lợi cho các chủ thể tham gia giao dịch dân sự và kinh doanh tự do xác lập và thể hiện ý chí của mình. Mặt khác, pháp luật đã tạo ra cơ chế rõ ràng, góp phần bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên ngay tình trong khi tham gia các giao dịch dân sự liên quan.
3.2.2. Những kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về chế độ tài sản của vợ chồng Luận văn: Nâng cao hiệu quả pháp luật điều chỉnh về gia đình.
- Về căn cứ xác định tài sản chung của vợ chồng:
- Nguyên tắc suy đoán tài sản chung:
Cần có hướng dẫn cụ thể về chứng cứ chứng minh, có thể quy định: Nếu không có chứng cứ hoặc dấu vết về nguồn gốc của tài sản thì khi có tranh chấp, quyền sở hữu riêng của vợ, chồng phải được chứng minh bằng văn bản. Trong trường hợp không có bản kiểm kê tài sản thì khi có tranh chấp, quyền sở hữu riêng của vợ, chồng phải được chứng minh bằng văn bản. Trường hợp không có kiểm kê tài sản hoặc không có chứng cứ nào được xác lập từ trước, thẩm phán có thể xem xét mọi loại giấy tờ, đặc biệt là các loại giấy tờ, sổ sách của gia đình cũng như các loại tài liệu của ngân hàng và các hoá đơn thanh toán. Thẩm phán cũng có thể chấp nhận lời khai của nhân chứng hoặc suy đoán nếu nhận thấy vợ, chồng không có khả năng cung cấp chứng cứ bằng văn bản.
- Về chia tài sản chung của vợ chồng: Cần bổ sung quy định nhằm xử lý triệt để hành vi cố tình vi phạm nghĩa vụ của vợ chồng thông qua việc chia tài sản chung
- Quy định về nhập tài sản riêng của vợ hoặc chồng vào tài sản chung: Cần hướng dẫn thêm về điều kiện lập văn bản chỉ áp dụng đối với việc nhập các tài sản thuộc l oại phải đăng ký quyền sở hữu. Thứ hai, luật cần đưa ra hướng dẫn cụ thể hơn quy định về hiệu lực và tính chất của giao dịch.
- Trách nhiệm liên đới giữa vợ và chồng khi một bên vợ hoặc chồng tham gia giao dịch dân sự:
Đối với giao dịch dân sự hợp pháp: Luật cần có hướng dẫn quy định rõ những nhu cầu nào là nhu cầu thiết yếu của gia đình để làm cơ sở xác định trách nhiệm của vợ chồng đối với giao dịch dân sự với người thứ ba.
Đối với giao dịch dân sự bất hợp pháp, nên bổ sung quy định:Nếu một bên vợ hoặc chồng tham gia các giao dịch dân sự liên quan đến tài sản chung có giá trị lớn mà không có sự đồng ý của bên kia, thì bên đó có quyền yêu cầu Toà án huỷ bỏ giao dịch dân sự đó, Toà án phải tuyên bố giao dịch dân sự đó là vô hiệu. Trong trường hợp một bên vợ hoặc chồng không tham gia giao dịch dân sự, song các giao dịch đó nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt thiết yếu của gia đình, thì bên vợ hoặc chồng không tham gia giao dịch dân sự đó vẫn phải chịu trách nhiệm liên đới đối với việc xử lý hậu quả pháp lý của giao dịch vô hiệu. Việc thể hiện sự đồng ý hay không đồng ý của bên vợ hoặc chồng không tham gia giao dịch dân sự, không nhất thiết phải được xác định bằng văn bản thoả thuận, mà chỉ cần xác định bên vợ hoặc chồng không tham gia giao dịch dân sự đó có biết và phải biết việc tham gia giao dịch dân sự của phía bên kia, thì sẽ buộc họ phải có trách nhiệm liên đới đối với việc xử lý hậu quả pháp lý của giao dịch vô hiệu. Luận văn: Nâng cao hiệu quả pháp luật điều chỉnh về gia đình.
3.2.3. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật về căn cứ ly hôn
Thứ nhất, cần lượng hóa nội dung tiêu chí về căn cứ ly hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật HN&GĐ năm 2014
Ngoại tình là một trong những hành vi vi phạm nghĩa vụ chung thủy giữa vợ chồng, là hành vi trái với đạo đức xã hội. Luật HN&GĐ năm 2014 quy định: Cấm người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có chồng, có vợ. Trước đây, theo Sắc lệnh số 159/SL ngày 17/11/1950 của Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa quy định trường hợp ngoại tình và một bên bỏ nhà đi quá hai năm không có duyên cớ chính đáng là một trong những căn cứ để Tòa án cho ly hôn.
Do đó, cần bổ sung hướng dẫn áp dụng căn cứ ly hôn khi vợ hoặc chồng có hành vi ngoại tình vào Nghị định số 126/2014/NĐ-CP cụ thể như sau:
“Trường hợp một bên vợ hoặc chồng có hành vi ngoại tình lặp đi lặp lại nhiều lần hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà vẫn tiếp tục vi phạm hoặc có văn bản của cơ quan điều tra là có dấu hiệu tội phạm (tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng) nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự. Hành vi ngoại tình của vợ hoặc chồng gây ra hậu quả nghiêm trọng. Hậu quả nghiêm trọng có thể là gây tổn hại đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của bên còn lại, làm cho gia đình tan vỡ. Trường hợp vợ hoặc chồng có hành vi ngoại tình và bỏ nhà đi quá hai năm mà không có tin tức, không có trách nhiệm với gia đình, không cùng nhau xây dựng mục đích hôn nhân làm cho quan hệ vợ chồng rạn nứt”.
Thứ hai, cụ thể hóa quy định về hành vi bạo lực gia đình làm căn cứ cho ly hôn
Nghị định số 126/2014/NĐ-CP cần bổ sung hướng dẫn áp dụng căn cứ ly hôn khi vợ hoặc chồng có hành vi bạo lực gia đình, cụ thể như sau: “Trong trường hợp chồng hoặc vợ có hành vi bạo lực gia đình thì vợ hoặc chồng được Tòa án giải quyết cho ly hôn khi có căn cứ sau: Luận văn: Nâng cao hiệu quả pháp luật điều chỉnh về gia đình.
Đối với hành vi bạo lực vật chất: Vợ, chồng thường xuyên đánh đập, ngược đãi, hành hạ làm cho người bị ngược đãi, hành hạ luôn bị giày vò về mặt tình cảm, bị tổn thất về danh dự, đau khổ về tinh thần hoặc bị thương tích, tổn hại đến sức khỏe mà chưa đến mức xử lý về hình sự hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính.
Đối với bạo lực tinh thần: Vợ, chồng bị chửi bới, sỉ nhục, xâm phạm danh dự, nhân phẩm và uy tín.
Hành vi bạo lực của vợ, chồng được lặp đi lặp lại nhiều lần, đã được chính quyền địa phương nhắc nhở hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc có văn bản của cơ quan điều tra có dấu hiệu tội phạm (tội ngược đãi vợ; tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác; tội bức tử) nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự”.
Thứ ba, pháp luật Việt Nam cần công nhận ly thân và xem ly thân là một trong những căn cứ để cho ly hôn
Căn cứ ly hôn do ly thân: “Trong trường hợp vợ chồng đã sống ly thân hơn 3 năm mà vẫn không thể quay về với nhau để chung sống hạnh phúc hoặc sống ly thân hơn 3 năm theo quyết định của Tòa án thì Tòa án giải quyết cho ly hôn mà không phải xem xét, đánh giá thực trạng quan hệ vợ chồng và các bên không phải chứng minh tình trạng trầm trọng của hôn nhân”.
Thứ tư, cần bổ sung quy định căn cứ ly hôn khi chồng hoặc vợ phạm tội và đang chấp hành án phạt tù. Cần bổ sung quy định căn cứ ly hôn khi chồng hoặc vợ phạm tội và đang chấp hành án phạt tù, cụ thể như sau: “Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người đang chấp hành án phạt tù yêu cầu ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn”.
Kiến nghị này xuất phát từ những lý do sau: Một là, chúng ta nên học hỏi pháp luật nước ngoài trong việc quy định trường hợp vợ hoặc chồng ly hôn với chồng hoặc vợ đang chấp hành án phạt tù. Ví dụ, pháp luật Thái Lan quy định: “Vợ hoặc chồng đã bị Tòa án kết án có phán quyết cuối cùng và bị tù hơn một năm vì phạm tội mà không có bất cứ sự tham gia, đồng tình hoặc hay biết của người kia và sự chung sống như vợ chồng gây cho người kia phải chịu đựng thiệt hại hoặc quấy nhiễu quá đáng” ( Điều 1516 Bộ Luật Dân sự và Thương mại Thái Lan). Ngoài ra, luật HN&GĐ hiện hành nên kế thừa những quy định của pháp luật trước đây về căn cứ ly hôn. Tại Sắc lệnh số 159/SL ngày 17/11/1950 của Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa quy định: Một trong những căn cứ ly hôn là trường hợp một bên vợ hoặc chồng can án phạt giam (Khoản 2 Điều 2 Sắc lệnh số 159/SL ngày 17/11/1950 của Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa). Quy định này nhằm tạo điều kiện cho vợ chồng thực hiện quyền được ly hôn khi một bên vợ, chồng có đạo đức không tốt, vi phạm pháp luật. Quy định này cũng có ý nghĩa răn đe những người là vợ, chồng chuẩn bị phạm tội phải suy nghĩ, đắn đo khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội và hậu quả của nó đối với chính mình. Hai là, gia đình có các chức năng cơ bản: Chức năng kinh tế, giáo dục, duy trì nòi giống và thỏa mãn nhu cầu sinh lý, tình cảm. Khi một người đang chấp hành án phạt tù thì không thực hiện được nghĩa vụ giữa vợ chồng. Vì vậy, họ không thể duy trì hạnh phúc gia đình, không có trách nhiệm với gia đình, không cùng nhau xây dựng mục đích của hôn nhân cũng như trong việc chung tay nuôi dưỡng con cái. Việc duy trì hôn nhân chỉ là hình thức bên ngoài. Mặt khác, người đang chấp hành án phạt tù thì không thể chăm lo được về đời sống vật chất cũng như tinh thần cho gia đình, người phạm tội có thể là người mất tư cách, có đạo đức xấu ảnh hưởng đến việc giáo dục con cái. Quy định trên vẫn dựa vào ý chí tự nguyện yêu cầu ly hôn của vợ/chồng người chấp hành hình phạt tù. Nếu họ không yêu cầu thì tòa án không giải quyết, song nếu không quy định thì có thể đương sự vẫn yêu cầu ly hôn nhưng phải chứng minh về căn cứ ly hôn.
Thứ năm, cần đưa ra quy định để xác định hành vi “vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng” là như thế nào bởi theo quy định hiện nay chỉ nêu ra mà chưa đưa ra cách xác định. Hiện nay chưa có văn bản nào hướng dẫn hành vi vi phạm nghĩa vụ vợ chồng nào được xác định là hành vi vi phạm nghiêm trọng. Việc đánh giá mức độ nghiêm trọng của hành vi vi phạm tùy thuộc vào thái độ của bên vợ hoặc chồng bị vi phạm quyền, nghĩa vụ và đánh giá chủ quan của từng thẩm phán khi giải quyết yêu cầu ly hôn. Trước hết, tính chất nghiêm trọng của hành vi vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng sẽ do vợ chồng tự xác định để yêu cầu ly hôn trên cơ sở nhận thức, đánh giá chủ quan của vợ, chồng. Vì vậy, ở mỗi thời điểm khác nhau, hoặc với mỗi cặp vợ chồng khác nhau, hoặc thậm chí giữa vợ và chồng thì với cùng một hành vi vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng, có thể có những đánh giá khác nhau về mức độ nghiêm trọng của hành vi đó; liệu có nghiêm trọng đến mức dẫn đến hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được hay không. Chẳng hạn, Điều 19 Luật HN-GĐ năm 2014 qui định “Vợ chồng có nghĩa vụ yêu thương, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình…”. Luận văn: Nâng cao hiệu quả pháp luật điều chỉnh về gia đình.
Tuy nhiên, ở mỗi gia đình khác nhau thì việc đánh giá tính chất nghiêm trọng của hành vi này lại khác nhau. Có người vợ thì cho rằng đây là thiên chức của người phụ nữ trong gia đình và chấp nhận hành vi này của người chồng. Có người vợ lại cảm thấy hành vi này của người chồng thể hiện sự thờ ơ, bỏ mặc gia đình, không yêu thương vợ con nên không thể chấp nhận được hành vi của người chồng, quan hệ vợ chồng trở nên căng thẳng. Một ví dụ khác là trường hợp một bên vợ hoặc chồng ngoại tình. Thực tế tùy từng gia đình khác nhau mà tình trạng vợ chồng lại khác nhau. Có những gia đình, chồng hoặc vợ của người ngoại tình có thể tha thứ cho lỗi này của vợ, chồng mình để tiếp tục chung sống hạnh phúc. Có những cặp vợ chồng khác lại lâm vào tình trạng căng thẳng, mâu thuẫn, không thể tiếp tục chung sống khi phát hiện hành vi ngoại tình của chồng, vợ mình. Có thể thấy, tính chất nghiêm trọng của hành vi vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng được xác định trên cơ sở thái độ, tình cảm của vợ, chồng đối với hành vi vi phạm đó. Chính thái độ, tình cảm đó là yếu tố quyết định đối với việc liệu hôn nhân có lâm vào tình trạng trầm trọng hay không.
KẾT LUẬN Luận văn: Nâng cao hiệu quả pháp luật điều chỉnh về gia đình.
Luận văn đưa ra một cách nhìn mới về gia đình mà không bị bó hẹp, giới hạn bởi ba quan hệ là quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống và quan hệ nuôi dưỡng.
Để xây dựng khái niệm gia đình, tác giả đã tìm hiểu quan điểm của các ngành khoa học về gia đình như triết học, xã hội học và luật học, cùng với đó là phân tích quan điểm của những ngành khoa học này khi nghiên cứu về gia đình. Từ những quan điểm đó kết hợp với thực tiễn để xây dựng khái niệm về gia đình và thành viên gia đình sao cho phù hợp với cuộc sống. Khi tìm hiểu về gia đình không thể không tìm hiểu vị trí và chức năng của gia đình, gia đình có vị trí và chức năng xã hội vô cùng quan trọng, chức năng xã hội của gia đình có thể ảnh hưởng đến sự tồn vong và phát triển của xã hội. Các quy định về gia đình của các nước rất rộng, nhưng phù hợp với văn hóa và bao quát được hầu hết các quan hệ gia đình phát sinh trong thực tiễn xã hội của nước đó. Tác giả đã đi tìm hiểu xuyên suốt quá trình lịch sử pháp luật Việt Nam quy định về pháp luật HN&GĐ. Qua các thời kỳ khác nhau của lịch sử, pháp luật quy định về gia đình cũng có nhiều thay đổi, sự thay đổi này thường theo hướng tích cực và đã dần dần từng bước xóa bỏ các quan niệm lạc hậu, các quyền lợi của thành viên gia đình được ghi nhận và bảo đảm.
Luận văn đi sâu phân tích nội dung điều chỉnh về gia đình theo luật HN&GĐ 2014. Từ đó thấy được những bước phát triển mới trong pháp luật, tiếp tục thể hiện quan điểm của Đảng và nhà nước ta trong việc đề cao vai trò gia đình đối với đời sống xã hội, phát huy truyền thống tốt đẹp của gia đình Việt Nam. Các chế định về mối quan hệ giữa các thành viên gia đình đã được quy định cụ thể và toàn diện hơn, khắc phục được những bất cập, vướng mắc nhất định của luật HN&GĐ 2000. Tuy nhiên để các chế định về gia đình luôn được hoàn thiện, đáp ứng được sự phát triển liên tục của xã hội hiện nay, cần phải áp dụng nhiều biện pháp đồng bộ mà trọng tâm là xây dựng các văn bản hướng dẫn thi hành, áp dụng pháp luật đồng thời tổ chức tốt việc thực thi pháp luật. Bên cạnh đó, hoàn thiện các quy định pháp luật HN&GĐ là cơ sở để từng cá nhân thành viên gia đình có thể nâng cao nhận thức, thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình đối với các thành viên khác trong quan hệ nhân thân và đặc biệt là quan hệ tài sản đúng pháp luật, tránh nảy sinh các tranh chấp. Đồng thời pháp luật hoàn thiện cũng giúp nâng cao trình độ của các cán bộ có thẩm quyền giải quyết tranh chấp, giúp cho công tác tuyên truyền và phổ biến pháp luật thuận lợi hơn, công tác giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình chính xác hơn.
Qua nghiên cứu những vấn đề lý luận về gia đình, thành viên gia đình, tài sản chung của gia đình, quyền và nghĩa vụ của các thành viên gia đình đối với tài sản chung từ đó chỉ ra một số hạn chế còn tồn tại, thiếu sót; tìm ra những nguyên nhân của những hạn chế để đưa ra những kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả điều chính của pháp luật HN&GĐ. Luận văn: Nâng cao hiệu quả pháp luật điều chỉnh về gia đình.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Gia đình theo luật hôn nhân và gia đình Việt Nam

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com
